Để đưa ra những giảipháp hữu hiệu, nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng tài sản lưu động, bản thândoanh nghiệp phải biết kết hợp giữa lý luận với điều kiện thực tế của công ty mình, cũ
Trang 1Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư là mục tiêu phấn đấu lâu dài của mỗi doanhnghiệp Hiệu quả sử dụng vốn nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản lưu động nói riênggắn liền với hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Để đưa ra những giảipháp hữu hiệu, nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng tài sản lưu động, bản thândoanh nghiệp phải biết kết hợp giữa lý luận với điều kiện thực tế của công ty mình, cũngnhư điều kiện kinh tế xã hội và các qui định của nhà nước trong việc quản lý và sử dụngtài sản lưu động.
Đối với các doanh nghiệp nhà nước, ở nước ta hiện nay, vấn đề quản lý và sử dụngtài sản lưu động đang được đặc biệt quan tâm Trong tình hình mới, cùng với việc chuyểnđổi cơ chế quản lý kinh tế là quá trình cắt giảm nguồn vốn ngân sách cấp, mở rộng quyền
tự chủ và chuyển giao vốn cho các doanh nghiệp tự quản lý và sử dụng đã tạo ra một tìnhhình mới đầy phức tạp và biến động trong quá trình vận động vốn nói chung Một sốdoanh nghiệp đã có phương thức, phương pháp, biện pháp huy động và sử dụng vốn kinhdoanh một cách năng động và có hiệu quả, phù hợp với những yêu cầu đòi hỏi của cơ chếquản lý kinh tế mới Bên cạnh đó đã có không ít những doanh nghiệp lâm vào tình trạngkhó khăn, các doanh nghiệp này chẳng những không huy động, phát triển tăng thêmnguồn vốn mà còn trong tình trạng mất dần vốn Do công tác quản lý sử dụng vốn thiếuchặt chẽ, kém hiệu quả, vi phạm các qui định trong thanh toán
Trong bối cảnh chung đó, Công ty đã có nhiều cố gắng trong việc tìm hướng khaithác, huy động vốn vào phát triển kinh doanh và đã đạt được những kết quả nhất định.Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn nhiều vấn đề đặt ra cần được tiếp tục giải quyết nhưtích luỹ hơn nữa để tăng nguồn vốn sở hữu, tự chủ trong sản xuất kinh doanh nhằm nângcao hơn nữa hiệu quả sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn, đặc biệt là vấn đề quản
lý và sử dụng hiệu quả tài sản lưu động Là một doanh nghiệp thương mại hoạt động đặcthù trong nghành sản xuất kinh doanh giấy, tài sản lưu động của Công ty đòi hỏi phải lớn.Kinh doanh các mặt hàng giấy và gỗ ván ép nên đã đòi hỏi một lượng hàng hoá lớn trongkhâu dự trữ và lưu thông, điều này bắt buộc doanh nghiệp phải có phương thức quản lý
và sử dụng tài sản lưu động một cách hết sức khoa học, hợp lý nhằm đạt hiệu quả tối ưunhất của đồng vốn
Trang 2thực tập tại Công ty Đặc biệt là được sự giúp đỡ tận tình của T.s Nguyễn Minh Huệ vàcác cô, chú, anh chị trong phòng Kế toán – Tài chính Em đã mạnh dạn chọn đề tài
chuyên đề tốt nghiệp là: "Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động ở Công ty TNHH Thương mại và sản xuất Hoa Sơn ".
Song do thời gian có hạn nên bài viết của em không tránh khỏi những khiếmkhuyết, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các cô, chú,anh, chị trong phòng Kế toán –Tài chính để bài viết của em được tốt hơn
Qua đây em cũng tỏ lòng biết ơn sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của Cô giáo – T.sNguyễn Minh Huệ cùng các cô, chú ,anh chị trong phòng Kế toán –Tài chính
Em xin chân thành cảm ơn!
Nội dung chính của chuyên đề được trình bày trong các chương sau:
Chương 1: Lý luận cơ bản về hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trong doanh
nghiệp
Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản lưu động ở Công ty TNHH
Thương mại và sản xuất Hoa Sơn
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu dộng ở Công ty
TNHH Thương mại và sản xuất Hoa Sơn
Trang 3CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Những vấn đề cơ bản về tài sản lưu động trong của doanh nghiệp.
1.1.1 Khái niệm tài sản lưu động.
Trong nền kinh tế quốc dân mỗi doanh nghiệp được coi như một tế bào của nềnkinh tế với nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo racác sản phẩm hàng hóa, lao vụ, dịch vụ cung cấp cho xã hội Doanh nghiệp có thực hiệnmột số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩmlao vụ, dịch vụ trên thị trường nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Để các doanh nghiệp
có thể đầu tư và tiến hành sản xuất kinh doanh thì điều kiện không thể thiếu đó là nguồnvốn hay xét dưới một góc độ nào đó, nó được thể hiện toàn bộ giá trị tài sản mà doanhnghiệp có được Trong quá trình sản xuất kinh doanh, bộ phận chủ yếu của đối tượng laođộng cấu thành nên thực thể của sản phẩm và một bộ phận khác sẽ hao phí mất đi cùngvới quá trình kinh doanh Do các đối tượng lao động trực tiếp tham gia cấu tạo nên thựcthể sản phẩm nên hình thái vật chất sẽ bị thay đổi và chỉ tham gia vào chu kỳ sản xuấtkinh doanh, giá trị của nó được chuyển dịch dần vào giá trị của sản phẩm Các đối tượnglao động đó chính là tài sản mà doanh nghiệp đang sở hữu trong quá trình sản xuất kinhdoanh Như vậy, ta có rất nhiều quan niệm khác nhau về tài sản nhưng chỉ duy nhất mộtkhái niệm tổng quát về tài sản của doanh nghiệp đó là:
Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tếtrong tương lai
Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản là tiềm năng làm phát triển các nguồn tiền
và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp hoặc làm giảm bớt các khoản tiền màdoanh nghiệp phải chi ra
Tài sản được biểu hiện dưới hình thái vật chất như tiền, hàng tồn kho, nhà xươngmáy móc, trang thiết bị….hoặc không biểu hiện dưới hinh thái vật chất như bản quyền,
Trang 4bằng sáng chế…nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và thuộc quyền kiểmsoát của doanh nghiệp.
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần phải có 3 yếu tốlà: đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động Quá trình sản xuất kinh doanh làquá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra sản phẩm hàng hoá lao vụ, dịch vụ Khác với tưliệu lao động, đối tượng lao động (nguyên, nhiên, vật liệu, bán thành phẩm ) chỉ thamgia vào một chu kì sản xuất kinh doanh và luôn thay đổi hình thái vật chất ban đầu, giá trịcủa nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được bù đắp khi giá trịsản phẩm được thực hiện Biểu hiện dưới hình thái vật chất của đối tượng lao động gọi làtài sản lưu động (TSLĐ) Trong các doanh nghiệp, TSLĐ gồm TSLĐ sản xuất và TSLĐlưu thông
TSLĐ sản xuất gồm những vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất đượcliên tục, vật tư đang nằm trong quá trình sản xuất chế biến và những tư liệu lao độngkhông đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định Thuộc về TSLĐ sản xuất gồm: Nguyên vật liệuchính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, sản phẩm dở dang, công cụ lao độngnhỏ
TSLĐ lưu thông gồm: sản phẩm hàng hoá chưa tiêu thụ, vốn bằng tiền, vốn trongthanh toán
Quá trình sản xuất của doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình lưu thông Trongquá trình tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tài sản lưu động sản xuất và tàisản lưu động lưu thông luôn chuyển hoá lẫn nhau, vận động không ngừng làm cho quátrình sản xuất kinh doanh được liên tục Để hình thành nên tài sản lưu động sản xuất vàtài sản lưu động lưu thông doanh nghiệp cần phải có một số vốn tương ứng để đầu tư vàocác tài sản ấy, số tiền ứng trước về những tài sản ấy được gọi là tài sản lưu động (TSLĐ)của doanh nghiệp
Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển trongquá trình kinh doanh Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản lưu độngđược thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và dựtrữ tồn kho Giá trị các loại TSLĐ của doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất thường chiếm
Trang 5tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của chúng Quản lý sử dụng hợp lý các loại TSLĐ
