1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ôn thi môn tài chính tiền tệ chuyên đề Nguồn lực tài trợ cho phát triển kinh tế

32 382 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình đầu tư công tại việt nam Câu 1->5: các nguồn tài trợ cho phát triển kinh tế: 1, tình hình Ngân sách nhà nước là hệ thống quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối cá

Trang 1

Nguồn lực tài trợ cho phát triển kinh tế

1, Tình hình Ngân sách nhà nước 3

2, Tình hình Vay nợ của chính phủ: 4

2.1 Một số đề xuất nhằm quản lý có hiệu quả nợ công ở Việt Nam 5

2.2 Các biện pháp tái cấu trúc đầu tư công và nợ công: 6

2.3 Khủng hoảng nợ công của khu vực sử dụng đồng Euro 6

2,4 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng nợ công 7

3, Tinh hình huy động vốn qua tín dụng ngân hàng 10

3.1 Các nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh ngân hàng trong điều kiện lạm phát ở mức cao 13

5,Tình hình Huy động vốn qua nguồn vốn FDI 14

Lợi ích và hạn chế của nguồn vốn FDI 14

Những tác đ ng hai m t của FDI trước yêu cầu phát triển bền vững và tái cấu trúc nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới, mà nổi b c là: ậc là: 14

Tình hình FDI năm 2011 15

Đọc thêm 16

Năm 2011: Thu hút vốn FDI chỉ bằng 74% so với năm trước 16

4, huy động vốn qua thị trường chứng khoán 17

2 Nguyên nhân sụt giảm của thị trường chứng khoán 2011: 19

 CÁC GIẢI PHÁP KIỆN TOÀN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI: 21

 Chủ trương vực dậy thị trường chứng khoán tại Việt Nam trong thời gian tới: 21

 Một số giải pháp kiện toàn thị trường chứng khoán Việt Nam: 21

6.Tình hình đầu tư công tại việt nam: 23

7: NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TRONG NƯỚC 26

Trang 2

3, câu hỏi liên quan:

1 phân tích tình hình các nguồn tài trợ cho phát triển kinh tế của nước ta hiện nay, cho ví dụ minh họa cụ thể Trongcác nguồn lực này thì nguồn lực nào là quan trọng nhất?

2 phân tích tình hình nợ công của nước ta hiện nay?

3 Phân tích tình hình huy động và sử dụng nguồn vốn FDI của nước ta trong thời gian gian gấn đây?

4 Nhận định tình hình chứng khoán của nước ta trong những năm gần đây, theo bạn để nâng cao hiệu quả hoạt độnghơn nữa ttck thì cần phải làm gì?

5 Anh chị bình luận câu sau của thủ tướng nguyễn tấn dũng năm 2008: “tỷ lệ bội chi ngân sách ở mức 5% liên tụctrong nhiều năm qua trong khi quy mô kinh tế ngày càng lớn mà vẫn chưa đặt ra kế hoạch giảm bội chi, do đó khôngtạo ra áp lực đối với việc kiểm soát và tiết kiệm thu chi ngân sách”.(gợi ý: theo như thông thường GDP tăng liên tụctrong nhiều năm thì quy mô bội chi ngân sách giảm nhưng việt nam lại không,là do không có kế hoạch đúng đắntrong giám sát chi tiêu cụ thể , chưa làm chủ trong chi tiêu công)

6 Tình hình đầu tư công tại việt nam

Câu 1->5: các nguồn tài trợ cho phát triển kinh tế:

1, tình hình Ngân sách nhà nước

là hệ thống quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồng tài chính của xã hội để tạo lập và sử dụng quỹ tiền

tệ của nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước

Thu thuế: Thuế là khoản thu chiếm tỷ trọng lớn nhất tại hầu hết các quốc gia trên thế giới , không phân biệt chế độ

chính trị Khoản thu này được xây dựng trên cơ sở trao đổi nghĩa vụ giữa công dân với nhà nước

Phí và lệ phí là một nguồn thu thường được đề cập đầu tiên trong các nguồn thu vốn có của NSNN vì nó trực tiếp

gắn với chức năng cung cấp hàng hóa công

Ngân sách nhà nước (NSNN) là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã

hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều

chỉnh đời sống xã hội

 Vốn từ Ngân sách nhà nước (NSNN) có vai trò rất quan trọng trong toàn

bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước, luôn

gắn liền với vai trò của nhà nước theo từng giai đoạn nhất định Đối với nền kinh

tế thị trường, NSNN đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế,

NGUÔÌN : Bôò TaÌi Chiình

Nhìn vào bảng thu ngân sách trên ta thấy, càng ngày tình hình thu Ns của chính phủ càng tãng, cụ thể nhý sau:

Dự toán thu ngân sách nhà nước năm 2011: 595.000 tỷ đồng, tăng 12,7% so với ước thực hiện năm 2010

Dự toán thu cân đối ngân sách nhà nước năm 2010 là 461.500 tỷ đồng, kết quả thực hiện đạt 559.170 tỷ đồng, vượt21,2% so với dự toán

Thu NSNN năm 2009 ước đạt 442.340 tỷ đồng, vượt 13,4% so với dự toán; mức động viên thuế và phí đạt 23%GDP

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhiệm vụ tài chính - ngân sách hoàn thành vượt dự toán Thu ngân sách nhà nước sau khi đảm bảo nhiệm vụ chi thường xuyên, thực hiện điều chỉnh tiền lương, dành được nguồn quan trọng cho đầu tư phát triển, tăng chi trả nợ và giảm bội chi ngân sách nhà nước Trong công tác quản lý, điều hành giá cả, đã thực hiện điều

Trang 3

chỉnh giá bán theo hướng tiếp cận giá thị trường đối với một số hàng hoá dịch vụ quan trọng theo lộ trình đã đề ra; hoạt động của thị trường chứng khoán được kiểm soát để phát triển lành mạnh, vững chắc.

Kết quả thực hiện ngân sách nhà nước năm 2010 đã góp phần hoàn thành các mục tiêu nhiệm vụ của tài chính- ngân sách theo Nghị quyết Đại hội X và Kế hoạch 5 năm 2006-2010 với cơ cấu thu được cải thiện, tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu NSNN tăng từ mức 52-53% năm 2006 lên trên 63% năm 2010 góp phần tăng tính chủ động và ổn định của NSNN; cơ cấu chi đang thay đổi theo hướng tăng chi mạnh hơn cho con người, thực hiện các chính sách an ninh xã hội, tăng đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, tiềm lực dự trữ quốc gia được tăng cường Kết quả thực hiện ngân sách nhà nước năm 2010 tạo đà thuận lợi cho việc xây dựng và triển khai thực hiện Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 5 năm 2011-2015 và Chiến lược tài chính 10 năm 2011-2020.

Năm 2009 là năm có nhiều khó khăn, thách thức lớn đối với nền kinh tế nước ta Khủng hoảng tài chính và suy thoáikinh tế toàn cầu đã tác động trực tiếp đến kinh tế trong nước, làm cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu giảm sút,ảnh hưởng đến việc làm và đời sống nhân dân Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã đề ra những giải pháp cấp bách nhằm ngănchặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội Cùng với sự nỗ lực của các ngành, các cấp, cộngđồng doanh nghiệp và toàn thể nhân dân; các chính sách và giải pháp kích thích kinh tế đề ra đã được thực hiện khẩn trương,đồng bộ và phát huy hiệu quả, giúp thực hiện thành công mục tiêu ngăn chặn suy giảm kinh tế Từ quý II/2009, tình hình kinh

tế đã có chuyển biến tích cực, tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước, nâng mức tăng trưởng GDP cả năm đạt 5,32%, gópphần duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội

Cùng với sự khởi sắc của tình hình sản xuất, kinh doanh và xuất nhập khẩu, nhiệm vụ thu, chi NSNN năm 2009 đạt

kết quả khả quan tình hình kinh tế - xã hội năm 2009 mặc dù gặp nhiều khó khăn, song thực hiện các Nghị quyết của Đảng

và Quốc hội, có sự phối kết hợp và nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính trị, nhiệm vụ tài chính - NSNN năm 2009 đã đạtđược những kết quả quan trọng: thu cân đối NSNN vượt dự toán (13,4%); chi NSNN đảm bảo thực hiện được tổng mức dựtoán chi Quốc hội đã quyết định, đồng thời sử dụng nguồn vượt thu và tăng bội chi NSNN để tăng nguồn lực cho đầu tư pháttriển nhằm kích thích kinh tế, tăng kinh phí thực hiện các chính sách an sinh xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phầntích cực, hạn chế các tác động tiêu cực của suy thoái kinh tế toàn cầu, tới suy giảm kinh tế trong nước, ổn định kinh tế vĩ mô

và đảm bảo an sinh xã hội./

2, tình hình Vay nợ của chính phủ:

Tín dụng nhà nước: là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân

danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền pháthành theo quy định của pháp luật

ODA là nguồn vốn hổ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoảng viện trợ và cho vay với điều kiện ưu đãi.

ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang và kém phát triển được các cơ quan chính thức và cơ quanthừa hành của chính phủ hoặc các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ tài trợ

Tình hình nợ công ở Việt Nam

Việt Nam mở cửa kinh tế được 25 năm và đã đạt được những bước phát triển vượt bậc Chỉ trong vòng 10 năm, GDP củaViệt Nam đã tăng lên gấp 3 lần, từ 32.7 tỷ USD năm 2001 lên 201 tỷ USD năm 2010 Tuy nhiên, Việt Nam vẫn thuộc nhómcác nước đang phát triển, quy mô nền kinh tế của Việt Nam vẫn là nhỏ so với mặt bằng chung của thế giới; nền kinh tế phụthuộc nhiều vào xuất khẩu nông nghiệp thô và công nghiệp nhẹ là chủ yếu Do đó, hiện tại và trong tương lai gần, việc tăngvay nợ chính phủ nói riêng và nợ công nói chung la một nhu cầu tất yếu vì Việt Nam vẫn rất cần sự hỗ trợ về mặt tài chính(tức là vay nợ và viện trợ phát triển chính thức) từ các tổ chức đơn phương, đa phương trên thế giới để phát triển nề kinh tếhơn nữa

Theo The Economist Intelligence Unit, nợ công của Việt Nam năm 2001 mới là 11,5 tỷ USD, tương đương 36% GDP,bình quân mỗi người gánh số nợ công xấp xỉ 144 USD Nhưng tính đến hết năm 2010, nợ công đã tăng lên 55,2 tỷ USD,tương đương 54,3% GDP và hiện tại, Việt Nam được xếp vào nhóm nước có mức nợ công trên trung bình Như vậy, trongvòng 10 năm từ 2001 đến nay, quy mô nợ công đã tăng gấp gần 5 lần với tốc độ tăng trưởng nợ trên 15% mỗi năm Nếu tiếptục với tốc độ này thì chỉ trong vòng 5 năm nữa, đến năm 2016, nợ công của Việt Nam sẽ vượt quá 100% GDP như hai nướcthành viên EU mới lâm vào khủng hoảng nợ công gần đây là Hy Lạp (133,6%), Ailen (129,2%) Nợ công đạt trên 100%GDP là một con số không nhỏ đối với một nền kinh tế đang phát triển và quy mô nhỏ, phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sảnphẩm nông nghiệp thô và công nghiệp nhẹ như Việt Nam

Theo khoản 2 Điều 1 Luật Quản lý nợ công của Việt Nam, nợ công bao gồm tất cả các khoản nợ chính phủ, nợ đượcchính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương Cơ cấu nợ công của Việt Nam năm 2006 - 2010 gồm nợ chính phủ chiếm78,1%, còn lại là nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương Trong nợ chính phủ, nợ nước ngoài chiếm61,9%; nợ trong nước chiếm 38,1% Trong nợ nước ngoài, ODA chiếm tỷ trọng lớn Cụ thể, năm 2009, nợ công của ViệtNam gồm nợ chính phủ chiếm 79,2%, nợ được chính phủ bảo lãnh chiếm 17,6% và nợ chính quyền địa phương chiếm 3,1%;

Trang 4

trong nợ chính phủ, nợ nước ngoài chiếm 60%, trong đó có 85% là ODA.

