1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số cơ sở khoa học cho việc thâm canh rừng Luồng Dendrocalamuss barbatus Hsueh et D.Z.Li tại Thanh Hóa

176 649 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 6,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về lý luận, trong những năm gần đây các nghiên cứu về cải thiện giống cây rừng; kỹ thuật chọn lập địa, làm đất, bón phân; kỹ thuật quản lý bảo vệ rừng trồng và kỹ thuật khai thác sử dụng

Trang 1

-

BÙI THỊ HUYỀN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CƠ SỞ KHOA HỌC CHO VIỆC THÂM CANH

RỪNG LUỒNG Dendrocalamus barbatus Hsueh et D.Z.Li

TẠI THANH HÓA

LUẬN ÁN TIẾN SỸ LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

-

BÙI THỊ HUYỀN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CƠ SỞ KHOA HỌC CHO VIỆC THÂM CANH

RỪNG LUỒNG Dendrocalamus barbatus Hsueh et D.Z.Li

TẠI THANH HÓA

Chuyên ngành: LÂM SINH

Mã số: 62.62.02.05

LUẬN ÁN TIẾN SỸ LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS PHẠM VĂN ĐIỂN

Hà Nội, 2015

Trang 3

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến PGS.TS Phạm Văn Điển với tư cách là người hướng dẫn khoa học đã dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn tận tình và có những góp ý quý báu, giúp tác giả hoàn thành luận án này

Tác giả xin chân thành cảm ơn những nhận xét, góp ý của GS.TS Nguyễn Xuân Quát, PGS.TS Phạm Xuân Hoàn và một số nhà khoa học khác trong quá trình thực hiện luận án

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận án

Hà Nội, tháng 3 năm 2015

Tác giả

Bùi Thị Huyền

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, luận án được thực hiện trong thời gian từ năm 2009 đến 2015 dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Văn Điển Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, tháng 3 năm 2015

Tác giả

Bùi Thị Huyền

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cảm ơn i

Lời cam đoan ii

Mục lục iii

Danh mục các ký hiệu và từ viết tắt vi

Danh các mục bảng vii

Danh các mục hình viii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Đặc điểm của cây Luồng 5

1.2 Những nghiên cứu ở ngoài nước 6

1.2.1 Về thâm canh rừng 6

1.2.2 Về thâm canh tre trúc 9

1.2.3 Về chi Luồng (Dendrocalamus) 11

1.3 Những nghiên cứu ở trong nước 17

1.3.1 Về thâm canh rừng 17

1.3.2 Về thâm canh rừng tre trúc 21

1.3.3 Thâm canh rừng Luồng 26

1.4 Thảo luận 37

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

2.1 Nội dung nghiên cứu 40

2.1.1 Đánh giá hiện trạng phát triển rừng Luồng ở huyện Quan Hóa 40

2.1.2 Nghiên cứu cơ sở khoa học chọn điều kiện lập địa trồng Luồng 40

2.1.3 Nghiên cứu bổ sung cơ sở khoa học chọn giống và nhân giống Luồng 40 2.1.4 Cơ sở khoa học cho một số kỹ thuật tác động vào rừng Luồng 40

Trang 6

2.1.5 Đề xuất một số kỹ thuật trong thâm canh rừng Luồng 40

2.2 Phương pháp nghiên cứu 40

2.2.1 Phương pháp luận vấn đề nghiên cứu 40

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 43

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 52

3.1 Điều kiện tự nhiên 52

3.1.1 Vị trí địa lý 52

3.1.2 Địa hình địa thế 52

3.1.3 Khí hậu - thủy văn 53

3.1.4 Địa chất thổ nhưỡng 55

3.1.5 Tài nguyên đât và rừng 55

3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 56

3.2.1 Đặc điểm dân cư 56

3.2.2 Đặc điểm kinh tế 56

3.2.3 Đặc điểm văn hóa - xã hội 57

3.3 Nhận xét và đánh giá chung 58

3.3.1 Những thuận lợi và cơ hội cho thâm canh rừng Luồng 58

3.3.2 Khó khăn, hạn chế cho thâm canh rừng Luồng 59

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 61

4.1 Nghiên cứu hiện trạng phát triển rừng Luồng ở huyện Quan Hóa 61

4.1.1 Hiện trạng trồng và phát triển rừng Luồng ở Quan Hóa 61

4.1.2 Chất lượng rừng Luồng tại Quan Hóa 64

4.1.3 Những kỹ thuật đã áp dụng đối với rừng Luồng Quan Hóa 72

4.1.4 Thảo luận 79

4.2 Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc chọn điều kiện lập địa trồng Luồng81 4.2.1 Đặc điểm điều kiện lập địa của rừng Luồng 81

4.2.2 Tiêu chuẩn phân chia điều kiện lập địa theo mức độ thích hợp cho trồng Luồng 84

Trang 7

4.3 Cơ sở khoa học chọn và nhân giống Luồng 91

4.3.1 Chọn lọc cây Luồng tốt để làm giống 91

4.3.2 Lựa chọn khóm Luồng tốt làm giống 93

4.3.3 Nghiên cứu bổ sung cơ sở khoa học cho nhân giống Luồng 96

4.4 Nghiên cứu cơ sở khoa học cho một số biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng Luồng 100

4.4.1 Cơ sở xác định biện pháp kỹ thuật tác động sinh măng 100

4.4.2 Đặc điểm sinh trưởng của măng Luồng 103

4.4.3 Mô hình rừng Luồng mong muốn 106

4.5 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trong thâm canh rừng Luồng 117

4.5.1 Về điều kiện lập địa trồng Luồng 117

4.5.2 Chọn cây lấy giống và sử dụng chất kích thích ra rễ nhân giống Luồng bằng hom 118

4.5.3 Kỹ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng rừng Luồng trên 5 năm 119

KẾT LUẬN , TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 120

1 Kết luận 120

2 Tồn tại 122

3 Khuyến nghị 122 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT

Fa Đất đỏ vàng trên đá mácma axít

Fe Đất nâu tím trên đá sa phiến thạch màu tím

RAPD Random Amplified Polymorphic DNA

Trang 9

4.3 Một số đại lượng sinh trưởng và trữ lượng của rừng Luồng 65 4.4 Hiện trạng tuổi cây trong rừng Luồng tại Quan Hóa 67 4.5 Chất lượng rừng Luồng theo tiêu chuẩn thương phẩm 69 4.6 Chất lượng thương phẩm của cây Luồng theo tuổi 70 4.7 Các biện pháp kỹ thuật trồng Luồng đã áp dụng ở Quan Hóa 72 4.8 Một số nhân tố khí hậu khu vực nghiên cứu trong 3 năm 2010 - 2012 81

4.10 Đặc điểm đất trồng rừng Luồng ở Quan Hóa 83

4.11 Tiêu chuẩn phân chia điều kiện lập địa theo mức độ thích hợp

4.12 Xác định mức độ thích hợp cho các lô rừng Luồng 90 4.13 Sinh trưởng rừng Luồng trên các dạng lập địa 91 4.14 Phân bố cây Luồng tốt trong rừng Luồng Quan Hóa 92 4.15 Khả năng sinh và nuôi măng của khóm Luồng có cây tốt 93 4.16 Ảnh hưởng của các loại hormon đến sự ra rễ của hom Luồng 96 4.17 Kết quả kiểm tra sự khác nhau của công thức thí nghiệm 99 4.18 Mức độ nâng cao của gốc Luồng theo các thế hệ măng 100

4.20 Sinh trưởng của măng Luồng tại các lập địa khác nhau 104 4.21 Thực trạng chỉ tiêu cấu trúc và sinh trưởng của rừng Luồng 107 4.22 Số cây mong muốn theo cấp tuổi /khóm của rừng Luồng 116

Trang 10

DANH CÁC MỤC HÌNH

2.1 Mối quan hệ giữa các nội dung trong thâm canh rừng 41 2.2 Cách tiếp cận và giải quyết các nội dung của luận án 42 4.1 Rừng Luồng ở xã Hồi Xuân, huyện Quan Hóa năm 2012 61 4.2 Mật độ theo tuổi cây trong rừng Luồng Quan Hóa 67 4.3 Hiện trạng chất lượng rừng Luồng theo thương phẩm 69 4.4 Biểu đồ tán xạ các nhân tố cấu trúc và sinh trưởng của rừng Luồng 85

4.5 Biểu đồ tán xạ phản ánh mối liên hệ của DBH, H với các nhân

4.9 Hiện tượng nâng gốc khi sinh măng của cây Luồng 101 4.10 Sinh trưởng đường kính của măng Luồng trên các dạng lập địa 105 4.11 Sinh trưởng chiều cao của măng Luồng trên các dạng lập địa 105 4.12 Sơ đồ nhánh rừng Luồng với 10 nhân tố cấu trúc và sinh trưởng 109 4.13 Sơ đồ nhánh rừng Luồng với 3 nhân tố cấu trúc 111

4.14 Biểu đồ tán xạ các nhân tố cấu trúc và sinh trưởng rừng Luồng

4.15 Biểu đồ tán xạ các cặp nhân tố cấu trúc và sinh trưởng của rừng

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài luận án

Thâm canh rừng trồng là một xu hướng được quan tâm nhiều cả trong lý luận lâm sinh học và thực tiễn sản xuất Về lý luận, trong những năm gần đây các nghiên cứu về cải thiện giống cây rừng; kỹ thuật chọn lập địa, làm đất, bón phân; kỹ thuật quản lý bảo vệ rừng trồng và kỹ thuật khai thác sử dụng rừng trồng để tăng năng suất và chất lượng rừng đã được chú ý Về thực tiễn sản xuất, việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh rừng đã làm tăng năng suất, chất lượng rừng, đồng thời duy trì và cải thiện được tiềm năng đất đai, bảo vệ môi trường sinh thái Hiện nay, trong “Đề án tái cơ cấu cấu ngành Lâm nghiệp” của Bộ NN &PTNT năm 2013, thâm canh rừng được xác định

là một trong những giải pháp nâng cao giá trị gia tăng của ngành Lâm nghiệp Việt Nam và góp phần vào quản lý rừng bền vững [15]

Thanh Hóa là tỉnh có nhiều diện tích rừng Luồng được trồng tập trung Theo số liệu hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp của UBND tỉnh Thanh Hóa,

2013 [86], diện tích rừng Luồng của tỉnh Thanh Hóa năm 2012 là 70.257,08 ha, chiếm 39,9% diện tích rừng trồng toàn tỉnh Ngoài tác dụng phòng hộ, rừng Luồng có tác dụng chính là: cung cấp thân cây để sử dụng trong xây dựng, nguyên liệu giấy, ván ép, vật liệu đan lát, ; cung cấp măng sử dụng làm thức ăn; than thân cây dùng làm than hoạt tính; mùn cưa Luồng được sử dụng để nuôi trồng nấm… Do tính đa dạng sản phẩm mà nhu cầu thị trường đối với Luồng ngày càng cao, nguồn thu từ rừng Luồng ngày càng có ý nghĩa đối với đời sống của người dân địa phương Vì vậy, cây Luồng được chọn làm cây trồng rừng chính của tỉnh Thanh Hóa, diện tích rừng Luồng ngày càng mở rộng

Trang 12

Tuy nhiên, trong phát triển rừng Luồng hiện nay mới quan tâm đến mở rộng diện tích trồng và một số kỹ thuật chăm sóc đơn giản nên năng suất, chất lượng cây Luồng thấp, tính bền vững của rừng Luồng không cao, hiệu quả kinh doanh rừng Luồng ngày càng thấp, nhiều diện tích rừng Luồng đã bị suy thoái Thực tiễn kinh doanh rừng Luồng ở Thanh Hóa còn một số tồn tại như:

