1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động huy động tiền gửi bằng VNĐ tại ngân hàng TMCP kiên long PGD gò vấp

51 292 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 443,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHTM VÀ TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM: - Ở Việt N

Trang 1

BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG CAO ĐẲNG TÀI CHÍNH- HẢI QUAN

BÁO CÁO THỰC TẬP

GVHD: Nguyễn Vũ Thân

TP HỒ CHÍ MINH, Năm 2011

LỜI MỞ ĐẦU

Trang 2

1 Lý do chọn đề tài

Như ta đã biết ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền

tệ, lợi nhuận thu được chủ yếu là do sự chênh lệch dòng tiền giữa đầu vào và đầu ra saukhi đã trừ đi các khoản chi phí Chính vì vậy làm thế nào để huy động vốn tối đa trongnền kinh tế luôn là một câu hỏi lớn đặt ra cho các nhà quản trị ngân hàng Vì chỉ khi huyđộng vốn tốt ngân hàng mới có thể thực hiện tốt hoạt động kinh doanh, thúc đẩy việc chovay nhằm thu lợi nhuận Trong đó chiếm tỷ trọng lớn và thường xuyên nhất là nguồn vốnhuy động được từ các loại tiền gửi Thế nhưng, hiện nay thói quen của người dân ViệtNam nói chung và người dân ở các tỉnh nông thôn nói riêng vẫn chưa quen với việc đemtiền gửi vào ngân hàng Một phần vì sợ rủi ro sẽ bị mất, phần khác lại sợ khi chưa đến hạntất toán sổ tiết kiệm thì mình lại cần đến số tiền đó Thế nên thường họ sẽ để tiền ở nhàcho an toàn và tiện lợi Nếu chỉ tính riêng từng khách hàng thì nguốn vốn huy động được

có thể không cao, nhưng nếu xét trên toàn bộ đất nước thì số tiền không huy động được sẽ

là rất lớn Chính vì thế, ngân hàng nào càng tạo được uy tín với khách hàng, huy độngđược nhiều vốn và sử dụng nó có hiệu quả thì sẽ nâng cao được khả năng cạnh tranh củamình, uy tín ngân hàng cũng được tăng lên, lợi nhuận từ đó cũng tăng theo

Thực tế cho thấy thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố phát triển với tốc độ rấtnhanh, lượng tiền lưu thông ở đây là rất cao Với việc ngày càng mọc thêm nhiều công tytrong và ngoài nước cũng như các khu công nghệp thì sẽ kéo theo nhu cầu chi trả lươngqua ngân hàng cũng như nhu cầu thanh toán tiền bằng thẻ Chính vì thế nếu biết huy độngtốt các nguồn tiền nhàn rỗi của người dân sẽ là một cơ hội rất tốt cho ngân hàng TMCPKiên Long có thể tăng nguồn vốn huy động để phục vụ cho quá trình kinh doanh đượcthuận lợi hơn Thế nhưng để cạnh tranh được với những ngân hàng TMCP đã có uy tínlâu năm và có quy mô lớn thì đòi hỏi ngân hàng Kiên Long phải luôn không ngừng đadạng hóa các sản phẩm tiền gửi của mình, tạo được lòng tin đối với khách hàng nhằm thuhút thêm khách hàng gửi tiền Đây cũng là một trong những động cơ thúc đẩy em nghiên

Trang 3

cứu về đề tài: “Hoạt động huy động tiền gửi bằng VNĐ tại Ngân hàng TMCP Kiên Long- PGD Gò Vấp” làm đề tài cho bài báo cáo của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích hoạt động huy động tiền gửi của ngân hàng TMCP Kiên Long- PGD Gò Vấp,

từ đó có những đề xuất nâng cao khả năng huy động tiền gửi ở phòng giao dịch Gò Vấp,tăng khả năng cạnh tranh với các ngân hàng khác

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:Ngân hàng TMCP Kiên Long- PGD Gò Vấp

Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động huy động tiền gửi bằng VNĐ từ năm 2008- 2010

4 Phương pháp luận nghiên cứu

Phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phỏng vấn, phương phápphân tích số liệu, phương pháp thu thập thông tin…

5 Kết cấu bài viết

Bài báo cáo gồm các phần:

CHƯƠNG 1: Ngân hàng thương mại( NHTM) và cơ sở lý luận về hoạt động huy động tiền gửi.

CHƯƠNG 2: Đánh giá thực trạng huy động tiền gửi tại Ngân hàng TMCP Kiên Long- PGD Gò Vấp.

CHƯƠNG 3: Đề xuất nhằm đẩy mạnh hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng TMCP Kiên Long- PGD Gò Vấp.

Do kiến thức còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhậnđược ý kiến đóng góp của thầy và ngân hàng để bài viết hoàn chỉnh hơn Em xin chânthành cảm ơn

Trang 4

CHƯƠNG 1: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI( NHTM) VÀ TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI

1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại

Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM:

- Ở Việt Nam theo Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạtđộng của NHTM thì NHTM là Ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng

và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định củaLuật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật

- Còn ở Mỹ NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính vàhoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính

- Đạo luật Ngân hàng của Cộng hòa Pháp cũng đã chỉ rõ: Ngân hàng thương mại lànhững cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của dân chúng dưới hình thức

ký thác và sử dụng nguồn lực đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng

và tài chính

Như vậy, có thể nói rằng NHTM là Định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại

bậc nhất trong nền kinh tế thị trường Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này màcác nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại Đồng

Trang 5

thời số vốn đó sẽ được sử dụng để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân, góp phầntạo lập và cung ứng vốn cho nền kinh tế tạo điều kiện và thúc đẩy nền kinh tế xã hội pháttriển.

