1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động huy động vốn tại NH kiên long – chi nhánh sài gòn

46 265 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 799,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG ICƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát chung về NHTM: NHTM ra đời và phát triển gắn liền với các hoạt động sản suất kinh doanh của nhân

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đặt ra cho đến năm 2020 là phải hoàn thành nhiệm vụ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đưa Việt Nam từ một nước nông nghiệp trở thành một nước công nghiệp phát triển

Để thực hiện được mục tiêu này thì vốn là yếu tố rất quan trọng, vốn là tiền đề cho sự tăng trưởng kinh tế Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu phát triển và cạnh tranh, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đòi hỏi phải được mở rộng, phát triển với quy mô ngày càng lớn, đổi mới dây chuyền công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch

vụ, mới có thể vươn lên cạnh tranh với hàng hóa, dịch vụ của các nước trong khu vực và trên thế giới Bởi vậy, nhu cầu vốn đầu tư cho nền kinh tế ngày càng tăng

Vì thế, Ngân hàng thương mại chính là nơi ta nghĩ đến đầu tiên khi cần vốn

Với tư cách là tổ chức trung gian tài chính NHTM tập trung mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế và phân phối chúng cho các nhu cầu đầu tư, sản xuất kinh doanh và các nhu cầu khác của các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế

Như vậy, ta thấy rằng hoạt động huy động vốn là vấn đề cốt lõi trong quá trình hoạt động của NH Hiện nay, sự phát triển mạnh của nền kinh tế đã làm cho nhu cầu

về vốn ngày càng tăng Do vậy, trong thời gian tới để phát huy hơn nữa vai trò của mình và đáp ứng cho sự phát triển của nền kinh tế NH cần tìm ra những giải pháp HĐV tốt hơn, hoàn thiện hơn đáp ứng để đảm bảo được uy tín và vai trò của mình

Nhận thức được tầm quan trọng đó, với những kiến thức đã được học ở trường, cùng với những kiến thức thu nhận được trong thời gian thực tập, em đã quyết định thực hiện đề tài: “Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động huy động vốn tại

NH Kiên Long – Chi nhánh Sài Gòn” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp cho mình

Trang 2

Với đề tài nghiên cứu như trên thì phạm vi nghiên cứu của em là:

- Mục tiêu nghiên cứu:

+ Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về nghiệp vụ HĐV

+ Phân tích thực trạng công tác HĐV tại NH Kiên Long - Chi nhánh Sài Gòn

và có định hướng cho năm tới

+ Nêu lên những kiến nghị có tính khả thi nhằm nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế của các NHTM nói chung và NH Kiên Long

- Chi nhánh Sài Gòn nói riêng

- Đối tượng nghiên cứu: Tìm hiểu và phân tích điểm mạnh và yếu của hoạt động HĐV tại Chi nhánh Sài Gòn trong giai đoạn 2009 - 2010, từ đó đưa ra những kiến nghị khắc phục tồn tại và nâng cao hiệu quả hoạt động HĐV tại Chi nhánh

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Không gian: Trong quá trình thực hiện chuyên đề thực tập này, em được thực tập tại Phòng kế toán – Ngân quỹ của NH Kiên Long - Chi nhánh Sài Gòn – PGD Đầm Sen Vì PGD Đầm Sen số liệu còn hạn chế nên em xin phân tích số liệu tại Chi nhánh Sài Gòn

+Thời gian: Số liệu sử dụng trong chuyên đề này được tham khảo trong Báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2010 và nhiệm vụ kế hoạch năm 2011 của Chi nhánh Sài Gòn

Chuyên đề được trình bày theo 4 chương với nội dung cơ bản như sau:

Chương I: Cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn của NHTM

Chương II: Giới thiệu về NH Kiên Long – Chi nhánh Sài Gòn

Chương III: Thực trạng huy động vốn tại NH Kiên Long – Chi nhánh Sài Gòn Chương IV: Đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả HĐV tại NH Kiên Long – Chi nhánh Sài Gòn

Trang 3

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Khái quát chung về NHTM:

NHTM ra đời và phát triển gắn liền với các hoạt động sản suất kinh doanh của

nhân dân và nền kinh tế NHTM được coi như một định chế tài chính quen thuộc trong đời sống kinh tế Mọi công dân đều chịu tác động của NH, dù họ chỉ là khách hàng gửi tiền, một người vay hay đơn giản là người đang làm việc cho một DN có vay vốn và sử dụng các dịch vụ NH

NHTM là một sản phẩm độc đáo của nền sản xuất hàng hóa trong kinh tế thị trường, một tổ chức có tầm quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế Bản chất, chức năng, các hoạt động nghiệp vụ của NH hầu như giống nhau, song, quan niệm về NH lại không đồng nhất giữa các nước trên thế giới

1.1.1 NHTM và vai trò của NHTM đối với sự phát triển của nền kinh tế:

Để phân loại các NHTM ta có thể dựa trên các tiêu thức sau:

 Căn cứ vào hình thức sở hữu: các NHTM được phân thành:

- NHTM quốc doanh: là NHTM do NN đầu tư vốn, thành lập và tổ chức hoạt động kinh doanh, góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế của NN Hiện nay có các NHTM quốc doanh sau: NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), NH Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và NH Phát triển Nhà Đồng bằng sông Cửu Long (MHB) Đây là các NH giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống NH nước ta Các NH này được NN cấp vốn và hoạt động chịu sự quản lý của NN Ngoài việc tiến hành kinh doanh bình thường: HĐV, cho vay và các dịch vụ khác, NH còn phải thực hiện các nhiệm vụ khi

NN giao cho

Trang 4

- NHTM cổ phần: là NHTM được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó có các DN NN, TCTD, tổ chức khác và cá nhân cùng góp vốn theo quy định của NHNN Hiện nay, có 39 NHTM cổ phần đang hoạt động.

- NH liên doanh: là NH được thành lập bằng vốn góp của bên Việt Nam và bên nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh NH liên doanh là một pháp nhân Việt Nam, hoạt động theo giấy phép thành lập và theo các quy định liên quan của pháp luật Hiện nay, có 5 NH liên doanh tại Việt Nam: IndoVinaBank, Vid Public Bank, VinaShinhan Bank, Vina Siam Bank, Vina Russia Bank

- Chi nhánh NH nước ngoài: là đơn vị phụ thuộc của NHNNg, được NHNNg bảo đảm chịu trách nhiệm đối với mọi nghĩa vụ và cam kết của chi nhánh tại Việt Nam Chi nhánh NHNNg có quyền và nghĩa vụ do pháp luật Việt Nam quy định, hoạt động theo giấy phép mở chi nhánh và các quy định liên quan của pháp luật Việt Nam Hiện nay, có 45 chi nhánh NHNNg tại Việt Nam: Deutsche Bank Việt Nam, Citibank Việt Nam, Tokyo-Mitsubishi UFJ, Taipei Fubon (Đài Loan), Commonwealth Bank of Australia, Industrial Bank

of Korea,

- NHTM 100% vốn nước ngoài: là NH của người nước ngoài được thành lập

và hoạt động tại Việt Nam Có tư cách pháp nhân đầy đủ và hoạt động tuân thủ theo hệ thống luật pháp Việt Nam Đến 6/2009, có 5 NH 100% vốn NNg tại Việt Nam: HSBC, Standard Charterd Bank, ANZ, Shinhan Việt Nam, Hong Leong Việt Nam