- Việc chọn và nhân giống Luồng chưa được hoàn thiện

- Chưa phân chia được điều kiện lập địa thích hợp cho trồng Luồng

- Chưa xác định được mô hình rừng Luồng mong muốn cũng như những giải pháp kỹ thuật phù hợp cho khai thác rừng lâu dài và liên tục

Vì vậy, việc nghiên cứu xác định hệ thống các biện pháp kỹ thuật về chọn giống, nhân giống, trồng, chăm sóc và khai thác rừng Luồng theo hướng thâm canh để nâng cao năng suất, chất lượng của rừng Luồng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa là rất cần thiết

Để góp phần giải quyết những vấn đề nêu trên và thúc đẩy các hoạt

động phát triển rừng Luồng ở Thanh Hóa, đề tài “Nghiên cứu một số cơ sở

khoa học cho việc thâm canh rừng Luồng tại Thanh Hóa” đã được thực hiện

Phương hướng của đề tài là tập trung nghiên cứu một số cơ sở khoa học chủ yếu làm cơ sở đề xuất kỹ thuật thâm canh rừng Luồng Vì hạn chế về thời gian và kinh phí, đề tài chỉ thực hiện trên địa bàn 9 xã thuộc huyện Quan Hóa, nơi diện tích rừng Luồng trồng khá tập trung, cây Luồng là loài cây truyền thống có đóng góp quan trọng cho đời sống và thu nhập của người dân địa phương

2 Mục tiêu của đề tài luận án

2.1 Về lý luận

Góp phần bổ sung một số cơ sở khoa học cho kỹ thuật thâm canh rừng Luồng tại huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hoá

Trang 13

2.2 Về thực tiễn

Đề xuất được một số giải pháp kỹ thuật áp dụng cho thâm canh rừng Luồng tại huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa

3 Điểm mới của luận án

- Đã phân loại lập địa rừng trồng Luồng dựa vào mối quan hệ giữa sinh trưởng rừng Luồng với một số nhân tố lập địa trên cơ sở chú ý đến tiêu chuẩn phân cấp chất lượng cây Luồng

- Đã đề xuất mô hình rừng Luồng mong muốn làm cơ sở cho việc nuôi dưỡng và khai thác rừng bền vững

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án

4.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài luận án đã tiếp cận và ứng dụng một số phương pháp mô phỏng những đặc trưng sinh trưởng cơ bản và mối quan hệ giữa các đặc trưng này với các nhân tố cấu trúc cơ bản của rừng Luồng

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Đề tài luận án đã xác định được một số cơ sở cho việc xây dựng tiêu chuẩn phân chia lập địa trồng Luồng trên quan điểm sinh thái và kinh tế

- Đề tài luận án đã bổ sung kỹ thuật chọn và nhân giống Luồng

- Đề tài luận án đã xác định được mô hình cấu trúc rừng mong muốn và

đề xuất được các giải pháp kỹ thuật thâm canh rừng Luồng

5 Giới hạn của đề tài luận án

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các Lâm phần Luồng được trồng thuần loài không theo các chương trình dự án, từ năm 1975 đến năm 2004 (những lâm phần Luồng đang khai thác ổn định ở thời điểm bắt đầu nghiên cứu) với mục đích lấy cây làm nguyên liệu Hàng năm rừng Luồng được khai thác những cây già, cây đến tuổi thành thục công nghệ

Trang 14

5.2 Giới hạn nghiên cứu

- Về nội dung: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu cơ sở khoa học về phân

loại điều kiện lập địa trồng Luồng , chọn và nhân cây Luồng tốt và kỹ thuật tác động nâng cao chất lượng rừng Luồng

- Về địa điểm: Địa điểm nghiên cứu được thực hiện tại các khu rừng Luồng tập trung thuộc 08 xã và 01 thị trấn của huyện Quan Hóa bao gồm: Thị trấn Hồi Xuân, xã Xuân Phú, xã Hồi Xuân, xã Phú Nghiêm, xã Nam Xuân, xã Phú Xuân, xã Nam Động, xã Nam Tiến và xã Thanh Xuân

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Đặc điểm của cây Luồng

Cây Luồng có tên khoa học là Dendrocalamus barbatus Hsueh et D.Z.Li, thuộc chi Luồng Dendrocalamus; Họ Hòa thảo Poaceae, Bộ hòa thảo

Graminales

Luồng phân bố tự nhiên ở vùng Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa và các vùng khác như Nghệ An (với tên địa phương là Mét) và Sơn La (Mạy sang mú) Luồng là loại tre đã được trồng ở nhiều tỉnh như Hoà Bình, Sơn La, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái Nguyên… và một số tỉnh Nam Trung bộ, đồng bằng sông Cửu Long với giống Luồng chủ yếu được lấy từ Thanh Hóa (Ngô Quang Đê và cs,1994) [21], (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) [55], (Lê Nguyên và cs, 1971) [56]

Luồng là loài tre mọc cụm, thân thẳng, tròn, đường kính cây đạt tới 10 – 12cm, cây cao 15 – 20m, vách thân dày 2cm trở lên Phía trên và phía dưới vòng đốt có lớp phấn trắng Mỗi đốt có một cành chính to, dài và 2 - 5 cành nhỏ hơn, gốc cành chính phình to (gọi là đùi gà) là nơi có khả năng sinh mầm

và rễ trong nhân giống hom và chiết cành Rễ Luồng là loại rễ chùm, mọc ra từ thân ngầm và các đốt sát gốc Rễ Luồng ăn rộng xung quanh gốc tới 10 m, tập trung chủ yếu ở độ sâu 10 – 30cm Thân Luồng chia làm nhiều lóng, mỗi lóng dài từ 15 – 40cm Các lóng ở gốc ngắn, các lóng ở giữa thân dài hơn Thân có màu xanh từ nhạt đến thẫm tùy theo mỗi tuổi của cây Hoa Luồng mọc từ đốt cành, mỗi hoa có nhiều chùy, các bông chét tập hợp thành cụm hình cầu ở các đốt trục hoa Khi cây Luồng ra hoa thì thân mềm, nhiều nước nên dễ đổ gẫy, giá trị kinh tế thấp Thường những cây trong một bụi ra hoa cùng nhau, sau đó chết đồng loạt (Ngô Quang Đê và cs,1994) [21], (Nguyễn Thế Nhã, 2003) [53], (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) [55], (Lê Nguyên và cs, 1971) [56]

Trang 16

Sau khi trồng 5 năm, rừng Luồng có thể đưa vào khai thác, sau 8-10 năm sản lượng sẽ ổn định Phương thức khai thác là: chặt chọn từng cây theo cấp tuổi trong khóm Chỉ khai thác cả khóm với những khóm ra hoa

1.2 Những nghiên cứu ở ngoài nước

1.2.1 Về thâm canh rừng

Trồng rừng thâm canh và thâm canh rừng trồng là một hệ thống các biện pháp kỹ thuật bao gồm từ khâu chọn giống đến trồng rừng, chăm sóc rừng trồng, quản lý bảo vệ rừng trồng cho đến khi khai thác sử dụng Hệ thống các biện pháp sử dụng này đã được các nhà khoa học nhiều nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu, có thể chia thành các giai đoạn sau:

Trước năm 1890, trên thế giới chưa có nhu cầu trồng rừng thâm canh với mục đích công nghiệp, mặc dù đã có một số nước quan tâm do lượng gỗ

từ rừng tự nhiên thiếu Biện pháp kỹ thuật lâm sinh có ý nghĩa thâm canh trong giai đoạn này mới dừng lại ở việc trồng thử nghiệm các loài cây ngoại

lai như Tectona grandis và một số loài Eucalyptus tereticornis, Eucalyptus

robusta; ứng dụng trồng thử nghiệm hệ thống trồng “Taungya” (Mac

Gillivray, 1990 - dẫn theo Julian Evans, 1992) [100]

Giai đoạn 1890 - 1945, việc trồng rừng đã được nhiều nước trên thế giới tiến hành với nhiều loài cây trồng Xu hướng trồng rừng bán thâm canh đã được

áp dụng ở một số nước như Brazil vào những năm 20 và 30 của thế kỷ XX với

việc trồng hàng trăm ngàn ha rừng Eucalyptus saligna; E.camaldulensis;

E.tereticornis, (Penfold and Willis 1961) [102] Nhiều tiến bộ về kỹ thuật lâm sinh

đã được áp dụng trong trồng rừng trong thời kỳ này, như nghiên cứu của Craib ở Nam Phi về tỉa thưa và tỉa cành (Craib 1934, 1939, 1947); hệ thống trồng rừng theo kiểu “Taungya” được sử dụng rộng rãi ở Kenya vào những năm 1910 (FAO,

1967 - dẫn theo Julian Evans, 1992) [100]

Trang 17

Giai đoạn (1945 - 1965), trồng rừng thâm canh bắt đầu được quan tâm, việc sử dụng giống cây ngoại lai trồng ở các nước nhiệt đới đã được đề xuất (Hội nghị lâm nghiệp thế giới, 1954) trong các chương trình trồng rừng thương mại ở FiJi, Papua New Guinea Đến giai đoạn 1966 - 1980 các diện tích trồng thâm canh được mở rộng nhanh chóng để phục vụ cho công nghiệp chế biến

và các nhu cầu khác, các kỹ thuật lâm sinh đã được áp dụng vào sản xuất được quan tâm, như ở Brazil có nơi đã chuyển đổi hơn 400.000 ha rừng kém

chất lượng thành rừng trồng các loài cây Thông Caribeae (Pinus caribaea) và Bạch đàn (E saligna) (dẫn theo Julian Evans 1992) [100]

Từ sau năm 1980, diện tích rừng trồng công nghiệp ngày càng được mở rộng, hơn 14 triệu ha rừng đã được trồng trong 15 năm, Sedio (1978) đã ước lượng diện tích rừng trồng ở châu Mỹ La tinh giai đoạn 1980 - 1990 tăng gấp 3 lần, sản lượng gỗ công nghiệp tăng gấp 4 lần từ trồng rừng và có thể thỏa mãn 50% tổng yêu cầu gỗ của khu vực; Touzet (1985) khẳng định rằng “rừng trồng cần được phát triển và sẽ là nguồn gỗ chủ yếu cho tất cả các ngành công nghiệp

sử dụng gỗ” Tầm quan trọng đặc biệt và là bước đột phá trồng rừng trong giai đoạn này là việc nghiên cứu thử nghiệm thành công kỹ thuật nhân giống bằng con đường nuôi cấy mô và giâm hom (dẫn theo Julian Evans, 1992) [100]

Như vậy, lịch sử phát triển rừng theo hướng trồng thâm canh đã được quan tâm từ lâu, đặc biệt trong vài thập kỷ trở lại đây Nhiều quốc gia đã tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu cải thiện giống và nhân giống cây rừng, vì vậy năng suất rừng trồng một số loài cây mọc nhanh như Keo, Bạch đàn và một số cây trồng khác ở Trung Quốc và Công Gô đã đạt năng suất từ 40 - 50m3/ha/năm; Cộng hoà Nam Phi cũng đã tuyển chọn

được dòng E grandis năng suất đạt trên 40m3/ha/năm; Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Brazil thông qua con đường lai tạo giữa các loài Bạch đàn, đã tuyển chọn được một số tổ hợp lai cho năng suất từ 40 - 60m3/ha/năm

Trang 18

(Zebel et al, 1993), một số rừng Bạch đàn thí nghiệm bình quân đạt 100m3/ha/năm (dẫn theo Goncalves và cộng sự, 2004) [98]

