khóa luận tốt nghiệp đi sâu phân tích tình hình thực hiện, những tồn tại và khó khăn, nguyên nhân và giải pháp đẩy mạnh hiệu quả thực hiện bảo hiểm thất nghiệp tại tỉnh Bắc Giang
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
***
ĐÀM THỊ THÙY TRANG
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN BẢO HIỂM THẤT
NGHIỆP TẠI TỈNH BẮC GIANG
ĐỀ CƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HÀ NỘI – 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
***
Trang 2ĐỀ CƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN BẢO HIỂM THẤT
NGHIỆP TẠI TỈNH BẮC GIANG
Tên sinh viên: Đàm Thị Thùy TrangChuyên ngành đào tạo: Kinh tế nông nghiệp
Lớp: KTNN 54BNiên khóa: 2009 - 2013Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Tuấn Sơn
HÀ NỘI – 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đây là đề tài nghiên cứu của tôi Những số liệu được sưdụng trong bài khóa luận là hoàn toàn có thật, trung thực, có nguồn gốc roràng, cũng như các luận văn, luận án, các bài khoa học của các học hàm, học
vị trước đây nghiên cứu
Tôi xin cam đoan rằng các tài liệu đã được trích nguồn đầy đủ vàtrung thực chỉ ro nguồn gốc của tài liệu
Tác giả khóa luận
Đàm Thị Thùy Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân thành biết ơn các thầy cô của trường Đại học Nông Nghiệp
Hà Nội nói chung và thầy cô Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn nói riêng
là nơi tôi đã học tập và rèn luyện suốt 4 năm học qua Nơi cho tôi những kiếnthức bổ ích và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Phó giáo sư, tiến siNguyễn Tuấn Sơn đã dành nhiều thời gian, tâm huyết và tận tình hướng dẫntôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin được trân trọng cảm ơn tập thể đội ngũ cán bộ cơ quan BHXHtỉnh Bắc Giang cùng chú Trần Văn Sinh, đã cung cấp cho tôi những số liệucần thiết và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài tại địaphương
Cảm ơn cư nhân Nguyễn Anh Đức đã chỉ bảo tôi trong suốt quá trìnhlàm khóa luận
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè
đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Do thời gian nghiên cứu và năng lực bản thân còn hạn chế, nên bài viếtcủa tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được sự nhậnxét quý báu của thầy cô
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày……tháng……… năm……
Tác giả khoá luận Đàm Thị Thùy Trang
Trang 5TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Đảng và nhà nước đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ thất nghiệp chongười lao động bị mất việc làm Tuy nhiên, việc ban hành thực hiện các chếđộ trợ cấp mất việc làm còn nhiều bất cập chưa thực sự hiệu quả, bị động,không đảm bảo lâu dài cho cuộc sống của người lao động, … để giải quyếtđược các vấn đề trên cần một chính sách tổng thể, giải quyết tốt các vấn đềtrên Chính sách BHTN là một chính sách toàn diện vì thế Bảo hiểm thấtnghiệp đã được áp dụng
Từ ngày 01/01/2009, Việt Nam chính thức thực hiện Bảo hiểm thấtnghiệp Qua hơn 3 năm thực hiện, chính sách BHTN đã đạt được những kếtquả bước đầu Tuy nhiên, chính sách đó đang còn những bất cập và gặp khókhăn trong quá trình thực hiện
Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Giang là cơ quan trực thuộc Bảo hiểm xã hộiViệt Nam có nhiệm vụ thực hiện thu chi BHTN Trong những năm quaBHXH tỉnh Bắc Giang luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo Ủy ban Nhân dântỉnh Bắc Giang, sự phối kết hợp của Sở LĐ – TB&XH BHXH tỉnh BắcGiang đã có những văn bản kịp thời hướng dẫn về chính sách, cũng như chỉtrả BHTN theo đúng quy định Từ đầu năm 2009 đến nay việc thực hiện chínhsách đối với người lao động tham gia BHTN luôn được BHXH tỉnh thực hiệnkịp thời, đảm bảo quyền lợi cho người lao động, đạt được những thành quảnhất định Tuy nhiên cũng có những khó khăn, vướng mắc công việc thựchiên BHTN
Vậy tình hình thực hiện BHTN của tinh Bắc Giang như thế nào? Gặpnhững khó khăn, vướng mắc gì? Từ những thắc mắc trên tôi tiến hành nghiêncứu đề tài:
“Phân tích tình hình thực hiện bảo hiểm thất nghiệp tại tỉnh Bắc Giang”.
Trang 6Mục tiêu nghiên cứu chung của đề tài là trên cơ sở đánh giá tình hìnhthực hiện bảo hiểm xã hội thất nghiệp ở tỉnh Bắc Giang thời gian qua đề xuấtcác giải pháp thực hiện tốt Luật bảo hiểm thất nghiệp ở Bắc Giang trong thờigian tới Để đạt được mục tiêu đó thì cần có mục tiêu cụ thể sau: Góp phần hệthống hóa và phân tích thêm một số nội dung cơ sở lý luận và thực tiễn về
BHTN Phân tích thực trạng thất nghiệp và tình hình thực hiện chính sách BHTN ở thành phố Bắc Giang tỉnh Bắc Giang Đề xuất các giải pháp thực
hiện tốt Luật bảo hiểm thất nghiệp ở Bắc Giang trong thời gian tới
Đề tài được thực hiện tại tỉnh Bắc Giang với đối tượng nghiên cứu cácđối tượng tham gia BHTN tại địa bàn tỉnh Bắc Giang
Qua nghiên cứu chính sách BHTN của các nước trên thế giới và tìnhhình thực hiện chính sách Bảo hiểm thất nghiệp của Việt Nam, trên cơ sởphân tích đó kết hợp với những điều kiện thuận lợi và khó khăn về điều kiệntự nhiên, xã hội, dân số, lao động, Với mục đích của đề tài “Phân tích tìnhhình thực hiện bảo hiểm thất nghiệp tại tỉnh Bắc Giang” Chúng tôi tiến hành
sư dụng các phương pháp phân tích như thống kê mô tả, phương pháp sosánh, thu thập các số liệu thứ cấp trên sách, website, cơ quan Bảo hiểm Xã hộitỉnh Bắc Giang, các cơ quan liên quan, … , kết hợp phương pháp thu thập sơcấp bằng phương pháp điều tra với bộ bảng hỏi được chuẩn bị nội dung vềvướng mắc khi thực hiện Luật BHTN, các kiến nghị của người lao động vàngười sư dụng lao động về Luật, cũng như công tác của cán bộ, nhân viên củaBHTN, việc thực hiện BHTN của người sư dụng lao động Bên cạnh đó sưdụng phương pháp cho điểm để người lao động và người sư dụng lao độngđánh giá cho điểm theo suy nghi của họ về mức độ nhận thức của họ về chínhsách BHTN, nhận xét khả năng tuyên truyền, thức hiện của cơ quan, cán bộliên quan đến BHTN, mức độ thực hiện BHTN của doanh nghiệp với ngườilao động Trong quá trình điều tra, bản thân tôi cũng tự đưa ra những đánh giáchấm điểm của bản than về mức độ nhận thức của người được điều tra về
Trang 7chính sách BHTN Thang điểm được đánh giá từ mức thấp lên cao từ đó thểhiện ro hơn mức độ cần điều tra Sư dụng phương pháp phỏng vấn kíp trongquá trình phóng vấn một số thông tin từ chủ chốt từ cán bộ của BHTN, cùngngười lao động và sư dụng lao động về những vấn đề liên quan đến BHTN.
