Hy vọng rằng kết quả đạt được trong quá trình thực hiện đề tài này giúp tôi làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học, củng cố kiến thức đã học, tiếp cận với thực tế sản xuất để nâng
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và hoàn thành báo cáo tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ, sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn: ThS Lục Minh Diệp, của Th.S Trương Quốc Thái, Th.S Đàm Bá Long cùng các anh chị kỹ sư và công nhân của Trung tâm Nghiên cứu và Sản xuất Giống Hải sản Thanh Hóa
Gia đình cùng bạn bè đã động viên và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Qua đây tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những sự giúp đỡ quý báu đó
Nha Trang, tháng 11 năm 2007
Sinh viên thực hiện:
TRỊNH THỊ THU
Trang 2Các thuật ngữ viết tắt
Ar : Artemia
C : Cua bột 1
CW : Độ rộng của mai cua
CW : Chiều rộng trung bình giáp đầu ngực
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là quốc gia với gần 3260 km trải dọc bờ biển đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho ngành Nuôi trồng Thủy sản phát triển nhằm giải quyết công ăn việc làm cho ngư dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, phát triển xã hội đồng thời giảm bớt sự khai thác quá mức nguồn tài nguyên sinh vật biển
Trong những năm gần đây, nhu cầu sử dụng sản phẩm thủy sản ngày một tăng Cùng với sự đa dạng hóa các đối tượng và hình thức nuôi thì sự phát triển quá mức của nghề nuôi tôm sú đã làm cho dịch bệnh bùng phát Trong khi đó, cua biển cũng là một trong những đặc sản giàu dinh dưỡng, thịt thơm ngon, có giá trị xuất khẩu cao
Tuy nhiên, sản lượng cua thương phẩm lại chưa đáp ứng được nhu cầu xuất khẩu do nguồn cua giống chủ yếu được khai thác từ tự nhiên và phụ thuộc vào mùa
vụ xuất hiện Do đó, chưa chủ động được cua giống cả về số lượng và chất lượng làm ảnh hưởng đến mùa vụ, hình thức nuôi
Nghề nuôi cua ở nước ta đã có từ lâu và đang phát triển mạnh ở một số vùng ven biển như: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ
An, Quảng Bình, Nam Định, … Với hình thức nuôi xen hoặc đa canh các đối tượng thủy sản Mô hình nuôi một vụ cua, một vụ tôm sú được ứng dụng rộng rãi đã đem lại hiệu qủa kinh tế cao và phần nào hạn chế được dịch bệnh tôm Chính vì vậy nhu cầu con giống ngày càng gia tăng nhưng nguồn cua giống được thu gom chủ yếu từ
tự nhiên chỉ đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu cua giống, còn lại 80% phải trông chờ vào sinh sản nhân tạo [5]
Năm 2000, Trung tâm Nghiên cứu Thủy Sản III – Nha Trang đã thành công trong việc nghiên cứu công nghệ sản xuất giống nhân tạo cua biển và đã chuyển giao công nghệ này cho nhiều địa phương trong nước, góp phần giải quyết một phần nhu cầu cua giống Tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn như tỉ lệ sống thấp, không đồng đều và gần đây là dịch bệnh
Trang 4Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi được Khoa NTTS – Trường Đại học Nha
Trang giao cho thực hiện đề tài: “Tìm hiểu kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cua
xanh (Scylla paramamosain Estempado, 1949.) tại Trung tâm Nghiên cứu và
Sản xuất Giống Hải sản Thanh Hóa”
Với các nội dung chính sau:
1 Tìm hiểu hệ thống công trình, điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất tại
cơ sở
2 Tìm hiểu kỹ thuật tuyển chọn, nuôi thành thục cua bố mẹ và cho đẻ
3 Tìm hiểu kỹ thuật ương nuôi ấu trùng
Hy vọng rằng kết quả đạt được trong quá trình thực hiện đề tài này giúp tôi làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học, củng cố kiến thức đã học, tiếp cận với thực tế sản xuất để nâng cao tay nghề, đồng thời hiểu biết hơn về quy trình sản xuất giống nhân tạo cua biển
Do thời gian thực tập có hạn, kiến thức bản thân còn hạn chế, bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học nên báo cáo không tránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được ý kiến phê bình của quý thầy cô, góp ý của các bạn
Nha Trang, ngày 10 tháng 11 năm 2007 Sinh viên
Trịnh Thị Thu
Trang 5PHẦN 1: TỔNG LUẬN
1 Vài nét về đối tượng nghiên cứu
1.1 Hệ thống phân loại
Tên tiếng Anh: Mud Crab, Green Crab, Mangrove Crab
Tên tiếng Việt: Cua biển, cua sú, cua xanh, cua bùn,…
Hệ thống phân loại:
Ngành: Athropoda Lớp: Crustacea
Lớp phụ: Malacostraca Bộ: Decapoda
Bộ phụ: Reptantia Nhóm: Branchyura Họ: Portunidae
Giống: Scylla Loài: S paramamosain Estempador, 1949