Nghiên cứu chọn lập địa trong trồng rừng thâm canh cũng được nhiều nước quan tâm Kết quả nghiên cứu của tổ chức Nông - Lương Quốc tế (FAO, 1994) [95] ở các nước vùng nhiệt đới chỉ ra rằng: khả năng sinh trưởng của rừng trồng phụ thuộc rất rõ vào 4 nhân tố chủ yếu liên quan đến điều kiện lập địa là: khí hậu, địa hình, loại đất và hiện trạng trạng thực bì Nghiên cứu của Laurie (1974) đã cho thấy đất đai ở vùng nhiệt đới rất khác nhau về nguồn gốc và lịch

sử phát triển, điều này được thể hiện ở sự khác nhau về đặc điểm của các phẫu diện đất, cấu trúc vật lý, hàm lượng các chất dinh dưỡng khoáng, phản ứng của đất (độ pH) và nồng độ muối Đây chính là nguyên nhân dẫn đến khả năng sinh trưởng khác nhau của rừng trồng trên các loại đất khác nhau Khi đánh giá khả

năng sinh trưởng của loài Thông Pinus patula ở Swziland, Julian Evans

(1992), đã kết luận khí hậu có ảnh hưởng khá rõ đến năng suất rừng trồng, đặc biệt là sự ảnh hưởng của tổng lượng mưa bình quân hàng năm, sự phân bố lượng mưa trong năm, lượng bốc hơi và nhiệt độ không khí Kết quả nghiên

cứu của Pandey (1983) [101] về loài Bạch đàn Eucalyptus camadulensis đã cho

thấy, nếu trồng ở vùng nhiệt đới khô với chu kỳ kinh doanh từ 10 - 20 năm, năng suất chỉ đạt từ 5 - 10m3/ha/năm, nhưng trồng ở vùng nhiệt đới ẩm, năng suất có thể đạt tới 30m3/ha/năm Kết quả này lại một lần nữa khẳng định điều kiện lập địa khác nhau thì năng suất rừng trồng cũng khác nhau

Kết hợp với công tác cải thiện giống và chọn điều kiện lập địa, nhiều nước

đã có các công trình nghiên cứu đồng bộ, áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hiện đại trong trồng rừng thâm canh như chọn lập địa, làm đất, bón phân và

chăm sóc rừng… Vì vậy, năng suất của rừng cũng được tăng lên rõ rệt Những

kết quả nghiên cứu này cũng làm nổi bật quan điểm về thâm canh, không chỉ

là bón phân hay tưới nước, mà là liên hoàn các biện pháp kỹ thuật ở tất cả các

khâu trong kinh doanh rừng

Trang 19

1.2.2 Về thâm canh tre trúc

Tre trúc bao gồm những loài thuộc phân họ Tre (Bambusoideae),

họ Cỏ (Poaceae), trên thế giới có khoảng 500 loài (Dai Qihui, 1998) [94] Tre

trúc là một nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm một vị trí quan trọng trong tài nguyên rừng ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước vùng phía Nam và Đông Nam Á Ở các nước này người dân đã biết sử dụng tre trúc từ lâu đời để tạo ra hàng trăm sản phẩm phục vụ thiết thực cho đời sống hàng ngày Nhiều loài tre trúc là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành thủ công mỹ nghệ, công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp giấy sợi, công nghiệp chế biến ván nhân tạo Tre trúc cũng là vật liệu trong xây dựng, kiến trúc, giao thông vận tải, Một số loài tre trúc cho măng ăn ngon, đã trở thành đối tượng cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị Các sản phẩm từ tre trúc không còn bó hẹp trong biên giới của một số quốc gia mà đã có mặt ngày càng nhiều trên thị trường quốc tế và được nhiều nước châu Âu, châu Mỹ ưa chuộng

Chính vì vị trí quan trọng của nguồn tài nguyên này, tre trúc, đã được nghiên cứu từ lâu đời về nhiều mặt như: chọn giống, trồng, khai thác, sử dụng Gần đây có nhiều nghiên cứu nhằm phát triển gây trồng một số loài tre trúc theo mô hình rừng công nghiệp thâm canh với năng suất, chất lượng cao, hướng theo mục đích sử dụng nhất định Trung Quốc có khoảng 100.000 ha rừng tre trúc trồng lấy măng với năng suất trung bình 10 - 20 tấn/ha/năm và cao nhất đạt 30 - 35 tấn/ha/năm Trung Quốc cũng có khoảng 3 triệu ha vừa sản xuất măng lại vừa sản xuất thân tre Tổng sản lượng măng của Trung Quốc khoảng 1 triệu tấn/năm (Fu Maoyi, Xiao Jianghua, 1996) [96]

Những nghiên cứu đầu tiên về tre trúc là các nghiên cứu về mặt phân loại, hình thái và sinh thái học công trình "Các loài tre trúc" của Gamble (1896) [97] đã đề cập tương đối chi tiết về phân bố, hình thái và một số đặc điểm sinh thái của 151 loài tre trúc có ở các nước Ấn Độ, Pakistan, Mianmar,

Trang 20

Malayxia và Inđônexia Đến đầu thế kỷ XX đã xuất hiện nhiều nghiên cứu tre trúc về các mặt như: lâm học, tái sinh, khai thác… Sau 10 năm tập trung nghiên cứu, năm 1960 công trình "Nghiên cứu sinh lý tre trúc" của Koichiro Ueda [41] đã tiến hành thống kê số măng bị thui hàng năm ở rừng Trúc sào

(Phyllostachys edulis) chiếm 60 - 80%, Phyllostachys reticulata 30-50% từ

đó đề cập đến vấn đề khai thác tận dụng măng và áp dụng biện pháp bón phân

để tăng số lượng và kích thước của thân khí sinh

Công trình “Bamboo rediscovered” của Victor Cusack (1997) [107] đề cập đến biện pháp bón phân làm cho nhiều loài tre trúc phát triển tốt, măng to, nhưng phải bón một cách hợp lý tùy thuộc vào loài nhất định Theo Alrasjid

(2003) [91] tre được coi là một trong những loài cây sử dụng “tham lam”

dinh dưỡng của đất Vì vậy, không sử dụng phân bón trong trồng tre sẽ làm giảm sút nhanh chóng sức sản xuất của đất, dẫn đến đất rừng trồng tre sẽ nhanh chóng bị suy thoái

Fu Maoyi, Xiao Jianghua (1996) [96] với tác phẩm “Cultivation & Utilization on Bamboos” đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh măng, sinh trưởng và phát triển của thân khí sinh là: độ ẩm, nhiệt

độ, dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh Đây là những nhân tố cần phải được quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng suất măng và thân khí sinh

Tre trúc được gây trồng ở nhiều nước với 3 mục đích kinh doanh: chuyên cung cấp măng, chuyên khai thác thân khí sinh hoặc kết hợp cả lấy măng và chuyên khai thác thân ký sinh Các biện pháp thâm canh tăng năng suất chất lượng được nghiên cứu và thực nghiệm chủ yếu là: Bón phân, điều chỉnh mật độ khóm trên hecta, điều chỉnh số lượng thân khí sinh để lại cho mỗi khóm và mỗi thế hệ, phòng trừ sâu bệnh cho từng loài cụ thể Ngoài ra, các điều kiện khí hậu như lượng mưa, nhiệt độ, độ cao, điều kiện thổ nhưỡng cũng

Trang 21

là những nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sinh trưởng, phát triển của rừng tre trúc và được chọn làm tiêu chí khi tuyển chọn loài và biện pháp thâm canh Kết quả nghiên cứu của nước ngoài là nguồn tài liệu tham khảo rất

có giá trị, đặc biệt đối với những loài có quan hệ thân thuộc cây Luồng của Việt Nam được chọn làm đối tượng nghiên cứu của đề tài

1.2.3 Về chi Luồng (Dendrocalamus)

Chi Luồng (Dendrocalamus) có khoảng 35 loài trên thế giới, riêng

Trung Quốc có 30 loài (ở Vân Nam có 24 loài) (Yang et al., 1999) [110]; Trung Quốc cũng đã ghi nhận tới 410 loài, chủng và giống (Pei et al., 1999); Ấn

Độ có 20 loài (Seethalakshmi và Kumar, 1998) [103]

Những nghiên cứu về thâm canh các loài cây thuộc chi Dendrocalamus

được quan tâm ở nhiều góc độ khác nhau, trong đó chủ yếu là các công trình nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong kinh doanh rừng Có thể tóm tắt theo các vấn đề sau:

- Về chọn giống, nhân giống

Chi Dendrocalamus có thể thực hiện nhân giống bằng phương pháp hữu tính

hoặc sinh dưỡng nhưng chủ yếu là bằng phương pháp nhân giống sinh dưỡng

Tại Kenya, Bernard Kingomo (2007) [92] đã đề cập đến nhân giống bằng cách dùng thân và gốc để tạo cây con Nếu dùng hom thân nên lấy thân cây có độ tuổi từ 2 - 3 năm, cắt một đoạn có 2 đến 3 mắt để làm vật liệu, đục

lỗ cách các mắt từ 5 – 7 cm, sau đó vùi sâu 6 – 10 cm theo hướng nằm ngang vào đất trộn cát, sau đó dùng axít 1-Naphthalene acetic (NAA) đổ vào lỗ đã đục để kích thích ra rễ Nếu dùng gốc để trồng, chọn cây có độ tuổi 1 - 2 năm, đào sâu 30 - 60 cm và cắt toàn bộ gốc mang đi trồng ngay

Verma và Arya (1998) [108] đã nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần ruột bầu đến sinh trưởng, sinh khối và khả năng hút dinh dưỡng của cây

Dendrocalamus asper nuôi cấy mô, tác giả đã kết luận, sau 12 tháng thí

nghiệm, thành phần ruột bầu với tỷ lệ 1 cát: 1 đất (về thể tích) làm giảm khả

Trang 22

năng ra rễ và hàm lượng P trong rễ Trong khi ở các thí nghiệm bón bổ sung phân hữu cơ thì các chỉ tiêu nghiên cứu như chiều cao, sinh khối khô và khả

năng ra rễ của Dendrocalamus asper đều tốt hơn

Ngoài phương pháp nhân giống sinh dưỡng, ở một số nơi trên thế giới, các loài tre Luồng cũng được nhân giống từ hạt Tại Thái Lan và Ấn Độ, việc

nhân giống bằng hạt đã được thực hiện cho các loài cây như Dendrocalamus

brandisii, Dendrocalamus membranaceus, Dendrocalamus strictus và Dendrocalamus (Bernard, 2007 và Dai Qihui, 1998) [92], [94] Tuy nhiên, do

cây con được tạo bằng hạt không đạt được những ưu điểm vượt trội so với cây con được tạo bằng thân, gốc hoặc cành Do vậy, đến nay phần lớn cây con của các loài tre Luồng đều được tạo bằng phương pháp nhân giống sinh dưỡng

- Về điều kiện lập địa trồng rừng

Một trong những biện pháp quan trọng của kỹ thuật trồng rừng là chọn được lập địa phù hợp Việc chọn đúng lập địa sẽ nâng cao năng suất và duy trì lâu dài sức sản xuất của rừng Theo kết quả nghiên cứu Bernard Kingomo (2007) [92] cho thấy các loài chi Luồng thường ưa thích các loại đất sét và sét pha cát Tuy nhiên, dù loại đất nào thì cũng phải thoát nước tốt vì măng Luồng không chịu được ngập nước Độ pH thích hợp cho Luồng là từ 4,5 - 6 Theo tác giả Dai Qihui (1998) [94] đã khuyến nghị nên chọn nơi có độ dày tầng đất cao, đất còn

tốt, ẩm và thoát nước tốt để trồng các cây thuộc chi Dendrocalamus Trồng ở các

thung lũng, dọc bờ sông, suối và cũng có thể trồng ở chân và sườn đồi thường sinh trưởng tốt Nếu trồng nơi đất khô xấu thì có thể sống nhưng măng và thân cây sẽ nhỏ, không mang lại hiệu quả kinh tế cao Đây có thể coi là kinh nghiệm

có ý nghĩa quan trọng trong việc chọn lập địa phù hợp để kinh doanh rừng Luồng theo hướng bền vững

