Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội...Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người. Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định
Trang 1TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA
KHOA CÔNG NGHỆ HÓA
BÀI GIẢNG HỌC PHẦN: PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG
DÀNH CHO SINH VIÊN HỆ CAO ĐẲNG
TUY HÒA – 2010
Trang 2Mục lục CHƯƠNG 1:
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC 12
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ 28
Chương 4 51
Ô NHIỄM TIẾNG ỒN 51
Ô NHIỄM PHÓNG XẠ 67
Chương 7 82
CHẤT THẢI RẮN 82
Bài 1: Hàm lượng chất rắn lơ lửng 104
Bài 3: Hàm lượng oxi hòa tan 106
……….…106
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG
VÀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG1.1 Môi trường
1.1.1 Định nghĩa
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho
sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất,nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồmcác nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người
Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy củatrường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn,Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thànhvăn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chínhcác cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định
Nói tới môi trường, người ta thường nghĩ ngay tới mối quan hệ của những yếu tốxung quanh tác động tới đời sống của sinh vật mà trong đó chủ yếu là con người Quanđiểm về môi trường nhìn từ góc độ sinh học là những quan điểm phổ biến Một số địnhnghĩa như:
− Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế - xã hội baoquanh và tác động tới đời sống và sự phát triển của một cá thể hoặc một cộngđồng người (UNEP-Chương trình môi trường của Liên hiệp quốc, 1980)
− Môi trường là tất cả các hoàn cảnh bên ngoài tác động lên một cơ thể sinh vậthoặc một cơ thể nhất định đang sống; là mọi vật bên ngoài một cơ thể nhất định(G.Tyler Miler, Environmental Science, USA, 1988)
− Môi trường là hoàn cảnh vật lý, hóa học, sinh học bao quanh các sinh vật(Encyclopedia of Environmental Science USA, 1992)
− Môi trường nói chung bao gồm tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vậtchất bao quanh có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mọi sinhvật (Pepa,1997)
− Môi trường là tất cả các hoàn cảnh hoặc điều kiện bao quanh một hay mộtnhóm sinh vật hoặc môi trường là tổng hợp các điều kiện xã hội hay văn hóaảnh hưởng tới cá thể hoặc cộng đồng Vì con người vừa tồn tại trong thế giới tựnhiên và đồng thời tạo nên thế giới văn hóa, xã hội và kỹ thuật, nên tất cả đều làthành phần môi trường sống của con người
− Theo Điều 1, Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam thì “Môi trường bao gồmcác yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, quan hệ mật thiết với nhau, baoquanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển củacon người và thiên nhiên”
Qua các định nghĩa trên, môi trường được xem như là những yếu tố bao quanh vàtác động lên con người (cá thể hay cộng đồng) và sinh vật Thật vậy, nếu một môi
Trang 4trường nào đó có những yếu tố hoàn toàn không liên quan tới sự sống và con người,chắc rằng sẽ chẳng được ai quan tâm Tuy nhiên, cách nhìn trên làm cho người ta dễngộ nhận rằng mối quan hệ giữa con người và môi trường là mối quan hệ một chiều:môi trường tác động tới con người và con người như là một trung tâm tiếp nhận nhữngtác động đó Thực ra, mỗi con người lại là một tác nhân tác động tới các yếu tố chínhtrong môi trường mà nó đang tồn tại.
1.1.2 Phân loại
Tùy theo mục đích nghiên cứu và sử dụng, có nhiều cách phân loại môi trườngkhác nhau Có thể phân loại môi trường theo các dấu hiệu đặc trưng sau đây:
Theo chức năng
- Môi trường tự nhiên: Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố của tự nhiên tồn
tại khách quan ngoài ý muốn của con người như không khí, đất đai, nguồn nước, ánhsáng mặt trời, động thực vật Môi trường tự nhiên cung cấp các nguồn tài nguyên tựnhiên cho ta như không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, cácloại khoáng sản cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải,cung cấp cho ta cảnh đẹp giải trí tăng khả năng sinh lý của con người
- Môi trường xã hội: Môi trường xã hội là tổng hợp các quan hệ giữa người với
người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định, hương ước ở cáccấp khác nhau
- Môi trường nhân tạo: Môi trường nhân tạo bao gồm các nhân tố do con người
tạo nên, làm thành những tiện nghi cho cuộc sống của con người như ô tô, máy bay,nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo, các khu vui chơi giải trí v.v
Theo quy mô
Theo quy mô chủ yếu người ta phân loại môi trường theo không gian Địa lýnhư môi trường toàn cầu, môi trường khu vực, môi trường quốc gia, môi trườngvùng, môi trường địa phương
Theo mục đích nghiên cứu sử dụng
- Mục đích nghiên cứu sử dụng theo nghĩa rộng: môi trường bao gồm tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, các quan hệ xã hội tức là gắn liền việc sử dụng tài nguyên với chất lượng môi trường
- Mục đích nghiên cứu sử dụng theo nghĩa hẹp: Môi trường theo nghĩa hẹpthường chỉ xét tới những nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượngcuộc sống của con người
Theo thành phần
- Phân loại theo thành phần của tự nhiên người ta thường chia ra:
+ Môi trường không khí
+ Môi trường đất
+ Môi trường nước
+ Môi trường biển
- Phân loại theo thành phần của dân cư sinh sống người ta chia ra:
Trang 5+ Môi trường thành thị
+ Môi trường nông thôn
Ngoài 4 cách phân loại trên có thể còn có các cách phân loại khác phù hợp vớimục
đích nghiên cứu, sử dụng của con người và sự phát triển của xã hội Tuy nhiên, dù bất cứ cách phân loại nào thì cũng đều thống nhất ở một sự nhận thức chung: Môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển
1.1.3 Các thành phần môi trường
1.1.3.1 Khí quyển (Atmosphere)
Khí quyển hay môi trường không khí là một hỗn hợp các khí bao quanh bề mặt tráiđất, có khối lượng khoảng 5,2× 1018 kg (0,0001% khối lượng trái đất) Khí quyển đóngvai trò quyết định trong việc duy trì cân bằng nhiệt của trái đất, thông qua quá trìnhhấp thụ bức xạ hồng ngoại từ mặt trời và tái phát xạ khỏi trái đất Khí quyển được chiathành nhiều tầng khác nhau theo sự thay đổi chiều cao và chênh lệch nhiệt độ
1.1.3.2 Thủy quyển (Hydrosphere)
Thủy quyển của Trái Đất nằm giữa khí quyển và địa quyển Nó gồm có biển,
hồ, sông, đầm, nước ngầm, lạch suối (dưới dạng chất lỏng) và băng hà (dưới dạng chấtrắn) Theo ước tính của các nhà khoa học, tổng lượng nước trên bề mặt Trái đất vàokhoảng 1,4 tỷ km3, trong đó biển chiếm 97,3% nước dưới dạng băng hà ở trên mặt đấtchiếm 2,7% Nước trong khí quyển so với 2 loại trên quá nhỏ không đáng kể Khốilượng thủy quyển ước chừng 1,38×1021kg=0,03% khối lượng trái đất
1.1.3.3 Thạch quyển (Lithosphere)
Thạch quyển là lớp vỏ cứng ngoài cùng nhất của các hành tinh có đất đá Trên TráiĐất, thạch quyển bao gồm lớp vỏ và tầng trên cùng nhất của lớp phủ (lớp phủ trênhoặc thạch quyển dưới), được kết nối với lớp vỏ Thạch quyển bị chia nhỏ ra thành cácmảng khác nhau
Đặc trưng phân biệt của thạch quyển không phải là thành phần của nó mà là cácthuộc tính về sự trôi dạt của nó Dưới ảnh hưởng của các ứng suất dài hạn và cường độthấp gây ra các chuyển động kiến tạo địa tầng, thạch quyển phản ứng về cơ bản như làlớp vỏ cứng, trong khí quyển astheno có tác động như là một lớp chất lỏng có độ nhớtnhẹ Cả lớp vỏ và tầng trên của lớp phủ trôi trên quyển astheno có "độ dẻo" cao hơn.Lớp vỏ được phân biệt với lớp phủ và như vậy là tầng trên của lớp phủ bằng sự thayđổi trong thành phần hóa học tại khu vực của điểm gián đoạn Mohorovicic
Vỏ đại dương hay quyển sima là bộ phận cấu thành nên các đại dương ở lớp vỏcủa Trái Đất: Lớp vỏ này có độ dày 6-15km, nằm ở bên trên lớp vỏ Trái đất Lớp vỏđại dương được cấu tạo bởi sắt, silic, magie và có 2 lớp là trầm tích (phía trên, dày 1km), lớp bazan (ở giữa, dày 2,5 km) Ngoài ra, lớp này còn có thể có lớp gabbro ởdưới dày khoảng 5 km phân bố không liên tục Ở lớp vỏ đại dương không có lớp granit(dưới lòng sâu đại dương)
Trang 6Vỏ lục địa hay quyển sial là lớp vỏ cấu thành nên các lục địa trên Trái đất Bề dàytrung bình của lớp vỏ này khoảng 40 km Ranh giới giữa vỏ lục địa và manti là mặtMoho Vỏ lục địa được nghiên cứu bằng phương pháp khảo sát, khoan và địa chấn.
1.1.3.4 Sinh quyển (biosphere)
Sinh quyển là nơi có sự sống tồn tại, bao gồm các phần của thạch quyển có độ dày2-3 km kể từ mặt đất, toàn bộ thủy quyển và khí quyển tới độ cao 10km (đến tầngozone) Với chiều dày khoảng 16km Các thành phần trong sinh quyển luôn tác độngtương hỗ (ví dụ: khí O2 và CO2 phụ thuộc vào mức độ sinh tồn của thực vật và khảnăng hòa tan của chúng trong môi trường nước)
Sinh quyển có các cộng đồng sinh vật khác nhau từ đơn giản đến phức tạp, từ dướinước đến trên cạn, từ vùng xích đạo đến các vùng cực trừ những miền khắc nghiệt.Sinh quyển không có giới hạn rõ rệt vì nằm cả trong các quyển vật lý và khônghoàn toàn liên tục vì chỉ tồn tại và phát triển trong những điều kiện môi trường nhấtđịnh Trong sinh quyển ngoài vật chất, năng lượng còn có thông tin với tác dụng duytrì cấu trúc và cơ chế tồn tại, phát triển của các vật sống Dạng thông tin phức tạp vàcao nhất là trí tuệ con người, có tác động ngày càng mạnh mẽ đến sự tồn tại và pháttriển trên Trái Đất
1.2 Tài nguyên
1.2.1 Định nghĩa
Với nhận thức mới nhất hiện nay, người ta định nghĩa tài nguyên như sau: "Tàinguyên là tất cả các dạng vật chất, phi vật chất và tri thức được sử dụng để tạo ra củacải vật chất, hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới cho con người" Như vậy, theo quan niệmmới này tài nguyên là đối tượng sản xuất của con người Xã hội loài người càng pháttriển, số loại hình tài nguyên và số lượng mỗi loại tài nguyên được con người khai thácngày càng tăng Trong khuôn khổ của bài giảng, chúng ta chỉ xem xét tới các nguồn tàinguyên thiên nhiên
Tài nguyên không có khả năng tái sinh: là những nguồn tài nguyên có một mức
độ giới hạn nhất định trên Trái Đất, chúng ta chỉ được khai thác chúng ở dạngnguyên khai một lần, đối với loại tài nguyên này được chia thành ba nhóm:
− Tài nguyên không có khả năng tái sinh nhưng tạo tiền đề cho tái sinh, ví
dụ như đất, nước tự nhiên
Trang 7− Tài nguyên không có khả năng tái sinh nhưng tái tạo Ví dụ như kimloại, thủy tinh, chất dẻo
− Tài nguyên cạn kiệt Ví dụ như than đá, dầu khí
1.3 Ô nhiễm môi trường
Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:
"Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm Tiêuchuẩn môi trường"
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặcnăng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến
sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các tác nhân ô nhiễmbao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứahoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ.Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng
độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến conngười, sinh vật và vật liệu
1.4 Tai biến môi trường
"Tai biến môi trường là quá trình gây mất ổn định trong hệ thống môi trường" Đó
là một quá trình gây hại vận hành trong hệ thống môi trường gồm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn nguy cơ (hay hiểm hoạ): Các yếu tố gây hại tồn tại trong hệ thống,nhưng chưa phát triển gây mất ổn định
- Giai đoạn phát triển: Các yếu tố tai biến tập trung lại, gia tăng, tạo trạng thái mất
ổn định nhưng chưa vượt qua ngưỡng an toàn của hệ thống môi trường
- Giai đoạn sự cố môi trường: Quá trình vượt qua ngưỡng an toàn, gây thiệt hạicho con người về sức khoẻ, tính mạng, tài sản, Những sự cố gây thiệt hại lớn đượcgọi là tai hoạ, lớn hơn nữa được gọi là thảm họa môi trường
1.5 Phát triển bền vững
1.5.1 Khái niệm và mục tiêu phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nảy sinh từ sau cuộc khủng hoảng môitrường, do đó cho đến nay chưa có một định nghĩa nào đầy đủ và thống nhất
Một số khái niệm của Khoa học Môi trường bàn về phát triển bền vững:
- Hội nghị môi trường toàn cầu Rio de Janerio (6/1992) đưa ra thuyết phát triểnbền vững; nghĩa là sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo vệ Môitrường một cách khoa học đồng thời với sự phát triển kinh tế
- Theo Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (World Commission andEnvironment and Development, WCED) thì “phát triển bền vững là sự phát triển đápứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng của các thế hệ tương lai trongđáp ứng các nhu cầu của họ”
- Phát triển bền vững là mục tiêu của tăng trưởng kinh tế làm giảm sự khai thác tàinguyên cho phát triển kinh tế, sự suy thoái Môi trường trong tương lai và làm giảm sựđói nghèo
Trang 8- Phát triển bền vững bao gồm sự thay đổi Công nghệ hiện đại, Công nghệ sạch,Công nghệ có hiệu quả hơn nhằm tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên hoặc từ sản phẩmkinh tế –xã hội.
