1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan tại các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh TP Cần Thơ

104 1,8K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Quản Lý Giáo Dục Học Sinh Chưa Ngoan Tại Các Trường Trung Học Cơ Sở Huyện Vĩnh Thạnh Thành Phố Cần Thơ
Tác giả Nguyễn Hữu Minh
Người hướng dẫn TS. Võ Thị Bích Hạnh
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản Lý Giáo Dục
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Giáo Dục
Năm xuất bản 2009
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan tại các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh TP Cần Thơ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

Nguyễn Hữu Minh

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2009

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường, phòng Khoa học công nghệ &

sau Đại học, các Phòng ban chức năng khác của trường Đại học sư phạm TP Hồ

Chí Minh Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Sở Giáo dục & Đào tạo TP Cần Thơ,

Phòng Giáo dục huyện Vĩnh Thạnh, Ban Giám Hiệu các trường THCS huyện Vĩnh

Thạnh, THPT Thạnh An và các bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ và tạo điều kiện

thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với quý Thầy, Cô giáo khoa Tâm lý - Giáo

dục, các Giáo sư, Tiến sĩ đã nhiệt tình hướng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm

quý báu trong giảng dạy, trong nghiên cứu khoa học và luôn dành những tình cảm

tốt đẹp cho tôi trong khóa học vừa qua

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Võ Thị Bích Hạnh đã tận tình

hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã đầu tư nhiều công sức, nhưng chắc chắn luận văn không thể tránh

khỏi những sai sót, rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của quý Thầy, Cô và đồng

nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này là của chính bản thân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Võ Thị Bích Hạnh

Kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn của tôi hoàn toàn trung thực và chưa

có ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Trang 4

KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

THPT Trung học phổ thông

HT Hiệu trưởng

GVCN Giáo viên chủ nhiệm

HS Học sinh

Ban ĐDCMHS Ban đại diện cha mẹ học sinh

PHHS Phụ huynh học sinh

Đoàn TNCS HCM Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

Đội TNTP HCM Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh

ĐHSP Đại học sư phạm

HĐGDNGLL Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước, là thế hệ kế tiếp giống nòi Nói về trẻ em chúng ta thường dùng những từ ưu ái nhất, “trẻ em như búp trên cành”, “Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai”…Đất nước và cả nhân loại, luôn quan tâm, mong đợi và hy vọng nhiều ở các em

Cuộc sống đổi mới và hiện đại hôm nay đem lại cho các em nhiều yếu tố tích cực nhưng cũng

đã tạo cho các em một môi trường đầy biến động, trong đó có những tác động tiêu cực Đó là một trong những nguyên nhân tạo ra thực trạng “trẻ em chưa ngoan”, “trẻ hư ” hiện nay Thực trạng này là mối lo

và nỗi đau nhức nhối cho toàn xã hội Vì đây là một trong những nguồn gốc trực tiếp sản sinh ra trẻ lang thang, bụi đời, “trẻ phạm pháp” Nó là nguy cơ đe dọa cuộc sống bình yên của cộng đồng

Trẻ chưa ngoan thực chất các em chưa phải là những người bị “hư hỏng” mà chỉ là có những hành vi lệch chuẩn đạo đức xã hội, có thể nhất thời hoặc là thói quen nhưng chưa trở thành bản chất con người Chính vì vậy, việc giáo dục (GD) cho các em có hành vi và thói quen hành vi đúng đắn phù hợp với các chuẩn mực xã hội là trách nhiệm của cả nhà trường, gia đình và xã hội Trong đó nhà trường giữ vai trò chủ đạo Ở nhà trường trong thực tiễn hoạt động giáo dục học sinh luôn luôn có sự phân hoá phức tạp về mức độ phát triển trí tuệ, thể chất, phẩm chất đạo đức Vì quá trình tiếp thu giáo dục và quá trình tự giáo dục của mỗi học sinh (HS) khác nhau Trong sự phân hoá đó một tỷ lệ rơi vào tình trạng trì trệ, chậm phát triển, thậm chí có một số học sinh quậy phá, bướng bỉnh, hỗn láo…Nếu các em không được nhà trường, gia đình và xã hội quan tâm giúp đỡ kịp thời rất dễ rơi vào tình trạng suy thoái nhân cách, thậm chí có thể dẫn đến tình trạng phạm pháp

Nghị quyết Trung ương II khoá VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã đề cập: “Đặc biệt đáng lo ngại là trong một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và của đất nước” [56]

Lĩnh vực GD học sinh chưa ngoan luôn là một vấn đề quan trọng và mang tính cấp thiết Vì vậy, trong những năm qua công tác giáo dục học sinh chưa ngoan trong nhà trường ở nước ta được quan tâm rất nhiều Các hội thảo về giáo dục và quản lý học sinh cá biệt, học sinh yếu kém cho học sinh khối THCS, THPT đã được tổ chức ở các tỉnh, thành phố, trong đó có thành phố Cần Thơ Tuy nhiên, công tác quản lý hoạt động giáo dục (HĐGD) học sinh chưa ngoan ở các trường trung học cơ sở (THCS) huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ chưa có tác giả nào quan tâm và nghiên cứu

Xuất phát từ ý nghĩa của vấn đề và thực trạng công tác giáo dục đạo đức cho HS các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ đang có chiều hướng giảm đã đưa tôi đến quyết định

chọn đề tài “Thực trạng quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan tại các trường THCS huyện Vĩnh

Thạnh, thành phố Cần Thơ” để nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 6

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động giáo dục và tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục học sinh chưa ngoan tại các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ Từ

đó, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục HS chưa ngoan ở trường trung học cơ sở, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Công tác quản lý hoạt động giáo dục ở các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục học sinh chưa ngoan ở các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ

4 Giả thuyết nghiên cứu

Hiện nay việc quản lý hoạt động giáo dục học sinh chưa ngoan tại các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần thơ còn một số mặt hạn chế:

- Chưa thực hiện việc kế hoạch hóa công tác quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan

- Chưa thực hiện chặt chẽ các nội dung quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan trong nhà trường

Vì vậy, cần có những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục HS chưa ngoan hợp lý ở trường THCS góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho HS các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Phân tích, hệ thống hóa một số cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động giáo dục học sinh chưa ngoan tại các trường THCS

5.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục học sinh chưa ngoan tại các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ

5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục học sinh chưa ngoan cho trường THCS

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận

Bao gồm phân tích, tổng hợp lý thuyết; phân loại, hệ thống hóa lý thuyết nhằm xác định cơ

sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu

6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp chủ đạo của đề tài nghiên cứu là phương pháp điều tra bằng phiếu Bên cạnh đó

có các phương pháp hỗ trợ gồm phương pháp chuyên gia, phương pháp quan sát sư phạm, phương pháp phỏng vấn, phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Trang 7

6.3 Phương pháp toán thống kê

Trang 8

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hoạt động giáo dục HS chưa ngoan là một bộ phận trong HĐGD - hoạt động trọng tâm trong nhà trường, là con đường căn bản để phát triển nhân cách cho mỗi HS Vì thế nghiên cứu quản lý HĐGD học sinh chưa ngoan nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường là việc làm cần thiết cho nhà trường phổ thông, đặc biệt là trường THCS

Bậc học trung học cơ sở (THCS) có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nhân cách của

HS Đây là bậc học nối tiếp bậc tiểu học của hệ thống Giáo dục Quốc dân, nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của GD Tiểu học; có trình độ học vấn phổ thông cơ sở và hiểu biết ban đầu về

kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, THCN, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động

Vấn đề quản lý giáo dục học sinh “chưa ngoan” hoặc “ khó giáo dục”, từ lâu đã được nhiều tác giả trong nước nghiên cứu như:

Võ Quang Phúc và tập thể các tác giả với “Dự án ngăn chặn và giáo dục lại trẻ em chưa ngoan

và trẻ em phạm pháp” tại TP.HCM [40], và “Muốn trẻ hư trở thành công dân tốt”, Đặng Vũ Hoạt với

“Quá trình giáo dục lại học sinh hư và học sinh phạm pháp, Trần Kiểm với “Thực trạng lưu ban, bỏ học của học sinh” Nguyễn Thị Diễm Thu với đề tài Khảo sát vấn đề giáo dục đạo đức cho HS ở trường phổ thông cấp 2-3 Sương Nguyệt Ánh, Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh thông qua sự kết hợp

3 lực lượng GD: Gia đình, Nhà trường, Xã hội [54], Nguyễn Thị Trúc Ly với đề tài Tìm hiểu kinh nghiệm GD học sinh kém đạo đức của một số giáo viên chủ nhiệm ở trường PTTH Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến tại thành phố Hồ Chí Minh [31], Lê Phong với bài viết đăng trên Tạp chí giáo dục tháng 1/1997 “Sự sa sút đạo đức của một bộ phận học sinh các trường phổ thông khu vực Bình Trị Thiên” [39], Đào Ngọc Đệ với bài GD tính trung thực cho HS [16], Võ Thị Hồng Trước với “ Thực trạng và những biện pháp giáo dục lại học sinh lười học đầu bậc trung học cơ sở ”[45 ], Nguyễn Tùng Lâm với Luận án Tiến Sĩ “Phương pháp giáo dục HS cá biệt ở trường phổ thông dân lập Đinh Tiên Hoàng Hà Nội” vv

Trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã đóng góp cho khoa học giáo dục một

hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn sâu sắc về giáo dục lại bao gồm khái niệm học sinh chưa ngoan (hư), các dạng biểu hiện của học sinh chưa ngoan, nguyên nhân dẫn đến tình trạng HS chưa ngoan, đặc biệt là việc tổng kết kinh nghiệm, đề xuất những biện pháp cùng các hình thức tổ chức HĐGD phù hợp với đối tượng HS này

Tuy nhiên, các tác giả cũng nhìn nhận rằng học sinh chưa ngoan có nhiều dạng biểu hiện khác nhau, mỗi dạng học sinh chưa ngoan có những đặc trưng riêng cần được nghiên cứu chuyên biệt Đồng thời các đề tài nghiên cứu cũng chỉ mới đề cập các vấn đề về hoạt động giáo dục học sinh chưa ngoan trên một trường, một địa bàn cụ thể Với sự tìm hiểu của mình tác giả nhận thấy chưa có đề tài nghiên cứu về lĩnh vực quản lý HĐGD học sinh chưa ngoan ở các trường THCS

Trang 9

Từ sự phân tích trên, tác giả thấy cần phải nghiên cứu cụ thể công tác quản lý HĐGD học sinh chưa ngoan ở các trường THCS tại huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ nơi tác giả đang công tác

1.2 Khái niệm quản lý giáo dục (QLGD)

1.2.1 Khái niệm quản lý giáo dục

Quản lý là những hoạt động cần thiết được thực hiện khi con người kết hợp với nhau thành một

tổ chức, là một phương thức làm cho những hoạt động của tổ chức được hoàn thành với hiệu suất cao Quản lý bao gồm 4 chức năng: hoạch định, tổ chức, điều khiển và kiểm soát

Khái niệm quản lý được tiếp cận bằng nhiều cách khác nhau như: tiếp cận kiểu kinh nghiệm, tiếp cận theo hành vi quan hệ cá nhân, tiếp cận tác nghiệp….Vì thế, các tác giả khác nhau đưa ra những quan điểm khác nhau Có thể dẫn một số tác giả tiêu biểu như sau:

Theo tác giả Hoàng Tâm Sơn: “Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của

chủ thể quản lý, nhằm sử dụng hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu

đề ra trong điều kiện biến động của môi trường” [47]

Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và Nguyễn Gia Quý cho rằng: “Quản lý là quá trình hướng đích,

quá trình có mục tiêu Quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà nhà quản lý mong muốn”

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Hoạt động quản lý là hoạt động bao gồm 2 quá trình “Quản” và

“Lý” kết hợp với nhau trong đó “Quản” có nghĩa là duy trì và ổn định hệ “Lý” có nghĩa là sửa sang, sắp xếp đưa vào thế phát triển Nếu chỉ “Quản” mà không “Lý” thì tổ chức dễ trì trệ, nếu chỉ “Lý” mà không “Quản” thì phát triển không bền vững Do đó “quản phải có lý” và ngược lại, làm cho hệ thống cân bằng động, vận động phù hợp thích ứng và có hiệu quả trong môi trường tương tác giữa các nhân

tố bên trong và các nhân tố bên ngoài.[4]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “quản lý là tác động có mục đích có kế hoạch của chủ thể

quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến”

Tổ chức và quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau Quản lý phải gắn liền với một tổ chức nhất định, nếu quản lý không gắn liền với tổ chức thì sẽ là chung chung, không biết quản lý ai, quản lý cái gì Ngược lại, một tổ chức mà không có sự quản lý, không gắn với quản lý, thì tổ chức đó sẽ không thể tồn tại và phát triển, sẽ bị loại khỏi đời sống xã hội

Theo các thuyết quản lý hiện đại thì quản lý là quá trình làm việc với nhau và thông qua những người khác để thực hiện các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường luôn biến động

Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý trong một tổ chức, nhằm tạo cho tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu đã đề ra

Mặc dù các tác giả định nghĩa về quản lý có khác nhau nhưng họ đều có sự thống nhất, đó