Tại Indonesia, Sutiyono (2004) [105] đã tiến hành nghiên cứu dinh

dưỡng đất của rừng Dendrocalamus asper Back Kết quả nghiên cứu dinh

Trang 23

dưỡng của đất ở các tầng từ 0 – 20cm và 20 – 40cm dưới tán rừng, tác giả chỉ

ra độ chua, hàm lượng mùn, ni tơ, kali, các ion K+, Na+, Ca+, Mg+ và các cation trao đổi đều rất thấp ở cả 2 tầng đất Nhìn chung hàm lượng các chất dinh dưỡng đều rất thấp, riêng phốt pho tổng số là cao ở cả 2 tầng Về thành phần cơ giới của đất, ở tầng từ 0 – 20cm thành phần cơ giới là sét với hơn 45% là sét và 34% là cát Silicate (Si) ở tầng 0 - 20cm cao hơn so với tầng từ

20 – 40cm Nguyên nhân là do quá trình phân huỷ lá ở tầng đất mặt nhanh hơn so với tầng đất sâu

- Về biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng

+ Về xử lý đất và thực bì, Bernard (2007) [92] trước khi làm đất trồng

rừng Dendrocalamus nên xử lý thực bì bằng cách phát dọn cỏ, cây khóm

Kích thước và cự ly hố tùy thuộc vào phương pháp và loài cây trồng Đối với các loài cây có kích thước to thì hố đào thường có kích thước là 60cm x 60cm

x 60cm Nơi có lượng mưa trung bình thấp, nên đào hố to hơn so với nơi có lượng mưa cao Hố sau khi đào được lấp gần đầy, thấp hơn miệng hố khoảng

10 cm, có thể trộn 2kg phân lân hoặc phân chuồng cho mỗi hố Đất được lấp trước khi trồng 1 tháng Theo Dai Qihui (1998) [94] có 3 phương pháp làm đất như sau: (i) làm đất toàn diện: cuốc sâu 20cm, sau đó đào hố theo kích thước và cự li đã thiết kế (ii) Làm đất theo băng: cày đất theo băng có chiều rộng 1-2m và sâu 20cm, cự li giữa các băng cày 1-2m (iii) Làm đất cục bộ theo hố: đào các hố theo cự li mong muốn, kích thước hố chiều dài x chiều rộng x chiều sâu tương ứng là 50cm x 50cm x 40cm hoặc 100cm x 50cm x

40cm, mật độ trồng với các loài Dendrocalamus có đường kính thân cây nhỏ

hơn 6cm là 1.660 cụm/ha, đối với những loài có đường kính thân cây to hơn thì mật độ trồng khoảng 830 cụm/ha (3m x 4m) hoặc 625 cụm/ha (4m x 4m)

Với một số loài cây to như Dendrocalamus giganteus cự li giữa các cụm là 10m x 10m (tương đương 100 cụm/ha) hoặc Dendrocalamus hamiltonii thì cự

Trang 24

li giữa các cụm là 7m x 7m (tương đương 205 cụm/ha) Ngoài biện pháp làm đất như đã nêu trên, TIFAC (2004) [106] đã khuyến cáo nên đào rãnh và lên líp để trồng, Luồng trồng trên líp do đất xốp nên sẽ phát triển nhanh, trong các năm sau có thể đào thêm đất trong rãnh và bổ sung vào líp Kích thước hố có thể là 60cm x 60cm x 60cm Bón 5kg phân chuồng, 0,1kg urê, 0,1kg super lân

và 0,05kg kli

+ Về phương thức trồng, Fu Maoyi (1996) [96] cho thấy có thể trồng

Dendrocalamus thuần loài hoặc hỗn loài với các loài cây lá rộng hoặc trồng theo phương thức nông lâm kết hợp Tác giả cho biết, tại Trung Quốc

Dendrocalamus có thể trồng xen với cây chè, trong đó cự li trồng của

Dendrocalamus là 6m x 4m và cự li trồng chè là 2m x 0,5m Với mô hình trồng hỗn loài với cây lá rộng là 7:3 hoặc 8: 2 Mô hình trồng với các loài cây

lá kim và cây lá rộng thì tỷ lệ Dendrocalamusvới cây lá kim và cây lá rộng là 6:1:3 hoặc 7:1:2 Trong mô hình trồng xen với các loài cây nông nghiệp trong khi chưa khép tán có thể trồng xen nhiều loài cây khác nhau như: dưa hấu; đậu tương; khoai lang; mía và các loại rau khác Tuy nhiên, để kinh doanh theo phương thức này được bền vững theo tác giả các cây nông nghiệp nên

trồng cách Dendrocalamus 1m để có không gian dinh dưỡng cho

Dendrocalamus phát triển Ngoài ra còn có thể trồng Dendrocalamus xen cây

dược liệu hoặc xung quanh ao cá, đồng ruộng v.v… Như vậy, có thể trồng

hỗn loài Dendrocalamus với các loài cây khác sẽ có tác dụng hạn chế sự suy

thoái của rừng và tăng giá trị kinh tế của rừng

+ Về kỹ thuật trồng, Dai Qihui (1998) [94] cho biết dù cây con

Dendrocalamus được tạo hạt hay từ nhân giống sinh dưỡng, trước khi trồng

nên cắt ngọn chỉ để lại 2-3 đốt Đối với cây con được tạo từ hạt thì đặt cây con

ở tư thế thẳng đứng, lấp đất và phủ lên gốc cây 3 - 4cm Với cây đem trồng bằng gốc, đặt cây ở tư thế thẳng đứng, lấp đất và phủ đất cách cổ rễ 10cm

Trang 25

+ Về kỹ thuật bón phân, Dai Qihui (1998) [94] cho biết: đối với cây

Dendrocalamus trồng lấy măng, để sản xuất 100kg măng tươi, cây cần 500 –

700g Nitơ, 100 – 150g Phốt pho và 200 – 250g Kali từ đất Như vậy, nếu muốn thu hoạch 15.000kg măng tươi trên ha mỗi năm cần bổ sung từ 75 – 100kg Nitơ, 15 - 22,5kg Phốt pho và 37,5kg Kali Nếu không dùng các loại phân hóa học nêu trên, bón 37.500kg phân chuồng cho 1ha hàng năm cũng có thể bổ sung lượng dinh dưỡng cần thiết trên Việc bón phân chia làm nhiều lần trong năm Đối với tre Luồng trồng lấy thân, để sản xuất 1.000 kg thân tre Luồng cần 2,5 - 3,5kg Nitơ, 0,3 - 0,4kg Phốt pho và 3 – 4 kg Kali từ đất Theo

Fu Maoyi, XiaoJianghua (1996) [96] đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh măng, sinh trưởng và phát triển của thân khí sinh là:

độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh Đây là những nhân tố cần phải được quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng xuất măng và thân khí sinh Victor Cusack (1997) [107] cho rằng biện pháp bón phân làm cho nhiều loài tre trúc phát triển tốt, măng

to, nhưng phải bón một cách hợp lý tuỳ thuộc vào loài nhất định Nghiên cứu

về chu trình dinh dưỡng trong rừng Bambusa bambos các tác giả

Shanmughavel và Fracis (1997) [104] cho biết lượng dinh dưỡng trong cây đứng gia tăng theo tuổi của cây, vì vậy lượng dinh dưỡng trả lại cho đất không đủ so với lượng dinh dưỡng mà cây đã lấy đi Nghiên cứu của Jha và

Lalnunmawia (2004) [99] về trồng xen giữa các loài cây Dendrocalamus

hamiltonii, D.longispathus và gừng trong các công thức thí nghiệm về bón

phân đã cho thấy sản lượng của các loài trong các thí nghiệm bón phân cao hơn rõ rệt so với công thức không bón phân Trung tâm nghiên cứu tre trúc

Trung Quốc (2001) [93] bằng các thí nghiệm với loài Dendrocalamus

latiflorus (tre Bát độ) và Dendrocalamus oldhamii (Lục trúc) cho thấy phân

bón làm tăng nhiệt độ trong đất giúp không khí và nước lưu thông tốt hơn,

Trang 26

kích thích măng ra sớm hơn, sản lượng măng và thân khí sinh tăng cao hơn

Điều này cho thấy việc bón phân cho rừng Dendrocalamus là rất cần thiết

nhằm kinh doanh rừng bền vững và có năng suất cao

+ Về kỹ thuật khai thác, thu hoạch Theo Dai Qihui (1998) [94], đối với các loài tre trồng để lấy măng, nếu muốn chế biến măng khô, khi kích thước măng có chiều cao đạt từ 1,3 - 1,5m có thể tiến hành thu hoạch, nếu muốn chế biến thành các sản phẩm khác, thu hoạch măng non có chiều cao khoảng 30cm Khi khai thác măng, không nên khai thác quá mức mà cần để lại để đảm bảo mật độ và sức sản xuất của rừng Nhìn chung, mỗi khóm nên để lại 3

- 4 măng để phát triển thành cây Đối với các loài tre trồng để lấy thân, do măng mọc đầu và giữa mùa thường là những măng khỏe và chiếm khoảng 85% tổng số măng của mùa nên cần giữ lại măng này để khai thác cây Chỉ nên thu hoạch các măng mọc cuối mùa

+ Về sâu bệnh hại, Xu Tiansen (1998) [109] cho biết các loài chi

Dendrocalamus thường gặp các loại sâu ăn lá, sâu đục thân, sâu hút nhựa, sâu

ăn búp măng Tùy vào đặc điểm từng loại sâu tác giả đã đưa ra các biện pháp phòng trừ thích hợp như: làm cỏ, xới đất, sử dụng các thiên địch, sử dụng các loại thuốc hóa học để tiêu diệt và hạn chế sự phát triển của các loài sâu, bệnh hại

Nhìn chung, các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Australia, Indonesia, Nhật Bản đã nghiên cứu rất nhiều về tre trúc, đặc biệt trong thâm canh nâng cao năng suất rừng So với Việt Nam họ đã đạt được nhiều tiến bộ hơn như:

đã nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô thành công giống để sản xuất cây con với số lượng lớn mà có thể kiểm soát được nguồn giống tốt mang nguyên đặc điểm tốt của bố, mẹ và không nhiễm bệnh; trồng tre trúc bằng phương pháp hỗn giao nhiều loài cây với tỷ lệ thích hợp để tận dụng tốt không gian dinh dưỡng, nâng cao sức sản xuất của rừng, tăng tính bền vững; cân bằng dinh dưỡng trong đất bằng cách bón một lượng phân tương ứng với

Trang 27

lượng dinh dưỡng đã mất do khai thác đã nâng cao sức sản xuất và ổn định trong suốt chu kỳ kinh doanh, khai thác cây và măng hợp lý đảm bảo cho sự bền vững của rừng Các kết quả này là cơ sở quan trọng trong việc xây dựng các biện pháp kỹ thuật thâm canh rừng Luồng tại Thanh Hóa

1.3 Những nghiên cứu ở trong nước

1.3.1 Về thâm canh rừng

Thâm canh rừng là một hình thức tái sản xuất mở rộng trong lĩnh vực kinh doanh lâm nghiệp bằng các biện pháp đầu tư kỹ thuật theo chiều sâu nhằm nâng cao năng suất, chất lượng diện tích phần rừng trên từng đơn vị diện tích canh tác và hạ giá thành trên từng đơn vị quần thể rừng (Từ điển Bách Khoa nông nghiệp NXB Hà Nội 1991) [81] Đó là khái niệm chung chỉ rõ mục tiêu định hướng yêu cầu của biện pháp tác động của thâm canh rừng nói chung là nâng cao chất lượng và hạ giá thành bằng cường độ và chiều sâu đầu tư