Muốn vậy, phải giải quyết các mâu thuẫn như sản xuất – nhu cầu – tài nguyênthiên nhiên và phân phối, vốn đầu tư, cũng như Công nghệ tiên tiến cho sản xuất
- Các nước trên thế giới đều có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; điềukiện kinh tế –xã hội khác nhau, đưa đến hiện tượng có nước giàu và nước nghèo, nướccông nghiệp phát triển và nước nông nghiệp Do đó cần xem xét bốn vấn đề: conngười, kinh tế, môi trường và công nghệ, qua đó phân tích phát triển bền vững và cóđạt được mục tiêu phát triển bền vững
- Về kinh tế, phát triển bền vững bao hàm việc cải thiện giáo dục, chăm lo sứckhoẻ cho phụ nữ và trẻ em, chăm lo sức khoẻ cho cộng đồng, tạo ra sự công bằng vềquyền sử dụng ruộng đất, đồng thời xóa dần sự cách biệt về thu nhập cho mọi thànhviên trong cộng đồng xã hội
- Về con người, để đảm bảo phát triển bền vững cần thiết nâng cao trình độ vănhoá, khoa học kỹ thuật cho người dân, nhờ vậy người dân sẽ tích cực tham gia bảo vệmôi trường cho sự phát triển bền vững Muốn vậy phải đào tạo một đội ngũ các nhàgiáo đủ về số lượng, cũng như các thầy thuốc, các kỹ thuật viên, các chuyên gia, cácnhà khoa học trong mọi lĩnh vực của đời sống
- Về môi trường, phát triển bền vững đòi hỏi phải sử dụng tài nguyên như đấttrồng, nguồn nước, khoáng sản… Đồng thời, phải chọn lựa kỹ thuật và công nghệ tiêntiến để nâng cao sản lượng, cũng như mở rộng sản xuất đáp ứng nhu cầu của dân sốtăng nhanh
Phát triển bền vững đòi hỏi không làm thoái hoá các ao hồ, sông ngòi, uy hiếp đờisống sinh vật hoang dã, không lạm dụng hoá chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp,không gây nhiễm độc nguồn nước và lương thực
-Về Công nghệ, phát triển bền vững là giảm thiểu tiêu thụ năng lượng và sử dụngcác nguồn tài nguyên thiên nhiên trong sản xuất, áp dụng có hiệu quả các loại hìnhcông nghệ sạch trong sản xuất Trong sản xuất công nghiệp cần đạt mục tiêu ít chấtthải hoặc chất gây ô nhiễm môi trường, tái sử dụng các chất thải, ngăn ngừa các chấtkhí thải công nghiệp làm suy giảm tầng ozon bảo vệ trái đất
- Phát triển bền vững và các mục tiêu phát triển kinh tế –xã hội –văn hoá –môitrường Sơ đồ “Ven” cho thấy phát triển bền vững là trung tâm, là sự hài hoà của cácgiá trị kinh tế –xã hội –môi trường… trong quá trình phát triển thế giới nói chung vàcủa Việt Nam nói riêng
Mỗi mục tiêu phát triển có vị trí riêng của nó, song nó được gắn với mục tiêukhác Sự hoà nhập hài hoà hữu cơ này tạo nên sự phát triển tối ưu cho cả nhu cầu hiệntại và tương lai vì xã hội loài người
1.5.2 Những nguyên tắc của một xã hội bền vững
Sự bền vững trong cuộc sống của một dân tộc phụ thuộc rất lớn vào sự hoà hợpcủa dân tộc đó với các dân tộc khác và với thiên nhiên Con người chỉ khai thác
Trang 9được những gì thiên nhiên mang lại nghĩa là con người chỉ phát triển trong giới hạnthiên nhiên cho phép Con người không loại bỏ những phúc lợi do cách mạng kỹthuật mang lại nhưng cũng phải là những kỹ thuật tuân theo những nguyên tắc nóitrên Cuộc sống bền vững phải dựa trên những nguyên tắc nhất định, những nguyêntắc đó liên kết cộng đồng con người lại tạo nên một xã hội phát triển bền vững.Những nguyên tắc đưa xã hội hướng tới sự phát triển bền vững liên hệ khăng khítvới nhau, chúng hướng dẫn hành vi con người chứ không phải là mệnh lệnh, nóhướng tới tương lai chứ không quay lại quá khứ, nó liên kết các dân tộc với nhau để
có hành động chung còn mức độ vận dụng lại tuỳ thuộc vào từng dân tộc Nhữngnguyên tắc đó là:
Nguyên tắc 1: Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống của cộng đồng: Con người
có trách nhiệm phải quan tâm đến đồng loại và các hình thức tồn tại khác của sự sốngtrong hiện tại và tương lai Cần phải chia sẻ công bằng những phúc lợi và chi phí trongviệc sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường giữa các cộng đồng với các nhóm cóliên quan giữa người nghèo với người giàu, giữa thế hệ hiện tại với nhau và thế hệ hiệntại với thế hệ mai sau Toàn thể các dạng sống trên trái đất tạo thành một hệ thống vĩđại lệ thuộc nhau, tác động lên nhau và cùng phụ thuộc vào các yếu tố của sinh quyển.Giữa các xã hội loài người cũng liên quan đến nhau và các thế hệ tương lai chịu ảnhhưởng của những hành động của con người thế hệ hiện tại Thế giới tự nhiên ngàycàng bị tác động mạnh mẽ của con người vì vậy phải làm sao cho những tác động đókhông đe doạ sự sống còn của muôn loài khác để chúng ta còn có cơ hội dựa vào đó đểsinh tồn và phát triển Vì vậy nguyên tắc này vừa thể hiện trách nhiệm vừa thể hiệnđạo đức của con người
Nguyên tắc 2: Cải thiện chất lượng cuộc sống con người: Mục tiêu của sự phát
triển kinh tế xã hội của con người là không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, đây
là đặc thù mà con người từ thế hệ này sang thế hệ khác hướng tới Phát triển kinh tế làrất quan trọng nhưng nó không mang ý nghĩa tự nhân, các dân tộc có chiến lược, sáchlược và mục tiêu cụ thể khác nhau nhưng cái chung nhất có thể thống nhất được là xâydựng một cuộc sống lành mạnh no đủ, có một nền giáo dục tốt, có quyền sống tự do vềchính trị được bảo đảm an toàn và không có bạo lực, có đủ tài nguyên cho sự phát triểnlâu dài Tóm lại là con người ngày một đầy đủ hơn, cuộc sống tốt hơn trong sự pháttriển chân chính
Nguyên tắc 3: Bảo vệ sự sống và tính đa dạng của Trái Đất: Cuộc sống mà loài
người hoàn toàn phụ thuộc vào những hệ thống thiên nhiên trên Trái Đất Vì vậy sựphát triển trên cơ sở bảo vệ phải bảo vệ được cấu trúc, chức năng và tính đa dạng củanhững hệ thống ấy Vì thế chúng ta phải:
- Bảo vệ hệ thống nuôi dưỡng sự sống, đó là các quá trình sinh thái nuôi dưỡng
và bảo tồn sự sống, nó điều chỉnh khí hậu, điều hoá chất lượng không khí, nguồn nước, chu chuyển các yếu tố cơ bản làm các hệ sinh thái luôn được hồi phục
Trang 10- Bảo vệ tính đa dạng sinh học không chỉ là tất cả các loài động thực vật cùngcác tổ chức sống khác mà còn bảo vệ nguồn gen di truyền có trong mỗi loài vàcác dạng sinh thái khác nhau
Nguyên tắc 4: Bảo đảm chắc chắn việc sử dụng các nguồn tài nguyên: Nguồn tài
nguyên tái tạo bao gồm đất, nước, không khí, thế giới động thực vật phải được sửdụng sao cho chúng có thể phục hồi được Nguồn tài nguyên không tái tạo phải đượckéo dài quá trình sử dụng bằng cách tái sinh tài nguyên, dùng tài nguyên có thể tái tạo
để thay thế hoặc sử dụng tiết kiệm Chỉ có như vậy mới có nguồn tài nguyên cung cấpcho hàng trăm triệu người tăng lên hàng năm và cuộc sống con người ngày càng tốtđẹp
Nguyên tắc 5: Giữ vững trong khả năng chịu đựng của Trái Đất: Khả năng chiu
đựng của Trái Đất thực chất là tổng hợp khả năng chịu đựng của tất cả các hệ sinh thái
có trên Trái Đất Các tác động lên các hệ sinh thái do đó tác động tới sinh quyển saocho chúng không bị biến đổi theo hướng xấu đi nguy hiểm, chúng có thể tự phục hồi,chúng "chịu đựng" được Khả năng chịu đựng này thay đổi theo từng vùng và rõ ràngrất phụ thuộc vào mật độ tác động tức là phụ thuộc vào số lượng con người và hành vi
sử dụng của con người Chính sách kinh tế, chính sách dân số và cách sống của conngười trên một địa bàn và khả năng chịu đựng của thiên nhiên ràng buộc chặt chẽ vớinhau và cần quản lý chặt chẽ
Nguyên tắc 6: Thay đổi thái độ và thói quen sống của mọi người: Cuộc sống bền
vững được xây dựng trên những cơ sở đạo đức mới do đó con người phải xem xét lạicác giá trị và thay đổi cách ứng xử Cuộc sống xã hội phải xây dựng, đề ra các tiêuchuẩn đạo đức và phê phán lối sống không dựa trên nguyên tắc bền vững Dùng mọihình thức giáo dục chính thức và không chính thức để mọi người có cách ứng xử cócác hành vi cần thiết trong việc tác động lên thiên nhiên hướng tới thiên nhiên vữngbền
Nguyên tắc 7: Cho phép các cộng đồng tự quản lý lấy môi trường của mình: Phần
lớn các hoạt động sáng tạo và có hiệu quả của cá nhân và các nhóm đều xảy ra trongcộng đồng, các cộng đồng thường tạo ra những điều kiện thuận lợi và sẵn sàng thựchiện các hành động có ích cho xã hội vì các cộng đồng hơn ai hết biết quan tâm đếnđời sống của chính mình Nhờ nắm vững tình hình môi trường xung quanh nên khi họ
có quyền lực họ có thể tự quản lý môi trường họ sống một cách thích hợp nhất, tiếtkiệm và hiệu quả nhờ đó mà chất lượng môi trường được nâng cao
Nguyên tắc 8: Tạo ra một cơ cấu quốc gia thống nhất cho việc phát triển và bảo
vệ: Mỗi xã hội tiến bộ phải dựa trên cơ sở nguồn thông tin phong phú, kiến thứcdồi dào, cơ cấu luật pháp vững chắc, giáo dục toàn diện, một nền kinh tế ổn định
và chính sách xã hội phù hợp Tuy vậy, để cho xã hội phát triển bền vững các quốcgia phải xây dựng chất lượng phát triển tính đến tất cả các quyền lợi dự kiến cũngnhư ngăn chặn các trở lực có thể xảy ra do sự suy thoái điều kiện phát triển làchất lượng môi trường, các chính sách điều chỉnh liên tục hoạt động phát triển đểphù hợp các nhu cầu mới của xã hội cũng như bảo vệ được điều kiện môi trường
Trang 11Vì vậy, chính sách quốc gia phải gắn liền chính sách kinh tế với khả năng chịuđựng của môi trường, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, bảo đảm sao cho nguyêntắc người sử dụng tài nguyên phải trả giá cho việc sử dụng đó
Nguyên tắc 9: Kiến tạo một cơ cấu liên minh toàn cầu: Trong thế giới ngày nay
không một quốc gia nào tồn tại theo phương thức tự cấp tự túc được vì vậy sự pháttriển bền vững toàn cầu phải là hành động của toàn nhân loại, toàn cầu phải là một liênminh vững chắc Do mức độ phát triển không đồng đều nên các nước có thu nhập thấpphải được sự hỗ trợ của các nước giàu có và của cộng đồng quốc tế nói chung thì mớibảo vệ được môi trường của mình Các nguồn tài nguyên của hành tinh nhất là khôngkhí, nguồn nước và các hệ sinh thái chỉ có thể bảo vệ bằng sự quản lý chung, mục đíchchung và giải pháp thích hợp Toàn thể các quốc gia đều được lợi từ sự phát triển bềnvững và cùng bị thiệt hại nếu không thực hiện được điều đó
Trang 12Chương 2
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC
2.1 Khái niệm
2.1.1 Tài nguyên nước
Theo luật Tài nguyên nước, Tài nguyên nước bao gồm nước mưa, nướcmặt, nước dưới đất, nước biển thuộc lãnh thổ một quốc gia Tài nguyên nướcmặt gồm nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo, trong lòng sông (dòngchảy sông), ao hồ, đầm lầy Nước dưới đất là nước tồn tại trong các tầng chứanước dưới đất
2.1.2 Ô nhiễm nước
Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: "Ô nhiễm nước là sự biến đổinói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gâynguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi,giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã"
Theo luật bảo vệ tài nguyên nước Việt Nam: Ô nhiễm nguồn nước là sựthay đổi tính chất vật lý, tính chất hoá học, thành phần sinh học của nước viphạm tiêu chuẩn cho phép
Nguồn gốc ô nhiễm nước:
- Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: Do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt
đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại kể cảxác chết của chúng
- Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: Quá trình thải các chất độc hại
chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp,giao thông vào môi trường nước
Phân loại nguồn gây ô nhiễm
+ Nguồn điểm là các nguồn gây ô nhiễm có thể xác định được vị trí, kíchthước, bản chất, lưu lượng phóng thải tác nhân gây ô nhiễm Nguồn thải điểmchủ yếu: các cống xả nước thải
+ Nguồn không có điểm là các nguồn gây ô nhiễm không có điểm cố định,không xác định được vị trí, bản chất, lưu lượng tác nhân gây ô nhiễm Thí dụnước mưa chảy tràn qua đồng ruộng, đường phố, đổ vào sông rạch gây ô nhiễmnước
Ô nhiễm bắt nguồn từ đâu?
Ô nhiễm nước do nước thải khu dân cư
Nước thải từ hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, trường học, cơ quan, chứacác chất thải trong quá trình sinh hoạt, vệ sinh của con người được gọi chung lànước thải sinh hoạt, nước thải từ khu dân cư hoặc nước thải vệ sinh
Ô nhiễm nước do nước thải công nghiệp
Nước thải công nghiệp là nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểuthủ công nghiệp, giao thông vận tải
Trang 13Nước thải công nghiệp không có đặc điểm chung mà phụ thuộc vào đặcđiểm của từng ngành sản xuất.