Hình 1.1: Hình ảnh cua xanh S paramamosain
(Nguồn: http://google.com)
Trang 6Keenan (1998) đã chia giống Scylla thành 4 loài: S serrata,
S paramamosain, S olivace và S tranquebarica
1.2 Một số đặc điểm sinh học của cua biển
và phía trước có nhiều răng Trước mai có hai hốc mắt chứa mắt có cuống và hai cặp râu nhỏ (a1 ) và râu lớn (a2) Trên mai chia thành nhiều vùng bằng những rãnh trung gian, mỗi vùng là vị trí của mỗi cơ quan Mặt bụng của phần đầu ngực có các tấm bụng và làm thành vùng lõm ở giữa để chứa phần bụng gập vào (yếm cua) [2] Các phần phụ của phần đầu ngực gồm: 1 đôi mắt, đôi râu 1, đôi râu 2, 3, đôi chân hàm 1-2-3 và 5 đôi chân bò
Phần bụng: (yếm cua) gập lại phía dưới phần đầu ngực Phần bụng phân
đốt và tùy từng giới tính, hình dạng và sợ phân đốt cũng không giống nhau
Bên cạnh đó còn có phần phụ bụng: Cua đực có đôi chân bụng 1-2 biến thành đôi gai giao cấu, cua cái có 4 đôi chân bụng phân nhánh có nhiều sợi tơ mảnh
để giữ trứng sau khi đẻ [4]
Đặc điểm phân biệt cua cái và cua đực:
+ Con cái trước thời kỳ thành thục sinh dục, yếm có hình hơi vuông, khi thành thục yếm trở nên phình rộng với 6 đốt phân biệt rõ ràng và các khớp cử động bình thường Trước thời kỳ thành thục, yếm có hình hơi vuông, khi thành thục, yếm
trở nên nở rộng, tròn, màu sẫm
+ Con đực có yếm hẹp hình chữ V, chỉ có các đốt 1,2,6 thấy rõ còn các đốt 3,
4, 5 liên kết với nhau
Đối với loài S paramamosain: các gai trán thường cao trung bình, nhọn và
hình tam giác, cặp gai lớn trên procarpus, trên carpus; gai trong không có và gai
Trang 7ngoài thoái hóa, vân nhiều góc hiện diện trên 2 cặp chân cuối, mờ hoặc không có các phụ bộ
1.2.2 Đặc điểm phân bố
Cua biển có khả năng phân bố rộng ở khắp các vùng biển nhiều nước trong khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương bao gồm các nước Ấn Độ, Miến Điện, Srilanca, Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Philippin, Úc, Nhật Bản,Triều Tiên Ở Việt Nam cua biển phân bố ở các vùng, đầm nước lợ, mặn từ Bắc vào Nam Cua có thể phân
bố ở những vùng có độ mặn từ 2‰ đến 30‰ [4]
1.2.3 Chu kỳ phát triển của ấu trùng cua
Ấu trùng cua trải qua 4 lần lột xác để chuyển thành ấu trùng Zoea5 Sau khoảng thời gian từ 15 - 17 ngày ấu trùng Zoea 5 sẽ lột xác và chuyển sang giai đọan Megalop và giai đoạn này kéo dài từ 7 - 9 ngày, ấu trùng sẽ lột xác trở thành cua con [1]
Bảng 1.1: Các giai đoạn ấu trùng cua biển [3]
Giai đoạn phát triển Thời gian (ngày) Đặc điểm phân biệt
Mắt đã xuất hiện cuống mắt Nhánh ngoài của chân hàm I và II mang 6 lông tơ Có 5 đốt bụng
Nhánh ngoài của chân hàm I mang 8 lông
tơ chân hàm II mang 9 lông tơ, đã hình thành cuống mắt nhưng chưa phân đốt, chưa có mầm chân bụng
phân đốt
Z5 3 - 4 Chân bụng phát triển, chẻ đôi thành 2,
mép ngoài chân bụng có lông tơ
Trang 8Giai đoạn cua bột (sau khi nở 25 - 30 ngày): cua có hình dạng như cua trưởng thành, mặc dù giáp đầu ngực hơi tròn [2]
1.2.4 Đặc điểm sinh trưởng, lột xác của cua
Quá trình phát triển của cua trải qua nhiều lần lột xác và biến thái để lớn lên Thời gian lột xác thay đổi theo từng giai đoạn ấu trùng Cua càng lớn thời gian lột xác sẽ càng chậm hơn vì cần thời gian tích lũy dinh dưỡng lâu hơn Đặc biệt trong qúa trình lột xác cua có thể tái sinh lại những phần đã mất như chân hoặc càng [2]
Trong 4 loài thuộc giống Scylla thì S serrata có tốc độ tăng trưởng cao
nhất, kích thước tối đa ở con đực 25 - 28 cm độ rộng của mai cua (CW) và có khối
lượng tương ứng khoảng 2-3 kg, so với 20cm CW ở S paramamosain, S tranquebarica và 18 cm CW ở S olivacea Qua mỗi lần lột xác khối lượng cua tăng
trung bình 20 – 50%
1.2.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Tính ăn của cua biển thay đổi đối với mỗi giai đoạn phát triển của cua Trong giai đoạn ấu trùng cua ăn động vật phù du Cua con chuyển dần sang ăn tạp như rong, tảo, giáp xác, nhuyễn thể, cá hay ngay cả xác chết động vật Cua con 2- 7cm
CW chủ yếu ăn giáp xác Cua tiền trưởng thành (7 - 13 cm CW) ăn nhiều bọn hai
mảnh vỏ và phúc túc.Trong khi đó cua lớn thường ăn cua con và cá Cua con S serrata là loại ăn tạp Giáp xác là thức ăn trong giai đoạn đầu [2] Theo Jaymane và
Jinadas 1991, t hức ăn của cua tiền tr ưởng thành lại là nhóm hai mảnh vỏ ( trích theo [1])
Các loại thức ăn dùng để nuôi cua thịt gồm cá, tôm, cua, nhuyễn thể, tảo sợi