Tình hình nợ công

Từ năm 2006 đến nay, tình hình trả nợ công của Việt Nam không ổn định và hầu như không có sự gia tăng đáng kể về giátrị, trung bình hàng năm Việt Nam dành ra trên 3,5% GDP để chi trả nợ và viện trợ Tỷ lệ trả nợ/tổng nợ công giảm dần quacác năm, từ 9,09% năm 2006 xuống còn 6,53% năm 2010 Trong khi đó, quy mô của các khoản nợ công ngày càng tăng lênvới tốc độ chóng mặt với gần 20%/năm; mặt khác, tình hình sử dụng nợ công ở Việt Nam còn đang tồn tại nhiều bất cập nhưchậm trễ trong giải ngân và sự kém hiệu quả trong sử dụng vốn vay vào các dự án đầu tư Điều này tác động tiêu cực tới khảnăng trả nợ của Việt Nam trong tương lai

Bội chi ngân sách nhà nước

2.1 Một số đề xuất nhằm quản lý có hiệu quả nợ công ở Việt Nam

Phát triển nội lực nền kinh tế

Phát triển nội lực nền kinh tế cần tập trung vào vấn đề gia tăng hàm lượng giá trị gia tăng trong xuất khẩu bằngcách: Giảm nhập khẩu nguyên phụ liệu cho sản xuất hàng xuất khẩu thông qua việc đầu tư phát triển các ngành côngnghiệp hỗ trợ; tăng hàm lượng công nghệ cao trong sản xuất để xuất khẩu được nhiều sản phẩm tinh và ít sản phẩm thô hơn;đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xúc tiến thương mại, nâng cao nhận biết và thực hành về vấn đề thương hiệu cho các sản phẩmcủa Việt Nam trên thị trường thế giới

Xây dựng môi trường tài chính hiệu quả

- Công khai, minh bạch về tài chính

Đây là một nguyên tắc căn bản hàng đầu và phổ biến trên thế giới trong quản trị công nói chung, quản trị tài khóa vàđặc biệt là trong quản trị nợ công Theo hướng dẫn quản lý nợ công của IMF (2003) cũng như Cẩm nang minh bạch tài khóa(2007), cần đặc biệt nhấn mạnh một số yêu cầu cơ bản như sau:

Thứ nhất, xác định rõ vai trò và trách nhiệm tài khóa của các cơ quan của Chính phủ Đây là yêu cầu thiết yếu để đảm

bảo trách nhiệm giải trình trong việc hoạch định và thực thi chính sách tài khóa

Thứ hai, khu vực chính phủ phải được tách bạch rõ ràng ra khỏi phần còn lại của khu vực công và phần còn lại của nền

kinh tế; chính sách và vai trò quản lý của khu vực công phải rõ ràng và được công bố công khai

Thứ ba, về quản lý nợ, pháp luật quản lý nợ nên giao trách nhiệm rõ ràng cho một cá nhân, thường là Bộ trưởng Tài

chính trong việc: Lựa chọncác công cụ cần thiết cho việc vay nợ; xây dựng chiến lược quản lý nợ; xác định giới hạn nợ (nếuluật không quy định rõ) - thường là dựa vào chiến lược nợ bền vững; thiết lập và kiểm soát cơ quan/tổ chức có tráchnhiệm quản lý nợ (thuộc quyền hoặc nằm ngoài) và thiết lập quy chế quản lý nợ

Thứ tư, luật phải quy định cụ thể tất cả các khoản chính phủ bảo lãnh Luật cũng phải xác định rõ vai trò của Ngân hàng

Trung ương sao cho việc phát hành quỹ chứng khoán không bị lẫn với các biện pháp nghiệp vụ thuộc chính sách tiền tệ Tất

cả các khoản vay phải được ghi có tại một tài khoản ngân hàng dưới sự kiểm tra của Bộ Tài chính, và nghĩa vụ nợ vàcác điều khoản vay nợ phải được công bố đầy đủ cho công chúng Minh bạch tài khóa đòi hỏi cơ quan lập phápphải xác định rõ các yêu cầu trong báo cáo hàng năm về dư nợ và dòng chu chuyển nợ, kể cả số liệu về bảo lãnh nợ củachính phủ trình cơ quan lập pháp và công khai cho công chúng

Ngoài ra, cần đảm bảo rằng thông tin về nợ công phải bao quát cả quá khứ, hiện tại và dự tính cho tương lai Điều này hếtsức cần thiết vì thông tin công khai về nợ còn nhằm tăng cường khả năng can thiệp và phòng ngừa tình huống xấu xảyra

- Cải cách hành chính

Việc cải cách hành chính nhà nước cần được thực hiện trên tất cả các nội dung: Thể chế; tổ chức bộ máy; xây dựng

và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, Trong đó, cần tăng cường cơ chế giám sát của nhân dân đốivới hoạt động của cơ quan nhà nước, làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan hành chính trong giải quyết khiếu nại củanhân dân; thực hiện tốt việc tiếp nhận ý kiến, phản hồi của người dân Bên cạnh đó, thủ tục hành chính cần phải được đơngiản hóa và thông tin đầy đủ trên cổng thông tin điện tử của bộ, địa phương để tạo thuận lợi tối đa cho người dân, cơquan, tổ chức nhằm tiết kiệm chi phí, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức trong cải cách thủ tụchành chính Đặc biệt, cần chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, trong đó có yếu tố hết sức quan trọng làcải cách chế độ, chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức làm việc, nâng cao chất lượng dịch

vụ hành chính và chất lượng dịch vụ sự nghiệp công

- Nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm toán và hoạt động ngân hàng, cụ thể:

+ Về hoạt động kiểm toán: Tiến hành kiểm toán độc lập các hoạt động quản lý nợ hàng năm

+ Về hoạt động ngân hàng: Đặc biệt tập trung vào nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng Cần phải hướng dẫn tổ

Trang 5

chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, chú trọng nghiệp vụ marketing, kỹ năng bán hàng, thươngthảo hợp đồng và văn hoá kinh doanh Đồng thời phải thực hiện tiêu chuẩn hoá cán bộ tín dụng và kiên quyếtloại bỏ, thuyên chuyển sang bộ phận khác những cán bộ yếu về tư cách đạo đức, thiếu trung thực, những cán bộ tín dụngthiếu kiến thức chuyên môn nghiệp vụ

Thay đổi cơ cấu nợ công

Việt Nam thực sự thay đổi cơ cấu nợ công theo hướng tăng tỷ trọng nợ trong nước nhiều hơn nữa Để thay đổi

cơ cấu nợ công, Chính phủ Việt Nam nên phát hành trái phiếu chính phủ ghi bằng nội tệ nhiều hơn Để nâng cao chất lượngcác đợt đấu thầu mua trái phiếu chính phủ, chính phủ nên đưa ra một mức lãi suất phù hợp hơn với lãi suất thị trường và yêucầu của nhà đầu tư

Kiểm soát nợ công ở mức an toàn

Để kiểm soát nợ công ở mức an toàn, cần phải xác định được đâu là mức an toàn (ví dụ: cần phải xác định các tỷ

lệ nợ công/GDP và nợ nước ngoài/GDP) Tuy nhiên, bên cạnh đó, cần chú ý phân tích bản chất của nợ công Đólà: nợ chính phủ là vay nợ trong nước hay vay nợ nước ngoài; tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, hay lượng dự trữ quốc gia Thực tế xảy ra trên thế giới cho thấy những nước rơi vào khủng hoảng tài chính đều có tỷ lệ nợ trên GDP khá thấp Ví dụ:Argentina năm 2001, tỷ lệ đó chỉ ở mức 45%; Ukraine (2007) chỉ 13%; Thái Lan (1996) chỉ có 15%; Venezuela (1981) chỉ có15%; Rumania (2007) chỉ có 20%

Sử dụng hiệu quả nợ công

Để sử dụng hiệu quả nợ công, cần phải chú trọng vào các vấn đề sau:

- Chi tiêu công phải minh bạch, hợp lý Vay nợ công phải được chi cho đầu tư phát triển thay vì chi tiêu dùngchính phủ Chỉ những dự án thực sự đem lại hiệu quả kinh tế mới được xét duyệt và đầu tư thực hiện Tăng cườngthanh tra, giám sát quá trình thực hiện dự án đầu tư; tránh tình trạng tham nhũng, quan liêu

- Đấu thầu các dự án một cách công khai, minh bạch nhằm chọn lựa được những nhà thầu có năng lực nhất Để doanhnghiệp ngoài quốc doanh chịu trách nhiệm thầu các dự án đầu tư nhiều hơn, thay cho các doanh nghiệp nhà nước

- Tập huấn và nâng cao trình độ quản lý cũng như trình độ nghiệp vụ cho các cán bộ trong các doanh nghiệp nhà nước

2.2 Các biện pháp tái cấu trúc đầu tư công và nợ công :

Các giải pháp khắc phục tình trạng yếu kém hiện nay của đầu tư công tại VN:

Thứ nhất, giảm quy mô đầu tư và đầu tư công cho phù hợp với sức của nền kinh tế, từ bỏ mô hình tăng trưởng “nóng”, dựa

chủ yếu vào tăng vốn đầu tư và gia công sản xuất, chuyển sang mô hình phát triển theo chiều sâu

Thứ hai, giảm thu, giảm chi, tái cơ cấu thu chi ngân sách, thay đổi cơ cấu chi tiêu ngân sách theo hướng giảm bớt chức năng

“nhà nước kinh doanh” và đồng thời tăng cường chức năng “nhà nước phúc lợi”

Thứ ba, đổi mới phân bổ đầu tư công, gắn với tài chính công, và tái cấu trúc nền kinh tế bắt đầu với chính sách tài khóa, quan

trọng nhất là kỷ luật tài khóa

Thứ tư, sửa Luật Ngân sách 2002, ban hành và hoàn thiện Luật Đầu tư công, tiến tới Luật Ngân sách hàng năm, cải cách thể

chế để khắc phục tình trạng thể chế đi sau tăng trưởng kinh tế

Thứ năm, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch Quy hoạch cần tôn trọng tính tự phát triển của địa phương nhưng cũng

cần phải hướng về sự phát triển tổng thể nền kinh tế

Thứ sáu, cần sửa đổi cơ chế phân cấp ngân sách, phân cấp đầu tư, tăng cường hơn vai trò tổng cân đối chung của Chính phủ Thứ bảy, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, bằng cách giảm quy mô và tăng hiệu quả của khu vực doanh nghiệp nhà nước

