Từ năm 2000, sau thành công trong sản xuất giống và nuôi thương phẩm ốc Hương ở điều kiện nhân tạo của các công trình nghiên cứu do Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản III chủ trì, ốc Hư
Trang 11
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến quý thầy cô, cán bộ thuộc bộ môn Hải Sản, khoa Nuôi Trồng Thủy Sản, trường Đại Học Nha Trang & Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản III Đặc biệt là cán bộ hướng dẫn tôi thực tập là thạc sĩ Lê Thị Hồng Mơ và thạc sĩ Hoàng Văn Duật, cùng toàn bộ cán bộ công nhân viên trại sản xuất giống ốc Hương thuộc Trung tâm Tư vấn sản xuất và dịch vụ Khoa học Công nghệ Thuỷ sản Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản III; gia đình, bạn bè
và mọi người thân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt kỳ thực tập
và luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên : Nguyễn Văn Phương
Trang 22
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 TỔNG LUẬN 3
1.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA ỐC HƯƠNG 3
1.1.1 Hệ thống phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm hình thái & cấu tạo 3
1.1.3 Đặc điểm phân bố sinh thái 5
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 8
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 10
1.1.6 Đặc điểm sinh sản vòng đời 10
1.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT GIỐNG VÀ NUÔI ỐC HƯƠNG 14
1.3 TRIỂN VỌNG CỦA NGHỀ NUÔI ỐC HƯƠNG Ở VIỆT NAM 19
1.3.1 Thuận lợi 19
1.3.2 Khó khăn 19
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM & THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 20
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 20
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.2.1 Sơ đồ nghiên cứu của đề tài 20
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 21
2.2.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu môi trường 21
2.2.4 Kỹ thuật nuôi 21
2.2.5 Phương pháp tính toán & xử lý số liệu 26
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN Ở NƠI TRẠI GIỐNG 28
3.1.1 Địa danh và vị trí địa lý 28
3.1.2 Khí hậu thời tiết và chế độ thủy triều 28
3.2 CÁC HẠNG MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TRẠI GIỐNG 30
3.2.1 Địa điểm xây dựng trại 30
Trang 33
3.2.2 Thiết kế xây dựng công trình & trang thiết bị 30
3.3 KỸ THUẬT TUYỂN CHỌN VÀ NUÔI VỖ ỐC BỐ MẸ 33
3.3.1 Tuyển chọn ốc bố mẹ 33
3.3.2 Nuôi vỗ thành thục ốc Hương bố mẹ 34
3.3.3 Kết quả nuôi vỗ thành thục ốc bố mẹ 36
3.4 KỸ THUẬT THU VÀ ẤP TRỨNG 36
3.4.1 Kỹ thuật thu trứng 36
3.4.2 Chuẩn bị bể ấp & kỹ thuật ấp trứng nở 37
3.5 KỸ THUẬT ƯƠNG ẤU TRÙNG 39
3.5.1 Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng Veliger 39
3.5.2 Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng bò lê 44
3.6 KỸ THUẬT ƯƠNG ỐC GIỐNG 49
3.6.1 Chuẩn bị bể ương ốc giống 49
3.6.2 Mật độ ương ốc giống 49
3.6.3 Thức ăn và chế độ cho ăn của ốc giống 49
3.6.4 Quản lý và chăm sóc 50
3.6.5 Bệnh và biện pháp phòng trị bệnh 52
3.6.6 Thu hoạch & vận chuyển 52
3.7 HIỆU QUẢ KINH TẾ: 53
4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
4.1 Kết luận 54
4.2 Kiến nghị 55
Trang 44
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 1: Ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ sống của ốc Hương 6
Bảng 2: Ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ sống của ấu trùng ốc Hương 7
Bảng 3: Khả năng tiêu thụ thức ăn của ốc Hương (cỡ 10 – 19.9 mm) đối với các loại thức ăn (thời gian thí nghiệm 10 ngày) 9
Bảng 4: Thời gian, tỷ lệ sống của giai đoạn ấu trùng và ốc giống 9
Bảng 5: Số vòng xoắn liên quan đến kích thước 10
Bảng 6: Tình hình nuôi ốc Hương ở các tỉnh miền Trung 17
Bảng 7: Các thông số kỹ thuật nuôi vỗ thành thục ốc bố mẹ 22
Bảng 8: Các thông số kỹ thuật trong ương nuôi ấu trùng Veliger 24
Bảng 9: Các thông số kỹ thuật ương ấu trùng bò lê 24
Bảng 10: Các thông số kỹ thuật ương nuôi ốc giống 25
Bảng 11: Kết quả tuyển chọn ốc Hương bố mẹ 33
Bảng 12: Các thông số kỹ thuật trong nuôi vỗ thành thục ốc bố mẹ 35
Bảng 13: Các yếu tố môi trường bể nuôi ốc bố mẹ 35
Bảng 14: Kết quả nuôi vỗ ốc Hương bố mẹ 36
Bảng 15: Các yếu tố môi trường nước trong bể ấp trứng 38
Bảng 16: Kết quả theo dõi quá trình ấp trứng 38
Bảng 17: Lượng thức ăn tiêu thụ của bể ấu trùng (khoảng 70 vạn ấu trùng) 40
Bảng 18: Môi trường bể ương nuôi của ấu trùng Veliger 41
Bảng 19: Kết quả ương nuôi ấu trùng Veliger trong bể (5 m3/bể) 42
Bảng 20: Tăng trưởng về chiều dài, rộng (µm) của ấu trùng Veliger ốc Hương 44
Bảng 21: Các thông số kỹ thuật trong ương nuôi ấu trùng bò lê 45
Bảng 22: Môi trường bể ương nuôi của ấu trùng bò lê 46
Bảng 23: Kết quả ương nuôi ấu trùng bò lê trong bể (5 m3/bể) 47
Bảng 24: Tăng trưởng về chiều dài, rộng (µm) của ấu trùng bò lê ốc Hương 48
Bảng 25: Các thông số kỹ thuật trong ương nuôi ốc giống 49
Bảng 26: Các yếu tố môi trường bể ương nuôi ốc giống 50
Bảng 27: Tăng trưởng chiều cao, rộng (mm) của ốc giống 51
Bảng 28: Tỷ lệ sống của ốc giống quá trình ương nuôi 52
Bảng 29: Bảng hạch toán kinh tế của 1 đợt sản xuất (67.01 vạn giống) 53
Trang 55
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
Trang Hình 1: Hình thái cấu tạo ngoài của ốc Hương 3
Hình 2: Cấu tạo của cơ quan nội tạng ốc đực và cái 5
Hình 3: Bọc trứng ốc Hương 12
Hình 4: Sơ đồ vòng đời ốc Hương (Babylonia areolata Link,1807) 13
Hình 5 : Tăng trưởng sản lượng giống & nuôi thương phẩm ốc Hương 18