và các loại phế phẩm từ nhà bếp, lò mổ, xưởng đông lạnh thủy sản để giảm giá thành và tái sinh phế phẩm nguồn gốc động vật Cua nuôi thịt hoặc nuôi vỗ được cho ăn mồi chết còn tươi có nguồn gốc động vật (tôm, tép, cá, hai mảnh vỏ, mực có kích thước nhỏ) Ấu trùng cua được cho ăn với nhiều loại thức ăn khác nhau như:
Luân trùng, Artemia và thức ăn viên kích thước nhỏ Khác với cua lớn hoạt động
nhiều về đêm, ấu trùng cua có tính hướng quang rất mạnh và có có dùng ánh sáng
để kích thích chúng bắt mồi [2]
Trong tự nhiên, tỉ lệ tử vong của cua rất cao và xảy ra trong suốt chu kỳ sống Tuy nhiên, bên cạnh những kẻ thù của chúng thì tính ăn nhau cũng là một nhân tố quan trọng làm giảm đáng kể tỉ lệ sống của quần đàn, nhất là trong điều kiện nuôi
Trang 91.2.5 Đặc điểm sinh sản
- Tuổi và kích thước thành thục: Trong tự nhiên, cua biển thành thục ở độ tuổi 1 - 1,5 năm với chiều rộng giáp đầu ngực (CW) thấp nhất là 83 - 144 mm, cua chỉ tham gia sinh sản khi CW đạt từ 120 - 180 mm Theo Prassad, 1989 thì cua cái không bao giờ đạt đến 100% độ thành thục ở bất kỳ kích cỡ nào ( trích theo [1] )
- Mùa vụ sinh sản: Sự thành thục và sinh sản của các loài Scylla xảy ra hầu
như liên tục quanh năm với đỉnh cao theo mùa [2] Theo nghiên cứu của Le Vay và
ctv ở Việt Nam loài S paramamosain thành thục quanh năm, đỉnh cao cho sự thành
thục ở con cái là T9 -T10 Ở các quần thể vùng nhiệt đới, tỷ lệ thành thục cao hơn ở con cái tăng lên vào mùa có lượng mưa cao Có thể nói mối liên hệ giữa tỷ lệ này với những thời kỳ có năng suất sinh học tăng ở các thủy vực ven bờ (Heasman và ctv, 1985) [5] Do vào mùa mưa hàm lư ợng các chất hữu cơ trong các thủy vực tăng lên
Trong vùng cận nhiệt đới, tính mùa vụ trong sinh sản có liên quan mật thiết hơn đến nhiệt độ và độ dài ngày, với một đỉnh cao sinh sản nổi bật xảy ra vào mùa
hè khi nhiệt độ nước tăng cao nhất [5]
1.3 Một số vấn đề cần quan tâm trong sản xuất giống nhân tạo cua biển 1.3.1 Thức ăn
Hiện nay thức ăn dùng để ương nuôi ấu trùng trong sản xuất hay nuôi thử
nghiệm chủ yếu là: Artemia, luân trùng, tảo, có nhiều nghiên cứu về việc sử dụng loại thức ăn này trong việc ương ấu trùng cua Trong đó vai trò của Artemia là rất
quan trọng, điều này được thấy rõ thông qua các nghiên cứu như: Ong (1964) sử
dụng một lọai thức ăn là nauplii Artemia để làm nguồn thức ăn ương ấu trùng cua
và có nhận xét rằng rằng ấu trùng Artemia dường như quá lớn và bơi lội quá nhanh
nên ấu trùng cua khó bắt được mồi Trong khi đó, Dominisae (1974) thử ương ấu
trùng cua với luân trùng, nauplii Artemia và men bánh mì ở giai đoạn Zoea, dùng nghêu và Artemia cỡ lớn cho giai đoạn Megalop Brick (1974), Simon (1975) và Chen (1980) dùng Artemia làm thức ăn cho ấu trùng cua đạt kết qủa tốt Dùng luân trùng, tảo Chlorela và Spirulina để ương ấu trùng và dùng Artemia cho các giai
đoạn ương cua sau (Jing & ctv, 1980, trích theo [1])
Brick (1974), thử nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của chất lượng nước, thuốc
kháng sinh, phytoplankton và thức ăn đến tỉ lệ ấu trùng cua biển Scylla Qua kết
Trang 10quả nghiên cứu, tác giả kết luận: ấu trùng cua biển đã nuôi thành công khi sử dụng
phối hợp thuốc kháng sinh – phytoplankton – nauplii Artemia Tảo Chlorella có tác dụng làm tăng tỉ lệ sống của ấu trùng Zoea, trong khi đó nauplii của Artemia được
xem là thức ăn thích hợp nhất trong ương ấu trùng cua Ngoài ra, axít béo rất quan trọng, nó giúp tăng tỉ lệ sống chi ấu trùng cua Luân trùng với hàm lượng 0,8% (n – 3)HUFA là thức ăn thích hợp nhất giúp tăng tỷ lệ sống cho ấu trùng cua [10] Thức
ăn sống được làm giàu bằng thức ăn tổng hợp cũng giúp nâng cao tỷ lệ sống ấu trùng cua [10]
Vì vậy, nguồn thức ăn sống: Artemia, luân trùng, tảo… đựơc xem là nguồn
thức ăn chính cho ấu trùng cua, nhưng việc sử dụng thức ăn này tốn thời gian nuôi, giá thành cao mà nó còn là nguồn mang mầm bệnh rất nhiều làm ảnh hưởng tới quá trình ương cua nếu như chúng ta không quản lý, chăm sóc cẩn thận trong quá trình chuẩn bị thức ăn sống Vấn đề đặt ra là phải tìm nguồn thức ăn thay thế thức ăn tươi sống mà vẫn đảm bảo cung cấp đầy đủ din h dưỡng cho ấu trùng cua
Năm 2004, Genodepa công bố công trình nghiên cứu thức ăn nhân tạo MBD (Microbound diet) thay thế thức ăn sống [9] Công thức sau:
Công thức thức ăn chế biến MBD
Trang 11ương nuôi ấu trùng cua biển Scylla serrata Tác giả kết luận: giai đoạn Megalop nếu