Qua quá trình nghiên cứu có một số kết quả nổi bật sau:
- Thực trạng tình hình thực hiện BHTN: từ khi được ban hành về chínhsách BHTN, cơ quan đã thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến chính sáchBHTN với nhiều hình thức được áp dụng, giúp các cơ quan, doanh nghiệp,người lao động hiểu ro hơn phần nào về BHTN, dần đưa chính sách BHTN đisau hơn vào cuộc sống
Trung tâm giới thiệu việc làm đã thành lập phòng BHTN để thực hiệntiếp nhận, đăng kí và giải quyết chế độ BHTN cho người lao động Hiện nay,đội ngũ đã có 20 nhân viên được đào tạo và huấn luyện Cơ sở vật chất ngàycàng hoàn thiện
Các đơn vị tham gia BHTN ngày càng tăng qua các năm Năm 2009 chỉ
có 386 đơn vị tham gia, đến năm 2012 có 1631 đơn vị tham gia BHTN Số laođộng tham gia vì thế cũng tăng nhanh, năm 2009 có 45066 lao động tham gia,đến năm 2012 có 123252 lao động tham gia Thu BHTN từ 12668,9 triệuđồng năm 2009 tăng lên 82675,7 triệu đồng năm 2012
- Kết quả thực hiện: kết quả tiếp nhận đăng kí và giải quyết các thủ tụccho người lao động ngày càng nhiều, mức độ công việc của cán bộ, nhân viênngày càng cao Điển hình là số lao động đăng kí thất nghiệp tại địa phương từ
672 người năm 2010 tăng lên 3701 người năm 2012 Chi trả tăng qua cácnăm
Từ kết quả nghiên cứu có được, chính sách BHTN đang ngày càng đisâu vào đời sống, được thực hiện có hiệu quả Mật độ công việc của cán bộ,nhân viên ngày càng tăng cao công việc vẫn được cố gắng hoàn thành, thểhiện mức độ chuyên nghiệp, được đào tạo chuyên sâu của họ Tuy nhiên cũng
Trang 8gặp những khó khăn, vướng mắc Người lao động mất việc làm tăng, dẫn đến
số lao động thất nghiệp ngày càng tăng nhanh chóng, rất khó kiểm soát Mứcchi trả BHTN chịu sự biến động lớn của nền kinh tế, các chính sách nhà nước,
có thể gây ảnh hưởng đến quỹ BHTN
Nhận thức của người lao động và người sư dụng lao động còn chưacao, chưa nhận thức được ro về tầm quan trọng, quyền lợi, trách nhiệm của họvề chính sách BHTN Chính những điều này gấy khó khăn trong thực hiện thuchi BHTN, người lao động bị người sư dụng lao động lợi dụng chiếm đoạttiền BHTN hay không đảm bảo quyền lợi tham gia BHTN của họ
Những dài dòng, phức tạp trong trình tự thủ túc khiên tâm lí ngại thamgia BHTN của người lao động thể hiện ra Thiếu xót, dễ dãi trong chế tài xư lítrường hợp vi phạm tạo điều kiện cho việc lách luật, lợi dụng sơ hở chiếmđoạt trợ cấp BHTN của người lao động vào người sư dụng lao động
Tóm lại, công tác thực hiện BHTN của tỉnh Bắc Giang trong thời gianqua đã đạt được những kết quả nhật định, phần nào đưa được chính sách vàocuốc sống của người lao động, thực hiện tốt nhiệm vụ thu chi Điều này đượcthể hiện qua những kết quả đã đạt được trong thời gian qua
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN: ………
LỜI CẢM ƠN: ………
TÓM TẮT KHÓA LUẬN: ………
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT: ………
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1.1 Sự cần thiết của đề tài ………
1.2 Mục tiêu nghiên cứu ………
1.2.1 Mục tiêu chung ………
1.2.2 Mục tiêu cụ thể ………
1.3 Đối tượng nghiên cứu ………
1.4 Phạm vi nghiên cứu ………
1.4.1 Phạm vi không gian ………
1.4.2 Phạm vi thời gian ………
1.5 Câu hỏi nghiên cứu ………
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sơ lí luận ………
2.1.1 Giới thiệu chung về thất nghiệp ………
2.1.2 Bảo hiểm thất nghiệp ………
2.2 Cơ sở thực tiễn………
2.2.1 Kinh nghiệm về thực hiện BHTN của một số nước trên thế giới 2.2.2 Bài học cho Việt Nam ………
2.3 Tóm tắt một số nghiên cứu trước đây ………
2.4 Tình hình triển khai BHTN ở Việt Nam
2.4.1 Đối tượng tham gia
2.4.2 Các chế độ và trách nhiệm của bên tham gia BHTN ở Việt Nam
2.4.2.1 Quyền, trách nhiệm của người lao động, người sư dụng lao động, cơ quan lao
động, BHXH Việt Nam
2.4.2.2 Các chế độ BHTN
2.4.3 Mức đóng, căn cứ đóng và phương thức đóng BHTN
2.4.4 Quản lí BHTN ở Việt Nam
2.4.5 Tình hình triển khai BHTN tại Việt Nam
PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁPNGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện kinh tế
Trang 103.1.2 Điều kiện xã hội.
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
3.2.2 Phương pháp tiếp cận
3.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
3.2.4 Phương pháp xư lí số liệu
3.2.5 Phương pháp phân tích
3.2.6 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU4.1 Thực trạng tình hình thực hiện BHTN
4.1.1 Tình hình tổ chức triển khai BHTN ở tỉnh Bắc Giang
4.1.2 Kết quả thực hiện
4.1.3 Thuận lợi và khó khăn trong công tác BHTN
4.2 Nhận thức của người lao động và người sư dụng lao động
4.2.1 Nhận thức của người lao động
4.2.2 Nhận thức của người sư dụng lao động
4.3 Yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện Luật BHTN tại tỉnh Bắc Giang
4.4 Kiến nghị, giải pháp đề xuất
4.4.1 Giải pháp với người lao động và người sư dụng lao động
4.4.2 Giải pháp với cơ quan BHXH tỉnh Bắc Giang
4.4.3 Giải pháp đối với Nhà nước
PHẦN V KẾT LUẬNDANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 11PHẦN I MỞ ĐẦU
1.1 Sự cần thiết của đề tài
Thất nghiệp là một hiện tượng của nền kinh tế – xã hội mà gần nhưnước nào cũng gặp phải Thất nghiệp gây ra sự trì trệ của nền kinh tế, ảnhhưởng lớn tới sự phát triển, ổn định kinh tế – chính trị, xã hội, môi trường, cácgiá trị đạo đức, văn hóa của gia đình và xã hội Vì vậy, việc hạn chế thấtnghiệp đảm bảo cuộc sống cho người lao động thất nghiệp là mục tiêu, là việc
mà mỗi quốc gia cần phải làm
Tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm cao, cùng diễn biến phức tạpđang là vấn đề bức xúc hiện nay ở nước ta Do đó, Đảng và nhà nước đã banhành nhiều chính sách hỗ trợ thất nghiệp cho người lao động bị mất việc làmnhư: Quyết định 217/HĐBT, Quyết định 227/HĐBT, quyết định 176/HĐBT
… Tuy nhiên, việc ban hành thực hiện các chế độ trợ cấp mất việc làm cònnhiều bất cập chưa thực sự hiệu quả, bị động, không đảm bảo lâu dài cho cuộcsống của người lao động, … để giải quyết được các vấn đề trên cần một chính
Trang 12sách tổng thể, giải quyết tốt các vấn đề trên, vì thế Bảo hiểm thất nghiệp đãđược áp dụng.
Từ 01/01/2009, Việt Nam chính thức thực hiện Bảo hiểm thất nghiệp.Qua hơn 3 năm thực hiện, chính sách BHTN đã đạt được những kết quả bướcđầu Tuy nhiên, chính sách đó đang còn những bất cập và gặp khó khăn trongquá trình thực hiện
Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Giang là cơ quan trực thuộc Bảo hiểm xã hộiViệt Nam đóng trên địa bàn tỉnh có nhiệm vụ thu, chi bảo hiểm thất nghiệpđối với người lao động Năm 2009 là năm đầu tiên Luật bảo hiểm thất nghiệp
có hiệu lực thi hành nên mới có trên 600 người được hưởng trợ cấp bảo hiểmthất nghiệp để tìm việc làm mới Đến năm 2011 số người được giải quyết trợcấp thất nghiệp đã lên đến trên 5.000 người
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Luật bảo hiểm thất nghiệp ở BắcGiang đã nảy sinh nhiều vấn đề mà cả cơ quan bảo hiểm, các doanh nghiệp vàngười tham gia bảo hiểm phải cùng nhau giải quyết nhằm đảm bảo quyền vànghia vụ cho các bên liên quan Với mong muốn nắm được tình hình thựchiện Bảo hiểm thất nghiệp của Bắc Giang cùng những khó khăn gặp phải,
phân tích được quá trình thực hiện, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phân tích tình hình thực hiện bảo hiểm thất nghiệp tại tỉnh Bắc Giang”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện bảo hiểm xã hội thất nghiệp ởtỉnh Bắc Giang thời gian qua đề xuất các giải pháp thực hiện tốt Luật bảohiểm thất nghiệp ở Bắc Giang trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
● Góp phần hệ thống hóa và phân tích thêm một số nội dung cơ sở lý
luận và thực tiễn về BHTN
● Phân tích tình hình thực hiện chính sách BHTN ở thành phố Bắc
Giang tỉnh Bắc Giang
Trang 13● Đề xuất các giải pháp thực hiện tốt Luật bảo hiểm thất nghiệp ở Bắc
Giang trong thời gian tới
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu phân tích, đánh giá tình hình thực hiệnLuật bảo hiểm thất nghiệp tại tỉnh Bắc Giang
1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Phạm vi không gian
Đề tài nghiên cứu tại tỉnh Bắc Giang
1.4.2 Phạm vi thời gian
Đề tài nghiên cứu tình hình thực hiện bảo hiểm xã hội thất nghiệp tạitỉnh Bắc Giang giai đoạn 2010-2012
Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ 09/01/2013 - 23/05/2013
1.5 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi sau đây liênquan đến việc thực hiện Luật bản hiểm thất nghiệp ở tỉnh Bắc Giang
1 Thực trạng tình hình thực hiện bảo hiểm thất nghiệp tại tỉnh BắcGiang thời gian qua như thế nào?
2 Người lao động và doanh nghiệp nhận thức như thế nào về bảo hiểmthất nghiệp?
3 Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc thực hiện Luật bảo hiểm thấtnghiệp tại tỉnh Bắc Giang?
4 Những giải pháp nào cần đề xuất để thực hiện tốt Luật bảo hiểm thấtnghiệp tại tỉnh Bắc Giang?
Trang 14PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Giới thiệu chung về thất nghiệp
a) Khái niệm
- Lao động
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, lao động luôn được coi
là nhu cầu cơ bản nhất, chính đáng và lớn nhất của con người
P.Ăng Ghen đã khẳng định “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên củatoàn bộ đời sống con người Đến một mức và trên một ý nghia nào đó chúng
ta phải nói rằng: Lao động đã tạo ra chính bản thân con người ”
Lao động, một mặt là bộ phận của nguồn lực phát triển, đó là yếu tốđầu vào không thể thiếu được trong quá trình sản xuất Mặt khác lao động làmột bộ phận của dân số, những ngời được hưởng lợi ích của sự phát triển Sựphát triển kinh tế suy cho cùng đó là tăng trưởng kinh tế để nâng cao đời sốngvật chất, tinh thần cho con người Lao động là một trong bốn yếu tố tác độngtới tăng trưởng kinh tế và nó là yếu tố quyết định nhất, bởi vì tất cả mọi củacải vật chất và tinh thần của xã hội đều do con người tạo ra, trong đó lao độngđóng vai trò trực tiếp sản xuất ra của cải đó Lao động là một yếu tố đầu vàocủa mọi quá trình sản xuất không thể có gì thay thế hoàn toàn được lao động
Có nhiều quan điểm khác nhau về lao động nhưng nhìn chung một kháiniệm chung nhất là “Lao động là việc sư dụng lao động của con người, là hoạtđộng có mục đích của con người, hoạt động này diễn ra giữa con người vàgiới tự nhiên” Trong một xã hội dù lạc hậu hay hiện đại cũng cân đối vai tròcủa lao động, dùng vai trò của lao động để vận hành máy móc Chính quátrình lao động của con người đã tạo ra của cải vật chất cho xã hội và nuôisống chính bản thân con người
- Thất nghiệp
Vấn đề thất nghiệp đã được nhiều tổ chức,nhiều nhà khoa học bàn luận.Song cũng còn nhiều ý kiến khác nhau nhất là về thất nghiệp
Trang 15John Maynard Keynes – một nhà kinh tế học được coi là có nghiên cứukhá thành công về thất nghiệp cho rằng: “Vấn đề thất nghiệp không phải làhiện tượng độc lập của nền kinh tế mà đó là kết quả của các quy luật nhấtđịnh để đạt được sự cân bằng của hệ thống kinh tế” Theo ông nạn thất nghiệptồn tại dưới dạng bắt buộc mà trong đó “tổng cung về lao động của nhữngngười lao động muốn làm việc với tiền lương danh nghia tại một thời điểmlớn hơn khối lượng việc làm hiện có”.