Hình 6: Xác định chiều cao và chiều rộng của ốc Hương bố mẹ 21
Hình 7: Sơ đồ trại giống ốc Hương 29
Hình 8: Phân biệt giới tính ốc Hương 33
Hình 9: Bể nuôi vỗ & cho đẻ ốc Hương bố mẹ 34
Hình 10: Thu trứng ốc Hương 36
Hình 11: Bể ấp trứng 37
Hình 12: Tăng trưởng chiều dài, rộng (µm) của ấu trùng Veliger ốc Hương 44
Hình 13: Tăng trưởng theo chiều dài, rộng (µm) của ấu trùng bò lê ốc Hương 48
Hình 14: Tăng trưởng chiều cao (rộng) mm của ốc Hương giống 51
Hình 15: Đóng bao vận chuyển ốc đi xa 53
sản
Trang 61
MỞ ĐẦU
Ốc Hương (Babylonia areolata Link, 1807) có giá trị dinh dưỡng cao, thịt thơm ngon nên được nhiều người ưa thích sử dụng như một loại thực phẩm cao cấp;
nó còn dùng làm hàng mỹ nghệ (vỏ ốc) và làm nguyên liệu chế biến mỹ phẩm (nắp
vỏ ốc) Vì thế giá ốc Hương cao, ốc Hương tươi sống được phục vụ ở các nhà hàng đặc sản cao cấp giá từ 1000 – 5000 đ/con Giá thu mua ở Việt Nam 120.000 –
220.000 đ/kg, giá xuất khẩu từ 10 – 15 USD/kg (Nguyễn Thị Xuân Thu et al 2004)
[13]; nhu cầu tiêu thụ trên thị trường lớn nên đã dẫn đến việc khai thác tự nhiên quá mức làm cho nguồn lợi ốc hương tự nhiên giảm sút nhanh chóng Ở Việt Nam, ốc Hương phân bố rải rác dọc ven biển từ Bắc vào Nam, trong đó khu vực phân bố chính thuộc các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Bình Thuận và Vũng Tàu Sản lượng ốc Hương khai thác năm 1994 trong cả nước đạt
3000 – 4000 tấn Bình thuận là tỉnh có sản lượng ốc Hương khai thác nhiều nhất cả nước, bình quân khoảng 1000 tấn/năm Năm 1998 sản lượng khai thác khoảng 300 tấn, năm 2000 chỉ còn dưới 100 tấn và sản lượng tiếp tục giảm trong những năm tiếp
theo (Nguyễn Thị Xuân Thu et al 2004) [13]
Từ năm 2000, sau thành công trong sản xuất giống và nuôi thương phẩm ốc Hương ở điều kiện nhân tạo của các công trình nghiên cứu do Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản III chủ trì, ốc Hương đã trở thành đối tượng nuôi xuất khẩu phổ biến ở các tỉnh miền Trung như Thừa Thiên Huế, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận Nghề nuôi ốc Hương đã giúp cho nhiều địa phương trong việc chuyển đổi đa dạng đối tượng nuôi trồng thuỷ sản, khai thác có hiệu quả diện tích đất đai mặt nước, góp phần tăng giá trị xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm và tăng thu nhập cho cư dân địa phương Bên cạnh đó nghề nuôi ốc Hương phát triển còn góp phần hạn chế khai thác nguồn lợi tự nhiên đối với loài hải sản quí này Phong trào nuôi ốc Hương phát triển nhanh chóng, hình thức nuôi ngày càng đa dạng như nuôi ao, nuôi chắn đăng, nuôi lồng, nuôi trong bể ximăng Sản lượng ốc nuôi thương phẩm cũng tăng lên rất nhanh (từ 3 tấn
năm 2000 lên hơn 400 tấn năm 2005) (Nguyễn Thị Xuân Thu et al 2006)
Trang 72
Vì vậy nhu cầu con giống rất cao Mặc dù sản xuất giống đã thành công từ đề tài nghiên cứu quy trình sản xuất giống ốc Hương của Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản III, nhưng trong thực tế nuôi thương phẩm và sản xuất giống ốc Hương vẫn còn gặp nhiều khó khăn như thức ăn nhân tạo cần phải được nghiên cứu để cung cấp cho các giai đoạn phát triển của ốc Hương phát triển tốt, tỷ lệ sống của ấu trùng Veliger khi xuống đáy còn thấp, dịch bệnh trong quá trình ương nuôi… Được sự giúp đỡ của bộ môn Hải Sản, khoa Nuôi Trồng Thuỷ Sản, trường Đại Học Nha Trang
và Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản III giao cho tôi thực hiện đề tài: “Tìm
hiểu quy trình sản xuất giống nhân tạo ốc Hương (Babylonia areolata Link,
1807) tại Trung tâm Tư vấn sản xuất & dịch vụ KHCNTS - Viện Nghiên Cứu NTTS III”, đề tài gồm các nội dung sau:
1 Tìm hiểu điều kiện tự nhiên và công trình sản xuất giống ốc Hương
2 Tìm hiểu kỹ thuật sản xuất giống ốc Hương:
- Nguồn gốc & kỹ thuật nuôi vỗ ốc bố mẹ
- Cho đẻ thu trứng & ấp trứng
- Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng
- Kỹ thuật ương nuôi ốc giống
- Thu hoạch
Thực hiện đề tài là cách tốt nhất để tôi làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học, hiểu biết hơn về kỹ thuật sản xuất giống ốc Hương và áp dụng được những kiến thức vào thực tế sản xuất Đề tài tôi sẽ đưa ra những nhận xét, đề xuất ý kiến về
kỹ thuật sản xuất giống ốc Hương của trại để góp phần hoàn thiện hơn nữa quy trình
kỹ thuật sản xuất giống
Với sự nỗ lực của bản thân cùng sự hướng dẫn tận tình của cán bộ hướng dẫn, tôi đã hoàn thành đợt thực tập Mặc dù tôi đã rất cố gắng nhưng vốn kiến thức và thời gian có hạn, bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót Tôi kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo, cán bộ
kỹ thuật cùng bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn
Nha Trang, tháng 11/2007 SVTH: Nguyễn Văn Phương
Trang 8Giống: Babylonia Schluter, 1838
Loài: Babylonia areolata (Link, 1807)
Nguồn: (http://data.acnatsci.org/obis/ search.php/65046)
Hình 1: Hình thái cấu tạo ngoài của ốc Hương [1]
1.1.2 Đặc điểm hình thái & cấu tạo
Đặc điểm hình thái
Ốc Hương (Babylonia areolata) có vỏ khá mỏng nhưng chắc chắn dạng bậc thang, tháp vỏ bằng ½ chiều dài vỏ, da vỏ có màu trắng, có điểm những hàng phiến vân tím, nâu đậm, hình chữ nhật, hình thoi Trên thân có 3 hàng phiến vân màu, mỗi vòng xoắn ở tháp vỏ chỉ có 1 hàng, miệng vỏ hình bán nguyệt, mặt trong vỏ có màu trắng sứ, lỗ trục thân rõ ràng (Nguyễn Chính 1996) [1]
Trang 9Đặc điểm cấu tạo
Cơ thể ốc Hương chia làm 3 phần: Đầu, chân, nội tạng Đầu phát triển, có một đôi xúc tu, có mắt ở gốc, giữa 2 xúc tu là miệng Chân nằm dưới đầu, khá phát triển