cho ăn thức ăn chế biến MBD trong đó Rotifer được thay bằng thịt mực hoăc thịt cá thì tỉ lệ sống của ấu trùng cua đạt 60% giai đoạn Zoea 3 đến Zoea 4, cho ăn
Artemia tỉ lệ sống đạt 50% Kết quả này đã mở ra một hướng phát triển mới cho sản
xuất nhân tạo giống cua biển: chế biến thức ăn từ thịt mực, thịt cá, khoáng chất,
vitamin, … thay thế cho nguồn thức ăn sống truyền thống: Artemia, Luân trùng, …
giá thành không cao mà vẫn đảm bảo cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho ấu trùng cua, cho tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng vẫn hiệu quả Tuy nhiên, kết quả này chưa được áp dụng rộng rãi mà hiện nay việc ương cua vẫn dựa vào nguồn thức ăn chính
là nauplii Artemia
1.3.2 Tập tính ăn nhau trong giai đọan ương ấu trùng cua
Hiện tượng này xảy ra ở tất cả các giai đoạn ấu trùng cua biển đặc biệt là giai đoạn Megalops, giai đoạn bắt đầu xuất hiện càng đầu tiên [15] Nguyên nhân sự ăn nhau là do lột xác không đồng đều, ấu trùng lột xác trước ăn ấu trùng còn lại chưa lột xác [7] và do thức ăn không thích hợp [10] Nuôi Megalops với mật độ cao trong
bể ương làm trầm trọng thêm sự hao hụt do ăn thịt lẫn nhau Hiện tượng này làm tỷ
lệ sống giảm vì Megalops là giai đoạn mà ấu trùng rất năng động, bơi lội tự do và
ăn mồi sống [10] Sự phong phú thức ăn tự nhiên trong môi trường nuôi và mật độ thưa có thể khắc phục được vấn đề này
1.2.3 Bệnh
Bệnh cua thường là do vi khuẩn, nấm, nguyên sinh động vật và virus gây ra Trước đây những bệnh này thường ít xuất hiện trong nuôi thương phẩm, do diện tích nuôi cua chưa nhiều Hiện nay, bệnh cua cũng là một trở ngại lớn ảnh hưởng đến sản lượng cua nuôi Việc phát triển không ngừng những trại sản xuất cua giống cũng là một nguyên nhân làm xuất hiện dịch bệnh cua trong quá trình ương ấu trùng Chen (1980) quan sát thấy cua đẻ trong ao thường nhiễm nguyên sinh động vật hoặc các mầm bệnh khác dẫn đến tỉ lệ nở thấp Một số nghiên cứu bệnh pháp phòng và chữa bệnh cho cua được thực hiện như: thí nghiệm của Hamasaki và
Trang 12Haitai (1993) sử dụng formol 25 ppm để khử sự nhiễm nấm của trứng cua cho thấy,
nó gây độc cho trứng một ngày sau khi đẻ và độc với cả cua mẹ nếu giữ cua một thời gian lâu hơn Vì vậy ông đề nghị xử lý nhiễm nấm bằng formol ở các giai đoạn đầu của ấu trùng cua tốt hơn ở giai đoạn cua mang trứng Một phương pháp hạn chế nhiễm bệnh cho cua mẹ và ấu trùng cua là trong quá trình nuôi cua ôm trứng không nên cho cua mẹ ăn vào những ngày trứng gần nở để tránh bẩn nước [3] Cũng theo
tác giả này cho rằng ấu trùng cua thường bị trùng loa kèn Zoothamnium, Epistylis,
… bám vào thân, đầu làm cho ấu trùng không co duỗi được bơi chậm chạp, không bắt mồi được, yếu dần và chết Có thể dùng sulfat đồng 0,5 – 0,6 ppm, formol 10 –
15 ppm, thời gian 12 – 24h Ngoài ra, ấu trùng cua có thể mắc bệnh trùng phát sáng
do vi khuẩn Vibrrio parahaemolyticus làm ấu trùng yếu, bỏ ăn, lắng xuống đáy, chế
hàng loạt, khi đã bệnh nặng tốt nhất l à hủy bỏ ấu trùng, vệ sinh thật kỹ để ương đợt khác
1.2.4 Các điều kiện môi trường trong ương cua
Trong tự nhiên cũng như điều kiện trong điều kiện nuôi, nhiệt độ, độ mặn và
ánh sáng là những yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sinh trưởng, lột xác và tỉ lệ sống của ấu trùng Hill (1974) thấy rằng ấu trùng Zoea thích hợp sống trong điều kiện vùng cửa sông là do độ mặn thấp Còn Heasman và ctv (1983) lại nhận thấy tần số bắt mồi của ấu trùng tăng lên khi nhiệt độ tăng trên khoảng 20 – 270C và chậm lại khi nhiệt độ thấp dưới 200C Nguyễn Cơ Thạch (2003) đã xác định nhiệt
độ từ 26 – 300C, độ muối 25 – 30 ‰ là điều kiện thích hợp nhất cho sự phát triển của ấu trùng cua biển Giai đoạn ấu trùng cua biển có quá trình di cư (trôi theo dòng nước) theo chiều hướng độ mặn giảm dần, giai đoạn Megalop có khuynh hướng lớn nhanh khi độ mặn giảm còn 21 – 27 ‰ và chúng có khuynh hướng di chuyển vào vùng nước lợ [15]
Ngoài yếu tố nhiệt độ, độ mặn thì ánh sáng cũng ảnh hưởng đến tốc độ sinh
trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng cua biển Scylla sp Theo Wormhoudt và Humbert
(1994), đối với giáp xác, mức độ sáng tối ổn định, nhiệt độ giảm và sự đói ăn đều làm chậm tần số lột xác Ngược lại khi tăng nhiệt độ, chiều dài thời gian chiếu sáng thích hợp sẽ kích thích quá trình lột xác Ánh sáng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
Trang 13bơi lội và khả năng bắt mồi của giáp xác (Sulkin, 1984) Một điều chắc chắn rằng