Ô nhiễm nước do nước chảy tràn mặt đất
Nước chảy tràn từ mặt đất do nước mưa hoặc do thoát từ đồng ruộng lànguồn gây ô nhiễm nước sông, hồ, nước rửa trôi qua đồng ruộng có thể cuốntheo chất rắn (rác), hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón Nước rửa trôi qua khudân cư, đường phố, cơ sở sản xuất công nghiệp có thể là ô nhiễm nguồn nước
do chất rắn, dầu mỡ, hóa chất vi trùng
2.2 Môt số tác hại của ô nhiễm nước đối với môi trường
2.2.1 Ô nhiễm nước do tác nhân vật lý và hóa học
Các hạt chất rắn
Các hạt lơ lửng trong nước bao gồm nhiều loại hạt hợp chất hữu cơ và vô cơ Mộtvài chất, do kích thước nhỏ, nên lơ lửng trong cột nước và tạo ra độ đục cho nguồnnước, một số chất khác ở dạng hạt lớn hơn lại chìm xuống đáy tồn tại ở dạng trầm tíchđáy Các hạt lơ lửng trong nước có nguồn gốc đầu tiên là từ hiện tượng xói mòn đất, từcác dòng nước mưa chảy tràn qua đô thị, qua các vùng đất nông nghiệp và các khu vựcxây dựng Cùng với các quá trình xói mòn tự nhiên, các hoạt động như phá hủy cácthảm cây xanh, tăng cường các hoạt động nông nghiệp trên các vùng đất dốc, gia tăngcác bề mặt không thấm nước đã gây ra hiện tượng xói mòn quá mức tự tạo ra mộtlượng trầm tích lớn lắng tụ hoặc lơ lửng trong các dòng sông Các hạt lơ lửng gây rarất nhiều tác hại cho sức khỏe con người, bởi vì chúng có thể giúp chuyển tải các visinh vật gây bệnh vào nguồn nước và đóng vai trò chuyển tải các chất độc, chất dinhdưỡng cũng như kim loại nặng vào nước Do sự gia tăng các hạt lơ lửng trong nướclàm giảm cường độ ánh sáng khuyếch tán trong nước, các hệ sinh thái thủy vực bị ảnhhưởng mạnh
Việc thiếu ánh sáng làm cho các loài thực vật thủy sinh không thể phát triển được.Ngoài ra do sự tích tụ quá nhiều các hạt trầm tích nên các đặc điểm thủy văn của cácnguồn nước cũng bị thay đổi, thường dẫn đến giảm thể tích chứa của hồ nước
Ô nhiễm nhiệt
Do nhiều hoạt động trên lưu vực dẫn đến nhiệt độ biên của các dòng nước tăng lênbất thường Khi nhiệt độ biên tăng lên 30C có thể gây ra nhiều tác động cho các hệ sinhthái thủy vực Các dòng nước nóng đổ vào các nguồn nước thường là từ các nhà máynhiệt điện, các cơ sở công nghiệp, và phổ biến hơn cả là các dòng nước mưa có nhiệt
độ cao Thêm vào đó do các hoạt động trong quá trình đô thị hóa càng làm gia tăng cácdòng nước nóng tự nhiên Khi nhiệt độ của nước cao hơn bình thường, các kim loạinhư đồng, cadmi được tích lũy trong các thủy sinh vật tăng lên gấp đôi Hơn nữa cácảnh hưởng trực tiếp của việc gia tăng nhiệt độ lên hệ thống sinh vật thủy sinh còn làđẩy mạnh quá trình tích tụ sinh học các kim loại độc trong chuỗi thức ăn Do ảnh
hưởng của ô nhiễm nhiệt số lượng fecal coliorm sẽ tăng từ 100 lên 1000 các thể trong
trầm tích đáy Một vài loại vi khuẩn và tảo lại phát triển rất mạnh trong điều kiện nhiệt
độ cao này, dẫn đến chi phí về khử trùng tăng lên Ngoài ra chúng còn kéo theo nhiều
Trang 14rắc rối khác liên quan đến sự xuất hiện mùi, vị khó chịu, nước có màu sẫm hơn, thayđổi pH, phóng thải các chất độc và giảm lượng oxi hòa tan
Các tác động lên sức khỏe tùy thuộc hoàn toàn vào tính chất các hợp chất hữu cơ
và liều lượng con người hấp thu vào Một vài loại thuốc trừ sâu và dung môi hữu cơ cóthể gây ung thư, một số khác lại gây tác hại đến các cơ quan nội tạng của con người,một số khác có khả năng gây đột biến gen
Hóa chất bảo vệ thực vật: đó là những chất độc có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng
hợp hóa học, được dùng để phòng trừ sinh vật có hại cho cây trồng và nông sản vớicác tên gọi khác nhau: thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh, thuốc trừ cỏ, v.v Có thể chiathuốc bảo vệ thực vật thành ba nhóm cơ bản:
+ Nhóm Clo hữu cơ, gồm các hợp chất hóa học chứa gốc Cl rất bền vững trongmôi trường tự nhiên, với thời gian phân hủy dài Thuộc về nhóm này có Aldrin,Diedrin, DDT, Heptachlor, Lindane, Endrin, v.v
+ Nhóm lân hữu cơ: bao gồm hai hợp chất là Parathion và Malathion Nhómnày có thời gian phân hủy ngắn so với nhóm clo hữu cơ, nhưng thường có độ độccao đối với người và động vật
+ Nhóm cacbamat: gồm các hóa chất ít bền vững trong môi trường, nhưngcũng rất độc đối với người và động vật Đại diện cho nhóm này là các hợp chấtgốc cacbamat như Sevi, Puradan, Basa, Mipcin Chúng có tác động trực tiếp vàomen cholinesteraza của hệ thần kinh côn trùng
Dầu mỡ
Dầu mỡ là các hợp chất khó tan trong nước, tan trong các dung môi hữu cơ Dầu
mỡ có thành phần hóa học rất phức tạp Độc tính và tác động sinh thái của dầu mỡ phụthuộc vào từng loại dầu Dầu thô có chứa hàng ngàn phân tử khác nhau, nhưng phầnlớn là các hydrocacbon có số cacbon từ 4 đến 26 Trong dầu thô còn có các hợp chấtlưu huỳnh, nitơ, kim loại nặng (vanadi) Các loại dầu nhiên liệu sau khi tinh chế (dầu
DO, FO) và một số sản phẩm dầu mỡ còn chứa các chất độc như hydrocacbon đa vòng(PHA), polyclobiphenyl (PCB), kim loại (chì) Do đó dầu mỡ có tính độc cao và tươngđối bền vững trong môi trường nước
2.2.2 Các kim loại nặng
Kim loại nặng là những nguyên tố có tỉ trọng >5 Các kim loại nặng có trong nướcuống thường được xem là các kim loại lượng vết, vì chúng thường có tác dụng ở mộtnồng độ cực kỳ bé Dưới đây là một số kim loại nặng và sự liên quan của chúng đếnmôi trường và chất lượng nước
Trang 15− Cadmi: xâm nhập vào nguồn nước từ các hoạt động công nghiệp như mạ điện,
đúc kim loại, khai thác mỏ, sản xuất sơn màu và chất dẻo Các dòng nước chảy quathành phố cũng đóng góp một lượng Cadmi đáng kể Cadmi được U.S EPA (Cơ quanbảo vệ môi trường Hoa Kỳ) xác định là có thể gây ung thư Ở hàm lượng thấp cadmi
có thể gây nôn mửa, nếu bị ảnh hưởng lâu dài sẽ gây rối loạn chức năng của thận Hàmlượng cao có thể gây tử vong
− Crôm: được tìm thấy từ chất thải của nhà máy tráng mạ kim loại, các khu khai
thác mỏ, từ khí thải động cơ Crôm ở trạng thái hóa trị III là một nguyên tố cần thiếtcho quá trình sống; nhưng khi ở dạng hóa trị IV nó trở nên rất độc hại đối với gan vàthận, có thể gây xuất huyết nội và rối loạn hô hấp Khi hít phải crom thì có thể gây racác bệnh ung thư Nếu tiếp xúc thường xuyên với crôm sẽ bị viêm loét da
− Đồng: tìm thấy trong các dòng suối có nguồn gốc từ núi đá trần, từ hoạt động
xử lý tảo sử dụng sunphat đồng Các dòng nước mưa đô thị thường được xem là mộttrong những nguồn cung cấp đồng lớn Hầu hết lượng đồng có trong nước máy là do
sự ăn mòn của các ống dẫn làm bằng đồng và đồng thau Đồng là một nguyên tố cầnthiết phải có trong cơ thể, nhưng nếu ăn quá nhiều thì cũng gây ra nhiều căn bệnh áctính Ở hàm lượng cao đồng sẽ phá hủy gan và thận, gây rối loạn tiêu hóa và tình trạngthiếu máu Hiện tại chưa có bằng chứng rõ ràng để có thể kết luận đồng có thể gây ungthư hay không
− Chì: đã được U.S EPA xác định là một trong những chất ô nhiễm phổ biến nhất
trong các dòng nước mưa đô thị Trong nước máy, hầu hết lượng chì tìm thấy là do sựbào mòn các ống dẫn làm bằng chì hoặc được hàn bằng chì Chì có thể là nguyên nhângây ra rất nhiều triệu chứng ốm đau như thiếu máu, đau thận, rối loạn khả năng sinhsản, suy giảm trí nhớ và kìm hãm các quá trình phát triển trí tuệ cũng như cơ bắp Dựatrên nghiên cứu về các khối u ở chuột U.S EPA đã kết luận rằng chì là chất có khảnăng gây ung thư
− Thủy ngân: là kim loại gây ô nhiễm nước liên quan đến sự lắng tụ từ không
khí, từ các dòng nước mưa đô thị, các xí nghiệp dược, việc sử dụng thuốc trừ sâu vàcác bãi rác Trong nước, thủy ngân thường tồn tại ở dạng muối Trong các trầm tích vàtrong cơ thể sinh vật thủy sinh nó tồn tại ở dạng hữu cơ Thủy ngân khi ở dạng hữu cơ(ví dụ tồn tại trong cơ thể cá với hàm lượng cao) sẽ tác động trực tiếp lên hệ thần kinhtrung ương gây rối loạn hệ thần kinh vận động và tâm lý và có thể gây tử vong Ở dạng
vô cơ, thường tìm thấy trong nước, thủy ngân có thể gây suy giảm hoạt động của thận
− Nikel: rất hay được tìm thấy trong các nguồn cung cấp nước uống Theo nghiên
cứu của U.S EPA đã xác định rằng 86% các nguồn nước ngầm và 84% các nguồnnước mặt có chứa một lượng nhỏ nikel Các nguồn nikel có thể là từ nhà máy luyệnkim, các xưởng mạ kim loại, các lò rèn, các khu mỏ, các nhà máy lọc dầu Nikel không
bị hấp thu trong dạ dầy Ở hàm lượng lớn có thể gây ra các căn bệnh trầm trọng chosức khỏe con người Nikel làm sút cân và thay đổi hệ thống enzym và máu Khi hít
Trang 16phải nhiều nikel có thể bị ưng thư U.S EPA xếp nikel vào loại chất có thể đột biến vàung thư.
− Magan: nguồn mangan trong nước thường do quá trình thối rửa, xói mòn và do
nhiễm chất thải từ công nghiệp luyện kim màu, sản xuất thép, accu khô, phânbón Mangan có độc tính không cao nhưng có khả năng ảnh hưởng đến vị giác Trongnước sông có nồng độ: 1-500 mg/L
2.2.3 Các chất phóng xạ
Các chất phóng xạ là các nguyên tử có thể phát ra các tia phóng xạ trong quá trìnhphân rã Chúng có thể ở dạng khí (radon) hoặc ở dạng kim loại (radium), có thể cónguồn gốc nhân tạo và cũng có thể có nguồn gốc tự nhiên U.S EPA đã đưa ra qui định
về tổng lượng hạt anpha hoạt động và các hoạt động của tia beta các hạt photon vàradium 226 và 228 Nếu các phép đo về tổng lượng hạt anpha và photon vượt quá tiêuchuẩn cho phép thì bắt buộc phải thu thêm thông tin để xác định ra nguồn phát sinhcủa các hạt này U.S EPA rất lưu ý đến các chất phóng xạ trong nước uống có chu kỳbán rã dài hơn một giờ Những chất phóng xạ loại này sẽ có khả năng tồn tại đủ lâutrong nước uống đi vào tận đường tiêu hóa của người uống, do vậy sẽ gây ra các táchại đối với sức khỏe Các chất phóng xạ có trong nước chủ yếu có nguồn gốc tự nhiên.Nơi có hàm lượng phóng xạ cao nhất là ở các giếng có đáy là đá granit Nói chung cácnguồn nước mặt thường có nồng độ phóng xạ thấp, mặc dù trong không khí vẫn luôntồn tại một lượng rất bé bụi phóng xạ do các vụ thử hạt nhân Nguồn phóng xạ còn cóthể là từ các Trung tâm Y tế có sử dụng các máy X quang, các Trung tâm Y học hạtnhân có sử dụng các nguồn phóng xạ để xử lý bướu hoặc các khối u ung thư Các nhàmáy điện hạt nhân, các chất thải phóng xạ, các phương tiện nghiên cứu có nguồnphóng xạ đều có khả năng phát ra các tia bức xạ Các nhà máy công nghiệp như thuốc
lá, chế biến thực phẩm, sản xuất khai thác vật liệu xây dựng như đá, cát đều được xem
là các nguồn thải chất phóng xạ vào nguồn nước uống Các chất phóng xạ là nguyênnhân của nhiều căn bệnh ung thư do chúng làm thay đổi các cấu trúc của nhiễm sắc thểtrong các tế bào Hơn nữa các đột biến gen này còn mang tính chất di truyền Các ảnhhưởng đến sức khỏe là do tổng liều lượng bức xạ cơ thể hấp thu Với tia beta/photon,EPA qui định tổng liều lượng an toàn cho một người là 4 mrem/năm Thực ra phóng
xạ cơ thể thu nhận từ nước uống là rất ít, mà lượng phóng xạ chủ yếu gây ra các rủi rocho sức khỏe đặc biệt là các ca ung thư phổi là phóng xạ từ khí radon phát ra từ cátsạn, đá xây nhà
2.2.4 Ô nhiễm nước do tác nhân sinh học
Hầu hết các vi sinh vật gây bệnh trong nước thường có nguồn gốc từ phân người,động vật, chúng xâm nhập vào nguồn nước, vượt qua các quá trình khử trùng và rồitiến vào các ống dẫn nước Các hệ thống hố xí, các dòng nước mưa từ các khu chợbúa, các trang trại chăn nuôi, do phân của các sinh vật hoang dã, chất thải từ thuyền bèchính là nguồn cung cấp các mầm bệnh cho các nguồn nước Do các múi nối của ốngdẫn vỡ, các bể chứa bị thủng và các hoạt động khử trùng không thích hợp chính lànhững cơ hội giúp vi sinh vật dễ dàng xâm nhập vào nước máy
Trang 17Những tác nhân sinh học chính, truyền qua nước có thể xếp thành 4 loại: vi khuẩn,virus, ký sinh trùng và các loại vi sinh vật khác.
