Khoáng vật tạo đá là những phần hợp thành đá. Chúng được phân biệt với nhau bằng thành phần hóa học và tính chất lý học.Trong thạch học, nếu coi các khoáng vật tạo đá là những đơn vị hóa lý thì đá một hệ thống hóa lý bao gồm các đơn vị đó. Vì vậy, hiểu được tính chất, nguồn gốc, điều kiện sinh thành của các khoáng vật tạo đá mới hiểu được thành phần, nguồn gốc và mối tương quan giữa các loại đá. Đó là lý do phải nghiên cứu khoáng vật tạo đá.
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA KHOA TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
BÀI GIẢNG HỌC PHẦN: KHOÁNG VẬT TẠO ĐÁ
NGÀNH CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT ĐỊA CHẤT
TUY HÒA, NĂM 2014
(Lưu hành nội bộ)
Trang 2Phần thứ nhất LÝ THUYẾT KHOÁNG VẬT TẠO ĐÁ
Chương 1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ KHOÁNG VẬT TẠO ĐÁ
1.2 Các đặc điểm và phương pháp phân loại khoáng vật tạo đá
1.2.1 Đặc điểm
Trong tự nhiên, gặp khoảng 15.000 khoáng vật nhưng chỉ có hơn 100 khoáng vật đóngvai trò tạo đá và được xem là khoáng vật tạo đá
Trong thạch học, theo nguyên tắc phân loại theo nguồn gốc chia ba loại đá: Đá magma,
đá trầm tích và đá biến chất Mỗi loại đá đều được đặc trưng bằng những khoáng vật nhất định
Ví dụ:
- Leuxit chỉ gặp trong đá magma
- Thạch cao, glauconit chỉ gặp trong đá trầm tích
- Disthen điển hình cho đá biến chất
1.2.2 Phương pháp phân loại
- Dựa và thành phần hóa học và màu sắc, chia ra:
+ Khoáng vật sáng màu (salic) giàu Si, Al như: Khoáng vật felspat kali – natri, thạchanh, felspatit
+ Khoáng vật sẫm màu (femic) giàu Fe, Mg: Olivin, pyroxen, amfibol, mica
- Dựa vào điều kiện thành tạo và thứ tự sinh thành, chia ra: Khoáng vật tha sinh: Lànhững khoáng vật xa lạ có nguồn gốc từ nơi khác mang tới
Ví dụ: Magma hòa tan đá vôi giàu calci dẫn tới thành tạo volastonit
- Dựa vào nguồn gốc thành tạo, chia ra:
+ Khoáng vật nguyên sinh (tự sinh): Được kết tinh từ dung thể magma hay được thànhtạo với giai đoạn thành đá và đồng sinh của đá trầm tích
Tùy theo số lượng khoáng vật có trong đá, chia khoáng vật nguyên sinh ra các loại sau:Khoáng vật chính: Có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định tên đá Lưu ý có nhữngkhoáng vật đối với loại đá này là khoáng vật chính nhưng đối với loại đá khác lại trở nên thứyếu
Khoáng vật thứ yếu: Chiếm tỉ lệ 1 -10% (phổ biến 5- 10%) trong đá Sự có mặt của nókhông có ý nghĩa trong việc xác định tên đá
Khoáng vật phụ: Chiếm tỉ lệ ít (<1% hay tối đ là 5%), khoáng vật phụ là dấu hiệu đặctrưng cho các tổ hợp đá nhất định
Ví dụ:
Cromit có trong nhóm đá siêu bazơ là ĐunitManhetit co trong nhóm đá siêu bazơ là Olivinit
Granit Sông Chảy gặp tập hợp khoáng vật phụ là: Zircon, sfen
+ Khoáng vật thứ sinh: Được thành tạo do sự biến đổi từ các khoáng vật nguyên sinh vàkhoáng vật tha sinh Nguyên nhân hình thành là do các giai đoạn biến đổi nhiệt dịch thay thếtrao đổi hoặc do các quá trình phong hóa
1.3 Thứ tự thành tạo các khoáng vật tạo đá
Để tìm hiểu thứ tự thành tạo (hay thứ tự kết tinh) của các khoáng vật tạo đá, Rozenbushsau khi nghiên cứu và quan sát đã đưa ra một số nguyên tắc sau:
- Các khoáng vật tự hình được thành tạo trước khoáng vật nửa tự hình và tha hình
- Các bao thể khoáng vật được thành tạo sớm hơn các khoáng vật bao lấy nó
Trang 3Ví dụ: Bao thể zircon được thành tạo trước khoáng vật biotite.
- Khoáng vật thay thế thành tạo muộn hơn so với khoáng vật bị thay thế
Ví dụ: Trong kiến trúc vành hoa và rìa thứ biến sẽ có thứ tự kết tinh là:
Olivin Pyroxen Amfibol
- Khoáng vật lấp đầy khe nứt cắt ngang khoáng vật khác, thứ tự thành tạo như sau:Serpentin thành tạo sau lấp đầy các khe nứt của hạt olivin tạo nên kiến trúc mạng
- Các khoáng vật lớn dạng ban tinh thành tạo trước trước các tập hợp khoáng vật trongnền
1.4 Liệt phản ứng khoáng vật của Bowen
Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm kết tinh của đá từ dung thể silicat Bowen đã xác lập thứ
tự kết tinh của khoáng vật từ dung thể magma theo một sơ đồ kết tinh gọi là “Liệt phản ứngkhoáng vật của Bowen” (hình 1.5)
Liệt gián đoạn Liệt liên tục
Olivin Plagioclas (Anoctit)
Hình 1.5 Thứ tự kết của khoáng vật theo Bowen
Liệt phản ứng Bowen có đặc điểm sau:
Trang 4- Bắt đầu mỗi dãy là các khoáng vật có nhiệt độ kết tinh cao nhất: Olivin (dãy trái) vàanoctit (dãy phải).