- Ngoài ra, ở Việt Nam có 2 NH của Chính phủ hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận: NH Phát triển Việt Nam (VDB), NH Chính sách XH (Social Policy Bank)

 Căn cứ vào chiến lược kinh doanh:

- NH chuyên doanh và NH đa năng:

+ NH chuyên doanh: là NH hoạt động theo hướng chuyên doanh, thường chỉ cung cấp một số dịch vụ NH nhất định

+ NH đa năng: là NH cung cấp mọi dịch vụ NH Đây là xu hướng chủ yếu hiện nay của các NHTM

- NH bán buôn và NH bán lẻ:

+ NH bán buôn: là loại hình NH mà hoạt động của nó chủ yếu thực hiện với các KH lớn Số lượng các giao dịch của NH bán buôn nhỏ, song, về giá trị một dịch vụ lại lớn

Trang 5

+ NH bán lẻ: là loại hình NH mà hoạt động chủ yếu của nó thực hiện đối với các KH là các DN vừa và nhỏ, KH cá nhân Số lượng các giao dịch của NH bán

lẻ lớn, song, giá trị một giao dịch thường nhỏ

1.1.1.2 Vai trò của NHTM đối với sự phát triển của nền kinh tế:

a) NH là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế:

Khi nền sản xuất hàng hóa phát triển, lưu thông hàng hóa ngày càng mở rộng, trong xã hội người thì có vốn nhàn rỗi, người thì cần vốn để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Để giải quyết vấn đề này, NHTM đã ra đời nhằm giúp cho người cần vốn có được vốn và người có vốn tạm thời nhàn rỗi có thể kiếm được lãi

từ nguồn vốn đó Các NH đã đứng ra HĐV tạm thời nhàn rỗi từ các DN, các cá nhân, sau đó, cung ứng lại cho nơi cần vốn để tiến hành tái sản xuất, cải tiến trang thiết bị, tạo ra sản phẩm tốt hơn, có lợi nhuận cao hơn Như vậy, chỉ có NH – một tổ chức trung gian tài chính mới có thể đứng ra điều hòa, phân phối vốn giúp cho tất

cả các thành phần kinh tế cùng nhau phát triển nhịp nhàng cân đối Có thể nói NHTM ra đời là tất yếu của nền sản xuất hàng hóa

b) NH là cầu nối giữa DN và thị trường:

Trong nền kinh tế thị trường, các DN không phải là cứ sản xuất là bán được sản phẩm và hái ra tiền mà họ phải xem xét đến giá thành và thị hiếu của xã hội (mẫu

mã, chất lượng ) Muốn như vậy DN phải đầu tư dây chuyền công nghệ hiện đại, năng suất cao, đào tạo đội ngũ khoa học kỹ thuật vững tay nghề Những hoạt động này đòi hỏi DN phải có một lượng vốn đầu tư khá lớn Muốn vậy họ phải tìm đến

NH vì chỉ có NH mới đáp ứng được nhu cầu về nguồn vốn cho họ Như vậy, NH chính là cầu nối giữa DN và thị trường

c) NHTM là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của NN:

Trong nền kinh tế thị trường, NHTM với tư cách là trung tâm tiền tệ của toàn bộ nền kinh tế, đảm bảo sự phát triển hài hòa cho tất cả các thành phần kinh tế khi tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh Có thể nói mỗi sự dao động của NH đều gây ảnh hưởng ít nhiều đến các thành phần kinh tế khác Do vậy, nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTM là một trong những công cụ tốt nhất mà NN dùng để điều tiết

vĩ mô nền kinh tế Mặt khác, với việc cho các thành phần trong nền kinh tế vay vốn, NHTM đã thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô nền kinh tế

d) NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế:

Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, việc trao đổi, lưu thông hàng hóa giữa các quốc gia là điều tất yếu Chính lẽ đó, NHTM với những nghiệp vụ kinh doanh như: nhận tiền gửi, cho vay, bảo lãnh, thanh toán quốc tế đã giúp hoạt động tài chính trong nước nối kết với nền tài chính quốc tế

Trang 6

1.1.2 Các hoạt động chủ yếu của NHTM:

1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn:

NHTM được HĐV dưới các hình thức sau:

- Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các TCTD khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác

- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để HĐV của

tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

- Vay vốn của các TCTD khác hoạt động tại Việt Nam và của TCTD NNg

 Chiết khấu: NHTM được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thương phiếu

và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các TCTD khác

 Cho thuê tài chính: NHTM được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính thực hiện theo Nghị định của Chính phủ

về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính

Trang 7

1.1.2.3 Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ:

• Dịch vụ thanh toán: Có thể nói NH là thủ quỹ của nền kinh tế Các DN, tổ chức kinh tế sẽ không phải mất thời gian sau khi mua hoặc bán hàng hóa và

DV bởi việc thanh toán sẽ được NH thực hiện một cách nhanh chóng và chính xác

• Hoạt động ngân quỹ: hoạt động này phản ánh các khoản vốn của NHTM được dùng vào với mục đích nhằm bảo đảm an toàn về khả năng thanh toán hiện thời cũng như khả năng thanh toán nhanh của NHTM và thực hiện quy định về dự trữ bắt buộc do NHNN đề ra

1.1.2.4 Các hoạt động khác:

Các hoạt động khác như góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối, kinh doanh vàng, kinh doanh bất động sản, kinh doanh DV và bảo hiểm, nghiệp vụ ủy thác thác và đại lý, DV tư vấn và các dịch vụ khác liên quan đến hoạt động NH

1.2 Vai trò của vốn đối với NHTM:

1.2.1 Khái niệm về vốn của NHTM :

NHTM là một tổ chức trung gian tài chính với các chức năng cơ bản là: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền Để thực hiện được các chức năng này và đi vào hoạt động một cách có hiệu quả và có lợi nhuận thì đòi hỏi NHTM phải có một lượng vốn hoạt động nhất định

Các nhà kinh tế đã đưa ra khái niệm về vốn của NHTM như sau: “Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do bản thân NHTM tạo lập hoặc huy động được dùng

để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các DV kinh doanh khác.”