và đối xứng 2 bên Bàn chân rộng, hình khiên, chiều dài bằng 1.5 chiều dài vỏ Và
nội tạng, gồm các cơ quan chức năng sau (Nguyễn Thị Xuân Thu et al 2002) [10]
- Cơ quan hô hấp: Mang là cơ quan hô hấp chính nằm trong màng áo Mang nằm trước tâm nhĩ và chỉ còn bên trái, bên phải đã thoái hoá Phần mép màng áo phía trước cuộn lại tạo ống siphon hút nước vào mang, nước sau đó ra ngoài qua màng
áo Chính đặc điểm này giúp ốc vùi sâu xuống đáy cát
- Cơ quan bài tiết là một hậu đơn thận ở bên trái, hậu đơn thận có ống thông với xoang bao tim và sản phẩm bài tiết được thải ra ở xoang màng áo
- Hệ thần kinh và cơ quan cảm giác: Hệ thần kinh gồm vòng thần kinh hầu, vòng thần kinh não, đôi dây thần kinh chân và đôi dây thần kinh bên với đôi hạch (gồm 1 đôi hạch miệng, 1 đôi hạch não, 1 đôi hạch chân, 1 đôi hạch sườn, 1 đôi hạch bên và 1 đôi hạch nội tạng) Cơ quan cảm giác gồm có 1 đôi mắt ở gốc xúc
tu, 1 thể nhận mùi rất phát triển, 1 đôi xúc tu ở đầu làm nhiệm vụ xúc giác, 1 túi thăng bằng, ngoài ra vòi siphon cũng có tác dụng xúc giác và vị giác
- Hệ tuần hoàn: Gồm tim nằm trong xoang bao tim, có hai ngăn, một tâm thất và một tâm nhĩ nằm trước mang Hệ thống máu bắt đầu tâm thất, có 2 động mạch lớn dẫn máu đến đầu, chân và một đường đến nội quan Máu sau khi đi nuôi cơ thể được tập về thận rồi theo một đường đến mang, cuối cùng về lại tâm nhĩ
- Hệ tiêu hoá: Cơ quan tiêu hoá gồm môi phát triển, miệng được nối với thực quản bằng vòi dài, có hệ cơ co giãn phát triển Xoang miệng có tuyến độc, lưỡi sừng hẹp, có ít răng, răng nhọn và sắc Thực quản bên trong có nhiều nếp nhăn Dạ dày có phiến manh nang và phiến dạ dày Ruột ngắn, trực tràng thẳng và hậu môn đổ ra phía trước đầu Tuyến tiêu hoá khá phát triển, có ống đổ vào dạ dày
- Cơ quan sinh dục gồm tuyến sinh dục, ống dẫn sinh dục và các sản phẩm sinh dục Ốc Hương là loài phân tính, con cái có noãn sào, có túi chứa tinh và lỗ sinh dục dưới bàn chân Con đực có tinh sào, gai giao cấu ở gốc xúc tu phải
- Hệ cơ: đặc biệt phát triển ở chân, màng áo và miệng
Trang 10Hình 2: Cấu tạo của cơ quan nội tạng ốc đực và cái
I Ốc đực ; II Ốc cái
a Ống dẫn sinh dục; b Gai dao cấu; c Sản phẩm sinh dục đực (túi tinh)
i Ống dẫn trứng; ii Buồng thụ tinh; iii Sản phẩm sinh dục cái (trứng)
1 Tuyến tiêu hoá; 2.Mép màng áo; 3 Mang; 4 Ruột ngắn; 5 Máng áo;
6 Ống siphon; 7 Xúc tu; 8 Chân; 9 Nắp vỏ
1.1.3 Đặc điểm phân bố sinh thái
Phân bố
Trên thế giới ốc Hương phân bố chủ yếu ở biển nhiệt đới ẤN ĐỘ - THÁI
BÌNH DƯƠNG Loài Babylonia spirata tập trung nhiều ở biển Porto Novo
(11o29’N – 79o47’E), Ấn Độ Riêng vùng biển ẤN ĐỘ có loài B spirata và B
zeylonica phân bố ở độ sâu 5 – 20 m nước, chất đáy cát bùn hoặc bùn cát pha lẫn vỏ động vật thân mềm Chúng còn phân bố nhiều nơi ở Indianan Peninsula như: Manar, Poompuhar, Nagapattinam, Madas vùng ven đảo Adaman và Nicobar
(Ayykannu et al 1994) [17] Ở vịnh Thái Lan loài B areolata phân bố ở độ sâu 5 –
15 m, chất đáy cát bùn (T Poomtong et al 1996) [19], nó còn phân bố ở một số
vùng biển Xrilanca, Trung Quốc và Nhật Bản (Nguyễn Chính 1996) [1]
Còn ở Việt Nam ốc Hương phân bố dọc bờ biển gồm ở Quảng Ninh, từ Thanh Hoá đến Quảng Ngãi, từ Bình Thuận đến Vũng Tàu và ở Kiên Giang Loài này thường sống ở vùng biển khơi, cách bờ khoảng 2 – 3 km, độ sâu từ 8 – 12 m nước, chất đáy là cát hoặc cát pha lẫn mùn bã Hữu cơ Các yếu tố môi trường mà ốc phân
bố là: Độ mặn 34 ppt, nhiệt độ từ 26 – 28oC, pH từ 7,5 – 8,0 và oxy hoà tan 6,2 – 8,5 mgO2/L (Nguyễn Hữu Phụng et al 1994) [9]
Trang 11Đặc điểm sinh thái
Việc nắm vững đặc điểm sinh thái ốc Hương là vấn đề rất quan trọng, giúp cho người nuôi biết lựa chọn địa điểm nuôi thích hợp hoặc dùng biện pháp kỹ thuật tác động đến môi trường nuôi nhằm tạo ra điều kiện môi trường phù hợp cho đối tượng nuôi (Tăng Trung Dũng 2005) [2]
Chất đáy
Ở vùng biển Novo của Thái Lan, ốc Hương thường sống ở độ sâu 5 – 20 m, chất đáy cát hoặc bùn cát có pha vỏ động vật thân mềm (K Ayyakkannu 1994; T
Pootong et al 1996) [17;19] Ốc Hương con thường bắt gặp ở vùng đáy cát có lớp
bùn mềm trên bề mặt ở độ sâu thấp hơn so với ốc trưởng thành Ốc thường sống vùi tập trung thành đám hoặc phân bố rải rác dưới lớp cát bề mặt (Nguyễn Thị Xuân
Thu et al 2002) [10]
Độ mặn
Độ mặn là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại cũng như khả năng sinh
trưởng và phát triển của ốc Hương Theo nghiên cứu J.K Patterson Edward et al
1994 [24] về sự ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ sống các giai đoạn phát triển của
ốc Hương Thí nghiệm trên 2 loài Babylonia areolata và Babylonia spirata cho kết quả được trình bày ở bảng 1 như sau:
Bảng 1: Ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ sống của ốc Hương
Khả năng chịu
độ mặn của ốc
Ốc con Ốc trưởng thành Ốc con Ốc trưởng thành Sống được 17 – 47 ppt 25 – 45 ppt 21 – 35 ppt 29 – 35 ppt Sống bình
thường 27 – 37 ppt 30 – 35 ppt 29 – 35 ppt 31 – 35 ppt
Chết 100% (sau 13 ngày) 15 ppt 15 ppt – 60 ppt (sau 3 ngày) (sau 1 ngày) 13 ppt (sau 14 ngày) 17 ppt
Các thí nghiệm về khả năng thích nghi với độ mặn cho thấy trứng ốc Hương chỉ có thể thụ tinh và phát triển bình thường đến giai đoạn Veliger ở độ mặn 30 – 35