Sự nguy hại đến sức khỏe con người do uống nước trực tiếp, do ăn các loại thựcphẩm, hoặc do sử dụng nước trong chế biến thức ăn, vệ sinh cá nhân
2.3 Các thông số ô nhiễm nguồn nước
pH của nước thải
pH của nước thải có một ý nghĩa quan trọng trong quá trình xử lý Các công trình
xử lý nước thải áp dụng các quá trình sinh học làm việc tốt khi pH nằm trong giới hạn
từ 7 - 7,6 Các xí nghiệp sản xuất có thể thải ra nước thải có tính acid hoặc kiềm rấtcao chẳng những làm cho nguồn nước không còn hữu dụng đối với các hoạt động củacon người mà còn làm ảnh hưởng đến hệ thủy sinh vật Nồng độ acid sulfuric cao làmảnh hưởng đến mắt của những người bơi lội ở nguồn nước này, ăn mòn thân tàuthuyền, hư hại lưới đánh cá nhanh hơn Nguồn nước lân cận một số xí nghiệp có thể có
pH thấp đến 2 hoặc cao đến 11; trong khi cá chỉ có thể tồn tại trong môi trường có 4,5
< pH < 9,5 Hàm lượng NaOH cao thường phát hiện trong nước thải ở các xí nghiệpsản xuất bột giặt, thuộc da, nhuộm vải sợi NaOH ở nồng độ 25 ppm đã có thể làm
chết cá
Nhiệt
Các nước thải từ nhà máy nhiệt điện và lò hơi của một số ngành công nghiệp cónhiệt độ rất cao Khi thải ra môi trường, nó làm tăng nhiệt độ của các thủy vực ảnhhưởng đến một số thủy sinh vật và làm suy giảm ôxy hòa tan trong nguồn nước (dokhả năng bão hòa ôxy trong nước nóng thấp hơn và vi khuẩn phân hủy chất hữu cơ sẽhoạt động mạnh hơn)
Màu
Các nước thải từ nhà máy dệt, giấy, thuộc da, lò mổ có độ màu rất cao Nó có thểlàm cản trở khả năng khuếch tán của ánh sáng vào nguồn nước gây ảnh hưởng đến khảnăng quang hợp của hệ thủy sinh thực vật Nó còn làm mất vẽ mỹ quan của nguồnnước
DO (Dissolved oxigen)
Oxi hoàn tan trong nước rất cần cho sinh vật hiếu khí Bình thường oxi hòa tantrong nước khoảng 8 – 10 mg/l, chiếm 70 – 85% khi oxi bão hòa Mức oxi hòa tantrong nước tự nhiên và nước thải phụ thuộc vào mức độ ô nhiễm chất hữu cơ, vào hoạtđộng của thế giới thủy sinh, các hoạt động hóa sinh, hóa học và vật lý của nước Trongmôi trường nước bị ô nhiễm niặng, oxi được dùng nhiều cho các quá trình hóa sinh vàxuất hiện hiện tượng thiếu oxi trầm trọng
Phân tích chỉ số oxi hòa tan (DO) là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá
sự ô nhiễm của nước và giúp ta đề ra các biện pháp xử lý thích hợp
Phân tích DO có 2 phương pháp thường dùng là: phương pháp Iod và phươngpháp đo oxi hòa tan trực tiếp bằng điện cực oxi với màng nhạy trên các máy đo
BOD (Biochemical Ôxygen Demand)
Trang 18Nhu cầu ôxy sinh hóa là lượng ôxy cần thiết để vi sinh vật ôxy hóa các chất hữu
cơ trong một khoảng thời gian xác định và được ký hiệu bằng BOD được tính bằngmg/L Chỉ tiêu BOD phản ánh mức độ ô nhiễm hữu cơ của nước thải BOD càng lớnthì nước thải (hoặc nước nguồn) bị ô nhiễm càng cao và ngược lại
Thời gian cần thiết để các vi sinh vật ôxy hóa hoàn toàn các chất hữu cơ có thể kéodài đến vài chục ngày tùy thuộc vào tính chất của nước thải, nhiệt độ và khả năng phânhủy các chất hữu cơ của hệ vi sinh vật trong nước thải Để chuẩn hóa các số liệu người
ta thường báo cáo kết quả dưới dạng BOD5 (BOD trong 5 ngày ở 20oC) Mức độ ôxyhóa các chất hữu cơ không đều theo thời gian Thời gian đầu, quá trình ôxy hóa xảy ravới cường độ mạnh hơn và sau đó giảm dần
COD (Chemical oxigen Demand)
Chỉ số này được dùng rộng rãi để đặc trưng cho hàm lượng chất hữu cơ của nướcthải và ô nhiễm của nước tự nhiên
COD là lượng oxi cần thiết cho quá trình oxi hoá toàn bộ các chất hữu cơ có trongmẫu nước thành CO2 và nước
- Chất rắn trong nước phân thành 2 loại (theo kích thước hạt):
Chất rắn qua lọc có đường kính hạt nhỏ hơn 1µm, trong đó có chất rắn dạng keo cókích thước từ 10-6 – 10-9m và chất rắn hòa tan (các ion và phân tử hòa tan)
Chất rắn không qua lọc có đường kính trên 10-6m (1µm): Các hạt là xác rong tảo,
vi sinh vật có kích thước 10-5 - 10-6m ở dạng lơ lửng; cát sạn, cát nhỏ có kích thướctrên 10-5m có thể lắng cặn
Tổng chất rắn (TS) được xác định bằng trọng lượng khô phần còn lại sau khi chobay hơi 11 mẫu nước trên bếp cách thủy rồi sấy khô ở 1030C cho đến khi trọng lượngkhông thay đổi Đơn vị tính bằng mg ( hoặc g/l)
Chất rắn ở dạng huyền phù (SS) hàm lượng trong các chất huyền phù (SS) là trọnglượng khô của chất rắn còn lại trên giấy lọc sợi thủy, khi lọc 11 mẫu nước qua phễulọc Gooch sấy khô ở 103 -1050C tới khi trọng lượng không thay đổi đơn vị tính mghoặc g/l
Chất rắn hòa tan (DS) Hàm lượng chất rắn hòa tan chính là hiệu số của tổng chấtrắn với huyền phù: DS = TS – SS
Chỉ số E.Coli
Trong nước thải, đặc biệt là nước thải sinh hoạt, nước thải bệnh viện, nước thảivùng du lịch, dịch vụ, khu chăn nuôi…nhiễm nhiều vi sinh vật có sẵn ở trong phân
Trang 19người và phân súc vật Trong đó có thể có nhiều vi khuẩn gây bệnh, đặc biệt là cácbệnh về đường tiêu hóa, như tả, lị thương hàn, các vi khuẩn gây ngộ độc thực phẩm.Trong ruột người, động vật có vú khác không kể lứa tuổi có những nhóm vi sinhvật cư trú, chủ yếu là vi khuẩn Các vi khuẩn này thường có ở trong phân.
Vi khuẩn đường ruột gồm 3 nhóm:
- Nhóm Coliform đặc trưng là Escherichia coli (E.coli)
- Nhóm Streptococcus đặc trưng là Streptococcus faecalis
- Nhóm Clostridium đặc trưng là Clostridium perfringens
Hàm lượng các kim loại và kim loại nặng: asen, cadimi, chì, niken, crom, sắt,
kẽm, mangan, thuỷ ngân, thiếc, thường phân tích bằng phương pháp phổ hấp thụnguyên tử
Ngoài ra còn các chỉ tiêu sau:
+ Hàm lượng dầu mỡ khoáng, dầu động thực vật
+ Photpho tổng số, photpho hữu cơ
+ Tổng nitơ, amoniac theo nitơ
+ Hàm lượng florua, clorua, sunfua
+ Hàm lượng phenol, xianua
2.4 Đặc điểm và hiện trạng tài nguyên nước của thế giới
Khoảng một nửa các sông trên thế giới bị cạn kiệt nghiêm trọng và bị ô nhiễm.60% trong số 227 con sông lớn nhất thế giới bị chia cắt ở mức cao và trung bình doxây dựng các đập và các công trình kỹ thuật khác
Các lợi ích gồm tăng sản lượng lương thực và thủy điện Song các thiệt hại khôngthể khôi phục lại xảy ra đối với các vùng đất ngập nước và các hệ sinh thái khác Từnhững năm thập kỷ 50, đã có 40-80 triệu người đã phải di dời
Một phần ba dân số thế giới – tương đương 2 tỷ người phụ thuộc vào các nguồncung cấp nước ngầm Ở một số nước như các vùng của Ấn Độ, Trung Quốc, Tây Á,gồm Bán đảo Arabia, Liên Xô cũ và phía Tây nước Mỹ, các mực nước ngầm hạ xuống
là kết quả của sự khai thác quá mức nguồn nước này
Bơm hút quá mức có thể dẫn đến sự xâm nhập mặn ở các vùng ven biển Ví dụ,nhiễm mặn đã lấn sâu vào đất liền hơn 10km ở Madras - Ấn Độ - trong những nămgần đây
Gần 80 nước, chiếm tới 40% dân số thế giới đang trong tình trạng thiếu nướcnghiêm trọng kể từ giữa thập kỷ 90 Có khoảng 1,1 tỷ người không có nước sạch antoàn và 2,4 tỷ người được hưởng các điều kiện vệ sinh đã được cải thiện, chủ yếu ởChâu Phi và Châu Á
Tuy nhiên, tỷ lệ người dân có được các nguồn cấp nước đã được cải thiện mới chỉtăng từ 4,1 tỷ người, chiếm 79% dân số thế giới (năm 1990) đến 4,9 tỷ người, chiếm82% dân số thế giới (năm 2000)
Thiệt hại do các bệnh liên quan đến nước lại thật sự tăng nhanh Hai tỷ người chịurủi ro vì bệnh sốt rét, trong đó 100 triệu người có thể bị ảnh hưởng bất cứ lúc nào và
Trang 20hàng năm số người tử vong vì căn bệnh này là 2 triệu người Ngoài ra, có khoảng 4 tỷtrường hợp khác bị mắc bệnh tiêu chảy và số tử vong hàng năm là 2,2 triệu người
Các bệnh lây nhiễm đường ruột do giun làm khổ sở 10% dân số ở các nước đangphát triển Có tới 6 triệu người bị mù do bệnh đau mắt hột Khoảng 200 triệu ngườikhác bị ảnh hưởng do bệnh sán máng là nguyên nhân gây bệnh giun trong máu ởngười
2.5 Đặc điểm và hiện trạng tài nguyên nước ở Việt Nam
Lượng nước mặt bình quân đầu người hiện nay ở nước ta đạt khoảng 3.840
m3/người/năm Nếu tính tổng lượng tài nguyên nước sông ngòi ở Việt Nam (kể cả tàinguyên nước từ ngoài chảy vào) thì bình quân đạt 10.240m3/người/năm
Với tốc độ phát triển dân số như hiện nay thì đến năm 2025 lượng nước mặt tính bìnhquân đầu người ở nước ta chỉ đạt khỏang 2.830m3/người/năm Tính cả lượng nước từ bênngoài chảy vào thì bình quân đạt 7.660m3/người/năm
Theo chỉ tiêu đánh giá của Hội tài nguyên nước quốc tế (IWRA), quốc gia nào có lượngnước bình quân đầu người dưới 4.000m3/người/năm là quốc gia thiếu nước Như vậy nếuchỉ tính riêng lượng tài nguyên nước mặt sản sinh trên lãnh thổ nước ta thì ở thời điểm hiệnnay nước ta đã thuộc số các quốc gia thiếu nước và Việt Nam sẽ gặp phải rất nhiều tháchthức về tài nguyên nước trong tương lai gần
Cũng theo một quan chức của Bộ Tài nguyên Môi trường, tài nguyên nước tại ViệtNam phân bố không đều giữa các vùng Trên 60% nguồn nước sông tập trung ở khu vựcĐBSCL (lưu vực sông Mê Kông) trong khi toàn phần lãnh thổ còn lại chỉ có gần 40% lượngnước nhưng lại chiếm tới gần 80% dân số cả nước và trên 90% khối lượng hoạt động sảnxuất kinh doanh, dịch vụ
Đặc biệt các địa phương vùng miền Đông Nam Bộ và lưu vực Đồng Nai – Sài Gòn,lượng nước bình quân đầu người chỉ đạt khoảng 2.900m3/ người/năm, bằng 28% so với mứctrung bình của cả nước
Bên cạnh đó, tài nguyên nước của Việt Nam cũng phân bố không đều theo thời giantrong năm và giữa các năm Lượng nước trung bình trong 4 đến 5 tháng mùa mưa chiếmkhoảng 75 – 85% trong khi những tháng mùa khô (kéo dài đến 7- 8 tháng) lại chỉ có khoảng
15 – 25 % lượng nước của cả năm
Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao không đi đôi vớilàm tốt công tác bảo vệ môi trường đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực tới tài nguyên nước
ở nước ta Tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt ngày càng tăng cả về mức độ và quy mô.Nguồn nước dưới đất ở nhiều đô thị, một số khu vực đồng bằng đã có biểu hiện ô nhiễm docác chất hữu cơ khó phân hủy và hàm lượng vi khuẩn cao Các biểu hiện suy thoái, cạn kiệtnguồn nước dưới đất đang trở nên rõ rệt và phổ biến ở nước ta
Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thựchiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn
đề rất đáng lo ngại
Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngàycàng nặng nề dối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ Môi trường nước ở nhiều đô thị,
Trang 21khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn.
ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trườngnước do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải Ô nhiễm nước do sản xuất côngnghiệp là rất nặng Ví dụ: ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bộtgiấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ôxy sinh hoá (BOD),nhu cầu ôxy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơlửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép
Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2Svượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nềcác nguồn nước mặt trong vùng dân cư
Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung
là rất lớn
Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước bị nhiễm bẩnbởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m3/ngày từ các nhàmáy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt Ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từcác cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổnglượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu;nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH4 là 4mg/1, hàm lượng chất hữu
cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu…
Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhuộm ở Bắc Ninhcho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước
và môi trường trong khu vực
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh Ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có hệ thống xử lý tập trung
mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương) Mặt khác, còn rất nhiều cơ sởsản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở Y tế lớn chưa có hệ thống
xử lý nước thải; một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… lànhững nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh,sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng
Ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 - 400.000
m3/ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 25% lượngnước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải; lượng rác thải sinh hoại chưađược thu gom khoảng 1.200m3/ngày đang xả vào các khu đất ven các hồ, kênh, mươngtrong nội thành; chỉ số BOD, ôxy hoà tan, các chất NH4, NO2, NO3 ở các sông, hồ, mươngnội thành đều vượt quá quy định cho phép ở thành phố Hồ Chí Minh thì lượng rác thải lêntới gần 4.000 tấn/ngày; chỉ có 24/142 cơ sở Y tế lớn là có xử lý nước thải; khoảng 3.000 cơ
sở sản xuất gây ô nhiễm thuộc diện phải di dời
Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như Hải Phòng,Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương… nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý độ ônhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép (TCCP), cácthông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD; Ôxy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí
Trang 2220 lần TCCP.
Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, hiện nayViệt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu,phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc
bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càngcao Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số vi khuẩn Fecal coliformtrung bình biến đổi từ 1.500-3.500MNP/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sông Hậu, tănglên tới 3800-12.500MNP/100ML ở các kênh tưới tiêu
Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồnnước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường nước và sức khoẻnhân dân
Do nuôi trồng thuỷ sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đãgây nhiều tác động tiêu cực tới môi trường nước Cùng với việc sử dụng nhiều và khôngđúng cách các loại hoá chất trong nuôi trồng thuỷ sản, thì các thức ăn dư lắng xuống đáy ao,
hồ, lòng sông làm cho môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một sốloài sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc; thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiện thuỷtriều đỏ ở một số vùng ven biển Việt Nam
Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trườngnước, như sự gia tăng dân số, mặt trái của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ sở hạtầng yếu kém, lạc hậu: nhận thức của người dân về vấn đề môi trường còn chưa cao… Đángchú ý là sự bất cập trong hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường Nhận thức của nhiều cấpchính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môitrường nước chưa sâu sắc và đầy đủ; chưa thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễmgây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục đối với đời sống con người cũng như
sự phát triển bền vững của đất nước Các quy định về quản lý và bảo vệ môi trường nướccòn thiếu (chẳng hạn như chưa có các quy định và quy trình kỹ thuật phục vụ cho công tácquản lý và bảo vệ nguồn nước) Cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ngành
và địa phương chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm rõ ràng Chưa cóchiến lược, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo lưu vực và cácvùng lãnh thổ lớn Chưa có các quy định hợp lý trong việc đóng góp tài chính để quản lý vàbảo vệ môi trường nước, gây nên tình trạng thiếu hụt tài chính, thu không đủ chi cho bảo vệmôi trường nước
Ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường nước còn rất thấp (một số nước ASEAN đãđầu tư ngân sách cho bảo vệ môi trường là 1% GDP, còn ở Việt Nam mới chỉ đạt 0,1%).Các chương trình giáo dục cộng đồng về môi trường nói chung và môi trường nước nóiriêng còn quá ít Đội ngũ cán bộ quản lý môi trường nước còn thiếu về số lượng, yếu vềchất lượng (Hiện nay ở Việt Nam trung bình có khoảng 3 cán bộ quản lý môi trường/1 triệudân, trong khi đó ở một số nước ASEAN trung bình là 70 người/1 triệu dân)
2.6 Quản lý tài nguyên nước
2.6.1 Biện pháp quản lý nhà nước
Bảo vệ môi trường biển
Trang 23Nguyên tắc bảo vệ môi trường biển
1 Bảo vệ môi trường là một nội dung của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tếbiển nhằm giảm thiểu tác động xấu đối với môi trường biển và tăng hiệu quả kinh tếbiển
2 Phòng ngừa và hạn chế chất thải từ đất liền và từ các hoạt động trên biển; chủđộng, phối hợp ứng phó sự cố môi trường biển
3 Bảo vệ môi trường biển phải trên cơ sở phân vùng chức năng bảo vệ và sử dụngtài nguyên thiên nhiên
4 Bảo vệ môi trường biển phải gắn với quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trườngbiển phục vụ phát triển bền vững
Bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên biển
1 Các nguồn tài nguyên biển phải được điều tra, đánh giá về trữ lượng, khả năngtái sinh và giá trị kinh tế phục vụ việc quản lý và bảo vệ môi trường biển
2 Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản, khai thác nguồn lợi, tài nguyên biển và hoạtđộng khác liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên biển phải được thực hiện theoquy hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên đã được phê duyệt
3 Hoạt động trong khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng ngập mặn, di sản tự nhiênbiển phải tuân theo quy chế của ban quản lý, quy định của pháp luật về bảo vệ môitrường và các quy định khác của pháp luật có liên quan
4 Nghiêm cấm việc sử dụng các biện pháp, phương tiện, công cụ có tính huỷ diệttrong khai thác tài nguyên và nguồn lợi biển
Kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường biển
1 Nguồn thải từ đất liền, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đô thị, khu dân cưven biển, trên biển, trên đảo phải được điều tra, thống kê, đánh giá và có giải phápngăn ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường biển
2 Chất thải và các yếu tố gây ô nhiễm khác từ hoạt động sản xuất, kinh doanh,dịch vụ, xây dựng, giao thông, vận tải, khai thác trên biển phải được kiểm soát và xử
lý đạt tiêu chuẩn môi trường
3 Dầu, mỡ, dung dịch khoan, hoá chất và các chất độc hại khác được sử dụngtrong các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên biển sau khi sử dụng phải được thugom, lưu giữ trong thiết bị chuyên dụng và phải được xử lý theo quy định về quản lýchất thải nguy hại
4 Nghiêm cấm mọi hình thức đổ chất thải trong vùng biển nước Cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam
Tổ chức phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường trên biển
1 Tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản, chủ phương tiện vận chuyểnxăng, dầu, hoá chất, chất phóng xạ và các chất độc hại khác trên biển phải có kế hoạch,nhân lực, trang thiết bị bảo đảm phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường
2 Lực lượng cứu nạn, cứu hộ quốc gia, lực lượng cảnh sát biển phải được đào tạo,huấn luyện, trang bị phương tiện, thiết bị bảo đảm ứng phó sự cố môi trường trên biển
Trang 243 Chủ phương tiện vận tải, kho lưu giữ hàng hoá trên biển có nguy cơ gây ra sự
cố môi trường phải có hình thức thông báo cho các lực lượng quy định tại khoản 2Điều này và tổ chức, cá nhân liên quan khác được biết và có phương án phòng tránh sự
cố môi trường
4 Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh venbiển trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm pháthiện, cảnh báo, thông báo kịp thời về tai biến thiên nhiên, sự cố môi trường trên biển
và tổ chức ứng phó, khắc phục hậu quả
Bảo vệ môi trường nước sông
Nguyên tắc bảo vệ môi trường nước sông
1 Bảo vệ môi trường nước sông là một trong những nội dung cơ bản của quyhoạch khai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên nước trong lưu vực sông
2 Các địa phương trên lưu vực sông phải cùng chịu trách nhiệm bảo vệ môitrường nước trong lưu vực sông; chủ động hợp tác khai thác nguồn lợi do tài nguyênnước trong lưu vực sông mang lại và bảo đảm lợi ích cho cộng đồng dân cư
Kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường nước trong lưu vực sông
1 Nguồn thải trên lưu vực sông phải được điều tra, thống kê, đánh giá và có giảipháp kiểm soát, xử lý trước khi thải vào sông
2 Chất thải từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, xây dựng, giao thông vậntải, khai thác khoáng sản dưới lòng sông và chất thải sinh hoạt của các hộ gia đình sinhsống trên sông phải được kiểm soát và bảo đảm yêu cầu về bảo vệ môi trường trướckhi thải vào sông
3 Việc phát triển mới các khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đô thị, dân cư tậptrung trong lưu vực sông phải được xem xét trong tổng thể toàn lưu vực, có tính đếncác yếu tố dòng chảy, chế độ thuỷ văn, sức chịu tải, khả năng tự làm sạch của dòngsông và hiện trạng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và phát triển đô thị trên toàn lưu vực
4 Việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án phát triểnmới khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đô thị, dân cư tập trung, cơ sở sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ có quy mô lớn trong lưu vực phải có sự tham gia ý kiến của Uỷ bannhân dân cấp tỉnh nơi có sông chảy qua
Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đối với bảo vệ môi trường nước tronglưu vực sông
1 Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trên lưu vực sông có trách nhiệm sau đây:
a) Công khai thông tin các nguồn thải ra sông;
b) Kiểm soát nguồn thải vào nước sông và xử lý các trường hợp vi phạm tiêuchuẩn môi trường;
c) Phối hợp với cơ quan hữu quan trong việc xác định đối tượng gây thiệt hại vềmôi trường và giải quyết bồi thường thiệt hại về môi trường trong trường hợp đốitượng bị thiệt hại thuộc các địa phương khác trên lưu vực
Trang 252 Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trên thượng nguồn dòng sông có trách nhiệm phốihợp với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trên hạ nguồn dòng sông trong việc điều tra pháthiện, xác định nguồn gây ô nhiễm nước sông và áp dụng các biện pháp xử lý.
Trường hợp có thiệt hại về môi trường, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra thiệthại có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan hữu quan để tổ chức việc điều tra, đánhgiá về mức độ thiệt hại và yêu cầu các đối tượng gây thiệt hại phải bồi thường
3 Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi phát sinh nguồn thải có trách nhiệm áp dụng cácbiện pháp cưỡng chế buộc đối tượng gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn phải thựchiện nghĩa vụ khắc phục và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật
Tổ chức bảo vệ môi trường nước của lưu vực sông
1 Việc điều phối hoạt động bảo vệ môi trường nước của lưu vực sông nằm trênđịa bàn nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được thực hiện theo quy định củaThủ tướng Chính phủ
2 Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trên lưu vực sông có trách nhiệm thực hiện các biệnpháp bảo vệ môi trường nước của lưu vực sông
3 Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện quy định của Thủtướng Chính phủ về bảo vệ môi trường nước của lưu vực sông
Bảo vệ môi trường các nguồn nước khác
Bảo vệ môi trường nguồn nước hồ, ao, kênh, mương, rạch
1 Nguồn nước hồ, ao, kênh, mương, rạch phải được điều tra, đánh giá trữ lượng,chất lượng và bảo vệ để điều hoà nguồn nước
2 Hồ, ao, kênh, mương, rạch trong đô thị, khu dân cư phải được quy hoạch cảitạo, bảo vệ; tổ chức, cá nhân không được lấn chiếm, xây dựng mới các công trình, nhà
ở trên mặt nước hoặc trên bờ tiếp giáp mặt nước hồ, ao, kênh, mương, rạch đã đượcquy hoạch; hạn chế tối đa việc san lấp hồ, ao trong đô thị, khu dân cư
Chủ dự án ngăn dòng chảy kênh, mương; dự án san lấp hồ, ao, kênh, mương, rạchphải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường theo quy định của pháp luật
3 Không được đổ đất, đá, cát, sỏi, chất thải rắn, nước thải chưa qua xử lý đạt tiêuchuẩn môi trường và các loại chất thải khác vào nguồn nước mặt của hồ, ao, kênh,mương, rạch
4 Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức điều tra, đánh giá trữ lượng,chất lượng và lập quy hoạch bảo vệ, điều hoà chế độ nước của hồ, ao, kênh, mương,rạch; lập và thực hiện kế hoạch cải tạo hoặc di dời các khu, cụm nhà ở, công trình trên
hồ, ao, kênh, mương, rạch gây ô nhiễm môi trường, tắc nghẽn dòng chảy, suy thoái hệsinh thái đất ngập nước và làm mất mỹ quan đô thị
Bảo vệ môi trường hồ chứa nước phục vụ mục đích thuỷ lợi, thủy điện
1 Việc xây dựng, quản lý và vận hành hồ chứa nước phục vụ mục đích thủy lợi,thuỷ điện phải gắn với bảo vệ môi trường
2 Không được lấn chiếm diện tích hồ; đổ chất thải rắn, đất, đá, nước thải chưa qua
xử lý vào lòng hồ
Trang 263 Môi trường nước trong hồ chứa nước phục vụ mục đích thủy lợi, thuỷ điện phảiđược quan trắc định kỳ nhằm dự báo diễn biến chất lượng nước, chế độ thuỷ văn đểđiều hoà nguồn nước và bảo vệ môi trường.