NHTM tồn tại dưới nhiều dạng sở hữu khác nhau NHTM quốc doanh, NHTM tư nhân,NHTM liên doanh, NHTM cổ phần hoặc chi nhánh NHTM nước ngoài Trong đó phổbiến nhất là NHTM cổ phần Nhưng dù ở bất kỳ hình thức hoạt động nào NHTM cũngbao gồm ba nghiệp vụ: nghiệp vụ tài sản nợ( huy động vốn), nghiệp vụ tài sản có( sửdụng vốn), nghiệp vụ trung gian hoa hồng Ba loại nghiệp vụ trên có mối quan hệ mấtthiết, hỗ trợ, thúc đẩy cùng phát triển để tạo nên uy tín ngân hàng

1.1.2 Chức năng- nhiệm vụ của NHTM

1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng

Nói đến chức năng của NHTM trước hết phải kể đến là chức năng trung gian tín dụng.Đây được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, nó không nhữngcho thấy bản chất của NHTM mà còn cho thấy nhiệm vụ chính yếu của NHTM Khi thựchiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn

và người có nhu cầu về vốn bằng cách đứng ra tập trung, huy động các nguồn tiền tệ tamthời nhàn rỗi trong nền kinh tế( bao gồm tiền tiết kiệm của các tầng lốp dân cư, vốn bằngtiền của các đơn vị, tổ chức kinh tế…) và biến nó thành nguồn vốn tín dụng để chovay( cấp tín dụng) đáp ứng các nhu cầu vốn kinh doanh, vốn đầu tư cho các ngành kinh tế

và nhu cầu vốn tiêu dùng của xã hội theo nguyên tắc có hoàn trả Với chức năng này,

ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người chovay Không những hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suấtcho vay sau khi đã trừ đi các khoản chi phí mà còn góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bêntham gia: người gửi tiền và người đi vay

Trang 6

1.1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán

Thông qua thực chức năng trung gian tín dụng, NHTM cũng sẽ thực hiện được chứcnăng trung gian thanh toán của mình Đây là chức năng quan trọng, không những thể hiệnkhá rõ bản chất của của NHTM mà còn cho thấy tính chất “đặc biệt” trong hoạt động củaNHTM Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiệncác thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ đểthanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiềnthu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ

Trong chức năng này, các NHTM sẽ cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanhtoán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tíndụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phùhợp Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độthanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế

Nhiệm vụ cụ thể của chức năng này gồm:

- Mở tài khoản tiền gửi giao dịch cho các tổ chức và cá nhân

- Quản lý và cung cấp các phương tiện thanh toán cho khách hàng

- Tổ chức kiểm soát quy trình thanh toán giữa các khách hàng

1.1.2.3 Chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng

Thực hiện chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian thanh toán vốn đãmang lại hiệu quả to lớn cho xã hội Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó thì chưa đủ, mà để thúcđẩy các chức năng trên thực hiện tốt hơn, các NHTM cần phải đáp ứng tất cả những yêucầu của khách hàng có liên quan đến hoạt động ngân hàng Đó chính là việc cung ứngdịch vụ ngân hàng Vậy dịch vụ ngân hàng là gì mà có thể thúc đẩy hai chức năng trênđược thực hiện hiệu quả hơn?

Dịch vụ ngân hàng được biết đến với hai đặc điểm chính:

Trang 7

- Trước tiên, nó là các dịch vụ mà chỉ các ngân hàng với những ưu thế của nó như: có

hệ thống mạng lưới chi nhánh rộng khắp trong và ngoài nước, có quan hệ với nhiều công

ty, xí nghiệp, có trang bị hệ thống thông tin hiện đại để cập nhật những thông tin mớinhất… mới có thể thực hiện được một cách trọn vẹn và đầy đủ

- Thứ hai, nó là các dịch vụ gắn liền với các hoạt động ngân hàng, không những chophép NHTM thực hiện tốt yêu cầu của khách hàng, mà còn hỗ trợ tích cực để ngân hàngthực hiện tốt hơn chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian thanh toán

* Khả năng tạo tiền

Khả năng tạo tiền cũng được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chứcnăng trung gian tín dụng và chức năng trung gian thanh toán Khả năng tạo tiền phản ánh

rõ bản chất của ngân NHTM Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầuchính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mangtính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện việc tạo tiền cho nền kinh tế Thông quachức năng trung gian tín dụng, NHTM sẽ sử dụng số vốn huy động được để cho vay, sốtiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ thôngqua hệ thống NHTM Như vậy với khoản tiền gửi nhận được ban đầu, hệ thống NHTMthông qua quá trình cho vay bằng chuyển khoản kết hợp với thanh toán không dùng tiềnmặt qua ngân hàng, có khả năng mở rộng tiển gửi không kỳ hạn gấp nhiều lần, do đó tạothêm bút tệ cho lưu thông Với khả năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phươngtiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội Cần chú

ý là khả năng tạo tiền chỉ là hệ quả của chức năng trung gian tín dụng và chức năng trunggian thanh toán chứ bản thân nó không phải là chức năng vốn có của NHTM

Tóm lại, các chức năng và nhiệm vụ của NHTM đều có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau Vì vậy khi bố trí cơ cấu tổ chức bộ máy để thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình, các NHTM phải sắp xếp tổ chức hợp lý để thực hiện đồng

bộ các chức năng và nhiệm vụ ấy, không nên quá chú trọng chức năng này mà xem

Trang 8

nhẹ chức năng nhiệm vụ khác Như vậy sẽ tạo ra sự đơn điệu và hiệu quả hoạt động

sẽ không cao.

1.1.3 Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại

1.1.3.1 Nghiệp vụ tài sản Nợ của NHTM

Nghiệp vụ tài sản nợ( nghiệp vụ nguồn vốn) là nghiệp vụ dùng để hình thành nguồnvốn của NHTM huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thânngân hàng cũng như đối với xã hội Trong nghiệp vụ này, ngân hàng thương mại đượcphép sử dụng những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật pháp cho phép để huy độngcác nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh

tế Thành phần nguồn vốn của ngân hàng thương mại gồm:

* Vốn tự có: vốn điều lệ, các quỹ, lợi nhuận chưa chia của ngân hàng được gọi là vốn tự

có của ngân hàng (Bank’s Capital) là nguồn vốn khởi đầu và được bổ sung trong quá trìnhhoạt động

- Vốn điều lệ là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu đóng góp,nó được dùng để

xây dựng nhà cửa, văn phòng làm việc, mua sắm tài sản, trang thiết bị nhằm tạo cơ sở vậtchất đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng, số còn lại để đầu tư, liên doanh, cho vayttrung và dài hạn

- Các quỹ dự trữ của ngân hàng: đây là các quỹ bắt buộc phải trích lập trong quá trình

tồn tại và hoạt động của ngân hàng, các quỹ này được trích lập theo tỷ lệ qui định trên sốlợi nhận ròng của ngân hàng, bao gồm:

+ Quỹ dự trữ : được trích từ lợi nhuận ròng hằng năm để bổ sung vốn điều lệ

+ Quỹ dự phòng tài chính: Quỹ này để dự phòng bù đắp rủi ro, thu lỗ trong hoạt độngcủa ngân hàng

+ Quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ

Trang 9

+ Quỹ khen thưởng phúc lợi.