Khái niệm trên đã nói đầy đủ những thành phần tạo nên vốn của NHTM Về thực chất vốn của NHTM là bao gồm các nguồn tiền tệ của chính bản thân NH và của những người có vốn tạm thời nhàn rỗi Họ chuyển tiền vào NH với các mục đích khác nhau: hoặc lấy lãi, hoặc nhờ thu, nhờ chi hay là dùng các sản phẩm DV khác của NH Đây chính là họ chuyển quyền sử dụng vốn cho NH và số tiền mà NH phải trả hay làm các DV chính là các giá của quyền sử dụng các giá trị tiền tệ đó Nhờ việc có được nguồn vốn, các NH có thể tiến hành kinh doanh: cho vay, bảo lãnh, cho thuê Nói chung, vốn của NH chi phối toàn bộ và quyết định đối với việc thực hiện các chức năng của NHTM

Trang 8

1.2.2 Cơ cấu vốn của NHTM :

mô và hoạt động của nó Tùy theo loại hình NH mà vốn điều lệ được hình thành có thể khác nhau Vốn điều lệ của NH có nguồn gốc hình thành do ngân sách NN cấp phát ban đầu nếu là NHTM quốc doanh, còn nếu là NHTM cổ phần thì sẽ do các cổ đông đóng góp

Các quỹ dự trữ của NH: được coi là nguồn vốn tự có và được bổ sung hằng năm

từ lợi nhuận ròng của NH Theo khoản 1 điều 87 luật các TCTD thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1997 quy định về việc trích lập các quỹ từ lợi nhuận, các NHTM phải tiến hành trích lập các quỹ:

- Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: được trích lập hằng năm theo tỷ lệ 5% trên tổng lợi nhuận sau thuế hằng năm với mức tối đa do NHNN quy định

- Quỹ dự phòng bù đắp rủi ro: để dự phòng và bù đắp thiệt hại có nguy cơ ăn mòn vốn do những rủi ro trong hoạt động kinh doanh NH, các NH được trích

từ lợi nhuận ròng hằng năm theo tỹ lệ 10% cho tới khi bằng 100% vốn điều lệ

Hai quỹ này bắt buộc phải trích lập tại các TCTD, không được dùng các quỹ này

để trả lợi tức cổ phần hoặc chuyển ra nước ngoài

Mặt khác, với tư cách là một đơn vị kinh doanh, NH còn tiến hành trích lập các quỹ từ lợi nhuận thu được:

- Quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ NH

- Quỹ phúc lợi, khen thưởng

Trang 9

Các quỹ này tỷ lệ trích lập theo quy định của đại hội cổ đông hoặc theo chỉ đạo của NN.

Vốn riêng của NH được dùng để mua sắm tài sản cố định, các phương tiện cần thiết cho hoạt động kinh doanh NH, nhưng không quá 50% vốn tự có, để tài trợ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ NH và được sử dụng để hùn vốn liên doanh, mua cổ phần Vốn tự có và các quỹ so với tổng số vốn hoạt động của NH chỉ chiếm một phần nhỏ

1.2.2.2 Vốn huy động:

Các khoản tiền gửi loại này không thuộc sở hữu của NH nhưng NH được quyền

sử dụng đối với những khoản tiền gửi tạm thời nhàn rỗi này Đây là khoản vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn Các hoạt động sử dụng vốn tồn tại và phát triển được là nhờ nguồn vốn huy động này

a) Vốn tiền gửi của KH:

Đây là khoản vốn hoạt động quan trọng nhất của NH, chiếm tỷ trọng cao nhất trong nguồn vốn Tuy nhiên, một bộ phận đáng kể trong vốn tiền gửi này luôn luôn biến động Do vậy, NH luôn phải dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả Dựa vào yếu tố thời gian và tính chất của những khoản tiền gửi, tiền gửi của KH có hai loại: Tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn

- Tiền gửi không kỳ hạn:

Là loại tiền gửi có thể rút ra theo yêu cầu của người gửi tiền mà không tôn trọng một kỳ hạn ký thác nào Đây là khoản tiền gửi thường xuyên biến động, NH không thể định ra kế hoạch sử dụng trước được mà chỉ dựa vào kinh nghiệm quản lý, NH

có thể tận dụng ở một mức độ cho phép Mục đích của người gửi tiền là sử dụng những dịch vụ trung gian thanh toán của NHTM như giữ hộ, thu chi hộ, NH không phải trả lãi hoặc có trả lãi nhưng với một mức lãi suất rất thấp chỉ mang tính chất tượng trưng Kinh nghiệm trong quản lý NH cho thấy mặc dù tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của từng KH có biến động do KH thường xuyên có những khoản thu và những khoản chi, nhưng trên tài khoản tổng hợp luôn có số “dư có” bình quân tương đối ổn định Vì vậy, NH có thể động viên những khoản vốn tạm thời nhàn rỗi trên các tài khoản không kỳ hạn làm nguồn vốn kinh doanh

- Tiền gửi có kỳ hạn:

Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi tiền chỉ được rút ra khi đến thời hạn quy định Đây là bộ phận tiền huy động mang tính chất ổn định và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tiền huy động từ KH NH sử dụng chủ yếu để cho vay có kỳ hạn Chính điểm thuận lợi này mà NH phải trả lãi cao vì mục đích của người gửi tiền là lợi nhuận

Trang 10

sẽ được NH thanh toán khi tới hạn ghi trên mặt kỳ phiếu Ngoài ra, NHTM có thể vay ở NHNN dưới hình thức tái chiết khấu hoặc tái cầm cố các thương phiếu, chứng

từ có giá Vay của các NHTM, các TCTD khác thông qua thị trường tiền tệ liên NH NHTM cũng có thể vay ở NHNNg Các NHTM đi vay khi:

- NH vay để đáp ứng nhu cầu khả năng thanh khoản của NH Vì hoạt động

chủ yếu và thường xuyên của NH là nhận tiền gửi và với trách nhiệm hoàn trả cho KH khi KH có nhu cầu rút tiền để sử dụng Do vậy, có những trường hợp số tiền dự trữ và số tiền và NH nhận được trước đó trong ngày ít hơn số tiền mà KH rút ra thì NH sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán tiền cho KH, nghĩa là NH thiếu tiền trả cho KH

- NH vay hộ cho KH Vì hoạt động cơ bản của NH là tài trợ cho nền kinh tế

nên khi có KH có nhu cầu vay vốn NH và đảm bảo các nhu cầu mà NH đề ra thì NH sẽ cho vay Tuy nhiên, với những khoản vay với số lượng lớn, thời gian dài mà NH lại không muốn dùng toàn bộ số tiền mình có để đầu tư cho

dự án này (vì rủi ro cao) vì như thế sẽ mất đi những cơ hội đầu tư khác Vì vậy, NH sẽ thay mặt KH phát hành trái phiếu nhằm thu gom tiền trong nền kinh tế để phục vụ cho dự án Người ta chỉ phát hành trái phiếu vừa đủ số tiền mà dự án cần dùng và trong một thời hạn bằng thời gian tồn tại của dự án

- NH vay để cho vay Hầu như toàn bộ số tiền trong lưu thông đã trở thành tiền

gửi tại các NH, nghĩa là các NH chia nhau nắm giữ lượng tiền trong lưu thông Để tăng lượng tiền gửi của mình, các NH thường tăng lãi suất để thu hút các khoản tiền gửi ở các NH khác chảy về Nhưng thực tế khi một NH tăng lãi suất tiền gửi, để tranh sự chảy vốn các NH khác sẽ đồng loạt tăng lãi suất lên làm chi phí NH tăng lên mà lượng tiền gửi lại thay đổi không đáng

kể Do vậy, khi thiếu vốn để tài trợ cho các dự án mà NH cho là có hiệu quả thì NH sẽ thực hiện chính sách đi vay Do tính chất hoạt động không đồng đều giữa các NH về HĐV và sử dụng vốn nên những NH thiếu vốn có thể vay vốn ở những NH thừa vốn chưa sử dụng hết Mặt khác, khi NH dự đoán được sự gia tăng về nhu cầu tín dụng trong tương lai mà nguồn vốn thì có xu hướng tăng không đáp ứng đủ nhu cầu vốn sử dụng trong thời kỳ tới thì NH cũng sẽ đi vay