4 Cơ quan quản lý hồ chứa nước phục vụ mục đích thủy lợi, thuỷ điện có tráchnhiệm thực hiện quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liênquan
Bảo vệ môi trường nước dưới đất
1 Việc bảo vệ môi trường trong thăm dò, khai thác nước dưới đất được quy địnhnhư sau:
a) Dự án khai thác nước dưới đất có công suất từ 10.000 mét khối trong một ngàyđêm trở lên phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường;
b) Chỉ sử dụng các loại hoá chất trong danh mục cho phép của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền trong thăm dò, khai thác nước dưới đất;
c) Nghiêm cấm việc đưa vào nguồn nước dưới đất các loại hoá chất, chất độc hại,chất thải, vi sinh vật chưa được kiểm định và các tác nhân độc hại khác đối với conngười và sinh vật;
d) Có biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm nguồn nước dưới đất qua giếng khoan thăm
dò, khai thác nước dưới đất; cơ sở khai thác nước dưới đất có trách nhiệm phục hồimôi trường khu vực thăm dò, khai thác; các lỗ khoan thăm dò, lỗ khoan khai tháckhông còn sử dụng phải được lấp lại theo đúng quy trình kỹ thuật để tránh làm ônhiễm nguồn nước dưới đất
2 Dự án khai thác khoáng sản, dự án khác có sử dụng hoá chất độc hại, chấtphóng xạ phải có biện pháp bảo đảm không để rò rỉ, phát tán hoá chất, chất thải độchại, chất thải phóng xạ, sinh vật nhiễm bệnh vào nguồn nước dưới đất
3 Kho chứa hoá chất, cơ sở xử lý, khu chôn lấp chất thải nguy hại phải được xâydựng bảo đảm an toàn kỹ thuật, có biện pháp ngăn cách hoá chất độc hại ngấm vàonguồn nước dưới đất
4 Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm chỉ đạo việc tổ chức điều tra, đánhgiá, quan trắc định kỳ trữ lượng, chất lượng nước dưới đất
2.6.2 Các biện pháp kinh tế
Nước thải đang là vấn đề nan giải của nước đang phát triển như Việt Nam Việc
xử lý và thu phí nước thải hợp lý, trang trải được các chi phí đầu tư, vận hành và bảodưỡng là vấn đề bức xúc đang được bàn cãi Chính phủ đã ra Nghị định về phí môitrường đối với nước thải nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường từ nước thải và tiết kiệmnước sạch, tạo nguồn kinh phí cho Quĩ bảo vệ môi trường:
Nghị định 67/2003 về thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải được Thủtướng Chính phủ ký ban hành từ giữa tháng 6 năm 2003, có hi ệ u l ự c t ừ 01/01/2004
Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 8/1/2007 về sửa đổi, bổ sung một số điều củaNghị định số 67/2003/NĐ-CP
Theo nhận xét của các nhà quản lý, đây là một bước tiến quan trọng trong quản lýmôi trường theo nguyên tắc “ng ườ i gây ô nhi ễ m ph ả i tr ả ti ề n” Tuy nhiên việc thu phí
Trang 27nước thải vẫn còn ách tắc, thiếu quy định chặt chẽ, công tác quản lý chưa tốt, khiến
việc thu phí n ướ c th ả i các doanh nghiệp vẫn cứ lúng túng, khó khăn
Trang 28Chương 3
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ
3.1 Khái niệm
Ô nhiễm không khí là sự thay đổi lớn trong thành phần của không khí hoặc có
sự xuất hiện các khí lạ làm cho không khí không sạch, có sự tỏa mùi, làm giảm tầmnhìn xa, gây biến đổi khí hậu, gây bệnh cho con người và sinh vật
Có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm không khí Có thể chia ra thành nguồn tự nhiên vànguồn nhân tạo
3.2 Nguồn phát sinh ô nhiễm không khí
3.2.1 Nguồn ô nhiễm tự nhiên
Do các hiện tượng tự nhiên gây ra: núi lửa, cháy rừng Tổng hợp các yếu tố gây ônhiễm có nguồn gốc tự nhiên rất lớn nhưng phân bố tương đối đồng đều trên toàn thếgiới, không tập trung trong một vùng Trong quá trình phát triển, con người đã thíchnghi với các nguồn này
3.2.2 Nguồn ô nhiễm nhân tạo
Công nghiệp
Đây là nguồn gây ô nhiễm lớn nhất của con người Các quá trình gây ô nhiễm làquá trình đốt các nhiên liệu hóa thạch: than, dầu, khí đốt tạo ra: CO2, CO, SO2, NOx,các chất hữu cơ chưa cháy hết: muội than, bụi, quá trình thất thoát, rò rỉ trên dâytruyền công nghệ, các quá trình vận chuyển các hóa chất bay hơi, bụi
Đặc điểm: nguồn công nghiệp có nồng độ chất độc hại cao, thường tập trung trongmột không gian nhỏ Tùy thuộc vào quy trình công nghệ, quy mô sản xuất và nhiênliệu sử dụng thì lượng chất độc hại và loại chất độc hại sẽ khác nhau
Giao thông vận tải
Đây là nguồn gây ô nhiễm lớn đối với không khí đặc biệt ở khu đô thị và khu đôngdân cư Các quá trình tạo ra các khí gây ô nhiễm là quá trình đốt nhiên liệu động cơ:
CO, CO2, SO2, NOx, Pb Các bụi đất đá cuốn theo trong quá trình di chuyển Nếu xéttrên từng phương tiện thì nồng độ ô nhiễm tương đối nhỏ nhưng nếu mật độ giao thônglớn và quy hoạch địa hình, đường xá không tốt thì sẽ gây ô nhiễm nặng cho hai bênđường
Sinh hoạt
Là nguồn gây ô nhiễm tương đối nhỏ, chủ yếu là các hoạt động đun nấu sử dụngnhiên liệu nhưng đặc biệt gây ô nhiễm cục bộ trong một hộ gia đình hoặc vài hộ xungquanh Tác nhân gây ô nhiễm chủ yếu: CO, bụi
3.3 Đặc điểm của khí quyển
3.3.1 Cấu trúc khí quyển
Tầng đối lưu (Troposphere): cao đến 10-15km tính từ mặt đất, là tầng tiếp giáp với
bề mặt trái đất Nhiệt độ và áp suất của tầng này giảm theo chiều cao Trên mặt đất cónhiệt độ trung bình là
Trang 29170C lên đến độ cao 10km chỉ còn từ −500C đến −800C.
Tầng bình lưu (Stratosphere): ở độ cao từ 10-50km Nhiệt độ và áp suất của tầngnày tăng theo chiều cao Các nhà khoa học giải thích rằng sự gia tăng nhiệt độ là docàng lên cao càng gần với lớp ozone Lớp ozone là lớp không khí nơi đó có hàm lượngkhí ozone rất cao, có khả năng hấp thu tia cực tím của mặt trời Lớp ozone xuất hiện ở
độ cao 18-30 km Nồng độ ozone cao nhất ở độ cao 20-25km, cao hơn 1000 lần so vớitầng đối lưu (khoảng 10ppm)
Tầng trung lưu (Mesosphere) ở độ cao trên 50-90 km Đặc điểm của tầng này lànhiệt độ giảm dần từ đỉnh của tầng bình lưu (50 km) đến đỉnh tầng trung lưu (90 km),nhiệt độ giảm nhanh hơn tầng đối lưu và có thể đạt đến −92oC
Tầng nhiệt lưu (Thermoshpere) và Tầng ngoài (Exosphere): Đặc điểm của tầngnày là nhiệt độ tăng lên rất nhanh và rất cao Mật độ phân tử khí ở đây cực loảng
3.3.2 Thành phần khí quyển
Bảng 3.1: Thành phần không khí khô, không bị ô nhiễm
3.3.3 Sự thay đổi nhiệt độ theo chiều cao và ổn định của khí quyển
Khi một khối không khí bổ sung bốc lêncao trong khí quyển theo phương thẳngđứng, nó sẽ chịu tác động của một áp suấtmỗi lúc một giảm nhỏ, nó sẽ giãn nở vànhiệt độ sẽ hạ thấp Ngược lại khi khốikhông khí hạ dần độ cao thì nó bị nén ép, ápsuất tăng và kéo theo nhiệt độ cũng tăngcao
Trang 30Người ta gọi gradian nhiệt độ đoạn nhiệt khô là độ hạ hoặc tăng nhiệt độ của mộtkhối không khí trong quá trình bốc lên cao hoặc hạ xuống thấp trong khí quyển khôTrong trường hợp không khí được vận chuyển theo phương thẳng đứng trong bầukhí quyển, hiệu quả của quá trình thay đổi áp suất và nhiệt độ là chiếm ưu thế, còn quátrình truyền nhiệt với môi trường xung quanh bằng dẫn nhiệt và bức xạ là thứ yếu, cóthể bỏ qua Điều đó có nghĩa là khối lượng không khí được nung nóng hoặc làm nguội
từ các nguồn nhiệt bên ngoài (mà chỉ do nội tại của quá trình giãn nở), tức dQ = 0 mọiquá trình xảy ra với dQ = 0 được gọi là quá trình đoạn nhiệt (adiabatic)
Điều kiện phân bố nhiệt độ siêu đoạn nhiệt là điều kiện khí quyển không ổn định.Trong điều kiện này các chất ô nhiễm khuếch tán ra môi trường xung quanh thuận lợi
và nhanh chóng
Trong trường hợp phân bố nhiệt độ theo chiều cao trùng với đường đoạn nhiệt ta
có điều kiện khí quyển trung tính
Trong điều kiện khí quyển trung tính nếu một khối không khí ở vị trí ban đầu bất
kỳ bị đẩy lên cao hoặc xuống thấp, nhiệt độ của nó sẽ nhanh chóng thay đổi theo quátrình đoạn nhiệt và luôn luôn cân bằng với nhiệt độ môi trường xung quanh, khốilượng của nó không nặng cũng không nhẹ hơn so với không khí xung quanh và do đó
nó sẽ chiếm vị trí cân bằng mới mà không tiếp tục chuyển động theo lực đẩy ban đầu.Trong điều kiện không khí trung tính sự khuếch tán chất ô nhiễm không thuận lợi bằngđiều kiện không ổn định
Khi độ giảm nhiệt độ theo chiều cao dương nhưng nhỏ hơn so với gradian nhiệt độcủa áu trình đoạn nhiệt khô, ta có khí quyển ổn định
Trong trường hợp này một khối không khí bị đẩy lên cao hoặc xuống thấp thì nhiệt
độ của nó theo quá trình đoạn nhiệt sẽ nhỏ hơn hoặc lớn hơn nhiệt độ xung quanh tứckhối lượng của nó nặng hơn hoặc nhẹ hơn khối không khí xung quanh Sự chênh lệchnhiệt độ đó cũng tức là chênh lệch khối lượng đơn vị - sẽ có xu hướng kéo khối khôngkhí trở lại vị trí ban đầu Như vậy trong điều kiện khí quyển ổn định luôn luôn có hiện
Trang 31tượng kìm hãm sự chuyển động thẳng đứng của không khí và do đó sự khuếch tán cácchất ô nhiễm cũng bị hạn chế.
3.4 Thành phần và ảnh hưởng của các chất gây ô nhiễm không khí
3.4.1 Ảnh hưởng đến con người
Bụi
Bụi vào phổi gây kích thích cơ học và phát sinh phản ứng sơ hoá phổi gây nênnhững bệnh hô hấp Nói chung, bụi đất không gây bệnh phổi cấp tính, nhưng nếu trongbụi có trên 2% silic tự do thì có thể phát sinh bệnh bụi phổi - silic sau nhiều năm tiếpxúc (ngành sản xuất vật liệu xây dựng)
Bụi ôxít sắt khi thở hít vào lâu ngày có thể phát sinh bệnh bụi phổi - sắt Đây làloại bụi phổi lành tính gặp phải khi hít phải bụi sắt với nồng độ cao (công nghiệp luyệnkim)
Bụi chì vô cơ khi thâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp hoặc tiêu hoá sẽ bị đàothải một phần Phần còn lại sẽ bị tích luỹ ở gan lách, thận, hệ thần kinh, lông tóc vàđầu xương, răng gây thiếu máu, tăng huyết áp và nhiễm độc thần kinh
Những hạt bụi có kích thước nhỏ hơn 10µm có thể được giữ lại trong phổi Tuynhiên nếu các hạt bụi này có đường kính nhỏ hơn 1µm thì nó được chuyển đi như cáckhí trong hệ thống hô hấp Khi có tác động của các hạt bụi tới mô phổi, đa số xảy racác hư hại sau đây:
- Viêm phổi: làm tắt nghẽn các phế quản, từ đó làm giảm khả năng phân phối khí
- Khí thủng phổi: phá hoại các túi phổi từ đó làm giảm khả năng trao đổi khí ôxy
và O2