Trang 10

là tác động có tính tự giác, tính mục đích, tính kế hoạch, và tính phương pháp của chủ thể quản

lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục đích đã đề ra

Quản lý giáo dục cũng được hiểu theo nhiều cấp độ: cấp độ vi mô và cấp độ vĩ mô

- Về cấp độ vĩ mô, quản lý giáo dục được hiểu là quản lý một nền GD, một hệ thống GD Đó là

những tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tất cả các khâu trong hệ thống nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển GD.[15]

- Về cấp độ vi mô, quản lý GD được hiểu là quản lý một nhà trường; là những tác động của chủ

thể quản lý vào quá trình GD, được tiến hành bởi giáo viên và HS với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.[15]

1.2.2 Các chức năng của quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục có 4 chức năng:

- Chức năng kế hoạch hóa (hoạch định)

- Chức năng tổ chức

- Chức năng chỉ đạo (điều khiển)

- Chức năng kiểm tra

Các chức năng này được thực hiện trên cơ sở các thông tin quản lý, nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu quản lý

- Chức năng hoạch định thể hiện qua việc xác định mục tiêu, xây dựng chiến lược và chiến

thuật cụ thể để hành động Tập trung và vận dụng các điều kiện tác động cho mọi đối tượng quản lý hiểu rõ vai trò, nhiệm vụ, các phương pháp tiến hành nhằm thực hiện có kết quả mục tiêu của tổ chức

- Chức năng tổ chức bao gồm xây dựng và duy trì một cơ cấu về vai trò, vị trí, nhiệm vụ của

từng cá nhân, từng bộ phận cùng với mối quan hệ hữu cơ với các cá nhân và bộ phận khác Quá trình thực hiện chức năng tổ chức gồm 5 bước:

+ Lập danh mục công việc cần làm để đạt được mục tiêu

+ Phân công lao động

+ Thiết lập cơ chế và quan hệ thực hiện

+ Kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh

- Chức năng chỉ đạo (điều khiển) thể hiện qua quá trình đưa ra các quyết định để tác động đến

các đối tượng quản lý giúp họ phát huy tiềm năng và mối quan hệ với xung quanh vào việc thực hiện các chức năng của mình

- Chức năng kiểm tra, thể hiện qua quá trình kiểm tra nhằm xác định mức độ phù hợp của các quyết định quản lý đã ban hành Quá trình kiểm tra gồm 3 bước

+ Xây dựng các tiêu chuẩn GD

Trang 11

+ Đo đạc việc thực hiện

- Điều chỉnh các sai lệch

1.3 Quản lý hoạt động giáo dục trong trường THCS

1.3.1 Vị trí, mục tiêu, đặc điểm trường THCS

Điều lệ trường Trung học quy định: “Trường trung học là cơ sở giáo dục ở bậc trung học, là bậc học nối tiếp bậc tiểu học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông; trường

trung học có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng”.[17]

Nghị quyết hội nghị lần thứ tư BCHTW Đảng khóa VII về “Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục đào tạo” đã ghi rõ: “Đào tạo những con người có kiến thức văn hóa, khoa học, kĩ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo và có kỉ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu CNXH, sống lành mạnh, đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước những năm 90 và chuẩn bị cho tương lai”

Trong “Quy định về mục tiêu và kế hoạch đào tạo của trường PTCS và trường PTTH” theo quyết định 305/QĐ ngày 26/3/1986 và 329/QĐ ngày 31/3/1990 của Bộ giáo dục và đào tạo, các mục tiêu cấp học, mục tiêu hoạt động giáo dục (dạy học, lao động, văn nghệ, TDTT…) đã được trình bày chi tiết theo 3 tiêu chí: Kiến thức, kĩ năng, thái độ Đó là những mục tiêu cụ thể tạo nên những nhân cách của người học sinh phổ thông Người Hiệu trưởng cần nắm những mục tiêu này, bởi vì nó là một

bộ phận trong mục tiêu quản lý

Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học;

có trình độ học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp

tục học THPT, THCN, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động

Mục tiêu quản lý của nhà trường THCS [17]

Cung cấp cho học sinh học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệp để thực hiện phân luồng sau trung học cơ sở, tạo điều kiện để học sinh tiếp tục học tập hoặc đi vào cuộc sống lao động

Đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở ở các thành phố, đô thị, vùng kinh tế phát triển vào năm

2005, trong cả nước vào năm 2010 Tăng tỉ lệ học sinh trung học cơ sở trong độ tuổi từ 74% năm 2000 lên 80% vào năm 2005 và 90% vào năm 2010

Bảo đảm kế hoạch phát triển giáo dục: Tuyển chọn học sinh vào lớp đầu cấp đúng theo số lượng

và chất lượng của Bộ giáo dục - đào tạo qui định, duy trì số lượng học sinh đang học và hạn chế đến mức thấp nhất học sinh lưu ban, bỏ học

Bảo đảm chất lượng và hiệu quả giảng dạy, giáo dục: tiến hành các hoạt động giáo dục theo đúng chương trình và bảo đảm yêu cầu đối với môn học và các hoạt động giáo dục

Xây dựng đội ngũ giáo viên của trường có đủ phẩm chất, năng lực, đồng bộ về cơ cấu, có đủ loại hình để đảm bảo giảng dạy giáo dục học sinh đạt chất lượng cao Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thích hợp, phục vụ tích cực cho nhiệm vụ giáo dục - đào tạo

Trang 12

của nhà trường

Từng bước hoàn thiện cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ thiết thực cho giảng dạy và giáo dục Xây dựng và hoàn thiện môi trường giáo dục trong nhà trường, thống nhất giáo dục với địa phương, cộng đồng

Thường xuyên cải tiến công tác quản lý, lãnh đạo trường học theo tinh thần dân chủ hóa nhà

trường, tạo hoạt động đồng bộ, có trọng điểm, có hiệu quả các hoạt động dạy học và giáo dục

1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm [8]

- Giáo viên chủ nhiệm (GVCN) là người thay mặt Hiệu trưởng quản lý giáo dục học sinh ở một lớp; thực hiện nhiệm vụ giáo dục toàn diện cho học sinh GVCN không nắm được đặc điểm, trình độ, những biến đổi của học sinh trong quá trình giáo dục, tự rèn luyện thì không thể có sự định hướng, điều chỉnh kịp thời quá trình rèn luyện của học sinh Hiểu học sinh và nắm được mục tiêu cần đạt trong quá trình giáo dục toàn diện cho học sinh là điều kiện đầu tiên để làm tốt công tác chủ nhiệm

- GVCN có trách nhiệm truyền đạt tới học sinh của lớp mình các yêu cầu, kế hoạch giáo dục của nhà trường không phải bằng mệnh lệnh mà bằng sự thuyết phục, cảm hóa, mà bằng cả sự gương mẫu của bản thân để biến chủ trương, kế hoạch giáo dục của nhà trường thành chương trình hành động của tập thể lớp và của mỗi học sinh trong lớp

- GVCN còn là người tập hợp ý kiến, nguyện vọng của từng học sinh để phản ánh với Hiệu trưởng, với các tổ chức trong trường và các giáo viên bộ môn, mặt khác đó là quá trình tiếp nhận thông tin từ học sinh để đảm bảo tính khách quan, trung thực của dư luận và nguyện vọng của học sinh

- GVCN có trách nhiệm bảo vệ và bênh vực quyền lợi chính đáng của học sinh

- GVCN là cố vấn cho hoạt động tự quản của tập thể học sinh: hướng dẫn, góp ý cho hoạt động của Chi đoàn Tổ chức phối hợp hoạt động của Chi đoàn và lớp

- GVCN phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để thực hiện tốt việc hình

thành và phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh

- Tìm hiểu và nắm vững học sinh trong lớp về mọi mặt để có biện pháp tổ chức giáo dục sát đối tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp

- Cộng tác chặt chẽ với gia đình học sinh, chủ động phối hợp với các giáo viên bộ môn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh của lớp mình chủ nhiệm

- Nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối kỳ và cuối năm học, đề nghị khen thưởng và kỷ luật học sinh, đề nghị danh sách học sinh được lên lớp thẳng, phải kiểm tra lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kỳ nghỉ hè, phải ở lại lớp, hoàn chỉnh việc ghi vào sổ điểm và học bạ học sinh

- Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng

- Kiểm tra sổ gọi tên ghi điểm của lớp; giúp Hiệu trưởng theo dõi việc kiểm tra cho điểm theo quy định của Quy chế

Trang 13

- Tính điểm trung bình các môn học từng học kỳ, cả năm học; xác nhận việc sửa chữa điểm của giáo viên bộ môn trong sổ gọi tên và ghi điểm, trong học bạ

1.3.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của Hiệu trưởng trường THCS

Hiệu trưởng là người có trách nhiệm chủ yếu quyết định chất lượng GD trong nhà trường Trong

nhà trường THCS Hiệu trưởng có nhiệm vụ và quyền hạn sau:

- Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường

- Thực hiện các Nghị quyết, Quyết nghị của Hội đồng nhà trường được quy định tại khoản 2 Điều 20 của Điều lệ trường THCS, THPT

- Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học, tổ chức chỉ đạo các thành viên trong trường (có phối hợp với các lực lượng bên ngoài), phát huy vai trò làm chủ, ra sức thi đua ‘‘dạy tốt, học tốt’’, tiến hành các hoạt động giáo dục cơ bản theo chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên nhằm thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục của địa phương và nâng cao chất lượng đào tạo đây là nhiệm vụ trung tâm của người Hiệu trưởng vì nó quyết định trực tiếp việc đào tạo học sinh theo mục tiêu giáo dục

- Chỉ đạo xây dựng các điều kiện giáo dục (đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất thiết bị trường học ) để tiến hành tốt các nhiệm vụ giáo dục

- Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước; quản lý hồ sơ tuyển dụng giáo viên, nhân viên

- Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký xác nhận học bạ, ký xác nhận hoàn thành chương trình tiểu học vào học bạ học sinh tiểu học (nếu có) của trường phổ thông có nhiều cấp học và quyết định khen thưởng, kỷ luật học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường

- Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, học sinh; tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục của nhà trường

- Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật

- Chịu trách nhiệm trước cấp trên về toàn bộ các nhiệm vụ được quy định trong khoản 1 Điều lệ trường THCS, THPT

- Hiệu trưởng là thủ trưởng cơ quan giáo dục của nhà nước Trường THCS là cơ quan giáo dục của nhà nước Hiệu trưởng quản lý nhà trường, quản lý giáo dục theo nguyên tắc thủ trưởng chịu trách nhiệm đối với cấp trên và cấp dưới, có quyền xử lý và ra quyết định bằng một quyền hạn nhất định đối với các hoạt động trong nhà trường

- Hiệu trưởng trước hết phải là người có phẩm chất, đạo đức chính trị tốt, biết vận động quần

Trang 14

chúng tự giác thực hiện nhiệm vụ của nhà trường, đồng thời phải có chuyên môn vững vàng biết phát huy tinh thần dân chủ sáng tạo, đoàn kết đưa nhà trường đạt đến mục tiêu dạy học và giáo dục

- Hiệu trưởng chịu trách nhiệm quản lý toàn diện hoạt động giáo dục của nhà trường, trong đó

có giáo dục đạo đức cho học sinh chưa ngoan

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục học sinh chưa ngoan

1.4.1 Khái niệm quản lý HĐGD học sinh chưa ngoan

Quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan có ý nghĩa quan trọng trong toàn bộ công tác quản lý giáo dục ở nhà trường xã hội chủ nghĩa Bác Hồ đã dạy “Dạy cũng như học, phải biết chú trọng cả tài lẫn đức” Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc quan trọng “đạo đức là cái gốc quan trọng của con người phát triển toàn diện mà nhà trường phổ thông có trách nhiệm đào tạo Do đó, công tác quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan phải được xem là then chốt trong nhà trường Nếu công tác này được quan tâm đúng mức sẽ có tác dụng thúc đẩy việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà

Quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan cũng như các quá trình quản lý khác là có sự tham gia của chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục Như vậy, Hiệu trưởng quản lý hoạt động giáo dục học sinh chưa ngoan còn là quản lý sự phối hợp giữa các lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục HS chưa ngoan như: GVCN, Đoàn đội, Giám thị, Ban đại diện cha mẹ học sinh (Ban ĐDCMHS)

Vì vậy, thực chất quản lý HĐGD học sinh chưa ngoan là:

- Quản lý nội dung chương trình kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan

- Quản lý HĐGD học sinh chưa ngoan của GVCN

- Quản lý sự phối hợp giữa GVCN với Đoàn đội, Giám thị, Ban ĐDCMHS trong công tác giáo dục HS chưa ngoan

- Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả rèn luyện của HS chưa ngoan

1.4.2 Các chức năng của công tác quản lý HĐGD học sinh chưa ngoan

a Xây dựng kế hoạch (chức năng hoạch định)

Giáo dục học sinh chưa ngoan là một quá trình trong đó khâu đầu tiên là xây dựng kế hoạch Kế hoạch hoá là chức năng quan trọng hàng đầu trong công tác quản lý, vì thiếu tính kế hoạch giáo dục