có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp
1.1.2 Phân loại, kết cấu tài sản lưu động.
1.1.2.1 Phân loại tài sản lưu động
Có thể phân loại TSLĐ theo khả năng chuyển đổi và đặc điểm kinh tế của từngnhóm:
a, Tiền(Cash)
Tất cả tiền mặt tại quỹ, tiền trên các tài khoản ngân hàng và tiền đang chuyển Lưu
ý rằng, ở đây tiền (hay vốn bằng tiền) không phải chỉ là tiền mặt Nhiều người nhầm lẫnkhái niệm Cash trong tiếng Anh và cho nó đồng nghĩa với khái niệm tiền mặt trong tiếngViệt Theo ngôn ngữ tiếng Việt Nam, “tiền mặt” không bao gồm tiền gửi ngân hàng Khicác doanh nghiệp thanh toán bằng séc hoặc chuyển khoản thì được gọi là “thanh toánkhông dùng tiền mặt” Trong lĩnh vực tài chính - kế toán, tài sản bằng tiền “Cash” củamột công ty hay doanh nghiệp bao gồm:
+ Tiền mặt (Cash on hand)
+ Tiền gửi ngân hàng (Bank accounts)
+ Tiền dưới dạng séc các loại (Cheques)
+ Tiền trong thanh toán (Floating money, Advanced payment)
+ Tiền trong thẻ tín dụng và các loại tài khoản thẻ ATM
b, Vàng, bạc, đá quý và kim khí quý
Đây là nhóm tài sản đặc biệt, chủ yếu dùng vào mục đích dự trữ Tuy vậy, trongmột số ngành như ngân hàng ,tài chính, bảo hiểm, trị giá kim cương ,đá qúy, vàng bạc,kim khí quý vv có thể rất lớn
c, Các tài sản tương đương với tiền (cash equivalents)
Nhóm này gồm các tài sản tài chính có khả năng chuyển đổi cao, tức là dễ bán, dễchuyển đổi thành tiền khi cần thiết Tuy nhiên, không phải tất cả các loại chứng khoánđều thuộc nhóm này Chỉ có các chứng khoán ngắn hạn dễ bán mới được coi là TSLĐthuộc nhóm này Ngoài ra, các giấy tờ thương mại ngắn hạn, được bảo đảm có độ an toàncao thì cũng thuộc nhóm này Ví dụ: hối phiếu ngân hàng, kỳ phiếu thương mại, bộchứng từ hoàn chỉnh…
Trang 6d, Chi phí trả trước (Prepaid expenses)
Chi phí trả trước bao gồm các khoản tiền mà công ty đã trả trước cho ngườibán ,nhà cung cấp hoặc các đối tượng khác Một số khoản trả trước có thể có mức độ rủi
ro cao vì phụ thuộc vào một số yếu tố khó dự đoán trước
e, Các khoản phải thu (Accounts receivable)
Các khoản phải thu là một tài sản rất quan trọng của doanh nghiệp, đặc biệt là cáccông ty kinh doanh thương mại, mua bán hàng hoá Hoạt động mua bán chịu giữa cácbên, phát sinh các khoản tín dụng thương mại Thực ra, các khoản phải thu gồm nhiềukhoản mục khác nhau tuỳ theo tính chất của quan hệ mua bán, quan hệ hợp đồng
g, Hàng hoá vật tư (Inventory)
Hàng hoá vật tư được theo dõi trong một tài khoản gọi là hàng tồn kho “Hàng tồnkho” trong khái niệm này không có nghĩa là hàng hoá bị ứ đọng, không bán được, màthực chất bao hàm toàn bộ các hàng hoá vật liệu, nguyên liệu đang tồn tại ở các kho, quầyhàng hoặc trong xưởng Nó gồm nhiều chủng loại khác nhau như: NVL chính, NVL phụ,vật liệu bổ trợ, nhiên liệu và các loại dầu mở, thành phẩm…
h, Các chi phí chờ phân bổ
Trong thực tế, một khối lượng NVL và một số khoản chi phí đã phát sinh nhưng
có thể chưa được phân bổ vào giá thành sản phẩm hay dịch vụ Những khoản này sẽ đượcđưa vào giá thành trong khoảng thời gian thích hợp
Trang 71.1.2.2 Kết cấu tài sản lưu động
Bên cạnh việc nghiên cứu các cách phân loại TSLĐ theo những tiêu thức khácnhau, doanh nghiệp còn phải đánh giá, nắm bắt được kết cấu TSLĐ ở từng cách phân loại
đó Kết cấu TSLĐ phản ánh các thành phần và mối quan hệ tỷ lệ giữa thành phần trongtổng số TSLĐ của doanh nghiệp ở các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu TSLĐ cũngkhông giống nhau Việc phân tích kết cấu TSLĐ của doanh nghiệp theo các tiêu thứcphân loại khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về TSLĐ
mà mình đang quản lý, sử dụng từ đó xác định đúng các trọng điểm và biện pháp quản lýTSLĐ có hiệu quả hơn phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp Mặt khác, thôngqua việc đánh giá, tìm hiểu sự thay đổi kết cấu TSLĐ trong những thời kỳ khác nhau cóthể thấy được những biến đổi tích cực cũng như những mặt còn hạn chế trong công tácquản lý TSLĐ của từng doanh nghiệp
Kết cấu TSLĐ của doanh nghiệp luôn thay đổi và chịu tác động của nhiều yếu tốkhác nhau Có thể phân ra thành ba nhóm chính sau:
- Các nhân tố về mặt cung ứng vật tư như: khoảng cách giữa doanh nghiệp với nơicung cấp; khả năng cung cấp của thị trường; kỳ hạn giao hàng và khối lượng vật tư đượccung cấp mỗi lần giao hàng; đặc điểm thời vụ của chủng loại vật tư cung cấp, giá cả củavật tư
- Các nhân tố về mặt sản xuất như: đặc điểm, kỹ thuật, công nghệ sản xuất củadoanh nghiệp; mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo; độ dài của chu kỳ sản xuất; trình
độ tổ chức quá trình sản xuất
- Các nhân tố về mặt thanh toán như phương thức thanh toán được lựa chọn theocác hợp đồng bán hàng; thủ tục thanh toán; việc chấp hanh kỷ luật thanh toán giữa cácdoanh nghiệp
1.1.3 Nguồn hình thành tài sản lưu động của doanh nghiệp.
Trong doanh nghiệp, TSLĐ được hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau, do đómỗi một loại nguồn vốn sẽ có tính chất, đặc điểm, chi phí sử dụng khác nhau Vấn đề đặt
ra là các doanh nghiệp phải cân nhắc lựa chọn cho mình một cơ cấu nguồn vốn tối ưu vừagiảm được chi phí sử dụng vốn, vừa đảm bảo sự an toàn cho tình hình tài chính của
Trang 8doanh nghiệp Căn cứ vào các tiêu thức phân loại khác nhau thì TSLĐ của doanh nghiệpđược hình thành từ các loại nguồn vốn như :
* TSLĐ hình thành theo quan hệ sở hữu về vốn: gồm
- Vốn chủ sở hữu: Là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Tuỳ từng loạihình doanh nghiệp mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như: vốn đầu tư từ ngânsách nhà nước, vốn do chủ doanh nghiệp tự bỏ ra, vốn góp cổ phần, vốn góp liên doanh,vốn tự bổ sung từ lợi nhuận để lại Vốn chủ sở hữu thể hiện khả năng tự chủ về tài chínhcủa doanh nghiệp Tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng vốn càng lớn thì sự độc lập về tàichính của doanh nghiệp càng cao
- Các khoản nợ: Là các khoản TSLĐ được hình thành từ các khoản vay của cácngân hàng thương mại hay các tổ chức tài chính, vốn vay qua phát hành trái phiếu, cáckhoản nợ khách hàng chưa thanh toán
* TSLĐ hình thành căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn: Nguồn vốn của
doanh nghiệp chia thành hai loại :
- Nguồn vốn thường xuyên: Là nguồn vốn mang tính chất ổn định và dài hạn, baogồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn để tài trợ cho nhu cầu TSLĐ thường xuyêncần thiết của doanh nghiệp
Nguồn vốn thường xuyên = Tổng nguồn vốn - Nợ ngắn hạn
- Nguồn vốn tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn, gồm các khoản vayngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, các khoản nợ ngắn hạn, được dùng đểđáp ứng nhu cầu TSLĐ có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong quá trình kinhdoanh của doanh nghiệp
Nguồn vốn tạm thời = Vốn vay ngắn hạn + Vốn chiếm dụng hợp pháp
* TSLĐ hình thành theo phạm vi huy động vốn: TSLĐ được hình thành từ hai
nguồn
- Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động được từ bảnthân doanh nghiệp Bao gồm: vốn từ lợi nhuận để lại trong quá trình kinh doanh, các quĩcủa doanh nghiệp, các khoản thu từ nhượng bán, thanh lý tài sản Sử dụng triệt để nguồnvốn bên trong doanh nghiệp tức là doanh nghiệp đã phát huy được tính chủ động trongquản lý và sử dụng TSLĐ của mình
Trang 9- Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: là nguồn vốn doanh nghiệp có thể huy độngtừ bên ngoài, gồm: vốn của bên liên doanh, vốn vay các ngân hàng thương mại, tổ chứctín dụng, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, nợ người cung cấp, nợ khách hàng vàcác khoản nợ khác , qua việc vay vốn từ bên ngoài tạo cho doanh nghiệp có một cơ cấutài chính linh hoạt, mặt khác có thể làm gia tăng doanh lợi vốn chủ sở hữu nhanh nếumức doanh lợi tổng vốn đạt được cao hơn chi phí sử dụng vốn
1.1.4 Một số phương pháp quản lý tài sản lưu động trong doanh nghiệp
1.1.4.1 Quản lý tiền mặt
Quản lý tiền mặt đề cập đến vấn đề quản lý tiền mặt trong két và các khoản tiềngửi ngân hàng và các loại tài sản có tính lỏng cao Các loại chứng khoán gần như tiền mặtgiữ vai trò quan trọng vì nếu số dư tiền mặt nhiều, doanh nghiệp có thể đầu tư vào chứngkhoán có tính thanh khoản cao vì các loại chứng khoán này cho hiệu suất sinh lời cao vàlúc cần cũng dễ dàng chuyển sang tiền mặt Vì thế mà trong quản trị tài chính, người tathường sử dụng chứng khoán có tính thanh khoản cao để duy trì tiền mặt ở mức độ mongmuốn
Tiền mặt tại quỹ là một bộ phận quan trọng cấu thành vốn bằng tiền của doanhnghiệp Trong quá trình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp luôn có nhu cầu dự trữtiền mặt ở một quy mô nhất định Vốn tiền mặt đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý mộtcách chặt chẽ hơn các loại tài sản khác vì nó rất dễ bị tham ô, lợi dụng, mất mát
Nhu cầu dự trữ tiền mặt trong các doanh nghiệp thông thường là để thực hiệnnhiệm vụ thanh toán nhanh của doanh nghiệp Ngoài ra, nó còn dùng để đáp ứng yêu cầugiao dịch hàng ngày như mua sắm hàng hoá, vật liệu, thanh toán các khoản chi phí cầnthiết Ngoài ra, còn xuất phát từ nhu cầu dự phòng để ứng phó với những nhu cầu vốn bấtthường không dự đoán được và động lực " đầu cơ" trong việc dự trữ tiền mặt để sẵn sàng
sử dụng khi xuất hiện cơ hội kinh doanh tốt Việc duy trì một mức dự trữ tiền mặt đủ lớncòn tạo điều kiện cho doanh nghiệp cơ hội thu được chiết khấu khi mua hàng, làm tăng
hệ số khả năng thanh toán Đồng thời, khi dự trữ đủ tiền mặt còn giúp doanh nghiệp đápứng được nhu cầu trong trường hợp khẩn cấp như đình công, hỏa hoạn, chiến lượcmarketing của đối thủ cạnh tranh, vượt qua nhưng yếu tố thời vụ và chu kỳ kinh doanh.Quản lý tiền mặt gồm hai nội dung cơ bản sau:
Trang 10Thứ nhất: Tăng tốc độ thu hồi tiền mặt bằng cách dùng các hình thức chiết khấu, tăngtốc độ thu hồi dựa vào lợi thế của hệ thống ngân hàng chuyên nhanh số tiền thu được vàođầu tư sinh lời và lựa chọn các phương thức chuyển tiền có lợi nhất.