- Khi nhiệt độ hạ xuống, các khoáng vật được kết tinh và tách ra trước lại phản ứng vớidung thể còn lại tạo ra những khoáng vật tiếp theo
Ví dụ: (Dãy trái) Mg[SiO4] + SiO2 → Mg[SiO3]
Fosterit EnstatitLúc này, olivin phản ứng dung thể nên xuất hiện khoáng vật mới là pyroxen
Trong liệt phản ứng của Bowen gồm 2 dãy có đặc điểm như sau: Dãy trái là dãy phảnứng gián đoạn Riêng mỗi khoáng vật trong dãy trái có thể tự nó thành tạo một dãy liên tục, vídụ: Olivin (fayalit → fosterit) Dãy phải là dãy liên tục, đặc trưng là một dãy đồng hình củaplagioclas Sự kết tinh của plagiolas Sự kết tinh của pagioclas bắt đầu bằng một dạng đồnghình giàu thành phần anoctit Khi nhiệt độ hạ xuống chậm chạp, plagioclas kết tinh trước vàphản ứng với dung thể còn lại tạo ra các biến thể của plagioclas acit hơn Trong quá trình này,khoáng vật dạng mới không xuất hiện, do vậy gọi là “Dãy phản ứng liên tục”
- Cuối cùng, cả hai dãy đều đồng nhất ở chỗ kết thúc bằng sản phẩm tất yếu của magmaacit là khoáng vật felspat kali, thạch anh
Chương 2 KHOÁNG VẬT TẠO ĐÁ MAGMA
Trang 5Đá magma không phải là tập hợp bất kỳ các khoáng vật mà là cộng sinh có quy luật củachúng Thạch anh đặc trưng cho magma bão hòa silic không thể cộng sinh với nefelin, lơxit vàfelspatit là khoáng vật chưa bão hòa silic Olivin ít khi cộng sinh với octocla và horblend, ít điđôi với thạch anh (trừ granit rapakivi) Amfibol trong các đá thường có kèm theo titanit, olivinkèm cromit Amfibol gặp trong đá xâm nhập acit thường có màu lục, trong đá bazơ có màunâu Khoáng vật soi sáng về điều kiện kết tinh được gọi là khoáng vật chỉ thị (Lacroix).
Những khoáng vật chứa chủ yếu silit, alumin cùng với kiềm vòi gọi là nhóm salic (theocách ghép hai nguyên tố Si, Al) hay còn gọi là nhóm sáng màu gồm thạch anh và felspat
Những khoáng vật chứa nhiều sắt và manhe gọi là nhôm femic (ghép Fe và Mg), còngọi là nhóm sẫm màu, gồm olivin, pyroxen, amflbon, mica, khoáng vật quặng
Theo tỷ lệ và vai trò của oxyt silic SiO2 hóa hợp trong các khoáng vật tạo đá (silicat)chia ra khoáng vật bão hòa silic kèm theo sự kết tinh đi của oxyt silic tự do (thạch anh) vàkhoảng vật chưa bão hòa sâu (không vững bền và thường kết hợp với oxyt silic còn lại trongdung thể khi kết tinh để thành silicat bão hòa)
Tỷ lệ giữa khoáng vật sẫm màu và sáng màu trong đá magma sẽ quyết định màu chungcủa đá Tỷ lệ khoáng màu đối với toàn bộ đá gọi là chỉ số màu (Johanxơn) Đá sáng màu có chỉ
số màu < 30%, màu vừa: 30% - 60%, sẫm màu: 60% - 90% và rất sẫm màu: >90% Trong mộtloại đá thì có thể có màu vừa theo đúng chỉ số màu có trong đá và sáng màu với chỉ số màunhỏ hơn Ví dụ gabro bình thường có chỉ số màu 40 - 50%, nếu chỉ chứa 25% khoáng vật màuthì gọi là gabro sáng màu
2.1 Khoáng vật femic (khoáng vật sẫm màu)
2.1.1 Nhóm olivin
Olivin là nhóm silicat đảo, gốc SiO4 kết hợp với Mg, Fe, hiếm hơn là Ca, Mn, có côngthức (Mg,Fe)2SiO4 trong đó Mg và Fe thay thế đồng hình một cách liên tục từ fosterit MgSiO4
đến fayalit Fe2SiO4 Chúng kết tinh trong tinh hệ thoi
Tùy thuộc vào hàm lượng Fe2SiO4 trong loạt đồng hình fosterit - fayalit có các biến thểvới trị số góc 2V biến đổi như sau:
Fosterit: 0 - 10% Fe2SiO4, 2V(+) > 86o.Crizolit (olivin): 10 - 35% Fe2SiO4, 2V(+) = 88 - 81o.Hialosiderit: 35 - 60% Fe2SiO4, 2V(-) = 81 - 69o.Octonolit: 60 - 75% Fe2SiO4, 2v(-) = 69 - 61o.Fayalit: 75 – 100% Fe2SiO4, 2v(-) = 47o.Phổ biến nhất là olivin crizolit trong đá siêu bazơ, fayalit có thể gặp trong đá bão hòasilic hoặc trong granit rapakivi
1- Olivin (crizolit): (Mg, Fe)2SiO4, tinh hệ thoi
ng = 1,740 - 1,692, nm = 1,724 - 1)672, np = 1,704 - 1,656, ng - np = 0,035
Định hướng quang học: a = Ng, b = Np, c = Nm Mặt quang trục là (001)
Olivin gặp dưới dạng hạt không đều đặn, đẳng thước, trong đá phun trào có tinh thể rõrệt Cát khai ít khi thề hiện rõ theo (010), khe cát khai không thẳng (H.3.1) Mặt sần độ nổi rấtcao Không màu, màu giao thoa nằm trong ranh giới giữa bậc II và III Tắt đứng theo phươngsong song với khe cát khai
Trang 6Olivin có quang tính âm, nếu có thêm hợp chất FeO thì có quang tính dương (H.3.2).Khi bị phá hủy olivin bị biến đổi thành serpentin không màu, phớt lục, hoặc crizotindạng sợi hay antigorit dạng tấm Trong basalt thay thế cho serpentin là itđingxit màu nâu đỏ.Olivin gặp trong đá magma chưa bão hòa silic (peridotit) hoặc đá nghèo silic (gabro, basalt,diaba), ít khi có trong các đá khác.