Samuelson – một trong số các nhà kinh tế học hiện đại đã đưa ra lýthuyết mới về thất nghiệp: “Đó là hiện tượng người có năng lực lao độngkhông có cơ hội tham gia lao động xã hội, bị tách khỏi tư liệu sản xuất Vàtrong nền kinh tế thị trường, luôn luôn tồn tại một bộ phận người lao động bịthất nghiệp Tỷ lệ thất nghiệp cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào khảnăng giải quyết việc làm của Chính phủ và sự đấu tranh của giới thợ đốivới giới chủ”
Các quan điểm khác nhau đúng theo những cách khác nhau đã gópphần đưa ra một cái nhìn toàn diện về thất nghiệp
Tại Điều 20 Công ước số 102 (1952) của tổ chức lao động Quốc tế (gọitắt là ILO) về Quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội định nghia: “Thất nghiệp
là sự ngừng thu nhập do không có khả năng tìm được một việc làm thích hợptrong trường hợp người đó có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc, theođịnh nghia này để xác định tình trạng thất nghiệp cần hai điều kiện “có khảnăng làm việc” và “sẵn sàng làm việc” Sau đó, Công ước số 168 (1988) bổsung thêm vào định nghia này khái niệm “tích cực tìm kiếm việc làm”
Tại hội nghị Thống kê Lao động Quốc tế lần thứ tám năm 1954 tạiGiơnevơ đưa ra định nghia: “Thất nghiệp là người đã qua một độ tuổi xácđịnh mà trong một ngành hoặc một tuần xác định, thuộc những loại sau đây:
Người lao động có thể đi làm nhưng hết hạn hợp đồng hoặc bị tạmngừng hợp đồng, đang không có việc làm và đang tìm việc làm
Người lao động có thể đi làm trong một thời gian xác định và đang tìmviệc làm có lương mà trước đó chưa hề có việc làm, hoặc vị trí hành nghề
Trang 16cuối cùng trước đó không phải là người làm công ăn lương (ví dụ người sưdụng lao động chẳng hạn ) hoặc đã thôi việc.
Người lao động không có việc làm và có thể đi làm ngay và đã có sựchuẩn bị cuối cùng để làm một công việc mới vào một ngày nhất định sau mộtthời kỳ đã được xác định
Người phải nghỉ việc tạm thời hoặc không thời hạn mà không cólương”
Đến Hội nghị Thống kê Lao động Quốc tế lần thứ 13 tại Genevơ năm
1982 về Thống kê dân số hoạt động kinh tế, việc làm, thất nghiệp vừa thiếuviệc làm lại thống nhất đưa ra khái niệm về thất nghiệp như sau: “Thất nghiệpbao gồm toàn bộ số người ở độ tuổi quy định trong thời gian điều tra có khảnăng làm việc, không có việc làm và đang đi tìm kiếm việc làm”
Từ định nghia về thất nghiệp, ILO đã đưa ra bốn tiêu chí cơ bản để xácđịnh “người thất nghiệp” đó là: trong độ tuổi lao động, có khả năng lao độngđang không có việc làm, đang đi tìm việc làm
Nhìn chung, các tiêu chí này mang tính khái quát cao, đã được nhiềunước tán thành và lấy làm cơ sở để vận dụng tại quốc gia mình khi đưa ranhững khái niệm về người thất nghiệp Ví dụ như: Trong Luật bảo hiểm thấtnghiệp ở CHLB Đức (1969) định nghia: “Người thất nghiệp là người lao độngtạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện công tác ngắn hạn” ỞTrung Quốc người thất nghiệp là: “Người trong độ tuổi lao động, có sức laođộng, mong muốn tìm việc nhưng không có việc” Ở Pháp, người thất nghiệp
“là người không có việc làm, có điều kiện làm việc và đang tìm việc làm”
Ở Việt Nam từ khi chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường có sựquản lý của Nhà nước, thuật ngữ “thất nghiệp” được đề cập đến trong nhữngvăn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước ta (khởi đầu là Nghị quyết Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ VII) và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ViệtNam giai đoạn 2001- 2010, giai đoạn 2010 - 2020
Một số nhà nghiên cứu khoa học Việt Nam đã đưa ra những khái niệmvề thất nghiệp như:
Trang 17“Thất nghiệp là hiện tượng mà người có sức lao động, có nghề, muốn
đi làm việc, không có việc làm và đã đăng ký ở cơ quan có thẩm quyền” (Kỷyếu hội thảo khoa học 1988 Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội)
“Thất nghiệp là tình trạng trong đó người có sức lao động trong độ tuổilao động không có việc làm và đang cần tìm một việc làm có trả công” (Đề tàikhoa học cấp Bộ (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) năm 1996)
Năm 2006, khái niệm “người thất nghiệp” đã được luật hóa và trởthành thuật ngữ pháp lý tại khoản 4 điều 3 Luật BHXH Theo đó, người thấtnghiệp được định nghia là: “người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mấtviệc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp dồng làm việc nhưng chưatìm được việc làm”
Việc đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về “người thất nghiệp” là rấtquan trọng, từ đây sẽ tạo một cơ sở chung giúp cơ quan Nhà nước có nhữngthống kê chính xác về tình trạng thất nghiệp, và đề ra những chính sách khắcphục tình trạng thất nghiệp và những hậu quả của nó phù hợp với điều kiệnkinh tế xã hội của quốc gia
b) Phân loại thất nghiệp
Tùy theo mục đích nghiên cứu và việc lựa chọn tiêu thức phân loại, cónhiều hình thái thất nghiệp khác nhau:
- Căn cứ vào tính chất thất nghiệp: Thất nghiệp được phân thành các loại:
● Thất nghiệp tự nhiên: Loại thất nghiệp này xảy ra do quy luật Cung
cầu của thị trường sức lao động tác động Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là tỷ lệthất nghiệp thấp nhất mà một nền kinh tế có thể đạt được Tỷ lệ này xảy ra khimức GNP thực tế đạt được mức GNP tiềm năng Nói một cách khác, khi GNPthực tế thấp hơn GNP tiềm năng, sẽ có một bộ phận người lao động thấtnghiệp
● Thất nghiệp cơ cấu: Xảy ra khi mất cân đối giữa Cung và cầu về các
loại lao động Cụ thể cầu về loại lao động này tăng lên, cầu về loại lao độngkhác giảm đi, cung điều chỉnh không kịp cầu Trong nền kinh tế thị trường, sẽ
có những ngành kinh tế phát triển thu hút thêm lao động, nhưng cũng có
Trang 18những ngành bị thu hẹp làm một bộ phận người lao động bị dư thừa và trởthành thất nghiệp
● Thất nghiệp tạm thời (thất nghiệp bề mặt): Loại thất nghiệp này phát
sinh do nhu cầu của sản xuất hoặc của bản thân người lao động cần đượcchuyển việc (bao gồm cả việc chuyển đến nơi làm việc mới) Trong thời gianchờ đợi sắp xếp công việc mới, người lao động được coi là thất nghiệp tạmthời (thất nghiệp bề mặt) Loại thất nghiệp này diễn ra thường xuyên vàkhông đáng lo ngại
● Thất nghiệp chu kỳ: Kinh tế phát triển mang tính chu kỳ, sau giai
đoạn hưng thịnh là giai đoạn suy thoái Trong giai đoạn suy thoái, mức cầuchung về lao động giảm và do vậy làm gia tăng thất nghiệp Loại thất nghiệpnày diễn ra theo chu kỳ và mang tính quy luật
● Thất nghiệp thời vụ: Do tính chất mùa vụ của sản xuất, đặc biệt là sản
xuất nông nghiệp nên những người lao động trong các ngành nghề này không
có việc làm thường xuyên và trở thành thất nghiệp mùa vụ
● Thất nghiệp công nghệ: Do áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và
công nghệ vào sản xuất, máy móc thay thế con người, chỉ cần một số ít ngườivận hành, một bộ phận người lao động trong các dây truyền sản xuất bị dôi ra,trở thành thất nghiệp công nghệ
- Căn cứ vào ý chí của người lao động: Thất nghiệp được phân thành 2 loại:
● Thất nghiệp tự nguyện: Là hiện tượng người lao động từ chối một
công việc nào đó do mức lương được trả không thỏa đáng hoặc do không phùhợp với trình độ chuyên môn, mặc dù họ vẫn có nhu cầu làm việc
● Thất nghiệp không tự nguyện: Là hiện tượng người lao động có khả
năng lao động, có nhu cầu làm việc và chấp nhận mức lương được trả, nhưngngười sư dụng lao động không chấp nhận hoặc không có người sư dụng nêntrở thành thất nghiệp
- Căn cứ vào mức độ thất nghiệp: Thất nghiệp được phân thành 2 loại:
Trang 19● Thất nghiệp toàn phần: Là trường hợp người lao động hòan toàn
không có việc làm hoặc thời gian làm việc thực tế mỗi tuần dưới 8 giờ và họvẫn có nhu cầu làm thêm
● Thất nghiệp bán phần: Là trường hợp người lao động vẫn có việc
làm, nhưng khối lượng công việc ít hoặc thời gian lao động thực tế trung bìnhchỉ đạt 3 đến 4 giờ trong một ngày làm việc và họ vẫn có nhu cầu làm thêm
c) Đo lường các chỉ số về thất nghiệp
- Chỉ tiêu tuyệt đối: Thông qua điều tra, người ta có thể thu nhập được
số liệu về số lượng người thất nghiệp bằng cách định kỳ, các cơ quan củaChính phủ sẽ tiến hành điều tra và xếp những người từ 15 tuổi vào 1 trong 3nhóm sau:
● Có việc làm: sư dụng hầu hết thời gian trong tuần để làm một công
việc được trả lương
● Thất nghiệp: những người muốn làm việc nhưng hiện thời chưa có
việc làm
● Không nằm trong lực lượng lao động: là những người không
thuộc hai nhóm trên (sinh viên dài hạn, người nghỉ hưu, người nội trợ…)
Trong đó lực lượng lao động = số người có việc làm + số người thất nghiệp Sau đó tính các chỉ số tương đối.