Thâm canh rừng trồng là tăng cường đầu tư các biện pháp kỹ thuật tổng hợp tác động vào rừng từ khâu tạo cây con, làm đất trồng rừng, chăm sóc bảo

vệ rừng đến khâu khai thác rừng nhằm nâng cao số lượng và chất lượng lâm sản, đồng thời củng cố tiềm năng tự nhiên của rừng để nâng cao sức sản xuất của rừng (Nguyễn Xuân Xuyên và các cộng tác 1985) [88]

Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [42] thâm canh rừng trồng là nhằm bảo

vệ và sử dụng triệt để các điều kiện về tài nguyên, khí hậu, đất đai, sinh vật và

áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại có liên quan để nâng cao năng suất rừng và hiệu quả kinh tế Thâm canh rừng đòi hỏi một hệ thống các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tổng hợp liên hoàn từ khâu chọn loại cây trồng, chọn giống, kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc, tỉa thưa dựa trên mô hình mật độ tối ưu cho đến đảm bảo tái sinh trong khai thác

Theo Nguyễn Xuân Quát [59], [60] Trồng rừng thâm canh là một phương pháp canh tác dựa trên cơ sở được đầu tư cao bằng việc áp dụng các

Trang 28

biện pháp kỹ thuật tổng hợp liên hoàn Các biện pháp đó phải tận dụng cải tạo, phát huy được mọi tiềm năng của tự nhiên cũng như của con người nhằm thúc đẩy mạnh mẽ sinh trưởng của rừng trồng để thu được năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt với giá thành hạ để cho hiệu quả lớn, đồng thời cũng phải duy trì và bồi dưỡng được tiềm năng đất đai và môi trường đảm bảo an toàn sinh thái đáp ứng yêu cầu phát triển trồng rừng ổn định lâu dài và bền vững

Theo Vũ Biệt Linh và cộng sự (1996) [48], thâm canh rừng trước hết tập trung vào rừng tự nhiên, chuyển hoá và làm giàu nó sao cho những loài cây có giá trị kinh tế được sự tác động hợp lý sẽ phát triển nhanh và nhiều hơn các loài cây tạp khác Xây dựng rừng thâm canh không chỉ bó hẹp trong khuôn khổ làm giàu rừng nghèo kiệt mà còn phải bao gồm có nhiệm vụ chuyển hoá rừng trung bình hoặc rừng giàu theo các định hướng thâm canh cũng như trồng rừng thâm canh trên các dạng lập địa không còn rừng tự nhiên nữa

Như vậy, trồng rừng thâm canh phải đáp ứng được yêu cầu của một phương thức kinh doanh về các mặt:

- Hiệu quả kinh tế: là hiệu quả về đầu tư và thu nhập trên mô hình sử

dụng đất hay mô hình trồng rừng thâm canh;

- Hiệu quả xã hội: tạo sản phẩm sản xuất ra trên một đơn vị diện tích

lớn, mang lại lợi ích cho người sản xuất và tiêu dùng, giải quyết vấn đề lao động, tạo vùng chuyên canh, phát triển kinh tế hàng hoá…;

- Hiệu quả môi trường: bảo vệ và cải thiện điều kiện đất đai để sử dụng

đất lâu dài, ổn định, bảo vệ môi trường và duy trì cân bằng sinh thái…

Trong thực tiễn sản xuất, từ năm 1980 trở lại đây hoạt động cải thiện giống cây rừng không ngừng đẩy mạnh Nổi bật là việc nghiên cứu thành công lai giống nhân tạo, khảo nghiệm giống một số loài cây gỗ mọc nhanh như Keo, Bạch đàn và Thông của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (Lê Đình Khả, 1999; 2003; 2006) [37], [38], [39] Theo Nguyễn Quang Dương

Trang 29

(2001) [20], khoảng 70% giống cho trồng rừng sản xuất đã có chất lượng tốt,

tỉ lệ thành rừng đạt trên 80% và năng suất rừng đạt 15 - 20m3/ha/năm

Nghiên cứu về điều kiện lập địa trồng cây lâm nghiệp có công trình nghiên cứu của Đỗ Đình Sâm và cộng sự (1994) [63] đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp vùng Đông Nam Bộ, công trình của Phạm Thế Dũng và cộng sự (2004) [19] nghiên cứu về sản lượng rừng trồng Keo trên các lập địa khác nhau ở Đông Nam Bộ Các kết quả nghiên cứu chỉ mức

độ thích hợp của các loài cây với các điều kiện lập địa, năng suất cây trồng

sẽ khác nhau trên các điều kiện lập địa khác nhau khi áp dụng biện pháp kỹ thuật thâm canh như nhau

Nghiên cứu về kỹ thuật bón phân trong thâm canh rừng có các công trình của Lê Đình Khả, Hồ Quang Vinh (1998) [36], Nguyễn Huy Sơn (2006) [64], Nguyễn Đức Minh, Nguyễn Thị Thu Hương (2014) [52], cho các đối tượng Keo và Bạch đàn Kết quả nghiên cứu của các công trình này khẳng định bón phân có ảnh hưởng khá rõ đến sinh trưởng của các loài cây trồng, đặc biệt là đối với các loài cây trồng rừng nguyên liệu Tuy nhiên, để tăng cường hiệu lực của phân bón thì cần bón đúng loại phân, đúng thời vụ, đúng liều lượng và cùng với kỹ thuật hợp lý

Một xu hướng mới trong thâm canh rừng là cần khai thác rừng dựa trên nguyên lý sản lượng ổn định, hay dựa trên mô hình rừng mong muốn Đây được xem là chuẩn mực cho các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm phục hồi hiệu quả khai thác rừng

+ Thuật ngữ mô hình rừng mong muốn

Cho đến nay ở Việt Nam đã có nhiều thuật ngữ được sử dụng để chỉ mô hình cấu trúc rừng mong muốn Có thể liệt kê một số thuật ngữ thường được

sử dụng như: Kết cấu chuẩn (Vũ Biệt Linh, 1996) [48]; Mẫu chuẩn tự nhiên (Nguyễn Ngọc Lung, 1961-1995) [49]; Cấu trúc mẫu (Nguyễn Văn Trương,

1983 [75]; Phùng Ngọc Lan, 1986 [42]; Vũ Đình Phương, 1987 [57]); Lâm

Trang 30

phần chuẩn (Vũ Tiến Hinh, Phạm Ngọc Giao, 1993, 1997 [31]); Sản lượng ổn định (Bảo Huy 2007 [34]); Cấu trúc rừng lý tưởng (Nguyễn Hồng Quân 2004 [61]); Cấu trúc chuẩn, cấu trúc hợp lý, cấu trúc rừng ổn định (Phạm Văn Điển, (2006, 2007) [23], [24], [25]; Cấu trúc rừng ổn định (Bảo Huy, 2005,

2007, Nguyễn Hồng Quân, 2004) [33], [34], [61]

Cách hiểu về thuật ngữ cấu trúc rừng mong muốn luôn phụ thuộc vào

mục đích, yêu cầu kinh doanh và tình hình thực tiễn (Bảng 1- 1)

Bảng 1.1: Cách hiểu về mô hình cấu trúc rừng mong muốn

theo mục đích kinh doanh rừng

Rừng đặc dụng –

bảo tồn nguyên vẹn

hệ sinh thái rừng

Rừng chuẩn, rừng mẫu, rừng lý tưởng

Là rừng tốt nhất trong tự nhiên,

có thể đạt cao đỉnh khí hậu

Rừng sản xuất (gỗ)

Rừng định hướng, rừng ổn định, rừng mong muốn

(1)- Là mô hình rừng có tăng trưởng

trữ lượng cao nhất Nói cách khác, có năng suất cao nhất

(2)- Là mô hình chỉ rõ cấu trúc của

rừng cần đạt đến ở một thời điểm nào

đó trong quá trình phát triển/diễn thế đi lên của rừng mà việc tác động vào rừng cần phải căn cứ vào cấu trúc này

để dẫn dắt rừng phát triển liên tục, không bị suy giảm về số lượng và chất lượng rừng

Rừng phòng hộ

Rừng định hướng, rừng ổn định, rừng mong muốn

Là mô hình chỉ rõ cấu trúc rừng cần đạt đến để đáp ứng được các yêu cầu phòng hộ hoặc phòng hộ –kinh tế

Trang 31

Điểm chung là việc thiết lập các mô hình cấu trúc rừng mong muốn đều nhằm hướng tới quản lý rừng bền vững Việc xác định rõ các tiêu chuẩn của rừng cần đạt được hay mong muốn hướng tới là vấn đề được các nhà khoa

học trên thế giới sớm quan tâm với học thuyết rừng tiêu chuẩn đã được đưa ra

từ trước thế kỷ XIX Theo lý luận rừng tiêu chuẩn, khi cấu trúc vốn rừng bảo

đảm sản xuất liên tục trong những điều kiện kinh tế có lợi nhất thì vốn sản xuất được gọi là vốn chuẩn Những đặc trưng về cấu trúc, độ lớn của vốn

chuẩn này là những đặc trưng chuẩn Dựa vào đó, các mô hình rừng chuẩn, rừng mẫu đã được các nhà khoa học trên thế giới thiết lập để đáp ứng mục tiêu quản lý bền vững tài nguyên rừng Đến nay đã có trên 30 kiểu mô hình rừng bền vững đang phát triển tại 15 quốc gia, chiếm diện tích hơn 25,6 triệu

ha Tiếp cận mô hình rừng bền vững đã không chỉ chứng tỏ sự thành công rộng lớn cả về mặt địa lý và văn hóa mà còn cho thấy tầm ảnh hưởng và hiệu quả mang tính toàn cầu

Những nghiên cứu về trồng rừng thâm canh ngày càng được quan tâm, chú trọng đẩy mạnh trồng rừng sản xuất theo hướng thâm canh Năng suất rừng trồng tăng gấp 2 - 3 lần so với một số cây trồng trước đây nhờ vào áp dụng hiệu quả các biện pháp kỹ thuật lâm sinh Qua kết quả đánh giá cho thấy, tiềm năng

để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của rừng trồng theo hướng

áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh còn đang rộng mở Trồng rừng sản xuất nói chung và trồng rừng thâm canh nói riêng muốn nâng cao năng suất, chất lượng rừng cần có giống được cải thiện, chọn lập địa phù hợp và áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tiên tiến

1.3.2 Về thâm canh rừng tre trúc

Ở Việt Nam, có khoảng trên 200 loài tre trúc, phân bố ở hầu hết các tỉnh trong phạm vi toàn quốc và là nguồn nguyên vật liệu quan trọng đứng thứ hai sau gỗ, và có vị trí quan trọng trong đời sống văn hoá xã hội [55]

Trang 32

Theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Hưng, Nguyễn Tử Ưởng (2000), [35] nước ta có 1.489.068 ha rừng tre trúc thuần loài hoặc hỗn giao với cây gỗ, chiếm 4,53% diện tích toàn quốc với tổng trữ lượng là 8.400.767.000cây Trong đó: Rừng tre trúc tự nhiên có 1.415.552ha bằng 14,99% tổng diện tích rừng tự nhiên với trữ lượng là 8.304.693.000 cây bao gồm: Rừng thuần loại tre trúc có 789.221ha bằng 8,36% diện tích rừng tự nhiên với trữ lượng 5.863.091.000 cây; Rừng hỗn giao gỗ tre có 626.331ha bằng 6,63% diện tích rừng tự nhiên với trữ lượng 2.441.602.000 cây Rừng tre trúc trồng có 73.516 ha bằng 4,99% diện tích rừng trồng với trữ lượng 96.074.000 cây Diện tích và trữ lượng tre trúc đáng quan tâm nhất là vùng Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, Đông Bắc, Đông Nam Bộ rồi đến Tây Bắc