(DNNN), cần xác định lại vai trò kinh tế của Nhà nước, giới hạn hoạt động của DNNN, buộc các doanh nghiệp này phải cạnhtranh bình đẳng thông qua đẩy mạnh cổ phần hóa, chấm dứt tình trạng đầu tư ngoài ngành…

Thứ tám, đổi mới cơ chế tín dụng, kể cả vay nước ngoài để cho vay lại, kết hợp với đổi mới hệ thống ngân hàng thương mại Thứ chín, thông tin và cơ chế cần minh bạch để có sự giám sát từ cộng đồng, phối hợp với cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo

hiệu quả hoạt động của các dự án

Thứ mười, ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ trong đầu tư công, đồng thời tăng cường chất lượng nguồn nhân lực trên

cơ sở cạnh tranh

2.3 Khủng hoảng nợ công của khu vực sử dụng đồng Euro

Trong 2 năm vừa qua, bên cạnh cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn tại Mỹ là nguồn gốc của cuộc khủng hoảng tài chínhtoàn cầu thì khủng hoảng nợ công ở Châu Âu cũng là một điểm tối trong bức tranh kinh tế thế giới Đây là một trong nhữngyếu tố khiến cho cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trở nên phức tạp và biến động khó lường hơn

Khủng hoảng nợ công ở châu Âu bùng nổ đầu tiên là Hy Lạp vào đầu năm 2010 khi chi phí cho các khoản nợ chính phủliên tục tăng lên; cụ thể lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 2 năm của Hy Lạp liên tục tăng cao từ 3,47% vào tháng 01 năm

2010, lên 9,73% tháng 07 năm 2010, và nhảy vọt lên 26,65%/năm ở tháng 07 năm 2011 Cuộc khủng hoảng sau đó đã lansang Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và tiếp theo là Italia trong khu vực euro Pháp đang là quốc gia có nhiều nguy cơ tụt hạng tíndụng Cộng hòa Sip cũng đã bị đẩy tới bờ vực để nhận gói cứu trợ

1 Diễn biến của cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu

Trang 6

Những diễn biến quan trọng trong khủng hoảng nợ châu Âu tính từ tháng 11/2009 khi chính phủ mới của Hy Lạp tuyên

bố nâng gấp đôi ước tính về thâm hụt ngân sách năm 2009 cho đến thời điểm hiện nay:

- 11/2009 Thủ tướng Hy Lạp cho biết thâm hụt ngân sách năm 2009 sẽ ở mức 12,7% GDP, gấp đôi con số công bố trước

đó và sẽ cố gắng cứu Hy Lạp khỏi khả năng vỡ nợ

- 11/4/2010, Bộ trưởng tài chính các nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) chấp thuận kế hoạch 30 tỷeuro cho Hy lạp, nhưng Hy Lạp tuyên bố không cần

- 23/4/2010, Hy Lạp cầu cứu Liên minh Châu Âu (EU) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)

- 02/5/2010, Thủ tướng Hy Lạp cho biết, chính phủ nước này đã đạt được thỏa thuận với EU và IMF để nhận được góigiải cứu, đổi lại nước này phải giảm chi tiêu 30 tỷ euro trong 3 năm tới

- 10/5/2010, các nhà hoạch định chính sách kinh tế toàn cầu đưa ra kế hoạch khẩn cấp trị giá 750 tỷ euro để hỗ trợ thịtrường tài chính và vực dậy đồng euro, ngăn đồng tiền này chịu ảnh hưởng tệ hại từ khủng hoảng nợ Hy Lạp

- 07/08/2010: Quỹ bình ổn tài chính của EU với số tiền tối đa lên tới 440 tỷ euro tương đương 580 tỷ USD để hỗ trợ chocác nước châu Âu ứng phó với khủng hoảng nợ hiện đã có thể hoạt động

- 08/09/2010: Các nước thành viên EU đã thống nhất về việc tạo ra khung giám sát tài chính mới để ngăn khủng hoảng nợchính phủ đã đẩy Hy Lạp đến sát bờ vực phá sản và khiến hệ thống ngân hàng châu Âu chấn động

- 27/11/2010: EU, IMF đồng thuận về gói giải cứu 85 tỷ euro dành cho Ireland

- 15/12/2010: Quốc hội Ireland đã chính thức thông qua dự luật yêu cầu các tổ chức tài chính nước này bán tài sản vàbuộc một số chủ nợ chịu thiệt hại như một phần trong kế hoạch tái cơ cấu hệ thống ngân hàng., đồng thời, quốc hội Irelandcũng bỏ phiếu chấp thuận nhận 67,5 tỷ euro khoản vay từ EU và IMF như một phần trong gói hỗ trợ 85 tỷ euro để vực dậyngân hàng Ireland và lĩnh vực tài chính công của nước này Ireland sẽ đóng 17,5 tỷ euro vào gói giải cứu

- 04/02/2011: Các nhà lãnh đạo khu vực Eurozone đã nhất trí trên nguyên tắc về "lộ trình" giải quyết khủng hoảng nợ

- 15/02/2011: Bộ trưởng Tài chính các nước châu Âu đã đồng ý lập quỹ mới cho khu vực với trị giá khoảng 500 tỷ eurotương đương khoảng 673,2 tỷ USD Quỹ này sẽ có tên Kênh bình ổn châu Âu (ESM) thay cho quỹ 440 tỷ euro cũ với tênKênh bình ổn tài chính châu Âu (EFSF)

- 11/03/2011: 17 nhà lãnh đạo của khu vực Eurozone đã có những bước tiến về cơ cấu các gói trợ giúp cho các thành viêncủa EU đồng thời đưa ra những luật lệ mới để phối hợp các chính sách kinh tế của mình Tại hội nghị thượng đỉnh, các nhàlãnh đạo đã đồng ý mở rộng phạm vi và quy mô của quỹ các gói trợ giúp, tăng mức độ cho vay từ 250 tỷ Euro (350 tỷ USD)lên 440 tỷ Euro (615 tỷ USD) cho các quốc gia đang trong khủng hoảng

- 05/04/2011: Cơ quan xếp hạng tín dụng Moody đã hạ xếp hạng tín dụng của Bồ Đào Nha lần thứ 2 trong 3 tuần bởi lolắng nước này không thể tránh được việc phải nhận tiền giải cứu từ EU Moody hạ 1 bậc xếp hạng trái phiếu chính phủ dàihạn của Bồ Đào Nha xuống mức Baa1 từ mức A3

- 07/04/2011: Thủ tướng Bồ Đào Nha đã chính thức xin châu Âu giải cứu với gói hỗ trợ được dự báo khoảng 80 tỷ euro

- 16/05/2011: Bộ trưởng Tài chính Châu Âu nhất trí về gói giải cứu 78 tỷ euro tương đương khoảng 111 tỷ USD dành cho

Bồ Đào Nha trong 3 năm dưới sự kiểm soát của EU và IMF Lãi suất áp dụng với khoản vay dành cho Bồ Đào Nha khoảngtrên 5,5% nhưng thấp hơn mức 6% Hy Lạp đang bị hối thúc thực hiện chương trình tư hữu hóa 50 tỷ euro trước khi nhậnđược gói giải cứu thứ 2

- 12/06/2011: Nhóm Khu vực Eurozone ủng hộ đề xuất của Đức về việc tái cơ cấu "mềm" nợ công của Hy Lạp, với sựđóng góp tự nguyện từ các nhà tín dụng khu vực tư nhân

- 25/07/2011: Cơ quan xếp hạng tín dụng Moody đã hạ 3 bậc xếp hạng tín dụng của Hy Lạp xuống mức Ca trong ngàythứ Hai, xếp hạng mới chỉ cao hơn 1 bậc so với mức vỡ nợ và khẳng định khả năng nước này vỡ nợ lên tới 100%

- 20/09/2011: Standard & Poor’s (S&P) thì hạ một bậc tín nhiệm nợ công Italy, xuống mức A từ mức A+ và giữ triểnvọng tín dụng của nước này ở mức tiêu cực

- 01/11/2011: số lượng người thất nghiệp tại Châu Âu đạt mức cao kỷ lục, khoảng 16,37 triệu người thất nghiệp

- 07/11/2011: Thủ tướng Hy Lạp George Papandreou đồng ý từ chức để cho phép sự thành lập một chính phủ thống nhấtnhằm đảm bảo nguồn vốn từ quốc tế và ngăn kinh tế Hy Lạp sụp đổ

- 26/11/2011: Tổ chức xếp hạng tín dụng S&P đã hạ xếp hạng tín dụng của Bỉ xuống mức AA từ AA+ với lý do nước nàythiếu các biện pháp chính sách đảm bảo cho ngân hàng, đồng thuận chính sách và việc kinh tế tăng trưởng chậm sẽ khiến mụctiêu giảm nợ khó thực hiện được Nợ công của Bỉ cao thứ 5 tại khu vực đồng tiền chung châu Âu

- 01/2012: Hy Lạp dự tính rời bỏ khỏi thị trường chung và chấm dứt sử dụng đồng Euro

- 14/01/2012: S&P hạ xếp hạng tín dụng 9 nước châu Âu: Xếp hạng tín dụng của Pháp và Áo bị hạ 1 bậc xuống mứcAA+ từ mức AAA; Tây Ban Nha và Italy cũng bị hạ xếp hạng tín dụng

- 17/01/2012: Lạm phát của Eurozone giảm mạnh; Fitch tin Hy Lạp sẽ vỡ nợ

2,4 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng nợ công

Cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu là kết quả của rất nhiều nguyên nhân khác nhau, được bắt nguồn từ nhiều năm trướckhi khu vực Eurozone được hình thành

Trang 7

Nguyên nhân chủ quan

- Sự thiếu minh bạch trong việc công bố số liệu kinh tế trong nhiều năm

Điều này được thể hiện rõ tại Hy Lạp - quốc gia bắt nguồn cho cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu Tại thời điểm khixin gia nhập vào Eurozone, Hy Lạp đã có những dấu hiệu của việc đánh bóng số liệu kinh tế của mình Năm 2000, Ngân hàngTrung ương châu Âu (ECB) đã bày tỏ sự quan ngại về tình hình nợ của Hy Lạp và nhấn mạnh rằng, mức nợ này đã vượt xatrần quy định của Eurozone Tuy nhiên, trên giấy tờ, Hy Lạp cho thấy họ đã cắt giảm được thâm hụt ngân sách Và dù chưagiảm được nợ tới mức chuẩn, Athens đã nhấn mạnh vào tiền lệ là một số quốc gia khác như Italy và Bỉ vẫn được gia nhậpEurozone khi chưa đáp ứng được đỏi hỏi về mức nợ chính phủ để buộc Eurozone đồng ý cho phép Hy Lạp gia nhập các quốcgia sử dụng đồng Euro