Thứ hai, Xác định nhu cầu tiền mặt
Xác định nhu cầu tiền mặt là xác định mức dự trữ tiền mặt tối ưu vừa đảm bảo hoạtđộng kinh doanh vừa đảm bảo có chi phí thấp nhất
Để xác định mức dự trữ tiền mặt tối ưu người ta sử dụng các chứng khoán có thanhkhoản cao Khi dư tiền, doanh nghiệp có thể đầu tư vào các chứng khoán này để sinh lời,khi cần tiền doanh nghiệp có thể chuyển chúng thành tiền mặt dể dàng mà ít tốn kém.Người ta có thể sử dụng phương pháp tổng chi phí tối thiểu để xác định mức dự trữ tiềnmặt hợp lý, bởi vì giả sử doanh nghiệp có một lượng tiền mặt và phải sử dụng nó để đápứng các khoản chi tiêu tiền mặt một cách đều đặn Khi lượng tiền mặt đã hết doanhnghiệp có thể bán các chứng khoán ngắn hạn để có lượng tiền mặt như lúc ban đầu Cóhai loại chi phí cần được xem xét khi bán chứng khoán: một là chi phí cơ hội của việc giữtiền mặt, đó chính là mức lợi tức chứng khoán doanh nghiệp vừa bị mất đi; hai là chi phícho việc bán chứng khoán mỗi lần, đóng vai trò như là chi phí mỗi lần thực hiện hợpđồng Trong điều kiện đó, mức dự trữ tiền mặt tối đa của doanh nghiệp bằng chính sốlượng chứng khoán cần bán mỗi lần để có đủ lương tiền mặt mong muốn bù đắp đượcnhu cầu chi tiêu tiền mặt, nó được thể hiện bằng công thức tính như sau:
n 2
1
2 Q xC Q
C
Mức dự trữ tiền mặt trung bình là: Q
Q 2
Trong đó: Q: Số lượng tiền mặt dự trữ tối đa
Qn: Lương tiền mặt chi dùng trong năm
C1: Chi phí lưu giữ tiền mặt
C2: Chi phí 1 lần bán chứng khoán
1.1.4.2 Quản lý dự trữ
Đối với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thì dự trữ là yếu tố quantrọng quyết định việc doanh nghiệp có sản xuất được ổn định hay không Do vậy, việc
Trang 11quản lý tồn kho dự trữ đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sảnlưu động Nhờ có dự trữ tồn kho đúng mức, hợp lý sẽ giúp cho doanh nghiệp không bịgián đoạn sản xuất, không bị thiếu sản phẩm hàng hoá để bán, đồng thời lại sử dụng tiếtkiệm và hợp lý tài sản lưu động.
Về cơ bản mục tiêu của việc quản lý tồn kho dự trữ là nhằm tối thiểu hoá các chiphí dự trữ tài sản tồn kho với điều kiện vẫn đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinhdoanh được tiến hành bình thường Nếu các doanh nghiệp có mức vốn tồn kho quá lớn thì
sẽ làm phát sinh thêm các chi phí như chi phí bảo quản, lưu kho đồng thời doanhnghiệp không thể sử dụng số vốn này cho mục đích sản xuất kinh doanh khác và làm tăngchi phí cơ hội của số vốn này
Để tối thiểu hoá chi phí tồn kho dự trữ nguyên vật liệu, nhiên liệu thì doanhnghiệp phải xác định được số lượng vật tư, hàng hoá tối ưu mỗi lần đặt mua sao cho vẫnđáp ứng được nhu cầu sản xuất Ngoài ra doanh nghiệp cũng cần phải có những biệnpháp quản lý hữu hiệu để bảo đảm nguyên vật liệu trong kho không bị hư hỏng, biếnchất, mất mát
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để xác định mức dự trữ tối ưu, công thức chung
để tính quy mô dự trữ tối ưu cho doanh nghiệp là:
Đối với mức tồn kho dự trữ nguyên vật liệu, nhiên liệu thường phụ thuộc vào:
- Khả năng sẵn sàng cung ứng của thị trường
Trang 12- Chu kỳ giao hàng quy định trong hợp đồng giữa người bán với doanh nghiệp.
- Quy mô sản xuất và nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu cho sản xuất
- Thời gian vận chuyển nguyên vật liệu từ nơi cung ứng tới doanh nghiệp
- Giá cả của các nguyên vật liệu, nhiên liệu được cung ứng
Đối với mức tồn kho dự trữ bán thành phẩm, sản phẩm dở dang các nhân tố ảnhhưởng gồm:
- Đặc điểm và các yêu cầu về kỹ thuật, công nghệ trong quá trình chế tạo sản phẩm
- Độ dài thời gian chu kỳ sản xuất sản phẩm
- Trình độ tổ chức quá trình sản xuất của doanh nghiệp
Đối với tồn kho dự trữ sản phẩm thành phẩm, các nhân tố ảnh hưởng là:
- Sự phối hợp giữa khâu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
- Hợp đồng tiêu thụ sản phẩm giữa doanh nghiệp và khách hàng
- Khả năng xâm nhập và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Tóm lại, nếu thực hiện tốt công tác quản trị vốn tồn kho dự trữ, doanh nghiệp có
thể tăng khả năng sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế mà không cần tăng thêm nhu cầu
về tài sản lưu động cho sản xuất kinh doanh Do đó, để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sảnlưu động thì doanh nghiệp cần phải đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quảcông tác quản trị vốn tồn kho dự trữ
1.1.4.3 Quản lý các khoản phải thu
Trong nền kinh tế thị trường việc mua chịu, bán chịu là điều khó tránh khỏi.Doanh nghiệp có thể sử dụng các khoản phải trả cha đến kỳ hạn thanh toán như mộtnguồn vốn bổ xung để tài trợ cho các nhu cầu tài sản lưu động ngắn hạn và đương nhiêndoanh nghiệp cũng bị các doanh nghiệp khác chiếm dụng vốn Việc bán chịu sẽ giúpdoanh nghiệp dễ dàng tiêu thụ được sản phẩm đồng thời góp phần xây dựng mối quan hệlàm ăn tốt đẹp với khách hàng Tuy nhiên, nếu tỷ trọng các khoản phải thu quá lớn trongtổng số tài sản lưu động thì nó sẽ gây ra những khó khăn cho doanh nghiệp và làm giảmhiệu quả sử dụng tài sản lưu động trong doanh nghiệp
Quản lý các khoản phải thu tốt, tức là hạn chế mức tối thiểu lượng tài sản lưu động
bị chiếm dụng sẽ làm giảm số ngày của chu kỳ thu tiền bình quân, thúc đẩy vòng tuần
Trang 13hoàn của tài sản lưu động Đồng thời sẽ làm giảm các chi phí quản lý nợ phải thu, chi phíthu hồi nợ, chi phí rủi ro
Trong chính sách tín dụng thương mại doanh nghiệp cần đánh giá kỹ ảnh hưởngcủa chính sách bán chịu đối với lợi nhuận của doanh nghiệp Đồng thời để hạn chế mứcthấp nhất mức độ rủi ro có thể gặp trong việc bán chịu doanh nghiệp có thể xem xét trêncác khía cạnh mức độ uy tín của khách hàng, khả năng trả nợ của khách hàng Gọi chung
* Uy tín, phẩm chất của khách hàng: Nói lên uy tín của khách hàng qua các lần trả
nợ trước, tinh thần trách nhiệm của khách hàng trong việc trả nợ đối với doanh nghiệp vàcác doanh nghiệp khác
* Vốn: Tiêu chuẩn này dùng để đánh giá sức mạnh tài chính của khách hàng
* Khả năng thanh toán: Đánh giá các chỉ tiêu về khả năng thanh toán của kháchhàng và bảng dự trù ngân quỹ của họ
Thời kỳ tín dụng thương mại là khoảng thời gian doanh nghiệp cho phép kháchhàng nợ Thời gian này khác nhau tuỳ thuộc ngành nghề kinh doanh, quy định của doanhnghiệp và thoả thuận của hai bên Thường thì doanh nghiệp đề ra một tỷ lệ % chiết khấunhất định để nếu khách hàng trả tiền đúng hạn sẽ được hưởng chiết khấu đó nhằm khuyếnkhích khách hàng trả tiền sớm Về công cụ tín dụng thương mại thì thường là sử dụngthương phiếu Thương phiếu là một cam kết tín dụng của người mua hứa sẽ trả tiền cho
Trang 14người bán theo thời hạn ghi trên thương phiếu Thương phiếu có thể được mua đi bán lạitrong thời hạn của nó.