Olivin thường cộng sinh với pyroxen thoi, pyroxen 1 nghiêng và plagioclas bazơ
2- Fosterit: Fe2SiO4
Fosterit nhìn chung giống với olivin, có mặt trong đá biến chất, chủ yếu là đá vôi kếttinh biến chất Tổ hợp cộng sinh đặc trưng: calcit, flogopit
Trang 72.1.2 Nhóm pyroxen
Nhóm pyroxen là một trong những nhóm khoáng vật tạo đá quan trọng Pyroxen lànhóm silicat mạch, gốc Si2O6, kết hợp với Mg, Fe, Ca, đôi khi với Al, Fe, Na
Theo đặc điểm kết tinh chia ra pyroxen thoi và pyroxen một xiên
Thường tinh thể có dạng lăng trụ ngắn, hoặc lăng trụ dài đến dạng kim (egyrin) đượcgiới hạn bởi các mặt lăng trụ (010), tiết diện ngang có dạng hình 8 cạnh (H.3.3)
Trang 8Cát khai theo lăng trụ với góc cát khai
87o trong lát cắt ngang, và theo một phương
trong lát cắt dọc Thường có song tinh theo
(100)
Dưới kính hiển vi hầu hết pyroxen đều
không màu hoặc nhạt màu (nâu hoặc lục), trừ
Màu giao thoa cực đại ở pyroxen thoi và
pyroxen một xiên khác biệt rõ Pyroxen thoi
thường có màu giao thoa cao nhất là bậc I,
trong khi pyroxen một xiên - cuối bậc II; màu
giao thoa thấp dầu bậc II đặc trưng đối với
hedenbecgit, còn màu giao thoa cao hơn - bậc
III và IV đặc trưng cho egyrin
Pyroxen thoi tắt đứng, pyroxen xiên tắt
đứng hoặc xiên với góc tắt gần 45o, trừ egyrin
có góc tắt rất nhỏ
Pyroxen có dấu quang tính dương, trừ hypecten và egyrin ca quang tính âm
Góc quang trục (2V) thường không lớn lắm (H.3.5)
Pyroxen là nhóm khoáng vật tạo đá chủ yếu của đá macma như điopxit, ogit, enstatit vàhypecten Trong các đá peridotit gặp pyroxen Mg (enstatit, clinoenstatit, bzonzit, ogit) Tronggabro thường gặp bronzit - hypecten, điopxit - heđenbecgit, ogit Egyrin và egyrin-ogit chỉ gặptrong đá kiềm, đặc biệt là các đá giàu Na
Trang 93- Pyroxen thoi
Pyroxen thoi tạo nên dãy đồng hình enstatit (MgSiO8) và ferosilit (FeSiO8)
Enstatit - hypesten - ferosilit
(Mg,Fe) SiO3, tinh hệ thoi
ng = 1,727 -1,665, nm =l,705- 1,659, np=1,716 -1,656, ng - np = 0,008 - 0,014
Hypesten chứa sắt và ferosilit có nm = 1,73 và cao hơn
2V enstatit = 60 - 90o, quang tính dương
2V hypesten = 90 - 55 - 90o, quang tính âm
Định hướng quang học: a = Np, b = Nm, c = Ng
Pyroxen thoi có dạng tinh thể lăng trụ hoặc dạng hạt Tiết diện ngang hầu như vuônghoặc tám cạnh với cát khai hoàn toàn theo lăng trụ (110), góc cát khai gần bằng 88o Tiết diệndọc có dạng lăng trụ ngắn, cát khai hoàn toàn theo một phương (H.3.6)
Do chiết suất cao nên mặt sần độ nổi rõ, đặc biệt trong tinh thể hàm lượng sắt càng caothì mặt sân và độ nổi càng rõ
Màu của tinh thể phụ thuộc vào hàm lượng sắt có trong nó Enstatit không màu,hypecten có đa sắc theo công thức: Ng - màu phớt lục, Nm - màu vàng, Np - màu hồng, cường
độ có thể thay đổi, màu có khi đến phớt đỏ
Trang 10Đại lượng lưỡng chiết suất tăng từ enstatit đến hypesten, có khi đạt đến 0,020
Trong lát cắt vuông góc với trục kết tinh thứ ba (có dạng bốn cạnh) với cát khai theo haiphương dưới ánh sáng hình nón thấy vết lộ của phân giác, trong khi trong pyroxen một xiên(diopxit và ogit) chỉ thấy lộ một trục quang (định đường cong)
Theo các tài liệu nghiên cứu gần đây thì khi tăng hàm lượng phân tử FeSiO8 trongpyroxen thoi thì góc 2V đầu tiên sẽ tăng cho đến khi đạt cực đại tại 50% lượng FeSiO3, còn tạiđiểm có 30% và 78% Fesioa trị số 2V đạt (-)70o
Pyroxen thường tắt đứng, song trong một vài trường hợp nó tắt xiên với góc tắt 5 - 10o
do ghép "giả pectit" giữa pyroxen thoi và pyroxen một xiên Đôi khi pyroxen thoi là nhữngtinh thể có song tinh đa hợp gia hình của pyroxen một xiên
Pyroxen thoi biến đổi thành serpentin dạng tấm có màu giao thoa thấp (bastit), đôi khibiến thành amfibol hoặc talc với màu giao thoa rất cao
Thường gặp pyroxen thoi trong đá siêu bazơ, đôi khi trong andezit, hiếm hơn trongdiorit, granit, trachit và liparit
Tổ hợp cộng sinh đặc trưng: olivin, pyroxen một nghiêng và plagioclas bazơ Trong látmỏng pyroxen thoi rất giống pyroxen một nghiêng, khác là tắt đứng (hoặc gần tắt đứng) trênlát cắt song song với mặt trục quang Trong các lát cắt có màu giao thoa thấp hay gặp cấu trúctóc rối Khác với olivin bởi có màu và lưỡng chiết suất thấp
4- Pyroxen một nghiêng: Diopxit và hedenbecgit
Diopxit và hedenbecgit là một loạt đồng hình liên tục, tạo dung dịch cứng
- Diopxit - là hợp phần magie của loạt này.
CaMgSi2O6, tinh hệ một xiên
ng = 1,727 - 1,694, tm =1,706 - 1,672, np = 1,697 - 1,667, ng - np = 0,029
Định hướng quang học: b = Nm, mặt quang trục (010)
Quang tính dương, 2V = 58 - 60o, c: Ng = 36 - 42o (H.3.7)
Trang 11- Hedenbecgit: Ca(Fe,Mg)Si2O6, tinh hệ một xiên
ng = 1,757-1,751, nm = 1,745-1,737, np = 1,739 - 1,732, ng - np = 0,016-0,018
Quang tính dương, 2V = 58 - 60o, c : Ng = 48o
Diopxit và hedenbecgit thường tạo tinh thể dạng lăng trụ ngắn, tiết diện ngang hầu nhưdạng hình vuông hoặc tám cạnh, đôi khi dạng hạt đẳng thước hoặc không đều đặn hơi kéo dài,cát khai theo hai phương với góc cát khai 87o Trong tiết diện dọc cát khai một phương theolăng trụ (001) Không màu, đôi khi có màu lục sáng, mặt sần và độ nổi rõ
Góc tắt thẳng trong lát cắt vuông góc với (010) Trong lát cắt song song với mặt trụcquang, góc tắt đạt 36 - 48o, trong lát cắt ngang tắt đối xứng
Khi bị biến đổi pyroxen một xiên biến thành actinolit (hoặc uralit), đôi khi thành clorit
Diopxit phân bố rộng rãi trong các đá magma bazơ, đôi khi trong đá macma trung tính
(cả xâm nhập và phun trào), có mặt trong loạt biến chất nhiệt độ cao
Hedenbecgit giàu sắt là thành phần chính của đá biến chất tiếp xúc.