ấu trùng giáp xác là loài bắt mồi không cần sự hiện diện của ánh sáng nhưng không loại trừ khả năng sự hiện diện của ánh sáng giúp chúng bắt mồi hiệu quả hơn [7] Theo Minagava và Murano, 1993, tốc độ bắt mồi cuả ấu trùng Zoea cua Ranina trong ngày cao cấp 2,6 – 2,8 lần so với vào ban đêm (trích từ [1]) Trong khi đó thì
Yatsuzuka, 1962 cho rằng tốc độ bắt mồi của ấu trùng ghẹ Portunus pelagicus
trong ngày cao gấp 3 đến 4 lần so với ban đêm ( trích từ [1] ) Ánh sáng giúp ấu trùng dễ dàng tìm thấy mồi nhưng cũng dễ dàng phát hiện nhau nên hiện tượng ăn nhau càng mạnh mẽ hơn
Ánh sáng phản xạ từ mặt bể cũng ảnh hưởng đến tốc độ sinh trường và phát triển của ấu trùng Ấu trùng cua biển có màu đen do đó trong ương nuôi người ta thường sử dụng bể có màu trắng hoặc sáng để dễ quan sát ấu trùng Nhưng theo nghiên cứu của Abed và Chaoshu Zeng (2005) về ảnh hưởng của màu sắc bể đến tỷ
lệ sống và sự phát triển của ấu trùng cua biển Scylla serrata, với 5 màu bể: đen, nâu
sẫm, xanh đen, xanh da trời và trắng, bể màu đen cho tỷ lệ sống của ấu trùng cao nhất, bể màu trắng tỷ lệ sống ấu trùng thấp nhất Ương trong bể màu đen và nâu sẫm, thời gian phát triển của các giai đoạn ấu trùng ngắn nhất [7]
2 Tình hình sản xuất giống nhân tạo cua biển trên thế giới
Cua biển Scylla là đối tượng nuôi đem lại hiệu quả kinh tế cao ở nhiều nước
Châu Á [13] Nó được xem là đối tượng thay thế tôm sú trong tình trạng dịch bệnh bùng phát từ việc nuôi tôm sú tràn lan không tuân thủ quy họach [8] Nhiều trang trại nuôi cua thương phẩm được xây dựng, bên cạnh đó có nhiều trại nuôi tôm sú chuyển sang nuôi cua [8] Trên thế giới, có nhiều công trình nghiên cứu về cua biển nhằm xây dựng hoàn thiện quy trình kỹ thuật sinh sản nhân tạo giống cua biển như nghiên cứu về vòng đời [15], nghiên cứu của Serene, 1980; Starobogator, 1980 về các đặc điểm sinh lý, sinh hóa, kỹ thuật sinh sản nhân tạo, sự tác động của các yếu
tố môi trường như nhiệt độ, độ mặn, … đến sự sinh trưởng và phát triển cua [12]
Úc và nhiều nước Châu Á đã tiến hành cho sinh sản nhân tạo giống cua biển với nhiều phương pháp kỹ thuật khác nhau Úc sử dụng hệ thống nước chảy liên tục với
Trang 14vận tốc 5 L/phút trong bể ương 350L Trong khi đó, Nhật sử dụng hệ thống bể ương ngoài trời và thay nước 10% mỗi ngày, đôi khi trong bể ương còn đặc một thanh khuấy trộn ở đáy bể làm sạch đáy bể và giữ cho thức ăn lơ lửng trong nước Malaysia ương ấu trùng cua trong nhà có mái che trong suốt Trong khi đó, ở Ấn Độ các bể ương được che kín với vải đen để duy trì sự phân bố đều của ấu trùng cũng như của thức ăn trong bể và cũng như là lợi dụng tập tính hướng quang của ấu trùng
cua và Artemia để thu hút chúng đến vùng có ánh sáng nhằm tăng cường khả năng
bắt mồi của ấu trùng [8]
Mặc dù quy trình kỹ thuật sinh sản nhân tạo giống cua biển luôn được cải tiến hoàn thiện nhưng cho đến này vẫn chưa thành công còn gặp nhiều trở ngại Tỉ
lệ sống ấu trùng thấp và không ổn định [13] Tại Philippine, tỉ lệ sống từ giai đoạn Zoea1 đến cua bột đạt 3%, Indonexia từ Zoea 1 đến Megalop đạt 1,3-1,5%, Megalop đến cua bột đạt 70-80%, Malaysia tỉ lệ sống đến cua bột là 1-2%, Úc 5-19%, Nhật 15-25% [14] Những trở ngại mà sinh sản nhân tạo ở các nước gặp phải là: Trứng trong qúa trình ấp bị nhiễm nấm, vi khuẩn, trứng không thụ tinh, kỹ thuật nuôi thức ăn tươi sống cho ấu trùng cua không hiệu quả, ấu trùng không lột xác được đặc biệt là từ giai đoạn Zoea 5 đến Megalop và một trong những trở ngại lớn nhất là hiện tượng ăn thịt nhau trong quá trình ương ấu trùng [15]
3 Tình hình sản xuất giống cua biển ở Việt Nam
Từ những năm 1980, để giải quyết vấn đề cua giống, Bộ Khoa học Công Nghệ - Môi trường (KHCN-MT) và Bộ Thủy Sản đã giao nhiệm vụ cho các Viện nghiên cứu triển khai thực hiện việc nghiên cứu vấn đề này nhưng ở thời điểm đó các nghiên cứu chủ yếu tập trung về xác định loài và một số đặc điểm sinh học làm
cơ sở cho nhũng nghiên cứu sau này [5] Năm 1995, tác giả Hoàng Đức Đạt đã xuất bản cuốn “Kỹ thuật nuôi cua biển” đây là tài liệu khá hoàn chỉnh về quy trình sản xuất giống cua biển tại Việt Nam
Từ năm 1998, Bộ KHCN-MT đã giao cho Trung tâm nghiên cứu thủy sản III thực hiện đề tài “Nghiên cứu sinh sản nhân tạo và xây dựng quy trình kỹ thuật sản
xuất giống cua xanh loài Scylla paramamosain” Tiến hành nghiên cứu về sức sinh