Trang 15

khó đạt được kết qủa cao

Lập kế hoạch là quyết định trước cái gì cần phải làm, làm như thế nào, khi nào làm, và ai làm cái đó [15]

Lập kế hoạch là một quá trình đòi hỏi có tri thức, xác định đường lối và đưa ra quyết định trên

cơ sở mục tiêu, sự hiểu biết và những đánh giá thận trọng

Muốn kế hoạch có tính khả thi và hiệu quả cần phải đầu tư suy nghĩ để hoạch định từ những vấn

đề chung nhất đến những vấn đề cụ thể Từ những vấn đề mang tính chiến lược đến những vấn đề mang tính chiến thuật trong mỗi giai đoạn Khi xây dựng kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan, người Hiệu trưởng cần dựa trên những cơ sở sau:

Phân tích thực trạng giáo dục học sinh chưa ngoan trong năm học Thực trạng này thể hiện rõ trong bảng tổng kết năm học Qua đó thấy được ưu và nhược điểm của công tác giáo dục học sinh chưa ngoan, những vấn đề gì còn tồn tại, từ đó xếp ưu tiên những vấn đề gì cần giải quyết

Phân tích kế hoạch chung của ngành, trường, từ đó xây dựng kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan Kế hoạch này là kế hoạch cụ thể về một mặt giáo dục quan trọng của nhà trường, trong đó thể hiện sự thống nhất giáo dục học sinh chưa ngoan với các mặt giáo dục khác phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường

Tìm hiểu đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương Vì quá trình giáo dục học sinh chưa ngoan thống nhất biện chứng với quá trình xã hội, với môi trường sống

Tìm hiểu các chuẩn mực, giá trị đạo đức trong xã hội của chúng ta hiện nay và xu thế giá trị đạo đức trên thế giới để xây dựng nội dung giáo dục học sinh chưa ngoan

Xác định điều kiện giáo dục như cơ sở vật chất, tài chánh, qũy thời gian, sự phối hợp với lực lượng giáo dục trong trường và ngoài trường

Những yêu cầu khi xây dựng kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan:

- Kế hoạch phải thể hiện được tính khoa học, kế thừa, toàn diện, cụ thể và trọng tâm trong từng thời kỳ

- Kế hoạch phải phát huy những mặt mạnh, khắc phục những mặt yếu kém, củng cố ưu điểm, vạch ra được chiều hướng phát triển trong việc hình thành đạo đức ở học sinh

- Kế hoạch phản ánh được mối quan hệ giữa mục đích, mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, thời gian, hình thức tổ chức, biện pháp, kiểm tra và đánh giá

- Kế hoạch thể hiện được sự phân cấp quản lý của Hiệu trưởng, bảo đảm tính thống nhất, đồng

bộ và cụ thể

Do đó, việc xây dựng kế hoach giáo dục nói chung và đặc biệt là kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan thì Hiệu trưởng cần quan tâm đến hiệu quả xã hội và động lực mục tiêu của nhà trường, đưa ra tầm nhìn mới và tuyên truyền để làm biến đổi nhận thức và hành động của các thành viên trong nhà trường

Trang 16

Kế hoạch giáo dục được xây dựng xong tháng 8, sau khi được thảo luận và thông qua Ban thi đua, Chi bộ Đảng kế hoạch sẽ được phổ biến đến toàn thể cán bộ, giáo viên, công nhân viên vào đầu năm học

Việc thành lập kế hoạch không đơn thuần là quá trình lý thuyết mà phải áp dụng vào thực tiễn,

do đó phải có yếu tố con người tham gia Vì vậy, xây dựng kế hoạch không những được coi là quá trình tương tác giữa con người với con người, con người với kế hoạch mà còn phải có sự giải thích, quyết định và lựa chọn

b Tổ chức thực hiện kế hoạch

Là xếp đặt một cách khoa học những yếu tố, những lượng người, những dạng hoạt động của tập thể người lao động thành một hệ toàn vẹn, bảo đảm cho chúng tương tác với nhau một cách tối ưu đưa

hệ tới mục tiêu

Tổ chức chính là sinh thành ra hệ toàn vẹn, tạo ra hiệu ứng tổ chức LêNin nói: “Một trăm người

sẽ mạnh hơn một ngàn người khi một trăm người này biết tổ chức lại thì nó sẽ nhân sức mạnh lên mười lần”

Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan phải xuất phát từ quan điểm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Học sinh là chủ thể của hoạt động nhận thức và rèn luyện phẩm chất đạo đức với sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên Có như vậy thì những chuẩn mực giá trị đạo đức của xã hội sẽ trở thành những phẩm chất riêng trong nhân cách của học sinh

Tổ chức thực hiện kế hoạch GDHS chưa ngoan có liên quan mật thiết với việc tổ chức hoạt động GD và học tập văn hóa trong nhà trường

Quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch gồm:

- Giải thích mục tiêu, yêu cầu, của kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan

- Thảo luận biện pháp thực hiện kế hoạch

- Sắp xếp bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm quản lý, huy động cơ sở vật chất, kinh tế Trong sắp xếp bố trí nhân sự, Hiệu trưởng phải biết được phẩm chất và năng lực của từng người, mặt mạnh, mặt yếu, nếu cần có thể phân công theo từng “ê kíp” để công việc được tiến hành một cách thuận lợi và

có hiệu quả

- Định rõ tiến trình, tiến độ thực hiện Thời gian bắt đầu, thời gian kết thúc

Trong việc tổ chức thực hiện Hiệu trưởng cần tạo điều kiện cho người tham gia phát huy tinh thần tự giác, tích cực, phối hợp cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ

c Chỉ đạo thực hiện kế hoạch

Chỉ đạo là hướng dẫn cụ thể theo đường lối chủ trương nhất định

Chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan trong nhà trường THCS là chỉ huy, ra lệnh cho các bộ phận trong nhà trường thực hiện những nhiệm vụ để bảo đảm việc giáo dục học sinh chưa ngoan diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch, tập hợp và phối hợp các lực lượng giáo dục sao cho

Trang 17

d Kiểm tra thực hiện kế hoạch

Kiểm tra, đánh giá là một chức năng quản lý, thiếu chức năng này người quản lý sẽ rơi vào tình

trạng chủ quan duy ý chí hoặc buông lỏng quản lý

Kiểm tra HĐGD học sinh chưa ngoan trong trường THCS là công tác rất quan trọng và cần thiết trong quản lý, giúp nhà quản lý nắm được tiến độ thực hiện kế hoạch, đối tượng được phân công thực hiện kế hoạch, từ đó có biện pháp điều chỉnh kịp thời Kiểm tra là công tác cần tiến hành thường xuyên hàng tháng, hàng học kỳ và hàng năm Kiểm tra hoạt động quản lý GD học sinh chưa ngoan trong trường THCS nhằm:

- Theo dõi sát tình hình thực hiện công tác GD học sinh chưa ngoan trong trường

- Tiến độ và chất lượng thực hiện chương trình

- Làm cho công tác kiểm tra đánh giá khách quan, toàn diện, hệ thống công khai

- Kịp thời uốn nắn các sai phạm và thiếu sót trong việc thực hiện công tác GD học sinh chưa ngoan

- Nâng cao tinh thần trách nhiệm, tình thương và niềm tin trong công tác GD học sinh chưa ngoan

- Phát hiện, nhân rộng các ưu điểm, kinh nghiệm để công tác giáo dục HS chưa ngoan ngày càng có hiệu quả hơn

Trong công tác quản lý hoạt động giáo dục học sinh chưa ngoan việc kiểm tra đánh giá có ý nghĩa không chỉ đối với nhà quản lý giáo dục mà còn có ý nghĩa đối với học sinh Vì qua kiểm tra đánh giá của giáo viên, học sinh hiểu rõ hơn về những hoạt động của mình, khẳng định được mình Từ đó, hoạt động tích cực hơn, tự giác hơn, biết tự điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với yêu cầu chung của xã hội

1.4.3 Học sinh chưa ngoan [22]

Trong phạm vi nhà trường các học sinh có “trục trặc” trong sự phát triển thường được gọi những tên khác nhau, tùy theo mức độ, quan điểm nhận thức của các nhà giáo dục, cơ sở giáo dục Có nơi gọi đối tượng này là học sinh chậm tiến, có nơi gọi là học sinh “khó giáo dục” hay học sinh “chưa ngoan” Thậm chí có nơi gọi là học sinh “cá biệt” Tuy cách gọi khác nhau nhưng nội dung và tích chất

Trang 18

của các biểu hiện loại học sinh này thường giống nhau Có lúc, có nơi người ta gọi thẳng đối tượng này

là “học sinh hư” và xếp vào loại phải giáo dục lại, nghĩa là phải được giáo dục theo yêu cầu, nội dung, phương pháp giáo dục mang tính đặc thù Do đó trong đề tài này, tác giả dùng những thuật ngữ như:

“học sinh cá biệt”, “ học sinh hư”, “học sinh chậm tiến”… đều chỉ loại học sinh chưa ngoan Những điều nhận thấy ở loại đối tượng này là:

Thường né tránh việc thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm theo khuôn mẫu chung (đạo đức, lối sống, nội quy, quy chế…) nghiêm trọng hơn các em có những biểu hiện gây rối trật tự xã hội, làm mất

an ninh cho những người xung quanh Các em có những tác phong và hành vi thấp kém: trộm cắp, phá phách, sa vào các tệ nạn xã hội, sống cẩu thả

Mức độ sai lầm trong hành vi của HS chưa ngoan thuộc nhiều thang bậc khác nhau, từ chỗ lười học, trốn học, bỏ học, nói dối cha mẹ và thầy giáo, đến chỗ nghịch ngợm, phá rối trật tự khu phố (đấm cửa, bấm chuông, ném đá nhà hàng xóm, vô lễ với người lớn…) cho đến chỗ ăn cắp, móc túi, thậm chí cướp giật nhưng chưa lặp đi lặp lại nhiều lần Các em sống và làm việc không có tổ chức và kỷ luật

Hành vi chủ yếu của loại học sinh “chưa ngoan”, là sự lười học, trốn các tiết học, các hoạt động tập thể, thường xuyên mất trật tự trong giờ học và trong các hoạt động tập thể, nói tục, chửi thề, thiếu văn hoá, hỗn láo với người lớn, không nghe lời thầy cô giáo và những người xung quanh Ngoài ra, các

em học sinh loại này còn có những biểu hiện khác như gây rối trật tự công cộng, hút thuốc, uống rượu, bài bạc, sống cẩu thả mất vệ sinh

Theo thông tư số 29/TTGD, ngày 16/10/90 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, thì: Xếp loại hạnh kiểm yếu là những học sinh không đạt tới mức trung bình theo tiêu chuẩn; có những biểu hiện yếu, kém, chậm tiến bộ…những biểu hiện của loại học sinh hạnh kiểm yếu là: [52]

- Có hành vi vô lễ, xúc phạm tương đối nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của thầy cô giáo trong

và ngoài trường

- Quá lười học, được nhắc nhở nhiều lần nhưng không tiến bộ, nhiều lần quay cóp hoặc có hành động thô bạo để được quay cóp trong tiết kiểm tra

- Nhiều lần trốn lao động và hoạt động tập thể, tự tiện bỏ nhiều tiết học, nhiều buổi học

- Lấy cắp trong lớp, trong trường hoặc tham gia lấy cắp tài sản XHCN, tài sản riêng của công dân

- Tham gia gây rối, đánh nhau làm mất trật tự trị an một cách tương đối nghiêm trọng

- Có hành động xấu, thiếu văn hoá đối với phụ nữ, người già, người tàn tật, các em nhỏ và người nước ngoài, được phê bình góp ý nhiều lần nhưng tiếp thu và sửa chữa rất chậm

- Học sinh có những biểu hiện sai trái nghiêm trọng và bị kỷ luật ở mức đuổi học một năm đều xếp loại hạnh kiểm kém

1.4.4 Đặc điểm tâm lý của học sinh THCS và học sinh chưa ngoan

1.4.2.1 Một số đặc điểm tâm lý của học sinh THCS [31]

Trang 19

- Đây là thời kỳ chuyển tiếp từ thời kỳ thơ ấu sang tuổi trưởng thành

- Thời kỳ lứa tuổi phát triển mạnh mẽ nhưng không đồng đều về mặt cơ thể Tầm vóc các em lớn lên nhanh như thổi…Sự phát triển thể chất nhanh chóng bắt đầu trong giai đoạn chuyển đổi, đánh dấu bằng việc tăng cân, chiều cao, kích cỡ của tim, dung tích phổi và sức mạnh cơ bắp Xương phát triển nhanh hơn bắp thịt và sự phát triển không đồng đều của xương và bắp thịt đem lại sự thiếu kết hợp và sự vụng về ở các em

- Sự phát triển của hệ thống tim mạch của các em cũng không cân đối Do đó xảy ra một số rối loạn tạm thời của hệ tuần hoàn: tăng huyết áp, tim đập nhanh, hay gây nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi khi làm việc, học tập