Và giáo sư kinh tế học Jürgen von Hagen thuộc Đại học Bonn, Đức cho rằng: “Ở thời điểm đó, đã có những bằng chứng

rõ ràng cho thấy, Hy Lạp đưa ra những số liệu không trung thực, đặc biệt là về thâm hụt ngân sách, nhằm đưa ra hình ảnh vềtình hình tài chính công của họ ‘đẹp’ hơn thực tế Nhưng các nhà lãnh đạo châu Âu đã không phản đối Vì lý do chính trị, họphải cho Hy Lạp tham gia đồng Euro”,

- Sự quản lý lỏng lẻo, yếu kém của các chính phủ châu Âu

Trong vấn đề này, Hy Lạp lại là một dẫn chứng tiêu biểu Hy Lạp được coi là một trong những quốc gia có nguồn thuthuế “bèo” nhất châu Âu Chỉ khoảng 15.000 cá nhân trên tổng số 11 triệu công dân Hy Lạp khai báo có thu nhập trên100.000 euro/năm với mức thuế phải đóng là 4% Số thuế bị trốn trong 10 năm qua ở Hy Lạp ước tính lên tới 35 tỉ euro Đây

là một yếu tố quan trọng dẫn đến vấn đề thâm hụt ngân sách nặng của Hy Lạp

Ngoài ra, ở Hy Lạp còn tồn tại sự yếu kém trong bộ máy quản lý của chính phủ, sự nhũng nhiễu, tham ô, tham nhũng có

hệ thống của bộ máy nhà nước Theo cựu Bộ trưởng tài chính Diomidis Spinellis, nhà nước thường chỉ thu được 20% tiềnphạt từ hành vi trốn thuế; 40% bị thất thu và 40% còn lại bị các quan chức ngành thuế bỏ túi Khi được kêu gọi nộp lại số tiềngian lận, 10% lại bị các quan chức tham nhũng lại biển thủ Thủ tướng Hy Lạp George Papandreou thừa nhận “tham nhũngmang tính hệ thống” là vấn đề cơ bản nhất dẫn đến tình trạng nợ công Hy Lạp Thiệt hại mà tham nhũng gây ra cho Hy Lạpước tính vào khoảng 8% GDP

- Tình trạng thâm hụt ngân sách lớn và kéo dài:

Đây được coi là nguyên nhân chính và chủ đạo mà các nhà kinh tế coi là gốc rễ của cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu

Âu Sự chi tiêu của các chính phủ châu Âu là quá lớn, thậm chí nhiều nhà phân tích kinh tế còn cho rằng, những chính phủchâu Âu đã không có trách nhiệm khi quyết định chi tiêu quá lớn so với nền kinh tế và tăng trưởng kinh tế của chính nướcmình Việc chi tiêu quá lớn đã tạo ra thâm hụt ngân sách và khủng hoảng nợ công (lương cao cho các nhà chính trị, côngchức, hệ thống an sinh xã hội và lao động, chế độ nghỉ hưu sớm)

Bảng so sánh rủi ro nợ công các nước

Quốc gia

Thâm hụt ngân sách 2010 (%GDP)

Nợ GDP 2010

Nợ nước ngoài (% tổng nợ)

Nợ ngắn hạn (% GDP)

Tài khoản vãng lai 2010 (%

Nguồn: European Commission, World Bank IMF

- Vấn đề tổ chức tài chính và điều hành kinh tế của EU:

Điều này bắt nguồn từ cơ cấu thành viên và sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các nước trong khu vực Eurozone.Việc sử dụng một đồng tiền và tuân thủ chung một tiêu chuẩn giữa các nền kinh tế lớn nhỏ khác nhau đã làm nảy sinh nhiềuvấn đề Châu Âu duy trì lãi suất thấp đã khuyến khích nhiều nhà nước và người dân trong khu vực Eurozone đi vay, chi tiêuvượt quá khả năng của mình Hậu quả là sau Hy Lạp, nhiều nước khác đã cần sự giúp đỡ của quốc tế để thanh toán các khoản

nợ đáo hạn

Việc thực thi các điều kiện gia nhập của khu vực Eurozone lại không được thực hiện nghiêm ngặt Theo qui định củaEurozone, tỷ lệ nợ công tối đa đối với một quốc gia thành viên là 60% GDP, thâm hụt ngân sách hàng năm không được vượtquá 3% GDP và lạm phát phải dưới mức 3% (còn gọi là Hiệp ước tăng trưởng và ổn định (SGP)) Tuy nhiên, trên thực tế, chỉ

có 2 trong số 16 quốc gia đáp ứng đầy đủ những tiêu chí này là Phần Lan và Luxembourg Chính sự vượt rào “tập thể” này là

Trang 8

một nguyên nhân quan trọng khiến châu Âu rơi vào cuộc khủng hoảng nợ hiện nay Điều này bắt nguồn từ áp lực chính trịhơn là về quản lý kinh tế và chính sách tiền tệ và nó đã gây ra những tiền lệ xấu sau này.

EU và ECB cũng phản ứng chậm với các nền kinh tế khi gặp khủng hoảng Ở đây đã có những bất đồng về nhận diệnnguyên nhân, sự chưa thống nhất về quan điểm, chính sách giải cứu và lo ngại về nợ công và triển vọng khu vực Eurozonegiữa các chính phủ, các chuyên gia kinh tế, trong nội bộ các quốc gia… Điều này đã khiến khả năng đối phó và tìm ra giảipháp với cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu thiếu hiệu quả Sự phản ứng thiếu hiệu quả của EU và ECB đã khiến tình hìnhdiễn biến phức tạp hơn, xếp hạng tín dụng của các quốc gia như Hy Lạp, Ireland, Italy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha sụt giảmliên tục, thủ tướng hàng loạt nước phải từ chức để mở đường cho việc thành lập chính phủ mới,… và khiến chi phí giải cứutrị giá hàng trăm tỷ euro ngày càng phình to hơn

Nguyên nhân khách quan

- Những hệ quả của cuộc khủng hoảng tài chính vào năm 2008 tại Mỹ và cuộc khủng hoảng nợ tại Dubai

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 bắt nguồn từ Mỹ đã tác động sâu sắc đến nền kinh tế toàn cầu từ khi nó bắt đầudiễn ra cho đến thời điểm hiện nay Không chỉ Mỹ mà các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia châu Âu đều tung ranhững gói cứu trợ khổng lồ nhằm mục đích kích thích kinh tế phát triển và cứu các ngân hàng không bị sụp đổ, bảo vệ cáckhoản tiết kiệm, đồng thời ổn định và khôi phục lòng tin vào thị trường tài chính bằng các gói cứu trợ tài chính bao gồm tiềnmua cổ phiếu, tiền bảo lãnh, tiền cho vay và các kế hoạch bảo hiểm Điều này đã làm gia tăng chi ngân sách và nợ công củacác chính phủ châu Âu một cách đáng kể

Ngoài ra, cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu còn chịu tác động không nhỏ từ cuộc khủng hoảng nợ tại Dubai diễn ravào tháng 11/2009 Cuộc khủng hoảng được bắt đầu bằng việc Dubai - một phần của Cộng đồng các tiểu vương quốc giaArập thống nhất (UAE) - đề nghị gia hạn thanh toán thêm ít nhất sáu tháng đối với khoản nợ khoảng 60-80 tỉ USD củanghiệp đoàn Dubai World Thực chất đây là cuộc khủng hoảng nợ chỉ liên quan đến một tập đoàn hoặc một khu vực nhưng đã

bị phóng đại thành vấn đề lớn do cách thức khắc phục hậu quả không được cân nhắc kỹ, các phương tiện thông tin đưa tinmột cách vội vàng và không đầy đủ Đặc biệt là khi chính phủ UAE nói là không chịu trách nhiệm về các khoản nợ của DubaiWorld đã làm tăng sự lo lắng của các chủ nợ về khả năng bảo lãnh của UAE, các nhà tài chính và đầu tư quốc tế chú ý hơn tớiviệc bảo lãnh cho các doanh nghiệp nhà nước và có thể làm tăng việc đánh giá lại rủi ro thương mại và tài sản Sau cuộckhủng hoảng nợ tại Dubai, các nhà đầu tư trở lên nhạy cảm hơn và có thái độ nghi ngờ với những biến động về xếp hạng tínnhiệm và khả năng thanh toán nợ của các quốc gia này

- Niềm tin thái quá của nhà đầu tư với chính phủ các nước thuộc Eurozone:

Trong những năm vừa qua, các nhà đầu tư đã đặt niềm tin thái quá về sự phát triển bền vững và ổn định của các quốc giathành viên khu vực Eurozone Họ đã cho các quốc gia này vay với mức lãi suất cực kỳ thấp trong một thời gian dài chính vìniềm tin thông qua việc mua tích trữ rất nhiều trái phiếu chính phủ dưới dạng tài sản bảo toàn vốn Tuy nhiên, khi cuộc khủnghoảng nợ công ở châu Âu xảy ra, niềm tin thái quá của nhà đầu tư cũng nhanh chóng sụp đổ theo Điều này dẫn tới, sự bántháo ồ ạt các trái phiếu chính phủ khiến cho lãi suất huy động vốn thông qua trái phiếu chính phủ các nước thuộc Eurozonetăng vọt khiến cho việc huy động vốn và việc cân đối ngân sách của các quốc gia này trở nên khó khăn hơn rất nhiều

Nhìn chung, cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu là tổng hòa của nhiều nguyên nhân khác nhau Trong đó có nhiềunguyên nhân đã được các nhà phân tích kinh tế, các chính phủ chỉ ra như các cuộc tấn công tiền tệ nhằm mục đích làm suyyếu đồng Euro, hoạt động đầu cơ tài chính, tính đúng đắn trong việc xác định xếp hạng tín nhiệm của các công ty xếp hạngtín nhiệm đối với các quốc gia châu Âu,…

Các biện pháp đã và đang được thực hiện nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu

Như phân tích ở trên, mặc dù EU và ECB đã có những phản ứng chậm chạp trong việc đối phó cuộc khủng hoảng nợcông đang diễn ra trong khu vực của mình nhưng đã rất tích cực trong việc cố gắng tìm ra giải pháp cứu cả châu Âu thoátkhỏi cuộc khủng hoảng Hy Lạp chỉ là một quốc gia nhỏ bé trên bản đồ thế giới cũng như là Châu Âu nhưng đây là thànhviên đầu tiên của EU và khu vực Eurozone lâm vào cuộc khủng hoảng nợ công và chịu thiệt hại lớn nhất, khả năng vỡ nợ rấtcao Điều này khiến EU và ECB không thể làm ngơ, bởi lẽ sự phá sản của chính phủ Hy Lạp trong việc thanh toán nợ công sẽgây ra hiệu ứng Domino tài chính, nó sẽ lan ra toàn bộ châu Âu thậm chí là cả thế giới

Chính tác động tiêu cực lâu dài mà cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu có thể gây ra là rất lớn, ngày 10/5/2010, EU

và IMF đã nhất trí thiết lập “Quỹ chống khủng hoảng” trị giá 750 tỷ euro (1000 tỷ USD) Theo đó, các nước châu Âu đưa ra

572 tỷ USD (440 tỷ euro) khoản vay mới và bơm thêm 778 tỷ USD (60 tỷ euro) cho chương trình vay đang thực hiện IMFcũng sẽ đóng góp 325 tỷ USD (250 tỷ EUR) cho gói cứu trợ Tiếp theo đó là gói cứu trợ trị giá 85 tỷ euro cho Ireland vàotháng 11/2010 và 78 tỷ euro cho Bồ Đào Nha vào tháng 5/2011 Mới đây nhất, vào tháng 8/2011, ECB đã tung ra số tiền khálớn để mua lại trái phiếu Chính phủ của Ý và Tây Ban Nha, với điều kiện các nước này phải cắt giảm chi tiêu mạnh mẽ hơn

và để đổi lấy gói cứu trợ khẩn cấp, một vài nước như Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nha đã thông qua các biện pháp cắt giảmchi tiêu mạnh mẽ

Nhìn chung, giải pháp cung cấp các gói cứu trợ cho các quốc gia có nguy cơ vỡ nợ cao như Hy Lạp, Ireland, Bồ ĐảoNha, Tây Ban Nha cùng với việc các quốc gia này phải áp dụng chương trình cắt giảm chi tiêu mạnh mẽ vẫn là giải pháp chủ

Trang 9

đạo mà EU và ECB kết hợp với IMF tiến hành cho đến thời điểm hiện nay Tuy nhiên, việc thực hiện cắt giảm chi tiêu côngmạnh mẽ có nguy cơ đưa nền kinh tế các quốc gia áp dụng sẽ rơi vào vòng xoáy suy thoái, đồng thời sẽ ảnh hưởng tiêu cựcđến phúc lợi xã hội và tình hình tài chính cá nhân của người dân.