- Chỉ tiêu tương đối
● Tỉ lệ thất nghiệp
Khái niệm: Tỉ lệ thất nghiệp là tỉ lệ phần trăm số lao động thất nghiệp
so với tổng lực lượng lao động
Trang 20Chỉ tiêu này phản ánh mức độ thiếu việc làm hay mức độ cung việc làmcho người lao động, tỉ lệ càng thấp mức độ đáp ứng việc làm cho người laođộng càng cao.
● Tỉ lệ tham gia lực lượng lao động
Khái niệm: Tỉ lệ tham gia lực lượng lao động là tỉ lệ phần trăm tổng sốlực lượng lao động so với tổng số người từ 15 tuổi trở lên
● Tỷ lệ thất nghiệp theo giới tính: được tính bằng số người thất nghiệpnam hoặc nữ giới trên tổng dân số nam hoặc nữ hoạt động kinh tế
● Tỷ lệ thất nghiệp theo nhóm tuổi: được tính bằng số người thấtnghiệp ở độ tuổi x hoặc nhóm tuổi (x, x+n) trên tổng dân số hoạt động kinhtế của tuổi hoặc nhóm tuổi đó
● Tỷ lệ thất nghiệp theo trình độ chuyên môn kỹ thuật: được tính bằng
số người thất nghiệp của một trình độ chuyên môn kỹ thuật trên tổng dân sốhoạt động kinh tế của trình độ chuyên môn kỹ thuật đó
● Tỷ lệ thất nghiệp theo vùng: được tính bằng số người thất nghiệp củamột vùng trên tổng dân số hoạt động kinh tế của vùng đó
c) Nguyên nhân và hậu quả của thất nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, có rất nhiều nguyên nhân gây ra thấtnghiệp, dưới đây là một số nguyên nhân chính:
- Do sự điều tiết của thị trường, chu kỳ kinh doanh có thể mở rộng haythu hẹp: Khi mở rộng thì thu hút thêm lao động, khi bị thu hẹp thì lại dư thừalao động, từ đó làm cho cung cầu trên thị trường sức lao động thay đổi, làmphát sinh hiện tượng thất nghiệp
Trang 21- Do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật: Việc áp dụng các tiến bộ khoahọc kỹ thuật, đặc biệt là sự tự động hóa các quá trình sản xuất nên trong mộtchừng mực nhất định máy móc đã thay thế con người, làm số người thấtnghiệp tăng lên.
- Do sự gia tăng dân số và nguồn lao động, cùng với quá trình quốc tếhóa và toàn cầu hóa nền kinh tế: Nguyên nhân này chủ yếu diễn ra ở các nướcđang phát triển Ở những nước này, dân số và nguồn lao động thường tăngnhanh Để hội nhập với nền kinh tế thế giới một cách nhanh chóng, các nướcđang phát triển phải tiến hành cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới và sắp xếp lạicác doanh nghiệp Những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ phải giải thể và phásản, số doanh nghiệp còn lại phải nhanh chóng đầu tư theo chiều sâu, đổi mớithiết bị và công nghệ, sư dụng ít lao động dẫn đến lao động dư thừa
- Do người lao động không ưa thích công việc đang làm hoặc địa điểmlàm việc: Những người này phải đi tìm công việc mới, địa điểm mới, và trongthời gian chưa tìm được việc làm phù hợp, họ trở thành thất nghiệp
- Do tính chất mùa vụ của sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệpnên những người lao động trong các ngành nghề này không có việc làmthường xuyên và trở thành thất nghiệp mùa vụ
- Do nhu cầu của sản xuất hoặc của bản thân người lao động cần đượcchuyển việc (bao gồm cả việc chuyển đến nơi làm việc mới) Trong thời gianchờ đợi sắp xếp công việc mới, người lao động được coi là thất nghiệp tạmthời (thất nghiệp bề mặt) Loại thất nghiệp này diễn ra thường xuyên vàkhông đáng lo ngại
Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế - xã hội, do tác động của nhiềuyếu tố kinh tế - xã hội, có ảnh hưởng đến quá trình phát triển của đất nước.Dưới đây là một số tác độngcũng như ảnh hưởng của thất nghiệp đến sự pháttriển kinh tế - xã hội:
- Thất nghiệp ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát.
Trang 22Thất nghiệp tăng là sự lãng phí lao động xã hội (nhân tố phát triển kinhtế - xã hội) Thất nghiệp tăng lên dẫn đến tổng thu nhập quốc gia thực tế thấphơn tiềm năng Thất nghiệp tăng khiến nền kinh tế đang bị suy thoái, suythoái do thiếu vốn đầu tư vì vốn ngân sách bị thu hẹp,…, là nguyên nhân đẩynền kinh tế đến sự lạm phát.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) giảm dẫn đến tỉ lệ thất nghiệp giảm,kéo theo tỉ lệ lạm phát giảm Mối quan hệ nghịch lí 3 chiều này cần đượcquan tâm khi tác động các nhân tố kích thích phát triển kinh tế - xã hội
- Thất nghiệp ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của người lao động.
Người lao động bị thất nghiệp sẽ mất đi nguồn thu nhập, cuộc sống của
họ cùng gia đình sẽ gặp khó khăn Việc này ảnh hưởng tới sức khỏe, chuyệnđến trường của con cái do kinh tế gia đình khó khăn, điều kiện chăm sóc y tếgiảm sút, khó khăn trong việc khả năng học hỏi, đào tạo lại hoắc chuyển nghềmới, … Thất nghiệp khiến người lao động gặp khó khăn trong cuộc sống, cókhi đẩy họ đến sự bần cùng, chán nản, dẫn đến những hậu quả nghiêm trọngkhác, …
- Thất nghiệp ảnh hưởng đến trật tự và an toàn xã hội.
Thất nghiệp tăng làm trật tự xã hội không ổn định, các hiện tượng bãicông, biểu tình, … nhiều lên, các tiêu cự xã hội như trộm cắp, cờ bạc, nghiệnhút, … tăng cao, phát sinh nhiều dạng tội phạm mới và nguy hiểm, … gâymất lòng tin, ảnh hưởng tới sự ủng hộ của người dân, lao động tới nhà cầmquyền,… Có thể thấy thất nghiệp không chỉ gây ra những xáo trộn trong xãhội mà còn gây ra những biến động về chính trị
Thất nghiệp là vấn đề nan giải của quốc gia Giải quyết thất nghiệp làchuyện lâu dài, cần được coi trọng trong suốt quá trình phát triển kinh tế - xãhội Trong các chính sách và biện pháp để khắc phục tình trạng thất nghiệp thìBảo hiểm thất nghiệp giữ vị trí quan trọng
2.1.2 Bảo hiểm thất nghiệp
Trang 23a) Sự ra đời của BHTN
BHTN được xuất hiện lần đầu ở Châu Âu, bắt nguồn từ nghề sản xuấtcác mặt hàng thủy tinh ở Thụy Si Nghể này được tổ chức trong một phạm vinhỏ hẹp với khoảng 20 – 30 công nhân Do rất cần thợ lành nghề và để giữđược những người thợ có tay nghề cao gắn bó với mình, năm 1893 các chủdoanh nghiệp ở Thụy Si đã lập ra quỹ trợ cấp cbo người thợ vì lí do thời vụ ảnxuất phải nghỉ việc Nhiều nghiệp đoàn ở Châu Âu cũng đã lập ra quỹ côngđoàn để trợ cấp cho công nhân nghỉ việc và mất việc sau đó Tiền trợ cấpđược tính vào giá thành sản phẩm và do người tiêu dùng chịu, nhận thấy đượctác dụng và vai trò của việc trợ cấp này nhiều địa phương đã liên kết cácdoanh nghiệp, nghiệp đoàn lao động để hình thành quỹ trợ cấp, tiền thân củaquỹ BHTN Năm 1893, Quỹ BHTN tự nguyện ra đời đầu tiên tại Bern (ThụySi), tham gia đóng góp quỹ có cả chủ doanh nghiệp, những người lao động cóviệc làm không ổn định và sự đóng góp của chính quyền địa phương, trungương nhằm tăng quy mô của quỹ
Năm 1900 và 1910, Na Uy và Đan Mạch ban hành đạo luật quốc gia vềBHTN tự nguyện có sự hỗ trợ về tài chính của Nhà nước
Năm 1911, Vương quốc Anh ban hành đạo luật đầu tiên về BHTN bắtbuộc và tiếp sau đó là một số nước khác ở Châu Âu như: Thụy Điển, Cộnghòa Liên bang Đức, …
Sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933) một số nướcChâu Âu và Bắc Mỹ ban hành Đạo luật về BHXH và BHTN như: năm 1935 ởMỹ, năm 1939 ở Canada,
Sau khi có Công ước số 102, năm 1952 của ILO (Tổ chức lao độngquốc tế) thì một loạt nước trên thế giới đã triển khai BHTN và trợ cấp thấtnghiệp Tính đến năm 1981, có 7 nước đã thực hiện BHTN tự nguyện và 30nước thực hiện BHTN bắt buộc, năm 1992 có 12 nước thực hiện BHTN tựnguyện và 39 nước thực hiện BHTN bắt buộc, các nước ở Châu Á cũng đãthực hiện BHTN như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, …
b) Khái niệm BHTN
Trang 24BHTN là quá trình tổ chức và sư dụng quỹ tiền tệ tập trung – quỹBHTN – do sự đóng góp của các bên tham gia ( người sư dụng lao động,người lao động, sự hỗ trợ của Nhà nước) nhằm đảm bảo cuộc sống cho ngườilao động khi gặp rủi ro về việc làm Trợ cấp thất nghiệp của Nhà nước, trợcấp thôi việc, trợ cấp mất việc khác với việc hình thành quỹ BHTN là một quátrình liên tục có sự tham gia của các bên liên quan cùng đóng góp: người laođộng, người sư dụng lao động, sự hỗ trợ của Nhà nước BHTN còn là sự đónggóp chung rủi ro giữa các doanh nghiệp với nhau.