Trang 11

- NH vay để giảm chi phí nguồn tiền cho giai đoạn sau Vào cuối kỳ hạch

toán, nếu các chủ NH dự tính được thu nhập của kỳ đó lớn nghĩa là kỳ đó họ phải chịu thuế nhiều Nếu họ cũng dự tính được kỳ sau họ sẽ có những khoản chi phí lớn thì họ có thể phát hành kỳ phiếu ngắn hạn trả lãi trước nhằm tăng chi phí cho kỳ này và giảm chi phí cho kỳ sau

c) Vốn tiếp nhận:

Ngày nay, hệ thống NHTM được tổ chức theo mô hình của tổng công ty và các công ty con gồm NH mẹ và hệ thống các chi nhánh NH trực thuộc Có một phương thức HĐV được sử dụng rất hiệu quả hiện nay là chu chuyển nguồn vốn điều hòa

Do tình hình kinh tế xã hội của các vùng hoạt động của NH chi nhánh là khác nhau Những chi nhánh NH mà hoạt động sử dụng vốn vượt quá khả năng HĐV thì đầu

kỳ lập kế hoạch lên NH mẹ và xin được nhận một lượng vốn điều hòa cần thiết cho hoạt động sử dụng vốn của mình Những NH mà khả năng HĐV vượt quá khả năng

sử dụng vốn thì đầu kỳ cũng lập kế hoạch sẽ điều chuyển một lượng vốn về NH mẹ

để được hưởng một lãi suất điều hòa Như vậy, NH mẹ chịu trách nhiệm điều chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu của các chi nhánh NH trong nền kinh tế Chi phí nhận nguồn vốn điều hòa thấp hơn chi phí nguồn vốn huy dộng nhưng tại sao các NH đều nhận nguồn vốn điều hòa sau khi đã lập kế hoạch về lượng vốn huy động được trong kỳ sau, bởi vì tính độc lập của nó với NH mẹ Đây là một phương thức HĐV rât hiệu quả được áp dụng nhiều trên thế giới hiện nay

d) Vốn ủy thác đầu tư:

Một số NH còn thực hiện nghiệp vụ NH đại lý Khi đó trong cơ cấu vốn của NH còn có thêm khoản mục vốn ủy thác đầu tư Khoản vốn này hình thành chủ yếu là

do các tổ chức tài chính NNg, trong nước ủy thác cho NH một khoản tiền để NH thực hiện cho vay các dự án của mình Có thể là các khoản vay của Chỉnh phủ được

ủy thác

Trên là cơ cấu vốn chính của các NHTM Vốn huy động là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của NH, quyết định đến sự tồn tại và phát triển cho hoạt động sử dụng vốn Tuy nhiên, các NHTM phải tuân thủ theo luật định về mức vốn huy động tối đa không vượt quá hai mươi lần vốn thuộc sở hữu của NH và phải chấp hành tốt các quy định về tỷ lệ dự trữ

1.2.3 Vai trò của hoạt động HĐV của NHTM :

Như mọi đơn vị kinh doanh khác, muốn hoạt động kinh doanh được tiến hành cần phải có tư liệu sản xuất NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ nên phải có tiền mới có thể hoạt động kinh doanh được Hoạt động tìm kiếm tư liệu sản xuất của NHTM là hoạt động HĐV Như vậy, hoạt động HĐV đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của các NHTM

Thứ nhất, vốn là cơ sở để NH tiến hành hoạt động kinh doanh Đối với bất kỳ DN

nào, muốn hoạt động kinh doanh được thì phải có vốn, vì vốn phản ánh năng lực

Trang 12

kinh doanh Điều này thể hiện ở vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay của NH Nếu vốn tự có giữ vai trò quan trọng trong việc thành lập thì sau khi đi vào hoạt động, vốn huy động quyết định tới quy mô đầu tư, cho vay nên dẽ ảnh hưởng tới thu nhập của NH.

Vậy, nếu NH không có vốn thì không thể tiến hành hoạt động kinh doanh Bởi vì, với đặc trưng của hoạt động NH, vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh mà còn

là đối tượng kinh doanh chủ yếu Trên thực tế, NH nào có khối lượng vốn lớn hơn thì NH đó có thế mạnh cạnh tranh trong kinh doanh

Thứ hai, vốn ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô các hoạt động của NHTM.

Vốn của NH có ảnh hưởng lớn đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng, hoạt động bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ hay trong hoạt động thanh toán của các NHTM Thông thường so với các NH nhỏ, các NH lớn có những khoản mục về đầu tư cho vay đa dạng hơn, phạm vi và khối lượng cho vay của các NH này cũng lớn hơn Trong khi các NH lớn hoạt động trên phạm vi toàn thế giới thì các NH nhỏ lại giới hạn phạm vi hoạt động chủ yếu trong một khu vực nhỏ, trong nước Nếu khả năng

về vốn của NH đó dồi dào thì NH có thể mở rộng được các hoạt động của mình và đáp ứng được nhu cầu về vốn của KH về cho vay, bảo lãnh, đầu tư

Ví dụ như:

- Đầu tư cổ phần hoặc liên doanh không quá 50% vốn tự có

- Cho vay đối tượng ưu đãi không quá 5% vốn tự có

- Cho vay tối đa một KH không quá 15% vốn tự có

- Kinh doanh ngoại hối không quá 30 lần vốn tự có

Bên cạnh vốn lớn hay nhỏ thì chúng ta không thể coi nhẹ vai trò của tính ổn định của vốn Một NH có lượng vốn ổn định thì sẽ dễ dàng trong việc hoạch định việc cung ứng đầu tư cho vay NH đó có thể dự kiến tương đối chính xác lượng vốn cung ứng, cho nên sẽ dự kiến được lợi nhuận trong tương lai khá chính xác

Thứ ba, vốn giúp NH chủ động trong kinh doanh.