Trong đá biến chất gặp tổ hợp cộng sinh khoáng vật đặc trưng: granat, volastonit,vezuvian và loạt silicat khác
Trong lát mỏng diopxit và hedenbecgit giống actinolit và tremolit, đôi khi giống ogitnữa Tremolit và actinolit khác với diopxit và hedenbecgit bởi góc tắt nhỏ, còn ogit khác biệtbởi góc tắt lớn và có màu phớt nâu
5- Ogit: Ca(Mg,Fe++,Al,Fe+++)(SiAlFe++)2O5, tinh hệ một xiên
Khác với diopxit và hedenbecgit, ogit là loại pyroxen nhôm Thành phấn của nó không
ổn định nên tính chất quang học của nó cũng thay đổi
Mặt khác khi có TiO2 có thể quan sát thấy tán sắc phân giác rõ
Trong điều kiện macma tàn dư ogit bị biến thành hocblen Dưới điều kiện nhiệt dịch saumacma sẽ bị biến thành actinolit và uralit, có khi clorit Ogit phân bố rộng rãi trong đá macmabazơ và macma trung tính, cả trong đá xâm nhập sâu, xâm nhập nông và đá phun trào
Ogit giống diopxit, chỉ phân biệt bởi: 1) góc tắt c : Ng của ogit là 55o, của hedenbecgit : 48o; 2) đại lượng lưỡng chiết suất: ogit - 0,026, diopxit - 0,027 -0,030; 3) tiếtdiện ngang của ogit thể hiện rõ mặt lăng trụ (110) và các mặt (100) hoặc (010), còn trongdiopxit - chỉ thể hiện rõ mặt song diện, còn mặt lăng trụ không rõ
diopxit-Hedenbecgit phân biệt với diopxit bởi màu lục rõ và chiết suất lớn hơn, còn lưỡng chiếtsuất nhỏ hơn
6- Egyrin (acmit) và egyrin-ogit
Trang 12- Egyrin: NaFe+++Si2O6, tinh hệ một xiên.
Amfibol là nhóm silicat dải, mạch kép chứa gốc Si4O11, liên kết với Ca, Mg, Fe++, ít hơn
là Al, Fe+++, Na; đặc trưng là có mặt OH, đôi khi F
Tinh hệ thoi và một nghiêng Tinh thể được giới hạn bởi các mặt lăng trụ với góc gần
124o, cát khai cũng thể hiện rõ theo những mặt đó với góc cát khai trong tiết diện ngang bằng
Đặc điểm đặc trưng của amfibol
(trừ horblend basaltid) là có chiết suất
nhỏ hơn pyroxen và góc tắt nhỏ hơn 30o
(H.3.11)
Trong đá magma chỉ có một số
amfibol là khoáng vật tạo đá nguyên
sinh Horblend thường đặc trưng cho
diorit, granođiorit, sienit, granosienit,
một số granit Horblend nâu gặp trong
đá bazơ và siêu bazơ, horblend basaltid làban tinh trong anđezit Amfibol kiềm
gặp trong đá kiềm
Màu giao thoa phụ thuộc ng - np
đến 0,050, nhưng phần lớn nhỏ hơn
0,025
Trang 13Các khoáng vật nhóm amfibol đa số có màu từ nhạt đến đậm thể hiện đa sắc rõ
7- Horblend: (OH,F)2Ca2(Mg,Fe++Al,Fe+++)5[(Si,Al,Fe+++)8O22]
Tinh hệ một nghiêng Đặc trưng là trong thành phần thường xuyên có mặt các hợp phầnhơi - hydroxit (OH) và flor (F)
ng = 1,701-1,633, nm = 1,691-1,618, np= 1,675-1,614, ng - np = 0,019-0,026
Quang tính âm, 2V(-) = 56 - 85o, b = Nm, c : Ng = 12 - 25o Dấu kéo dài dương
Hình dạng của horblend trong
lát mỏng đặc trưng là dạng trụ kéo dài
với tiết diện ngang dạng giả sáu cạnh
do phát triển các mặt lăng trụ (110) và
hình hai mặt (010); cát khai hoàn toàn
theo một phương trong tiết diện dọc,
hai phương trong tiết diện ngang với
góc cát khai 56o (124o) (H.3.12)
Horblend có màu lục đến nâu,
đa sắc thể hiện rõ: theo trục Ng - màu
lục, Nm nâu hoặc vàng sáng, Np
-xanh lục sáng, công thức hấp phụ: Ng >
Nm > Np
Mặt sần và độ nổi rõ Màu giao
thoa cao nhất từ khoảng giữa bậc II trong lát mỏng bình thường, nhưng đôi khi thấy màu lụcđậm hoặc nâu đậm do ảnh hưởng của chính màu của khoáng vật Thường gặp song tinh đơngiản và song tinh đa hợp theo (100)
Horblend là thành phần của các loại đá magma khác nhau, từ những đá rất bazơ (nghèosilic) như peridotit, gabro đến các đá acit (giàu silic) như granit Đặc biệt horblend là khoángvật nguyên sinh trong các đá magma bazơ và trung tính và có liên quan chuyển tiếp vớipyroxen, thay thế cho pyroxen trong quá trình nguội lạnh tạo đá magma, hoặc có liên quan vớibiotit do horblend biến thành
Ngoài ra horblend cũng là thành phần của một số đá biến chất như gơnai, đá phiến,amfibolit
Horblend phân biệt với ogit bởi đặc điểm cát khai, thể hiện rõ tính đa sắc, góc tắt nhỏhơn và quang tính âm Horblend nâu khác với biotit bởi đặc điểm cát khai, tắt xiên, độ nổi caohơn và màu giao thoa thấp hơn
Horblend thường trong các độ phun trào có đặc điểm là bị bao bởi một riềm các tinh thểkhông thấu quang, màu đen (riềm opaxit), được hình thành do áp suất giảm và bị nóng chảykhi tăng cao nhiệt độ của dung nham phun trào trên bề mặt
Tremolit và actinolit tạo tinh thể
lăng trụ kéo dài, rất thường chuyển sang
Trang 14Dấu kéo dài dương, hầu như tắt đứng
Tremolit và actinolit chủ yếu gặp trong đá phiến, gơnai, trong đá hoa silicat, đôi khi cảtrong đá magma thay thế cho pyroxen và các khoáng vật khác của nhóm amfibol
Tremolit và actinolit nguyên sinh không gặp trong đá magma Trong đa số trường hợp
nó biến thành talc Khác với các amfibol ở chỗ không màu hoặc màu rất nhạt, có dạng kéo dàirất rõ, và đặc biệt là góc tắt nhỏ
2.1.4 Nhóm mica
Là loại silicat lớp gồm tứ diện (Si3Al)O10 (hoặc Si4O10) Về thành phần nhóm biotit lànhững alumosilicat của K, Na, Mg, Fe++, Fe+++, Al Tinh hệ một nghiêng Tinh thể có dạng giảsáu phương, dạng tấm, vẩy, cát khai hoàn toàn theo (001)
Chiết suất nhỏ hơn amfibol Một số có màu, một số không màu
Màu giao thoa cao, tắt đứng Góc trục quang nhỏ hoặc gần như một trục, quang tính âm.Thuộc nhóm biotit có biotit, mutcovit, flogopit (H.3.14)
9- Mutcovit: (OH,F)2 K(Al,Fe+++)2(Si8Al)O10, Tinh hệ một nghiêng
Tắt đứng hoặc hầu như tắt đứng Màu giao thoa đạt đến bậc II trong lát cắt vuông góc
với cát khai, còn trên lát cắt mặt cát khai - màu trắng hoặc xám bậc I Đôi khi quan sát thấysong tinh theo (001) Trong lát cắt vuông góc với phân giác nhọn thấy hình giao thoa với cảhai đỉnh hypecbon
Mutcovit phân bố rộng rãi trong granit, cả trong gơnai, đá phiến mica
10- Serixit: Là khoáng vật dạng vẩy nhỏ, có nguồn gốc thứ sinh, được thành tạo trong
giai đoạn nhiệt dịch (epimacma) thay thế cho felspat và các khoáng vật khác
Trang 15Serixit là thành phần của đá phiến serixit, filit Nó phân biệt với mutcovit bởi trongthành phần chứa nhiều nước và một ít K2O Tập hợp vẩy nhỏ serixit gọi là paragonit.