Để giúp doanh nghiệp có thể nhanh chóng thu hồi các khoản phải thu hạn chế rủi
ro và các chi phí không cần thiết phát sinh làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản lưu động,doanh nghiệp cần coi trọng các biện pháp chủ yếu sau:
- Phải mở sổ theo dõi chi tiết các khoản nợ phải thu trong và ngoài doanh nghiệp
và thường xuyên đôn đốc để thu hồi đúng hạn
- Có biện pháp phòng ngừa rủi ro không được thanh toán (lựa chọn khách hàng,giới hạn giá trị tín dụng, yêu cầu đặt cọc )
- Tiến hành xác định và trích lập dự phòng phải thu khó đòi vào chi phí sản xuấtkinh doanh Quỹ này có thể được sử dụng trong trường hợp có khoản phải thu của doanhnghiệp nhưng không thể thu hồi được thì doanh nghiệp sẽ trích từ quỹ ra để bù vào vớimục đích bảo toàn vốn kinh doanh cho doanh nghiệp
- Có sự ràng buộc chặt chẽ trong hợp đồng bán hàng, nếu vượt quá thời hạn thanhtoán theo hợp đồng sẽ bị phạt hoặc được thu lãi suất như lãi suất quá hạn của ngân hàng.Hiện nay ở nước ta còn chưa có luật rõ ràng về vấn đề này Tuy nhiên, đối với các nướcphát triển thì họ đã có luật để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp trong trường hợp khôngđòi được nợ Các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần quan tâm đến vấn đề này để khi cóluật có thể áp dụng được ngay hoặc trong trường hợp làm ăn với các đối tác nước ngoài
có thể áp dụng
- Phân loại các khoản nợ quá hạn, tìm nguyên nhân của từng khoản nợ để có biệnpháp xử lý thích hợp như gia hạn nợ, thoả ước xử lý nợ, xoá một phần nợ cho kháchhàng, hoặc yêu cầu toà án giải quyết
1.2 Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động ở doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
1.2.1 Quan điểm về hiệu quả sử dụng tài sản lưu động ở doanh nghiệp
Hiện nay có rất nhiều quan điểm về hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trong doanhnghiệp Trong khuôn khổ chuyên đề này chúng ta đứng trên quan điểm nâng cao hiệu quả
sử dụng tài sản lưu động tức là làm sao để chỉ phải bỏ ra một lượng tài sản nhỏ nhất màthu về được lợi nhuận lớn nhất
Trang 15Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì vấn đềsống còn doanh nghiệp cần quan tâm là tính hiệu quả Chỉ khi hoạt động sản xuất kinhdoanh có hiệu quả doanh nghiệp mới có thể tự trang trải chi phí đã bỏ ra, làm nghĩa vụvới ngân sách Nhà nước và quan trọng hơn là duy trì và phát triển quy mô hoạt động sảnxuất kinh doanh trong doanh nghiệp Hiệu quả kinh tế là kết quả tổng hợp của một loạtcác chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các yếu tố bộ phận Trong đó, hiệu quả sử dụng tài sảnlưu động gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp Do đó, các doanh nghiệp phải luôn tìm mọi biện pháp để nâng caohiệu quả sử dụng tài sản lưu động.
Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động có vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệuquả sử dụng vốn của doanh nghiệp, bởi khác với tài sản cố định, tài sản lưu động cần cácbiện pháp linh hoạt, kịp thời phù hợp với từng thời điểm thì mới đem lại hiệu quả cao.Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động là một trong những căn cứ đánh giá năng lực sản xuất,chính sách dự trữ tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp và nó cũng có ảnh hưởng lớn đếnkết quả kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp
Có thể nói rằng mục tiêu lâu dài của mỗi doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận.Việc quản lý sử dụng tốt tài sản lưu động sẽ góp phần giúp doanh nghiệp thực hiện đượcmục tiêu đã đề ra Bởi vì, quản lý tài sản lưu động không những đảm bảo sử dụng tài sảnlưu động hợp lý, tiết kiệm mà còn có ý nghĩa đối với việc hạ thấp chi phí sản xuất, thúcđẩy việc tiêu thụ sản phẩm và thu tiền bán hàng, từ đó sẽ làm tăng doanh thu và lợi nhuậncủa doanh nghiệp
Tóm lại, hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp có thể hiểu là một
phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác và quản lý tài sản lưu động của doanhnghiệp, đảm bảo lợi nhuận tối đa với số lượng tài sản lưu động sử dụng với chi phí thấpnhất Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động là yêu cầu tất yếu khách quan của mỗidoanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Mặc dù hầu hết các vụ phá sản trong kinhdoanh là hệ quả của nhiều yếu tố, chứ không phải chỉ đơn thuần do quản lý tài sản lưuđộng kém Nhưng cũng cần thấy rằng sự bất lực của một số doanh nghiệp trong việchoạch định và kiểm soát một cách chặt chẽ các loại tài sản lưu động hầu như là mộtnguyên nhân dẫn đến thất bại cuối cùng của họ
Trang 161.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động ở doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Để có thể tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có một lượngtài sản nhất định và nguồn tài trợ tương ứng, không có tài sản sẽ không có bất kỳ hoạtđộng sản xuất kinh doanh nào Song việc sử dụng tài sản như thế nào cho có hiệu quả caomới là nhân tố quyết định cho sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp Với ý nghĩa
đó, việc quản lý, sử dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản nói chung và TSLĐ nóiriêng là một nội dung rất quan trọng của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp Quanniệm về tính hiệu quả của việc sử dụng TSLĐ phải được hiểu trên hai khía cạnh:
+ Một là, với số tài sản hiện có có thể sản xuất thêm một số lượng sản phẩm với
chất lượng tốt, giá thành hạ để tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp
+ Hai là, đầu tư thêm tài sản một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản xuất để
tăng doanh thu tiêu thụ với yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc độtăng tài sản
Hai khía cạnh trên chính là mục tiêu cần đạt được trong công tác tổ chức quản lý
và sử dụng tài sản nói chung và TSLĐ nói riêng
Trước đây, khi nền kinh tế nước ta còn trong thời kỳ bao cấp, mọi nhu cầu vốn, tàisản cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều được Nhà nước cấp phát hoặc cấp tíndụng ưu đãi nên các doanh nghiệp không đặt vấn đề khai thác và sử dụng tài sản có hiệuquả lên hàng đầu Kể cả hiện nay, khi mà nền kinh tế nước ta đã chuyển đổi sang nềnkinh tế thị trường, các doanh nghiệp đã phải tự tìm nguồn vốn để hoạt động thì hiệu quả
sử dụng vốn, tài sản nói chung và TSLĐ nói riêng vẫn ở mức thấp Đó là do các doanhnghiệp chưa bắt kịp với cơ chế thị trường nên còn nhiều bất cập trong công tác quản lý và
sử dụng tài sản
Lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng một cách hợp lý, hiệuquả từng đồng TSLĐ nhằm làm cho TSLĐ được thu hồi sau mỗi chu kỳ sản xuất Việctăng tốc độ luân chuyển TSLĐ cho phép rút ngắn thời gian chu chuyển của vốn, qua đó,vốn được thu hồi nhanh hơn, có thể giảm bớt được số TSLĐ cần thiết mà vẫn hoàn thànhđược khối lượng sản phẩm hàng hoá bằng hoặc lớn hơn trước Nâng cao hiệu quả sử
Trang 17dụng TSLĐ còn có ý nghĩa quan trong trong việc giảm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông
và hạ giá thành sản phẩm