NH không thể hoạt động kinh doanh tốt nếu các hoạt động nghiệp vụ hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đi vay: vay để cho vay, vay để đầu tư, vay để thanh toán Bởi

vì, khi đi vay để thực hiện các hoạt động của mình, NH sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào đối tượng cho vay, về thời hạn vay, số lượng vay và chi phí vay cao Do đó, có thể

NH sẽ bỏ lỡ cơ hội trong kinh doanh Ngược lại, NH có lượng vốn huy động dồi dào sẽ hoàn toàn chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình, không phụ thuộc vào ai, không bị bỏ lỡ cơ hội kinh doanh Nguồn vốn huy động lớn cũng làm tăng khả năng hoạt động của NH như chủ động đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro và tăng thu nhập, đạt mục tiêu cuối cùng của NH là an toàn và sinh lợi

Trang 13

Thứ tư, vốn giúp NH quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của mình

trên thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động đòi hỏi các NH phải coi uy tín của mình trên thị trường là điều quan trọng Uy tín

đó trước hết được thể hiện ở khả năng thanh toán cho KH Khả năng thanh toán của

NH càng cao thì vốn khả dụng càng lớn Mặt khác, uy tín của NH còn thể hiện ở khả năng cho vay và đầu tư của NH (NH chỉ có thể cho vay những dự án lớn, thời hạn dài nếu như NH có nguồn vốn lớn) Điều này phụ thuộc vào hoạt động HĐV của NH với tiềm năng lớn và khả năng HĐV lớn, NH có thể hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng tăng, tiến hành cạnh tranh có hiệu quả; vừa giữ chữ tín vừa nâng cao thanh thế của NH trên thị trường

Bên cạnh đó, một trong những công cụ lớn nhất của vốn tự có là tạo sự uy tín trong công chúng Một NH có trụ sở là tài sản riêng càng đồ sộ chừng nào thì càng

dễ gây tín nhiệm của dân chúng từng nấy Vốn tự có của NH càng lớn thì sức chịu đựng của NH càng mạnh khi mà tình hình kinh tế - xã hội và tình hình hoạt động của NH trải qua giai đoạn khó khăn

Thứ năm, vốn quyết định năng lực cạnh tranh của NH.

Quy mô, trình độ cán bộ, công nhân viên, phương tiện kỹ thuật hiện đại của NH

là tiền đề thu hút vốn Khả năng vốn lớn là điều kiện thuận lợi đối với NH trong việc mở rộng quan hệ tín dụng, đối với các thành phần kinh tế cả về quy mô tín dụng, lẫn việc chủ động về thời hạn cho vay và thậm chí trong việc quyết định lãi suất phù hợp với KH Điều này sẽ thu hút ngày càng nhiều KH đến với mình, nghĩa

là doanh số hoạt động của NH sẽ tăng lên trong tương lai và NH có nhiều thuận lợi hơn trong kinh doanh Hơn nữa, vốn của NH lớn sẽ giúp cho NH có đủ năng lực tài chính kinh doanh đa năng trên thị trường không chỉ cho vay mà còn đầu tư trên thị trường tiền tệ, liên doanh, liên kết, thực hiện dịch vụ thuê mua Và chính sự đa dạng hóa hoạt động sẽ góp phần phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh và tạo lợi nhuận cho NH, đặc biệt là tăng sức mạnh cạnh tranh của NH trên thị trường

Để NH tồn tại và phát triển, ngoài vốn chủ sở hữu (thường chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn) các NH phải chú trọng tới việc tăng trưởng nguồn vốn nghĩa

là phải làm tốt công tác HĐV

1.3 Các hình thức huy động vốn của NHTM:

Quá trình HĐV hầu như là giống nhau ở các NH nhưng hình thức huy động thì khác nhau Để phân loại hình thức HĐV ta dựa vào tiêu chí sau:

1.3.1 Phân loại căn cứ theo thời gian:

Phân loại theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với NH vì nó liên quan mật thiết đến tính an toàn và khả năng sinh lợi của nguồn vốn huy động cũng như thời gian phải hoàn trả KH Theo thời gian, hình thức huy động được chia thành:

Trang 14

1.3.1.1 Huy động ngắn hạn:

Đây là hình thức huy động chủ yếu trong các NHTM thông qua việc phát hành các công cụ nợ ngắn hạn trên thị trường tiền tệ và các nghiệp vụ nhận tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi thanh toán Phần lớn số này được dùng để cho vay ngắn hạn (dưới 1 năm) hoặc được chuyển đổi kỳ hạn để thực hiện cho vay trung hạn Do thời gian ngắn nên lãi suất huy động ngắn hạn thường thấp, tuy nhiên tính ổn định lại kém

1.3.1.2 Huy động trung hạn:

Đây là nguồn HĐV NH qua phát hành các công cụ nợ trung hạn trên thị trường vốn hoặc nhận tiền gửi trung hạn (từ 1 đến 5 năm) Vốn huy động này NH có thể sử dụng tương đối dài và thuận tiện Tuy nhiên, lãi suất huy động nguồn này thường cao hơn nguồn ngắn hạn Nguồn huy động trung hạn rất quan trọng và cần thiết để

NH thực hiện các hoạt động đầu tư và cho vay trung, dài hạn với lãi suất cao hơn

1.3.1.3 Huy động dài hạn:

Đây là hoạt động HĐV dài hạn của NH trên thị trường vốn, với nguồn huy động này NH có thể sử dụng dễ dàng, có tính ổn định cao (từ 5 năm trở lên) Do vậy, lãi suất mà NH phải trả cũng rất cao

1.3.2 Phân loại căn cứ theo đối tượng huy động:

1.3.2.1 Huy động vốn từ dân cư:

Đây là một khu vực huy động đầy tiềm năng cho các NH NH huy động từ các khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng và sau đó chuyển đến cho những người cần vốn

để mở rộng đầu tư, kinh doanh Nguồn huy động từ dân cư thường khá ổn định

1.3.2.2 HĐV từ các DN và các tổ chức xã hội:

Đây là nguồn huy động được đánh giá là rất lớn, chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn Để tiết kiệm thời gian và chi phí trong thanh toán, các DN dù lớn hay nhỏ hầu hết đều có tài khoản trong NH Các DN khi bán được hàng hóa đều gửi tiền vào NH và rút ra khi cần Chu kỳ rút tiền của các DN và các tổ chức xã hội không giống nhau Vì vậy, NH luôn có trong tay một khoản tiền lớn mà mình có thể sử dụng một cách tương đối thuận lợi Tuy nhiên, độ lớn của khoản tiền này phụ thuộc nhiều vào các dịch vụ, các tiện ích mà NH mang lại khi KH sử dụng các dịch vụ Điều này khiến cho việc HĐV từ các DN và các tổ chức xã hội gắn liền với việc mở rộng, cải tiến các dịch vụ NH

1.3.2.3 HĐV từ các NH và các tổ chức tín dụng khác:

Trong quá trình huy động các NH thường có các khoản tiền gửi lẫn nhau để thuận tiện cho giao dịch, thanh toán Ngoài ra, việc vay lẫn nhau giữa các NH cũng làm tăng nguồn vốn huy động Điều này tuy không thường xuyên song là cần thiết trong

Trang 15

hoạt động kinh doanh của mỗi NHTM Khi xuất hiện việc thiếu hụt dự trữ hay khả năng thanh toán bị đe dọa các NHTM có thể vay lẫn nhau Quá trình vay này là một thỏa thuận tín dụng giữa các bên Quá trình tăng vốn huy động này có thể được thực hiện ở trên thị trường nội tệ hay thị trường ngoại tệ HĐV từ các NH và các tổ chức tín dụng khác tuy khá dễ dàng nhưng số lượng thường không nhiều và chi phí huy động cao Do vậy, hình thức này các NH sử dụng không nhiều.