Trang 15sản thực tế cua mẹ, ảnh hưởng của độ mặn đến quá trình phát triển phôi, ảnh hưởng của độ muối và thức ăn đến tỉ lệ sống và sự lột xác biến thái chuyển giai đoạn của
ấu trùng cua Xanh Kết qủa nghiên cứu của đề tài đã được ứng dụng vào thực tế và
đã được chuyển giao cho các tỉnh như: Quảng Bình, Hải Phòng, Thanh Hoá, Nghệ An,…Kết quả chính của đề tài và quy trình sản xuất cua nhân tạo có thể được tóm tắt như sau:
Sức sinh sản thực tế của cua mẹ liên quan đến chiều rộng giáp đầu ngực và khối lượng của cua Cua lớn có sức sinh sản thực tế lớn hơn cua nhỏ hơn Cụ thể được trình bày trong bảng 1
Bảng 1.2: Sức sinh sản thực tế của cua Xanh loài S paramamosain [7]
lệ sống và sự lột xác biến thái giai đoạn của ấu trùng Zoea và Megalops là 20‰, 30‰ và 35‰ Kết quả nghiên cứu đã tìm ra độ mặn thích hợp cho giai đoạn phát triển của ấu trùng Zoea 1 - Megalops là 30‰ và giai đoạn Megalops đến cua bột dao động trong khoảng 27 - 29‰
Về ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tỷ lệ sống và sự lột xác chuyển giai đoạn của trùng của ấu trùng cua qua nghiên cứu đã kết luận rằng: Ở giai đoạn ấu trùng Zoea, cho ấu trùng ăn một loại thức ăn trong suốt quá trình phát triển là không phù hợp, nên phối hợp nhiều loại thức ăn trong một giai đoạn phát triển Luân trùng
Trang 16là loại thức ăn rất phù hợp ở giai đoạn Zoea 1 và đầu Zoea 2 nhưng không phù hợp
ở các giai đoạn kế tiếp Nauplii của Artemia cho ăn ở giai đoạn Zoea 2 đến đầu Zoea 4, Artemia cho ăn từ đầu giai đoạn Zoea 4 đến hết Zoea 5 Tảo được cho ăn từ
đầu đến cuối Zoea, tảo là thức ăn gián tiếp ở các giai đọan ấu trùng Zoea Ở giai
đoạn Megalops, 3 ngày đầu cho ăn Nauplius của Artemia, từ ngày thứ 3 trở đi cho
ấu trùng ăn Artemia sinh khối, từ ngày thứ 5 đến kết thúc giai đoạn Megalops kết hợp sử dụng Artemia sinh khối và thức ăn chế biến làm thức ăn cho ấu trùng [6]
Cho tới thời điểm này, có thể nói rằng chỉ có quy trình sinh sản giống nhân tạo cua
loài Scylla parammosain [6] đưa ra là gần như hoàn chỉnh nhất với một số nội dung
Cua mẹ ôm trứng được ấp bằng phương pháp treo trong bể có thể tích 100 - 150 L Hàng ngày cho cua mẹ ăn 1 lần/ngày và thay nước 100%, duy trì sục khí 24/24 giờ Trước khi trứng nở thành ấu trùng 2 ngày, tiến hành xử lý trứng phôi và cua mẹ đồng thời ngừng cho cua mẹ ăn
Ấu trùng từ Zoea 1 đến Zoea 5 được ương trong bể hình tròn, thể tích 500 - 1000L, sục khí 24/24 Sử dụng luân trùng là thức ăn ở giai đoạn Zoea 1 và giai đoạn
Zoea 2 với mật độ 15 - 20 con/mL, Artemia bung bù được sử dụng giai đoạn Zoea 1
đến giữa giai đoạn Zoea 3 Đầu giai đoạn Zoae 2 đến hết giai đoạn ấu trùng Zoea
cho ăn nauplius của Artemia là 10 - 15 con/L Hàng ngày cho ăn từ 2 - 3 lần/ngày
vào lúc 5 - 6 giờ; 15 - 18 giờ và 24 - 1 giờ sáng Cuối giai đoạn Zoae 1 tiến hành
Trang 17siphon đáy; từ giai đoạn Zoae 2 đến Zoae 5, cuối mỗi giai đoạn làm vệ sinh siphon đáy bể ương 1 lần
Ấu trùng Zoea 4, 5 đến cua bột được ương trong bể xi măng có thể tích 5 -
6 m3, độ sâu mức nước 1.2m Độ mặn của nước ương ở giai đoạn này là 25 - 27 ppt mật độ ương ấu trùng khoảng 50 cá thể/L Thức ăn sử dụng ở giai đoạn ương này là
cả nauplii Artemia, Artemia sinh khối và thức ăn chế biến Nauplius của Artemia cho ăn hết giai đoạn Zoea và Megalopes Artemia sinh khối cho ấu trùng ăn 5 ngày đầu, hàng ngày cho ăn 3 lần (5 - 6 giờ, 17 - 18 giờ, 24 - 1 giờ sáng) Mật độ Artemia
duy trì từ 20 - 25 cá thể/L Khoảng 2 - 3 ngày cuối giai đoạn ấu trùng Megalopes, cho ấu trùng ăn thêm thức ăn chế biến Khi giai đoạn Megalopes kết thúc, vẫn tiếp
tục cho ăn Artemia sinh khối và thức ăn chế biến cho đến khi thu hoạch cua bột 3 -
5 ngày tuổi Siphon đáy bể loại bỏ thức ăn dư thừa và những cá thể chết do chuyển giai đoạn Zoea 5 sang Megalope s và từ Megalopes sang cua bột
Theo tạp chí hoạt động khoa học, số 7/2006 Việt Nam đã tạo được quy trình sản xuất giống cua biển với trình độ sản xuất đạt mức cao trên thế giới Trên cơ sở
đó, đã sản xuất được 3 triệu cua giống, hình thành 119 trại sản xuất giống cua trải khắp 15 tỉnh từ Quảng Ninh đến Cà Mau, sản xuất được từ 50.000 đến 1.000.000 cua giống/năm
Hiện nay, việc chuyển giao công nghệ sản xuất giống nhân tạo của biển đã
và đang được tiến hành ở nhiều địa phương trong cả nước như:: Hải Phòng, Thanh Hoá, Ninh Bình, Nam Định, Nghệ An, Quảng Trị, Huế, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau… Đây là bước đi kịp thời, đúng hướng, giúp đáp ứng nhu cầu khá lớn về con giống, đồng thời từng bước giảm dần nguy cơ khai thác cạn kiệt nguồn cua giống