Hơn nữa, mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là thu đượclợi nhuận và lợi ích xã hội chung nhưng bên cạnh đó một vấn đề quan trọng đặt ra chocác doanh nghiệp là cần phải bảo toàn TSLĐ Do đặc điểm TSLĐ lưu chuyển toàn bộmột lần vào giá thành sản phẩm và hình thái TSLĐ thường xuyên biến đổi vì vậy vấn đềbảo toàn TSLĐ chỉ xét trên mặt giá trị Bảo toàn TSLĐ thực chất là đảm bảo cho số vốncuối kỳ được đủ mua một lượng vật tư, hàng hoá tương đương với đầu kỳ khi giá cả hànghoá tăng lên, thể hiện ở khả năng mua sắm vật tư cho khâu dự trữ và tài sản lưu độngđịnh mức nói chung, duy trì khả năng thanh toán của doanh nghiệp Bên cạnh đó, tăngcường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ còn giúp cho doanh nghiệp luôn cóđược trình độ sản xuất kinh doanh phát triển, trang thiết bị, kỹ thuật được cải tiến và nângcao Việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến công nghệ hiện đại sẽ tạo ra khả năng rộng lớn đểnâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra sức cạnh tranh chosản phẩm trên thị trường Đặc biệt khi khai thác được các tài sản, sử dụng tốt tài sản lưuđộng, nhất là việc sử dụng tiết kiệm hiệu quả TSLĐ trong hoạt động sản xuất kinh doanh
để giảm bớt nhu cầu vay vốn cũng như việc giảm chi phí về lãi vay
Những lý do trên, cho thấy sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả công tác quản lý và
sử dụng tài sản lưu động trong các doanh nghiệp Đó là một trong những nhân tố quyếtđịnh cho sự thành công của một doanh nghiệp, xa hơn nữa là sự tăng trưởng và phát triểncủa nền kinh tế
1.2.3 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
1.2.3.1 Vòng quay tài sản lưu động
Việc sử dụng tài sản lưu động đạt hiệu quả có cao hay không biểu hiện trước hết ởtốc độ luân chuyển vốn của doanh nghiệp nhanh hay chậm Tài sản lưu động luân chuyểncàng nhanh thì hiệu suất sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp càng cao và ngượclại
Trang 181.2.3.2 Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
Hệ số sinh lợi TSLĐ = Lợi nhuận sau thuế
TSLĐ bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản lưu động có thể tạo ra được bao nhiêu đồnglợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao càng tốt Mức doanh lợi tài sản lưu động càng cao chứng
tỏ hiệu quả sử dụng tài sản lưu động càng cao
1.2.3.3 Mức đảm nhiệm tài sản lưu động
Hệ số đảm nhiệm
TSLĐ Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thuần cần bao nhiêu đồng tàisản lưu động Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt đối với doanh nghiệp, vì khi đó tỷ suất lợinhuận của một đồng tài sản lưu động sẽ tăng lên
1.2.3.4 Mức tiết kiệm tài sản lưu động
Mức tiết kiệm tài sản lưu động, số tài sản lưu động doanh nghiệp tiết kiệm được
do tăng tốc độ luân chuyển vốn Doanh nghiệp càng tăng được vòng quay tài sản lưu
phân tích
-Thời gian 1vòng luânchuyển kỳ gốc
)360
Trang 19động thì càng có khả năng tiết kiệm được tài sản lưu động, càng nâng cao được hiệu quả
- Hệ số thanh toán nhanh:
Hệ số thanh toán nhanh = Vốn bằng tiền + Các khoản phải thu
Nợ ngắn hạn
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán của tiền và các khoản phải thu nghĩa là cáctài sản có thể chuyển nhanh thành tiền đối với các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
- Hệ số thanh toán tức thời:
Hệ số thanh toán tức thời = Vốn bằng tiền
Trang 20Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán
Hàng tồn khoChỉ tiêu này phản ánh số lần hàng hoá tồn kho bình quân lưu chuyển trong kỳ Chỉtiêu này càng cao chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty càng có hiệu quả
- Vòng quay các khoản phải thu:
Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu thuần
Các khoản phải thu bình quân
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thuthành tiền mặt Vòng quay càng lớn, chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu hồi là tốt
vì doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn (ít phải cấp tín dụng cho khách hàng và nếu có cấptín dụng cho khách hàng thì chất lượng tín dụng cao)
- Kỳ thu tiền bình quân
Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá khả năng thu hồi vốn trong thanh toán trên cơ sởcác khoản phải thu và doanh thu tiêu thụ bình quân một ngày
Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu
Doanh thu bình quân 1 ngày
Nó cho biết bình quân trong bao nhiêu ngày, doanh nghiệp có thể thu hồi cáckhoản phải thu của mình Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền trungbình càng nhỏ và ngược lại Kỳ thu tiền trung bình cao hay thấp trong nhiều trường hợpchưa thể có kết luận chắc chắn mà còn phải xem xét lại các mục tiêu và chính sách củadoanh nghiệp như mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng
Các chỉ tiêu trên đây tuy không phản ánh trực tiếp hiệu quả sử dụng tài sản lưuđộng nhưng nó cũng là những công cụ mà người quản lý tài chính cần xem xét để điềuchỉnh việc sử dụng tài sản lưu động sao cho đạt hiệu quả cao nhất trong quá trình tăngtrưởng của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản lưu động.
TSLĐ của doanh nghiệp luôn vận động chuyển hoá không ngừng và tồn tại dướinhiều hình thái khác nhau Trong quá trình vận động đó, TSLĐ chịu tác động bởi nhiều
Trang 21nhân tố làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp Có thể chia cácnhân tố đó ra làm hai nhóm chủ yếu sau:
● Các nhân tố chủ quan:
Ngoài các nhân tố khách quan nêu trên còn rất nhiều nhân tố chủ quan xuất phát từbản thân doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng TSLĐ cũng như toàn bộ quátrình hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Trong đó phải kể đến một sốnhân tố chủ yếu sau:
+ Vấn đề xác định nhu cầu TSLĐ: do xác định nhu cầu TSLĐ thiếu chính xác dẫnđến tình trạng thừa hoặc thiếu vốn trong sản xuất kinh doanh Nếu thừa vốn sẽ gây lãngphí còn nếu thiếu vốn thì lại không đảm cho quá trình sản xuất Điều này, sẽ ảnh hưởngkhông tốt đến quá trình hoạt động kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng vốn của doanhnghiệp
+ Việc lựa chọn phương án đầu tư: là một nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất lớn đếnhiệu quả sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp đầu tư sản xuất ra nhữngsản phẩm lao vụ, dịch vụ chất lượng cao, mẫu mã phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng,đồng thời giá thành hạ thì doanh nghiệp thực hiện được quá trình tiêu thụ nhanh, tăngvòng quay của tài sản lưu động, nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ và ngược lại
+ Do trình độ quản lý: trình độ quản lý của doanh nghiệp mà yếu kém sẽ dẫn đếnthất thoát vật tư hàng hoá trong quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm,dẫn đến sử dụng lãng phí TSLĐ, hiệu quả sử dụng vốn thấp Ngược lại, nếu trình độ quản
lý tốt sẽ giúp cho doanh nghiệp dự trữ được một lượng tiền mặt tốt đảm bảo được khảnăng thanh toán, vừa tránh được tình trạng thiếu tiền mặt tạm thời hoặc lãng phí do giữquá nhiều tiền mặt Đồng thời, cũng xác định được một lượng dự trữ hợp lý giúp cho quátrình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục mà không bị dư thừa hay ứa đọng vốn.Ngoài ra, trình độ quản lý TSLĐ tốt nó còn làm tăng được số lượng sản phẩm tiêu thụ,chiếm lĩnh thị trường thông qua chính sách thương mại
+ Ngoài ra, một số nhân tố khác cũng gây ảnh hưởng tới hiêu quả sử dụng TSLĐcủa doanh nghiệp như khả năng thanh toán Nếu đảm bảo tốt khả năng thanh toán, doanhnghiệp sẽ không bị mất uy tín trong quan hệ mua bán và không có nợ quá hạn
● Nhóm các nhân tố khách quan: hiệu quả sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp chịu
ảnh hưởng bởi:
+ Tốc độ phát triển của nền kinh tế: Khi nền kinh tế tăng trưởng chậm, sức mua
Trang 22của thị trường sẽ bị giảm sút Điều này làm ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ của doanhnghiệp, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ khó tiêu thụ hơn, doanh thu sẽ ít đi, lợi nhuậngiảm sút và tất yếu làm giảm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói chung và TSLĐ nóiriêng.