- Tuyến nội tiết bắt đầu hoạt động mạnh (đặc biệt là tuyến giáp trạng) thường dẫn đến sự rối loạn của hoạt động thần kinh Do tác động của những kích thích gây cho các em tình trạng bị ức chế, hay ngược lại xảy ra tình trạng bị kích động mạnh Vì vậy, những chấn động thần kinh mạnh, hoặc những biến cố, đều có thể tác động mạnh mẽ đến lứa tuổi này, làm cho một số em bị uể oải, thờ ơ, lơ đễnh, tản mạn, số khác có những hành vi xấu, không đúng bản chất các em

- Các em thường lóng ngóng vụng về, không khéo léo khi làm việc, thiếu thận trọng, hay làm đổ

vỡ Điều đó gây cho các em một số biểu hiện tâm lý khó chịu

- Sự thay đổi về thể chất của lứa tuổi học sinh THCS làm cho các em có những đặc điểm nhân cách khác với các em lứa tuổi trước Các em có nghị lực dồi dào, tính tích cực cao, có nhiều dự định lớn lao

- Tuy nhiên quá trình hình thành cái mới thường kéo dài thời gian và phụ thuộc vào điều kiện sống, hoạt động của các em Do đó, sự phát triển tâm lý diễn ra không đồng đều về mọi mặt Điều đó dẫn đến sự tồn tại song song: “vừa có tính trẻ con, vừa có tính người lớn”

- Yếu tố đầu tiên của sự phát triển nhân cách ở lứa tuổi học sinh THCS là tính tích cực xã hội mạnh mẽ của bản thân các em nhằm lĩnh hội những giá trị, những chuẩn mực nhất định, nhằm xây dựng những quan hệ thỏa đáng với người lớn, bạn bè và cuối cùng nhằm vào bản thân, thiết kế và hoàn thiện nhân cách của mình Bạn cùng tuổi trở thành các chuẩn mực và hình mẫu để bắt chước Các em cũng dễ bị ảnh hưởng của người lớn và cố gắng bắt chước người lớn

- Ở lứa tuổi này các em được xã hội thừa nhận như một thành viên tích cực và được giao cho một số công việc nhất định Các em muốn làm những việc mọi người biết đến, làm việc cùng người lớn, muốn được mọi người thừa nhận mình là người lớn Đó là một nhu cầu của các em Vì thế các em rất tích cực tham gia các công tác ngoài xã hội Các em thích làm những công việc có tính chất tập thể, những công việc liên quan đến nhiều người và được nhiều người cùng tham gia

- Sự bắt đầu hình thành và phát triển tự ý thức đã gây nhiều ấn tượng sâu sắc đến toàn bộ đời sống tâm lý của lứa tuổi này, đến hoạt động học tập và sự hình thành mối quan hệ qua lại với mọi người Nhu cầu tự ý thức nẩy sinh từ nhu cầu cuộc sống, từ hoạt động thực tiễn, từ yêu cầu mong muốn

Trang 20

của tập thể, của người lớn qui định Từ sự phát triển mối quan hệ với tập thể, với đời sống xã hội mà học sinh THCS nẩy sinh nhu cầu đánh giá bản thân mình, tìm kiếm vị trí của mình trong tập thể

1.4.2.2 Đặc điểm tâm lý học sinh chưa ngoan [22]

- Trẻ “chưa ngoan” có nhiều biểu hiện lệch lạc trong sự phát triển nhân cách và về đời sống tâm

lý Toàn bộ hành vi của trẻ khó giáo dục đều do các nhu cầu gây ấn tượng, nhu cầu tự khẳng định (một cách bất bình thường) quyết định Những biểu hiện của tính khó giáo dục thường gắn với cách thức thỏa mãn rất không bình thường các nhu cầu về vật chất và tinh thần có tính chất điển hình của loại trẻ này; mà sự thoả mãn nhu cầu này lại phản ánh sự phát triển lệch lạc về các nhu cầu đó Ví dụ: Vì muốn

tự khẳng định mình nên chúng thường gây gổ, hung hăng trước mọi người; càng hung hăng chúng càng bị xa lánh, ghét bỏ, dấn sâu vào các hành vi sai trái khác, thật ra trong thâm tâm chúng vẫn ao ước khát khao được vỗ về, an ủi, thậm chí muốn được che chở…, nhưng đó chỉ là cái ẩn tàng bên trong còn hành vi bộc lộ ra ngoài Sự phản ứng bất bình thường ở các em khó có thể làm cho người xung quanh chấp nhận

Các sai lệch trong sự hình thành và phát triển các nhu cầu thuộc về nội dung và phương thức biểu hiện Chúng rất muốn quan hệ giao tiếp bình thường, cởi mở với mọi người Nhưng do thói quen thích gây gổ, xung đột với mọi người một cách không bình thường, ngẫu nhiên, vô ý thức, nên lâu dần

có thể trở thành thói quen trong chúng Như vậy, ở trẻ hư nhu cầu giao tiếp bình thường biến dạng thành nhu cầu gây sự, cãi nhau, va chạm với mọi người Cách biểu lộ nhu cầu tự khẳng định (như muốn tỏ ra thích tự lập, không phụ thuộc vào bất cứ ai, “bất cần đời”, hoặc lì lợm chịu trận để tỏ ra can đảm, có “ bản lĩnh”) và học làm người lớn (một cách bệnh hoạn), qua tác phong, nói lóng, hút thuốc lá, xài ma túy…

Nhu cầu về ấn tượng mạnh luôn luôn ám ảnh chúng: Nỗi khao khát trở thành “Đại bàng”, “ Đại ca”, yêng hùng tứ chiếng…đã đưa chúng vào các trò chơi mạo hiểm (dại dột), phiêu lưu đầy ấn tượng

li kỳ hấp dẫn (thậm chí rất tinh quái) như kiểu phim trinh thám giật gân mà chúng biết đến

- Theo thời gian, các hứng thú lệch lạc, các sai lầm tích tụ lại hình thành ở chúng tâm lý phản xã hội, tâm lý chống đối mọi điều bình thường (ăn ở, quan hệ, giao tiếp…) của xã hội Các suy nghĩ, hành

vi này trở thành yếu tố thống trị mọi hành vi của chúng, chi phối các nhu cầu khác Tiến thêm một bước, sự khó giáo dục trở thành đường hướng phát triển tiêu cực ở trẻ và trở thành yếu tố định hướng mọi hành vi, mọi suy nghĩ của trẻ hư Trong phạm vi giáo dục lại trẻ chưa ngoan, khái niệm “đường hướng phát triển tiêu cực chủ đạo của tâm lý”, bao gồm :

Gồm một phức hợp các nhu cầu phản xã hội, giữ vai trò thống trị trong thế giới đạo đức, từ đó quyết định mục đích, động cơ hành vi của trẻ, kết quả là hình thành ở chúng một kiểu hành vi ương bướng, trái với lẽ thông thường: trẻ hư làm tất cả mọi việc theo kiểu phản ứng, trêu ngươi, trái với những điều được giáo dục, trái với mong đợi của mọi người Đôi lúc trong thâm tâm, chúng vẫn lờ mờ

Trang 21

cảm thấy sự không bình thường trong phẩm chất đạo đức, trong tính cách của mình nên tìm cách che đậy khuyết điểm, sai trái; biện hộ cho các hành vi phản xã hội của mình

Ở trẻ chưa ngoan còn bộc lộ cách suy nghĩ và hành vi là sự thiếu tính xu hướng xã hội lành mạnh, sự không ổn định của tính cách Sự thiếu tính xu hướng xã hội cuối cùng dẫn tới tính vô nguyên tắc và hình thành tính liều lĩnh, tùy tiện, nhưng lại nhát gan, nhu nhược trước những khó khăn thử thách; và do đó mà đạo đức phẩm hạnh của chúng theo thời gian, dần dần suy thoái

- Một trong những nét tính cách đặc trưng của học sinh chưa ngoan là thái độ bất chấp tất cả mọi ảnh hưởng của giáo dục, coi thường hoặc phủ nhận các thầy cô giáo, các nhà giáo dục Lúc đầu trẻ

có biểu hiện coi thường cha mẹ và người lớn xung quanh Khi chúng đến trường gặp phải sự lạnh nhạt, bất công của thầy cô thì các “đặc điểm” ấy liên tục bị khoét sâu “vết thương lòng” của trẻ càng khó chữa trị và trẻ càng trở nên khó dạy

- Tình trạng hay xung đột giữa trẻ khó giáo dục với tập thể trẻ và với các nhà giáo dục là nét nổi trội trong tính cách của trẻ chưa ngoan Tình trạng này nếu bị làm ngơ, nếu có điều kiện phát triển (âm

ỉ hoặc công khai) giữa trẻ hư và tập thể lớp sẽ vô hiệu hoá ảnh hưởng giáo dục của tập thể với cá nhân, những trẻ này sẽ mất dần tính xấu hổ, mất đi sự tự kiểm tra bên trong và chúng luôn luôn tìm cách vượt

ra khỏi ảnh hưởng các tác động giáo dục lành mạnh Chúng thường xuyên “cảnh giác”, phản ứng thô bạo với mọi người một cách xấc xược, một kiểu phản ứng tự vệ bất bình thường, ngăn chặn chúng tiếp thu các ảnh hưởng giáo dục Khi phản ứng, chúng nhìn đời qua lăng kính chủ quan, mang tích chất tiêu cực: chúng cho là người lớn khéo giả vờ hoặc mọi người còn tệ hơn rất nhiều, họ biết giấu giếm bao che cho nhau Những kiểu suy luận như vậy “an ủi” chúng gần như là động cơ phương thức để chúng

tự trấn an đối với sự sai phạm của mình Dần dần, nếu không được khắc phục, chúng tiếp tục trượt dài, nhanh chóng và sẵn sàng làm những việc sai trái

- Những nét tính cách của học sinh chưa ngoan xuất hiện gắn liền với việc phá vỡ những nguyên tắc cơ bản của sự phát triển nhân cách Theo quy luật phát triển tâm lý trẻ em, thì tiến trình phát triển của trẻ diễn ra không đồng đều; nhưng đối với học sinh chưa ngoan, nhiều khi lại có những năng khiếu nào đó, nếu chúng ta biết khai thác, phát hiện được các ưu điểm thì quá trình phát triển rất nhanh

Chính vì vậy, trong công tác tư tưởng nói chung, công tác giáo dục nói riêng, người lãnh đạo, người giáo viên cần biết phát huy những ưu điểm của HS Trên cơ sở đó khắc phục nhược điểm Bởi

vì, trong thực tế ai cũng có ưu điểm và khuyết điểm Đánh giá con người là ở chỗ ưu điểm trội hay nhược điểm trội hơn

1.5 Nội dung quản lý HĐGD học sinh chưa ngoan ở trường THCS

1.5.1 Quản lý nội dung, chương trình, kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan

a Quản lý nội dung, chương trình giáo dục học sinh chưa ngoan

Chương trình giáo dục học sinh chưa ngoan của các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ cần phải đạt những mục tiêu giáo dục sau:

Trang 22

- Hình thành cho HS những hiểu biết ban đầu về giá trị của đạo đức để tạo ra thái độ đồng tình, chấp nhận thực hiện các yêu cầu của chuẩn mực đạo đức trong các mối quan hệ với cộng đồng, với lao động và môi trường

- Tạo ra ở HS những cảm xúc và động cơ tích cực khi thực hiện các yêu cầu chuẩn mực đạo đức

- Tổ chức cho HS thực hiện các chuẩn mực đạo đức trong các hoạt động học tập, lao động, sinh hoạt cộng đồng và tập thể nhằm hình thành hành vi và thói quen hành vi đạo đức đúng đắn

- Các mục tiêu trên được thực hiện thống nhất với nhau; tùy theo điều kiện, hoàn cảnh và đặc điểm tâm lý, nhận thức của HS mà thực hiện việc giáo dục đạo đức một cách linh hoạt

Các mục tiêu giáo dục HS chưa ngoan nói trên được thể hiện qua những nội dung sau đây: + Giáo dục lòng yêu đất nước và tinh thần quốc tế chân chính

+ Giáo dục thái độ đối với lao động

+ Giáo dục thái độ tích cực đối với cộng đồng

+ Giáo dục thái độ đúng đắn đối với mọi người và bản thân

+ Giáo dục thái độ đúng đắn đối với môi trường xung quanh

- Năm nội dung giáo dục HS chưa ngoan trên đây là thống nhất và gắn bó chặt chẽ với nhau

b Kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan

Giáo dục HS chưa ngoan chủ yếu tập trung vào hai mặt đó là các hoạt động dạy học trên lớp và các hoạt động ngoài giờ lên lớp, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau

+ Giáo dục HS chưa ngoan thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp

+ Giáo dục HS chưa ngoan thông qua các hoạt động ngoại khóa, lao động xã hội

+ Giáo dục HS chưa ngoan thông qua sinh hoạt tổ chức Đoàn đội, thông qua sinh hoạt tập thể + Chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để giáo dục học sinh chưa ngoan

+ Xây dựng môi trường sư phạm giáo dục tốt

1.5.2 Quản lý hoạt động giáo dục HS chưa ngoan của GVCN

a Quản lý hồ sơ chủ nhiệm

Hồ sơ chủ nhiệm gồm:

- Kế hoạch chủ nhiệm

- Nhật ký chủ nhiệm

- Chuẩn và thang đánh giá kết quả rèn luyện của HS

- Xây dựng và thực hiện kế hoạch chủ nhiệm trong đó có kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan cụ thể ở từng tuần, tháng, học kỳ, năm học

- Có biện pháp giáo dục học sinh chưa ngoan một cách cụ thể

- Xây dựng tập thể lớp trở thành tập thể đoàn kết, thân ái, có sức mạnh giáo dục

- Tổ chức thực hiện nội dung giáo dục toàn diện cho học sinh lớp chủ nhiệm

Trang 23

- Tổ chức các hoạt động tự quản của lớp

- Tổ chức tiết sinh hoạt cuối tuần hoặc đầu tuần có nội dung phong phú đa dạng

- Cùng với nhà trường tổ chức các hoạt động ngoài giờ cho học sinh như giáo dục truyền thống, hướng nghiệp, thể chất, thẩm mỹ, dạy nghề…

- Xây dựng và tổ chức tốt các tiết học HĐGDNGLL

- Tổ chức các phong trào thi đua trong lớp, đánh giá sơ kết, tổng kết, khen chê kịp thời

- Phối hợp với Đoàn đội và GV bộ môn tổ chức các hoạt động cho lớp

- Nêu gương người tốt, việc tốt

- Xây dựng kế hoạch thi đua giữa các tổ

- Tổ chức tuyên truyền cho học sinh nhân các ngày lịch sử của đất nước

- Tổ chức các hoạt động về nguồn thăm các di tích lịch sử, thăm các bà mẹ Việt Nam anh hùng…

Hồ sơ chủ nhiệm thể hiện sự chuẩn bị, quá trình đầu tư trong HĐGD của GVCN Quản lý tốt hồ

sơ chủ nhiệm giúp Hiệu trưởng nắm được năng lực trong hoạt động giáo dục, nhiệt tình và trách nhiệm đối với nghề nghiệp của GVCN Để quản lý hồ sơ chủ nhiệm tốt Hiệu trưởng cần phải:

- Xây dựng quy định thống nhất về hồ sơ chủ nhiêm, có biểu mẫu cụ thể

- Xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá, xếp loại hồ sơ

- Kiểm tra định kỳ và đột xuất việc lập và sử dụng hiệu quả hồ sơ

Hoạt động giáo dục bao gồm: lập kế hoạch chủ nhiệm, triển khai kế hoạch chủ nhiệm…Vì thế, quản lý hoạt động giáo dục là quản lý từng công đoạn trong hoạt động giáo dục của GVCN

b Quản lý kế hoạch chủ nhiệm

Trên cơ sở nghiên cứu chương trình giáo dục, kế hoạch giáo dục HS chưa ngoan Hiệu trưởng cần hướng dẫn GVCN làm các việc sau nhằm quản lý tốt việc lập kế hoạch giáo dục HS chưa ngoan + Nhận dạng các loại HS chưa ngoan

+ Lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức GD phù hợp với từng biểu hiện của HS chưa ngoan

+ Chỉ đạo tổ chủ nhiệm thống nhất tiêu chí đánh giá HS chưa ngoan, đặc điểm tâm sinh lý của

HS chưa ngoan, trao đổi phương hướng và biện pháp GD đối với từng loại HS chưa ngoan

Hiệu trưởng cần xây dựng tiêu chí đánh giá từng loại HS chưa ngoan Đây là công việc chung của tập thể sư phạm nhà trường, nhất là tổ chủ nhiệm Tiêu chí đánh giá cho từng biểu hiện của HS chưa ngoan có thể chỉ mang tính tương đối xong rất cần thiết Nó cần được vận dụng linh hoạt cụ thể trong từng tình huống trên lớp học, hoặc trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp của HS

c Quản lý giờ sinh hoạt của GVCN

Giờ sinh hoạt chủ nhiệm phản ánh chất lượng của kế hoạch chủ nhiệm và năng lực sư phạm của GVCN trong tình huống cụ thể

Trang 24

Quản lý giờ sinh hoạt chủ nhiệm là góp phần quản lý việc thực hiện nghiêm túc chương trình kế hoạch GD của GVCN và một phần chất lượng GD trên thực tế

1.5.3 Quản lý sự phối hợp giữa GVCN với Đoàn đội, Giám thị, Ban đại diện cha mẹ HS trong công tác giáo dục HS chưa ngoan

a Quản lý sự phối hợp giữa GVCN với Đoàn đội

- Cùng với BGH tổ chức sinh hoạt dưới cờ đầu tuần và kỷ niệm các ngày lễ lớn

- Cùng với BGH, GVCN tổ chức các buổi báo cáo chuyên đề

- Coi trọng và đẩy mạnh các hoạt động giáo dục đạo đức cách mạng, nếp sống, lối sống văn minh, lành mạnh trong thanh thiếu niên

- Tuyên truyền các chủ điểm như an toàn giao thông, phòng chống ma túy, bảo vệ môi trường…

- Cùng với nhà trường tổ chức các hoạt động ngoài giờ cho học sinh như giáo dục truyền thống, hướng nghiệp, dạy nghề…

- Xây dựng và phối hợp với Hội liên hiệp thanh niên học sinh và các lực lượng xã hội khác trong và ngoài nhà trường để làm tốt công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng

- Nâng cao chất lượng học tập về các môn học; đồng thời khuyến khích, tạo mọi điều kiện để phát triển sáng kiến, tài năng khoa học của thanh niên học sinh

- Tổ chức giáo dục học sinh chưa ngoan thông qua hoạt động văn nghệ, TDTT, các hội thi…

- Cùng với Ban lao động nhà trường tổ chức các buổi lao động tập thể

- Xây dựng các câu lạc bộ trong nhà trường như: Anh văn, Văn, Toán, TDTT

- Nâng cao hiểu biết cho thanh thiếu niên về các giá trị văn hoá truyền thống, góp phần giữ gìn

và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại

- Tổ chức cho học sinh về nguồn, tham quan di tích lịch sử, du khảo, cắm trại

- Xây dựng tiêu chí thi đua và tổ chức phong trào thi đua giữa các lớp

- Tổ chức các hoạt động xã hội như: cứu trợ thiên tai, lũ lụt; khuyến học; giúp đỡ bạn bè khó khăn; xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa; xây dựng nhà tình thương…

- Cùng với BGH, GVCN, Giám thị nêu gương người tốt, việc tốt

- Tổ chức nói chuyện thời sự nhân các ngày lịch sử của đất nước

- Tổ chức tốt các hoạt động xã hội do TW Đoàn, Đoàn địa phương và nhà trường phát động (như phòng chống các tệ nạn xã hội, bảo vệ môi trường, )

b Quản lý sự phối hợp với Giám thị

- Cùng với GVCN, Đoàn đội xây dựng kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan

- Quản lí học sinh thực hiện nội qui của trường, của lớp

- Ổn định nề nếp đầu giờ, giữa giờ, cuối giờ, quản lí lớp khi trống tiết học

- Cùng với GVCN, Đoàn đội xử lí vi phạm về nội qui, nề nếp, đạo đức của học sinh chưa ngoan

- Thay mặt BGH tiếp xúc trao đổi với phụ huynh học sinh về tình hình đạo đức của học sinh

Trang 25

chưa ngoan

- Tham gia Hội đồng kỷ luật của nhà trường xử lí học sinh vi phạm nội quy

- Cùng với GVCN, Đoàn đội tổ chức các HĐGDNGLL

c Quản lý sự phối hợp giữa GVCN với Ban ĐDCMHS

- Tổ chức Đại hội cha mẹ học sinh vào đầu năm học

- Tổ chức họp cha mẹ học sinh lần hai để sơ kết hoạt động học kỳ I và phương phướng hoạt động học kỳ II

- Cử đại diện tham gia Hội đồng giáo dục nhà trường và một số tổ chức của trường như Hội đồng kỷ luật, Ban hoạt động ngoài giờ, Ban giáo dục pháp luật để tham gia xây dựng và thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục của nhà trường

- Tham gia cùng với nhà trường tổ chức các hoạt động ngoài giờ cho học sinh như giáo dục truyền thống, hướng nghiệp, dạy nghề…

- Góp phần tham gia đánh giá tình hình học tập, rèn luyện của học sinh ngoài nhà trường nhằm đảm bảo tính khách quan, công bằng trong quá trình rèn luyện của học sinh chưa ngoan

- Chăm lo cơ sở vật chất và hỗ trợ các điều kiện hoạt động cho nhà trường; vận động hỗ trợ kinh phí khen thưởng, giúp đỡ thầy cô giáo và các em học sinh

- Tổ chức quán triệt mục tiêu giáo dục, nhiệm vụ năm học và thông tin truyền đạt những yêu cầu, nội dung giáo dục của nhà trường tới các bậc cha mẹ học sinh

- Quan hệ tham mưu với địa phương và vận động các lực lượng xã hội quan tâm, tạo điều kiện tốt cho sự phát triển của nhà trường

- Kết hợp với giáo viên chủ nhiệm tổ chức các hoạt động giáo dục của lớp, tham gia giáo dục đạo đức học sinh, trợ giúp các học sinh khó khăn, khen thưởng động viên học sinh có thành tích…

- Tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách về giáo dục và mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục của lớp tới các cha mẹ học sinh trong lớp

- Tổ chức trao đổi kinh nghiệm giáo dục học sinh chưa ngoan trong các bậc cha mẹ có học sinh chưa ngoan; giúp nhau có biện pháp, hình thức tổ chức cho con em học tập và rèn luyện ở gia đình đạt hiệu qủa cao

- Tham gia và vận động cha mẹ của học sinh chưa ngoan cùng tham gia vào Hội khuyến học của nhà trường

1.5.4 Quản lý công tác kiểm tra đánh giá kết quả rèn luyện của HS chưa ngoan

Hiệu trưởng cần nắm được tình hình thực hiện công việc kiểm tra, đánh giá kết quả rèn luyện của HS chưa ngoan với các nội dung sau:

- Có lịch kiểm tra hàng tháng và học kỳ nhằm theo dõi sự tiến bộ của HS chưa ngoan, kịp thời động viên khuyến khích các em

- Thực hiện đúng chế độ kiểm tra, đánh giá theo đúng quy định của Bộ, quy định của nhà

Trang 26

trường (toàn diện, công bằng, khách quan và công khai) tránh tình trạng GVCN định kiến với HS chưa ngoan, nảy sinh tiêu cực trong đánh giá HS chưa ngoan

- Xây dựng chuẩn đánh giá đáp ứng với từng loại HS chưa ngoan Tạo điều kiện thuận lợi để

HS chưa ngoan rèn luyện tốt hơn

Tiểu kết chương 1

Theo lý thuyết quản lý GD, quản lý HĐGD học sinh chưa ngoan là một bộ phận của quản lý trường học, với các chức năng như kế hoạch hóa (hoạch định), tổ chức, chỉ đạo (điều khiển) và kiểm tra Các chức năng này phải được vận dụng cho từng nội dung quản lý HĐGD học sinh chưa ngoan

Đó là, quản lý nội dung chương trình, quản lý hồ sơ chủ nhiệm, quản lý tiết sinh hoạt chủ nhiệm, quản

lý hoạt động tổ chủ nhiệm, quản lý sự phối hợp giữa GVCN với Đoàn đội, Giám thị, Ban ĐDCMHS, quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả rèn luyện HS chưa ngoan

Đối với các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ, do đặc điểm về cơ chế tổ chức, cơ sở vật chất, đội ngũ GVCN, đối tượng HS nên các mặt công tác trên đều phải tăng cường theo hướng sát với đối tượng quản lý Trong đó công tác quản lý nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý và thống nhất những biểu hiện của từng loại HS chưa ngoan, quản lý HĐGD HS chưa ngoan như quản lý kế hoạch chủ nhiệm, quản lý việc xây dựng chuẩn đánh giá cho từng loại HS chưa ngoan, quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả rèn luyện của HS chưa ngoan cần đặc biệt lưu ý

Trang 27

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HỌC SINH CHƯA NGOAN TẠI CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN VĨNH THẠNH THÀNH

PHỐ CẦN THƠ 2.1 Khái quát về tình hình phát triển kinh tế - xã hội và giáo dục huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ [5]

2.1.1 Dân số và sự phân bố dân cư

Huyện Vĩnh Thạnh là một đơn vị hành chính trực thuộc thành phố Cần Thơ, nằm dọc theo quốc

lộ 80 Huyện Vĩnh Thạnh có 41.036,22 ha diện tích tự nhiên và 156.067 nhân khẩu Có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 2 thị trấn và 9 xã:

Vĩnh Thạnh là huyện nông nghiệp nên nguồn lực chủ yếu là đất đai, mặt nước và nguồn lao động khá dồi dào

Huyện Vĩnh Thạnh thành phố Cần Thơ có khoảng 300 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản, thích hợp với nuôi thuỷ sản nước ngọt Đầu tư khai thác nuôi thủy sản nước ngọt trở thành lĩnh vực có lợi thế trong ngành nông nghiệp của huyện