Trang 16Bảng 3.1 Bảng các tính chất quang học của các khoáng vật tạo đã magma sẫm màu
Khoáng vật (1)Tính chất (2) Olivin
PYROXEN THOI PYROXEN MỘT XIÊNEnstatit Brozit Hypesten Điopxit Ogit EgyrinThành phần hoá học
(3)
Silicat đảo (Mg,Fe)2SiO4
Silicat mạch
Mg2S2O6 (Mg, Fe)2Si2O6 CaMgSi2O8 NaFe+3Si2O6
Định hướng mặt quang suất
theo (010) Hoàn toàn theo (110) với góc 87
-Đa sắc (14) Không Không Ng-lục nhạt, Nm-vàng nhạt,
Np vàng nhạt Không Rất rõCông thức đa sắc (15) Không Không Không Không Np>Nm>Ng
Bảng các tính chất quang học của các khoáng vật tạo đã macma sẫm màu (tiếp theo Bảng 2.1)
(1)
(2)
Tremolit Actinolit Horblend Horbasaltid Atvetxonit Ribeckit Mutcovit Biotit Flogopit
Trang 17Silicat mạch kép có nhóm (OH), gốc Si4O11 Silicat lớp có (OH), gốc Si3AlO10
Ca với Mg và Fe Ca-Na với Mg, Fe và Al Kiềm với Mg, Fe và Al Các caction chủ yếu: Mg, Fe, Al với K
Không màu Lục nhạt Lục hoặc nâu Nâu đỏ Lục xanh Không màu Nâu Không màu
hoặc phớt nâuLăng trụ dài hoặc dạng kim Vẩy, tấm
Hoàn tòan theo (110) hoặc góc 56o hay 124o Rất hoàn toàn theo (001)1,60-1,65 1,65-1,70 1,76 1,70 1,70 1,55-1,60 1,60-1,65 1,53-1,55(-) 79-880 (-) 56-840 (-) 64-800 (), biến đổi (-) lớn (-) 25-500 0-(-)100 0-(-)150
0,027-0,029 0,019-0,026 0,026-0,072 0,004-0,028 0,004 0,037-0,042 0,040-0,060 0,028-0,047c: Ng=10-200 c: Ng=12-250 c: Ng=0-120 c: Np=7-280 c: Np=50 Tắt đứng
Ng-nâu đậmNm-nâu đậmNp-vàng nhạt
KhôngKhông Ng Nm > Np Np > Nm > Ng Không Ng = Nm>Np Không
Trang 1811- Biotit: (OH,F)2 K(Mg,Fe++)3 (Al,Fe+++) Si8O10 Tinh hệ một nghiêng (giả sáuphương).
ng = 1,677 - 1,635, nm = 1,623 -1,584, np = 1,699 -1,681, ng - np = 0,040 - 0,060,trong biotit giàu FeO đại lượng chiết suất còn cao hơn
Quang tính âm, 2V(-) = 0 - 10o, a = Ng, b = Nm, c : Np = 0 - 3o
Thường tạo thành dạng tấm hình sáu cạnh hoặc dạng vảy, tiết diện dọc có dạngtấm kéo dài với khe cát khai mảnh và thẳng theo (001) Đa số trường hợp tiết diện theomặt cát khai hoặc gần theo mặt cát khai có dạng không đều đặn và không có cát khai
Biotit có màu nâu, đôi khi màu lục, cường độ màu của nó biến đổi mạnh tùythuộc vào hàm lượng sắt, nếu giàu sắt theo Ng và Nm có màu nâu đỏ hoặc nâu đen(lepidomelan), theo Np - màu vàng nhạt, đa sắc rõ với công thức đa sắc Ng 3 Nm > Np.Mặt sần và độ nổi yếu
Màu giao thoa cao từ bậc II đến III, thường bị nhuốm màu do màu đậm của bảnthân khoáng vật Trong lát cắt song song với mặt cát khai (001), đại lượng lưỡng chiếtsuất hầu như bằng 0, tắt đứng hoặc hầu như tắt đứng Cát khai và vết của mặt giới hạntinh thể song song với mặt (001) Dấu kéo dài dương, bản thân khoáng vật gần nhưmột trục
Biotit gặp trong nhiều loại đá magma, chủ yếu trong granit, là thành phần của
đá phiến kết tinh, gơnai, đá phiến mica, sừng, v.v , hiếm hơn gặp trong đá trầm tích.Trong đá phun trào biotit bị bao quanh bởi riềm opaxit giống như hocblen
Biotit khác với horblend basaltid và amfibol kiềm nâu (backevikit) bởi chiếtsuất thấp, khác backevikit bởi lưỡng chiết suất cao và tắt đứng; khác với hocblenthường màu nâu bởi tắt đứng, khác tuamalin nâu bởi dấu kéo dài dương và công thức
đa sắc (trong biotit song song với trục kéo dài màu đậm hơn, còn tuamalin thì ngượclại)
12- Flogopit: (OH,F)2 KMg3AlSi3O10 Tinh hệ một xiên
ng = 1,589 - 1,565, np = 1,551 -1,535, ng - np = 0,035 - 0,044
Quang tính âm, c : Ng = 0 - 10o
Flogopit gặp dưới dạng tấm có sáu cạnh, cát khai rất hoàn toàn theo (001) Mặtsần và độ nổi yếu hơn so với horblend Màu nâu nhạt, màu giao thoa trong lát cắtvuông góc với cát khai, tức (001) đạt đến giữa bậc III, trong lát cắt song song với mặtcát khai hầu như tối đen Tắt đứng hoặc tắt xiên với góc 10o Dấu kéo dài dương Tinhthể một trục hoặc hầu như một trục
Flogopit là thành phần đặc trưng của đá vôi kết tinh bị biến chất Tổ hợp cộngsinh đặc trưng: apatit, diopxit, spinel, fosterit Đôi khi gặp trong đá magma (peridotit,serpentinit, đá chứa lơxit)
Flogopit khác với biotit là màu nhạt và đa sắc yếu Loại flogopit hầu như khôngmàu giống mutcovit, chỉ phân biệt bởi góc trục quang nhỏ
2.2 Khoáng vật salic (khoáng vật sáng màu)
Các khoáng vật salic hoặc sáng màu là thành phần của đá magma và biến chất,chủ yếu là alumosilicat, bao gồm nhóm felspat (plagioclas, felspat kim, felspatit vàthạch anh) Trong nhóm felspat đặc trưng là vắng mặt oxyt sắt và magie, ít các hỗnhợp đồng hình Các alumosilicat chiếm đến 60% vỏ Trái Đất
2.2.1 Nhóm felspat
Nhóm felspat là silicat gốc (Si,Al)O2, đóng vai trò quan trọng trong đá magma,bao gồm ba nhóm khoáng vật sau :
- Plagioclas hoặc fenpat Na-Ca với thành phần đầu và cuối là anbit và anoctit
- Felspat kali (chủ yếu là microclin, octocla, hiếm hơn là saniđin)
Trang 19- Felspat Na-K (anoctocla).