- Ung thư phổi: phá hoại các mô phổi, từ đó làm tắt nghẽn sự trao đổi giữa máu và
tế bào, làm ảnh hưởng khả năng tuần hoàn của máu trong hệ thống tuần hoàn Từ đókéo theo một số vấn đề đáng lưu ý ở tim, đặt biệt là lớp khí ô nhiễm có nồng độ cao
Khí SO x
Khí axít SOx khi tiếp xúc với ôxy và hơi nước trong không khí sẽ biến thành cáchơi axít gây kích thích khi tiếp xúc với niêm mạc Hơi axít vào cơ thể qua đường hôhấp hoặc hoà tan vào nước bọt rồi vào đường tiêu hoá sau đó phân tán vào máu Hơiaxít khi kết hợp với bụi tạo thành các hạt bụi axít lơ lửng, nếu kích thước nhỏ hơn 2-
3µm sẽ vào tới phế nang, bì đại thực bào phá huỷ hoặc đưa đến hệ thống bạch huyết
SO2 xâm nhập vào cơ thể động vật qua đường hô hấp và tiếp xúc với các niêm mạcướt hình thành nhanh chóng các axít sau đó sẽ phân tán vào máu qua hệ thống tuầnhoàn Ở máu các axít chuyển hoá thành các muối sulphat rồi thải qua nước tiểu Táchại của SO2 là do hình thành các acid H2SO4, H2SO3 độc hơn rất nhiều lần Nồng độ tối
đa cho phép của SO2 trong không khí xung quanh (trung bình 24 giờ) là 0,3mg/l.Các hợp chất sulphat được hình thành trong khí quyển từ SO2 được thải ra có liênquan đến việc làm giảm tầm nhìn, nghĩa là chúng ta không thể nhìn xa được như trong
Trang 32khi chúng ta nhìn trong môi trường không khí bình thường (không khí trong lành) Cácsol khí sulphat ảnh hưởng tới tính chất lí học và quang học của đám mây Đây là ảnhhưởng đáng kể thể hiện giữa sulphat acid trong khí quyển và sương mù Các sol khínày có khả năng tán xạ ánh sáng mạnh
Khí NOx và NH 3
NOx là khí axít và có tác động tương tự như khí SOx Các chất khí này sau khiđược hấp thụ qua màng nhầy sẽ lan toả và đi vào máu Toàn bộ phế nang có diện tíchrất lớn với một mạng lưới mao mạch dày đặc giúp chất độc khuếch tán nhanh vàomáu, không qua gan và không được giải độc như theo đường tiêu hoá mà đi ngay quatim để đi đến các phủ tạng, đặc biệt là đến hệ thần kinh trung ương Do đó, chất độcxâm nhập qua đường hô hấp tác động gây độc nhanh gần như là tiêm thẳng vào tĩnhmạch
Oxit Nitơ (NO) là một chất khí không màu, không mùi, không tan trong nước NO
có thể gây nguy hiểm cho cơ thể do tác dụng với hồng cầu trong máu, làm giảm khảnăng vận chuyển ôxy, gây bệnh thiếu máu Nitơ Oxit được biết đến như một chất gâykích thích viêm tấy (viêm xơ phổi mãn tính) và có tác hại đối với hệ thống hô hấp NOvới nồng độ thường có trong không khí không gây tác hại đối với sức khoẻ của conngười, nó chỉ nguy hại khi bị ôxy hoá thành NO2 Tiêu chuẩn Việt Nam qui định nồng
độ NO2 cho khu dân cư nhỏ hơn 0,1mg/m3 (trung bình 24 giờ), khu vực sản xuất nhỏhơn 0,5mg/m3
Dioxit Nitơ (NO2): Khi tiếp xúc với niêm mạc, tạo thành axit qua đường hô hấphoặc hoà tan vào nước bọt rồi vào đường tiêu hoá, sau đó vào máu Ở hàm lượng 15 –50ppm, NO2 gây nguy hiểm cho tim, phổi và gan Tác dụng của NO2 phụ thuộc vàonồng độ và thời gian tiếp xúc Ở nồng độ thấp thường gặp trong môi trường lao độnghoặc trong không khí xung quanh, tác hại của NO2 tương đối chậm và khó nhận biết.Amoniac (NH3): có mùi khó chịu và gây viêm đường hô hấp cho người, động vật,gây loét giác mạc, thanh quản, khí quản Amoniac thường gây nhiễm độc cấp tính Làmột chất khí gây kích thích đường hô hấp, có mùi khai đặc trưng và có khả năng gâyngạt Người làm việc trong môi trường có nồng độ NH3 cao thường gặp các triệuchứng cay mắt, khó thở, viêm phế quản, ở nồng độ quá cao có thể gây chết người Tácđộng của
NH3 lên cơ thể tuỳ thuộc vào nồng độ NH3 trong môi trường lao động Nồng độkhông
gây tác hại đáng kể khi tiếp xúc trong vòng 1 giờ là 0.03% thể tích, khi tiếp xúc trongvòng 4-5 giờ là 0.01% thể tích Trong trường hợp phải hít nhiều NH3 và đột ngột, khí
NH3 chưa vào đến phổi mà đã gây phản xạ ở thanh quản, cuống họng, co rút đột ngộtđường hô hấp làm nạn nhân nghẹt thở chết
Cacbon oxit
CO ngăn cản sự vận chuyển O2 đến các tế bào, các mô của cơ thể: Khi có mặt COtrong không khí hít vào, CO kết hợp với Hb thành một hợp chất bền là
Trang 33cacboxihemoglobin (COHb), chất này làm cho O2 không vận chuyển đến các tế bào,theo phản ứng:
O2Hb + CO = COHb + O2Trong điều kiện tiếp xúc với CO dẫn đến hậu quả là cơ thể thiếu O2 dẫn đến ngạtvới các triệu chứng khác nhau, cuối cùng cơ thể bị chết do thiếu O2 Tuy nhiên phảnứng thuận trên đây có thể trở thành nghịch, nghĩa là CO có thể bị tách khỏi COHbdưới tác dụng của O2 áp suất cao hoặc O2 nguyên chất, giải phóng Hb để làm nhiệm vụvận chuyển O2 như sau:
COHb + O2 = O2Hb + CO
Chì (Pb)
Chì được biết đến như một chất độc, hợp chất của chì đã được dùng để pha vàonhiên liệu cho động cơ Chì là một chất dễ dàng hấp thu qua da Chúng làm thúc đẩyquá trình tiêu hoá mỡ trong cơ thể, bao gồm cả no Khoảng 50% chì được hấp thụ vào
cơ thể qua đường hô hấp được giữ lại Khi số lượng chì trong cơ thể ở mức độ cao nó
sẽ làm cản trở quá trình tạo máu Không khí bị ô nhiễm chì là điều rất nguy hiểm chomôi trường sống của con người, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ
Ở nước ta từ khi cấm xử dụng xăng pha chì thì vấn đề ô nhiễm không khí do chìgiảm đáng kể Ozon 99% ozon có trong không khí sinh ra từ quá trình quang hóa cácoxit có trong không khí Nồng độ khí ozon lớn hơn 196mg/m3 (0.1ppm) là nguyênnhân gây kích thích mắt Nếu tiếp xúc với ozon trong 8h ở nồng độ > 0.3ppm thì triệuchứng đầu tiên là kích thích ở khoang mũi và cổ họng Tiêu chuẩn cho phép tiếp xúcvới ozon trong 1h là 0.15ppm Khi nồng độ ozon từ 0.3 – 1ppm nếu tiếp xúc từ 15phút – 2h thì xuất hiện triệu chứng ngạt thở, ho, mệt mỏi Nếu nồng độ 1.5 – 2ppm màtiếp xúc quá 2h gây ra các chứng đau ngực, ho, đau đầu, cơ thể mất cân bằng, mỏi mệt,đau nhức các khớp xương; ở nồng độ 9ppm gây ốm nặng
3.4.2 Ảnh hưởng đối với thực vật
Khí SO x
Khí axít SOx nói riêng khi kết hợp với nước mưa tạo nên mưa axít gây ảnh hưởngtới sự phát triển của cây trồng và thảm thực vật Khi nồng độ hơi axít trong không khícao có thể gây chấn thương đối với lá cây sau vài giờ tiếp xúc Theo R Hyperman(1979) ngưỡng chịu đựng của cây ăn quả đối với SO2 khi bị tác động trong thời giandài là 0.010- 0.083 ppm (0.0285 - 0.23 mg/m3) Khi nồng độ SO2 khoảng 1-2 ppm(2.85 - 5.70mg/m3) có thể gây chết từng phần đối với lá cây Một số cây rất bền vữngđối với SO2 (ví dụ: cây ngô, hành) Oxít lưu huỳnh (SOx), oxít nitơ (NOx), florua hydrô(HF) và các chất ô nhiễm khác thâm nhập từ không khí vào cây xanh thông qua quátrình trao đổi khí hoặc sa lắng nước mưa, sương, bụi trên bề mặt chồi cây Các loại khíaxít (SO2, NO2, HF) tác động vào cây xanh khi bị tiếp xúc lâu dài, với nồng độ lớn sẽgây tổn thương tới cây trồng sau vài giờ tiếp xúc
Nồng độ SO2 từ 0,029 mg/m3 - 0,23mg/m3 gây ảnh hưởng tới cành cây, nồng độ
SO2 từ 2,85 - 5,70mg/m3 có thể làm chết từng phần của lá cây Ở dạng khí, nồng độ
SO2 khoảng 0.03ppm đã gây ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của rau quả Nhiều loài thực
Trang 34vật nhạy cảm khác, giới hạn gây độc kinh niên khoảng 0.15-0.30 ppm Nhạy cảm nhấtvới SO2 là các loài thực vật bậc thấp: rêu, địa y Nồng độ thấp nhưng thời gian kéo dài
có thể gây vàng lá, rụng Khi nồng độ SO2 khoảng 1-2ppm có thể gây chấn thương lácây sau vài giờ tiếp xúc Ở nồng độ cao thì trong một thời gian ngắn đã làm rụng lá vàgây chết hoại đối với thực vật
Khi SO2 chuyển hoá thành H2SO4 tạo ra tính axit trong nước mưa làm tổn thương
lá cây, lá cây, trở ngại quá trình quang hợp làm cho cây bị vàng úa rồi rụng, phá hoạicác tổ chức bên trong, khiến cho cây trồng mọc rất khó khăn, cản trở sự sinh trưởngcủa rễ làm giảm khả năng chống bệnh và sâu hại cây Ảnh hưởng gián tiếp: nước mưalàm axit hoá đất giải phóng các ion kim loại gây độc
Khí H 2 S
H2S có tác dụng làm tổn thương lá cây, làm rụng lá và làm giảm sinh trưởng H2Slàm ngộ độc rễ thực vật, gây chết cho động vật và một số vi sinh vật hiếu khí trongmôi trường đất Lưu huỳnh xuất hiện dưới dạng sunfide thì rất độc với các mô thựcvật Lưu huỳnh bị biến đổi thành dạng sunfide trong quá trình phân hủy yếm khí trongđất và tích lũy đến nồng độ gây độc trong đầm lầy mặn Sự thích ứng với nồng độsulfur cao của thực vật ngập nước có biên độ thay đổi rộng Các loài thực vật khácnhau thì có khả năng chịu độc khác nhau
Khí NO x
NOx tạo mưa axit, bản chất hoá học của mưa axit không phức tạp lắm nhưng vấn
đề mưa axit có thể đưa đến hàng loạt những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp trên hệsinh thái cạn và hệ sinh thái thuỷ vực Trong những ảnh hưởng của mưa axit đượccông bố là suy thoái rừng, suy thóai hệ sinh thái thuỷ vực và chuyển từ thảm thực vậtnghèo nitơ sang giàu nitơ Các axit hoá có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp Nhữngtác động trực tiếp là những tác động xảy ra do thực vật hoặc động vật tiếp xúc vớikhông khí có chứa chất ô nhiễm với nồng độ quá cao Tác động gián tiếp khi thảmthực vật và hệ sinh thái bị phá huỷ do đất hoặc nước bị axít hoá Đặc biệt khó dự đoáncác tác động gián tiếp vì chúng còn phụ thuộc vào tính chất lý hoá của đất và nước sốthực vật có tính nhạy cảm đối với môi trường sẽ bị tác hại khi nồng độ NOx khoảng1ppm và thời gian tác dụng là khoảng 1 ngày Nếu NOx nhỏ khoảng 0.35ppm thì thờigian tác dụng 1 tháng
Tác động do khí HF
Nồng độ HF rất nhỏ 0.001 - 0.002 ppm (tức là 0.00089 - 0.00178 mg/m3) đã gâytác động đối với lá cây như làm cháy lá Khi tiếp xúc với nồng độ HF lớn hơn 0.002mg/m3 thì lá cây bị tổn thương hoặc cây đã bị phá huỷ Một số cây ăn quả rất nhạy đốivới HF Một số cây rất bền vững đối với HF như cà chua, hướng dương, măng tre, lúa.Theo Treshow (1980): nồng độ HF: 0.2-0.5 µg/m3 trong thời gian 24 giờ: ngưỡngđộc hại đối với thực vật
Tác động do khí CO x
Trang 35- Dioxit cacbon (CO2) với nồng độ nhỏ hơn 1 % không những không độc hại đốivới cây xanh mà ngược lại làm tăng cường quá trình đồng hóa dẫn đến tăng sinhtrưởng.