Ngoài ra, hiện nay cũng có một số giải pháp khác được bàn tới như thiết lập một hệ thống xếp hạng tín nhiệm mới phùhợp với đặc thù của các quốc gia châu Âu đồng thời xây dựng một hệ thống các công cụ kiểm soát tài chính nhằm đánh giáchính xác hơn và kiểm soát chặt chẽ tình hình chi tiêu công của các quốc gia thuộc khu vực Eurozone… Tuy nhiên, đây mớichỉ là những ý tưởng và đang trong quá trình phát triển

Bài học rút ra từ cuộc khủng hoảng

- Chính phủ các quốc gia cũng như Ban điều hành Liên minh Châu Âu và khu vực Eurozone cần phải có những động tháinhanh hơn trong việc đề ra biện pháp đối phó với cuộc khủng hoảng nợ công

- Không tiếp tục mở rộng EU và khu vực Eurozone khi các quốc gia chưa áp dụng nghiêm ngặt các điều kiện đặt ra về tỷ

lệ nợ công trên GDP, lạm phát, bội chi ngân sách

- Phải trừng phạt nghiêm khắc những quốc gia vi phạm Hiệp ước ổn định và tăng trưởng của EU

Kết luận:

Rõ ràng, nợ công đang trở thành một vấn nạn không chỉ đối với EU mà còn đối với nhiều nước trên thế giới Khi khủnghoảng nợ dâng cao sẽ đẩy nhiều quốc gia EU đến những biến động chính trị - xã hội hết sức nóng bỏng

Thông qua những vấn đề về nợ công hiện nay đã đề cập ở trên, có thể rút ra một số điều sau đây :

Thứ nhất, nợ công không chỉ là vấn đề của những nước chậm hoặc đang phát triển So khoản nợ công với GDP, hiện nay,gánh trên vai gánh nặng nợ công lớn nhất là các nền kinh tế phát triển, trong đó, khu vực đồng Euro đang đứng trước nhữngthử thách to lớn khi Hy Lạp phải viện đến gói cứu trợ của EU và IMF để tránh rơi vào tình trạng vỡ nợ

Thứ hai, khi nợ công quá lớn, việc thắt chặt chi tiêu, thực hiện chính sách “thắt lưng buộc bụng” để giảm thâm hụt ngânsách là điều kiện phải đáp ứng để được nhận sự hỗ trợ cần thiết từ các tổ chức tín dụng quốc tế, thế nhưng, “thắt lưng buộcbụng” lại dẫn tới những cuộc biểu tình phản đối của quần chúng, gây căng thẳng, bất ổn chính trị, xã hội, bởi những ngườinghèo, những người yếu thế trong xã hội là những người bị tác động mạnh nhất từ chính sách cắt giảm phúc lợi, cắt giảm chitiêu của chính phủ

Thứ ba, trong thời điểm hiện nay, khi nền kinh tế toàn cầu mới thoát khỏi khủng hoảng, bắt đầu có dấu hiệu phục hồi dokết quả của các gói kích thích kinh tế mà chính phủ các nước đã chi ra trong những năm trước đây, thì việc cắt giảm chi tiêu,tăng thuế sẽ làm giảm đầu tư, kìm hãm sự phục hồi của nền kinh tế, làm chậm tốc độ tăng trưởng, thậm chí có thể đẩy nềnkinh tế vào “khủng hoảng kép” Nghiêm trọng hơn, việc tung ra các gói kích thích kinh tế chính là một trong những nguyênnhân làm tăng nợ công của các chính phủ, vậy nếu như khủng hoảng “tái xuất” thì liệu các chính phủ có còn đủ khả năngxoay xở, cứu vãn nền kinh tế của mình? Vấn đề đặt ra cho các chính phủ là phải chèo lái để giải quyết được thâm hụt ngânsách nhưng không đẩy nền kinh tế trở lại tình trạng suy thoái, trong khi các biện pháp để giải quyết hai vấn đề này lại có tácđộng không thuận chiều

Thứ tư, khi nợ công liên tục tăng cao, nền kinh tế bị hạ bậc tín nhiệm theo báo cáo của các tổ chức chuyên đi đánh giá tínnhiệm các công ty và quốc gia khác, niềm tin của người dân và giới đầu tư bị lung lay, khi đó nền kinh tế dễ trở thành mụctiêu tấn công của các thế lực đầu cơ quốc tế

Thứ năm, việc căn cứ vào mức nợ công trên GDP để xác định tình trạng nợ công là hết sức quan trọng, tuy nhiên, điềuquan trọng không kém là phân tích “thực chất” nợ công Đó là: nợ chính phủ là vay nợ trong nước hay vay nợ nước ngoài; tốc

độ tăng trưởng của nền kinh tế, hay tình trạng “sức khỏe” nói chung của nền kinh tế; lượng dự trữ quốc gia…

Như vậy, việc đánh giá đúng nợ công và “thực chất” nợ công của một nền kinh tế, một quốc gia là vô cùng quan trọng,đặc biệt trong những thời điểm nhạy cảm Bởi lẽ, nếu chỉ chú trọng vào con số tỷ lệ nợ công cao một cách thuần túy sẽ gâynên hiệu ứng tâm lý hoang mang, kích động, thiếu tin tưởng, làm gia tăng căng thẳng xã hội, bị giới đầu cơ lợi dụng tấn công,

dễ gây rối loạn nền kinh tế, thậm chí dẫn nền kinh tế đến bên bờ vực phá sản Ngược lại, nếu yên tâm với tỷ lệ nợ công còntrong giới hạn an toàn, mà không phân tích cẩn trọng, chú ý đúng mức đến khoản nợ đó được hình thành như thế nào, bằngcách nào, thực trạng nền kinh tế ra sao và khả năng trả nợ thế nào…, cũng sẽ dễ đẩy nền kinh tế rơi vào vòng xoáy thâm hụtngân sách – “thắt lưng buộc bụng” – tác động tiêu cực đến tăng trưởng…

Với các bức tranh nợ công nêu trên, có thể khẳng định mỗi nước dù ở mức độ nào cũng liên quan đến nợ công và nợ côngvẫn thực sự cần thiết cho mọi nền kinh tế, cho mọi quốc gia Điều quan trọng cần bàn đó là qui mô nền kinh tế như thế nào thì

có khả năng hấp thụ nguồn tín dụng tương ứng Hiện tại thế giới chưa có công thức chuẩn xác cho mọi trường hợp nợ công

và như vậy nợ công vẫn là câu chuyện dài, vì lẽ đó mỗi quốc gia cần nhận thức và xử lý các vấn đề phát sinh từ nợ công chophù hợp

3, tinh hình huy động vốn qua tín dụng ngân hàng

Trang 10

Trước hết, do giá vàng, tỷ giá biến động mạnh, do CPI các tháng cuối năm 2010 và đầu năm 2011 ở mức rất cao, do

là các tháng áp Tết Nguyên đán, cộng việc áp trần LS huy động VND 14%/năm, nên nguồn vốn vào hệ thống ngân hàng đãchững lại, thậm chí giảm Tháng 1, nguồn vốn huy động của cả hệ thống giảm gần 2,5% so với cuối năm 2010 Các thángsau, nguồn vốn đã phục hồi, nhưng mức tăng thấp hơn nhiều so với các năm trước Nguồn vốn vào hệ thống chỉ tăng đáng kểkhi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực hiện mua USD vào các tháng giữa năm Mặc dù vậy, tính đến cuối tháng 10, huyđộng của cả hệ thống chỉ tăng 8,59% so với cuối năm 2010 (khoảng 40% mức tăng cùng kỳ năm ngoái)

Nguồn vốn vào rất hạn chế, đối lập với nhu cầu rất lớn của các NHTM, ngay cả khi áp trần tín dụng mới, do các nghĩa vụtrả nợ tiền gửi cũng như nghĩa vụ thực hiện các cam kết giải ngân tín dụng từ trước lớn, nên thanh khỏan của các NHTM luôn

ở tình trạng căng thẳng Cộng với việc theo đuổi CSTT thắt chặt, NHNN tăng LS trên thị trường mở, kéo theo việc tăng LStrên thị trường liên ngân hàng (LNH) (vào tháng 4, Lãi suất trên thị trường LNH kỳ hạn qua đêm lên tới 19 – 20%/năm, kỳhạn 1 tháng khoảng 22 – 23%/năm) và việc qui định tỷ lệ huy động trên thị trường 2 tối đa là 20% huy động trên thị trường 1,nên lách trần LS huy động cùng với các sản phẩm huy động siêu ngắn đã bùng phát

LS huy động được các NHTM đẩy lên ngay từ những tháng đầu năm Mức vượt trần phụ thuộc vào qui mô tiền gửi và

“nghệ thuật thương lượng” của khách hàng, nhưng phổ biến lên khoảng 3 – 5%/năm, tức 17 – 20%/năm, không phân biệtngân hàng to nhỏ Bên cạnh đó, các NHTM cũng áp dụng các hình thức khuyến mãi khác như tặng quà, rút thăm trúngthưởng Vấn đề là trần LS đã được NHNN chính thức qui định từ 3/3/2011(trước đó là các NHTM tự thỏa thuận), nên việclách trần LS huy động đã gây ra những méo mó đáng kể trong công tác hạch toán kế toán Nghiêm trọng hơn là văn hóa kinhdoanh ngân hàng suy giảm khi tình trạng hai giá phổ biến, khách hàng đến ngân hàng giao dịch đương nhiên mặc cả LS,không quan tâm tới trần LS của NHNN, bảng LS giao dịch của ngân hàng