Huyện đã và đang khai thác có hiệu quả lợi thế tự nhiên, sinh thái, trồng cây ăn quả, tập trung vào các loại cây chủ lực như xoài, bưởi, nhãn, chôm chôm, cam, quýt sạch bệnh

Ngành Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp của huyện phát triển dựa trên nguồn lao động và nguyên liệu tại chỗ Vĩnh Thạnh đầu tư tập trung công nghiệp chế biến, ứng dụng công nghiệp hiện đại

để chế biến nông – thủy sản thành phẩm

2.1.3 Đặc điểm về văn hóa, xã hội và giáo dục

Huyện Vĩnh Thạnh là một huyện nhỏ vùng sâu của Thành phố Cần Thơ Tuy nghèo nhưng người dân nơi đây rất ham học Ở đây có những câu chuyện về gương hiếu học đáng trân trọng

Toàn huyện hiện có 143 tổ chức khuyến học với tổng số 11.234 hội viên, chiếm 7,49% dân số Huyện hiện có 6 người là Tiến sĩ, hơn 20 Thạc sĩ và hàng ngàn người tốt nghiệp Đại học

Vĩnh Thạnh rất chú trọng xây dựng các trung tâm học tập cộng đồng, hiện nay huyện có 100%

Trang 28

xã, thị trấn có trung tâm học tập cộng đồng Ở đây có nhiều đồng bào theo đạo thiên chúa giáo Các xã Thạnh An, Thạnh Thắng là những xã thiên chúa giáo toàn tòng chính là những nơi con em được học hành đến nơi đến chốn Linh mục Nguyễn Hoàng Phượng ở giáo xứ Vạn Đồn Ấp B1 xã Thạnh An hàng năm vận động tiền hỗ trợ Khuyến học cấp học bổng cho 40 con em nhà nghèo hiếu học Nhiều

em được giúp đỡ từ khi học cấp một cho tới lúc học xong Đại học Phong trào nhà nhà hiếu học, họ tộc hiếu học, xứ đạo hiếu học đã cuốn hút mọi người Năm 2006 Cúp đỉnh vàng của báo Khuyến học tặng Hội Khuyến học Cần Thơ đã được trao lại cho hội khuyến học Vĩnh Thạnh- đơn vị có phong trào

khuyến học xuất sắc cùng với mua và đọc báo Khuyến học & Dân trí nhiều nhất

2.2 Thực trạng giáo dục THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ

2.2.1 Xây dựng củng cố mạng lưới trường lớp

Toàn huyện hiện có 9 trường THCS Trường THCS trực thuộc có qui mô cao nhất là 38 lớp, qui

mô thấp nhất là 11 lớp Về bố trí trường lớp thuận lợi cho học sinh đến trường, cũng như đáp ứng tốt yêu cầu phổ cập THCS, phổ cập THPT

Số học sinh THCS do Phòng giáo dục quản lý là 171 lớp 6357 học sinh (so với cùng kỳ tăng 2 lớp, giảm 77 học sinh; so với đầu năm giảm 113 học sinh, tỷ lệ 1,74% Trong đó trẻ tốt nghiệp tiểu học vào lớp 6: 2324/2351 tỉ lệ 98,85% Tiến độ huy động học sinh có nhiều thuận lợi hơn Hầu hết cấp ủy, UBND các xã, thị trấn đều rất quan tâm phối hợp với ngành để triển khai và thực hiện có hiệu quả công tác phổ cập THCS, phổ cập THPT

2.2.2 Về chất lượng giáo dục

Các trường đều có chung mục tiêu là lấy hiệu quả của việc giảng dạy – học tập làm thước đo đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên cũng như học tập của học sinh

Về chất lượng giáo dục ở các mặt được duy trì và phát triển tốt

Tham dự thi HS giỏi các môn văn hóa (lý thuyết) cấp thành phố được tổ chức vào ngày 05/4/2008 với 307 học sinh Kết quả đạt 78 học sinh, trong đó có 3 giải nhất, 2 giải nhì, 8 giải 3, 21 giải khuyến khích và 44 được công nhận HS giỏi

Tham dự thi học sinh giỏi thực hành thí nghiệm Lý – Hóa – Sinh lớp 9 với 12 học sinh tham dự Kết quả đạt 6 học sinh, trong đó có 1 giải nhất, 2 giải nhì, 1 giải 3, 1 giải khuyến khích, 1 công nhận

Trang 29

Xét công nhận tốt nghiệp THCS (hệ phổ thông) có 1761/1839 học sinh (trong đó nữ 962 học sinh) tỷ lệ 95,75% Trong đó loại giỏi: 174 học sinh tỉ lệ 9,8%, loại khá 586 tỉ lệ 33,10%, trung bình

998 tỉ lệ 56,67%

Về giáo dục thể chất tiếp tục được đầu tư và nâng cao hiệu quả Hầu hết các đơn vị đều đảm bảo

kế hoạch dạy học theo chương trình chính khóa

Về thực hiện chương trình môn học thể dục theo qui định 2 tiết/ tuần/, 100% lớp đạt

Về giáo dục nghề phổ thông tiếp tục được tổ chức và duy trì, mục đích là nhằm giáo dục định hướng nghề nghiệp cho các em từ khi đang học ở nhà trường phổ thông

2.2.3 Triển khai thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới tiếp tục thực hiện giảng dạy chương trình thay sách giáo khoa ở lớp 6,7,8,9 vào nề nếp

- Quan tâm chỉ đạo có hiệu quả việc thực hiện chủ đề tự chọn và môn tự chọn ở các khối THCS

- Đối với trường học: quán triệt đầy đủ tinh thần thay sách, 100% giáo viên dạy chương trình thay sách giáo khoa mới lớp 6,7,8,9 đều dự lớp tập huấn Chọn giáo viên đạt chuẩn về chuyên môn (CĐSP, ĐHSP) và có năng lực dạy chương trình sách giáo khoa mới ở lớp 6,7,8,9

- BGH chỉ đạo các tổ chuyên môn hàng tuần, tháng họp rút kinh nghiệm, thao giảng, chuyên đề,

dự giờ lẫn nhau Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng dự giờ ít nhất 2 tiết/1 giáo viên dạy lớp 9

- Tất cả giáo viên đều vận dụng phương pháp mới trong việc thực hiện chương trình, sử dụng thường xuyên thiết bị và đồ dùng có sẵn và tự làm

- 100% học sinh có đủ sách giáo khoa (học sinh nghèo, gặp khó khăn Phòng Giáo dục hỗ trợ, nhà trường cho mượn)

- Trường dành các phòng học khang trang cho việc thực hiện chương trình, thay sách giáo khoa

ở lớp 6,7,8,9; thiết bị được cung cấp kịp thời ở các trường

2.2.4 Tổ chức các hoạt động giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức toàn diện cho học sinh; xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh an toàn

- Đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức, pháp luật thông qua các hoạt động ngoại khóa và HĐGDNGLL, và cụ thể lồng ghép các bộ môn GDCD, sinh hoạt Đoàn đội v.v

- Tổ chức cho học sinh học tập tốt nội qui học sinh, nội qui nhà trường, giúp các em ý thức được học tập vừa là nghĩa vụ vừa là quyền lợi của chính các em

- Về môi trường sư phạm được tập trung cải tạo, toàn huyện có 9/9 đơn vị xây dựng và đạt tiêu chí trường “xanh, sạch đẹp, an toàn” đảm bảo tốt cho yêu cầu dạy học

Bảng 2.1:Kết quả hai mặt giáo dục của Phòng GD & ĐT khối THCS huyện

Vĩnh Thạnh năm học 2007-2008

Trang 30

Hạnh kiểm Tốt Khá Trung Bình Yếu Stt Lớp Tổng

2.3 Khái quát về mẫu khảo sát

2.3.1 Sơ lược về tình hình của 9 trường khảo sát

Tác giả đã khảo sát thực trạng HS chưa ngoan ở các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ Kết quả như sau:

- Tổng số học sinh chưa ngoan là: 783/ 6357 Tỷ lệ: 12,31 %

Nhìn vào danh sách trên ta thấy tất cả các trường THCS trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ đều có HS chưa ngoan

Khi tiến hành lập danh sách loại học sinh này tác giả đề nghị các trường lập danh sách theo

Trang 31

những biểu hiện của hành vi như sau:

1 Lười biếng học bài và làm bài, trốn bỏ các tiết học, các hoạt động tập thể.(1)

2 Mất trật tự trong giờ học và hoạt động tập thể.(2)

3 Nói tục, chửi thề, thiếu văn hóa.(3)

4 Hỗn láo, vô lễ với thầy cô (4)

5 Bè phái gây gổ, đánh nhau.(5)

6 Gian dối trong quan hệ bạn bè cũng như trong công việc.(6)

7 Gây rối trật tự công cộng.(7)

8 Hút thuốc, uống rượu, bài bạc.(8)

9 Sống cẩu thả, mất vệ sinh.(9)

Tác giả đã giải thích rõ, đây là đề tài nghiên cứu khoa học cho luận văn tốt nghiệp của mình, từ

đó đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục HS chưa ngoan tại các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ hiệu quả hơn Kết quả điều tra không ảnh hưởng đến công tác thi đua cũng như các mặt hoạt động khác của trường Tuy nhiên, dù đã nêu tiêu chí cụ thể về biểu hiện của loại học sinh chưa ngoan nhưng các trường nhận thức chưa thật thống nhất Vì thế, một số trường lập danh sách chưa đầy đủ những em học sinh có biểu hiện mà tác giả đề xuất

Số lượng HS chưa ngoan thường xuyên thay đổi, nhưng vẫn có thể dựa vào danh sách này để tìm hiểu nguyên nhân, đề xuất biện pháp quản lý giáo dục HS chưa ngoan có hiệu quả hơn

Bảng 2.2: Số HS có biểu hiện hành vi chưa ngoan tại các trường THCS

1,1

4 =

4,3

2 =

Trang 32

27,5

6 =

15,0

3 =

và trong các hoạt động của tập thể là: 66,7 % về đặc điểm tâm lý của loại học sinh loại này là có đời sống tình cảm rất mạnh mẽ nhưng thiếu bền vững và dễ thay đổi Các em rất bồng bột, dễ bị kích động

dễ bị lôi kéo bởi những kích thích hấp dẫn bề ngoài, vì vậy để hướng sự chú ý về mình các em thường

có hành vi táo tợn, thô bạo, ồn ào Tiếp theo, là nói tục, chửi thề, thiếu văn hoá là: 22,7 %, loại học sinh này không chịu tiếp thu cái hay cái tốt mà thường bắt chước những thói hư tật xấu, nhất là trong thực tế xã hội hàng ngày việc nói tục chửi thề diễn ra thường xuyên, thường trực trong những người lớn xung quanh Đặc biệt là những người lao động chân tay, hiện tượng nói tục chửi thề còn phổ biến, mặc dù nhà trường ra sức hạn chế nhưng sự tác động xấu hàng ngày khó có thể không ảnh hưởng đến các em học sinh nhất là loại học sinh này Những em học sinh loại này cũng chính là những em thường hay hỗn láo với người lớn không chịu nghe theo người lớn, thầy cô giáo và những người xung quanh là: 11,6 %, biểu hiện dễ thấy của đối tượng học sinh chưa ngoan là tính hung hăng, hỗn láo, có những trường hợp trước đó trẻ rất ngoan, dễ dạy lúc còn học ở tiểu học, nhưng đột nhiên thay đổi tính nết và liên tục phản ứng với mọi người một cách thô bạo, hung hăng khi lên học THCS lại trở thành học sinh

cá biệt, sở dĩ như vậy vì nhiều lý do:

Trang 33

Có thể do trẻ bị áp chế đè nén quá đáng, trẻ càng ngoan ngoãn, phục tùng thì người lớn càng dễ nêu thêm nhu cầu, áp đặt uy quyền đối với chúng; từ đó, dẫn đến việc trẻ thất vọng, chán nản và phản ứng quyết liệt Có thể trẻ hung hăng là do bắt chước khuôn mẫu của người lớn, bạn bè Vì chúng thấy nhiều khi hung hăng, quậy lại thì được chiều chuộng, săn sóc, thậm chí lại được bao dung, khen thưởng và càng gai góc lại càng “nổi tiếng” và được mọi người chú ý và “kính nể” Cũng có thể trẻ hung hăng hỗn láo vì ghen tỵ do sống trong gia đình được nuông chiều qúa đáng hoặc ngược lại bị rày

la nhục mạ hết mức, chúng đã lỳ lợm chịu đựng và khi quá mức thì xuất hiện thái độ hung hăng Trẻ ý thức được sự bất công mà nó phải chịu đựng để chống lại cách xử sự của mọi người với thái độ đối đầu

“nổi loạn” để khẳng định rằng tư cách, vị thế của nó không thấp kém như người ta vẫn tưởng, vẫn áp đặt cho chúng