Trang 12ppt Ở độ mặn thấp hơn 20 ppt trứng không phân cắt được, độ mặn 25 ppt trứng phát triển đến giai đoạn phôi vị, độ mặn trên 40 ppt trứng có thể phát triển thành ấu trùng nhưng đa số đều bị dị hình Ấu trùng bơi Veliger thích nghi độ mặn từ 20 – 40 ppt, trong đó độ mặn thích hợp nhất là từ 30 – 35 ppt Ấu trùng bò, con non và con trưởng thành có khả năng thích nghi với độ mặn từ 15 – 45 ppt nếu được thuần hoá dần dần Việc tăng hoặc giảm độ mặn đột ngột đều gây chết cho ốc do bị sốc Độ mặn thích hợp nhất cho phát triển của ốc Hương là từ 30 – 35 ppt (Nguyễn Thị
Xuân Thu et al 2002) [10]
Bảng 2: Ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ sống của ấu trùng ốc Hương
Tỷ lệ sống (%) Ngày Giai đoạn
Ghi chú, A: Giai đoạn ấu trùng Veliger
B: Giai đoạn sống đáy
Nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động sống của ốc Hương
Ốc Hương có khả năng chịu đựng nhiệt độ từ 12 – 35oC Khả năng thích ứng với nhiệt độ thấp của ốc Hương tốt hơn với nhiệt độ cao Nhiệt độ trên 35oC đã bắt đầu gây chết ốc Hương nếu kéo dài trong khoảng 24h Nhiệt độ 10oC và 38oC là ngưỡng gây chết đối với ốc Hương con và ốc trưởng thành Nhiệt độ thích hợp cho ốc Hương sinh trưởng và phát triển là 26 – 28oC (Nguyễn Thị Xuân Thu 2003) [11]
Trang 13Hàm lượng oxy hoà tan
Ốc Hương là loài động vật sống vùi trong đáy nên ngưỡng oxy thường thấp Trong điều kiện nuôi đăng lồng ở biển, mật độ nuôi ốc Hương có thể nuôi từ 2000 –
3000 con/m2 đáy (cỡ ốc Hương thương phẩm) Hàm lượng oxy cần duy trì từ 4 – 6 mg02/L trong điều kiện nuôi (Nguyễn Thị Xuân Thu 2003) [11]
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Theo Ayyakkannu (1994) [17], ốc Hương là loài ăn thịt.Theo C.Raghunathan
et al (1995) [21] nghiên cứu về khả năng bắt mồi của ốc khi tiếp xúc với môi trường các chất khác nhau Kết quả cho thấy, phản ứng tìm mồi của ốc đối với chiết xuất; thứ tự như sau: Hầu > Tôm > Nghêu > Mực > Cá > Ghẹ Đối với chất hữu cơ: Glycogen > Saccaroza > Lactoza > Mantoza > Glucoza > Tinh bột Các chất vô cơ gây hiện tượng lẩn trốn của ốc Các muối MnCl2, KCl cho phản ứng bắt mồi, các muối khác (KBr, KI, NaNO3, CuSO4, NH4Cl, CaCl2) không có tác dụng hoặc không
có phản ứng rõ rệt
Dinh dưỡng của ốc thay đổi theo giai đoạn phát triển: Giai đoạn phát triển trong bọc trứng ấu trùng dinh dưỡng bằng noãn hoàng Ấu trùng nở ra cơ quan tiêu hoá bắt đầu hoạt động, ấu trùng ăn lọc các loài tảo đơn bào có kích thước nhỏ như:
Nanochloropsis , Oculata, Cholorella sp… Giai đoạn ấu trùng bò lê sống đáy ốc
Hương có khả năng ăn mồi động vật như thịt tôm, cá, cua, ghẹ, hầu… ốc Hương có khả năng tấn công con mồi nhưng đặc biệt chúng không ăn lẫn nhau khi còn sống Lượng thức ăn tiêu thụ của ốc Hương tuỳ thuộc vào loại thức ăn, điều kiện môi trường nuôi, giai đoạn và sức khoẻ của chúng Lượng thức ăn trong ngày cao hơn
nếu cho ăn xen kẽ (Nguyễn Thị Xuân Thu et al 2004) [13]
Trang 14Bảng 3: Khả năng tiêu thụ thức ăn của ốc Hương (cỡ 10 – 19.9 mm) đối
với các loại thức ăn (thời gian thí nghiệm 10 ngày)
Theo Mai Duy Minh 2003 [7], kết quả thí nghiệm ảnh hưởng của các loại thức
ăn lên thời gian biến thái, tỷ lệ sống của ấu trùng, ốc giống của ốc Hương là:
- Tảo đơn bào tươi sống (TT): Hỗn hợp gồm 50% Nanochloropsis sp và 50% Platymonas sp
- Thức ăn công nghiệp (CN): Hỗn hợp 50% tảo khô, 25% Fripack, 25% Lansy về khối lượng
- Tảo tươi kết hợp với thức ăn công nghiệp (TCN): Tảo tươi được bổ sung thêm 0.1 – 0.2 gam CN mỗi ngày
- Tảo được bảo quản đông lạnh (TĐL): Loại thức ăn tảo ở thể lỏng siêu đặc, được làm từ tảo tươi sống, y như tảo tươi nuôi sinh khối, nhưng không có nước trong
đó và không còn sống Được bảo quản ở điều kiện nhiệt độ thấp 4oC
Bảng 4: Thời gian, tỷ lệ sống của giai đoạn ấu trùng và ốc giống
Tỷ lệ sống (%)
Lô thí
nghiệm
Khẩu phần
ăn
Số lần thí nghiệm
Thời gian sống nổi (ngày) Ấu trùng bò lê 3
ngày tuổi
Giống 45 ngày tuổi
Lượng thức ăn tiêu thụ/cá thể/ngày(g/con/ngày)
Sự thay đổi thức ăn
Trang 151.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Ốc Hương trong 10 tháng đầu, tốc độ tăng trưởng về chiều dài của ốc con từ 2.98 – 3.8 cm chiều rộng từ 1.99 – 2.25 cm, khối lượng tăng từ 7.2 – 13.6 g Ở 60 ngày đầu, lượng thức ăn tiêu thụ là Nghêu 0.51 g/ngày và tăng lên 1.93 g/ngày Tốc
độ tăng trưởng về chiều cao, chiều rộng, khối lượng cao nhất là giai đoạn từ ngày
thứ 240 và thấp nhất từ ngày 60 đến ngày 120 (C.Raghunathan et al 1994) [20]
Đối với sự sinh trưởng của ấu trùng bơi thì sự tăng trưởng tuyệt đối và tỷ lệ tăng trưởng bình quân ngày của ấu trùng giai đoạn trôi nổi được xác định là 26.5 µm/ngày và 3.89%/ngày Sau 19 ngày, ấu trùng biến thái chuyển sang giai đoạn sống bò lê, vỏ mỏng, hình thành sắc tố ngoài mặt vỏ và số vòng xoắn tăng lên
(Nguyễn Thị Xuân Thu et al 2002) [10]
Bảng 5: Số vòng xoắn liên quan đến kích thước
Ốc có kích thước càng nhỏ thì tốc độ tăng trưởng càng cao, nhanh nhất là nhóm kích thước 1 – 10 mm và 10 – 20 mm, chậm nhất và hầu như không đáng kể là nhóm kích cỡ trên 40 mm Sự lớn lên của ốc Hương phụ thuộc vào giai đoạn phát triển, sức khoẻ, điều kiện sống (độ mặn, pH, to…), thức ăn…
1.1.6 Đặc điểm sinh sản vòng đời
Ở Ấn Độ theo T.Shamugaraj et al (1997) [23], mùa sinh sản của B.spirata kéo dài từ tháng 1 đến tháng 8, rộ nhất vào tháng 4 và tháng 8 Giai đoạn phôi trong bọc trứng từ 6 – 8 ngày Sau khi nở 16 – 19 ngày ấu trùng bắt đầu sống đáy Theo
T.Shamugaraj et al (1994) [22], hình thức phát triển của các loài nhiệt đới thuộc họ
Buccinidae đặc trưng bởi số lượng trứng đẻ ra nhiều, kích thước trứng và ấu trùng
Trang 16nhỏ, thời gian biến thái thành ấu trùng bò lê ngắn Nghiên cứu về đặc điểm sinh sản