- Lợi nhuận chưa chia: là lợi nhuận ròng hằng năm chưa phân chia và chưa sử dụng

tới

Vốn tự có của ngân hàng tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn nhưng lại là yếu

tố tài chính quan trọng bậc nhất, nó vừa cho thấy qui mô của ngân hàng vừa phản ánh khảnăng đảm bảo thanh toán các khoản nợ của ngân hàng đối với khách hàng, làm cơ sở choNHTM thực hiện các họat động khác

* Vốn huy động: đây là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất của NHTM, thực

chất là tài sản bằng tiền của các sở hữu chủ mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụngnhưng phải có nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ khi khách hàng yêu cầu Nguồn vốn huyđộng là nguồn tài nguyên to lớn nhất, bao gồm:

- Tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức, cá nhân: là loại tiền gửi mà người sở hữu nó

có thể rút ra sử dụng bất kỳ lúc nào mà không cần phải báo trước về thời hạn và khốilượng tiền cần rút Loại này bao gồm các khoản tiền gửi tạm thời của các cá nhân, doanhnghiệp, các tổ chức kinh tế…Khách hàng gửi loại tiền này không vì mục tiêu lợi nhuận

mà chủ yếu là để thực hiện các khoản chi mua hàng hóa, dịch vụ, thực hiện các khoảngiao dịch về thanh toán, chi trả và thực hiện các khoản chi trả khác Vì vậy đối với loạitiền gửi này, ngân hàng trả lãi rất thấp

- Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền gửi có quy định cụ thể về thời gian rút tiền của khách

hàng Tiền gửi có kỳ hạn thường bao gồm các khoản tiền gửi của các doanh nghiệp, tiềngửi tiết kiệm có kỳ hạn tại mọi tầng lớp dân cư trong xã hội…Mục đích của người gửitiền nhắm đến khả năng sinh lời của tiền tệ Đối với loại tiền gửi này, do tính chất ổn địnhcủa nó nên ngân hàng thường trả lãi rất cao

Trang 10

- Vốn huy động khác: NHTM còn có thể huy động vốn bằng cách phát hành các loại

giấy nợ như: Chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu ngân hàng…Các loại phiếu nợ này phát hànhtheo từng đợt và xác định trước về thời hạn, lãi suất và cách trả lãi Đối với hình thức huyđộng này ngân hàng cũng trả lãi khá cao

Trong bài báo cáo này chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu kĩ về hoạt động huy động vốn nóichung và huy động tiền gửi nói riêng, mà đặc biệt là “Hoạt động huy động tiền gửi bằngVNĐ tại ngân hàng TMCP Kiên Long- PGD Gò Vấp”

* Vốn đi vay: nguồn vốn đi vay có vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn của ngân

hàng thương mại, bao gồm:

- Vốn vay ngân hàng trong nước:

+ Vay ngân hàng trung ương: NHTW sẽ tiếp vốn cho ngân hàng thương mại thông quabiện pháp chiết khấu, tái chiết khấu nếu các hồ sơ tín dụng cùng các chứng từ xin tái chiếtkhấu có chất lượng Làm như vậy, NHTW sẽ trở thành chỗ dựa và là người cho vay cuốicùng đối với ngân hàng thương mại

+ Vay các ngân hàng thương mại khác thông qua thị trường liên ngân hàng (InterbankMarket)

- Vốn vay ngân hàng thương mại nước ngoài.

* Vốn tiếp nhận: đây là nguồn tiếp nhận từ các tổ chức tài chính ngân hàng, từ ngân

sách nhà nước… để tài trợ theo các chương trình, dự án về phát triển kinh tế xã hội, cảitạo môi sinh… nguồn vốn này chỉ được sử dụng theo đúng đối tượng và mục tiêu đã đượcxác định

Trang 11

* Vốn khác: đó là các nguồn vốn phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân hàng

(đại lý, chuyển tiền, các dịch vụ ngân hàng…)

1.1.3.2 Nghiệp vụ tài sản Có( sử dụng vốn)

Là nghiệp vụ sử dụng các nguồn vốn của NHTM vào các hoạt động cho vay, đầu tư,kinh doanh ngoại tệ… Nghiệp vụ TS Có của ngân hàng bao gồm: nghiệp vụ ngân quỹ,nghiệp vụ tín dụng, nghiệp vụ đầu tư

* Nghiệp vụ ngân quỹ: hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm mục đích kiếm lời,

song cần phải bảo đảm an toàn để giữ vững được lòng tin của khách hàng Muốn có được

sự tin cậy về phía khách hàng, trước hết ngân hàng phải luôn bảo đảm khả năng thanhtoán, đáp ứng được nhu cầu rút tiền bất cứ lúc nào của khách hàng Muốn vậy các ngânhàng phải để dành một phần nguồn vốn không sử dụng nó để sẵng sàng đáp ứng nhu cầuthanh toán bao gồm:

- Tiền mặt tại quỹ: tùy thuộc vào quy mô hoạt động của từng ngân hàng, vào nhu cầu

thường xuyên cũng như nhu cầu thời vụ của các khoản chi tiêu tiền mặt mà NHTM để tồnquỹ tiền mặt cho hợp lý

- Tiền gửi ở các ngân hàng khác: để nhờ các NHTM khác thực hiện một số dịch vụ

như: thanh toán, chuyển khoản, bảo lãnh tín dụng…Số tiền này được thanh toán theo mức

độ của quan hệ đại lý giữa các NHTM

- Tiền gửi ở Ngân hàng Trung ương:

+ Tiền gửi dự trữ bắt buộc

+ Tiền gửi thanh toán

* Nghiệp vụ tín dụng: Số nguồn vốn còn lại sau khi để dành một phần dự trữ, các

NHTM có thể dùng để cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới các hình thức:

Trang 12

- Cho vay: NHTM sử dụng phần lớn nguồn vốn của mình để cho vay đối với các chủ

thể kinh tế khác nhau gồm: cho vay ngắn, trung, dài hạn phục vụ nhu cầu sản xuất kinhdoanh và tiêu dùng

- Chiết khấu: đây là nghiệp vụ cho vay (gián tiếp), NHTM sẽ chiết khấu những giấy tờ

có giá chưa đến hạn thanh toán nhằm đáp ứng nguồn vốn cấp thiết cho các chủ thể trongnền kinh tế

- Cho thuê tài chính: là loại hình tín dụng trung, dài hạn Trong đó các công ty cho thuê

tài chính dùng vốn của mình hay vốn do phát hành trái phiếu để mua tài sản, thiết bị theoyêu cầu của người đi thuê và tiến hành cho thuê trong một thời gian nhất định Người đithuê phải trả tiền thuê cho công ty cho thuê tài chính theo định kỳ Khi kết thúc hợp đồngthuê người đi thuê được quyền mua hoặc kéo dài thêm thời hạn thuê hoặc trả lại thiết bịtho bên cho thuê

* Nghiệp vụ đầu tư: là nghiệp vụ có vị trí quan trọng thứ hai sau nghiệp vụ cho vay,

nó mang lại khoản thu nhập lớn và đáng kể của ngân hàng thương mại Trong nghiệp vụnày, ngân hàng sẽ dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn ổn định khác để đầu tư dướicác hình thức như:

- Đầu tư trực tiếp: NHTM đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp, công thương nghiệp

thông qua việc hùn vốn mua cổ phần, cổ phiếu của các công ty, hùn hạp liên doanh, liênkết thành các công ty con Việc hùn vốn mua cổ phần chỉ được phép thực hiện bằng vốncủa ngân hàng

- Đầu tư gián tiếp: bằng cách mua trái phiếu chính phủ, chính quyền địa phương, trái

phiếu công ty…tất cả hoạt động đầu tư chứng khoán đều nhằm mục đích mang lại thunhập, mặt khác nhờ hoạt động đầu tư mà các rủi ro trong hoạt động ngân hàng sẽ đượcphân tán, đồng thời đầu tư vào trái phiếu chính phủ thì đảm bảo được khả năng sinh lợi

Trang 13

với mức độ rủi ro rất thấp Khi cần vốn, các NHTM cũng có thể bán trên thị trường chứngkhoán hoặc làm chứng từ xin chiết khấu ở Ngân hàng Trung ương.

1.1.3.3 Nghiệp vụ trung gian hoa hồng

- Nghiệp vụ chuyển tiền

- Nghiệp vụ phát hành thư tín dụng, bảo lãnh

- Nghiệp vụ ủy thác

- Phát hành chứng khoán cho các công ty

- Cho thuê két sắt

- Cung cấp thông tin và tư vấn về kinh doanh

- Tư vấn quản trị doanh nghiệp

- Thanh lý tài sản của các doanh nghiệp bị phá sản

1.2 Tổng quan về hoạt động huy động tiền gửi

1.2.1 Khái niệm về hoạt động huy động tiền gửi

Huy động tiền gửi là hoạt động mà trong đó các NHTM với những chính sách của mình sẽ thực hiện việc tìm kiếm và thu hút các nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế dưới hình thức tiền gửi nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh ngân hàng được diễn ra bình thường.

1.2.2 Đặc điểm của hoạt động huy động tiền gửi

- Đầu tiên hoạt động huy động tiền gửi được coi là hoạt động cơ bản, có tính chất sống

còn đối với bất kỳ một NHTM nào Vì nó tạo ra nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong

tổng nguồn vốn huy động Các NHTM tồn tại được là nhờ vào nguồn vốn này

- Huy động tiền gửi còn là một hình thức huy động vốn mang tính chất thường xuyênnhất

Trang 14

- Bên cạnh đó, về mặt lý thuyết thì nguồn vốn tạo ra từ hoạt động này là một nguồnvốn không ổn định vì khách hàng có thể rút tiền của họ ra bất kỳ lúc nào mà không chịubất cứ ràng buộc nào( kể cả đối với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn thì khách hàng vẫn có thểrút ra và chịu lãi suất không kỳ hạn)

- Đồng thời, chi phí phải trả trong hoạt động này tương đối cao và chiếm tỷ trọng chiphí đầu vào rất lớn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM

- Không những thế huy động tiền gửi còn là hoạt động có chi phí cạnh tranh gay gắtgiữa các ngân hàng

1.2.3 Các hình thức huy động tiền gửi

Nhìn chung có hai hình thức huy động tiền gửi: tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiếtkiệm Sau đây chúng ta sẽ đi vào chi tiết từng hình thức

1.2.3.1 Huy động tiền gửi thanh toán

Bao gồm hai loại là tiền gửi thanh toán không kỳ hạn và tiền gửi thanh toán có kỳhạn, nhưng tiền gửi thanh toán có kỳ hạn ít được sử dụng nên trong phạm vi bài báo cáonày chỉ đề cập đến tiền gửi thanh toán không kỳ hạn( sau đây gọi tắt là tiền gửi thanh

toán) Đây là loại tiền gửi mà người gửi tiền( chủ tài khoản) không bị ràng buộc về mặt

thời gian, dùng để phục vụ nhu cầu giao dịch, thanh toán cho chủ tài khoản như trả tiềnhàng hóa, dịch vụ, rút tiền mặt từ ATM, chuyển tiền…Đối với loại tiền gửi này, chủ tàikhoản gửi tiền vào ngân hàng không nhằm mục đích hưởng lãi mà vì nhu cầu giao dịchthanh toán Chính vì vậy lãi suất không phải là công cụ để thu hút nguồn vốn này Điểmthu hút chính là những dịch vụ ngân hàng kèm theo phải là dịch vụ có nhiều tiện ích, an

Trang 15

Thông thường các giao dịch tiền gửi thanh toán thường có giá trị lớn và chi phí sửdụng vốn( chi phí trả lãi) thấp nên các ngân hàng luôn muốn huy động nguồn vốn nàymột cách tối đa Có như thế hoạt động ngân hàng mới có hiệu quả cao.