Thứ hai, tăng tính bị động và rủi ro thanh khoản đối với hoạt động ngân hàng: Không dừng lại ở đó, LS huy động

không kỳ hạn cũng được đẩy lên tương ứng với LS có kỳ hạn Các sản phẩm tiền gửi kỳ hạn siêu ngắn đã được các NHTMnhanh chóng chào bán, nhằm đánh vào tâm lý khách hàng gửi tiền trong thời bão giá Các NHTM cũng cho khách hàng rúttiền gửi linh hoạt và tính LS theo kỳ hạn thực gửi (thực chất là áp lãi tiền gửi có kỳ hạn đối với những khoản tiền gửi không

kỳ hạn) Như vậy, không chỉ chi phí bị đội lên, các NHTH còn tự đẩy họ vào các điều kiện bất lợi, bị động, rủi ro Cộng vớithực tế các khoản tín dụng đều có kỳ hạn và có tới 30 – 40% dư nợ tín dụng là tín dụng trung dài hạn thì rủi ro thanh khoảnđối với hệ thống đã tăng vọt Hệ quả dễ nhận thấy là những khó khăn về thanh khoản, nhất là đối với các NHTM nhỏ kể từthời điểm NHNN cưỡng chế nghiêm ngặt trần LS huy động 14% từ tháng 9/2011 Việc hợp nhất 3 ngân hàng vừa qua chothấy sự căng thẳng thanh khoản trong hệ thống và điều này sẽ hạn chế không ít khả năng điều hành CSTT nói chung, chủtrương giảm LS nói riêng

Thứ ba, mất cân đối tiền tệ, thanh khoản ngoại tệ căng thẳng và áp lực tỷ giá: Huy động VND hạn

chế đã thúc đẩy các NHTM tìm kiếm các nguồnthay thế Ngoại tệ là lựa chọn đầu tiên, không chỉbởi nguồn ngoại tệ trong nền kinh tế dồi dào, mà lợiích cao so với tín dụng VND cũng tạo ra các độnglực mạnh mẽ trong hoạt động tín dụng ngoại tệ Tíndụng ngoại tệ đã tăng mạnh kể từ những tháng đầunăm

Mặc dù khoảng cách giữa tốc độ tăng dư nợ ngoại tệ và VND đã được thu hẹp với hàng loạt chính sách hạn chế tín dụng ngoại tệ (tăng tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi bằng ngoại tệ; áp tỷ lệ DTBB 1% đối với tiền gửi bằng ngoại tệ của các TCTD ở nước ngoài; thu hẹp đối tượng tín dụng ngoại tệ; ), nhưng cả năm, ước tín dụng ngoại tệ vẫn tăng tới 18,7%, gần gấp đôi tốc độ tăng dư nợ VND

Do dư nợ và huy động ngoại tệ tăng nhanh trong các tháng đầu năm, nên việc áp trần LS huy động USD, thực hiện qui định bán ngoại tệ của các tổ chức và siết chặt quản lý ngoại hối, quản lý ổn định tỷ giá nên các NHTM lại rơi vào tình trạng căng thẳng thanh khoản ngoại tệ Các sản phẩm huy động ngoại tệ đa dạng lại xuất hiện gây khó khăn cho công tác quản lý tỷ giá, quản lý ngoại hối và quản lý vấn đề đô la hóa của NHNN.

Trang 11

Thứ tư, dư nợ nền kinh tế thấp so với trần cho phép và nợ xấu gia tăng: Dư nợ cả năm ước chỉ tăng 12 – 13%, thấp

hơn so với trần cho phép Lý do từ cả hai phía Bản thân nhu cầu vay cũng hạn chế do LS quá cao, trong khi hạn chế lượngtiền trong nền kinh tế cũng làm giảm mạnh sức mua trong nước Xuất khẩu tăng chủ yếu là do giá tăng vì kinh tế thế giớicũng trì trệ hơn so với năm 2010 Phía cung, một số có khả năng cho vay thì bị giới hạn bởi trần, số khác còn “room”, nhưnglại không có nguồn Bên cạnh đó, LS trên thị trường LNH cao cũng khuyến khích các NHTM cho vay các NHTM, TCTDkhác, thay vì cho vay nền kinh tế Hệ quả là dư nợ cả năm chỉ tăng 12- 13%, còn nợ xấu gia tăng, ở mức 3,6-3,8% trên tổng

dư nợ

Các tác động tới nền kinh tế

Không chỉ hệ thống ngân hàng, các TCTD rơi vào tình trạng đứng ngồi không yên, mà theo tính toán sơ bộ cũng có tới hàng ngàn doanh nghiệp phải đóng cửa

Tổng đầu tư xã hội cũng chịu tác động nặng nề, đặc biệt là đầu tư khu vực ngoài nhà nước Theo số liệu cuả Tổng cục Thống

kê, tổng đầu tư xã hội năm 2011 tăng 5,7%, mức thấp nhất trong 5 năm qua, đặc biệt đầu tư ngoài nhà nước năm 2011 chỉ tăng 3,3%, chỉ vào khoảng 1/8 tốc độ tăng của năm 2010

Tốc độ tăng đầu tư theo thành phần kinh tế Sức mua nền kinh tế Nguồn: Tổng cục Thống kê

Sức mua nội địa cũng giảm mạnh Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế cả năm ướctăng 24,2% so với năm 2010 Nếu loại trừ yếu tố giá, thì mức tăng là 4,7%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 14% năm 2010

và 11% năm 2009

Tăng trưởng kinh tế cả năm ước 5.89%, thấp hơn so với kế hoạch, đặc biệt khu vực xây dựng đã giảm tuyệt đối, mức giảm là-0,97% Cho dù con số giảm không lớn, nhưng so với tốc độ tăng trưởng luôn lớn hơn 10% của khu vực này các năm trước,thì đây là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất Do khu vực xây dựng là khu vực sử dụng nhiều lao động, nên sự thu hẹp củakhu vực này có ảnh hưởng không nhỏ tới vấn đề giảm sút sức tiêu dùng nội địa năm 2011

Nói tóm lại, có thể nói, các mục tiêu về ổn định vĩ mô năm 2011 về cơ bản đã được thực hiện, nhưng khu vực ngân hàng vànền kinh tế đã chịu tác động nặng nề và đây chính là các vấn đề của năm 2012

Trang 12

3.1 Các nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh ngân hàng trong điều kiện lạm phát ở mức cao

Trong giai đoạn hiện nay, để giảm thiểu những tác động tiêu cực của lạm phát và biến động của thị trường tiền tệ đến hoạtđộng kinh doanh, đảm bảo cho các hoạt động Ngân hàng phát triển an toàn và bền vững, các NHTM nên thực hiện đồng bộcác nhóm giải pháp sau đây:

Tái cấu trúc tài sản có

Tái cấu trúc tài sản có, hoạt động kinh doanh cho phù hợp với những biến động của thị trường, nhằm giảm thiểu rủi ro, trên

- Cơ cấu lại danh mục tín dụng theo hướng đảm bảo sự cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn để hạn chế rủi ro kỳ hạn vốn,

đa dạng hoá danh mục tín dụng để phân tán rủi ro, ưu tiên vốn tín dụng cho các ngành, lĩnh vực ít nhạy cảm, có khả năngchống đỡ biến động giá cả

- Phát triển sản phẩm, dịch vụ nhằm tăng thu nhập từ các hoạt động cung cấp dịch vụ, giảm sự phụ thuộc vào hoạt động tíndụng

Nâng cao năng lực tài chính

Nâng cao năng lực về tài chính và khả năng quản trị của hệ thống Ngân hàng theo các chuẩn mực quốc tế là giải pháp cơ bản

để đảm bảo sự phát triển an toàn và bền vững Trong hoàn cảnh của các NHTM trong nước hiện nay, các giải pháp tối ưu là:

- Đối với các NHTM Nhà nước, cần đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá nhằm thu hút thêm vốn, đổi mới hình thức sở hữu,phương thức quản lý để nâng cao hiệu quả hoạt động, làm nền tảng để duy trì sự ổn định và phát triển của cả hệ thống

- Tìm kiếm các nhà đầu tư chiến lược là các định chế tài chính nước ngoài đầu tư vào các Ngân hàng trong nước, qua đó đểtăng cường tiềm lực về tài chính và nâng cao trình độ quản lý của từng Ngân hàng

- Tạo điều kiện và thúc đẩy các quá trình hợp nhất, sáp nhập, mua lại trong hệ thống các NHTM, đặc biệt là các Ngân hàngquy mô nhỏ để tăng cường năng lực cạnh tranh, tránh rủi ro hệ thống

Chú trọng công tác quản trị rủi ro, kiểm tra kiểm soát nội bộ

Hoạt động kinh doanh ngân hàng rất nhạy cảm, có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, liên quan đến hoạtđộng của các doanh nghiệp và các cá nhân Khi một ngân hàng gặp phải rủi ro lớn, có thể dẫn tới việc người gửi tiền ở ngânhàng hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền ở ngân hàng, làm cho không chỉ ngân hàng gặp rủi ro mà cả hệ thốngngân hàng gặp khó khăn, nền kinh tế - xã hội mất ổn định Bởi vậy, tiếp tục bổ sung, điều chỉnh chính sách, xây dựng, hoànthiện các quy trình quản trị rủi ro, hòan thiện tổ chức và hoạt động kiểm tra kiểm soát nội bộ ở các NHTM là các vấn đề cầnphải được chú trọng, để tạo niềm tin cho khách hàng, công chúng trong bối cảnh hiện nay

Hệ thống quản trị rủi ro tín dụng cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng phân tích khách hàng, xếp hạng tín dụng, hệthống phê duyệt và kiểm soát tín dụng Vận dụng một cách có hiệu quả các mô hình lượng hoá rủi ro tín dụng đã được ápdụng trên thế giới để tạo công cụ hỗ trợ đắc lực trong việc ra quyết định tín dụng đúng đắn

Tiếp tục cải tiến các mô hình quản trị rủi ro thị trường (hệ thống theo dõi và kiểm soát thanh khoản, rủi ro lãi suất và rủi rongoại hối) theo hướng tiên tiến và hiện đại Hình thành cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc phân tích, quản trị rủi ro, ứng dụngcông nghệ, sử dụng các phương pháp đo lường rủi ro hiện đại đảm bảo đưa ra những quyết sách điều hành phòng ngừa và hạnchế rủi ro thích hợp, nhanh nhạy, chi phí thấp và hiệu quả cao

Đi liền với quản trị rủi ro là hoạt động của hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ Hệ thống này của Ngân hàng cần bảo đảmmức độ đầy đủ, tính hiệu lực và hiệu quả Công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ không chỉ dừng ở công tác hậu kiểm, dưới hìnhthức tổ chức từng đợt kiểm tra, phát hiện những sai phạm đã phát sinh, mà cần nâng cao khả năng phát hiện, ngăn ngừa vàquản trị rủi ro Ngoài ra cần nâng cao vai trò của Bộ phận kiểm toán nội bộ, thực hiện đánh giá độc lập về hoạt động của hệthống kiểm soát nội bộ, đưa ra những khuyến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ ở NHTM