của loài B.spirata trong điều kiện thí nghiệm cho thấy ốc đẻ trứng trong bọc Bọc
trứng trong suốt đứng riêng lẻ và dính vào đáy bằng một cuống dài dài và hẹp với
đế bán nhỏ hình đĩa Mỗi bọc trứng cao từ 24 – 37 mm, nơi rộng nhất của bọc trứng
từ 4 – 10 mm Mỗi bọc trứng có từ 611 – 900 trứng, mỗi con cái đẻ từ 15 – 65 bọc Sau 6 – 10 ngày từ khi đẻ, ấu trùng nở và bắt đầu bơi nội tự do trong nước Số lượng ấu trùng nở tỷ lệ với chiều dài bọc trứng, trung bình bọc trứng dài 34 – 35
mm nở 685 ấu trùng Nếu bọc trứng dài 24 – 32 mm cho ra 345 ấu trùng
Ở Thái Lan, theo T Poomtong et al (1996) nghiên cứu về đặc điểm sinh sản
và kỹ thuật ương nuôi ấu trùng loài B areolata ở tiến Hoạt động đẻ trứng phát triển phôi, hình thành ấu trùng tương tự như ở loài B spirata Ốc thành thục chiều
cao vỏ từ 40 – 55,8 mm, đẻ trứng từ tháng 10, rộ vào khoảng tháng 3 đến tháng 7 và lớn nhất tháng 4 Trung bình 25 bọc trứng/lần đẻ/con cái, mổi bọc có khoảng 400 trứng, đường kính trứng 286 µm Kích cỡ và lượng trứng đẻ trong một lần không bị ảnh hưởng bởi chu kỳ triều và tuần trăng Còn ở Việt Nam theo Nguyễn Thị Xuân
Thu et al (2002) [10], loài ốc Hương (Babylonia areolata) có những đặc điểm sinh
sản và vòng đời sau:
Đặc điểm giới tính
Ốc Hương (Babylonia areolata) là loài có giới tính phân biệt thụ tinh trong Quan sát bên vỏ ngoài không thể phân biệt con đực con và con cái qua màu sắc và
hình dạng vỏ Đặc điểm khác nhau chính phân biệt giữa con đực và con cái như sau:
Cơ quan Ốc đực Ốc cái
Cơ quan sinh dục Gai giao cấu Lỗ sinh dục
Tuyến sinh dục Tuyến tinh màu vàng cam Buồng trứng màu nâu tối
Trang 17Trong đó có 2 đặc điểm dễ quan sát nhất để phân biệt đực cái qua hình thái ngoài là:
- Con đực có gai giao cấu ở gốc xúc tu phải, đó là một nếp thịt có thể co giãn, nối với một ống nhỏ dẫn nhỏ đi từ tuyến sinh dục
- Con cái có lỗ sinh dục ở mặt dưới bàn chân, cách ¼ chiều dài bàn chân
Kích thước sinh sản lần đầu
Kích thước sinh sản lần đầu của ốc Hương (Babylonia areolata) tự nhiên được
xác định trong khoảng từ 40 – 50 mm chiều cao vỏ và không khác nhau nhiều về kích thước giữa con đực và con cái Còn ốc Hương nuôi trong bể xi măng từ con giống nhân tạo đẻ trứng lần đầu sau 7 tháng tính từ khi mới nở ở kích thước từ 40 –
51 mm (trung bình 43.9 mm) đối với con cái và 37 – 49 mm (trung bình 43.9 mm) đối với con đực Bọc trứng của lần đầu tiên nhỏ (trung bình 12.1×4.3 mm) và chứa
ít trứng (80 – 169 trứng/bọc)
Tập tính sinh sản
Trong mùa sinh sản, ốc thường kết cặp vào chiều tối và ban đêm trước khi đẻ trứng Tinh trùng con đực theo ống dẫn tinh qua gai giao cấu chuyển sang cơ thể con cái và giữ lại trong buồng thụ tinh Ốc đẻ lần lượt từng bọc trứng, bọc trứng đẻ
ra dính vào đáy cát tạo thành những dải bọc trứng liên tiếp Ốc đẻ trứng vào ban đêm, có khi bắt đầu vào buổi chiều tối và kết thúc vào buổi sáng sớm hôm sau Bọc trứng của ốc Hương là một bọc trong suốt có hình tam giác ngược, bên trong chứa đầy trứng và dung dịch keo Albumin keo nhầy Phần cuối của túi trứng dính vào một cuống nhỏ và bám vào đáy bể bằng một đế bám
Hình 3: Bọc trứng ốc Hương
Trang 18Mùa vụ sinh sản
Ốc Hương có khả năng thành thục quanh năm Tỷ lệ thành thục cao nhất đạt được từ tháng 3 – 10 (60 – 90%) Tháng 11 & 12 tuy vẫn bắt gặp các cá thể thành thục nhưng tỷ lệ thấp, không đáng kể Ốc thường đẻ nhiều nhất vào những đêm thuộc kỳ cường
Sức sinh sản
Ốc Hương cái mỗi lần đẻ khoảng từ 18 – 75 (trung bình 38) bọc trứng Mỗi bọc trứng chứa 168 – 1849 trứng (trung bình 743 trứng) Sức sinh sản tính trung bình cho một con cái thành thục trong điều kiện tự nhiên là 56424 trứng/lần đẻ Sức sinh sản trung bình cho một con cái thành thục trong bể nuôi nhân tạo là 38677
trứng/lần đẻ
Các giai đoạn phát triển phôi và ấu trùng
Trứng thụ tinh có hình cầu, đường kính trung bình khoảng 242 µm Phân cắt tế bào
và phôi kéo dài trong 48 giờ Phôi vị dạng khối hơi dài kích thước tế bào 355× 255µm
Trang 19Sau 60h phôi chuyển sang giai đoạn ấu trùng quay (Trochophora) Ấu trùng dài
có vỏ đối xứng hai bên, đĩa tiêm mao 2 bên đầu dày Về sau vỏ hình thành rõ hơn, tiêm mao lớn dần mỏng như 2 cánh bướm hoạt động liên tục quay nhanh
Ở điều kiện nhiệt độ nước 26 – 27oC, độ mặn 33- 35 ppt sau 6 ngày ấu trùng thoát ra khỏi bọc trứng và phát triển tự do trong môi trường nước Ấu trùng lần lượt
ra khỏi buồng trứng ra ngoài thông qua lỗ thoát
Ấu trùng khi ra ngoài trải qua 2 giai đoạn:
- Giai sông trôi nổi (Ấu trùng Veliger): khi mới nở có chiều dài 435 – 440 µm
sống phù du, có tính hướng quang, ăn lọc tảo đơn bào Ngày thứ 11 bắt đầu quá trình biến thái Sau khoảng 18 – 20 ngày sống phù du ấu trùng biến thái thành ấu trùng bò lê có chiều dài vỏ khoảng 1349 µm
- Giai đoạn sống đáy (Ấu trùng bò lê): Ấu trùng bắt đầu sống đáy bằng sự thay đổi hình thức vận động Chân phát triển dài ra, tiêm mao tiêu biến dần, chuyển dần
từ ăn động vật, sống vùi mình trong nền đáy cát
1.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT GIỐNG VÀ NUÔI ỐC HƯƠNG
Ở Ấn Độ, thí nghiệm nuôi ốc Hương trong đăng lưới được tiến hành tại cửa sông Vellar trong 3 tháng trước mùa mưa Ốc giống tự nhiên có chiều dài vỏ trung bình 27.5 mm, trọng lượng trung bình 6.42 g, được thả nuôi với mật độ 38 con/m2 Bãi nuôi được đóng cọc, vây lưới lynon có kích thước mắt lưới 2.5 cm; chất đáy gồm 75% cát, 19% bùn và 6% sét Các yếu tố thuỷ lý thuỷ hoá: nhiệt độ nước từ 29 – 33oC, độ mặn từ 30 – 36.3 ppt, pH từ 7 – 8.1, oxi hoà tan từ 3.7 – 5.9 mg/L, độ