tự nhiên Cụ thể như: năm 2003, Bộ Thủy Sản đã phê duyệt đự án chuyển giao công
nghệ sản xuất giống cua biển loài Scylla paramamosain cho 4 tỉnh: Ninh Bình, Nam
Định, Bến Tre và Nghệ An do viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III đảm nhiệm Kết quả, tỷ lệ sống từ Zoea 1 - cua bột lần lượt là 6,5%, 6,8%, 824%, 6,7% (http:// www.nafec.gov.vn)
Trang 18Hình 1.2: Cua ôm trứng sau khi đẻ
(Nguyễn Cơ Thạch, 2006)
Trang 19Hình 1.3: Các giai đoạn ấu trùng đến cua bột
(David Man, 1998)
Ấu trùng Megalopa
Ấu trùng Zoea 5
Cua bột 1 tuổi
Trang 20PHẦN 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Thời gian và địa điểm đối tượng nghiên cứu
- Thời gian thực tập: 25/08/2007 đến 10/11/2007
- Địa điểm: Trung tâm Nghiên cứu và Sản xuất Giống Hải sản Thanh Hóa
- Đối tượng nghiên cứu: Cua biển ( Scylla paramamosain Estempador, 1949)
2 Nội dung nghiên cứu
Hình 1.4: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Tìm hiểu hệ thống
công trình – Kỹ
thuật xử lý nước
Tìm hiểu kỹ thuật ương nuôi trùng
và kỹ thuật
xử lý nước
Tuyển chọn cua mẹ
Kỹ thuật nuôi cua mẹ thành thục
Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng thành cua bột
1
Kết luận và đề xuất ý kiến
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu kỹ thuật tuyển chọn, nuôi vỗ cua mẹ và cho đẻ
Kỹ thuật cho đẻ
và nuôi cua ôm trứng
Trang 21- Ương ấu trùng:
+ Bể composite hình tròn, thể tích 1000 L Bể được vệ sinh bằng xà phòng
và dung dịch chlorine 200 ppm trong thời gian 24 giờ, sau đó đánh xà phòng lần 2
và rửa lại bằng nước ngọt
+ Thức ăn: Artemia bung dù và Nauplius của Artemia Nauplius của Artemia
được làm giàu trước khi cho cua ăn Cách làm giàu: thành phần làm giàu: 1/3
Spirulina + 1/3 Fripak + 1/3 Lansy + dầu gan mực + ET600 Cho hỗn hợp trên vào máy xay rồi cho ấu trùng của Artemia ăn
Lượng Nauplius của Artemia đã được làm giàu phải được sử dụng cho ấu trùng
cua ăn hết trong vòng 8 giờ kể từ khi ấu trùng Nauplius được làm giàu
- Ương ấu trùng cua từ Megalop đến cua bột 1:
+ Bể ximăng có thể tích 10m3, phần bể tập trung nhiều ánh sáng được phủ bằng lưới chắn ánh sáng giúp ấu trùng phân bố đều trong bể ương Bể bố trí 9 viên
đá sục khí/bể Lưới, vỏ sò đã được vệ sinh sạch sẽ bằng xà phòng, chlorine sau đó rửa lại bằng nước ngọt nhiều lần rồi đem phơi khô trước khi sử dụng làm giá thể
+ Thức ăn: Nauplius của Artemia cà thức ăn chế biến Thức ăn được chế
biến: nguyên liệu bao gồm: cá liệt 5% + cá ù 4% + Lansy 5% + bột hầu 10% + tôm 20% + ngao + mực 14% và thêm gan dầu mực 0,5% + tảo khô 0,5% + lòng đỏ trứng
gà 5% Cho hỗn hợp này xay mịn, sau đó đem hấp cách thủy trong 20 - 30 phút đến khi thức ăn chín Để nguội và bảo quản trong tủ lạnh, sử dụng trong 2 - 3 ngày sau khi chế biến
Trang 224 Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp gián tiếp: Qua các báo cáo khoa học, luận văn tài liệu, tạp chí khoa học web
- Phương pháp trực tiếp: Thông qua cán bộ kỹ thuật, trực tiếp tham gia sản xuất để tìm hiểu về các chỉ tiêu tuyển chọn cua bố mẹ( khối lượng, kích thước, tình trạng sức khỏe, giai đoạn thành thục, màu sắc,…kỹ thuật nuôi cua mẹ thành thục và nuôi cua ôm trứng ( trang thiết bị, nguồn nước, mật đọ uôi, phương pháp chăm sóc
và quản lý), kỹ thuật thu và ương ấu trùng thành cua bột ( dụng cụ thu ấu trùng, thiết bị ương nuôi, phương pháp chăm sóc và quản lý)
5 Phương pháp xác định các thông số
5.1 Xác định các yếu tố môi trường
- Xác định nhiệt độ bằng nhiệt kế thủy ngân
Ts: Tỷ lệ sống cua mẹ trong nuôi vỗ
T0: Tỷ lệ cua ôm trứng
CS: Số cua mẹ sống
C0: Số cua mẹ ban đầu
Ct: Số cua ôm trứng
- Xác định số lượng ấu trùng theo phương pháp thể tích:
+ Xác định số lượng ấu trùng Zoea1: Sau khi trứng nở thàng ấu trùng chuyển cua mẹ sang bể khác, sục khí mạnh để ấu trùng phân tán đều, dùng cốc đong
100 mL nước tại 3 điểm bất kỳ Đếm số ấu trùng có trong cốc suy ra số lượng ấu trùng trong cả bể
+ Xác định số lượng ấu trùng Megalops: Tương tự giai đoạn Zoea
+ Xác định số lượng cua bột: Đếm trực tiếp
+ Công thức tính số lượng ấu trùng:
Trang 23T = V * A
T: Số lượng ấu trùng cần định lượng V: Thể tích nước chứa số ấu trùng cần định lượng A: Số lượng ấu trùng trong thể tích nước mẫu
- Tỷ lệ sống của ấu trùng (Tat):
Tat = A1/A2 * 100
Trong đó:
A1: Số lượng ấu trùng giai đoạn sau