Nhóm felspat đóng vai trò rất quan trọng trong việc phân loại đá magma, vì vậyxác định chính xác thành phần của nó có ý nghĩa rất lớn Plagioclas kết tinh trong tinh
hệ ba nghiêng, còn felspat kali thì kết tinh cả trong tinh hệ ba nghiêng và tinh hệ mộtnghiêng
Felspat có những đặc điểm chung như sau:
Cát khai hoàn toàn theo hai phương (001) và (010), góc giữa chúng trong tinh
hệ một nghiêng bằng 900, trong tinh hệ ba nghiêng gần bằng 900, trong khi đóplagioclas nhỏ hơn 40, với microclin nhỏ hơn 15 - 300
Trong lát mỏng felspat không màu, hầu như không có mặt sần và độ nổi ngoạitrừ anoctit có thể thấy được Đại lượng lưỡng chiết suất dao động từ 0,005 đến 0,003(bảng 3.4)
2.2.1.1 Nhóm phụ plagiocla
Plagioclas rất phổ biến trong đá magma và biến chất Thành phần của nó đặctrưng cho điều kiện hóa lý thành tạo đá Do vậy, đòi hỏi phải xác định chính xác thànhphần của plagioclas Nhiều nhà nghiên cứa đã tìm ra cách xác định plagioclas bằngphương pháp quang học, trong đó có Misen-levi, Fuke, Becơ, đặc biệt là E X.Fedorov
Plagioclas là hỗn hợp đồng hình tạo dung dịch cứng của hai khoáng vật là anbit(An) – NaAlSi3O8 và anoctit (An) - CaAl2Si2O8
Trang 20Bảng 2.2 Nhóm khoáng vật felspat
Khoáng vật Thành phần hoá học ng nm np ng –np 2V Quang
tínhAnoctit CaAl2Si2O8 1,588 1,583 1,575 0,013 77o -Anbit NaAlSi3O8 1,536 1.529 1,525 0,011 82o +Octola KAlSi3O8
oligiocla); 2 plagiocla trung tính (andezin) và 3 plagiocla bazơ (labrađo bitaonit anoctit) (H.3.16)
-Plagioclas kết tinh trong tinh hệ ba nghiêng, hình dạng của nó được giới hạnbởi các mặt thường là (010) hoặc (001), các mặt lăng trụ (100), (110), (110), (201)
- Cát khai đặc biệt hoàn toàn theo (010) và kém hoàn toàn theo (001)
- Song tinh: Plagioclas rất ít gặp dưới dạng các đơn tinh mà thường tạo songtinh đơn giản hoặc đa hợp Song tinh trong plagioclas thường theo các luật sau:
Luật albit: mặt song tinh là (010), trục song tinh vuông góc với mặt (010) Song
tinh thường đa hợp, ký hiệu ^(010)/(010)
Luật periclin: trục song tinh là [010], mặt song tinh là tiết diện thoi, ký hiệu là
[001]/P.C
Trang 21Luật carbat: Trục song tinh là trục thẳng đứng, mặt song tinh (010), ký hiệu
[001]/(010)
Trong thực tế thường gặp liên hợp song tinh đa hợp giữa luật anbit và cácbat.Phương của trục quang suất, vị trí mặt trục quang và trục quang của plagioclabiến đổi phụ thuộc vào thành phần của plagiocla (hàm lượng anoctit trong chúng) mộtcách có qui luật Do đó khi xác định thành phần có thể dựa trên góc tắt của trục quangsuất với khe cát khai hoặc đường khâu song tinh của plagiocla Trên mặt bàn kính hiển
vi có nhiều phương pháp để xác định plagiocla
Dưới kính hiển vi plagioclas không màu, tiết diện có dạng tấm theo mặt (010)hoặc hạt không đều đặn, chiết suất gần với nhựa canađa (trừ plagiocla bazơ) Cát khaihoàn toàn theo (010) và (001) Đặc trưng là song tinh đa hợp theo luật anbit hoặc theonhững luật khác
Góc quang trục trong plagioclas biến đổi trong khoảng 74o - 90o và đồng thờidấu quang tính từ anbit đến anoctit biến đổi nhiều lần Vì góc quang trục phụ thuộckhông những vào thành phần mà còn phụ thuộc vào điều kiện thành tạo của khoángvật nữa, nên không thể dùng nó để xác định thành phần của plagioclas được
Trong các đá phun trào và xâm nhập nông, do thành tạo trong điều kiện nguộilạnh nhanh và giảm nhiệt độ nhanh nên thường tạo tinh thể có cấu tạo đới Cấu tạo đớithường biểu hiện trong plagiocla trung tính Các đới có thành phần khác nhau và tắtkhông đồng thời, và sản phẩm phá hủy của từng đội cũng khác nhau Trong đá magmaplagioclas có cấu tạo đối thuận, tức phần trong bazơ hơn phần rìa, còn trong đá biếnchất ngược lại gặp cấu tạo đối nghịch với phần rìa bazơ hơn
Plagioclas dễ bị biến đổi: plagioclas bazơ bị thay thế bởi xotxuarit là tập hợpcủa anbit, epidot, zoizit và canxit Plagioclas trung tính và acit thường bị thay thế bởiserixit
Trang 22Plagioclas phân bố rất rộng rãi trong đá magma và biến chất Anbit đặc trưngcho các đá magma kiềm; plagioclas nghèo anoctit có mặt trong đá magma acit –granochorit và granit; plagioclas trung tính là thành phần cơ bản của biotit và sienit;plagioclas bazơ có mặt trong gabro, basalt Vì vậy plagioclas có thành phần khác nhauđặc trưng cho các nhóm đá khác nhau và điều đó có ý nghĩa rất quan trọng trong việcphân loại đá.
* PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH PLAGIOCLAS
Theo tính chất của plagioclas, những lát cắt của tinh thể thường gặp nhất là:1) Lát cắt tắt đối xứng cực đại lát cắt (010), trên đó xác định góc tắt đối xứngcực đại; 2) lát cắt có mặt đồng thời song tinh theo luật carbat và anbit; 3) lát cắt đồngthời vuông góc với (010) và (001) (phương pháp Beccơ - Becker)
- Phương pháp xác định góc tắt đối xứng cực đại trên lát cát vuông góc với (010) (phương pháp Misen – Levi)
Phương pháp này rất tiện lợi vì nó đơn giản và chính xác Nhược điểm củaphương pháp là ở chỗ chỉ xác định được plagioclas trong lát mỏng cùng thành phầnứng với góc tắt đối xứng lớn nhất, trong khi đó trong đá có thể còn có plagioclas thànhphần khác với góc tắt nhỏ hơn
- Đặc điểm lát cắt Lát cắt vuông góc với mặt (010) tức vuông góc với mặt
song tinh của song tinh theo luật anbit, có những dấu hiệu chính sau:
+ Ranh giới giữa các dải song tinh rất mảnh
+ Khi các đường khâu song tinh trùng với dây chữ thập thẳng đứng thì songtinh bị mất, lúc đó tinh thể như một đơn tinh
+ Góc tắt của các dải song tinh (chẵn và rẻ) về hai phía của đường khâu songtinh như nhau
+ Dựa vào sự định hướng của mặt quang suất của plagioclas thì gần mặt (010)
sẽ phân bố tiết diện mặt quang suất NmNp, nên trên lát cắt ^(010) ta luôn luôn đođược góc giữa trục quang suất Np' với mặt (010), được ghi là Np'(010) Do vậy từ vịtrí trùng với dây chữ thập thẳng đứng xoay theo chiều ngược kim đồng hồ đi 450, cácdải sẽ sáng đều đưa bản đỏ bậc I vào sẽ lên màu, lúc đó Np của bù màu trùng với Np'của khoáng vật Sau đó quay cùng chiều kim đồng hồ sang vị trí 45o - xuống màu
- Cách đo: Chọn lát cắt thoả mãn các điều kiện trên đưa vào tâm thị trường Để
lát cắt ở vị trí thẳng đứng, lát cắt sẽ giống như một đơn tinh thể (H.3.171) Ghi trị sốtrên bàn độ cao, đặc trưng cho phương kết tinh (010)
Xoay bàn kính về phía các dải song tinh tắt nhanh nhất, ghi vị trí của bàn độđược bổ Ta được = [bo - ao] (H.3 17II)
Kiểm tra để khẳng định chắc chắn là đo góc tắt với trục Np' bằng cách xoay từ
vị trí này đi 45o ngược chiều kim đồng hồ để các dải song tinh tắt trở nên sáng nhất.Dùng bản đỏ bậc I để xác định tên trục Trong trường hợp này sẽ lên màu xanh bậc II,trục Np' trùng với trục Np của bản bù màu (H.3.17III)
Xoay theo chiều ngược lại từ vị trí thẳng đứng đi 45o để cho loạt dải song tinhcòn lại tắt, ghi được co, ta được giá trị góc tắt 2 = [co - ao] (H.3.17 IV)
Trang 23Nếu lát cắt chọn đúng thì = 2, sai số cho phép không được vượt quá 4o Từhai giá trị góc tắt 1 và 2, tính góc tắt bằng trị số trung bình:
- Xác định thành phần plagioclas: Để xác định thành phần của plagiocla cần
phải sử dụng sơ đồ để tra (H.3.18), trước hết nếu a < 20o thì cần xác định dấu của góctắt Nếu nplag > nnhựa canada thì góc tắt có dấu (+), nếu nplag < nnhựa canada thì góc tắt có dấu (-)
Sở dĩ như vậy vì plagiocla acit từ anbit đến oligocla No18 có chiết suất nhỏ hơn chiếtsuất của nhựa canada, đồng thời trên sơ đồ có thể có hai giá trị (+) và (-) Sau đó theo
sơ đồ tiến hành xác định plagoclas: góc (+) tra phần trên đường 0o, góc (-) tra phầndưới đường 0o Từ giá trị góc tắt cực đại, dựng đường ngang ra gặp đường cong góc tắtđối xứng cực đại trong đới 100, rồi dùng dọc xuống gặp trục thành phần củaplagioclas, ta sẽ biết được thành phần plagioclas
Trang 24Cần lưu ý là trong plagioclas bitaonit No75 tiết diện NmNp nghiêng so với mặt
(010) một góc > 45o, nên phương pháp trên chỉ có thể xác định đối với plagioclas acithơn bitaonit No75
* Phương pháp xác định plagioclas trên lát cắt (010) và (001) - phương pháp Becơ - Beher
- Đặc điểm lát cắt: Lát cắt vuông góc đồng thời với (010) và (001) được nhận
biết nhờ các đặc điểm sau:
Hình 3.18: Bảng xác định góc tắt của plagioclas theo A.N Vintren
- Ranh giới giữa các dải song tinh anbit mảnh
- Đồng thời tồn tại hệ thống cát khai theo (001) và (010), góc giữa chúng gầnbằng 87o Khi nâng hoặc hạ ống kính không bị dịch chuyển (song tinh luật anbit, đồngthời có cát khai theo hai phương) (H.3.19)
- Cách đo Người ta tiến hành đo và xác định plagiocla theo góc giữa đường
khâu song tinh (010) và phương Np' Sau đó kiểm tra phương của trục Np' bằng bùmàu, tiến hành do góc tắt Np'(010)
Trang 25Xác định thành phần plagioclas: Cách tra bảng giống phương pháp Misen
-Levi Nếu góc tắt nhỏ hơn 20o thì phải so sánh chiết suất của nó với nhựa canada đểxác định dấu của góc tắt Có thể xác định dấu góc tắt
theo vị trí trục Np': nếu Np' nằm ở phía góc nhọn giữa
cát khai (001) và (010) thì dấu góc tắt là (+), Np' nằm ở
phía góc tù - dấu góc tắt là (-) Sau đó tra trên sơ đồ để
xác định thành phần của plagioclas theo "đường cong
^(001) và (010); Np'(010)" như đã trình bày ở phương
pháp Misen - Levi (H.3.18)
Với phương pháp này chỉ cần đo trên một lát cắt
* Phương pháp xác định plagiocla với tổ họ
luật anbit - carbat trên lát cắt (010)
- Đặc điểm lát cắt: Lát cắt có đồng thời cả hai