1.2.3.2 Huy động tiền gửi tiết kiệm

* Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn

Cũng giống như tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn có chi phí sử dụngvốn thấp( gần như bằng chi phí sử dụng vốn của tiền gửi thanh toán) Chỉ khác ở chỗ tiềngửi tiết kiệm không kỳ hạn phần lớn là do cá nhân mở tài khoản với mục đích gửi tiếtkiệm để nhận lãi chứ không phải để thanh toán, và họ chỉ muốn gửi trong thời gian ngắn

và có thể rút bất kỳ lúc nào khi cần chứ không muốn bị ràng buộc về thời gian Đặc biệttiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn không thể dùng trong các giao dịch thanh toán

* Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn

Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là loại tiền gửi mà trên nguyên tắc người gửi tiền chi cóthể rút ra khi đáo hạn Tuy nhiên do tính chất cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM nêntrong trường hợp bình thường ngân hàng vẫn cho khách hàng rút trước hạn với việc chỉđược hưởng lãi suất không kỳ hạn

Nếu như tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn chỉ sử dụng chủ yếu đểcho vay ngắn hạn thì nhờ tính có ổn định hơn, mà đối với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn cácNHTM thường sử dụng để cho vay trung, dài hạn

Tuy nhiên, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn lại có chi phí sử dụng vốn khá cao Phần lớnchủ tài khoản thường gửi tiền nhằm mục đích hưởng lãi chứ không phải để thanh toán.Những người gửi tiết kiệm thường là những đối tượng giảm chi tiêu trong hiện tại vớimục đích tăng chi tiêu trong tương lai như xây dựng nhà cửa, mua ôtô…, do đó lãi suấtcao, hấp dẫn chính là đòn bẩy để thu hút nguồn vốn này

Trang 16

1.2.4 Lợi ích của huy động tiền gửi mang lại

1.2.4.1 Đối với khách hàng

- Trước hết thanh toán qua ngân hàng giúp khách hàng bảo đảm tính an toàn và giảm

thiểu được thời gian trong thanh toán Tính an toàn đó được thề hiện ở chỗ nếu thực hiện

theo hình thức thanh toán trực tiếp sẽ dễ gặp phải những rủi ro như: trộm cắp, hao hụt,mất mát… và còn tốn rất nhiều thời gian mới thực hiện hoàn tất việc thanh toán, mà trongthời đại hiện nay thì việc biết tận dụng thời gian một cách tối đa, hiệu quả là điều rất quantrọng trong kinh doanh

- Tiếp theo, thực hiện thanh toán qua ngân hàng còn giúp các chủ thể tham gia giao

dịch giảm thiểu được những chi phí phát sinh như chi phí vận chuyển, bảo quản tiền tệ,

tiết kiệm nhiều chi phí về giao dịch thanh toán….Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế tham giatrong giao dịch không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp ngườiphải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thựchiện các khoản thanh toán

- Đối với các khách hàng vay tiền, nhờ có hoạt động huy động tiền gửi mà họ có thể tiếp cận được với nguồn vốn một cách nhanh chóng và ít tốn kém chi phí hơn.

- Bên cạnh đó khi gửi tiền vào ngân hàng, chủ tài khoản vừa có thể làm cho khoản tiền

nhàn rỗi của mình sinh lời dưới hình thức nhận lãi tiền gửi vừa đảm bảo tính an toàn của khoản tiền đó Tránh không để số vốn đó trở thành “tiền chết”.

1.2.4.2 Đối với ngân hàng

Cung cấp nguồn vốn lớn để ngân hàng thực hiện hoạt động kinh doanh của mình.

Không chỉ có lợi cho khách hàng mà hoạt động huy động tiền gửi còn có vai trò rất quantrọng đối với các ngân hàng Chính nhờ hoạt động này mà các ngân hàng có vốn để thực

Trang 17

1.2.4.3 Đối với nền kinh tế

- Huy động tiền gửi thanh toán làm giảm bớt khối lượng tiền mặt trong lưu thông, tăng khối lượng thanh toán bằng chuyển khoản, giảm bớt chi phí phát sinh cho xã hội Ngày

nay khi nền kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu buôn bán được mở rộng ra phạm vi toànthế thế giới, thì việc thanh toán thông qua các ngân hàng ngày càng thể hiện rõ vai tròquan trọng của nó Một giao dịch buôn bán trị giá hàng triệu đôla nếu thực hiện thanhtoán trực tiếp giữa người mua và người bán thì sẽ có rất nhiều chi phí phát sinh như: chiphí kiểm đếm, kiểm tra tiền giả, chi phí thuê người vận chuyển và bảo quản tiền, chi phí

đi lại… Nhưng nhờ có hoạt động thanh toán qua ngân hàng mà rút ngắn được thời giancũng như các chi phí phát sinh trên

- Cũng chính nhờ thực hiện chức năng trung gian thanh toán mà hệ thống NHTM góp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển Tiền- Hàng Phần lớn các giao dịch thanh toán qua

ngân hàng là những khoản giao dịch có giá trị lớn, phạm vi thanh toán không chỉ bó hẹptrong từng khu vực, địa phương, mà còn lan rộng trong phạm vi cả nước và phát triển ratrên phạm vi thế giới Nhờ vậy các mối quan hệ kinh tế- xã hội trong nước phát triển màcón thúc đẩy các quan hệ kinh tế thương mại và tài chính tín dụng quốc tế phát triển

- Mặt khác huy động tiền gửi tiết kiệm thông qua việc giúp cung cấp vốn kịp thời chocác doanh nghiệp có thể mở rộng hoạt động kinh doanh, nhờ đó mà nền kinh tế xã hộicũng được phát triển theo

1.2.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi

1.2.5.1 Nhân tố khách quan

* Chu kỳ phát triển kinh tế: Tình trạng phát triển của nền kinh tế nhanh hay chậm là

một trong những nhân tố vĩ mô tác động trực tiếp đến hoạt động huy động vốn của

NHTM nói chung và huy động tiền gửi nói riêng Một điều dễ nhận thấy là người dân chỉ

đem tiền gửi vào ngân hàng khi thu nhập của họ đủ bù đắp nhu cầu trong cuộc sống, và