+ Rủi ro: Do những rủi ro bất thường trong quá trình sản xuất kinh doanh mà cácdoanh nghiệp thường gặp phải trong điều kiện kinh doanh của cơ chế thị trường có nhiềuthành phần kinh tế tham gia cùng cạnh tranh với nhau Ngoài ra, doanh nghiệp còn gặpphải những rủi ro do thiên nhiên gây ra như động đất, lũ lụt, núi lửa, sóng thần mà cácdoanh nghiệp khó có thể lường trước được những nguy cơ bất ngờ gây ra
+ Do tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ làm giảm giá trị tài sản,vật tư Vì vậy, nếu doanh nghiệp không bắt kịp điều này để điều chỉnh kịp thời giá cả củasản phẩm thì hàng hoá bán ra sẽ thiếu tính cạnh tranh làm giảm hiệu quả sử dụng vốn nóichung và TSLĐ nói riêng
+ Ngoài ra, do chính sách vĩ mô của Nhà nước có sự điều chỉnh, thay đổi về chínhsách chế độ, hệ thống pháp luật, thuế cũng tác động đến hiệu quả sử dụng TSLĐ củadoanh nghiệp
Trên đây là những nhân tố chủ yếu làm ảnh hưởng tới công tác tổ chức và sử dụngTSLĐ của doanh nghiệp Để hạn chế những tiêu cực ảnh hưởng không tốt tới hiệu quả tổchức và sử dung TSLĐ, doanh nghiệp cần nghiên cứu xem xét một cách kỹ lưỡng sự ảnhhưởng của từng nhân tố, tìm ra nguyên nhân của những mặt tồn tại trong việc tổ chức sửdụng TSLĐ, nhằm đưa ra những biện pháp hữu hiệu nhất, để hiệu quả của đồng TSLĐmang lại là tối ưu nhất trong quá trình hoạt đông sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp
Trang 23
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƯU ĐỘNG Ở CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ SẢN XUẤT HOA SƠN
2.1 Khái quát về công ty TNHH Thương mại và sản xuất Hoa Sơn
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
a, Thời kỳ 2003 – 2004
-Tháng 1/2004 Xí nghiệp sản xuất giấy – tiền thân của công ty TNHH thương mại
và sản xuất Hoa Sơn ngày nay ra đời ở Đại Từ – Thái Nguyên, có nhiệm vụ sản xuất,buôn bán nguyên liệu sản phẩm giấy cung cấp cho các công ty, doanh nghiệp trong ngànhcông nghiệp In ấn và sản xuất kinh doanh văn phòng phẩm trong nước
b, Thời kỳ cuối 2004 -2005
Đầu tháng 12 năm 2004 Xí nghiệp nhập về dây chuyền sản xuất gỗ ván ép côngnghiệp từ Nhật và bắt đầu đưa vào sản xuất gỗ ván ép tháng 1/2005, nhằm đáp ứng nhucầu của các xí nghiệp sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ và các ngành kinh doanh về nội thất.Sản xuất công nghiệp trong cả nước
c, Thời kỳ từ 2005 đến đầu 2009
Ngày 02 tháng 10 năm 2005 công ty TNHH thương mại và sản xuất Hoa Sơn chínhthức được thành lập; văn phòng công ty được mở tại P50- E3 Khu tập thể 8/3 PhườngQuỳnh Mai – Quận Hai Bà Trưng – TP Hà Nội cho đến nay
- Năm 2007, sản phẩm của công ty đã đạt giải topten: là một trong mười mặt hàngngười tiêu dùng ưu chuông nhất trong ngành Hai năm gần đây (2008 – 2009) công ty đãkhông ngừng đầu tư trang thiết bị máy móc, đội ngũ cán bộ KHKT được phát triển, phânloại lao động đào tạo tay nghề, nghiên cứu chính sách, chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tếISO 9000 – 9001, công ty mở các lớp nghiệp vụ về quản lý kinh doanh, XNK, khoa họcquản lý , để nâng cao đội ngũ CBCNV Từ năm 2005 đến năm 2009 công ty luôn đượccông nhận là đơn vị quản lý giỏi và sản phẩm đạt chất lượng cao, cán bộ công nhân viêntiêu biểu trong phong trào sản xuất thời kỳ công nghiệp hóa, được Nhà nước trao tặng+ Bằng khen của UBND TP năm 2007
Trang 24+ Băng khen của Bộ Công nghiệp nhẹ năm 2008
+ Tổng liên đòan Lao động Việt Nam tặng cờ đơn vị xuất sắc năm 2006 và bằngkhen năm 2009
e, Thời kỳ cuối năm 2009 đến nay
- Tháng 7 năm 2009 công ty đã đầu tư vào dây chuyền sản xuất giấy với công nghệmới Chính vì vậy, năng suất của công ty không ngừng được nâng cao Tháng 12 năm
2009 công ty đã xây dựng thành công hệ thống chất lượng ISO 9002, và đến ngày1/12/2010 công ty được cấp chứng chỉ ISO 9002 Ngày 10/2/2011 công ty đã thực hiện
hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001- 2000 Hiện tại công ty đang phát triển khá thuậnlợi về sản xuất và phân phối sản phẩm của mình trên toàn quốc và trên một số quốc giakhác, mục tiêu mà công ty đề ra đã khá thành công về khẳng định thương hiệu trongngành sản xuất và trong lĩnh vực tiêu dùng; có thể nói trong tương lai không xa công ty
sẽ là một doanh nghiệp lớn mạnh trên thị trường nội địa, cũng như thị trường quốc tế
2.1.2 Đặc điểm bộ máy quản lý và bộ máy kế toán của công ty
2.1.2.1 Bộ máy quản lý
• Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty TNHH thương mại và sản xuất Hoa Sơn
Trang 25Sơ đ ồ 1 : Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý công ty TNHH thương mại và sản xuất Hoa Sơn
Giám đốc
Đại diện của lãnh đạo về
Phòng XNK
Phòng Chế thử mẫu
Phòng KH-VT
Phòng sản xuất &
GC
Phòng
KT và CN
Phòng QLCL
PX 2Khử và pha trộn hỗn hợp
PX 3Vận hành máy xeo giấy và máy ép
PX 4Thành phẩm
PX
Xử lý nguyên liệu thô
PX Nghiền, trộn hỗn hợp
PX Thành phẩm
PXTạo khuôn,ép,sấy
PX 1
Xử lý
nguyên liệu
thô
Trang 262.1.2.2 Bộ máy kế toán của công ty
Sơ đồ 2: Bộ máy kế toán của công ty
Công ty đề ra quy chế làm việc khá chặt chẽ và đầy đủ tạo cơ sở cho việc quản lý vàhoạt động kinh doanh; phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban, góp phần rất hiệu quả vào công tác quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
2.1.3 Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của công
Sơ đồ 3: Quy trình công nghệ sản xuất gỗ và ván ép công nghiệp
Kế toán vật tư
Kế toán tiền lương thanh toán tạm ứng
Kế toán TSCĐ,CCDC
Kế toán TGNH ,tập hợp CFCX tính ZSP
Thủ quỹ
Nguyên liệu
gỗ
Xử lý nguyên liệu thô
Nghiền và trộn hỗn hợp
Tạo mẫu khuôn và ép
Thành phẩm
Sấy và sơn sản phẩm
Trang 27Sơ đồ 4: Quy trình công nghệ sản xuất giấy
▪ Quy trình sản xuất gỗ, ván công nghiệp:
- Giai đoạn xử lý nguyên liệu thô : Từ những nguyên liệu gỗ tự nhiên vanhững phô gỗ từ quá trình sản xuất được qua xử lý bằng công nghệ xay nguyên liệu
▪ Quy trình sản xuất giấy:
Để sản xuất giấy thì phải trải qua các quy trình tuần tự sau:
- Nguyên vật liệu thô bằng gỗ hoặc giấy cũ tái chế lại được xử lý qua 2 biện pháp:
+ Xử lý cơ học: gỗ được mài hoặc băm nhỏ sau đó được nghiền trong cácmáy nghiền, nếu chi dùng phương thức cơ này để sản xuất thì thành phẩm của bột gỗ
Qua xử lý( cơ học hay hóa học)
và nghiền
Khử mực, các chất phụ gia và pha trộn hỗn hợp
Máy xeo giấy( giấy hình thành và tạo khuôn)
Giấy thành phẩm
Trang 28không phải là các sợi cellulose mà là các liên kết sợi đã được mài và nghiền nhỏ ra,
để có thể lấy được sợi nguyên thủy thì phải dùng đến biện pháp xử lý hóa học
+ Xử lý hóa học: các nguyên liệu gỗ được xử lý bằng cách nấu, sau khi nấutừ 12 tiếng đến 15 tiếng các sợi sẽ được tách ra khỏi các thành phần cứng đi cùng vớicellulose nhìn theo phương diện này thì gỗ bao gồm: 40% - 50% cellulose; 10% -55% hemicellulose; 20% - 30% linhin; 6% - 12% các chất hữu cơ khác; 0,3% - 8%hợp chất vô cơ Tùy theo hóa chất được dùng để nấu, người ta phân biệt các phươngpháp kiềm, sunfit và sunfat Phần linhin còn sót lại sau khi nấu sẽ làm cho bột giấy
có màu vàng hay nâu, vì thế phải rửa sạch và tẩy bột giấy; bột giấy cần phải được tẩytrắng bằng clo, Hidrooperroxit hay ôxy
- Khử mực giấy cũ: Các phương pháp khử mực giấy loại có mục đích chính lànhằm loại bỏ các hạt mực cũng như các chất phụ giakhacs như chất trộn, các hạtmang màu trong quá trình tráng phủ ra khỏi thành phần sợi xơ, thường người ta dùngphương pháp tuyển nổi để khử mực giấy
- Xử lý bột trước khi sản xuất giấy : Bột giấy được nghiền trong các máynghiền trước khi đưa qua máy giấy Bên trong máy nghiền dung dịch bột đậm đặcchảy giữa trục lăn có dao và các dao này được gắn cố định, sợi sẽ được cắt (nghiềnthô) hay ép (nghiền tinh) tùy theo điều chỉnh của dao
- Máy xeo giấy: Giấy được tạo thành trên máy xeo giấy, dung dịch bột giấy( 99% là nước ) Sau khi được làm sạch nhiều lần dung dịch chảy trên mặt lưới, trênmặt lưới này phần lớn nước chảy thoát đi và cấu trúc của tờ giấy bắt đầu hình thành.Sau đó giấy được ép rồi đưa qua máy sấy, tiếp theo là ép láng và cuộn tròn
- Chất độn: Ngoài sợi cellulose ra bột giấy còn được trộn thêm đến 30% chấtđộn như cao lanh, tinh bột, Blanefixe, Ddioxxit titan, phấn Các chất độn này làmđầy phần không gian giữa các sợi giấy và làm cho giấy mềm mại và có bề mặt lánghơn, thành phần của chất độn sẽ quyết định độ trong suốt hay độ mờ đục của giấy, đểchống không lem mực phải cần đến keo
2.2 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty trong những năm gần đây
Trang 29Trong những năm gần đây, nền kinh tế thế giới có nhiều biến động, kéo theo