Trong “Kỹ thuật trồng tre trúc”, Hồng Minh (1963) [51] đã giới thiệu

sơ lược về đặc điểm hình thái, sinh thái, kỹ thuật chọn giống, gây trồng, chăm sóc và bảo vệ cho 12 loài tre trúc ở Miền Bắc Việt Nam Lê Nguyên Kế (1963) [40] trong cuốn “Trồng tre trúc” đã đưa ra một số kết quả nghiên cứu về những yêu cầu của đất trồng, giống, mật độ trồng Vương Tấn Nhị (1963) [54] với “Kinh doanh khai thác rừng Nứa” đã nêu rõ một số đặc điểm sinh thái học của cây Nứa như: Nhiệt độ từ 9 - 360C, lượng mưa từ 1.250 – 4.000 mm/năm (tối thiểu 1.000mm/năm) và khuyến cáo để kinh doanh tốt rừng Nứa cần phải

có phương pháp khai thác bồi dưỡng thích hợp Nghiên cứu nhân giống Trúc bằng thân ngầm của Trần Đức Hậu và Nguyễn Văn Tỵ (1974 - 1977) [29] đã xác định được thân ngầm ở tuổi 1 và tuổi 2 làm giống và tốt nhất với quy cách dài 50cm có 11 - 12 đốt và to 1cm – 1cm2 Đối với loài Tre Mai, theo Phạm Văn Điển, 2006 [22] nhân giống có thể bằng giống gốc hoặc bằng giống chét

Hoàng Xuân Tý trong “Tìm hiểu đất dưới rừng tre trúc thuần loài” (1972) [83] cho biết: trồng tre Diễn và tre Gai thuần loài làm cho tính chất vật

lý của đất bị thoái hoá nhanh chóng, giảm hàm lượng mùn, đạm, lân và kali,

Trang 33

do vậy khuyến cáo không nên trồng rừng tre trúc thuần loại, mà phải trồng xen với cây gỗ để đảm bảo độ phì của đất và sản xuất được nhiều luân kỳ

Lê Nguyên và các cộng sự (1971) [56] trong “Nhận biết, gây trồng bảo

vệ và khai thác tre trúc” tuy mới chỉ nghiên cứu tre trúc ở miền Bắc nhưng đã giới thiệu khá đầy đủ về gây trồng phát triển tre trúc mọc cụm và mọc tản cho mục đích kinh tế, bao gồm: Điều kiện nhân giống, gây trồng, kỹ thuật trồng,… tuy nhiên nội dung còn quá khái quát, hầu như không đề cập đến biện pháp thâm canh nào

Châu Quang Hiền (1981) [30] nghiên cứu “Kết cấu quần thể và quá trình

phục hồi sau khai thác trắng của rừng tre Lồ ô (Schizostachyum zollingery

Stend) tại huyện Phước Long (sông Bé)” đã chỉ ra: Phương thức khai thác trắng có ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng và phát triển, làm thay đổi cấu trúc, giảm sức sản xuất và hạn chế khả năng sản xuất liên tục của rừng Lồ ô,

do đó phương thức chặt chọn là phù hợp

Lâm Xuân Sanh và Châu Quang Hiền (1984) [62] trong công trình “Tre trúc Lồ ô” đã thống kê mô tả được một số đặc điểm của rừng tre Lồ ô như: thời vụ ra măng, hình thái cây măng và quá trình sinh trưởng của măng

Ngô Quang Đê (1994) [21] đã giới thiệu kỹ thuật gây trồng tre trúc cho

3 loài: Luồng, Mạy sang và Vầu đắng gồm các khâu ươm giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác và sử dụng

Năm 2000, Lê Quang Liên và cộng sự [47] đã thực hiện đề tài “Nghiên

cứu kỹ thuật trồng tre trúc để lấy măng” cho 2 loài Luồng (Dendrocalamus

barbatus) và tre Gầy (Dendrocalamus sp), trong đó có khảo nghiệm 3 công

thức bón phân NPK và khẳng định muốn trồng tre trúc để lấy cây hay lấy măng có năng suất cao thì cần phải trồng thâm canh

Hứa Vĩnh Tùng (2001) [76] trong “Khai thác đảm bảo tái sinh và sử dụng tre Lồ ô cho nguyên liệu giấy” đã khảo nghiệm 4 công thức cho thấy:

Trang 34

Cường độ khai thác 25% và 50% số cây trong lâm phần có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng chiều cao và đường kính cây măng

Triệu Văn Hùng, Nguyễn Xuân Quát, Hoàng Chương (2002) [32] trong

“Kỹ thuật trồng một số loài cây đặc sản rừng” đã giới thiệu kỹ thuật trồng cho

2 loài là Trúc sào và Vầu đắng gồm: Điều kiện gây trồng, nguồn giống, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến

Lê Viết Lâm và cộng sự (2005) [43] với đề tài “Điều tra bổ sung thành phần loài, phân bố và một số đặc điểm sinh thái các loài tre chủ yếu ở Việt Nam” đã liệt kê thành phần loài tre trúc ở Việt Nam, giới thiệu 40 loài tre trúc thông dụng gồm: phân bố, đặc điểm hình thái, sinh thái và công dụng để làm

cơ sở tham khảo cho nghiên cứu và sản xuất

Đỗ Văn Bản (2004) [1] tiến hành “Nghiên cứu đánh giá tình hình gây trồng các loài tre nhập nội lấy măng ở Việt Nam” đã thống kê: Hiện nay nước

ta có 4 loài tre nhập nội lấy măng đang được gây trồng: Điềm trúc, Lục trúc, Tạp giao và Mạnh tông, trong đó phát triển mạnh nhất là Điềm trúc và Lục trúc Diện tích trồng đang ngày càng được mở rộng: Đến năm 2003, chương trình khuyến lâm đã đầu tư cho nông dân trồng 1.461ha, tổng diện tích trồng tre Điềm trúc bằng nguồn giống Công ty đầu tư xuất nhập khẩu nông lâm sản chế biến thuộc Tổng công ty rau quả, nông sản tính đến 2003 là trên 2.700ha Diện tích trồng tre nhập nội lấy măng trên thực tế vượt xa những con số thống

kê được vì bên cạnh đó còn rất nhiều tổ chức, cá nhân tự bỏ vốn đầu tư trồng Ngoài ra, đề tài còn cung cấp những thông tin quan trọng: Đặc tính sinh thái, hình thái, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và kinh nghiệm gây trồng của nhân dân trên cả nước

Đỗ Văn Bản và các cộng sự (2005) [2] trong “Trồng thử nghiệm thâm canh các loài tre nhập nội lấy măng” đã tuyển chọn 3 loài tre nhập nội trồng

để lấy măng: Điềm trúc (Dendrocalamus latiflorus), Lục trúc (Bambusa

oldhamii) và Tạp giao với 13,5 ha mô hình thực nghiệm tại Phú Thọ và Thanh

Trang 35

Hoá Đề tài đã đưa ra được một số biện pháp thâm canh cho mô hình trồng thuần loài: Mật độ trồng, bón phân, điều chỉnh cây mẹ, đồng thời đã xây dựng hướng dẫn kỹ thuật trồng thâm canh, kỹ thuật khai thác măng và một số biện pháp sơ chế bảo quản măng Kết quả đề tài cho thấy: Điềm trúc có năng suất măng cao nhất, Lục trúc có năng suất thấp nhất, nên tập trung phát triển Điềm trúc vì năng suất và chất lượng măng cao

Phạm Văn Điển, Lê Viết Lâm, Bùi Thế Đồi, Trần Thị Thu Hà (2012) [26] trong “Hướng dẫn kỹ thuật thâm canh rừng tre nứa” đã giới thiệu về nguyên lý kỹ thuật trồng, chăm sóc, phục tráng và khai thác rừng tre nứa Đặc biệt đã giới thiệu tương đối đầy đủ kỹ thuật trồng, chăm sóc và khai thác các loài cây Bương, Luồng và Vầu đắng

Nghiên cứu về cấu trúc rừng mong muốn được thể hiện trong Quy phạm các biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre nứa [8] đã xác định số cây tàn che để lại cho từng khóm và tuổi cây khai thác cho từng đối tượng rừng tre nứa nhưng chưa xác định mật độ khóm và phân

bố số cây theo từng cấp tuổi Phạm Văn Điển và cộng sự (2006) [24] trong chuyên đề nghiên cứu đặc điểm cấu trúc hợp lý cho rừng nứa xen gỗ tại xã Bình Hẽm, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình đã đề xuất cấu trúc hợp lý cho nhóm cây nứa với 2 chỉ tiêu là (i) số cây thích hợp trên khóm, (ii) phân bố số cây hợp lý theo cấp tuổi.: nứa cái tổng số cây hợp lý trong khóm là 32 cây (8 non, 16 trung niên, 8 già); nứa xanh là 120 cây/khóm (30 non, 60 trung niên,

30 già) Đối với rừng tre nứa, nhóm tác giả này đã đề xuất mô hình rừng mong muốn gồm 3 chỉ tiêu: (i) mật độ khóm, (ii) số cây thích hợp trên khóm, (iii) phân bố số cây hợp lý theo cấp tuổi

Diện tích rừng tre trúc tương đối lớn, số loài phong phú và sản phẩm từ rừng tre trúc là nguyên liệu tạo ra hàng trăm loại mặt hàng tiêu dùng trong nước hoặc xuất khẩu có giá trị Vì vậy, ngay từ những năm đầu của thế kỷ

Trang 36

XX, tài nguyên tre trúc ở nước ta đã được quan tâm nghiên cứu và sản xuất Các loài được quan tâm nghiên cứu và gây trồng để lấy thân làm nguyên liệu và

lấy măng làm thực phẩm như là Trúc sào (Phyllostachys edulis), Luồng

(Dendrocalamus barbatus), Giang (Ampelocalamus patellaris), Diễn trứng

(Dendrocalamus sp), Vầu đắng (Indosasa angustata), Nứa lá nhỏ (Neohouzeana

sp), Tre gai (Bambusa blumeana), Bương mốc (Dendrocalamus aff Sinicus),

Mai ống (Dendrocalamus giganteus), Tre gầy (Dendrocalamus sp), Lồ ô (Bambusa procera), Là ngà (Bambusa bluemeana) và một số loài tre trúc

lấy măng nhập từ Trung Quốc, Đài Loan như: Điềm trúc (Bát độ)

(Dendrocalamus latiflorus), Lục trúc (Bambusa oldhamii), Mạnh tông (Dendrocalamus asper), Tạp giao (Hybrid) Những nghiên cứu đã góp phần

không ngừng nâng cao năng suất và giá trị sử dụng của rừng tre trúc

1.3.3 Thâm canh rừng Luồng

1.3.3.1 Về chọn giống, nhân giống

Do khả năng ra hoa và nảy mầm của hạt Luồng rất hạn chế nên việc nhân giống tre Luồng chủ yếu bằng phương pháp sinh dưỡng Người ta đã nghiên cứu nhân giống sinh dưỡng Luồng bằng nhiều phương pháp khác nhau như: chiết cành, giâm hom, tách chồi cụ thể các phương pháp như sau:

- Chọn, tạo giống Luồng bằng phương pháp chiết cành

Từ kết quả nghiên cứu của Lê Quang Liên [44], [45], [46] cho thấy, những cành có rễ khí sinh cho khả năng ra rễ tốt hơn cành không có rễ khí sinh, những cành có rễ khí sinh có thể giâm trực tiếp vào đất (có thể cho tỷ lệ ra rễ của hom trên 90%) Tuy nhiên, do số lượng cành có rễ khí sinh rất ít (chiếm 11,6%) nên dùng phương pháp này hệ số nhân giống không cao Phương pháp dùng bao nilon bọc bầu và đất + bùn có thể chiết được cho cành không mang rễ khí sinh và cho kết quả ra rễ đạt tỷ lệ 97% Sau đó cần chăm sóc cành chiết trong vườn ươm 4-6 tháng mới đủ tiêu chuẩn đem trồng Ngoài ra tuổi cành và