Trang 18

họ có một khoản tiền dư ra để dành Như vậy khi nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định,mức sống của người dân cao thì các NHTM có thể khuyến khích người dân gửi tiền bằngcách đưa ra mức lãi suất hấp dẫn, các dịch vụ có chất lượng tốt…khả năng huy động tiềngửi từ đó sẽ tăng lên Ngược lại khi nền kinh tế không phát triển và bất ổn, thu nhập củangười lao động sẽ bị giảm xuống, đồng thời do mất lòng tin vào giá trị của đồng tiền màngười dân cũng có thể chuyển qua các phương tiện cất giữ khác như mua ngoại hối dựtrữ, mua bất động sản… khả năng huy động tiền gửi từ đó cũng sẽ bị giảm một cách đáng

kể

* Môi trường pháp lý: tất cả các hoạt động kinh doanh đều phải tuân theo, dựa vào và

chịu sự điều chỉnh của pháp luật Mọi hoạt động của NHTM cũng không nằm ngoài quyluật đó Vì vậy những quy định, quy chế về lãi suất, mức dự trữ, hạn mức cho vay…cũng

sẽ ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi

* Môi trường cạnh tranh: Một lĩnh vực càng có nhiều đối thủ cạnh tranh cũng như

các sản phẩm có thể thay thế được thì đòi hỏi việc kinh doanh ngày càng phải nỗ lực hơn.Đặc biệt ngành ngân hàng là một trong những ngành có mức độ cạnh tranh cao và ngàycàng phức tạp Ngày nay số lượng các NHTM được cấp phép hoạt động ngày càng tăngcùng với sự phát triển mạnh mẽ của các tổ chức tài chính phi ngân hàng, trong khi đónguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư là có hạn Chính vì thế sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạtđộng huy động tiền gửi

* Yếu tố tiết kiệm của dân cư: cũng là một trong những nhân tố có ảnh hưởng rất lớn

đến hiệu quả huy động tiền gửi Chỉ khi người dân hiểu hết được lợi ích của huy động tiềngửi mang lại và có ý muốn tiết kiệm tiêu dùng ở hiện tại với kỳ vọng chi tiêu nhiều hơntrong tương lai thì họ mới tích cực đem tiền đi gửi ngân hàng dưới hình thức tiền gửi tiếtkiệm hoặc tiền gửi thanh toán, hoạt động huy động tiền gửi mới ngày càng phát triển

Trang 19

1.2.5.2 Nhân tố chủ quan

* Chiến lược kinh doanh của ngân hàng: muốn hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả,

bên cạnh sự tác động của những nhân tố bên ngoài thì những nhân tố xuất phát từ bêntrong cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến bản thân các NHTM Và chiến lược kinh doanhchính là một trong những nhân tố chủ quan quan trọng đó

Mỗi ngân hàng luôn cần phải hoạch định cho mình những chiến lược phù hợp với cácđiều kiện bên trong và bên ngoài ngân hàng Những chiến lược kinh doanh này sẽ có tínhquyết định tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng Chiến lược kinh doanh nào hiệu quảnghĩa là phù hợp với vị trí hiện tại của ngân hàng, phát huy được tối đa những điểmmạnh, giảm được tối thiểu những điểm yếu và nắm bắt đúng cơ hội thì sẽ giúp ngân hàngphát triển đi lên Ngược lại nếu không biết dự đoán chính xác được sự thay đổi của môitrường cùng với điều kiện, khả năng hiện tại thì sẽ làm cho ngân hàng không thể pháttriển được, thậm chí cũng có thể khiến một ngân hàng đang hoạt động tốt cũng sẽ đixuống

* Chất lượng các sản phẩm huy động vốn, dịch vụ do ngân hàng cung ứng và hệ thống mạng lưới: một chiến lược kinh doanh hiệu quả không thể thiếu sự có mặt của các

sản phẩm huy động vốn tốt và các dịch vụ ngân hàng thỏa mãn những yêu cầu của khách

hàng Do nhu cầu của khách hàng là khác nhau nên việc làm hài lòng, đáp ứng được

những nhu cầu đó sẽ góp phần làm gia tăng lượng khách hàng, từ đó hiệu quả huy độngvốn cũng sẽ được nâng cao Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì hiện tựơng cạnhtranh là tất yếu, ngân hàng nào càng đáp ứng được tối đa nhu cầu của khách hàng thì sẽcàng có ưu thế hơn

Bên cạnh đó thì việc không ngừng mở rộng quy mô, mà cụ thể hơn là mở rộng mạnglưới hoạt động cũng là một yêu cầu cấp bách đối với các NHTM Một khách hàng dù rấthài lòng với tiện ích mà các sản phẩm huy động vốn và dịch vụ ngân hàng đó cung cấp

Trang 20

nhưng nếu mạng lưới hoạt động quá ít thì họ sẽ đến giao dịch tại các ngân hàng khác gầnnhà hơn để đổi lấy sự thuận tiện trong đi lại.

* Chính sách lãi suất: điều đầu tiên mà bất kỳ tổ chức cá nhân nào khi đến giao dịch

với ngân hàng quan tâm đó là lãi suất Vì vậy chính sách lãi suất là một trong nhữngchính sách quan trọng nhất trong số các chính sách bổ trợ cho công tác huy động tiền gửicủa NHTM Ngân hàng sẽ sử dụng hệ thống lãi suất như là một công cụ để thu hút cácnguồn vốn vào, đặc biệt là các khoản tiền gửi Tuy nhiên không phải cứ ngân hàng nàođưa ra mức lãi suất cao cũng đều thu hút được nhiều nguồn tiền nhàn rỗi của dân cư màvấn đề là mức lãi suất đó phải phù hợp với tình hình thực tế Nghĩa là bên cạnh việc tuântheo các yêu cầu về lãi suất mà Ngân hàng Nhà nước quy định thì lãi suất đó phải cao hơn

tỷ lệ lạm phát ở thời điểm hiện tại và phải phù hợp với uy tín hiện có của ngân hàng

Đồng thời đối với bản thân ngân hàng thì việc đưa ra mức lãi suất huy động vốn quácao cũng đồng nghĩa với việc lãi suất cho vay ra bên ngoài phải cao thì ngân hàng kinhdoanh mới có lãi được Thế nhưng nếu cho vay với lãi suất quá cao thì ngân hàng sẽ đứngtrước nguy cơ mất dần khách hàng, nếu chỉ huy động vốn vào mà không cho vay ra đượcthì ngân hàng khó có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh được vì không có thu nhập