luật anbit và carbat có đặc điểm:
+ Có mặt đồng thời song tinh anbit (đa hợp) và song tinh carbat (đơn giản) Sự
có mặt của song tinh carbat cùng với song tinh anbit được nhận biết bằng cách từ vị tríphương dải song tinh thẳng đứng xoay đi một góc 45o sẽ mất song tinh anbit, chỉ cònlại hai nửa tối sáng (H.3.20)
+ Lát cắt phải thật vuông góc với mặt song tinh theo luật anbit, do đó các cựcđại song tinh anbit trong mỗi một nửa song tinh carbat sẽ tắt đối xứng
+ Khi phương dải song tinh trùng với dây chữ thập thẳng đứng khoáng vật sẽnhư một đơn tinh, mất song tinh anbit
- Cách đo: Tiến hành đo góc tắt dối xứng ở mỗi nửa của song tinh carbat X1, X2
và Y1 Y2, ta nhận được hai giá trị góc tắt đối xứng X, Y trong đó có một giá trị lớn hơngiá trị kia
- Xác định thành phần plagioclas: Khác với hai phương pháp trên, để xác
định thành phần của plagioclas trên sơ đồ phải xác định trong phạm vi có ghi "songtinh liên hợp anbit-carbat”, các đường ngang ứng với góc tắt nhỏ, các đường cong ứngvới góc tắt lớn
Từ giao điểm của đường ngang và đường cong, đóng thẳng xuống trục hoành trục thành phần sẽ xác định được thành phần của plagioclas Ví dụ: a1 = 20o, a2 = 30o,
-mplag > nnhựa canada, thành phần plagioclas tra được là labrado No60
Cần lưu ý là plagioclas No20 (oligocla) có góc tắt gần bằng 00, do vậy trongchúng không rõ song tinh carbat
Phương pháp này rất tiện lợi vì nó có thể xác định plagiocla trên một lát cắtbiến đổi thành phần trong cấu tạo đới
2.2.1.2 Nhóm phụ felspat kali
Trong phụ nhóm felspat kali có nhiều khoáng vật, phổ biến nhất là saniđin,octocla và microclin, chúng có thành phần hóa học giống nhau với công thức
Trang 26KAlSi3O8, nhưng khác nhau về điều kiện thành tạo; adule là loại octocla trong nhưnước.
Về tính chất tinh thể thì felspat kali có hình dạng giống plagioclas, chỉ khác gócgiữa (001) và (010) Plagioclas có góc giữa (001) và (010) = 86o, octocla, saniđin =
90o, microclin = 89o43
Cát khai hoàn toàn theo (010) và (001)
Octocla thường có song tinh đơn giản, microclin có song tinh mạng lưới (songtinh đồng thời theo hai luật) Nếu không có song tinh, hai khoáng vật này rất khó phânbiệt
Trong lát mỏng felspat kali không màu, chiết suất nhỏ hơn nhựa canađa Nếuđóng bớt chắn sáng, nâng ống kính lên sẽ thấy bề mặt có màu phớt hồng (phân biệt vớithạch anh và plagioclas)
Trong felspat kali, octocla và microclin thường gặp hiện tượng ghép có qui luậtvới albit dưới dạng những mạch nhỏ Nếu albit ghép với felspat kém mà thấy đượcbằng mắt thường gọi là pectit, nếu chỉ thấy được dưới kính gọi là micropectit, ngoài racòn gặp ẩn pectit - biết được nhờ phân tích hóa học, antipectit - các dải nhỏ của fenpatkali ghép trong plagiocla
Biến đổi thứ sinh của felspat kali chủ yếu là sét hóa, dưới một nicol là nhữngbụi bẩn màu vàng
Trong tự nhiên microclin (tinh hệ ba nghiêng) đặc trưng cho pegmatit và các đámagma hạt thô kết tinh ở nhiệt độ thấp, glanosienit, pocfia và pocfia thạch anh, gơnai.Saniđin (tinh hệ một nghiêng) đặc trưng cho đá phun trào acit kết tinh ở nhiệt độ cao.Octocla (tinh hệ một nghiêng) gặp nhiều trong đá magma kết tinh ở nhiệt độ trungbình và thấp Anđule thường gặp trong các mạch nhiệt dịch Anoctocla thường gặptrong các phun trào kiềm (nhiệt độ thấp)
Mối quan hệ của các khoáng vật nhóm felspat thể hiện trong loạt đồng hình:Octocla Albit
Chiết suất và màu giao thoa của
octocla nhỏ hơn thạch anh Góc tắt và góc
trục quang không cố định liên quan với
hàm lượng Na2O trong octocla Khi tăng
lượng Na2O thì góc a : Np tăng đạt 10
-12o Song tinh đơn giản theo luật carbat Bị
sét hóa, kaolinit hóa, bề mặt thường có
Trang 27Khác với octocla, adule là khoáng vật trong suốt như nước không bị phá hủy.
14- Microclin: (K,Na)AlSi3O8, Tinh hệ ba xiên
ng = 1,530, nm = 1,526, np = 1,522, ng - np = 0,008
Quang tính âm, 2V(-) = 77o - 84o
Định hướng quang học trong microclin như sau: Np(010) gần 15o-16o trong mặt(001); : Np = 5o trong mặt (010) (H.3.22)
Dưới một nicon tính chất quang
học giống như octocla Dưới hai nicon
vuông góc thường quan sát thấy ghép
song tinh đa hợp đồng thời theo luật anbit
và periclin tạo nên song tinh mạng lưới
đặc trưng Cũng gặp cả song tinh carbat
và song tinh theo các luật khác Ghép
pectit cũng giống octocla
Microclin phân biệt với octocla
bởi song tinh mạng lưới, khác với
plagiocla bởi song tinh luật anbit-periclin
và chiết suất nhỏ hơn Trường hợp lát cắt
không có song tinh mạng lưới thì phải xác định microclin theo góc tắt
15- Saniđin: (K,Na)AlSi3O8 Tinh hệ một nghiêng
Thường tạo thành tinh thể có
mặt giới hạn rõ theo (001) và (010), đôi
khi theo (100)
Khác với octocla, dưới kính hiển
vi sanidin có đặc điểm thủy tinh, không
màu, hoàn toàn trong suốt, không bị
phá hủy, 2V nhỏ, đồng thời khác biệt
cả vế định hướng quang học trong tinh
thể Phân biệt với thạch anh bởi chiết
suất nhỏ hơn, cát khai hoàn toàn, quang tính âm, hai trục, có song tinh
- Tinh hệ: Sáu phương
- Ng = 1,536-1,547