sâu mực nước từ 10 – 114 cm Thức ăn cho ốc là nghêu (Meretrix meretrix) cho ăn
7% trọng lượng Kết quả sau 3 tháng nuôi tăng trưởng chiều dài là 3.2 mm, trọng lượng là 4.03 g Tỷ lệ sống giảm dần và chết hoàn toàn sau 105 ngày nuôi Nguyên nhân chính là do: Ốc chưa thích nghi với điều kiện mới vào những ngày đầu; ốc thoát ra khỏi đăng nhốt, nước bị ô nhiễm, không thông thoáng do sinh vật bám trên lưới; gió mạnh gây đục nước và sự lắng đọng của cát đã gây ra sự ngột ngạt ở bãi nuôi; sự hình thành H2S, độ mặn và thất thoát do địch hại (cua, cá dữ) (J.K
Partterson Edward et al 1995) [18]
Trang 20Nghiên cứu tốc độ tăng trưởng và tiêu thụ thức ăn của loài Babylonia spirata
trong 10 tháng Mười hai cá thể ốc con được lựa chọn cho thích nghi trong điều kiện thí nghiệm 15 ngày, sau đó nuôi riêng trong các bình tròn thể tích 8 L Môi trường nước trong sạch và duy trì các yếu tố trong khoảng sau: nhiệt độ nước 21±1oC, độ mặn 34±1 ppt, oxy 4.5±0.5 mg/L và pH 8.1±0.1, Lượng thịt nghêu tươi (Meretrix
meretrix) tiêu thụ được tính toán hàng ngày Sau 10 tháng nuôi, chiều dài trung bình của ốc taăg lên 8.2 mm, chiều rộng tăng lên 5.6 mm, trọng lượng tăng lên 6.4 g Thức
ăn tiêu thụ tăng từ 1.51 g/ngày lên 1.93 g/ngày Tác giả cho biết sự tăng trưởng nói
trên thấp hơn so với một số loài chân bụng khác (C.Raghunathan et al 1994) [20]
Ở Thái Lan, sản xuất giống nhân tạo là loài B areolata mặc dù thực hiện thành công từ năm 1996 nhưng chủ yếu phục vụ cho việc bảo vệ nguồn lợi (thả giống ra biển) Nuôi ốc Hương thương mại bắt đầu từ năm 2002 ở quy mô thử nghiệm do hiệu quả hoạt động này không cao Tuy nhiên, 2 năm gần đây Thái Lan bắt đầu phát triển nghề nuôi ốc Hương trong ao và bể xi măng Cơ sở nuôi ốc Hương tư nhân đầu tiên ở Thái Lan có tên “Sunset Farm” thuộc tỉnh Chonburi có công suất trại giống và bể nuôi thương phẩm khoảng 500 m2 Mật độ thả giống 300 con/m2 Thời gian nuôi 9 tháng đạt tỷ sống 80 – 90% Chi phí sản xuất 248.000 bath/vụ Lợi nhuận thu được là 200.500 bath/vụ (tháng) Hiệu quả đầu tư đạt 81%/tháng và 108%/năm Cơ sở dự kiến mở rộng để sản xuất được 1 tấn ốc Hương thương phẩm/tháng vào năm 2005 70 – 80% sản phẩm ốc Hương được xuất khẩu sang Trung Quốc với giá 320 bath/kg tương đương 7.6USD/kg (41 – 42 bath = 1 USD) (tài liệu tập huấn của SEAFDEC 2004) Trạm nghiên cứu thuỷ sản Trad, tỉnh Chonburi thiết lập hệ thống nuôi ốc Hương tuần hoàn ở quy mô thí nghiệm, có thể vận hành liên tục trong suốt vụ nuôi Mô hình này đã được ứng dụng vào cơ sở nuôi
ốc Hương công nghiệp Sunset ở Chobunri (Tawar Sriweerachai 2004) Nghiên cứu
của Chaitanawisuti et al (2004) nuôi kết hợp ốc Hương với cá chẽm đạt tỷ sống trên
95% và tốc độ tăng trưởng nhanh hơn cho cả 2 đối tượng
Trung Quốc bắt đầu quan tâm phát triển nuôi ốc Hương do nhu cầu tiêu thụ ốc Hương ngày càng lớn mà nguồn lợi đánh bắt tự nhiên giảm sút mạnh Tại Phúc
Kiến, nuôi ốc Hương loài B lutosa được tiến hành trong đăng ở biển với tổng diện
tích nuôi khoảng vài chục hecta Sản lượng nuôi cung cấp cho thị trường khoảng
Trang 21200 kg/ngày Nói chung sản lượng nuôi còn rất nhỏ so với nhu cầu tiêu thụ nội địa
và cũng mới chỉ bắt đầu năm 2002 Ngoài ra, ốc Hương còn được nuôi trong bể xi măng ở các trại nuôi tôm, mật độ nuôi từ 300 – 500 con/m2 Thời gian nuôi 8 – 10 tháng Tỷ lệ sống đạt >80% Tuy nhiên, dịch bệnh cũng là trở ngại chính trong phát triển nghề nuôi ốc Hương ở Trung Quốc Các bệnh thường gặp là ốc chui ra khỏi vỏ hoặc sưng vòi, sưng chân (thông tin từ chuyến khảo sát Trung Quốc 3/2004)
Ở Việt Nam, nghiên cứu về ốc Hương bắt đầu từ năm 1998 Trước đó Nguyễn Văn Chính (1996) trong cuốn sách “Một số loài nhuyễn thể có giá trị kinh tế ở biển
Việt Nam” đã mô tả hệ thống phân loại, hình thái bên ngoài của ốc Hương loài B
areolata ở biển Việt Nam (Nguyễn Thị Xuân Thu et al 2006) [13’] Và nghề nuôi
ốc Hương hình thành trên cơ sở thành công của đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học, kỹ thuật sản xuất giống và nuôi thương phẩm ốc Hương” do Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản III chủ trì Từ hoạt động nghiên cứu sản xuất giống và nuôi thương phẩm ốc Hương của đề tài, sản phẩm ốc Hương thu được:
- Năm 1998, thu được 50 kg ốc Hương nuôi thương phẩm trong bể xi măng ở Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản III
- Năm 1999, thu được 25 trong ao nuôi ở Cam Ranh và 150 kg ở Vũng Tàu
- Năm 2000, đề tài mở rộng nuôi ốc Hương ở các khu vực:
∗ Nuôi đăng/lồng ở Vạn Ninh, Nha Trang (Khánh Hoà) và Vũng Rô (Phú Yên)
∗ Nuôi ao ở Cam Ranh, Vạn Ninh (Khánh Hoà), Phan Rang (Ninh Thuận), sông Cầu (Phú Yên)
Trang 22Bảng 6: Tình hình nuôi ốc Hương ở các tỉnh miền Trung
(theo số liệu thông kê của Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản III từ năm 1998
– 2005) (Nguyễn Thị Xuân Thu et al 2006) [13’]
Nuôi đăng lồng
Số lượng
Diện tích
Nuôi ao
Số lượng
Diện tích
60,0 20,0
Trang 23Có thể thấy nghề nuôi ốc Hương ở các tỉnh Miền Trung phát triển rất nhanh
Từ chỗ chỉ có 1 – 2 cơ sở sản xuất giống năm 2000 – 2001 của Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản III đến nay đã có trên 100 cơ sở, trong đó phần lớn là cơ sở sản xuất giống tôm sú chuyển đổi sang sản xuất giống ốc Hương Sản lượng giống tăng giống tăng rất nhanh từ 3 triệu giống năm 2001 tăng lên 146 triệu giống năm