c) Đối tượng và pham vi của BHTN
BHTN là một bộ phận của BHXH, là bảo hiểm bồi thường cho ngườilao động bị thiệt hại về thu nhập do mất việc làm để họ ổn đinh cuộc sống và
có điều kiện tham gia vào thì trường lao động
Mục đích của BHTN là trợ giúp một phần nào đó về mặt tài chính chongười thất nghiệp giúp họ ổn định cuộc sống, tạo điều kiện tham gia vào thìtrường lao động với những cơ hội việc làm mới
BHTN có nhiều điểm khác so với các loại hình khác như: Không cóhợp đồng khác, người tham gia và người thụ hưởng quyền lợi là một, không
có việc chuyển rủi ro của người bị thất nghiệp sang người có khả năng thấtnghiệp BHTN không có dự báo chính xác về số lượng và phạm vi, có thể bịthiệt hại về kinh tế rất lớn, đặc biệt là trong những thời kì nền kinh tế bịkhủng hoảng
Đối tượng của BHTN giống đối tượng của BHXH đó là thu nhập củangười lao động Đối tượng tham gia BHTN cũng là người lao động và người
sư dụng lao động (đối tượng tham gia rộng hay hẹp là tùy thuộc vào quy định
và điều kiện cụ thể của từng nước), đa số các nước đều quy định đối tượngtham gia BHTN là người có khả năng lao động và trong độ tuổi lao động, baogồm:
● Những người làm công ăn lương trong các doanh nghiệp có sư dụngmột số lượng lao động nhất định
Trang 25● Những người làm việc theo hợp đồng lao động với một thời gian nhấtđịnh (thường là một năm trở lên) trong các doanh nghiệp, các cơ quan đoànthể, các đơn vị hành chính sự nghiệp (theo quy định của nhà nước).
Những người lao động độc lập, những người làm thuê theo mùa, nhữngcông nhân,viên chức Nhà nước thường không thuộc đối tượng tham giaBHTN Bởi khi làm công chức nhà nước, họ được tuyển dụng và bổ nhiệmlâu dài nên khả năng thất nghiệp thấp, nếu không công việc của họ khó xácđịnh thu nhập để xác định phí bảo hiểm, thời gian làm việc ngắn, công việckhông ổn định và không đủ thời gian đống phí bảo hiểm Vì rủi ro trong việclàm cũng xuất phát từ người sư dụng lao động trong chừng mực nào đó, nên
họ cũng có trách nhiệm đóng góp BHTN cho người lao động mà họ sư dụng.Rủi ro trong BHTN là rủi ro việc làm, rủi ro nghề nghiệp
Đối tượng tham gia của BHTN ít hơn so với BHXH
Người lao động tham gia BHTN bị mất việc làm họ sẽ được hưởng trợcấp BHTN
Điều kiện để được hưởng trợ cấp BHTN như sau:
● Người tham gia bảo hiểm phải nộp phí bảo hiểm trong một thời giannhất định
● Thất nghiệp không phải do lỗi của người lao động
● Phải đăng kí thất nghiệp, đăng kí tìm việc làm tại Cơ quan lao động
có thẩm quyền do Nhà nước quy định
Để được hưởng trợ cấp BHTN, người lao động phải có một thời giannhất định đã tham gia vào BHTN Việc đặt ra thời gian này có nhiều tác dụng:
Trang 26đảm bảo chỉ những người thường xuyên tham gia hoạt động kinh tế mới đượcxem như bị mất thu nhập do thất nghiệp Ngoài ra quỹ BHTN có thể đảm bảo
số đóng góp của mỗi người lao động đạt tới một mức tối thiểu trước khi xảy
ra thất nghiệp Điều này góp phần cân đối quỹ tài chính của BHTN
d) Nguồn hình thành quỹ BHTN
Tùy theo bộ máy và cách thức tổ chức bộ máy BHTN của từng nước
mà nguồn hình thành, mục đính sư dụng và cơ chế quản lý quỹ có sự khácnhau:
- Nếu BHTN được coi là một nhánh (1 chế độ) nằm trong hệ thốngBHXH thì quỹ BHTN phải nằm trong quỹ BHXH và được tập chung thốngnhất hoặc tách ra thành các quỹ thành phần, trong đó có quỹ BHTN
- Nếu BHTN được tổ chức một cách độc lập thì quỹ BHTN được hìnhthành một cách độc lập
Tuy nhiên, dù tổ chức và quản lý theo cách thức nào chằng nữa thì việchình thành quỹ BHTN của các quốc gia đều tập trung vào hai hoặc ba đốitượng: người lao động, người sư dụng lao động và Nhà nước Kinh nghiệmcủa các nước thực hiện BHTN cho thấy: hầu hết các quốc gia đều có sự hỗ trợhoặc đóng góp trực tiếp cho việc hình thành quỹ Do vậy nguồn quỹ đượchình thành từ sự đóng góp của ba bên là hợp lý Sự đóng góp này tạo ra sựràng buộc giữa nghia vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham giaBHTN
Cũng giống như BHXH, người tham gia BHTN và NSDLĐ đónggóp bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định so với tiền lương và tổng quỹlương, nhà nước cũng phải tham gia đóng góp vào quỹ BHTN Nhà nước cóthể tham gia theo một trong hai hình thức sau:
- Đóng góp thường xuyên thông qua việc trích ngân sách hỗ trợ quỹBHTN
- Nhà nước chỉ tham gia với tư cách là người bảo hộ khi đóng góp củaNLĐ và NSDLĐ không bù đắp các khoản chi hoặc khi quỹ BHTN có nhữngbiến động lớn do lạm phát…
Trang 27Mức độ tham gia đóng góp vào quỹ BHTN trong những năm gần đâycủa một số nước thực hiện BHTN cũng rất khác nhau.
e) Sử dụng quỹ BHTN
Nếu BHTN là một chế độ của BHXH thì việc sư dụng quỹhoàn toàn giống như việc sư dụng quỹ BHXH Tuy nhiên, chế độ BHTNcòn tùy thuộc vào mức độ cụ thể hóa của Luật BHXH
Nếu BHTN được triển khai độc lập thì quy BHTN được sư dụng chủyếu cho 3 mục đích sau:
- Chi trả các chế độ BHTN (chi trả trợ cấp thất nghiệp, chi hỗ trợ đàotạo và đào tạo lại, chi tìm kiếm việc làm)
- Chi quản lý
- Chi dự phòng
Cũng giống như quỹ BHXH, quỹ BHTN nếu triển khai độc lập thì cơchế quản lý quỹ vẫn là cơ chế cân bằng thu chi, không vì mục tiêu lợi nhuận,phần quỹ nhàn rỗi vẫn được đem đầu tư đầu tư để sinh lời theo 3 nguyên tắc:
an toàn, hiệu quả và đảm bảo khả năng thành toán
Ba nguyên tắc này có thể nói là bất di bất dịch, được sư dụng để quảnlý các loại quỹ mang tính chất xã hội
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm về thực hiện BHTN của một số nước trên thế giới
a) BHTN tại Cộng hòa Liên bang Đức
Theo cơ quan việc làm Liên bang Đức (IAB), BHTN được bắt đầu tổchức triển khai ở nước này vào năm 1919 và được chính thức hóa bằng bộluật BHXH vào năm 1927 (Dịch vụ việc làm và BHTN Đạo luật BHTN hiệnhành được thông qua năm 1997 (Xúc tiến việc làm) BHTN là một chươngtrình BHXH bắt buộc dựa trên sự đóng góp tài chính của người lao động vàngười sư dụng lao động Đối tượng áp dụng là những người làm công, bàogồm cả những người làm việc tại nhà, những người đang học việc, thực tậpsinh Những đối tượng khác (bao gồm cả những người đang theo các khóađào tạo nghề) cũng thuộc diện bảo vệ tùy theo từng điều kiện Không thuộcdiện bảo vệ những người được thuê làm việc không ổn định Hiện tại, người
Trang 28lao động được bảo hiểm đóng 3,25% thu nhập được bảo hiểm Thu nhập hàngnăm tối đa được bảo hiểm là 63.000 euro Người sư dụng lao động đóng3,25% thu nhập được bảo hiểm còn Chính phủ thì cho vay hoặc trợ cấp khi cóthâm hụt quỹ BHTN.