- Thực vật ít nhạy cảm với CO so với người và động vật nhưng khi nồng độ COcao (100 - 10.000 ppm) làm cho lá rụng, bị xoắn, quăn, cây non bị chết, cây cối chậmphát triển Ngoài ra, CO làm mất khả năng cố định Nitơ, làm thực vật bị thiếu đạm Vídụ: Trái cây có thể bị nhiễm CO2 khi để ngoài không khí, vỏ có màu nâu, nhám, bị lõmvào …
3.5 Khuếch tán chất ô nhiễm trong môi trường
3.5.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến khuếch tán chất ô nhiễm không khí
Biến trình ngày và sự phân bổ nhiệt độ theo chiều cao
Thông thường, trong điều kiện thời tiết nêu trên, độ giảm nhiệt độ theo chiều caodiễn ra theo đường gần như đoạn nhiệt vào nữa cuối ngày sau buổi trưa, khi Mặt Trời
đã cung cấp đủ năng lượng để làm ấm lớp không khí sát mặt đất
Cũng điều kiện thời tiết như trên nhưng nếu cường độ bức xạ Mặt Trời lớn (mùahè) mặt đất có thể bị đốt nóng dữ dội, làm cho lớp không khí tiếp giáp mặt đất lần lượt
bị nung nóng nhanh chóng, cuối cùng ta sẽ có khí quyển siêu đoạn nhiệt
Sau khi Mặt Trời lặn, vào ban đêm do không có bức xạ Mặt Trời và mặt đất là vậtđen lý tưởng phát ra tia hồng ngoại rất mạnh và hiệu quả vào không trung nên nó đượclàm nguội một cách nhanh chóng làm cho lớp không khí sát mặt đất tuần tự nguộitheo Kết quả là vào sáng hôm sau quan sát thấy ở mặt đất nhiệt độ tăng dần theo chiềucao và độ cao có thể đạt đến là 300m Đó là lớp khí quyển nghịch nhiệt, người ta gọilớp khí quyển này là nghịch nhiệt bức xạ
Khi Mặt Trời lên cao làm ấm lớp không khí sát mặt đất, quá trình tiếp tục diễn racho đến giữa trưa khi mà lớp không khí này đủ năng lượng phá tan lớp nghịch nhiệttồn tại từ đêm hôm trước
Lớp nghịch nhiệt
Nghịch nhiệt đóng vai trò rất quan trọng trong khí hậu học ô nhiễm không khí Khi
có nghịch nhiệt không khí trở nên rất ổn định và ngăn cản môi chuyển động thẳngđứng của khối khí do lực nổi gây ra Độ ổn định do nghịch nhiệt tạo ra còn làm hạnchế trao đổi năng lượng gió của lớp không khí sát mặt đất với gió ở các lớp khí quyểntrên cao và do đó làm cản trở quá trình khuếch tán các chất ô nhiễm theo cả phươngđứng lẫn phương ngang
Nghịch nhiệt được hình thành do nhiều nguyên nhân khác nhau:
+ Làm lạnh lớp không khí từ bên dưới
+ Làm nóng không khí từ phía trên
+ Chuyển động của dòng không khí lạnh bên dưới lớp không khí ấm
+ Chuyển động của dòng không khí ấm bên trên không khí lạnh
Trang 363.5.2 Tính toán các thông số khuếch tán từ nguồn điểm cao
2
2
exp2
σσ
, g/m3(1)
Trong đó:
- M: Lượng chất ô nhiễm thải ra từ nguồn thải trong một đơn vị thời gian, m/s
- u: Vận tốc gió m/s
- σy, σz: Hệ số khuếch tán của khí quyển theo chiều ngang (y) và theo chiều đứng
(z); đơn vị của σy, σz là hệ m và phụ thuộc vào toạ độ x của điểm tính, trạng thái khí
tượng, gradian nhiệt độ và vận tốc gió u
- He : Chiều cao hiệu quả của ống khói, m
Khi tính toán nồng độ ô nhiễm trên mặt đất thì z = 0 và công thức (1) sẽ trở thành: C(x,y,0) = u y z
M
σσ
Trang 37Trường hợp tính sự phân bố nồng độ trên mặt đất dọc theo trục gió (trục x) ta cho
y = 0 và thu được:
C(x,0,0) = u y z
M
σσ
Chiều cao hiệu quả của ống khói
Tại miệng ống khói, nhờ vận tốc phụt, luồng khói có một động năng ban đầu làmcho luồng khói có xu hướng bốc thẳng đứng lên trên Mặt khác, do nhiệt độ của khóicao hơn nhiệt độ không khí xung quanh, luồng khói chịu tác dụng của “lực nổi” dochênh lệch nhiệt độ gây ra Cùng với lực nâng, luồng khói chịu tác dụng của lực giónằm ngang, do đó đỉnh cao nhất của luồng khói sẽ nằm cách xa ống khói một khoảngcách nhất định nào đó xuôi theo chiều gió Khi đã đạt được độ cao ấy, tức là lúc độngnăng ban đầu của luồng khói đã bị triệt tiêu và nhiệt độ khói đã trở nên cân bằng vớinhiệt độ của khí quyển do kết quả của quá trình hoà trộn với không khí xung quanh,luồng khói sẽ đi theo phương nằm ngang song song với chiều gió Độ cao gia tăng đócủa luồng khói được gọi là độ nâng cao tổng cộng của luồng khói do động năng banđầu và do chênh lệch nhiệt độ giữa khói thải và nhiệt độ không khí xung quanh Vìvậy, khi tính toán khuếch tán ô nhiễm từ các nguồn điểm cao, chiều cao tính toán củaống khói sẽ bằng tổng chiều cao hình học của ống khói với độ nâng cao tổng cộng củaluồng khói:
He = h+ ∆h (4)
Trong đó:
- He: Chiều cao hiệu quả của ống khói, m;
- h: chiều cao thực của ống khói, m;
- ∆h: Độ nâng cao tổng cộng của luồng khói do động năng ban đầu và do chênhlệch nhiệt độ, m
3.6 Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đối với môi trường và con người
Đối với sức khỏe
Ô nhiễm không khí có những ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ con người, đặc biệtđối với đường hô hấp Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy, khi môi trường khôngkhí bị ô nhiễm, sức khoẻ con người bị suy giảm, quá trình lão hoá trong cơ thể bị thúcđẩy, chức năng của phổi bị suy giảm; gây bệnh hen suyễn, viêm phế quản; gây bệnhung thư, bệnh tim mạch và làm giảm tuổi thọ con người Các nhóm cộng đồng nhạycảm nhất với sự ô nhiễm không khí là những người cao tuổi, phụ nữ mang thai, trẻ emdưới 14 tuổi, người đang mang bệnh, người thường xuyên phải làm việc ngoài trời…Mức độ ảnh hưởng của từng người tùy thuộc vào tình trạng sức khoẻ, nồng độ, loạichất và thời gian tiếp xúc với môi trường ô nhiễm
Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế, trong những năm gần đây, các bệnh về đường
hô hấp có tỷ lệ mắc cao nhất trên toàn quốc Thực tế cho thấy nhiều bệnh đường hôhấp có nguyên nhân trực tiếp bởi môi trường không khí bị ô nhiễm do bụi, SO2, NOx,
Trang 38CO, chì, Các tác nhân này gây ra các bệnh: viêm nhiễm đường hô hấp, hen, lao, dịứng, viêm phế quản mãn tính, ung thư.
Tỷ lệ mắc các bệnh về đường hô hấp của dân cư sống gần các KCN cao hơn nhiều
so với vùng nông thôn Tỷ lệ mắc bệnh viêm phế quản mãn tính ở vùng đô thị, côngnghiệp (khu Thượng Đình (Hà Nội) chiếm 14,6%) cao gấp 2,32 lần so với vùng nôngthôn (khu Kim Bảng (Hà Nam) chiếm 6,3%) (Nguồn: Đề tài cấp Nhà nước-KYĐL-94-03) Tại Hải Phòng, nghiên cứu cho thấy tất cả các triệu chứng và bệnh tật liên quanđến đường hô hấp ở nơi bị ô nhiễm đều cao hơn nơi không bị ô nhiễm từ 1,91 đến 7,6lần
Tỷ lệ người mắc bệnh liên quan đến ô nhiễm không khí ở các thành phố lớn như
Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng thường cao hơn ở các tỉnh/thành phốkhác Điều này cũng được phản ánh phần nào thông qua các số liệu đánh giá tình hìnhmắc bệnh về đường hô hấp tại các tỉnh, thành phố mà điển hình là bệnh lao
Đáng chú ý là ô nhiễm không khí không những gây nên các bệnh lý ở đường hôhấp mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi, là nguyên nhân làm chậm pháttriển hệ thần kinh, trí não ở trẻ
Trong những năm sắp tới, mức độ ô nhiễm không khí đô thị tăng lên, nếu không
có những biện pháp kiểm soát hiệu quả, mức độ ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồngcũng sẽ tăng lên
Thiệt hại kinh tế
Thiệt hại kinh tế do ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến sức khoẻ bao gồm cáckhoản chi phí: chi phí khám và thuốc chữa bệnh, tổn thất mất ngày công lao động donghỉ ốm, tổn thất thời gian của người nhà chăm sóc người ốm, Dự án “Điều tra,thống kê, đánh giá ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường tới sức khoẻ cộng đồng” củaCục Bảo vệ môi trường (2007) được tiến hành tại hai tỉnh Phú Thọ và Nam Định chokết quả ước tính thiệt hại kinh tế do ô nhiễm không khí tác động đến sức khoẻ trungbình trên đầu người mỗi năm là 295.000 đồng, khoảng 5,5% GDP trên đầu người Nếugiả thiết, tổn thất về kinh tế do ô nhiễm không khí tác động đến sức khoẻ đối với ngườidân Hà Nội và TP Hồ Chí Minh tương tự như người dân ở Phú Thọ và Nam Định thì
Hà Nội - với 3,2 triệu dân - mỗi ngày thiệt hại 2,58 tỷ đồng và TP Hồ Chí Minh - với6,1 triệu dân - mỗi ngày thiệt hại 4,93 tỷ đồng Thực tế, môi trường không khí ở các đôthị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng bị ô nhiễm hơn hẳn so vớicác tỉnh Phú Thọ và Nam Định, nên thiệt hại kinh tế do ô nhiễm không khí thực tế ở
Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có thể còn lơn hơn con số nói trên
Bụi trong không khí hấp thụ những tia sóng cực ngắn của mặt trời làm cho câykhông lớn và khó nảy mầm Những nơi ô nhiễm không khí nặng, lá cây hai bên đườngquốc lộ bị phủ một lớp đất bụi dày đặc làm cho quá trình quang hợp khó khăn, do vậy,cây cối ở đó còi cọc không phát triển và rất cằn cỗi
Thiệt hại đối với hoạt động du lịch
Ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm không khí nói riêng đã và đang là mộttrong những yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động du lịch của Việt Nam Điều đáng lo
Trang 39ngại là môi trường du lịch tại nhiều khu vực đã bị ô nhiễm do tác động của nhiềungành kinh tế, trong đó có tác động từ chính các hoạt động du lịch (ví dụ: hoạt độngxây dựng bừa bãi, không có kế hoạch, gia tăng rác và các loại phế thải, phá hủy san hôlàm vật liệu xây dựng ).
Ảnh hưởng đến khí hậu
Biến đổi khí hậu ngày một gia tăng là một hiểm hoạ vô cùng lớn Trái đất đangnóng lên Theo Tổ chức Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) thì sự nóng lên củakhí hậu trái đất không còn đơn thuần là vấn đề môi trường mà đã trở thành vấn đề của
sự phát triển Sự biến đổi diễn ra trên toàn cầu, trong các khu vực, bao gồm cả các thayđổi trong thành phần hoá học của khí quyển, biến đổi nhiệt độ bề mặt, nước biển dâng,các hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên tai tăng lên đáng kể về số lượng và cườngđộ
Hiệu ứng bức xạ do thay đổi nồng độ khí nhà kính trong khí quyển đã làm khí hậutoàn cầu nóng lên Hiệu ứng nhà kính làm tăng nhiệt độ ở tầng khí quyển sát mặt đất,làm cho nhiệt độ trung bình của trái đất tăng, gây hiện tượng nóng lên ở toàn cầu.Băng ở hai cực của Trái đất tan, mực nước biển dâng làm chìm ngập các khu vực thấp
và các đảo Ngoài ra, hạn hán, lũ lụt sẽ diễn ra thường xuyên hơn; mưa bão dữ dộihơn Các tính toán cho thấy dioxit carbon (CO2) là thành phần gây hiệu ứng nhà kínhlớn nhất trong khí quyển; CO2 cũng chính là loại khí nhà kính mà các hoạt động củacon người phát thải vào khí quyển nhiều nhất trong quá trình đốt nhiên liệu hoá thạch,
Ảnh hưởng đến hệ sinh thái
Ô nhiễm không khí là mối đe dọa nghiêm trọng tới đa dạng sinh học và các hệsinh thái
- Các loại thực vật bị ảnh hưởng nhiều hơn so với động vật: Về bản chất, khả năngthích nghi trong môi trường bị ô nhiễm hoặc biến đổi khí hậu của thực vật kém hơn sovới các loài động vật Một điều tra đã cho thấy các loài thực vật trên cạn bị ảnh hưởnggấp 3 lần do ô nhiễm không khí so với động vật Ngược lại, trong hệ sinh thái nướcngọt, mức độ ảnh hưởng của thực vật lại ít hơn nhiều so với động vật Một nghiên cứu
ở Thụy Điển cho thấy: khi độ pH của nước giảm 1 đơn vị, sự đa dạng của động vậtgiảm 40%, trong khi tỷ lệ này ở thực vật là 25%
- Ô nhiễm không khí tác động đến các nhóm động thực vật khác nhau Trong mộtnghiên cứu, người ta đã xác định có khoảng 1300 loài bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm khôngkhí tại Châu Âu, trong đó gồm 11 loài động vật có vú, 29 loài chim, 10 loài lưỡng cư,
398 thực vật bậc cao, 305 loài nấm, 238 loài địa y và 65 loài không xương sống Sự tác
Trang 40động của ô nhiễm không khí đối với các loài động vật chủ yếu là tác động gián tiếp,thông qua việc mất các nguồn thức ăn hoặc làm thay đổi cơ chế sinh sản.
- Trong số các hệ sinh thái bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm không khí đô thị, hệ sinh tháinước ngọt bị ảnh hưởng nhiều nhất Ở nhiều khu vực tại Châu Âu, như Bỉ, Scotland vàphía Đông của Bắc Mỹ, một số loài đã nhanh chóng biến mất và một số loài vẫn đang
bị ảnh hưởng nặng nề Người ta ước lượng rằng: ít nhất 20% loài động thức vật đã bịchết trong các hồ ở Châu Âu khi độ pH giảm 0,5 đơn vị
- Cũng trong một nghiên cứu được tiến hành 1995 ở Châu Âu, có khoảng 25%thực vật trong hệ sinh thái rừng bị coi là bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm không khí Tỷ lệnày ở Công hòa Séc và Ba Lan là 60% và 53% Cho đến nay, các nhà khoa học đềucho rằng ô nhiễm không khí đô thị là một nhân tố làm suy giảm sự đa dạng sinh học
Sự ảnh hưởng của ô nhiễm không khí liên quan chủ yếu đến việc suy giảm, làm yếu đicác loài mà không phải là gây ra tuyệt chủng Tuy nhiên, với xu hướng tiếp tục ônhiễm như hiện nay thì một số loài động thực vật bị mất đi là điều không tránh khỏi
3.7 Hiện trạng môi trường khí Việt Nam
Ở nước ta, hoạt động khai khoáng có quy mô khá lớn cả về phạm vi và đối tượngkhai thác Hầu hết các hoạt động khai khoáng đều có những sự phát triển đáng kểtrong những năm qua, trong đó điển hình là hoạt động khai thác than
Trong các năm vừa qua, ngành than đã có những bước đột phá cả về quy mô đầu
tư cũng như tốc độ phát triển Quy hoạch phát triển của ngành trong những năm tớicho thấy mức phát triển của ngành vẫn tiếp tục gia tăng Mặc dù các đơn vị khai thác
đã chú trọng và có các biện pháp thiết thực nhằm BVMT, nhưng hoạt động khai thácthan vẫn là một trong những nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí nghiêm trọngđối với khu vực mỏ khai thác cũng như những vùng xung quanh
Sản xuất điện
Ngành năng lượng của Việt Nam phát triển rất nhanh, đặc biệt là ngành nhiệt điện
So với năm 1995, tổng công suất phát điện của các nhà máy nhiệt điện năm 2000 gấp3,37 lần, năm 2005 gấp 5,36 lần và đến năm 2010 gấp 9,43 lần Tỷ lệ công suất nhiệtđiện trong tổng công suất phát điện cũng ngày càng lớn (1995: 26,7%; 2000: 46,7%;2005: 52,9%; 2010: 62,5%) Nhiệt điện càng phát triển thì áp lực gây ô nhiễm khôngkhí càng lớn Tuy nhiên, cũng cần lưu ý nhiệt điện khí (dùng gas) là loại nhà máy điện
ít phát thải ô nhiễm không khí, chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong tổng công suất nhiệtđiện trong tương lai
Hoạt động xây dựng:
Trong những năm gần đây, cùng với quá trình đô thị hoá, hoạt động xây dựng hạtầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đô thị bao gồm cả xây dựng các công trình cấp thoátnước, công trình giao thông và nhà ở tại các đô thị diễn ra hết sức mạnh mẽ Mặc dù
đã có quy định về che chắn tại các công trình xây dựng và phương tiện chuyên chởnguyên vật liệu nhưng việc phát tán bụi từ các hoạt động này vẫn là nguồn gây ônhiễm không khí đô thị đáng kể
Ô nhiễm bụi - vấn đề nổi cộm của chất lượng không khí đô thị