1.3.3 Phân loại theo bản chất các nghiệp vụ HĐV:

Hình thức huy động này là hình thức chủ yếu được các NHTM sử dụng hiện nay Phân loại theo nghiệp vụ HĐV rõ ràng tạo sự thuận tiện cho NH khi tiến hành huy động Các hình thức huy động bao gồm:

1.3.3.1 HĐV qua nghiệp vụ nhận tiền gửi:

a) Huy động tiền gửi không kỳ hạn:

Đây là phần tiền huy động tương đối quan trọng ở những nước phát triển có tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt cao Mục đích của các khoản tiền này không phải là

để lấy lãi mà chủ yếu dùng để thanh toán KH gửi tiền phần lớn là những tổ chức kinh tế, các DN, các cá nhân làm ăn buôn bán phải thanh toán tiền hàng hóa, DV liên tục Người gửi tiền có thể rút tiền ra bất cứ lúc nào hoặc trả tiền cho người thứ

ba Hình thức rút có thể là tiền mặt hay lấy qua hình thức thanh toán bằng séc Đặc biệt, người gửi tiền có thể không cần trực tiếp đến NH lấy mà có thể rút qua các máy rút tiền tự động (máy ATM)

b) Huy động tiền gửi có kỳ hạn:

Là tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân gửi vào NH và rút ra sau một thời hạn nhất định Khoản này thường gắn với các tổ chức kinh tế có chu kỳ kinh doanh gần như xác định, thời gian thanh toán tiền ổn định, ít có sự biến động Phần tiền gửi này NH sử dụng dễ dàng nên mức lãi suất mà NH phải trả cũng cao hơn Người gửi tiền ngoài mục đích sử dụng các dịch vụ NH còn có mục đích kiếm lời Do đó, sự thay đổi lãi suất sẽ có tác động rất nhanh và rõ nét đối với nguồn vốn huy động của NH

Ở Việt Nam, hình thức gửi tiền có kỳ hạn bằng các chứng chỉ tiền gửi (mà chúng

ta vẫn gọi là kỳ phiếu NH có mục đích) với các thời hạn 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 2 năm ngày càng phổ biến, đã và đang phát huy vai trò hay việc tạo vốn cho các NH

Trang 16

c) Huy động tiền gửi tiết kiệm:

Đây là hình thức phổ biến nhất, lâu đời nhất của các NHTM Bao gồm các loại sau:

- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Hình thức này gần giống như huy động tiền gửi không kỳ hạn Tuy nhiên, so với tiền gửi không kỳ hạn thì số dư của phần này ổn định hơn, ít biến động hơn nên NH phải trả lãi suất cao hơn

- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Đây là loại hình tiết kiệm phổ biến nhất, quen thuộc nhất ở nước ta Người gửi tiền gửi vào NH và rút ra sau những thời hạn xác định: 3 tháng, 6 tháng Người gửi tiền không được rút trước, nếu rút trước hạn thì sẽ bị phạt Đây là những khoản tiền có tính ổn định rất cao nên NH phải trả KH với lãi suất gần như là cao nhất Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, để tăng sức cạnh tranh, thu hút được vốn, các NH đã rất linh hoạt trong việc KH rút ra trước thời hạn Có NH thì tính lãi cho KH với lãi suất không kỳ hạn, có NH vẫn tính với lãi suất đó với số ngày thực tế

- Tiền gửi tiết kiệm có thời hạn dài: Loại hình này khá phổ biến ở những nước phát triển nhưng ở nước ta còn khá mới mẻ Người gửi có thể gửi tiền vào bất cứ lúc nào và chỉ được rút ra khi đến hạn (thời hạn tương đối dài) Loại hình này giúp cho NH có nguồn vốn ổn định để có thể đầu tư trung và dài hạn

1.3.3.2 Huy động vốn qua nghiệp vụ đi vay:

Hình thức này ngày cũng chiếm vai trò khá quan trọng trong môi trường kinh doanh đầy biến động như hiện nay Các NHTM có thể vay từ nhiều nguồn:

a Vay từ các tổ chức tín dụng:

Đó là khoản vay thông thường mà các NH vay lẫn nhau trên thị trường liên NH hay thị trường tiền tệ Các NH thường xây dựng các mối quan hệ tốt để khi thiếu hụt vốn có thể vay lẫn nhau chứ không vay NHNN

b Vay từ NHNN:

Các NHTM có thể mang các thương phiếu đến NHNN để vay dưới hình thức tái chiết khấu thương phiếu

1.3.3.3 Huy động qua phát hành các công cụ nợ:

Đây là hình thức HĐV có hiệu quả khá cao của các NHTM Trong quá trình hoạt động, ở những thời điểm nhất định, NH thấy cần phải huy động thêm vốn trước những cơ hội kinh doanh đầy hấp dẫn Để vay trên thị trường, NH có thể phát hành

kỳ phiếu và trái phiếu

Trang 17

1.3.3.4 HĐV qua các hình thức khác:

Để tăng cường HĐV nhàn rỗi từ dân cư, các tổ chức kinh tế, các DN, các NHTM còn sử dụng các hình thức khác về DV xã hội: làm DV bảo lãnh, địa lý phát hành chứng khoán, trung gian thanh toán, đầu mối trong hợp đồng đồng tài trợ

Trang 18

CHƯƠNG IIGIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG KIÊN LONG – CHI NHÁNH SÀI GÒN

NH TMCP Kiên Long được thành lập theo giấy phép số 0056/NH-GP ngày 18/09/1995 của Thống đốc NHNN VN Ngày 27/10/1995, NH Kiên Long khai trương và chính thức đi vào hoạt động

NH Kiên Long đã xây dựng Hội sở khang trang đặt tại Thị xã Rạch Giá tỉnh Kiên Giang là trung tâm quản lý toàn NH, các đơn vị trực thuộc gồm 4 chi nhánh (2 chi nhánh cấp 1 gồm: Rạch Giá, Phú Quốc; 2 chi nhánh cấp 2 gồm: Phú Quốc, Tân Hiệp) và 3 phòng giao dịch hoạt động trên tỉnh Kiên Giang, kể cả huyện đảo Phú Quốc nơi có nhiều tiềm năng phát triển Qua 15 năm hoạt động, NH Kiên Long trở thành một NH TMCP phát triển mạnh, bền vững và tạo được niềm tin của KH Từ một NH hoạt động tín dụng tại các vùng nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long với

số vốn điều lệ ban đầu 1.2 tỷ đồng, đến nay vốn điều lệ của NH đã lên 3, 000 tỷ đồng , tổng tài sản đạt gần 12.628 tỷ đồng Hiện tại, NH Kiên Long đã có mạng lưới hoạt động tại các vùng trọng điểm trong cả nước với 82 Chi nhánh và Phòng giao dịch Theo kế hoạch trong năm 2011 sẽ phát triển 130 Chi nhánh và PGD, phấn đấu trong năm 2015 sẽ nâng lên 200 Chi nhánh và PGD hoạt động trên toàn quốc Cơ cấu tổ chức của NH TMCP Kiên Long như sau:

Trang 19

Sơ đồ 2.1: SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CÁC PHÒNG BAN CỦA NH KIÊN LONG

Trang 20

Các phòng trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, phối hợp với nhau để thực hiện tốt các hoạt động của NH Cơ cấu của các phòng ban ngày càng được cải tiến