Điều kiện hưởng BHTN ở Đức được quy định như sau:
+ Người lao động phải có hợp đồng lao động tối thiểu 12 tháng trongmột giai đoạn xem xét (3 năm cuối trước khi đăng ký thất nghiệp) và đã đóngBHTN bắt buộc Đối với người lao động làm việc thường xuyên dưới 12tháng trong một năm vì lí do đặc thù của công việc (lao động thời vụ), thì chỉcần có đủ 6 tháng làm việc và đóng BHTN bắt buộc Người lao động nướcngoài có công việc thường xuyên có thể được nhận BHTN theo các điều kiệntương tự như người lao động Đức
+ Phải đăng ký thất nghiệp, sẵn sàng nhận công việc mới, phải đưa rabằng chứng về sự nỗ lực tìm việc làm Khi đã đăng kí thất nghiệp, phải cótrách nhiệm báo cáo với với cơ quan việc làm nếu được yêu cầu
BHTN được chi trả hàng tháng, theo tỷ lệ 67% hoặc 60% mức lươngthực tế tháng cuối cùng của người lao động trước khi bị thất nghiệp (lươngnày không bao gồm các khoản thu nhập và tài sản khác) Cụ thể, người thấtnghiệp được hưởng 60% lương thực tế (lương sau khi đã trừ đi các khoảnđóng góp bắt buộc như thuế thu nhập, BHXH, BHYT) Trong trường hợpngười lao động có ít nhất một trẻ em phụ thuộc sẽ được nhận mức BHTN là67% lương thực tế
Mức hưởng BHTN có sự khác biệt phụ thuộc vào mức lương đóngBHTN Tuy vậy, Đức quy định một mức trần đóng BHTN để xác định mứctrợ cấp BHTN tối đa Mức trần này được đièu chỉnh hàng năm theo mứclương chung Sau khi mất việc làm, người thất nghiệp được giải quyết nhậntrợ cấp BHTN ngay mà không có giai đoạn chờ áp dụng Thời gian hưởng tùythuộc vào thời gian làm việc có đóng BHTN trước đó (trong giai đoạn 7 năm
Trang 29trước khi thất nghiệp) và tuổi của người thất nghiệp Chẳng hạn: nếu thời gianlàm việc có đóng BHTN là 24 tháng và độ tuổi của người bị thất nghiệp dưới
45 thì thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp là 12 tháng Tương tự nếu thời gianlàm việc có đóng BHTN là 36 tháng, nhưng tuổi của người bị thất nghiệp là
50 thì thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ là 18 tháng.v.v
Ở Cộng hòa Liên bang Đức, BHTN là một chế độ nằm trong hệ thốngchế độ BHXH, bao gồm bảo hiểm hưu trí, BHTN, bảo hiểm Tai nạn lao động– Bệnh nghề nghiệp và bảo hiểm chăm sóc sức khỏe.v.v Bộ Lao động vàchính sách xã hội Liên bang thực hiện giám sát chung Cơ quan việc làm địaphương chịu trách nhiệm sắp xếp việc làm, chỉ dẫn việc làm, quản lí trợ cấp.Vì là một chế độ BHXH, nên việc tổ chức triển khai BHTN cũng nằm trong
hệ thống tổ chức BHTN Tổ chức này được phân theo các cấp tương ứng vớicác cấp chính quyền trong cả nước Việc xét trợ cấp BHTN, việc quản lí chếđộ BHTN cũng tương tự như các chế độ BHXH khác Duy chỉ có quỹ BHTNđược gộp vào quỹ trợ cấp ốm đau để hình thành một quỹ thành phần Quỹ này
có nhiệm vụ thu các khoản đóng góp của người lao động và người sư dụnglao động
b) BHTN tại Mỹ
Tại Mỹ, BHTN được thực hiện từ năm 1935 BHTN cung cấp khoảntrợ cấp cho những người lao động bị thất nghiệp mà không phải do lỗi của họ.Khoản trợ cấp này nhằm tạo ra sự hỗ trợ tài chính tạm thời cho người thấtnghiệp Từng bang ở Mỹ quản lí chương trình BHTN riêng của mình theo cácquy định trong Luật pháp Liên bang Điều kiện hưởng, mức hưởng, thời gianhưởng trợ cấp do luật pháp từng bang quy định Ở hầu hết các bang của Mỹ,quỹ BHTN được tài trợ dựa trên khỏan thuế đánh vào chủ sư dụng lao động.Chỉ có 3 bang yêu cầu khoản đóng góp tối thiểu của người lao động
Đối tượng áp dụng BHTN ở Mỹ là người lao động trong các doanhnghiệp công nghiệp và thương mại, người lao động trong các tổ chức phi lợi
Trang 30nhuận có sư dụng từ 4 lao động trở lên trong 20 tuần trong 1 năm hoặc trả
1500 đô la hoặc hơn cho một quý theo lịch trong 1 năm Người lao động làmviệc cho chính quyền Liên bang và chính quyền địa phương, người lao động ởcác nông trang, quân nhân đều thuộc diện bảo vệ Không thuộc đối tượng ápdụng: một số lao động trong linh vực nông nghiệp, người lao động trong cáctổ chức tôn giáo, người lao động trong gia đình, người không có việc làm cốđịnh, người tự tạo việc làm Người lao động trong linh vực đường sắt cóchương trình riêng
Nguồn quỹ BHTN được hình thành như sau:
+ Người lao động làm thuê không phải đóng góp
+ Người sư dụng lao động: Đóng góp vào chương trình Thuế LiênBang 0,8% thu nhập chịu thuế (Mức đóng đầy đủ là 6,2% nhưng trong đó5,4% là khoản cho nợ nếu các bang đáp ứng yêu cầu của Liên Bang) Đónggóp vào chương trình của bang: tỷ lệ đóng là 5,4% thu nhập chịu thuế
+ Chính phủ: Nguồn chi từ thuế Liên bang được sư dụng để trang trảichi phí quản lí chương trình BHTN của Bang, cho các bang vay để chi trả trợcấp BHTN, hoặc để tài trợ cho các chương trình trợ cấp mở rộng Nguồn thutừ thuế của Bang được sư dụng để chi trả trợ cấp BHTN
Điều kiện hưởng trợ cấp BHTN là:
+ Người lao động phải có việc làm được trả công trong một khoảngthời gian nhất định trước khi thất nghiệp (thời gian “cơ sở”) Ở hầu hết cácbang của Mỹ đều quy định thời gian là 4 trong 5 quý ngay trước khi người laođộng xin hưởng trợ cấp BHTN
Thất nghiệp không phải do lỗi của người lao động:
+ Người lao động phải có khả năng làm việc, sẵn sàng làm việc, đangtích cực tìm việc làm
+ Phải là công dân Mỹ hoặc làm việc hợp pháp tại Mỹ
Trang 31Người lao động sẽ không đủ điều kiện hưởng trợ cấp nếu tự ý bỏ việc
mà không có lí do chính đáng, bị sa thải vì không tuân thủ quy định làm việc,từ chối việc làm phù hợp Người lao động sẽ không được hưởng trợ cấp nếutham gia vào các cuộc tranh chấp lao động Thời gian mất quyền được hưởngcác bang quy định khác nhau và phụ thuộc vào lí do mất quyền hưởng Khi bịthất nghiệp, người thất nghiệp cần liên lạc ngay với cơ quan BHTN ở từngbang (liên lạc càng sớm càng tốt) Ở một số bang, người thất nghiệp có thểđiền vào hồ sơ yêu cầu hưởng trợ cấp thông qua điện thoại hoặc internet.Trong hồ sơ yêu cầu hưởng trợ cấp, người thất nghiệp phải cung cấp các tàiliệu và các thông tin về thẻ An sinh xã hội, địa chỉ, số điện thoại của nơi làmviệc và khoảng thời gian làm việc trước khi thất nghiệp, tài liệu chứng minhvề mất việc làm (ví dụ như thư từ người sư dụng lao động)
Nhìn chung mức hưởng BHTN được xác định là tỷ lệ % thu nhập của
cá nhân trong khoảng thời gian 52 tuần gần nhất Mưc trợ cấp vào khoảng50% thu nhập của người được bảo hiểm (thường bằng 50% tiền lương tuầntrung bình của bang) Ở hầu hết các bang thời gian tối đa được hưởng trợ cấp
là 26 tuần Trong thời kỳ mà tỷ lệ thất nghiệp cao, thời gian hưởng trợ cấp sẽđược kéo dài thêm một số tuần
BHTN ở Mỹ được tổ chức thành hệ thống độc lập, tách khỏi BHXH.Cụ thể, Bộ Lao động thực hiện việc quản lí ở cấp quốc gia thông qua cơ quanquản lí đào tạo việc làm và cơ quan đảm bảo lực lượng lao động Cơ quanĐảm bảo lực lượng lao động ở từng bang chịu trách nhiệm quản lí chươngtrình riêng của từng bang, một nưa trong số này là các cơ quan thuộc bộ máychính quyền, số còn lại là các hội đồng độc lập Các cơ quan này có nhiệm vụ
là triển khai BHTN theo đúng pháp luật Cụ thể là tổ chức quản lí quỹ BHTN,chi trả trợ cấp BHTN, đăng kí thất nghiệp và trực tiếp đứng ra giới thiệu việclàm cho những người lao động bị thất nghiệp Nhìn chung từng bang đứng ratổ chức, còn cơ quản quản lí đào tạo việc làm và cơ quan đảm bảo lực lượng
Trang 32lao động thuộc Bộ lao động chỉ quản lí chung và giám sát quá trình tổ chứccủa các bang theo đúng pháp luật.
c) BHTN tại Nhật Bản
Tại Nhật Bản, Luật BHTN được ban hành lần đầu vào năm 1947 Đếnnăm 1974, Luật bảo hiểm việc làm được ban hành thay thế cho Luật BHTN.Bảo hiểm việc làm là một chế độ bảo hiểm bắt buộc do Chính phủ quản lí liênquan đến việc hoàn thành một cách toàn diện, cung cấp các phúc lợi bao gồm:Các khoản trợ cấp thất nghiệp (Trợ cấp tìm việc làm, trợ cấp xúc tiền việclàm, trợ cấp đào tạo và dạy nghề, trợ cấp tiếp tục làm việc), và 3 loại dịch vụ:
Ổn định việc làm (ngăn ngừa thất nghiệp, cải thiện điều kiện làm việc, tăng cơhội việc làm), Phát triển nguồn nhân lực (phát triển, trau dồi năng lực chongười lao động bằng việc xây dựng và quản lí các cơ sở đào tạo), phúc lợi xãhội cho người lao động (tư vấn, dịch vụ hỗ trợ tìm việc làm, tuyển dụng.v.v.)