sự sụt giảm nhu cầu tiêu dùng hàng hoá nói chung cũng như là sản phẩm của ngànhsản xuất và dịch vụ thương mại nói riêng Điều này đã gây ra những tác động rất lớnđến tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty Tuy nhiên, với uy tín và chất lượng sảnphẩm, với kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực sản xuất giấy và gỗ ván ép côngnghiệp nên công ty vẫn giữ được mối quan hệ với các bạn hàng truyền thống nhưcác doanh nghiệp sản xuất trong nước và ngoài nước Bên cạnh đó, công ty cũng đãchú trọng hơn vào thị trường nội địa Trong những năm vừa qua, doanh thu tiêu thụhàng nội địa của công ty ngày một tăng, và mặc dù chỉ chiếm tỉ trọng rất nhỏ trongtổng doanh thu nhưng điều đó cũng chứng tỏ công ty đã tìm được chỗ đứng củamình ở thị trường trong nước
Kết quả cụ thể về tình hình sản xuất kinh doanh của công ty trong những nămgần đây được thể hiện thông qua bảng sau:
Trang 30
Chỉ tiêu mã số Năm 2008 Năm 2009 Số tiền Chênh lệch Tỷ lệ Năm 2010 Số tiền Chênh lệch Tỷ lệ Năm 2011 Số tiền Chênh lệch Tỷ lệ 1.Doanh thu BH và CCDV 01 85.632.509.700 87.562.031.256 1.929.521.556 2,25 99.634.523.123 12.072.491.867 13,8 112.985.876.201 13.351.353.078 13,4
3.Doanh thu thuần về BH v à
CCDV (10=01-02) 10 85.632.509.700 87.562.031.256 1.929.521.556 2,25 99.634.523.123 12.072.491.867 13,8 112.985.876.201 13.351.353.078 13,44.Giá vốn hàng bán 11 69.899.001.575 72.656.132.000 2.757.130.425 3,94 86.435.366.100 13.779.234.100 18,96 98.875.546.907 12.440.180.807 14,39 5.Lợi nhuận gộp (20=10- 11 ) 20 15.733.508.125 14.905.899.256 -827.608.869 -5,26 13.199.157.023 1.706.742.233 -11,45 14.110.329.294 911.172.271 6,906.doanh thu hoạt động tài
chính 21 230.097.328 246.576.168 16.478.840 7,16 155.658.999 -90.917.169 -36,87 256.748.969 101.089.970 64,947.Chi phí tài chính 22 214.755.000 152.701.798 -62.053.202 -28,89 133.454.632 -19.247.166 -12,6 174.667.246 41.212.614 30,88
- trong đó chi phí lãi vay 23 214.755.000 130.300.000 -84.455.000 -39,3 115.560.000 -14.740.000 -11,3 150.213.832 34.653.832 29,99 8.chi phí bán hàng 24 2.117.450.600 2.175.650.500 58.199.900 2,75 1.853.830.900 -321.819.600 -14,8 1.935.657.398 81.826.498 4,41
9 Chi phí quản lý doanh
nghiệp 25 11.676.950.900 11.166.350.000 -510.600.900 -4,37 9.767.568.700 -1.398.781.300 -12,5 10.327.685.457 560.116.757 5,7310.LN thuần từ HĐKD
(30=20+21-22-24-25) 30 1.954.448.953 1.657.773.126 -296.675.827 -15,17 1.599.961.790 -57.811.336 -3,48 1.929.068.162 329.106.372 20,5711.Thu nhập khác 31 14.329.500 56.272.360 41.942.860 292,7 83.287.530 27.015.170 48 86.702.597 3.415.067 4,1
12 Chi phí khác 32 465.466.700 23.063.798 -442.402.902 -95 131.826.978 108.763.180 471,5 85.207.624 -46.619.354 -35,3613.Lợi nhuận khác (40=31-32) 40 -451.137.200 33.208.562 484.345.762 -104 -48.539.457 -81.748.019 -246,2 1.494.973 50.034.430 -103,08 14.Tổng LN trước
thuế(50=30+40) 50 1.503.311.753 1.690.981.688 187.699.935 12,48 1.551.422.333 -139.559.355 -8,25 1.930.563.135 379.140.802 24,4415.ThuếTNDN phải nộp 51 498.367.800 578.895.321 80.527.521 16,16 503.182.977 -75.712.344 -13,08 555.304.849 52.121.872 10,36
16.Lợi nhuận sau thuế
(60=50-51) 60 1.004.943.953 1.112.086.367 107.142.414 10,66 1.048.239.356 -63.847.011 -5,74 1.085.258.286 37.018.930 3,53
(Nguồn: Bảng báo cáo kết quả kinh doanh của công ty từ năm 2008 – 2011)
Trang 31Đơn vị tính: VNĐ
0 20,000,000,000
doanh thu Lợi nhuận
Qua bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cho thấy tổng doanh thu củadoanh nghiệp năm 2009 đã tăng lên khá tốt so với năm 2008 Cụ thể, năm 2009, tổngdoanh thu của công ty đạt 87.562.031.256 (đồng), tăng thêm so với năm 2008 là1.929.521.556 (đồng) tương ứng với mức tăng 2,25% Năm 2010 tổng doanh thu tăngmột con số cũng khá ấn tượng là 12.072.491.867 (đồng) so với năm 2009, với tỷ lệ tăngcao 13,8% Đặc biệt hơn nữa, trong năm 2011 vừa qua tổng doanh thu tăng khá ổn định
so với năm 2010 là 13.351.353.078 với tỷ lệ tăng là 13,4 % Trong điều kiện kinh doanhkhó khăn như hiện nay thì để đạt được điều này không phải là dễ Bên cạnh đó, lợi nhuậnsau thuế đạt được năm 2009 cũng tăng hơn so với năm 2008, tăng 107.142.414 (đồng);năm 2010 lại giảm đáng kể so với năm 2009 là 63.847.011 (đồng), ứng với tỷ lệ giảm là5,74% và mặc dù so với năm 2008 thì lợi nhuận sau thuế vẫn tăng đôi chút Có thể thấynguyên nhân dẫn đến việc lợi nhuận của công ty giảm trong năm 2010 là :
- Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh giảm 57.811.336 đồng với mức giảm tỷ lệ
là 3,48% Sở dĩ khoản này giảm là do giá vốn hàng bán tăng 13.779.234.100 đồng, khiếnlợi nhuận gộp năm 2010 giảm đáng kể là 1.706.742.233 với tỷ lệ giảm 11,45% kết hợpvới việc giảm doanh thu hoạt động tài chính ( tỷ lệ giảm 36,87% ), chi phí tài chính giảm( tỷ lệ giảm 12,6% ), chi phí bán hàng ( tỷ lệ giảm 14,8% ), chi phí quản lý doanh nghiệp( tỷ lệ giảm 12,5% ) đã khiến lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh giảm
Trang 322009
- Lợi nhuận trước thuế năm 2010 giảm 139.559.355 đồng với tỷ lệ giảm là 8,25% ,
do đó khiến lợi nhuận sau thuế giảm so với năm 2009 là 63.847.011 đồng ( tỷ lệ giảm5,74% ), tuy vậy so với năm 2008 lợi nhuận sau thuế đã tăng lên đôi chút
Trong khi lợi nhuận của năm 2010 giảm đáng kể như vậy, nhưng năm 2011 lại chứng tỏmột sự tăng trưởng khá tốt để cải thiện tình hình nguy cấp của công ty và con số đó tuykhông đáng kể nhưng đó thật dự là sự cố gắng không ngừng của tập thể lãnh đạo cũngnhư độ ngũ cán bộ trong công ty, trong tình hình nền kinh tế nước nhà bị ngưng lại dochính sách của nhà nước Cụ thể là năm 2011 lợi nhuận tăng 37.018.930 đồng ứng với tỷ
lệ tăng là 3,53 % so với năm 2010
Qua sự phân tích sơ bộ trên, ta chưa thể kết luận chính xác hiệu quả hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp có khả thi hay không, đặc biệt ta cũng chưa biết đượcviệc sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp có hiệu quả hay không Do vậy, để tìmhiểu tình hình hoạt động kinh doanh và hiệu quả sử dụng TSLĐ của công ty trong thờigian qua cần phải có những phân tích đánh giá cụ thể hơn trong những phần phân tíchdưới đây
2.2.1 Cơ cấu tài sản và nguồn vốn kinh doanh của công ty
Việc nắm rõ cơ cấu tài sản và nguồn hình thành vốn của công ty là việc làm quantrọng nhất và không thể thiếu được của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp Để thấyđược sự biến động về cơ cấu tài sản và nguồn vốn của công ty TNHH và sản xuất HoaSơn, ta hãy đi xem xét bảng sau:
Trang 33Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Chênh lệch 2009-2008 Năm 2010 Chênh lệch 2010-2009 Năm 2011 Chênh lệch 2011 - 2010
Trang 34Về tài sản: Tổng tài sản của công ty năm 2009 đã có sự tăng lên đáng kể, đạt
71.442.220.006 đồng Như vậy, so với năm 2008, tài sản của công ty đã tăng thêm một lượng là 2.278.329.436 đồng, với tỷ lệ tăng tương ứng là 3,29% Tổng tài sản
năm 2010 tăng mạnh hơn so với năm 2009 với tỷ lệ tăng khá cao là 11,53% vàmức tăng rõ ràng là lớn hơn so với sự tăng của năm trước rất nhiều Sự tăng lên vềtổng tài sản năm 2010 chủ yếu là do tài sản dài hạn của công ty đã tăng lên đáng kể
so với năm 2009, mức tăng là 13.247.166.800 đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng là50,45% Mặc dù tài sản ngắn hạn của công ty có giảm xuống 5.012.631.998 đồngtương ứng với tỷ lệ giảm là 11,09% Việc tăng TSDH là do trong năm 2010 công
ty đã chú trọng tới việc đầu tư tài sản cố định mà thực tế là công ty đã đầu tư thêm
2 dây chuyền sản xuất Còn sự gia tăng tổng tài sản năm 2009 so với năm 2008 chủ
yếu là do sự tăng mạnh của khoản TSDH với mức tăng là 25,05% Cũng như năm
2010, trong năm 2009 TSNH của công ty cũng giảm 2.278.329.436 với tỷ lệ giảm
là 3,295 Còn lại năm 2011 tổng tài sản có tăng đôi chút so với năm 2010 cụ thể làtài sản tăng 5.164.006.097 đồng ứng với tỷ lệ tăng là 6,48%, nhưng so chỉ tiêucủa hai năm trước thi vẫn còn khá ít, sự tăng này một phần là do TSDH tăng lênnhư mọi năm và cũng do năm 2011 TSNH lại tăng lên nhờ vào sự giảm xuống củacác khoản phải thu ngắn hạn Qua đây, cho ta thấy trong 3 năm qua công ty đã chútrọng đầu tư khá nhiều vào tài sản cố định, do vậy đã làm khoản mục tài sản lưuđộng giảm một số lượng đáng kể, và trong năm 2011 TSLĐ lại được cân đối lạihợp lý theo hiệu quả kinh doanh của công ty Đối với một doanh nghiệp sản xuấtthì việc tăng TSCĐ nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất với mục tiêu lâu là điều tấtyếu, nhưng doanh nghiệp cần xem xét việc tăng TSCĐ liệu có đem lại hiệu quảkinh doanh khả thi hơn trước không?