2005 Nhờ chủ động được con giống mà số cơ sở nuôi và diện tích nuôi thương phẩm ngày càng mở rộng Năm 2000 có 12 cơ sở nuôi ốc Hương, tăng lên 190 cơ
sở năm 2004 và 320 cơ sở năm 2005 Sản lượng nuôi tăng từ 8 tấn năm 2000 lên
423 tấn năm 2005 Với mức độ tăng gấp 140 lần trong thời gian 5 năm cho thấy nghề nuôi ốc Hương đang được rất nhiều người quan tâm và đầu tư phát triển do mang lại lợi nhuận cao
năm t¨ng tr−ëng s¶n l−îng gièng èc h−¬ng
9
31 18.8 54.5 146
0 50 100 150 200 250 300 350 400 450
Trang 241.3 TRIỂN VỌNG CỦA NGHỀ NUÔI ỐC HƯƠNG Ở VIỆT NAM
1.3.1 Thuận lợi
Do điều kiện tự nhiên khu vực miền Trung thuận lợi, địa hình có nhiều đầm, vịnh nên rất phù hợp cho nuôi ốc Hương Mặt khác, hiệu quả từ nuôi tôm Sú thấp nên diện tích ao có thể chuyển sang nuôi ốc Hương trong ao đất Quy trình công nghệ nuôi
ao đất hoàn thiện sẽ tận dụng hệ thống ao nuôi trồng thủy sản có sẵn, góp phần đa dạng hóa vật nuôi Hiện nay những nghiên cứu sản xuất thức ăn công nghiệp đã thành công
ở mức độ thử nghiệm Nghề nuôi ốc hương, đặc biệt nuôi ốc Hương trong ao sẽ phát triển mạnh khi có thức ăn công nghiệp thay thế cho thức ăn tươi được phổ biến đại trà Người dân đã có kinh nghiệm nuôi thuỷ sản nên việc nuôi một đối tượng mới có nhiều thuận lợi Hơn nữa, người dân có tính chịu khó, ham học hỏi Kỹ thuật nuôi ốc Hương không yêu cầu quá cao Chi phí đầu tư và hệ số an toàn tương đối Vì vậy nghề nuôi ốc Hương sẽ còn phát triển mạnh trong nhưng năm tới
1.3.2 Khó khăn
Nghề nuôi ốc Hương chưa thực sự ốn định, tính rủi ro vẫn còn xảy ra Từ tháng 10/2002 đến nay sự cố ốc Hương chết hàng loạt thường xuyên xảy ra ở vùng nuôi tập trung nhất là vào thời điểm mùa mưa Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu con giống chất lượng, thiếu quy hoạch vùng nuôi và các quy tắc về thực hành nuôi tốt vì vậy khả năng
ô nhiễm môi trường và lây lan dịch bệnh rất nhanh Việc phát triển tự phát, thiếu quy quản lý của nhà nước cũng như công tác khuyến ngư, hướng dẫn kỹ thuật cho người nuôi còn nhiều hạn chế cũng là nguyên nhân làm cho nghề nuôi thiếu tính bền vững
(Nguyễn thị Xuân Thu et al 2005)
Vấn đề thị trường ốc Hương hiện nay đang còn hạn chế, có nhiều thời điểm cung vượt cầu nên người nuôi bị ép giá đã ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận Mặt khác xu thế giá
ốc Hương thương phẩm ngày càng giảm (năm 2004 giá bán 180-220 ngàn đồng; năm
2005 là 150 – 170 ngàn đồng và năm 2006 còn 90 - 120 ngàn đồng/kg), xu thế này cũng hợp với quy luật thị trường, đòi hỏi người nuôi phải tìm mọi biện pháp để làm giảm giá thành sản phẩm Thị trường xuất khẩu ốc Hương nước ta chủ yếu là Trung Quốc và Nhật Bản Vì vậy việc mở rộng thị trường tiêu thụ ốc Hương cũng là một vấn
đề cấp thiết (Nguyễn Thị Xuân Thu et al 2004) [13]
Trang 252 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM & THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tên khoa học: Babylonia areolata
- Tên tiếng Anh: Babylon snail
- Tên tiếng Việt: Ốc Hương
2.1.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: tại Cơ sở sản xuất giống ốc Hương thuộc Trung tâm Tư vấn sản xuất và dịch vụ Khoa học Công nghệ Thuỷ sản - Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản III
- Thời gian nghiên cứu: từ ngày 16/08/2007 - 19/11/2007
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Sơ đồ nghiên cứu của đề tài
Tìm hiểu kỹ thuật sản xuất giống ốc Hương
Công trình sản xuất giống
Nguồn gốc &
kỹ thuật nuôi
vỗ ốc
bố mẹ
Cho đẻ, thu trứng &
ấp
trứng
Kỹ thuật
ương
nuôi ấu trùng
Kỹ thuật
ương
nuôi ốc giống
Thu hoạch
Kết luận & kiến nghị
Điều
kiện
tự
nhiên
Tìm hiểu quy trình sản xuất giống nhân tạo ốc
Hương (Babylonia areolata Link, 1807)
Tìm hiểu điều kiện tự nhiên
& công trình sản xuất giống
ốc Hương
Trang 262.2.2 Phương pháp thu thập thông tin
Phương pháp thu thập số liệu gián tiếp: tìm hiểu qua cán bộ công nhân viên
kỹ thuật của trung tâm, Sở Thủy sản Khánh Hòa, thông qua các báo cáo khoa học, tài liệu liên quan đến điều kiện tự nhiên và đối tượng nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu trực tiếp: tham gia nghiên cứu trực tiếp tại cơ sở sản xuất giống ốc Hương thuộc Trung tâm Tư vấn sản xuất và dịch vụ Khoa học Công nghệ_Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản III, nhằm thu thập thông tin cần thiết để học tập và viết luận văn
2.2.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu môi trường
- Đo độ mặn bằng Khúc Xạ Kế độ chính xác 1 ppt: 2 lần/ngày (lúc 6h, 14h) và sau những lần thay nước
- Đo nhiệt độ bằng Nhiệt Kế Thuỷ Ngân độ chính xác 1oC: 2 lần/ngày (lúc 6h, 14h)
- Đo pH bằng Test pH độ chính xác 0.3: ngày 2 lần cùng lúc đo nhiệt độ
- Đo độ kiềm bằng Test độ kiềm sau những lần thay nước
- Phương pháp tuyển chọn ốc Hương bố mẹ:
Hình 6: Xác định chiều cao và chiều rộng của ốc Hương bố mẹ
Trang 27∗ Xác định các chỉ tiêu tuyển chọn theo kích thước: Ốc bố mẹ được thu mua ngoài
tự nhiên có chiều cao vỏ trên 50 cm
Chiều rộng ốc: Là khoảng cách lớn nhất đo được ở tầng thân vỏ
Chiều cao ốc: là khoảng cách đo từ đỉnh vỏ đến tận cùng mương trước vỏ
∗ Ốc bố mẹ có màu sắc vỏ tươi sáng, khoẻ mạnh, không dị hình, không bệnh tật…
∗ Phân biệt giới tính dựa vào đặc điểm hình thái cấu tạo cơ quan sinh dục ngoài:
Con đực: có gai giao cấu ở gốc xúc tu phải
Con cái: mặt dưới bàn chân con cái có lỗ sinh dục
- Phương pháp vận chuyển: phương pháp khô
- Ốc được trà rửa sạch sẽ trước khi đem nuôi theo các thông số kỹ thuật