Trang 37

thời gian chiết cũng có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ ra rễ của cành chiết Nhìn chung tuổi cây nên từ 3 tuổi trở lên, tuổi cành chiết từ 6 - 8 tháng và thời gian chiết từ tháng 4 đến tháng 8 là tốt nhất Những nghiên cứu này đã được ứng dụng trong Tiêu chuẩn ngành 04 TCN 21 -2000 [10]

Theo Tài liệu kỹ thuật Bảo tồn khai thác và Sử dụng bền vững tài nguyên rừng Luồng bản địa Thanh Hóa, (2008) [87] và tài liệu Cây Luồng Thanh Hóa (2009) [28] cho biết: Khu vực lấy vật liệu giống cây Luồng có sức sinh trưởng và phát triển tốt, không bị nhiễm các loại sâu bệnh, tuổi rừng từ 6 tuổi trở lên và rừng không bị khai thác chặt phá nặng nề Chọn khóm Luồng để lấy giống là khóm có sức sinh trưởng tốt nhất Tiêu chuẩn cây mẹ làm giống phải được chọn trong khóm Luồng chưa có hiện tượng khuy (ra hoa) và không mang mầm mống sâu bệnh nhất là bệnh sọc tím; Cây mẹ phải có sức sinh trưởng tốt, có tuổi tương đối từ 6 đến 18 tháng đã

ra đủ lá; Cây mẹ phải có số lượng đủ lớn để có vật liệu nhân giống đáp ứng yêu cầu tối đa cả về số lượng và chất lượng cho trồng rừng càng nhiều càng tốt, nhưng tối thiểu không ít hơn 100 cây mẹ Các cây mẹ lấy từ một khóm Luồng sao cho được ít nhất 15 cành chiết, có thể lấy 2 - 3 cây mẹ lấy giống trên một khóm Luồng Cành chiết chỉ được lấy trên cây mẹ đủ tiêu chuẩn đã được xác định, tuổi cành từ 6 - 12 tháng, gốc cành phải có rễ màu xanh vàng Cành chiết đã có cành thứ cấp phát triển đủ lá, có đường kính gốc cành nơi tiếp giáp với thân cây không nhỏ hơn 1,5 - 2cm, có mầm chồi sinh trưởng nằm ở gốc cành còn gọi là mắt cua không bị thối Thời vụ chiết vào vụ xuân

và vụ thu Hỗn hợp ruột bầu để chiết cành là bùn ao hoặc đất ruộng trộn với rơm băm nhỏ theo tỷ lệ 2 bùn + 1 rơm theo thể tích, cho nước vừa đủ ẩm và dẻo Chặt 2/3 đường kính thân cây cách vị trí mặt đất 60cm, vít cây nằm ngang sao cho cành chĩa sang 2 bên thân cây, chú ý không làm tổn thương cơ giới đến cây mẹ, không chặt ngọn cây mẹ, không làm xây sát "mắt cua", nếu

có điều kiện có thể chiết trên cây đứng Cành chiết có chiều dài 30 - 40cm

Trang 38

tính từ gốc cành, có 3 mắt, phần ngọn cành được phát bỏ bằng dao sắc không được để xơ xước Cưa 4/5 đường kính gốc cành ở vị trí tiếp giáp giữa cành và thân cây mẹ theo hướng từ trên xuống, phía dưới gốc cành sâu 0,3cm theo hướng vuông góc với thân cây Bó bầu bằng hỗn hợp ruột bầu nêu trên với trọng lượng 150 - 200g cho một cành chiết Dùng nilon cỡ 12 x 60 cm để bó bầu Cắt cành chiết sau 20 - 25 ngày sau khi bó bầu, chọn cành có rễ màu vàng đang hình thành rễ thứ cấp để cắt đem về giâm tại vườn ươm Vị trí vườn ươm là nơi có đủ ánh sáng, gần nguồn nước nhưng không bị ngập úng, giao thông thuận tiện, quản lý và bảo vệ tốt, đất thịt nhẹ hoặc trung bình, độ dốc dưới 50 Đất vườn ươm phải được cày ải sâu 20cm, bừa 3 lần và làm sạch

cỏ dại trước khi lên luống ít nhất 1 tháng, dùng 20kg vôi bột rải và cày bừa đảo đều cho 500m2 để khử trùng Luống ươm làm nổi cao 0,2m, rộng 1,1 - 1,2m, dài tối đa 10m theo hướng Đông – Tây Bón phân chuồng hoai trước khi giâm cành 10 - 15 ngày, lượng phân bón 3 - 5kg/m2 mặt luống hoặc 2kg/rạch

+ Giâm cành: Cành giâm theo rạch, cự li rạch 40cm, cự ly cây trong rạch 20cm, rạch sâu từ 15 – 20cm đủ lấp kính hom bầu 5cm Bóc ni lông ra khỏi bầu chiết, đặt cành hơi nghiêng một góc 750 so với mặt luống, lấp đất và lèn chặt, không làm vỡ bầu Ngày sau khi giâm tưới 10 - 15 lít nước cho 1m2 mặt luống

+ Nuôi dưỡng và bảo vệ cành giâm: Tạo dàn che 0,7m, che 40-50% ánh sáng, thời gian che 30 - 40 ngày kể từ khi giâm cành Tưới nước tháng đầu từ 4 -

5 ngày/1 lần, lượng nước tưới từ 10 lít/m2 mặt luống, nếu trời quá khô nóng phải tưới hàng ngày vào buổi chiều mát Từ tháng thứ 2 trở đi khoảng 10 - 12 ngày tưới 1 lần, lượng nước tưới từ 13 - 15 lít/1m2 mặt luống Làm cỏ kết hợp phá váng 1 tháng 1 lần Bón thúc 2 lần sau khi giâm cành 1 tháng và 3 tháng vào thời điểm sau khi làm cỏ phá váng Cây được nuôi dưỡng trong vườn ươm từ 6 tháng trở lên, có một thế hệ cây mới đã mọc cành và tỏa đủ lá Không bị khuy

và không có biểu hiện bị khuy, không có mầm mống sâu bệnh

Trang 39

- Chọn, tạo giống Luồng bằng phương pháp giâm cành

Nhân giống Luồng bằng cành đã được tác giả Hoàng Vĩnh Tường nghiên cứu năm 1976-1977 [77] Theo tác giả, để có thể dùng cành làm giống trồng điều cơ bản là phải thúc đẩy được rễ phát triển, vì vậy ông đã nghiên cứu tác dụng của một số chất kích thích sinh trưởng đến việc nhân giống Luồng bằng cành Sau quá trình nghiên cứu đã rút ra kết luận: chất kích thích sinh trưởng có tác dụng tốt nhất là 2,4T với nồng độ 10 - 20mg/lít nước

và 2,4D với nồng độ 20 - 30mg/lít nước Cành giâm có tuổi từ 12 - 14 tháng, nhiệt độ không khí thời gian giâm lớn hơn 22,60C (từ tháng 4 đến tháng 10)

Tạo giống Luồng bằng phương pháp ươm cành đã được ban hành thành quy trình kỹ thuật (QTN.15-79) theo Quyết định số 1649 QĐ/KT của Bộ Lâm nghiệp nay là Bộ NN&PTNT ngày 26/11/1979

- Chọn, tạo giống Luồng bằng gốc, chồi gốc và hom thân

Nguyễn Ngọc Bình (1963) [3] đã nghiên cứu thành công phương pháp chọn tạo giống Luồng bằng gốc, chồi gốc (chét lớn) Vật liệu giống

là gốc của thân cây Luồng có tuổi từ 8 - 12 tháng đường kính 6 - 8cm và dài 80 - 120cm được đào đem trồng không qua giai đoạn vườn ươm Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, không phải qua khâu giâm ở vườn ươm, tỷ lệ sống cao, gốc có nhiều mắt nên khả năng sinh trưởng mạnh, nhanh cho măng Hạn chế của phương pháp này là tốn nhiều công để đánh gốc, hệ

số tạo giống thấp, chỉ áp dụng trong phạm vi nhỏ

Thân cây Luồng có thể dùng làm hom để tạo giống, thân được cắt thành từng đoạn dài 30 - 40cm (có 2 - 3 mắt) sau đó đào hố cho hom xuống rồi ủ rơm rạ, cỏ rác lên, kết hợp với tưới nước thường xuyên cho đến khi hom ra rễ

và mọc măng từ 1 - 2 lứa là đủ tiêu chuẩn đem đi trồng

Giống trồng rừng là một trong những khâu quan trọng quyết định đến năng suất sản lượng rừng Song hiện nay trên toàn quốc chưa có rừng giống Luồng nào được công nhận, chưa có tiêu chuẩn và kỹ thuật xây dựng, chuyển

Trang 40

hóa rừng giống cho Luồng Phương pháp gây tạo giống Luồng được ứng dụng phổ biến nhất hiện nay là chiết cành với các cành chiết được chọn thường là cành của những cây mà do tác nhân nào đó (sâu, bệnh, gió bão, ) làm cây gẫy ngọn Nhân giống Luồng bằng hom vẫn sử dụng 2,4D và 2,4T làm chất kích thích ra rễ Vì vậy, để có thể thâm canh rừng Luồng, rất cần thiết phải có giống Luồng tốt và phương pháp nhân nhanh các giống tốt đó phục vụ trồng rừng

1.3.3.2 Về lập địa trồng rừng Luồng

Nghiên cứu về lập địa trồng rừng Luồng đã được đề cập ở các góc độ khác bởi nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Ngọc Bình [3], [4], [5], Hoàng Văn Thắng (2008) [67], Lê Quốc Doanh, (2005) [18], Cao Danh Thịnh,

(2009) [68], Đặng Thịnh Triều, (2011) [73], Nguyễn Bá Tiệp, (2011) [72]

Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Bình [3], [4], [5] về đất trồng Luồng đã đưa ra kết quả luận về sự thích hợp của Luồng sinh trưởng từ tốt đến xấu trên 5 loại đất khác nhau (i) Đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá Poocphia; (ii) Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét biến hình tiếp xúc với Poocphia; (iii) Đất Feralit phát triển trên đá vôi; (iv) Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên phiến thạch Phyllit; (v) Đất Feralit nâu vàng phát triển trên phù sa cổ thượng lưu sông Âm Đất dưới rừng trồng Luồng hỗn loài với các cây gỗ họ đậu như lim xanh, lim xẹt với mật độ 200 cây/ha đã có tác dụng làm giảm mức độ thoái hóa đất sau 5 năm trồng rừng khá rõ rệt Hàm lượng mùn trong năm đầu

là 5,78% sau 5 năm hàm lượng mùn vẫn còn là 5,24%, hàm lượng N% tổng

số trong năm đầu là 0,31% sau 5 năm hàm lượng N% tổng số vẫn còn tới 0,29% Luồng sinh trưởng tốt nơi đất chua pH(H2O): 4,8-5,9; pH(KCl): 4,2-5,0 ở tầng đất mặt hàm lượng mùn và N tổng số tương quan rất chặt, hàm lượng K2O dễ tiêu trong đất tương quan tương đối chặt còn hàm lượng P2O dễ tiêu lại tương quan không chặt với sinh trưởng về đường kính của cây Luồng Kết quả nghiên cứu của Cao Danh Thịnh, (2009) [68] đã xác định được 5 nhân tố có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Luồng là tuổi rừng, độ ẩm, vị