để bù đắp chi phí Do vậy cần phải luôn có chính sách lãi suất hợp lý để đưa ra mức lãisuất đủ cao nhằm thu hút khách hàng nhưng vẫn phải đảm bảo không quá cao để vẫn cóthể thu hút được khách hàng đi vay mà không làm giảm lợi nhuận của ngân hàng

* Đổi mới công nghệ( nhất là khâu thanh toán): cùng với việc đổi mới các hoạt

động ngân hàng, NHTM cũng luôn chú trọng đến việc đổi mới khoa học công nghệ hiệnđại, áp dụng vào công tác điều hành của mình, đặc biệt là khâu thanh toán Nếu biết ápdụng tốt khâu này thì sẽ khách hàng thuận tiện, vừa tiết kiệm thời gian vừa đảm bảo antoàn hơn trong giao dịch, đồng thời hạn chế tối đa việc lưu thông tiền mặt

Trang 21

* Hoạt động Marketing ngân hàng: đây là hoạt động rất quan trọng nhằm giúp cho

ngân hàng nắm bắt được yêu cầu, nguyện vọng của khách hàng Từ đó ngân hàng có thểđưa ra các chính sách huy động tiền gửi cho phù hợp, có như thế mới có thể làm cho sốlượng khách hàng ngày càng gia tăng hơn

* Thâm niên và uy tín ngân hàng: bên cạnh lãi suất thì uy tín của ngân hàng cũng là

điều mà khách hàng quan tâm nhất khi đến giao dịch vì khách hàng chỉ đến gửi tiền vàthực hiện các giao dịch khi thực sự tin tưởng vào ngân hàng đó Do đó một ngân hànglớn, có uy tín sẽ có lợi thế hơn trong các hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động huyđộng tiền gửi nói riêng Trên cơ sở đó mỗi ngân hàng đã và đang cố gắng tạo được hìnhảnh riêng của mình trong lòng khách hàng

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI BẰNG VNĐ TẠI NGÂN HÀNG TMCP KIÊN LONG- PGD GÒ VẤP

2.1 Khái quát về ngân hàng TMCP Kiên Long- PGD Gò Vấp

2.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và quá trình hoạt động của ngân hàng TMCP Kiên Long( gọi tắt là Kienlong Bank)

Tên đầy đủ: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Kiên Long

Tên giao dịch quốc tế: Kien Long Commercial Joint -Stock Bank

Mã giao dịch Swift: KIENLONG BANKKVNVX

Chủ tịch Hội đồng Quản Trị: Ông Trần Hưng Thịnh

Tổng Giám đốc: Ông Trương Hoàng Lương

Mạng lưới hoạt động: 82 Chi nhánh và Phòng Giao dịch trên toàn quốc

Website: www.kienlongbank.vn

Trang 22

Địa chỉ: 78- 80 Cách mạng tháng Tám, phường 6, Quận 3, TP.HCM.

Điện Thoại: 08 3933 3933 - Fax: 08.3930 9112

Ngân hàng TMCP Kiên Long chính thức đi vào hoạt động từ tháng 10/1995 tại KiênGiang theo thủ tục pháp lý như sau:

• Quyết định cấp phép hoạt động số 256/QĐ NH5 do thống đốc NHNN cấp ngày18/09/1995

• Quyết định chuẩn y hội đồng quản trị, ban kiểm soát và ban điều hành số NH5 ngày 18/09/1995 do thống đốc NHNN ký

266/QĐ-Qua 15 năm hoạt động, Kienlong Bank trở thành một ngân hàng thương mại cổ phầnphát triển mạnh, bền vững và tạo được niềm tin của khách hàng Từ một ngân hàng hoạtđộng tín dụng tại các vùng nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long với số vốn điều lệ banđầu 1,2 tỷ đồng, đến nay vốn điều lệ của Ngân hàng đã lên 3.000 tỷ đồng Hiện tại,Kienlong Bank đã có mạng lưới hoạt động tại các vùng trọng điểm trong cả nước với 82Chi nhánh và Phòng Giao dịch Phấn đấu đến năm 2015 sẽ có 150 Chi nhánh và PhòngGiao Dịch trong cả nước

2.1.1.1 GIAI ĐOẠN 1995-2000

Đây là giai đoạn hình thành Ngân hàng TMCP Kiên Long, giai đoạn này chủ yếu đầu

tư cho vay ở địa bàn nông thôn từ nguồn tiền mặt huy động từ dân cư và các tổ chức kinh

tế Nâng vốn điều lệ từ 1,2 tỷ đồng lên 4,5 tỷ đồng Từng bước mở rộng mạng lưới qua

Trang 23

việc thành lập thêm 03 Phòng giao dịch gồm: Số 01, Số 02, Số 03 Bên cạnh đó, Ngânhàng Kiên Long đã chạy chương trình phần mềm Kế toán - truyền số liệu của Ngân hàngSài Gòn Thương Tín tại TP.HCM Cũng kể từ đó, Kiên Long là Ngân hàng Cổ phần đầutiên tại Kiên Giang thực hiện truyền số liệu Kế toán qua mạng điện thoại từ các đơn vị vềHội sở, giúp cho Ban Lãnh đạo và Phòng Kế toán kiểm tra giám sát hàng ngày hoạt độngcủa các đơn vị

2.1.1.2 GIAI ĐOẠN 2000 – 2005:

Ngân hàng TMCP Kiên Long đã xây dựng Hội sở khang trang đặt tại Thị xã Rạch Giá

là trung tâm quản lý toàn Ngân hàng, các đơn vị trực thuộc gồm 04 Chi nhánh ( 2 chinhánh cấp 1 gồm: Rạch Giá, Phú Quốc; 2 chi nhánh cấp 2 gồm: Phú Quốc, Tân Hiệp) và

03 phòng giao dịch hoạt động trên tỉnh Kiên Giang

• Khi mới thành lập Ngân hàng chỉ có hơn 10 nhân viên, đến tháng 12/2004 lực lượngnhân sự Kiên Long đã có trên 200 nhân sự

• Từ khởi đầu(1995) thành lập với số vốn điều lệ 1,2 tỷ đồng đến 31/12/2005 vốn điều lệđạt 28 tỷ 039 triệu đồng, tăng trên 23 lần so với năm 1995