Ngoài ra còn có trẻ hung hăng chỉ vì phải sống trong môi trường gia đình luôn lộn xộn, đổ vỡ và mọi người đối xử với nhau dữ dằn, thô bạo, chúng không được giáo dục, vì thế, chúng không biết đối

xử như thế nào cho hợp lý Theo con mắt quan sát và trong nhận thức của chúng, thì hành động của chúng chẳng có gì là sai trái, hung hăng vì ai cũng làm như vậy Khi đưa các em vào khuôn phép thì chúng phản ứng quyết liệt vì cho rằng chính các quy tắc, nề nếp của cuộc sống có văn hoá mới là điều gây trở ngại cho cuộc sống “lành mạnh” mà chúng vốn đã quen thuộc như vậy Chính những nguyên nhân đó ở các trẻ hung hăng cuối cùng dẫn đến “strees”, liên tục làm giảm cơ chế hoạt động bình thường ở trẻ Sống trong tập thể do bị tập thể, thầy cô giáo, anh chị phụ trách không thừa nhận những hành vi của các em, nên các em này thường gây chú ý về mình bằng việc gây gổ đánh nhau, gây bè phái là: 5,1%, các em thuộc loại học sinh chưa ngoan, có một số thường tỏ ra bất trị la hét gây huyên náo ở trường, lớp, chọc ghẹo bạn bè, thậm chí đánh chửi giáo viên , trông dáng vẻ bề ngoài có vẻ là

có “bản lỉnh” anh chị Gian dối trong quan hệ với những người xung quanh, cũng như trong công việc là: 6,4 %, như có trường hợp các em lừa cả GVCN bằng việc mời “phụ huynh dởm” Do cuộc sống đã trải qua những hẩng hụt nhất định, lòng tin vào các giá trị đạo đức bị phá vỡ… đôi khi các em tỏ ra bất cần đời, không có niềm tin, nên hay nói dối, cũng như gian dối trong công việc Ngoài ra, theo điều tra của chúng tôi các em học sinh loại này còn có những biểu hiện khác như gây rối trật tự công cộng là: 2,6 % Như phân tích ở trên, loại trẻ này có những nét tâm lý rất đặc thù, thích cảm giác mạnh, muốn hướng sự chú ý về mình, nên các em hay có những hành động nổi loạn Hút thuốc, uống rượu, bài bạc là: 2,3 %, là do bắt chước Mà như những điều đã phân tích, chúng ta có thể đi đến một kết luận: do năng lực nhận thức của các em còn hạn chế nên hay bắt chước những biểu hiện bên ngoài Các em cho

đó là đặc trưng của người lớn Với những học sinh này, nếu chúng ta không có biện pháp giáo dục kịp thời, không quan tâm đúng mức, các em dễ bị sa ngã Sống cẩu thả mất vệ sinh là: 8,4 %, do tính vô kỷ luật của các em, nên trong cuộc sống riêng của mình, các em học sinh thuộc loại này cũng bê tha, cẩu thả, mất vệ sinh

2.3.2 Công cụ nghiên cứu và cách xử lý

Trang 34

Để tìm hiểu thực trạng hoạt động quản lý giáo dục HS chưa ngoan tại các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ, ngoài việc quan sát, phỏng vấn một cách khách quan hoạt động giáo dục của GVCN, công tác quản lý hoạt động giáo dục của Hiệu trưởng, tác giả tiến hành điều tra bằng phiếu thăm dò bao gồm các câu hỏi liên quan đến nội dung quản lý HĐGD HS chưa ngoan (xem mẫu phiếu thăm dò ở phụ lục 2)

- Phiếu thăm dò được khảo sát trên 2 nhóm đối tượng là BGH và GVCN Cụ thể: chúng tôi đã phát 22 phiếu hỏi cho các đối tượng là CBQL có liên quan đến việc quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan gồm 9 Hiệu trưởng và 13 phó Hiệu trưởng, 39 phiếu cho các đối tượng là Tổ trưởng tổ chủ nhiệm, 137 phiếu cho các đối tượng là GVCN Tất cả các phiếu phát ra đều được thu hồi và đều trả lời tương đối đầy đủ các nội dung được hỏi

- Phiếu trương cầu ý kiến về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục học sinh chưa ngoan tại các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ được sắp xếp thành 9 nội dung quản lý Vì Tổ trưởng tổ chủ nhiệm cũng tham gia vào công tác chủ nhiệm và giáo dục học sinh chưa ngoan nên chúng tôi xếp Tổ trưởng tổ chủ nhiệm và GVCN vào cùng một nhóm gọi là GVCN gồm: 176 người và CBQL gồm 22 người

Ở các nội dung quản lý, chúng tôi thực hiện cách tính điểm trung bình, tỷ lệ phần trăm, độ lệch chuẩn với các quy ước như sau:

- Điểm trung bình (Mean), trong đó:

+ M1: Điểm trung bình của nhóm CBQL

+ M : Điểm trung bình của nhóm GVCN 2

2.4 Thực trạng quản lý HĐGD học sinh chưa ngoan ở trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ

Trước khi khảo sát thực trạng quản lý HĐGD học sinh chưa ngoan, tác giả thăm dò nhận thức của CBQL và GVCN về tầm quan trọng của công tác quản lý HĐGD học sinh chưa ngoan Vì nhận thức quy định và chi phối hành động

Trang 35

2.4.1 Nhận thức tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động giáo dục học sinh chưa ngoan

Tìm hiểu nhận thức của CBQL và GVCN về tầm quan trọng của công tác quản lý HĐGD học sinh chưa ngoan ở trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ qua các nội dung cơ bản của công tác trên Kết quả được trình bày ở bảng 2.3

Bảng 2.3: Nhận thức tầm quan trọng của các nội dung quản lý hoạt động giáo dục học sinh chưa

ngoan

Mức độ nhận thức CBQL GVCN

STT Nội dung quản lý

1

M S1 M 2 S 2

1 Quản lý nội dung chương trình, kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan 3.23 0.42 3.36 0.65

2 Quản lý hồ sơ học sinh chưa ngoan 3.09 0.61 2.96 0.31

3 Quản lý kế hoạch chủ nhiệm 3.27 0.63 3.05 0.65

4 Quản lý tiết sinh hoạt chủ nhiệm 3.14 0.56 2.63 0.89

5 Quản lý sinh hoạt tổ chủ nhiệm 3.27 0.70 2.57 0.92

6 Quản lý sự phối hợp giữa GVCN với Đoàn đội, Giám thị, Ban ĐDCMHS trong công

tác giáo dục học sinh chưa ngoan

Nội dung 1: Việc quản lý nội dung chương trình, kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan

được hai nhóm đối tượng nghiên cứu cho rằng rất quan trọng Ở nội dung này cả CBQL và GVCN đều đánh giá ở mức độ rất quan trọng M = 3.23; 1 M = 3.36 Điều đó chứng tỏ HT và GVCN quan tâm rất 2nhiều đến việc xây dựng nội dung chương trình, kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan Thực hiện tốt việc quản lý nội dung chương trình và kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan sẽ tạo điều kiện tốt cho GVCN hoàn thành nhiệm vụ của mình

Nội dung 2: Quản lý hồ sơ học sinh chưa ngoan Qua kết quả đánh giá của CBQL và GVCN

(M = 3.09 ; 1 M = 2.96 ) cho thấy việc quản lý hồ sơ học sinh chưa ngoan ở mức độ khá, có trường làm 2rất tốt và có trường làm chưa tốt Một số trường khi được hỏi thì không có sổ quản lý học sinh chưa ngoan và một số trường sổ chỉ là những tờ giấy theo dõi hằng ngày của bộ phận Giám thị đối với các

em học sinh này Vì thế quản lý hồ sơ học sinh chưa ngoan vẫn còn mang tính hình thức, chiếu lệ chưa

Trang 36

đi sâu vào nội dung

Nội dung 3: Việc quản lý kế hoạch chủ nhiệm được CBQL và GVCN thống nhất đánh giá ở

mức độ rất quan trọng Điểm trung bình (

1

M = 3.27 ; M = 3.05) Qua kết quả trên cho thấy muốn giáo 2

dục học sinh chưa ngoan đạt hiệu quả cao thì ngay từ đầu năm học phải lên kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan và được thực hiện một cách thường xuyên, hàng tuần, tháng và học kỳ

Nội dung 4: Việc quản lý tiết sinh hoạt chủ nhiệm được cả CBQL và GVCN đánh giá ở mức

độ khá, điểm trung bình (

1

M = 3.14 ; M = 2.63 ) Ngay từ đầu năm học GVCN cùng BGH rà soát số 2

học sinh chưa ngoan của từng lớp, qua đó lên kế hoạch giáo dục loại học sinh này Qua kết quả điều tra cho thấy một số Hiệu trưởng (HT) quan tâm đến việc dự giờ, phân công dự giờ sinh hoạt chủ nhiệm để nắm được đặc điểm tình hình của từng lớp.Tuy nhiên, trong thực tế đa số HT quản lý học sinh chưa ngoan dựa trên báo cáo của GVCN, Giám thị, bộ phận Đoàn đội Vì thế, nội dung quản lý tiết sinh hoạt chủ nhiệm không diễn ra như nhận thức của Hiệu Trưởng

Nội dung 5: Việc quản lý sinh hoạt tổ chủ nhiệm Qua trao đổi với GVCN và kết quả điều tra

cho thấy CBQL và GVCN không có điểm đồng nhất, CBQL cho rằng quản lý sinh hoạt tổ chủ nhiệm

là rất quan trọng, bên cạnh đó nhóm GVCN cho là ít quan trọng, điểm trung bình là (M = 3.27 ; 1 M = 2

2 56 ) Chúng tôi đã trao đổi trực tiếp với GVCN để tìm hiểu nguyên nhân có sự khác biệt trong đánh giá thì thấy rằng việc đánh giá của GVCN là phù hợp hơn Vì các GVCN đều cho rằng các tổ chủ nhiệm có xây dựng kế hoạch sinh hoạt và nội dung sinh hoạt từ đầu năm học nhưng các kế hoạch và nội dung sinh hoạt vẫn còn chung chung, mang tính hình thức và chưa cụ thể hóa thành các công việc

cụ thể Điều đó cho thấy các HT tuy đã có ý thức được vai trò của việc sinh hoạt tổ chủ nhiệm trong việc giáo dục học sinh chưa ngoan nhưng việc xây dựng kế hoạch và chỉ đạo thực hiện chưa được rõ ràng Bên cạnh đó việc chuẩn bị nội dung sinh hoạt cho các tổ chủ nhiệm còn hời hợt chưa có sức

thuyết phục, hình thức tổ chức đơn điệu, chưa được cải tiến nên chưa thu hút sự quan tâm của GVCN

Nội dung 6: Việc quản lý sự phối hợp giữa GVCN với Đoàn đội, Giám thị, Ban ĐDCMHS trong công tác giáo dục học sinh chưa ngoan Kết quả khảo sát cho thấy cả CBQL và GVCN thống

nhất cao và cho rằng nội dung này rất quan trọng Quản lý hoạt động giáo dục học sinh chưa ngoan không thể thiếu là quản lý sự phối hợp giữa GVCN với Đoàn đội, Giám thị và Ban ĐDCMHS Điểm trung bình là (M = 3.50 ; 1 M = 3.24) 2

Nội dung 7: Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh chưa ngoan

Qua kết quả khảo sát cho chúng ta thấy cả hai nhóm đối tượng khảo sát là CBQL và GVCN thống nhất cao nội dung quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh chưa ngoan, và cho rằng nội dung này là rất quan trọng, điểm trung bình là (M = 3.27; 1 M = 3.24) 2

2.4.2 Thực trạng công tác quản lý HĐGD học sinh chưa ngoan của GVCN

Tìm hiểu thực trạng công tác quản lý HĐGD học sinh chưa ngoan tác giả đã khảo sát các nội

Trang 37

dung quản lý: quản lý chương trình, kế hoạch giáo dục HS chưa ngoan, quản lý hồ sơ chủ nhiệm, quản

lý kế hoạch chủ nhiệm, quản lý tiết sinh hoạt chủ nhiệm, quản lý sinh hoạt chuyên môn tổ chủ nhiệm, quản lý sự phối hợp giữa GVCN với Đoàn đội, Giám thị, Ban ĐDCMHS, quản lý kết quả rèn luyện của HS chưa ngoan

Sau đây là thực trạng từng nội dung quản lý HĐGD học sinh chưa ngoan

2.4.2.1 Thực trạng công tác quản lý chương trình, kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan

Kết quả khảo sát việc quản lý thực hiện chương trình, kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan được trình bày ở bảng 2.4

Bảng 2.4: Công tác quản lý chương trình, kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan

Mức độ thực hiện CBQL GVCN

STT Nội dung quản lý

1

M S1 M 2 S 2

1

Tổ chức nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý và

thống nhất những biểu hiện về hành vi của

học sinh chưa ngoan 2.95 0.89 2.66 0.89

2

Yêu cầu tổ chủ nhiệm lập kế hoạch chủ

nhiệm giáo dục học sinh chưa ngoan trong

năm học 3.23 0.61 2.88 0.75

3

Sử dụng sổ chủ nhiệm, nhật ký chủ nhiệm

theo dõi việc thực hiện chương trình GD

học sinh chưa ngoan 3.23 0.61 2.91 0.87

4 Quản lý chương trình thông qua tổ chủ

nhiệm 3.05 0.72 2.74 0.78

Qua kết quả điều tra cho thấy cả hai nhóm đối tượng điều tra đều thống nhất cao trong việc đánh giá nội dung quản lý thực hiện chương trình và kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan và có độ tập trung cao trong từng nhóm Nội dung chương trình, kế hoạch giáo dục của GVCN được đánh giá ở mức độ khá của hai nhóm đối tượng nghiên cứu Cụ thể như sau:

Nội dung 1: Việc tổ chức nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý và thống nhất những biểu hiện về hành vi của học sinh chưa ngoan được thực hiện kỹ càng ngay từ đầu năm học Ở nội dung này cả

CBQL và GVCN đều đánh giá ở mức độ cần thiết (M = 2.95 ; 1 M = 2.66 ), điều đó chứng tỏ các HT 2quan tâm rất nhiều đến việc tạo các điều kiện để GVCN nghiên cứu nắm được đặc điểm tâm sinh lý và thống nhất những biểu hiện về hành vi của học sinh chưa ngoan để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình

Nội dung 2: Yêu cầu tổ chủ nhiệm lập kế hoạch chủ nhiệm giáo dục học sinh chưa ngoan trong năm học Qua kết quả đánh giá của CBQL và GVCN, điểm trung bình ( M = 3.23 ; 1 M = 2.88) 2

cho thấy CBQL và GVCN rất đồng tình và cho rằng việc lập kế hoạch của tổ chủ nhiệm để giáo dục học sinh chưa ngoan là cần thiết và phải thường xuyên Từ đó, tìm ra được nội dung và phương pháp tối ưu nhất để giáo dục các em

Trang 38

Nội dung 3: Sử dụng sổ chủ nhiệm, nhật ký chủ nhiệm theo dõi việc thực hiện chương trình giáo dục HS chưa ngoan Ở nội dung này, hai nhóm đối tượng đều thống nhất trong việc đánh giá và

cho rằng việc sử dụng sổ chủ nhiệm, nhật ký chủ nhiệm để theo dõi việc thực hiện chương trình là rất cần thiết, điểm trung bình là (M = 3.23 ; 1 M = 2.91) và xem đây là nội dung cần thiết để duy trì nề nếp 2làm việc của GVCN trong công tác quản lý học sinh

Nội dung 4: Quản lý chương trình thông qua tổ chủ nhiệm

Qua kết quả điều tra cho thấy cả hai nhóm đối tượng nghiên cứu là CBQL & GVCN cho rằng việc quản lý chương trình thông qua tổ chủ nhiệm là cần thiết với điểm trung bình là (M = 3.05 ; 1 M = 22.74) Điều đó cho thấy các HT rất quan tâm đến các hoạt động của tổ chủ nhiệm trong nhà trường

2.4.2.2 Thực trạng công tác quản lý hồ sơ chủ nhiệm

Thực trạng quản lý hồ sơ chủ nhiệm được trình bày ở bảng 2.5

Bảng 2.5: Quản lý hồ sơ chủ nhiệm

Mức độ thực hiện CBQL GVCN

STT Nội dung quản lý

1

M S1 M 2 S 2

1 Quy định các loại sổ sách có biểu mẫu cụ

thể 3.18 0.50 2.88 0.87

2 Yêu cầu hồ sơ phải thể hiện quan điểm, kế hoạch của trường, của tổ 3.09 0.52 3.00 0.70

3 Yêu cầu hồ sơ phải thể hiện sự phù hợp với từng biểu hiện của học sinh chưa ngoan 2.95 0.78 2.91 0.90

4 Kiểm tra định kỳ và đột xuất việc lập và sử dụng hiệu quả hồ sơ chủ nhiệm của từng

GVCN

3.14 0.56 2.81 0.86

5 Kiểm tra việc lập và sử dụng hồ sơ chủ nhiệm 3.36 0.65 2.89 0.76

Kết quả khảo sát cho thấy cả hai nhóm đối tượng là CBQL & GVCN đánh giá việc quản lý hồ

sơ chủ nhiệm ở mức độ khá Cụ thể như sau:

Nội dung 1: Việc quy định các loại sổ sách có biểu mẫu cụ thể

Qua kết quả điều tra, chúng ta thấy cả hai nhóm đối tượng nghiên cứu, nhóm CBQL và nhóm GVCN thống nhất đánh giá ở mức độ khá và họ cho rằng việc quy định các loại sổ sách có biểu mẫu cụ thể là cần thiết, điểm trung bình (M = 3.18 ; 1 M = 2.88) 2

Nội dung 2: Yêu cầu hồ sơ phải thể hiện quan điểm, kế hoạch của trường, của tổ

Với kết quả khảo sát của hai nhóm đối tượng, cho thấy nội dung này được CBQL & GVCN thực hiện một cách thường xuyên Điểm trung bình ở mức độ khá (

1

M = 3.09 ; M = 3.00) 2

Nội dung 3: Yêu cầu hồ sơ phải thể hiện sự phù hợp với từng biểu hiện của học sinh chưa

Trang 39

ngoan

Qua kết quả điều tra của hai nhóm đối tượng nghiên cứu cho thấy HT thường xuyên yêu cầu hồ

sơ phải thể hiện sự phù hợp với từng biểu hiện của học sinh chưa ngoan Điểm trung bình ở mức độ khá (M = 2.95 ; 1 M = 2.91) Nội dung này sẽ giúp GVCN nắm được từng đặc điểm, hành vi lệch chuẩn 2của từng dạng học sinh chưa ngoan, từ đó lựa chọn phương pháp giáo dục phù hợp

Nội dung 4: Kiểm tra định kỳ và đột xuất việc lập và sử dụng hiệu quả hồ sơ chủ nhiệm của từng GVCN

Kết quả khảo sát cho thấy cả hai nhóm đối tượng khảo sát là CBQL và GVCN thống nhất cao

và cho rằng việc kiểm tra định kỳ và đột xuất việc lập và sử dụng hiệu quả hồ sơ chủ nhiệm của từng GVCN ở mức độ khá Điểm trung bình là ( M = 3.14 ; 1 M = 2.81) 2

Nội dung 5: Kiểm tra việc lập và sử dụng hồ sơ chủ nhiệm

Qua kết quả khảo sát cho thấy CBQL và GVCN thống nhất cao và cho rằng nên thường xuyên kiểm tra việc lập và sử dụng hồ sơ chủ nhiệm, điểm trung bình là (

1

M = 3.36 ; M = 2.89) Điều đó cho 2

thấy tầm quan trọng của công tác kiểm tra trong việc lập và sử dụng hồ sơ chủ nhiệm

2.4.2.3 Thực trạng công tác quản lý kế hoạch chủ nhiệm

Thực trạng công tác quản lý kế hoạch chủ nhiệm được trình bày ở bảng 2.6

Bảng 2.6: Công tác quản lý kế hoạch chủ nhiệm

Mức độ thực hiện CBQL GVCN

STT Nội dung quản lý

1

M S1 M 2 S 2

1 Lập mẫu kế hoạch giáo dục thống nhất cho từng loại học sinh chưa ngoan 3.00 0.61 2.74 0.88

2

Chỉ đạo tổ chủ nhiệm thống nhất cách phân

loại, nội dung, phương pháp giáo dục đối

với từng biểu hiện của học sinh chưa ngoan

(từng loại) 3.00 0.61 2.89 0.82

3 Thực hiện kiểm tra giáo án chủ nhiệm định kỳ, đột xuất 3.23 0.68 2.81 0.78

4

Yêu cầu kế hoạch chủ nhiệm phải thể hiện

được quan điểm kế hoạch của trường, của

tổ 3.14 0.56 2.93 0.69

5

Yêu cầu kế hoạch chủ nhiệm phải thể hiện

sự phù hợp với từng loại học sinh chưa

ngoan 2.95 0.65 2.89 0.88

Trang 40

Nội dung 1: Lập mẫu kế hoạch giáo dục thống nhất cho từng loại học sinh chưa ngoan

Kết quả khảo sát cho thấy điểm trung bình của hai đối tượng nghiên cứu là ở mức độ khá (M = 13.00 ; M = 2.74) Qua đó cho thấy HT các trường rất quan tâm đến việc lập mẫu kế hoạch giáo dục 2thống nhất cho từng loại học sinh vì mỗi dạng học sinh chưa ngoan có những biểu hiện hành vi khác nhau

Nội dung 2: Việc chỉ đạo tổ chủ nhiệm thống nhất cách phân loại, nội dung, phương pháp giáo dục đối với từng biểu hiện của học sinh chưa ngoan (từng loại) được đánh giá ở mức điểm khá

ở cả hai nhóm đối tượng (M = 3.00 ; 1 M = 2.89) 2

Kết quả trên cho thấy, ngay từ đầu năm học các HT đã chỉ đạo và tổ chức cho GVCN thống nhất cách phân loại học sinh chưa ngoan từ đó áp dụng nội dung, phương pháp giáo dục phù hợp cho từng loại

Nội dung 3: Thực hiện kiểm tra giáo án chủ nhiệm định kỳ, đột xuất

Ở nội dung này, hai nhóm đối tượng nghiên cứu CBQL & GVCN không thống nhất trong việc đánh giá, các HT rất thường xuyên thực hiện việc kiểm tra giáo án định kỳ, đột xuất, điểm trung bình

M = 3.23 Bên cạnh đó, GVCN cho rằng ở mức độ thường xuyên, điểm trung bình 1 M = 2.81 Từ kết 2quả trên, chúng tôi tìm hiểu, trao đổi với GVCN để tìm ra nguyên nhân có sự khác biệt nhau trong đánh giá thì thấy rằng việc đánh giá của GVCN là phù hợp hơn bởi các giáo viên đều cho rằng HT kiểm tra giáo án chủ nhiệm theo định kỳ có báo trước, mà không kiểm tra đột xuất

Nội dung 4: Yêu cầu kế hoạch chủ nhiệm phải thể hiện được quan điểm kế hoạch của trường, của tổ

Dựa vào kết khảo sát, chúng ta thấy cả hai nhóm đối tượng khảo sát đều thống nhất cao việc HT thường xuyên yêu cầu kế hoạch chủ nhiệm phải thể hiện được quan điểm kế hoạch của trường, của tổ Điểm trung bình ở mức độ khá (M = 3.14 ; 1 M = 2.93 ) 2

Nội dung 5: Yêu cầu kế hoạch chủ nhiệm phải thể hiện sự phù hợp với từng loại học sinh chưa ngoan

Qua kết quả khảo sát, chúng ta thấy cả hai nhóm đối tượng khảo sát đều cho rằng HT thường xuyên yêu cầu kế hoạch chủ nhiệm phải thể hiện sự phù hợp với từng loại học sinh chưa ngoan

Điểm trung bình ở mức độ khá (M = 2.95 ; 1 M = 2.89) 2

2.4.2.4 Thực trạng công tác quản lý tiết sinh hoạt chủ nhiệm

Thực trạng quản lý tiết sinh hoạt chủ nhiệm được trình bày ở bảng 2.7

Bảng 2.7: Công tác quản lý tiết sinh hoạt chủ nhiệm

Ngày đăng: 02/04/2013, 16:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Số HS có biểu hiện hành vi chưa ngoan tại các trường THCS - Thực trạng quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan tại các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh TP Cần Thơ
Bảng 2.2 Số HS có biểu hiện hành vi chưa ngoan tại các trường THCS (Trang 31)
Bảng 2.3: Nhận thức tầm quan trọng của các nội dung quản lý hoạt động giáo dục  học sinh chưa - Thực trạng quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan tại các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh TP Cần Thơ
Bảng 2.3 Nhận thức tầm quan trọng của các nội dung quản lý hoạt động giáo dục học sinh chưa (Trang 35)
Bảng 2.4: Công tác quản lý chương trình, kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan. - Thực trạng quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan tại các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh TP Cần Thơ
Bảng 2.4 Công tác quản lý chương trình, kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan (Trang 37)
Bảng 2.5: Quản lý hồ sơ chủ nhiệm - Thực trạng quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan tại các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh TP Cần Thơ
Bảng 2.5 Quản lý hồ sơ chủ nhiệm (Trang 38)
Bảng 2.6: Công tác quản lý kế hoạch chủ nhiệm - Thực trạng quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan tại các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh TP Cần Thơ
Bảng 2.6 Công tác quản lý kế hoạch chủ nhiệm (Trang 39)
Hình thức phù hợp với học sinh chưa - Thực trạng quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan tại các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh TP Cần Thơ
Hình th ức phù hợp với học sinh chưa (Trang 41)
Bảng 2.8: Công tác quản lý sinh hoạt chuyên môn tổ chủ nhiệm. - Thực trạng quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan tại các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh TP Cần Thơ
Bảng 2.8 Công tác quản lý sinh hoạt chuyên môn tổ chủ nhiệm (Trang 42)
Bảng 2.10: Thực trạng công tác quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh chưa - Thực trạng quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan tại các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh TP Cần Thơ
Bảng 2.10 Thực trạng công tác quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh chưa (Trang 45)
Bảng 2.11: Những yếu tố gây khó khăn trong công tác quản lý hoạt động giáo dục học sinh chưa - Thực trạng quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan tại các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh TP Cần Thơ
Bảng 2.11 Những yếu tố gây khó khăn trong công tác quản lý hoạt động giáo dục học sinh chưa (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w