để ngày càng phục vụ tốt hơn cho nhiệm vụ của một NH đa năng, hiện đại và ngày càng có nhiều sản phẩm mới đáp ứng được các nhu cầu của KH trong cơ chế thị trường

NH Kiên Long luôn định hướng xây dựng một đội ngũ cán bộ nhân viên chuyên nghiệp, năng động, sáng tạo và đầy nhiệt huyết, có chuyên môn, kinh nghiệm để đưa NH Kiên Long trở thành một trong những NH hàng đầu Việt Nam trong tương lai Nguồn nhân lực của NH Kiên Long đã tăng lên cả về chất lượng lẫn số lượng Đến cuối năm 2010, tổng số nhân viên của NH Kiên Long là 2,110 người trong đó

có 816 cộng tác viên, tăng 200 lần so với giai đoạn đầu thành lập Trong đó, số cán

bộ nhân viên có trình độ đại học và trên đại học chiếm gần 70%, còn lại là đội ngũ cộng tác viên

Trong thời gian tới, NH Kiên Long tiếp tục mở rộng mạng lưới chi nhánh, PGD ở các tỉnh trọng điểm, đặc biệt tại địa bàn TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng; phủ kín mạng lưới chi nhánh ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long; thành lập các Chi nhánh ở khu vực Đông Nam bộ và Duyên Hải Miền Trung

Hoạt động chính của NH Kiên Long là HĐV ngắn, trung và dài hạn theo các hình thức tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, chứng chỉ tiền gửi, tiếp nhận vốn uỷ thác đầu tư, nhận vốn từ các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước Cho vay ngắn, trung

và dài hạn, đầu tư vào các tổ chức kinh tế, làm DV thanh toán giữa các KH kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, thanh toán quốc tế, đầu tư chứng khoán, cung cấp các DV

về đầu tư, các DV về quản lý nợ khai thác tài sản, cung cấp các DV NH khác

Với thành tích hoạt động của mình NH Kiên Long đã nhận được nhiều bằng khen của UBND tỉnh, Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính Việt Nam Đặc biệt trong năm 2007,

NH Kiên Long được Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam ký Quyết định số 1224/2007/QĐ-CTN (ngày 26/10/2007), về việc tặng Huân chương Lao động hạng

Ba cho NH TMCP Kiên Long vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác từ năm

2002 đến năm 2006, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và

bảo vệ tổ quốc

Chi nhánh Sài Gòn là một trong những chi nhánh trọng điểm của NH Kiên Long Chi nhánh Sài Gòn có trụ sở nằm ở trung tâm thành phố Hồ Chí Minh, có cơ sở vật chất khang trang, tiện nghi, khá thuận lợi cho công tác HĐV, cho vay và thực hiện các dịch vụ khác Với địa điểm này, chi nhánh có cơ hội để tiếp cận các KH lớn ở khu vực quận 1, 3, 5, Ngoài ra, Chi nhánh Sài Gòn còn có những lợi thế gần phòng ban chuyên môn Hội sở, đội ngũ nhân viên nhiệt tình, chuyên môn khá Gần

4 năm hoạt động Chi nhánh Sài Gòn đã không ngừng phát triển từ quy mô hoạt động cho đến việc triển khai áp dụng các sản phẩm DV NHTM như: HĐV, cho vay, bảo lãnh, thu đổi ngoại tệ cùng các DV đa dạng khác Năm 2010, về số dư HĐV và cho vay, Chi nhánh Sài Gòn chỉ đạt mức trên 70% so với kế hoạch được giao Nợ xấu phát sinh cao so với chỉ tiêu Hội sở cho phép Về lợi nhuận trước thuế, Chi nhánh Sài Gòn chỉ đạt 83% kế hoạch, một phần do Chi nhánh phải gánh chịu khoản

Trang 21

chi phí trên lệch tỷ giá của năm 2009 là 1.3 tỷ đồng Tuy nhiên, trong giai đoạn tình hình kinh tế nhiều khó khăn như vừa qua, tỷ lệ đạt được như trên là một nổ lực lớn của tập thể cán bộ nhân viên chi nhánh.

Mạng lưới hoạt động từ một điểm ban đầu, đến nay toàn Chi nhánh đã có 13 điểm giao dịch, gồm một Chi nhánh và 12 PGD trực thuộc:

1- PGD Bình Tây:

PGD Bình Tây nằm ở khu vực đông dân cư, chủ yếu là người Hoa, buôn bán sầm uất, gần chợ nên rất thuận lợi cho công tác HĐV, cho vay sản xuất kinh doanh và hoạt động DV Năm 2010, tuy không đạt chỉ tiêu về HĐV nhưng số dư huy động của Phòng đạt mức khá so với các đơn vị còn lại Về hoạt động cho vay, PGD Bình Tây chưa nổ lực tìm kiếm KH dẫn đến dư nợ giảm so với năm 2009 nên kết quả đạt thấp, không đạt kế hoạch đề ra Tuy nhiên, PGD Bình Tây đã rất nổ lực trong việc thực hiện chỉ tiêu lợi nhuận và đã đạt kế hoạch được giao

2- PGD Gò Vấp:

Gò Vấp là vùng ven của thành phố, nơi tập trung nhiều dân lao động và hộ tiểu thương, người dân sống tiết kiệm nên khá thuận lợi về HĐV và cho vay món nhỏ Năm 2010, tuy không đạt chỉ tiêu kế hoạch về HĐV, cho vay, nợ xấu cao hơn so với chỉ tiêu Hội sở cho phép nhưng PGD Gò Vấp đã hoàn thành vượt mức kế hoạch lợi nhuận được giao PGD Gò Vấp có nỗ lực trong công tác phát triển đội ngũ cộng tác viên để phát triển dư nợ cho vay trả góp ngày, mang lại hiệu cao cho đơn vị.3- PGD An Lạc:

Địa điểm của PGD An Lạc nằm ở khu dân cư đông đúc, gần chợ, bến xe, khá thuận lợi cho công tác HĐV, cho vay nhỏ và hoạt động dịch vụ Năm 2010, PGD

An Lạc thực hiện huy động và cho vay đạt tỷ lệ thấp so với kế hoạch được giao Chưa quan tâm đúng mức đến việc phát triển đội ngũ cộng tác viên, vì đây là địa bàn rất phù hợp với loại hình cho vay trả góp ngày Tuy nhiên, PGD An Lạc đã rất

cố gắng và hoàn thành được chỉ tiêu lợi nhuận được giao, không phát sinh nợ xấu.4- PGD Ngô Gia Tự:

PGD Ngô Gia Tự tọa lạc tại khu vực trung tâm, khu dân cư đông đúc, mua bán sầm uất nên có rất nhiều lợi nhuận trong HĐV và cho vay Trong năm 2010, mặc dù

số dư huy động và dư nợ cho vay chưa tăng trưởng như kỳ vọng, nhưng PGD Ngô Gia Tự đã hoàn thành vượt mức chỉ tiêu lợi nhuận được giao Tuy nhiên, Phòng đã

để phát sinh nợ xấu vượt tỷ lệ Hội sở cho phép

Trang 22

5- PGD Đầm Sen:

PGD Đầm Sen nằm ở khu dân cư đông đúc, là địa bàn có tiềm năng trong cho vay hộ kinh doanh nhỏ và thu đổi ngoại tệ Tuy nhiên, hiện công tác HĐV của đơn

vị khá thấp so với các đơn vị khác và chưa tương xứng với thời gian hoạt động Đơn

vị cần phải nỗ lực hơn nữa trong công tác tiếp thị KH nhằm tăng số dư huy động và cho vay Cần chú trọng đến việc phát triển đội ngũ cộng tác viên Tuy nhiên, năm

2010, PGD Đầm Sen đã rất cố gắng và hoàn thành được chỉ tiêu lợi nhuận được giao

6- PGD Quận 12:

PGD Quận 12 nằm ngay khu dân cư đông đúc, là địa bàn có tiềm năng vể HĐV

và cho vay nhỏ Phát huy những lợi thế đó, năm 2010, PGD Quận 12 đã rất cố gắng trong việc tăng trưởng tín dụng, dư nợ đạt mức khá so với các đơn vị khác, tạo cơ

sở cho việc thực hiện hoàn thành chỉ tiêu lợi nhuận được giao PGD Quận 12 cũng

đã và đang phát triển đội ngũ cộng tác viên trả góp ngày Tuy nhiên, Phòng cần phải chú trọng hơn công tác HĐV, cân bằng giữa số dư huy động và dư nợ cho vay.7- PGD Thủ Đức:

PGD Thủ Đức nằm trên địa bàn tập trung nhiều khu công nghiệp, trường đại học, chợ đầu mối khá thuận lợi trong kinh doanh, nhất là khả năng HĐV và hoạt động cho vay kinh doanh nhỏ, phục vụ đời sống năm 2010, PGD Thủ Đức đã tận dụng được những lợi thế nêu trên để tăng trưởng huy động, số dư đạt mức khá so với các Phòng khác Phòng rất cố gắng trong việc phát triển đội ngũ cộng tác viên, hiện nay

là 7 người Phòng cũng đã nỗ lực giải quyết nợ xấu, đã giải quyết được hồ sơ KH Đặng Phùng nên đã mang lại hiệu quả khá cao giúp cho đơn vị hoàn thành vượt mức chỉ tiêu lợi nhuận được giao Tuy nhiên, PGD Thủ Đức còn chưa chú trọng công tác cho vay, dư nợ thấp không tương xứng với tiềm năng của đơn vị

8- PGD Tân Bình:

PGD Tân Bình có lợi thế về địa điểm, mặt bằng cho chi nhánh Sài Gòn di dời để lại Tuy nhiên, năm 2010, số dư HĐV, dư nợ cho vay và lợi nhuận mang lại chưa tương xứng với quy mô và tiềm năng của dơn vị Phòng không hoàn thành chỉ tiêu lợi nhuận được giao; dư nợ cho vay còn tập trung vào một số ít KH; chưa chú trọng phát triển đội ngũ cộng tác viên tín dụng

9- PGD Tân Sơn Nhì:

PGD Tân Sơn Nhì có địa điểm kinh doanh nằm trong khu vực đông dân cư, sầm uất thuận lợi cho việc HĐV và cho vay Tuy nhiên, Phòng chưa chú trọng đúng mức đến công tác cho vay nên tốc độ tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng của đơn vị Hiện tại, đơn vị vẫn còn lỗ Tuy nhiên, Phòng đã rất cố gắng trong việc phát triển đội ngũ cộng tác viên, hiện đã có 6 người

Trang 23

10-PGD Tùng Thiện Vương:

PGD Tùng Thiện Vương bắt đầu đi vào hoạt động từ cuối tháng 6/2010, nằm ở địa bàn dân cư đông đúc, buôn bán sầm uất, thuận lợi cho công tác huy động và cho vay sản xuất kinh doanh, phục vụ đời sống Tuy mới đi vào hoạt động nhưng Phòng

đã rất nỗ lực trong việc HĐV và tìm kiếm cộng tác viên

11-PGD Nguyễn Thị Thập:

Là đơn vị vừa được thành lập vào tháng 12/2010, nằm ở khu dân cư đông đúc và gần khu công nghiệp nên rất có tiềm năng trong việc huy động tiền gửi tiết kiệm, cho vay hộ hộ kinh doanh cá thể và cho vay phục vụ đời sống

Ngày đăng: 26/03/2015, 17:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CÁC PHÒNG BAN CỦA NH KIÊN LONG - Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động huy động vốn tại NH kiên long – chi nhánh sài gòn
Sơ đồ 2.1 SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CÁC PHÒNG BAN CỦA NH KIÊN LONG (Trang 19)
Bảng 3.1: KHỐI LƯỢNG VỐN HUY ĐỘNG THEO KẾ HOẠCH (ĐVT: triệu đồng) - Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động huy động vốn tại NH kiên long – chi nhánh sài gòn
Bảng 3.1 KHỐI LƯỢNG VỐN HUY ĐỘNG THEO KẾ HOẠCH (ĐVT: triệu đồng) (Trang 25)
Bảng 3.2: KHỐI LƯỢNG VỐN HUY ĐỘNG THEO ĐƠN VỊ (ĐVT: triệu đồng) - Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động huy động vốn tại NH kiên long – chi nhánh sài gòn
Bảng 3.2 KHỐI LƯỢNG VỐN HUY ĐỘNG THEO ĐƠN VỊ (ĐVT: triệu đồng) (Trang 26)
Bảng 3.3: CƠ CẤU NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG (ĐVT: triệu đồng) - Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động huy động vốn tại NH kiên long – chi nhánh sài gòn
Bảng 3.3 CƠ CẤU NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG (ĐVT: triệu đồng) (Trang 28)
Bảng 3.4: CƠ CẤU VỐN HUY ĐỘNG THEO KỲ HẠN (ĐVT: triệu đồng) - Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động huy động vốn tại NH kiên long – chi nhánh sài gòn
Bảng 3.4 CƠ CẤU VỐN HUY ĐỘNG THEO KỲ HẠN (ĐVT: triệu đồng) (Trang 30)
Bảng 3.5: CƠ CẤU VỐN HUY ĐỘNG THEO ĐỒNG TIỀN GỬI (ĐVT: triệu đồng) - Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động huy động vốn tại NH kiên long – chi nhánh sài gòn
Bảng 3.5 CƠ CẤU VỐN HUY ĐỘNG THEO ĐỒNG TIỀN GỬI (ĐVT: triệu đồng) (Trang 32)
Bảng 3.6: LỢI NHUẬN TRƯỚC THUẾ CỦA CHI NHÁNH NĂM 2010 - Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động huy động vốn tại NH kiên long – chi nhánh sài gòn
Bảng 3.6 LỢI NHUẬN TRƯỚC THUẾ CỦA CHI NHÁNH NĂM 2010 (Trang 35)
Bảng 3.7: LỢI NHUẬN TRƯỚC THUẾ CỦA CHI NHÁNH NĂM 2010 - Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động huy động vốn tại NH kiên long – chi nhánh sài gòn
Bảng 3.7 LỢI NHUẬN TRƯỚC THUẾ CỦA CHI NHÁNH NĂM 2010 (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w