• Đến 31/12/2005 số dư nợ đã đạt đến 331tỷ 500 triệu đồng, tăng hơn 107 lần so với nămđầu thành lập Với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trên 42% Lợi nhuận đã nânglên 14 tỷ 164 triệu đồng tăng hơn 314 lần, nâng tốc độ tăng trưởng bình quân hàng nămđạt trên 98%

Cũng trong giai đoạn này, Kienlong Bank đã hoàn thiện và phát triển các dịch vụ như:thanh toán thẻ, séc du lịch, dịch vụ chuyên tiền nhanh trong và ngoài nước, thu đổi ngoại

tệ và các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt khác thông qua tài khoản củakhách hàng, với tốc tăng trưởng bình quân hàng năm trên 40%

Trang 24

2.1.1.3 GIAI ĐOẠN 2005 ĐẾN NAY:

Từ việc Ban lãnh đạo và toàn thể nhân viên đã nỗ lực không ngừng để đưa ngân hàngngày càng phát triển Kiênlong Bank đã có những bứt phá ngoạn mục trong việc mở rộngmạng lưới, đẩy mạnh đầu tư hiện đại hóa công nghệ, phát triển đa dạng hóa các sản phẩmdịch vụ ngân hàng hiện đại, nhằm đáp ứng nhu cầu khả năng thanh toán của nền kinh tế

Về nhân sự và đào tạo: Trong giai đoạn này, do mạng lưới ngày càng mở rộng, nên

nguồn nhân lực của Kienlong Bank đã tăng lên cả chất lượng và số lượng Đến cuối năm

2010, tổng số nhân viên của Kienlong Bank là 1.963 người trong đó có 816 cộng tác viên,tăng 200 lần so với giai đoạn đầu thành lập Trong đó số CBNV có trình độ đại học vàtrên đại học chiếm gần 70%, còn lại là đội ngũ cộng tác viên

Về công nghệ thông tin: chương trình quản lý tác nghiệp ngân hàng Goldriver được

vận hành ổn định đáp ứng nhu cầu hiện tại và mở rộng quy mô hoạt động của KiênlongBank.Bên cạnh đó để tiến tới mục tiêu Kiênlong Bank trở thành ngân hàng hiện đại,Kiênlong Bank đã thương thảo và kí kết hợp đồng mua và triển khai hệ thống Corebanking TCBS ( sản phẩm của tập đoàn OSI- Hoa Kì), một phần mềm quản lí được nhiềungân hàng hàng đầu Việt Nam sử dụng như Ngân hàng ACB, Ngân hàng Phương Nam…

và đã chính thức được Kiênlong Bank đưa vào sử dụng vào cuối quý III/ 2011

Về phát triển mạng lưới: đặc biệt sau khi chuyển đổi lên ngân hàng đô thị( từ

30/06/2007 đến 31/07/2010), hiện nay Kiênlong Bank đã nâng tổng số chi nhánh lên 19cùng với 63 phòng giao dịch, phủ mạng lưới hoạt động 18 tỉnh thành trên toàn quốc Đâychính là cơ sở để phát triển các sản phẩm mới, tiếp cận với những phân khúc thị trườngđầy tiềm năng mà trước đây Ngân hàng TMCP Kiên Long chưa vươn tới được

Trang 25

Về phát triển thương hiệu: ký hợp đồng xây dựng và phát triển thương hiệu với Công

ty MASSO CONSULTING để tư vấn và xây dựng thương hiệu Kienlong Bank Đồngthời quảng bá thương hiệu trên các phương tiện truyền thông, thực hiện các chương trìnhquảng cáo, khuyến mãi, hoạt động xã hội và tham gia tài trợ các sự kiện văn hóa thể dục

thể thao …và xây dựng mới Website Kienlong Bank

Về liên kết với các đối tác: Ngân hàng TMCP Kiên Long đã liên kết với Viện Nghiên

cứu Kinh tế Phát triển – Đại học Kinh tế TP.HCM đào tạo các lớp: lớp Giám đốc điềuhành (CEO), lớp Văn hoá Doanh nghiệp nhằm trang bị đầy - Ký kết hợp tác chiến lượcvới ba đối tác là Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB), Tổng công ty Du lịch Sài Gòn(Saigontourist), Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh nhằm nâng cao năng lực tàichính, chuyển giao công nghệ và đào tạo

Về xây dựng cơ sở vật chất: tính đến ngày 31/12/2010, tổng tài sản đạt gần 13.000 tỷ

đồng,; vốn điều lệ từ 1,2 tỷ đồng năm 1995 lên 3.000 tỷ đồng tăng 2500 lần so với thờigian đầu thành lập; dư nợ cho vay 7.008 tỷ đồng; tổng huy động vốn 9.217 tỷ đồng, tăng3.907 lần so với năm 1995; lợi nhuận trước thuế tăng trưởng bình quân 172,88%/năm.Các hoạt động kinh doanh dịch vụ khác như: doanh số chuyển tiền nhanh, kinh doanhngoại tệ, thanh toán quốc tế đều tăng trưởng và ngày càng thu hút thêm khách hàng sửdụng dịch vụ Cụ thể trong năm 2009, lợi nhuận từ dịch vụ này chiếm 8% lợi nhuận trướcthuế Ngoài ra, Ngân hàng vẫn đảm bảo chất lượng hoạt động nhờ việc chú trọng quản trịrủi ro, duy trì cơ cấu tín dụng an toàn và hiệu quả, tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức1,2%, thấp hơn mức cho phép của Ngân hàng Nhà nước

Về phát triển sản phẩm, dịch vụ: công tác triển khai sản phẩm dịch vụ được

Kiênlong Bank chú trọng, tập trung thực hiện nhằm thu hút khách hàng mở rộng thị phần

Ngày đăng: 26/03/2015, 17:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Số liệu hoạt động huy động vốn tại PGD Gò Vấp và CNSG - Hoạt động huy động tiền gửi bằng VNĐ tại ngân hàng TMCP kiên long  PGD gò vấp
Bảng 2.1 Số liệu hoạt động huy động vốn tại PGD Gò Vấp và CNSG (Trang 29)
Bảng 2.3: Bảng tổng hợp tiền gửi thanh toán tại PGD Gò Vấp - Hoạt động huy động tiền gửi bằng VNĐ tại ngân hàng TMCP kiên long  PGD gò vấp
Bảng 2.3 Bảng tổng hợp tiền gửi thanh toán tại PGD Gò Vấp (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w