A2: Số lượng ấu trùng giai đoạn trước
+ Công thức tính tỉ lệ sống của các giai đoạn ấu trùng:
Z1 giai đoạn đầu
T1: Thời điểm xuất hiện ấu trùng giai đoạn trước
T2: Thời điểm xuất hiện ấu trùng giai đoạn sau
- Tỉ lệ đẻ (TLĐ %):
Số cua mẹ đẻ trứng
TL Đ =
Tổng số cua nuôi thành thục x 100
Trang 24- Xác định chất lượng ấu trùng: Sau khi xác định được số lượng ấu trùng Z1, tắt sục khí 1- 2 phút để ấu trùng khỏe có tính hướng quang và nổi lên tầng mặt, số
ấu trùng yếu bị lắng đáy, siphon loại bỏ số ấu trùng yếu Sau đó sục khí mạnh để ấu trùng khỏe phân bố đều rồi dùng cốc đong 100 mL nước lấy ở 3 vị trí khác nhau Đếm số lượng ấu trùng trong cốc suy ra số trùng khỏe trong cả bể
Nhận biết ấu trùng khỏe: khi vặn nhỏ hoặc tắt sục khí, toàn bộ ấu trùng khỏe nổi nhanh và dày trên mặt nước, ấu trùng hướng quang nhanh và có màu đen sậm
+ Chất lượng ấu trùng ( CLAT%)
Số lượng ấu trùng khỏe CLAT =
Tổng số ấu trùng Zoea x 100
5.3 Phương pháp xử lý số liệu:
- Sử dụng phần mềm Excel để xử lý số liệu các yếu tố môi trường
- Công thức tính giá trị trung bình:
X n
X
1
*1
2
) (
* 1
Trang 25PHẦN 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1 Đặc điểm tự nhiên của vùng
1.1 Vị trí địa lý
Trung tâm Nghiên cứu và Sản xuất Giống Hải sản Thanh Hoá tại xã Hoàng Thanh, huyện Hoàng Hoá có vị trí sát biển, có nguồn nước biển chủ động cho sản xuất Khuôn viên trại độc lập có đầy đủ trang thiết bị phục vụ cho nghiên cứu, sản xuất giống Các điều kiện này thuận lợi cho việc triển khai sản xuất giống nhân tạo cua và ương nuôi cua bột thành cua giống
1.2 Điều kiện tự nhiên
1.2.1 Điều kiện khí hậu
Trại sản xuất nằm trong vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu nhiệt đới gió mùa và ven biển Bắc Trung Bộ.Trong năm có 4 mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông Mùa hạ chịu chi phối của gió mùa Tây Nam, khí hậu nóng ẩm Mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa đông Bắc, khí hậu khô lạnh Nhiệt độ không khí trung bình là 23,7oC, nhiệt độ cao nhất 41oC vào màu hè, mùa đông nhiệt độ xuống thấp, có ngày nhiệt độ xuống dưới 7oC Lượng mưa trung bình hàng năm là: 1.896mm, cao nhất vào tháng 7 - 8
1.2.2 Chế độ thủy triều
Vùng biển Hoàng Thanh thuộc chế độ nhật triều, biên độ dao động từ 2,9 - 3,2m Một tháng có hai con nước lớn, trung bình từ 6 - 7 ngày
2 Hệ thống công trình trại sản xuất
Trung tâm được xây dựng năm 1994 với tổng diện tích gần 1ha, công suất thiết kế khoảng 55 vạn cua bột/năm, có vị trí thuận lợi: Phía Đông giáp biển, phía Tây giáp khu dân cư và đường giao thông Trước đây trại chủ yếu tập trung nghiên
Trang 26cứu và sản xuất giống các đối tượng hải sản như tôm sú, tôm đất,…để đáp ứng nguồn giống trong tỉnh và đào tạo đội ngũ cán bộ cho tỉnh Từ năm 1998, trại đã bắt đầu thực hiện dự án sản xuất cua giống nhưng đều bị thất bại cho đến năm 2004 khi được Viện III chuyển giao công nghệ sản xuất cua giống thì trại đã cử 3 kỹ sư vào Nha Trang học tập và đến nay đã sản xuất thành công cua giống đạt tỷ lệ sống từ 4
- 6% Trại có hệ thống trang thiết bị và dụng cụ chuyên dùng
2.1 Hệ thống bể sản xuất
2.1.1 Bể nuôi cua mẹ
- Bể nuôi cua mẹ thành thục: 9 bể, mỗi bể có diện tích đáy 10m2
- Bể nuôi cua mẹ ôm trứng: 10 bể, mỗi bể có thể tích 120L
2.1.2 Hệ thống công trình ương nuôi ấu trùng
Nhà ương nuôi ấu trùng 1 có diện tích mặt bằng 100m2, bao gồm 112 bể composite, thể tích 1000L/bể
Nhà ương ấu trùng 2 có diện tích mặt bằng khoảng 150m2, bao gồm 12 bể ximăng, thể tích
Và một khu nhà sản xuất bao gồm 12 bể nuôi vỗ cua mẹ, ương ấu trùng và ương lên cua bột có thể tích Ngoài ra trại còn có hệ thống ao ương từ bột lên giống 2-3 cm trên cát được phủ bạt để chống mất nước gồm 4 ao với diện tích mỗi ao 100m2, nước cấp vào ao có độ mặn 10-20‰, pH 7,5 - 8,5 độ sâu 70 - 80 cm
- Máy bơm nước biển : 1 cái công suất 80m3/h
-Máy bơm nước ngọt : 1 cái, công suất 250 W
- Máy sục khí : 5 cái mỗi máy có công suất 500 W
- Máy phát điện : 1 cái công suất 1000W
- Khúc xạ kế đo độ mặn : 1 cái, Kính hiển vi quang học: 1 cái
- Dụng cụ chuyên dùng khác: lưới phù du, dây dấn khí, đá bọt, xô, chậu,ca nh ựa,…
Trang 278 Trạm bơm nước biển
9 Nhà nuôi cua mẹ ôm trứng và ấp nở
trứng cua
10 Khu vực ương nuôi ấu trùng
Megalop đến cua bột
11 Nhà ương nuôi ấu trùng Zoea
12 Nhà ương nuôi ấu trùng từ Z1 đến Z5
13 Khu vực sản xuất
14 Khu vực ương nuôi luân trùng và tảo
15 Hệ thống bể chứa nước biển