Tăng cường sự liên kết và hợp tác giữa các NHTM

Tăng cường tính liên kết và hợp tác giữa các Ngân hàng với nhau để: thứ nhất, có thể khai thác lợi thế cạnh tranh của nhau,cùng phát triển sản phẩm, dịch vụ, thu hút Khách hàng, tiết giảm chi phí, tăng hiệu quả hoạt động; thứ hai, có thể hỗ trợ lẫnnhau trong vấn đề thanh khoản khi thị trường có biến động bất lợi Sự hợp tác giữa các NHTM không chỉ góp phần kiềm chếlạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển kinh tế đất nước, mà còn vì chính lợi ích và sự phát triển của cộng đồng doanhnghiệp, trong đó có các NHTM

Tóm lại, khi nền kinh tế xảy ra lạm phát ở mức cao, các chính sách tài chính và tiền tệ được thắt chặt thì hoạt động kinhdoanh của các doanh nghiệp nói chung và hệ thống NHTM nói riêng không thể tránh khỏi những tác động tiêu cực Với vai

Trang 13

trò huyết mạch, là cầu nối chuyển tải các tác động của chính sách tiền tệ đến toàn bộ nền kinh tế, hoạt động của hệ thốngNHTM luôn phải chịu những tác động trực tiếp và tức thời của tình hình lạm phát Các giải pháp kinh doanh ngân hàng,chống đỡ lạm phát, đảm bảo kinh doanh an toàn, hiệu quả và bền vững là cần thiết không chỉ cho bản thân mỗi một NHTM

mà còn góp phần thực hiện được mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, mang lại tăng trưởng bền vững cho nềnkinh tế, hỗ trợ, phục vụ tích cực các doanh nghiệp, các ngành kinh tế, sản xuất kinh doanh phát triển./

Bài tham luận Hội thảo khoa học “Ảnh hưởng của lạm phát đến hoạt động kinh doanh ngân hàng, bảo hiểm và chứng khoán

ở Việt Nam hiện nay” của Học Viện Tài chính, tháng 10/2008

TS Đỗ Thị Thủy

5,tình hình Huy động vốn qua nguồn vốn FDI

Nguồn vốn FDI (Foreign Direct Investment) có vai trò tích cực hơn vốn ODA nhờ đi kèm với vốn FDI là chuyển giao côngnghệ, kỹ năng quản lý và tạo điều kiện cho nước nhận vốn FDI tiếp cận được phương pháp quản lý

hiện đại, cách thức tổ chức doanh nghiệp đa dạng và hiệu quả Cho đến hiện nay vẫn tồn tại hai quan điểm về tiếp nhận và sử

dụng vốn FDI thế nào cho có hiệu quả tại các nước đang phát triển và các nước kém phát triển Quan điểm thứ nhất cho rằng

các nước đang phát triển vừa thiếu vốn, vừa nhập siêu trong thương mại quốc tế, nên FDI sẽ giúp họ khắc phục hai khó khăn

này Quan điểm thứ hai cho rằng vốn FDI là khoản vay dài hạn và lợi nhuận của khoản này chính là lợi nhuận sau thuế của

doanh nghiệp và các doanh nghiệp được quyền chuyển lợi nhuận này về nước Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến cán cân thanhtoán của các quốc gia đang phát triển; và quan điểm thứ hai ngày càng được khẳng định khi các cuộc khủng hoảng liên ti ếpxãy ra vào các năm 1997 và 2008 đã làm cho dòng lợi nhuận từ FDI trong nước chảy ra nước ngoài với khối lượng lớn làmảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng thanh khoản bằng ngoại tệ của các quốc gia có cơ cấu vốn đầu tư từ FDI lớn Không aiphủ nhận vai trò tích cực của FDI đối với sự tăng trưởng kinh tế của các quốc gia; tuy nhiên, cần phải hiểu biết những mặttrái của FDI nhằm có chính sách thu hút và sử dụng FDI hiệu quả hơn

Lợi ích và hạn chế của nguồn vốn FDI

Những tác động hai mặt của FDI trước yêu cầu phát triển bền vững và tái cấu trúc nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới,

mà nổi bậc là:

Bổ sung nguồn vốn đầu tư xã hội, nhưng còn nhiều hạn chế về chất lượng tăng trưởng

Vốn FDI là nguồn bổ sung vốn quan trọng trong tổng nguồn vốn, nhất là trong giai đoạn khởi động nền kinh tế Những nămgần đây, vốn FDI thực hiện ở Việt Nam đã đạt mức trên 10 tỷ USD (với số vốn bên ngoài chuyển vào trên 8 tỷ$) là con sốlớn, chiếm khoảng ¼ tổng vốn đầu tư cả nước và tạo ra đến 45% giá trị sản lượng sản phẩm công nghiệp Tuy nhiên, cácnguồn vốn này thường đầu mới được dành cho đầu tư các dự án thuộc loại “gia công”, tỷ lệ giá trị gia tăng của khu vực FDItrong công nghiệp lại chỉ đạt 40%, chưa tạo nên hiệu quả vượt trội tương ứng, trong khi Khu vực kinh tế Nhà nước tạo ra18,5% giá trị sản lượng công nghiệp (giá thực tế), nhưng đã tạo ra tới 28% giá trị gia tăng ngành công nghiệp Đó là do nhiềuDNNN đã nắm các lĩnh vực công nghiệp quan trọng và có hiệu quả khá cao như dầu khí, điện, than, xi măng

Mở rộng xuất khẩu, những cũng làm tăng dòng nhập siêu

Các doanh nghiệp FDI đã tạo nên giá trị xuất khẩu lớn, chiếm trên dưới 50% giá trị xuất khẩu cả nước Tuy nhiên, nếu xét kỹ,các doanh nghiệp FDI mới tạo ra được nhiều bán thành phẩm như các linh kiện lắp ráp để xuất đi Trong khi đó tình trạng

“nhập siêu” của các doanh nghiệp FDI lại trở nên vô cùng sôi nổi Nếu như trước đây khi Việt Nam chưa gia nhập Tổ chứcThương mại Thế giới (WTO), các doanh nghiệp FDI chỉ được phép nhập khẩu hàng hóa phục vụ cho hoạt động sản xuất tạiViệt Nam, chứ không được nhập hàng để trực tiếp kinh doanh phân phối, bán lẻ thì giờ đây , khi Việt Nam là thành viênWTO, các doanh nghiệp FDI được đối xử bình đẳng theo quy chế tối huệ quốc Một số đơn vị đã tận dụng quyền phân phốitheo cam kết WTO để nhập khẩu hàng từ công ty mẹ vào Việt Nam bán Thậm chí có trường hợp thu hẹp sản xuất tại ViệtNam và tập trung nhiều hơn cho hoạt động thương mại Hiện tượng này khiến nhiều người lo ngại doanh nghiệp FDI, từngđược hưởng nhiều ưu đãi để mở nhà xưởng sản xuất, nay có thể chuyển sang nhập khẩu hàng để bán ở Việt Nam thay vì chỉtập trung sản xuất như trước Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Thành Biên nhận định khối FDI nhập siêu một phần nữa

là do phải nhập khẩu nhiều máy móc, thiết bị phụ tùng để sản xuất Phần lớn trong số này là để phục vụ khai thác, thăm dòdầu khí

Tạo thêm công ăn việc làm, n hg cũng làm mất đi nhiều việc làm truyền thống và chưa coi trọng đào tạo người lao động

Trong nhiều năm qua, các doanh nghiệp FDI thu hút khoảng 2 triệu lao động làm việc trực tiếp và hàng triệu lao động trongcác khâu gián tiếp khác Tuy nhiên, bên cạnh đó hoạt động của các dự án có FDI cũng làm mất đi nhiều việc làm truyềnthống của dân cư vùng bị thu hồi đất và tạo thêm áp lực xã hội cho nhiều địa phương có liên quan; Đặc biệt, thu hút laođộng của các doanh nghiệp FDI còn thiên về khai thác nguồn lao động có giá nhân công rẻ, ít đào tạo, thậm chí dùng cơ chếthử việc để liên tục thay lao động

Trang 14

Không ít doanh nghiệp FDI gây ô nhiễm môi trường tự nhiên và khai thác lãng phí tài nguyên thiên nhiên

Trong quá trình kinh doanh ở Việt Nam, nhiều doanh nghiệp FDI đã chú trọng khai thác nhiều tài nguyên tự nhiên (nhất làtài nguyên không tái tạo như khai thác mỏ khoáng sản), gây tàn phá môi trường tự nhiên Bài học của doanh nghiệp Vedancũng chỉ là một ví dụ mới nhất, mà hệ quả chưa nhìn thấy hồi kết Đó là chưa kể ô nhiễm khí, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm bụi,v.v thậm chí phá hoại đa dạng sinh học cũng cần được quản lý chặt chẽ

Tăng đóng góp tài chính quốc gia, nhưng còn nhiều hành vi tiêu cực, trốn tránh nghĩa vụ tài chính và tạo cạnh tranh không lành mạnh

Các doanh nghiệp FDI đóng góp nguồn vốn không nhỏ cho ngân sách Nhà nước xét về tổng thể Tuy nhiên, thực tế cho thấy

có tới 50% doanh nghiệp có FDI liên tục khai kinh doanh bị lỗ, và phần lớn các liên doanh đã chuyển sang hình thức đầu tư100% vốn nước ngoài là hiện tượng không bình thường, cho thấy có hiện tượng lạm dụng chính sách ưu đãi và cơ chế

“chuyển giá”, gây thiệt hại cho NSNN và tình trạng kinh doanh thiếu minh bạch, cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanhnghiệp Tình trạng đầu cơ đất, “bán” dự án khá phổ biến khiến công tác quản lý tài nguyên và đất đai thêm khó khăn

Tăng áp lực cạnh tranh , nhưng chưa có nhiều hoạt động chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý

Chấp nhận cạnh tranh trên thị trường sân nhà trong khi thu hút vốn FDI, nhiều nhà hoạch định chính sách, nhiều ngành vàđịa phương hy vọng, cùng với tăng nguồn vốn, mở mang thị trường, các doanh nghiệp FDI sẽ tiến hành chuyển giao côngnghệ và kỹ năng quản lý cho người Việt Nam Tuy nhiên thành quả trong lĩnh vực này rất khiêm tốn Do cách thức sản xuấttheo công đoạn trong mạng lưới toàn cầu, mà nhà đầu tư còn giữ phần lớn bí quyết công nghệ, nên việc chuyển giao côngnghệ rất ít và việc truyền bá kinh nghiệm quản lý cũng gần như không có gì Đây là vấn đề đòi hỏi nỗ lực của cả các nhà khoahọc và quản lý Việt Nam phải vươn lên để học hỏi trong công việc, từng bước vươn lên Kinh nghiệm trong xây dựng cáccông trình lớn, khai thác dầu khí, điện, than, đáng để mở rộng, trong khi các kinh nghiệm trong gia công hàng hóa còn rấtkhiêm tốn

Tình hình FDI năm 2011

Kinh tế xã hội Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các tiêu cực của kinh tế thế giới cộng với những hạn chế của nội tại nềnkinh tế dẫn đến những bất ổn của kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hànhquyết liệt của Chính phủ, cùng với sự nỗ lực của các bộ, ngành, các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, nềnkinh tế nước ta đã có chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả trong việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô,bảo đảm an sinh xã hội và duy trì mức tăng trưởng khá Khu vực FDI vẫn đạt được những kết quả tương đối khả quan, thểhiện trên các mặt sau:

Thứ nhất, vốn thực hiện đạt 11 tỷ USD đã đóng góp 25,9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2011 Trong bối cảnh thực hiện

chính sách tài khóa và tiền tệ chặt chẽ, đầu tư của khu vực nhà nước tiếp tục suy giảm, thì đây là một trong những nguồn vốn

bổ sung quan trọng cho đầu tư phát triển

Thứ hai, mặc dù vốn đăng ký mới và tăng thêm chỉ đạt 14,7 tỷ USD, nhưng vốn đăng ký tăng thêm của các dự án đã cấp

phép đạt 3,1 tỷ USD, tăng 1,65 lần mức vốn đăng ký tăng thêm của năm 2010 (1,89 tỷ USD) Điều này cho thấy, các nhà đầu

tư nước ngoài đã đầu tư tại Việt Nam vẫn có sự đánh giá tích cực về môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam

Thứ ba, cơ cấu vốn đăng ký đã có những chuyển biến tích cực, phù hợp với định hướng thu hút FDI, đó là tập trung vào lĩnh

vực công nghiệp và xây dựng - chiếm 76,4% (cao hơn so với năm 2010 là 54,1%); kinh doanh bất động sản chỉ chiếm 5,8%vốn đăng ký (so với năm 2010 là 34,3%)

Thứ tư, xuất khẩu đạt tăng trưởng khá, ước đạt 54,46 tỷ USD (kể cả dầu thô), chiếm 59% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả

nước (tăng 39,3% so với năm 2010) - cao hơn mức tăng trưởng xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước (26,1%) Chính sựtăng trưởng cao của xuất khẩu khu vực FDI đã góp phần đưa tốc độ tăng trưởng xuất khẩu năm 2011 của cả nước lên mức33,3% và góp phần làm giảm gánh nặng cho cán cân thương mại Nhập khẩu của khu vực FDI là 47,8 tỷ USD, tăng 29,3% sovới năm 2010

Thứ năm, thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) cũng có sự tăng trưởng, ước đạt 3,5 tỷ USD, chiếm trên 19% tổng thu nội địa

(tăng 15% so với năm 2010) Riêng thu từ dầu thô ước đạt 4,8 tỷ USD, vượt dự toán năm gần 44% Trong bối cảnh các nguồnthu quan trọng không đạt mức dự toán (thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước và thu phí xăng dầu) thì khu vực FDI đã gópphần đáng kể vào tăng thu và giảm bội chi ngân sách

Thu hút vốn FDI

Do vẫn còn ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, thu hút FDI đạt 18,6 tỉ USD, giảm19,5% so với mức 23,1 tỉ USD của năm 2009, không đạt mục tiêu thu hút 22 - 25 tỉ USD trong năm 2010 Điểm sáng nhấttrong thu hút FDI năm nay là chỉ tiêu giải ngân, đạt 11 tỉ USD, tăng 10% so với năm trước và chỉ cách kỉ lục của năm 2008 là

500 triệu USD; nhóm ngành sản phẩm chế biến vươn lên dẫn đầu khi có tới 4,37 tỉ USD đăng kí và giúp số dự án nhóm này

Trang 15

tăng gần gấp rưỡi Đây được đánh giá là tín hiệu tốt đối với nền kinh tế trong việc thu hẹp thâm hụt thương mại trong tươnglai.

Biểu đồ : Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Đọc thêm

Năm 2011: Thu hút vốn FDI chỉ bằng 74% so với năm trước

Năm 2012 Việt Nam sẽ đặt kế hoạch thu hút khoảng 15 – 16 tỷ USD và vốn giải ngân sẽ khoảng 10 – 11 tỷ USD

Sáng nay (ngày 30/12/2011), Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức họp báo về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoàinăm 2011 và dự kiến năm 2012

Vốn đăng ký mới chỉ bằng 74% so với năm trước

Tính đến ngày 15/12/2011, cả nước có 13.667 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 198 tỷ USD, trong đó công nghiệp vàxây dựng chiếm 54%.Singapore tiếp tục dẫn đầu với tổng vốn đăng ký chiếm 24 tỷ USD, tiếp theo lần lượt là Hàn Quốc,Nhật Bản và Đài Loan Thành phố Hồ Chí Minh vẫn là địa phương thu hút FDI lớn nhất với 32,67 tỷ USD còn hiệu lực, tiếptheo đó là Bà Rịa – Vũng Tàu, Hà Nội, Đồng Nai và Bình Dương

Theo Cục Đầu tư nước ngoài Đỗ Nhất Hoàng, tính đến 15/12 này, vốn đăng ký mới và tăng thêm đạt 14,7 tỷ USD, bằng 74%

so năm 2010 Trong đó, riêng vốn đăng ký mới đạt 11,6 USD, bằng 65% năm 2010 Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Kếhoạch và Đầu tư, số vốn này đã có những chuyển biến theo hướng tích cực

Đáng chú ý là đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản chỉ chiếm 5,8% tổng vốn đăng ký, giảm mạnh so năm 2010 với tỉ

lệ 34,3% tổng vốn đăng ký

Và vốn đăng ký năm 2011 tập trung 76,4% vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, con số này năm 2010 là 54,1%

Với số vốn đăng ký tăng thêm đạt 3,1 tỷ USD, tăng 1,65 lần mức vốn đăng ký tăng thêm của năm 2010 (1,89 tỷ USD)

Vốn thực hiện ước đạt 11 tỷ USD

Báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài cũng cho biết, vốn thực hiện của khu vực FDI năm 2011 ước đạt 11 tỷ USD, bằng mứcthực hiện của năm 2010 và đóng góp 25,9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Mức thực hiện này không hoàn thành kế hoạch đề ra(kế hoạch là 11,5 tỷ USD)

Theo số liệu thống kê của Bộ, xuất khẩu của khu vực FDI (bao gồm dầu thô) ước đạt 54,5 tỷ USD, chiếm 59% tổng kimngạch xuất khẩu của cả nước, tăng 39,3% so năm 2010, cao hơn mức tăng trưởng xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước Giá trị kim ngạch xuất khẩu khu vực FDI (không kể dầu thô) ước đạt 47,2 tỷ USD, góp phần làm giảm gánh nặng cho cán cânthương mại Trong khi đó, nhập khẩu khu vực này đạt 47,8 tỷ USD, tăng 29,3% so với năm 2010

Thu nội địa từ khu vực FDI năm 2011 khoảng 3,5 tỷ USD, tăng 15% so năm 2010 là 3,04 tỷ USD Thu từ dầu thô vượt dựtoán năm gần 44% và ước đạt 4,8 tỷ USD

Năm 2012 đặt kế hoạch thu hút 15 – 16 tỷ USD

Theo Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài Vũ Đại Thắng, năm 2012 Việt Nam sẽ đặt kế hoạch thu hút khoảng 15 – 16 tỷ USD

và vốn giải ngân sẽ khoảng 10 – 11 tỷ USD

Về quản lý FDI, Bộ sẽ chú trọng nâng cao chất lượng và hiệu quả vốn FDI Việc thu hút vốn FDI sẽ không đặt nặng về sốlượng vốn đăng ký mà tập trung vào thúc đẩy giải ngân FDI

Thu hút vốn FDI sẽ phù hợp với kế hoạch phát triển xã hội 5 năm 2011 – 2015 và chiến lược phát triển xã hội 2011 – 2020.Đồng thời, thu hút FDI có chọn lọc, định hướng vào vào những lĩnh vực cơ sở hạ tần, công nghiệp “xanh” Hạn chế thu hútFDI trong lĩnh vực phi sản xuất, làm gia tăng nhập siêu, sử dụng không hiệu quả tài nguyên và đất đai

Trang 16

4, huy động vốn qua thị trường chứng khoán

Đối với các nước phát triển, các chỉ báo của TTCK được xem như là một công cụ phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén

và khá chính xác nhất Chính vì vậy, TTCK luôn được coi là phong vũ biểu của nền kinh tế

TTCK Việt Nam trải qua hơn 10 năm xây dựng và phát triển (từ năm 2000 đến năm 2011) đã từng bước khẳng định vai trò của nó như

là một kênh huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế bổ sung cho hệ thống ngân hàng Có thể sơ lược lịch sử hình thành TTCK Việt Nam nhưsau:

1.1 Diễn biến thị trường chứng khoán giai đoạn 2000-2005:

Năm 2000, với 02 công ty niêm yết khi đưa Thị trường giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh vào hoạt động, TTCK đã có mức tăngtrưởng nhanh về giá do nguồn cung hàng hóa khan hiếm, chỉ số VN-Index liên tục tăng và đạt tới đỉnh điểm là 571,04 điểm ngày25/06/2001 Sau đó, thị trường đã liên tục sụt giảm trong suốt 03 năm sau đó trước khi tăng mạnh trở lại vào cuối năm 2003 Năm 2005, saukhi Thị trường giao dịch chứng khoán Hà Nội đi vào hoạt động, tổng số các công ty niêm yết trên cả hai thị trường là 44 công ty với tổng giátrị niêm yết là 4,94 ngàn tỷ đồng Tuy nhiên, nhìn chung giai đoạn 2000-2005 là giai đoạn hoạt động khá trầm của TTCK Việt Nam

Diễn biến thị trường chứng khoán giai đoạn 2006-2008:

TTCK Việt Nam giai đoạn cuối năm 2006 và đầu năm 2007 chính là giai đoạn mà thị trường bùng nổ nhất Năm 2006 chỉ số VN-Index

đã tăng tới 146% và trong 03 tháng đầu năm 2007, chỉ số này tiếp tục tăng thêm 46% đạt mức đỉnh 1.170 vào ngày 12/3 Biến động của thịtrường này có thể được chia làm 03 giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị bức phá do Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO, giai đoạn thị trường tăngtrưởng mạnh và giai đoạn điều chỉnh Trong giai đoạn đầu, những sự kiện kinh tế chính trị tích cực của quốc gia như Việt Nam gia nhậpWTO, tổ chức thành công hội nghị APEC đã tạo hình ảnh Việt Nam hấp dẫn các nhà đầu tư Từ tháng 12/2006, sự bùng nổ về số lượng cáccông ty niêm yết cộng với kết quả kinh doanh tốt tạo ra một sự bùng nổ cho thị trường cho đến tháng 3/2007

Diễn biến chỉ số VN-Index và các sự kiện quan trọng giai đoạn từ tháng 06/2006 đến tháng 07/2007(Nguồn: Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn)

Ngày đăng: 26/03/2015, 23:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng so sánh rủi ro nợ công các nước Quốc gia - Ôn thi môn tài chính tiền tệ chuyên đề Nguồn lực tài trợ cho phát triển kinh tế
Bảng so sánh rủi ro nợ công các nước Quốc gia (Trang 7)
Bảng 1: Hệ số ICOR thời kỳ 2000-2007 tính theo vốn đầu tư và tổng tích lũy tài sản - Ôn thi môn tài chính tiền tệ chuyên đề Nguồn lực tài trợ cho phát triển kinh tế
Bảng 1 Hệ số ICOR thời kỳ 2000-2007 tính theo vốn đầu tư và tổng tích lũy tài sản (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w