Đối tượng áp dụng bao gồm:
+ Người làm công dưới 65 tuổi
+ Với những người làm công trong các cơ sở sản xuất nông, lâm, ngưnghiệp có sư dụng dưới 5 lao động thường xuyên thuộc diện tham gia BHTNtự nguyện
+ Không áp dụng với những người lao động theo mùa vụ có thời hạnlao động là 5 tháng hoặc thấp hơn
+ Với những người lao động giúp việc nhà hàng ngày, thủy thủ và côngchức Nhà nước có các chương trình BHTN riêng
Nguồn quỹ BHTN đựợc hình thành do:
+Người được bảo hiểm đóng 0,8% tiền lương Với người lao động làmviệc trong các cơ sở nông lâm, ngư nghiệp và trong các nhà máy sản xuấtrượu sakê, tỷ lệ đóng là 0,9% tiền lương
Trang 33+ Người sư dụng lao động đóng 1,15% quỹ lương Với các cơ sở nông,lâm ngư nghiệp và các nhà máy sản xuất rượu sakê, tỷ lệ đóng là 1,25% quỹlương Với công nhân xây dựng là 1,35% quỹ lương.
+ Chính phủ hỗ trợ 25% các khoản chi trợ cấp thất nghiệp và các khoảntrợ cấp đặc biệt
Điều kiện hưởng trợ cấp BHTN là:
+ Người lao động phải có 6 tháng làm việc có đóng bảo hiểm trong 12tháng gần nhất Với người làm việc bán thời gian phải có 1 năm làm việc cóđóng bảo hiểm trong 2 năm gần nhất
+ Phải đăng ký với “cơ quan đảm bảo việc làm công cộng”, có khảnăng làm việc, sẵn sàng làm việc, cứ 4 tuần 1 lần, người thất nghiệp phải báocáo với cơ quan đảm bảo việc làm công cộng
+ Thất nghiệp không phải do tự ý bỏ việc, không chấp hành nội quylàm việc, từ chối việc làm phù hợp hoặc không tham gia các khóa đào tạonghề
Mức trợ cấp BHTN được quy định như sau:
+ Mức trợ cấp BHTN từ 50% đến 80% tiền công nhật trung bình củangười được bảo hiểm trong thời gian 6 tháng trước khi thất nghiệp (với người
có tiền công thấp hơn thì tỷ lệ trả là cao hơn) Nếu người được bảo hiểm từ 60đến 64 tuổi, tỷ lệ trợ cấp là từ 45% đến 80% Mức trợ cấp hàng ngày tối thiểu
là 1.688 yên (1USD = 112,26 yên) Mức trợ cấp hàng ngày tối đa là 7.935yên
+ Bên cạnh trợ cấp thu nhập, người thất nghiệp còn có thể được nhậntrợ cấp đặc biệt hàng ngày hoặc hàng tháng Trợ cấp này nhằm giúp ngườithất nghiệp trang trải các chi phí đào tạo nghề và tìm việc làm Muốn đượchưởng trợ cấp, người được bảo hiểm phải thuộc diện bảo hiểm trong thời gian
ít nhất 3 năm và phải tham gia các khóa đào tạo nghề đã được hoạch định.Thời gian trợ cấp từ 90 đến 150 ngày phụ thuộc vào thời gian tham gia bảo
Trang 34hiểm, độ tuổi, lí do thất nghiệp, triển vọng việc làm Người thất nghiệp sẽđược trợ cấp thêm từ 90 đến 330 ngày nếu họ bị thất nghiệp từ những ngànhđang suy thoái, hoặc bị ốm đau, hoặc đang tham gia các khóa đào tạo.
Tại Nhật Bản, các chế độ BHXH bao gồm 2 phần: BHXH (gồm bảohiểm hưu trí, BHYT) và bảo hiểm lao động (gồm bảo hiểm việc làm, bảohiểm bồi thường tai nạn cho người lao động.v.v Chế độ bảo hiểm hưu trí vàBHYT do cơ quan BHXH quản lí và tổ chức thực hiện Bảo hiểm việc làm do
cơ quan Bảo đảm việc làm của Chính phủ thực hiện Bảo hiểm bồi thường tainạn cho người lao động do cơ quan Thanh tra lao động thực hiện Cụ thể, Bộ
Y tế, Lao động và Phúc lợi chịu trách nhiệm quản lí và giám sát chung CụcĐảm bảo việc làm thuộc Bộ này trực tiếp đứng ra tổ chức BHTN Nhiệm vụchính của cục là tổ chức BHTN xuống tận cấp huyện Đứng ra thu, chi vàquản lí quỹ BHTN, xét trợ cấp thất nghiệp, đào tạo và đào tạo lại tay nghề,tìm kiếm việc làm cho người lao động.v.v
Như vậy, BHTN tại Nhật Bản được tổ chức thành một hệ thống độclập, tách khỏi BHXH
d) BHTN tại Trung quốc
Trong thời kì kinh tế kế hoạch, Chính phủ Trung Quốc đưa ra mục tiêuthanh toán thất nghiệp Trên cơ sở đó đã thống nhất sắp xếp việc làm cho laođộng thành thị, thực hiện chính sách “nhiều việc làm, lương thấp” và biệnpháp “5 người nuôi 3 người” Kết quả là mọi người lao động đều có việc làm,không có thất nghiệp toàn phần Sau khi thực hiện chính sách cải cách, Trungquốc chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường Xã Hội Chủ Nghia, pháttriển kinh tế nhiều thành phần, sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước Chếđộ lao động, việc làm có nhiều thay đổi sâu sắc, thất nghiệp trở thành vấn đềnổi cộm Đứng trước tình hình đó, năm 1986, Quốc vụ viện Trung Quốc đãban hành “Quy định tạm thời về bảo hiểm chờ việc đối với công nhân trongdoanh nghiệp Nhà nước” Như vậy, có thể nói tại Trung quốc, BHTN đã được
Trang 35thực hiện từ năm 1986 nhưng chỉ áp dụng đối với người lao động trong cácdoanh nghiệp Nhà nước.
Năm 1993, tại Hội nghị trung ương 3 (khóa 14), Đảng cộng sản Trungquốc đã thông qua “nghị quyết về một số vấn đề xây dựng thể chế kinh tế thịtrường xã hội chủ nghia”, trong đó đề cập “Chế độ BHTN” Trên cơ sở đó,
“Điều lệ BHTN đối với người lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước” đãđược sưa đổi theo hướng mở rộng đối tượng Tháng 1 năm 1999, trên cơ sởtổng kết những kinh nghiệm BHTN, quốc vụ viện Trung quốc đã ban hành
“Điều lệ BHTN” nhằm hoàn thiện hơn nữa chế độ BHTN Nội dung cơ bảncủa Điều lệ như sau:
Đối tượng áp dụng:
+ Tất cả người lao động ở thành thị, bao gồm: người lao động làm việctrong các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân ở các thành phố, thịtrấn, doanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp khác
+ Nông dân làm hợp đồng trong các doanh nghiệp, cơ quan
+ Người lao động làm việc trong các tổ chức xã hội hoặc các đơn vị docộng đồng điều hành
Nguồn quỹ BHTN do:
+ Các doanh nghiệp ở thành phố và thị trấn đóng 2% quỹ tiền lương,người lao động đóng 1% tiền lương
+ Nông dân làm việc theo hợp đồng trong các doanh nghiệp khôngphải đóng góp
Để nâng cao khả năng thành toán của BHTN, Trung quốc xây dựng cơchế hỗ trợ của Trung ương đối với vùng khó khăn trong chi tiêu quỹ BHTN.Cụ thể, chính quyền địa phương có nhiệm vụ cung cấp tài chính hỗ trợ nhằmkhắc phục những thiếu hụt trong thu chi quỹ BHTN
Muốn được hưởng BHTN, người lao động phải thỏa mãn các điều kiện:+ Có đăng ký thất nghiệp và đang tìm việc làm
Trang 36+ Đã đóng BHTN tối thiểu 12 tháng
+ Thất nghiệp không tự nguyện
Mức hưởng trợ cấp BHTN: Do chính quyền địa phương quy định Mứctrợ cấp này cao hơn tiêu chuẩn bảo trợ của địa phương và thấp hơn mức tiềnlương tối thiểu ở địa phương Ngoài trợ cấp thu nhập, người thất nghiệp cònđược hưởng trợ cấp y tế, trợ cấp tuất một lần khi tư vong, được hỗ trợ chi phíđào tạo, chi phí giới thiệu việc làm Chính phủ Trung quốc chủ trương quỹBHTN phải dành một tỷ lệ nhất định chi cho việc bồi dưỡng kỹ năng nghềnghiệp và thông tin thị trường lao động, phát huy vai trò quan trọng của quỹtrong việc thúc đẩy việc làm
Thời gian hưởng trợ cấp phụ thuộc vào thời gian tham gia BHTN, cụthể:
+ Tối đa là 12 tháng đối với những người có thời gian đóng góp BHTNtừ đủ 1 năm đến dưới 5 năm
+ Tối đa 18 tháng đối với những người có thời gian đóng BHTN từ đủ
5 năm đến dưới 10 năm
+ Tối đa 24 tháng đối với những người có thời gian đóng BHTN trên
10 năm
Điều lệ BHTN Trung Quốc cũng quy định trong thời kỳ tìm việc khókhăn, chính quyền các cấp sẽ gia hạn việc linh BHTN nhưng mức hưởng sẽgiảm dần theo từng năm
Về tổ chức BHTN: Hiện nay, BHTN là 1 trong 5 chế độ BHXH củaTrung quốc (bên cạnh các chế độ hưu trí, BHYT cơ bản, tai nạn lao động vàthai sản) Về công tác quản lí hành chính, chính quyền trung ương và địaphương cùng chia sẻ trách nhiệm đối với quản lí về BHXH Trong đó chínhquyền trung ương có nhiệm vụ đưa ra các quy định, chính sách và mức chuẩntại địa phương phù hợp với quy định của trung ương, tổ chức thu các khoảnđóng góp và chi trả trợ cấp về BHXH Tại trung ương và địa phương, các cơ