Ngày đăng: 26/03/2015, 16:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Văn Bản (2004), Vài nét về hiện trạng tre nhập nội lấy măng, Bản tin LSNG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về hiện trạng tre nhập nội lấy măng
Tác giả: Đỗ Văn Bản
Năm: 2004
2. Đỗ Văn Bản (chủ trì), Lưu Quốc Thành, Lê Văn Thành (2005), Trồng thử nghi ệm thâm canh các loài tre nhập nội lấy măng, Viện KHLN Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trồng thử nghiệm thâm canh các loài tre nhập nội lấy măng
Tác giả: Đỗ Văn Bản (chủ trì), Lưu Quốc Thành, Lê Văn Thành
Năm: 2005
3. Nguyễn Ngọc Bình (1963), Một số nhận xét về trồng Luồng ở Lang Chánh, Tập san Lâm nghiệp- số 10, tr. 18-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về trồng Luồng ở Lang Chánh
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bình
Năm: 1963
4. Nguyễn Ngọc Bình (1964), Bước đầu nghiên cứu đặc điểm đất trồng Luồng, Báo cáo khoa học, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu đặc điểm đất trồng Luồng
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bình
Năm: 1964
5. Nguyễn Ngọc Bình (2001), Đặc điểm đất trồng rừng tre Luồng và ảnh hưởng của các phương thức trồng rừng đến tre Luồng, Thông tin Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp, (Số 6), Tr. 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm đất trồng rừng tre Luồng và ảnh hưởng của các phương thức trồng rừng đến tre Luồng
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bình
Năm: 2001
6. Bộ Lâm nghiệp (1979), Quy trình kỹ thuật ươm giống Luồng bằng cành, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình kỹ thuật ươm giống Luồng bằng cành
Tác giả: Bộ Lâm nghiệp
Năm: 1979
7. Bộ Lâm nghiệp (1979), Quy trình kỹ thuật ươm giống Luồng bằng cành (QTN.15-79), Ban hành kèm theo Quyết định số 1649 QĐ/KT ngày 26/11/1979, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình kỹ thuật ươm giống Luồng bằng cành (QTN.15-79)
Tác giả: Bộ Lâm nghiệp
Năm: 1979
8. Bộ Lâm nghiệp (1993), Quy phạm các giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre nứa (QN 14-92); Ban hành kèm theo Quyết định số 200/QĐ-KT ngày 31/3/1993, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy phạm các giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre nứa (QN 14-92)
Tác giả: Bộ Lâm nghiệp
Năm: 1993
9. Bộ Lâm nghiệp (1993), Quy phạm kỹ thuật xây dựng rừng giống và vườn giống (QPN/15-93); Quy phạm kỹ thuật xây dựng rừng giống chuyển hóa (QPN/16-93), Ban hành kèm theo Quyết định số 804/QĐ-KT, ngày 02/11/1993, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy phạm kỹ thuật xây dựng rừng giống và vườn giống (QPN/15-93); Quy phạm kỹ thuật xây dựng rừng giống chuyển hóa (QPN/16-93)
Tác giả: Bộ Lâm nghiệp
Năm: 1993
10. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2000), Quy phạm kỹ thuật trồng và khai thác Luồng (Tiêu chuẩn ngành 04 TCN 21-2000). Nhà xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy phạm kỹ thuật trồng và khai thác Luồng (Tiêu chuẩn ngành 04 TCN 21-2000)
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Năm: 2000
11. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2001), Văn bản tiêu chuẩn kỹ thuật lâm sinh, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản tiêu chuẩn kỹ thuật lâm sinh
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
12. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2005), Quy chế khai thác gỗ và lâm sản khác. Ban hành kèm theo Quyết định số 40/2005/QĐ-BNN, ngày 07/7/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế khai thác gỗ và lâm sản khác
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2005
13. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2011), Hướng dẫn thực hiện khai thác, tận thu gỗ và lâm sản ngoài gỗ, Ban hành kèm theo Thông tư số 35/2011/TT-BNNPTNT, ngày 20/5/2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện khai thác, tận thu gỗ và lâm sản ngoài gỗ
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Năm: 2011
14. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2009), Tiêu chí xác định và phân loại rừng, Ban hành kèm theo Thông tư số 34/2009/TT- BNNPTNT ngày 10/6/2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chí xác định và phân loại rừng
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Năm: 2009
15. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2013), Phê duyệt “Đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp”, Ban hành kèm theo Quyết định số 1565/QĐ- BNN-TCLN ngày 8/7/2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê duyệt “Đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp”
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Năm: 2013
16. Chi cục Lâm nghiệp, Sở Nông nghiệp và PTNT Thanh Hóa (2007), Báo cáo chuyên đề về thực trạng rừng Luồng Thanh Hóa, một số giải pháp kinh doanh rừng Luồng đạt hiệu quả cao và bền vững, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chuyên đề về thực trạng rừng Luồng Thanh Hóa, một số giải pháp kinh doanh rừng Luồng đạt hiệu quả cao và bền vững
Tác giả: Chi cục Lâm nghiệp, Sở Nông nghiệp và PTNT Thanh Hóa
Năm: 2007
17. Chính phủ (2001), Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg, ngày 12/11/2001 về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg, ngày 12/11/2001 về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2001
18. Lê Quốc Doanh, Hà Đình Tuấn, Andre Chabanne (2005), Canh tác đất dốc bền vững, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Canh tác đất dốc bền vững
Tác giả: Lê Quốc Doanh, Hà Đình Tuấn, Andre Chabanne
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
19. Phạm Thế Dũng, Phạm Viết Tùng, Ngô Văn Ngọc (2004), Năng suất rừng trồng Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ và những vấn đề kỹ thuật – lập địa cần quan tâm, Thông tin khoa học kỹ thuật lâm nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (2), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất rừng trồng Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ và những vấn đề kỹ thuật – lập địa cần quan tâm
Tác giả: Phạm Thế Dũng, Phạm Viết Tùng, Ngô Văn Ngọc
Năm: 2004
20. Nguyễn Quang Dương (2001), “Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng với việc trồng rừng kinh tế chủ lực”, Tạp chí NN&PTNT (12), trang 854 – 855 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng với việc trồng rừng kinh tế chủ lực”, "Tạp chí NN&PTNT
Tác giả: Nguyễn Quang Dương
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Cách hiểu về mô hình cấu trúc rừng mong muốn  theo mục đích kinh doanh rừng - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học cho việc thâm canh rừng Luồng Dendrocalamuss barbatus Hsueh et D.Z.Li tại Thanh Hóa
Bảng 1.1 Cách hiểu về mô hình cấu trúc rừng mong muốn theo mục đích kinh doanh rừng (Trang 30)
Hình 2.1: Mối quan hệ giữa các nội dung trong thâm canh rừng - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học cho việc thâm canh rừng Luồng Dendrocalamuss barbatus Hsueh et D.Z.Li tại Thanh Hóa
Hình 2.1 Mối quan hệ giữa các nội dung trong thâm canh rừng (Trang 51)
Hình 2.2: Cách tiếp cận và giải quyết các nội dung của luận án - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học cho việc thâm canh rừng Luồng Dendrocalamuss barbatus Hsueh et D.Z.Li tại Thanh Hóa
Hình 2.2 Cách tiếp cận và giải quyết các nội dung của luận án (Trang 52)
Hình 4.  ở xã Hồi Xuân, huyện - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học cho việc thâm canh rừng Luồng Dendrocalamuss barbatus Hsueh et D.Z.Li tại Thanh Hóa
Hình 4. ở xã Hồi Xuân, huyện (Trang 71)
Bảng 4.1: Diện tích, phân bố và độ che phủ của rừng Luồng  tại huyện Quan Hóa - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học cho việc thâm canh rừng Luồng Dendrocalamuss barbatus Hsueh et D.Z.Li tại Thanh Hóa
Bảng 4.1 Diện tích, phân bố và độ che phủ của rừng Luồng tại huyện Quan Hóa (Trang 72)
Hình 4.2: Mật độ theo tuổi cây trong rừng Luồng Quan Hóa - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học cho việc thâm canh rừng Luồng Dendrocalamuss barbatus Hsueh et D.Z.Li tại Thanh Hóa
Hình 4.2 Mật độ theo tuổi cây trong rừng Luồng Quan Hóa (Trang 77)
Hình 4.3: Hiện trạng chất lượng rừng Luồng theo thương phẩm - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học cho việc thâm canh rừng Luồng Dendrocalamuss barbatus Hsueh et D.Z.Li tại Thanh Hóa
Hình 4.3 Hiện trạng chất lượng rừng Luồng theo thương phẩm (Trang 79)
Bảng  4.5  cho  thấy,  trong  rừng  Luồng  ở  huyện  Quan  Hóa  có:  Trung  bình số cây loại 1 là 314 cây/ha chiếm 16,92% tổng số cây trong rừng với hệ  số biến động về loại cây này ở các lâm phần là  rất lớn (92,95%) - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học cho việc thâm canh rừng Luồng Dendrocalamuss barbatus Hsueh et D.Z.Li tại Thanh Hóa
ng 4.5 cho thấy, trong rừng Luồng ở huyện Quan Hóa có: Trung bình số cây loại 1 là 314 cây/ha chiếm 16,92% tổng số cây trong rừng với hệ số biến động về loại cây này ở các lâm phần là rất lớn (92,95%) (Trang 79)
Bảng 4.7: Các biện pháp kỹ thuật trồng Luồng đã áp dụng ở Quan Hóa - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học cho việc thâm canh rừng Luồng Dendrocalamuss barbatus Hsueh et D.Z.Li tại Thanh Hóa
Bảng 4.7 Các biện pháp kỹ thuật trồng Luồng đã áp dụng ở Quan Hóa (Trang 82)
Bảng 4.10: Đặc điểm đất trồng rừng Luồng ở Quan Hóa  Chỉ tiêu  Lớn nhất  Nhỏ nhất  Bình quân  S% - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học cho việc thâm canh rừng Luồng Dendrocalamuss barbatus Hsueh et D.Z.Li tại Thanh Hóa
Bảng 4.10 Đặc điểm đất trồng rừng Luồng ở Quan Hóa Chỉ tiêu Lớn nhất Nhỏ nhất Bình quân S% (Trang 93)
Hình 4.4: Biểu đồ tán xạ các nhân tố cấu trúc và sinh trưởng của rừng Luồng - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học cho việc thâm canh rừng Luồng Dendrocalamuss barbatus Hsueh et D.Z.Li tại Thanh Hóa
Hình 4.4 Biểu đồ tán xạ các nhân tố cấu trúc và sinh trưởng của rừng Luồng (Trang 95)
Hình 4.5: Biểu đồ tán xạ phản ánh mối liên hệ của DBH, H với các nhân tố địa hình và thổ nhưỡng - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học cho việc thâm canh rừng Luồng Dendrocalamuss barbatus Hsueh et D.Z.Li tại Thanh Hóa
Hình 4.5 Biểu đồ tán xạ phản ánh mối liên hệ của DBH, H với các nhân tố địa hình và thổ nhưỡng (Trang 97)
Bảng 4.11: Tiêu chuẩn phân chia điều kiện lập địa theo mức độ   thích hợp cho rừng Luồng - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học cho việc thâm canh rừng Luồng Dendrocalamuss barbatus Hsueh et D.Z.Li tại Thanh Hóa
Bảng 4.11 Tiêu chuẩn phân chia điều kiện lập địa theo mức độ thích hợp cho rừng Luồng (Trang 99)
Bảng 4.12: Xác định mức độ thích hợp cho các lô rừng Luồng  Mức độ - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học cho việc thâm canh rừng Luồng Dendrocalamuss barbatus Hsueh et D.Z.Li tại Thanh Hóa
Bảng 4.12 Xác định mức độ thích hợp cho các lô rừng Luồng Mức độ (Trang 100)
Bảng 4.15: Khả năng sinh và nuôi măng của khóm Luồng có cây tốt  Dạng - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học cho việc thâm canh rừng Luồng Dendrocalamuss barbatus Hsueh et D.Z.Li tại Thanh Hóa
Bảng 4.15 Khả năng sinh và nuôi măng của khóm Luồng có cây tốt Dạng (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w