Bảng 7: Các thông số kỹ thuật nuôi vỗ thành thục ốc bố mẹ
(ngày/lần)
Thay cát (ngày/lần) Loại thức ăn Khẩu phần (% trọng lượng thân ốc)
Kỹ thuật thu & ấp trứng
- Hoạt động đẻ trứng của ốc Hương diễn ra vào ban đêm Thu các bọc trứng vào buổi sáng Rửa sạch bọc trứng bằng nước biển sạch và tắm trong dung dịch thuốc tím 5 – 10 ppm trong thời gian 1- 2 phút Loại bỏ các bọc trứng bị vỡ hoặc trắng đục rửa sạch bằng nước biển sạch trước khi ấp Bọc trứng được xếp trên đáy của khay nhựa với mật độ 1200 – 1500 bọc/4 -5 dm2 Các khay nhựa được đặt nổi trong bể ấp có thể tích 1 m3 Trong quá trình ấp, sục khí 24/24, thay nước và loại
bỏ các bọc trứng ung hàng ngày
∗ Thời gian ấp: Được tính từ lúc bọc trứng đẻ ra đến khi bắt đầu nở
∗ Thời gian nở hết: Được tính từ lúc trứng bắt đầu nở hết đến khi các trứng nở hết
- Từ đó xác định số lượng/trứng trên con, số lượng trứng/bọc, tổng số lượng trứng
∗ Phương pháp xác định số lượng bọc trứng/con: Dựa vào sức sinh sản thực tế được tính là số trứng thu được của một cá thể mẹ trong một lần đẻ,
Trang 28Xác định theo cá thể: Đếm các bọc trứng của từng cá thể đẻ riêng lẻ
Xác định theo quần thể: Chia tổng số bọc trứng của 1 đợt đẻ cho tổng số ốc cái
∗ Phương pháp xác định số lượng trứng/bọc: Lấy ngẫu nhiên 5 bọc trứng đếm số trứng trong mỗi bọc và lấy giá trị trung bình
∗ Phương pháp xác định tổng số lượng trứng = số trứng trung bình/bọc×số lượng bọc trứng trung bình/con×tổng số ốc cái thành thục và đẻ trong bể nuôi nhân tạo
Xác định các giai đoạn phát triển phôi, ấu trùng ốc Hương
- Dụng cụ: Kính hiển vi, cốc đốt
- Các giai đoạn phát triển:
∗ Giai đoạn phát triển trong bọc trứng gồm: Phân chia tế bào, phôi tang, phôi nang, phôi vị, ấu trùng quay (Trorophora) và ấu trùng Veliger sắp nở
∗ Giai đoạn ấu trùng sau khi nở: Giai đoạn ấu trùng sống trôi nổi (Ấu trùng Veliger) là giai đoạn phát triển từ khi ấu trùng mới nở đến giai đoạn biến thái chuyển sang ấu trùng bò; Thời gian chuyển giai đoạn của ấu trùng Veliger được tính từ lúc ấu trùng Veliger bắt đầu chuyển sang ấu trùng bò lê đến khi xuống đáy hoàn toàn Giai đoạn sống đáy (Ấu trùng bò lê) là giai đoạn ấu trùng chuyển xuống sống đáy, tiêu biến thuỳ bơi, vận động bằng chân bò và chuyển tính ăn từ
ăn lọc sang ăn mồi trực tiếp
Kỹ thuật ương ấu trùng
- Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng Veliger:
∗ Chuẩn bị bể ương nuôi và nguồn nước: Bể ương nuôi ấu trùng được chà rửa sạch bằng Chlorine nồng độ 100 – 500 ppm sau đó rửa sạch Bố trí 1 dây sục khí/m2diện tích bể, sục khí 24/24 Nước sử dụng cho ương nuôi ấu trùng là nước biển được lọc kỹ qua bể lọc cát Nếu chất lượng nước xấu phải xử lý bằng Chlorine (10 – 15 ppm) hoặc thuốc tím (5 ppm) Trước khi lấy nước vào bể ương, nước được lọc qua túi lọc lỗ 0.5 – 1 µm
∗ Sau khi ấu trùng nở chúng được vớt đưa trực tiếp vào bể ương bằng vợt mềm với các thông số ương nuôi như sau:
Trang 29Bảng 8: Các thông số kỹ thuật trong ương nuôi ấu trùng Veliger
Thay nước (ngày/lần)
Siphon đáy (lần/ngày)
Ghi chú: Thức ăn tổng hợp gồm Top ASP: Lansy: Fripark: N o = 1:1:1:1, chú ý điều chỉnh lượng thức ăn
∗ Xác định mật độ nuôi và tỷ lệ sống: Thu mẫu ngẫu nhiên và tính bằng quy tắc tam suất; Phương pháp thu mẫu là dùng ống nhựa có đường kính 1 cm, thu tại 5 địa điểm trong bể, mỗi địa điểm thu ở 3 tầng nước khác nhau (tầng mặt, tầng giữa, tầng đáy), đếm và lấy giá trị trung bình của 1 mẫu (mẫu có V = 200 mL)
- Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng bò lê:
∗ Khi ấu trùng Veliger bắt đầu chuyển sang ấu trùng bò lê, tiến hành rải một lớp cát mỏng 1 – 1.5 mm đã làm vệ sinh trực tiếp xuống đáy bể ương ấu trùng Veliger nhằm tạo chất đáy cho ấu trùng vùi mình Trước khi đưa vào bể ương, cát được sàng qua lưới loại bỏ cát lớn, ngâm thuốc tím 80 - 100 ppm để khử trùng và rửa sạch nhiều lần cho đến khi hết hóa chất
Bảng 9: Các thông số kỹ thuật ương ấu trùng bò lê
Chế độ dinh dưỡng (lần/ngày
lúc 8h) Mật độ
ương (vạn
con/m2)
Tuổi ấu trùng (ngày) Loại thức ăn
Khẩu phần (g/vạn ấu trùng)
Thay nước 100%
(ngày/lần)
Vệ sinh đáy (ngày/lần)
Trang 30Kỹ thuật ương nuôi ốc giống
- Chuẩn bị bể ương: Bể ương được cọ rửa sạch sẽ Bể được dán ống nhựa đường kính 1 – 1.2 cm xung quanh bể ngăn không cho ốc bò ra khỏi mặt nước Khoảng cách từ mép ống nhựa đến đáy bể là 30 – 50 cm Bố trí sục khí 1 dây sục khí/m2diện tích bể, sục khí 24/24 Đáy bể được rải 1 lớp cát mịn dầy 1.5 – 3 mm, chuẩn
bị cát như chuẩn bị cho ấu trùng bò lê Nước lấy vào bể đến sát mép ống nhựa
Bảng 10: Các thông số kỹ thuật ương nuôi ốc giống
Thời gian
ương
(ngày)
Mật độ (103con/m2)
Độ dầy lớp cát (mm)
Thức
ăn
Khẩu phần (g/ngày/10 vạn ốc giống)
Thay nước 100%
(ngày/lần)
Thay cát (ngày/lần)
- Xác định số lượng, khối lượng ốc ban đầu thả vào mỗi bể
∗ Xác định khối lượng: Cân khối lượng ốc con ban đầu đưa vào mỗi bể
∗ Xác định số lượng: Lấy 3 mẫu, mỗi mẫu 1 gam đếm số con, rồi lấy trung bình mỗi gam có bao nhiêu con × khối lượng ốc ban đầu thả vào mỗi bể⇒số lượng
ốc trong mỗi bể⇒mật độ ốc con ban đầu thả
Thu hoạch
Khi ốc giống đạt khối lượng 6000 – 7000 con/kg thì tiến hành thu hoạch xuất bán để nuôi thương phẩm Rút cạn nước bể ương, dùng miếng nhựa xúc cả ốc và cát sàng qua các cỡ mắt lưới khác nhau để phân loại ốc Cân tổng số ốc và cân mẫu ốc mỗi loại Xác định tổng số lượng ốc
Trang 312.2.5 Phương pháp tính toán & xử lý số liệu
- Ấu trùng nổi (ấu trùng Veliger):
∗ Số ấu trùng Veliger có trong bể (N):