Trang 37quan BHXH được thành lập với số cán bộ, nhân viên lên đến 100000 ngườitrong toàn quốc Nhiệm vụ chính của cơ quan BHXH là: Tiếp nhận đăng kítham gia, tổ chức thu BHXH, hạch toán các khoản đóng góp, quản lí tài khoản
cá nhân của người tham gia, kiểm tra tính phù hợp của các yêu cầu, chi trả cáckhoản trợ cấp, quản lí quỹ BHXH
Tháng 10 năm 2004, Bộ Lao động và bảo đảm xã hội Trung quốc tuyên
bố thành lập chế độ đăng ký thất nghiệp và giám sát thất nghiệp và đưa ra kếhoạch là các ban, ngành lao động và bảo đảm xã hội 3 cấp trung ương, tỉnh,thành phố chịu trách nhiệm cung cấp thông tin về tình hình thất nghiệp và sốngười được linh tiền BHTN nhằm tham mưu cho Chính phủ có những quyếtsách kịp thời Như vậy, ở Trung quốc, việc tổ chức BHTN cũng nằm trong hệthống tổ chức BHXH Tuy nhiên, Bộ lao động và bảo đảm xã hội cũng thamgia quản lí
e) BHTN tại Thái Lan
Tại Thái lan, Luật An sinh xã hội ban hành năm 1990 quy định BHXHgồm 7 chế độ, đó là Chế độ tai nạn hoặc ốm đau, chế độ thai sản, chế độ tàntật, chế độ trợ cấp tuất, trợ cấp trẻ em, trợ cấp hưu trí và trợ cấp thất nghiệp.Tuy nhiên, cho đến năm 2003, cơ quan An sinh xã hội Thái Lan mới thựchiện 6 chế độ BHXH, chưa thực hiện chế độ trợ cấp thất nghiệp
Mặc dù cơ quan An sinh xã hôi đã nghiên cứu khả năng thực hiện chếđộ BHTN tại Thái lan từ năm 1998 với sự trợ giúp kỹ thuật của ILO, cơ quanphát triển quốc tế Nhật Bản (JICA) và Ngân hàng thế giới, nhưng đến năm
2004, chế độ BHTN mới chính thức được thực hiện Đối tượng áp dụng là tất
cả những người tham gia BHXH bắt buộc – đó là những người làm côngtrong độ tuổi từ 15 đến 60 Quỹ BHTN được hình thành do người lao độngđóng 0,5% tiền lương hàng tháng Tiền lương tháng tối thiểu cho việc đóng vàhưởng trợ cấp là 1.650 bạt (1USD = 38,15 bạt) Tiền lương hàng tháng tối đa
Trang 38cho việc đóng và hưởng trợ cấp là 15000 bạt Người sư dụng lao động đóng0,5% quỹ lương và Chính phủ hỗ trợ 0,25% cho quỹ BHTN.
Điều kiện hưởng trợ cấp BHTN ở Thái lan là:
+ Đã đóng BHTN từ 6 tháng trở lên trong thời gian 15 tháng trước khithất nghiệp
+ Đã đăng ký thất nghiệp và hàng tháng phải trình diện tại Văn phòngDịch vụ việc làm của Chính phủ theo quy định
+ Có khả năng làm việc và sẵn sàng nhận một công việc phù hợp
+ Người lao động thất nghiệp sau 8 ngày tính từ ngày đầu tiên bị thấtnghiệp không do các nguyên nhân như thực thi công việc không trung thực,
cố ý vi phạm tội hình sự chống lại chủ sư dụng lao động.v.v
Mức trợ cấp và thời gian trợ cấp BHTN:
+ Nếu thất nghiệp không tự nguyện, mức trợ cấp là 50% tiền công nhậttrung bình của người thất nghiệp của 3 tháng được trả cao nhất trong 9 thángtrước khi thất nghiệp Thời gian hưởng trợ cấp tối đa là 180 ngày trong 1 năm
+ Nếu thất nghiệp tự nguyện, mức trợ cấp là 30% tiền công nhật trungbình của người thất nghiệp Thời gian hưởng trợ cấp tối đa là 90 ngày trong 1năm
+ Thời gian chờ là 7 ngày
+ Mức trợ cấp hàng ngày tối đa là 250 bạt
Về tổ chức BHTN: Để thực hiện tốt chính sách BHTN, ngoài việc thuđóng góp bảo hiểm và chi trợ cấp cho người thất nghiệp thì một chức năng rấtquan trong khác của chương trình BHTN là cung cấp việc làm, đào tạo nghề,phát triển kỹ năng, tạo điều kiện cho người lao động để giúp họ có thể tái hòanhập vào thị trường lao động, nhanh chóng có được việc làm mới phù hợp.Các vấn đề tranh cãi liên quan đến việc sa thải người lao động không hợppháp cũng cần quan tâm trong quá trình xét hưởng trợ cấp cho người thất
Trang 39nghiệp Vì vậy, chính phủ Thái Lan đã giao nhiệm vụ cho các cơ quan chứcnăng liên quan tới chương trình BHTN, bao gồm:
+ Tổ chức BHXH: Chịu trách nhiệm thu đóng góp bảo hiểm, xét duyệt
và tiến hành chi chế độ, giải quyết các thắc mắc của đối tượng
+ Vụ Lao động việc làm có trách nhiệm đăng ký đối tượng bảo hiểm bịthất nghiệp trong chương trình tìm việc làm, cộng tác với các tổ chức đào tạotrong trường hợp người thất nghiệp cần đào tạo hoặc đào tạo lại kỹ năng vàtiếp nhận người thất nghiệp đang hưởng chế độ hàng tháng để báo cáo về kếtquả tìm việc làm
+ Vụ phát triển kỹ năng có trách nhiệm thực hiện các khóa đào tạonâng cao kỹ năng nghiệp vụ cho người thất nghiệp
+ Vụ Phúc lợi và bảo hộ lao động có trách nhiệm nhận các khiếu nại vềcác vụ sa thải lao động vi phạm luật pháp và xem xét các tranh cãi, cung cấpthông tin cho việc xác định trợ cấp
+ Văn phòng Bộ lao động chịu trách nhiệm phối hợp, theo doi, đánh giáhoạt động và phổ biến thông tin về chương trình BHTN
Như vậy tại Thái Lan, BHTN được tổ chức dưới hình thức một nhánhcủa BHXH, nhưng Bộ Lao động cùng phối hợp quản lí và thực hiện thêm một
số nhiệm vụ có liên quan như đăng ký thất nghiệp, đào tạo, đào tạo lại taynghề cho người lao động bị thất nghiệp, giới thiệu việc làm.v.v
2.2.2 Bài học cho Việt Nam
Qua phần trình bày trên cho thấy, nội dung chính sách BHTN và côngtác tổ chức BHTN ở các nước trên thế giới là rất khác nhau, do điều kiện kinhtế - xã hội, do thời điểm triển khai và do chức năng, nhiệm vụ của các tổ chứctrong chính phú của từng nước chi phối Tuy nhiên, có một số bài học kinhnghiệm mang tính tương đối thống nhất, đó là:
- Đối tượng áp dụng BHTN ở hầu hết các nước là những người làmcông hưởng lương Sau đó nếu có điều kiện (như ở Mỹ, CHLB Đức) người ta
Trang 40sẽ mở rộng đối tượng ra các nhóm lao động khác trong các linh vực nông,lâm, ngư nghiệp.v.v Hình thức BHTN chủ yểu là bắt buộc.
- Về nội dung BHTN tuy có những khác nhau ở rất nhiều điểm, songnhững điểm chung giống nhau phải kể đến đều là quy định rất chặt chẽ và cụthể mức đóng góp và quỹ BHTN của người lao động và người sư dụng laođộng, mức hỗ trợ của Chính phủ, điều kiện hưởng, mức hưởng và thời gianhưởng trợ cấp BHTN.v.v
- Về công tác tổ chức BHTN:
Mặc dù tổ chức BHTN ở các nước trên thế giới là rất khác nhau, songnếu tổng hợp lại đã có 2 mô hình tổ chức BHTN như sau:
Mô hình 1: BHTN được tổ chức thành một hệ thống độc lập Mô hình
này đã và đang áp dụng ở hầu hết các nước kinh tế phát triển như Mỹ, Anh,Canada, Italia.v.v Những nước áp dụng mô hình này thường có điều kiện cảvề kinh tế lẫn xã hội, có thị trường lao động rất phát triển Đặc biệt là nhậnthức của người lao động và người sư dụng lao động ở những nước này vềBHTN rất cao Nhưng nếu áp dụng mô hình này thì đối tượng được bảo vệcủa BHTN thường chỉ giới hạn ở những người lao động làm công hưởnglương trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Bởi vì, lao động làm việcở khu vực này dễ thị thất nghiệp, còn những người lao động là công chức,viên chức Nhà nước hoặc làm việc trong các tổ chức Đảng, đoàn thể khôngthuộc diện bảo vệ của BHTN vì họ được nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm lâudài nên khả năng bị thất nghiệp là rất thấp Nếu áp dụng mô hình này thìBHTN thường do Bộ lao động, việc làm trực tiếp đứng ra tổ chức triển khai
Mô hình 2: BHTN được coi là 1 nhánh (1 chế độ) của BHXH, cho nên
ngành BHXH trực tiếp đứng ra tổ chức triển khai Mô hình này đã và đangđược áp dụng ở khá nhiều nước như CHLB Đức, Trung quốc, Thái lan.v.v.Những nước áp dụng mô hình này thường có đối tượng tham gia BHXH cũngchính là đối tượng tham gia BHTN Vì thế, diện bảo vệ sẽ rộng hơn do đối