Trang 35Biểu đồ 2: Sự biến động tài sản công ty TNHH thương mại và sản xuất Hoa Sơn
(Đơnvịtính:VNĐ)
0 10,000,000,000
*Về nguồn vốn : Tổng nguồn vốn của công ty cũng đã tăng một lượng tương ứng
với sự ra tăng của tổng tài sản Nguồn vốn của công ty năm 2011 tăng lên5.164.006.097 đồng với tỷ lệ tăng là 6,48% so với năm 2010 và nguồn tăng chủ yếu ởđây lại ở khoản nợ phải trả, cụ thể là nợ ngắn hạn và tỷ lệ tăng năm 2011 vẫn là con sốkhá khiêm tốn so với các năm vừa qua Năm 2010 nguồn vốn của công ty tăng8.234.534.802 đồng với tỷ lệ tăng 11,53% và năm 2009 tăng so với năm 2008 là2.278.329.436 đồng, tỷ lệ tương ứng 3,29% Sự ra tăng tổng nguồn vốn năm 2010 lớnhơn rất nhiều so với sự gia tăng của năm 2009 Trong đó, sự gia tăng chủ yếu của năm
2010 lại bắt nguồn từ khoản nợ phải trả, chủ yếu từ nợ dài hạn Năm 2010, nợ ngắn hạn của công ty đã tăng thêm một khoản là 2.571.744.159 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là
8%, trong khi đó khoản nợ dài hạn của công ty tăng 3.562.781.025 đồng, tỷ lệ tăng đáng
kể là 40,48% khiến cho tổng nợ phải trả của công ty đạt 47.069.834.901 đồng, chiếm59,08% trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp Bên cạnh đó, khoản vốn chủ sở hữucũng đã tăng một lượng nhỏ so với năm 2009 là 6.347.001.116 đồng với tỷ lệ tăng khá
cao là 24,17% Như vậy, cơ cấu nguồn vốn của công ty trong năm 2011 đã có sự thay đổi
Trang 36mừng trong sự tăng lên của nguồn vốn Nhưng ta có thể thấy, khoản nợ phải trả chiếm tỷtrọng khá lớn trong tổng nguồn vốn là 57,3% năm 2009, con số này năm 2010 là 59,08%
và năm 2011 là 60% Điều này cho thấy phần lớn tài sản của công ty được hình thành từnguồn vốn vay Sử dụng nhiều vốn vay cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có độ lớncủa đòn bẩy tài chính lớn, tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu có khả năng tăng nhanh,nhưng đồng thời cũng đang phải đối mặt với mức độ rủi ro rất lớn Bất kì một quyết địnhsai lầm nào cũng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự tồn tại và phát triển của công ty
Biểu đồ 3: Sự biến động tổng nguồn vốn công ty năm 2008, 2009, 2010, 2011
0 10,000,000,000
Bây giờ ta xét cụ thể từng khỏan trong nguồn vồn của công ty xem chúng biến động như
thế nào căn cứ vào các bảng sau:
Trang 37Chỉ tiêu Năm 2008 (ST) Năm 2009
1.Vay và nợ
ngắn hạn 19.586.731.600 20.411.598.803 824.867.203 4,21 20.003.506.223 - 408.092.580 - 2,00 23.039.016.206 3.035.509.983 15,172.Phải trả cho
người bán 6.073.861.000 6.008.866.932 - 64.994.068 -1,07 7.988.733.256 1.979.866.324 32,95 8.262.827.872 274.094.616 3,433.Người mua
trả tiền trước 373.342.000 167.532.117 - 205.809.883 -55,13 296.457.982 128.925.865 76,96 308.702.898 12.244.916 4,134.Thuế và các
khoảnp.nộp NN 1.568.310.880 1.778.805.390 210.494.510 13,42 1.977.886.057 199.080.667 11,19 2.009.242.972 31.356.915 1,595.Phải trả công
nhân viên 1.983.211.640 1.797.523.665 - 185.687.975 -9,36 1.570.005.078 - 227.518.587 - 12,66 1.503.270.722 -66.734.356 -4,256.Các khoản
Trang 38với tỷ lệ tăng là 2,21% và năm 2010 khoản này tăng còn cao hơn so với năm 2009 vớimức cụ thể là 6.135.245.184 đồng ứng với tỷ lệ 14,99%, còn năm vừa qua 2011 thìkhoản nợ phải trả tăng ở mức vừa phải, cụ thể là 3.831.278.829 đồng với tỷ lệ tăng la8,14% Khoản nợ phải trả tăng năm 2011 là do các khoản nợ ngắn hạn và nợ dài hạn đềutăng so với năm 2010 Năm 2010 nợ ngắn hạn tăng 8%, nợ dài hạn tăng 40,48%, nhưngsang năm 2011 tỷ lệ này dường như lại thay đổi, nợ ngắn hạn tăng cao hơn 9,64% và nợdài hạn lại tụt lại ở con số 3,93% Nợ ngắn hạn năm 2010 tăng vì ba khoản phải trả chongười bán, khoản người mua trả tiền trước, khoản phải trả phải nộp khác tăng khá mạnh.Phải trả cho người bán tăng 1.979.866.324 đồng với tỷ lệ tăng 32,95%, khoản người muatrả tiền trước thì tăng khá cao 128.925.865 đồng tương ứng tỷ lệ 76,96% và cuối cùngkhoản phải trả phải nộp khác tăng 900.082.470 đồng với tỷ lệ tăng 45,7% Trong khi đó,
nợ dài hạn tăng chủ yếu từ khoản phải trả dài hạn khác ( tăng 2.305.182.751 đồng, tỷ lệtăng 110,92%), vay và nợ dài hạn tăng 17,92% và lý do đó lại hoàn toàn ngược lai vớinăm 2011 vì chỉ tăng nhiều nhất ở khoản vay và nợ ngắn hạn là 3.035.509.983 đồng với
tỷ lệ tăng là 15,17%, còn lại các khoản khác lại tăng chậm Nợ phải trả của công ty tăngđồng nghĩa với việc công ty sử dụng nhiều vốn vay trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Sự biến động của vốn chủ sở hữu được thông qua bảng sau:
Trang 39Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009
Chênh lệch 2008
Trang 40tăng là 2.099.289.618 đồng ứng với tỷ lệ 6,88%, năm 2011 tăng 1.332.727.268 đồngtương ứng với tỷ lệ là 4,09%, Nguồn vốn chủ sở hữu tăng do: nguồn vốn – quỹ tăng Cụthể, năm 2010 tăng 2.095.639.618 đồng tương ứng tỷ lệ 6,92%, năm 2011 tăng1.318.199.996 đồng, tỷ lệ tăng là 4,07% Nguồn kinh phí và quỹ khác tăng 3.650.000đồng, tỷ lệ là 1,57% năm 210 và năm 2011 tăng lên 14.527.272 đồng với tỷ lệ 6,16%.Khoản này tăng là do quỹ khen thưởng phúc lợi của công ty tăng mặc dù tăng với tỷ lệnhỏ nhưng cũng đã cho thấy công ty quan tâm tới cán bộ công nhân viên hơn trước.
2.3 Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của công ty TNHH thương mại và sản xuất Hoa Sơn
2.3.1 Thực trạng tài sản lưu động của công ty trong những năm vừa qua
2.3.1.1 Tình hình phân bổ tài sản lưu động của công ty
Việc huy động vốn đầy đủ và kịp thời cho sản xuất kinh doanh là rất khó, nhưnglàm thế nào để quản lý và sử dụng tài sản lưu động sao cho có hiệu quả là việc làm cònkhó hơn rất nhiều Một trong những nhân tố có ảnh hưởng quyết định tới hiệu quả sửdụng TSLĐ, đó là việc phân bổ TSLĐ sao cho hợp lý Mỗi một khoản mục sẽ chiếm baonhiêu phần trăm trong tổng TSLĐ của công ty thì được coi là hợp lý, điều đó phụ thuộcvào rất nhiều yếu tố khác nhau như: đặc điểm kinh doanh, lĩnh vực ngành nghề kinhdoanh, loại hình doanh nghiệp, năng lực của đội ngũ lãnh đạo Do đó, các doanh nghiệpkhác nhau sẽ có kết cấu TSLĐ khác nhau Là một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vớilượng TSLĐ chiếm tỉ trọng lớn trong tổng vốn thì việc phân bổ TSLĐ của công ty saocho hợp lý có ý nghĩa hết sức quan trọng, có tính quyết định tới hiệu quả sử dụng TSLĐ
và hiệu quả kinh doanh của công ty Ta có thể thấy được tình hình phân bổ và cơ cấuTSLĐ của công ty TNHH thương mại và sản xuất Hoa Sơn qua bảng 5 sau: