1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thương phẩm nhum sọ (Tripneustes gratilla Linnaeus, 1758) tại Vũng Ngán, Nha Trang, Khánh Hòa

40 733 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 514,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do tuyến sinh dục của nhum sọ là nguồn sử dụng chính cho nên để bảo vệ nguồn lợi nhum sọ và tăng cường xuất khẩu thì việc nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thương phẩm

Trang 1

Lời cảm Ơn

Trong suốt 4 năm học đại học và 3 tháng làm luận văn tốt nghiệp vừa qua, cùng với sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ, động viên, chia sẻ rất lớn từ phía gia đình, bạn bè và quý thầy cô Đó chính là động lực lớn lao giúp tôi hoàn thành tốt chương trình đại học và cuốn luận văn tốt nghiệp này Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:

+ Ban giám hiệu trường Đại học Nha Trang, Ban chủ nhiệm Khoa Nuôi trồng Thủy Sản

+ Các thầy giáo, cô giáo bộ môn

+ Thầy giáo ThS Võ Ngọc Thám

+ KS Nguyễn Văn Giang - Viện nghiên cứu Nuôi Trồng Thủy Sản III

+ Bác Nguyễn Đảm, anh Nguyễn Thanh - Chủ bè nuôi nơi thực hiện đề tài + Các cán bộ thư viện trường Đại học Nha Trang, Viện Hải Dương học Nha Trang, Viện nghiên cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản III

Cùng gia đình và bạn bè, đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt cuốn luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành!

Nha Trang, tháng 11 năm 2007

Sinh viên

Lâm Văn Trình

Trang 2

Mục lục

Trang

Mở đầu 1

Phần 1: Tổng luận 3

1 Đặc điểm sinh học của nhum sọ (Tripneustes gratilla) 3

1.1 Hệ thống phân loại 3

1.2 Đặc điểm hình thái 3

1.3 Đặc điểm phân bố 4

1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 5

1.5 Đặc điểm sinh trưởng 5

1.6 Đặc điểm sinh sản 6

1.6.1 Hình thái tuyến sinh dục 6

1.6.2 Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục 7

1.6.3 Mùa vụ sinh sản 7

1.6.4 Kích thước thành thục sinh dục lần đầu 8

1.6.5 Hoạt động sinh sản 8

2 Hiện trạng nghề nuôi nhum sọ (Tripneustes gratilla) 8

2.1 Trên thế giới

8

2.2 ở Việt Nam 9

3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Khánh Hòa 10

3.1 Điều kiện tự nhiên 10

3.1.1 Vị trí địa lý, địa hình 10

3.1.2 Khí tượng thuỷ văn 10

3.1.3 Nguồn lợi thuỷ sản 11

3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 11

3.2.1 Điều kiện kinh tế 11

3.2.2 Điều kiện xã hội 12

3.3 Vài nét về vùng nuôi thí nghiệm nhum sọ 12

Phần 2: Phương pháp nghiên cứu 14

Trang 3

1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 14

2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 14

3 Phương pháp nghiên cứu 15

3.1 Một số đặc điểm sinh học của nhum sọ 15

3.2 Kỹ thuật nuôi thương phẩm nhum sọ 15

3.2.1 Chuẩn bị lồng nuôi 15

3.2.2 Thả giống 15

3.2.3 Chăm sóc và quản lý 15

3.2.4 Theo dõi tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng 16

3.2.5 Phòng và trị bệnh 17

3.3 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 17

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu trực tiếp 17

3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu gián tiếp 17

3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 17

Phần 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 18

1 Khái quát về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 18

2 Một số đặc điểm sinh học của nhum sọ 18

2.1 Đặc điểm hình thái, cấu tạo 18

2.1.1 Hình thái cấu tạo ngoài 18

2.1.2 Hình thái cấu tạo trong 19

2.2 Đặc điểm phân bố 20

2.3 Đặc điểm dinh dưỡng 21

2.4 Đặc điểm sinh trưởng 21

3 Kỹ thuật nuôi thương phẩm nhum sọ 21

3.1 Kỹ thuật chuẩn bị lồng nuôi 21

3.2 Kỹ thuật tuyển chọn, vận chuyển và thả giống 22

3.2.1 Nguồn giống 22

3.2.2 Cách tuyển chọn 22

3.2.3 Kỹ thuật vận chuyển 23

3.2.4 Kỹ thuật thả giống 24

3.2.5 Mật độ giống thả 24

Trang 4

3.3 Kỹ thuật chăm sóc và quản lý 24

3.3.1 Thức ăn và quản lý thức ăn 24

3.3.2 Theo dõi biến động của các yếu tố môi trường 26

3.3.3 Quản lý sức khỏe 28

3.3.4 Theo dõi tỷ lệ sống và sinh trưởng của nhum sọ 29

Phần 4: Kết luận và đề xuất ý kiến 34

1 Kết luận 34

2 Đề xuất ý kiến 35

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 5

Mở đầu

Thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Minh chứng cho kết luận trên là kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đứng thứ 2 nhiều năm liền trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, trong đó xuất khẩu các sản phẩm từ nuôi trồng thuỷ sản chiếm một tỷ trọng đáng

kể

Hiện nay, ngoài việc chú trọng vào các đối tượng truyền thống, có giá trị xuất khẩu như: tôm sú, tôm càng xanh, cá tra, cá basa, cá mú, cá chẽm… Nuôi trồng thuỷ sản đã và đang hướng tới việc đa dạng hoá các đối tượng nuôi, chú trọng những đối tượng mới có trị kinh tế cao, thị trường tiêu thụ rộng và ổn định, đồng thời giảm thiểu

các yếu tố gây ô nhiễm môi trường Với các tiêu chí trên, cầu gai sọ dừa (Tripneustes gratilla) hay nhum sọ đang được xem là đối tượng nuôi mới, có nhiều triển vọng

Ngoài khả năng đáp ứng được nhu cầu về thực phẩm giàu dinh dưỡng, nhum sọ còn mang nhiều ý nghĩa về mặt Y học, Nông nghiệp, Sinh học và Môi trường Nhum

sọ (Tripneustes gratilla) là loài lớn nhanh nhất trong các loài nhum sọ thuộc giống Tripneustes có giá trị kinh tế (Shimabukuro, 1982, 1983) Trứng nhum sọ có hàm

lượng Protein cao (15.8%), bổ dưỡng, dùng để chế biến các món Ukino Kenten, Echizen Uni, Simonoseki Uni, Kayaki Uni của người Nhật Bản (Lawrence, 2001),

và có nhiều acid amin không thay thế (Lâm Ngọc Trâm và cộng tác viên, 1993) ở Việt Nam, trứng nhum sọ được nấu cháo hoặc ăn sống với chanh và mù tạt là món ăn hấp dẫn tại các nhà hàng biển

Ngoài việc sử dụng trứng làm thức ăn giàu dinh dưỡng, vỏ nhum sọ có thể làm thuốc bắc có tác dụng chữa mỏi mệt và đau nhức, giải nhiệt chống viêm Bột vỏ nhum

sọ làm phân bón rất tốt (Ngô Trọng Lư, 1998) Hiện nay, nhum sọ còn được xem là

mô hình sống lý tưởng để nghiên cứu về tác động của các chất nhiễm bẩn môi trường như: kim loại nặng, dầu, chất thải công nghiệp đến sự phát triển dị dạng của phôi ởgóc độ này, nhum sọ được xem là sinh vật chỉ thị cho sự ô nhiễm của môi trường nước biển Về phương diện quá trình phát sinh và phát triển của tế bào, mô tế bào thì nhum

sọ được xem là mô hình nghiên cứu sự tiến hoá của giới sinh vật (Naikendo, 1997)

Trang 6

Trong những năm gần đây, nguồn nhum sọ tự nhiên ở nước ta hầu như bị cạn kiệt do khai thác quá mức để xuất khẩu và tiêu thụ trong nước Nếu như so sánh với trước 1995, nhum sọ rất phổ biến ở vịnh Nha Trang, chúng thường sống ở trong các rạn phẳng hoặc bãi đá ngầm, nước sâu khoảng từ 45 m, nơi có nhiều rong lớn phát triển tốt và tập trung nhiều nhất ở phía Bắc vịnh (Rạn chắn lớn) và ở phía Nam vịnh (Rạn cát) thì hiện nay, nhum sọ chỉ còn phân bố rải rác ở những nơi xa bờ (Phạm Thị

Dự, 2001) Hay chỉ riêng trong năm 1993 ở Nha Trang, nhum sọ được khai thác khoảng 500 tấn cả vỏ, trong đó xuất khẩu 30 tấn trứng (Ngô Trọng Lư, 1998) thì con

số này hiện nay đã bị suy giảm nghiêm trọng Do tuyến sinh dục của nhum sọ là nguồn

sử dụng chính cho nên để bảo vệ nguồn lợi nhum sọ và tăng cường xuất khẩu thì việc nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thương phẩm nhum sọ đang là việc làm cấp thiết

Với tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu nuôi thương phẩm nhum sọ nêu trên, được sự đồng ý của Khoa Nuôi trồng Thuỷ Sản, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài:

“Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thương phẩm nhum sọ (Tripneustes gratilla Linnaeus,

1758) tại Vũng Ngán - Nha Trang - Khánh Hoà”

 Nội dung của đề tài này bao gồm:

(i) Tìm hiểu một số đặc điểm sinh học của nhum sọ

(ii) Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thương phẩm nhum sọ

Kết quả của đề tài

Góp phần xây dựng nên quy trình kỹ thuật nuôi thương phẩm nhum sọ, làm tiền đề cho việc phát triển nghề nuôi nhum sọ trong nhân dân vùng biển

và các đảo xa, bảo vệ nguồn lợi nhum sọ tránh bị cạn kiệt

Vì thời gian thực hiện đề tài rất ngắn so với thời gian nuôi thương phẩm, đối tượng nghiên cứu mới, kiến thức cơ bản còn hạn chế, tài liệu tham khảo về nuôi thương phẩm nhum sọ chưa có nên luận văn này không thể tránh khỏi những hạn chế

và thiếu sót Kính mong quý thầy cô, các bạn đồng nghiệp và các bạn quan tâm đóng góp ý kiến để luận văn của chúng tôi được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn!

Trang 7

Loài: Tripneustes gratilla Linnaeus, 1758

Tên thường gọi: nhum sọ, cầu gai sọ dừa, nhím biển, cà ghim

Tên tiếng Anh: sea urchin

Trong báo cáo này: nhum sọ

Vỏ nhum sọ có cấu tạo bằng đá vôi, là bộ xương cứng nâng đỡ cơ thể Các tấm

đá vôi kết hợp với nhau theo kiểu 5 cạnh, 5 gian Từ cực miệng về cực đối miệng có

10 dãy đôi tấm, xếp phóng xạ với hai loại xen kẽ nhau: 5 dãy gồm hai hàng tấm lớn không có lỗ gọi là gian phóng xạ, 5 dãy gồm hai hàng tấm nhỏ mỗi tấm có 2 lỗ để chân bám thò ra Bên ngoài vỏ được phủ một lớp biểu bì có màu đen hơi đỏ tía, có nhiều gai nhỏ, ngắn xen kẽ với gai dài Các gai này có cấu tạo từ đá vôi, đầu mút nhọn nhưng

Trang 8

giòn, dễ gãy, đa dạng về màu sắc, thay đổi từ màu đen đến nâu đồng Nhum sọ có 5 đôi chân bám quanh miệng, cùng với các gai thực hiện chức năng di chuyển, bám dính

và quấn lấy rong tảo để dinh dưỡng đồng thời cũng là cơ quan tự vệ nhờ chất độc có trong gai (Đặng Ngọc Thanh & Trương Quang Ngọc và cộng sự, 2001)

Bảng 1: Các đặc điểm hình thái cơ bản của nhum sọ (Tripneustes gratilla) giai

đoạn trưởng thành ở vịnh Nha Trang theo tài liệu của Lê Minh Đức và cộng sự,

2005

Khối lượng trung bình toàn phần (g) 149.4 159.2

Khối lượng trung bình tuyến sinh dục (g) 22.85 27.6

1.3 Đặc điểm phân bố

Trên thế giới, giống nhum sọ Tripneustes có 3 loài: Tripneustes gratilla Linnaeus, 1758; Tripneustes venticocus Lamack, 1816 và Tripneustes depressus A.Agassis, 1863 Theo Mortesen (1943), Tripneustes gratilla phân bố chủ yếu ở vùng

biển ấn Độ - Tây Thái Bình Dương; T venticocus phân bố từ tam giác Bermuda, vùng biển phía nam Florida của Mỹ đến Brazil; T depressus phân bố từ vịnh Califonia của

Mỹ đến bờ tây Mexico và các đảo Galapapgos, Clarion

Việt Nam, nhum sọ (Tripneustes gratilla) thường phân bố dọc theo các vùng

biển, nhưng tập trung chủ yếu ở ven biển miền trung như: Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh

Thuận, Bình Thuận và Côn Đảo (Phạm Thị Dự, 2001) Nhum sọ (T gratilla) có thể

sống ở độ sâu 75 m nước Nơi sinh sống của nhum sọ thường có cỏ biển, rong, đá tảng

và san hô (Mortesen, 1943) Mukai và cộng sự (1987) thấy rằng nhum sọ thường sống tập trung thành từng đám với mật độ rất cao trong các bãi cỏ dưới đáy biển

Theo nghiên cứu của Shokita (1991) thì những con nhum sọ giống có đường kính nhỏ hơn 2 cm thường ẩn dưới các tảng đá, đá sỏi và các bụi rong tảo, vì vậy mà khó có thể tìm thấy chúng trên bề mặt Nhum sọ không chịu được độ mặn thấp vì vậy

Trang 9

chúng không sống được ở vùng cửa sông mà thường phân bố ở những vùng dưới triều bên ngoài các rạn đá ngầm, hoặc trên các hốc đá, nơi có độ mặn cao từ 3036 ppm Giới hạn di chuyển và di trú của nó chỉ nằm trong vùng vịnh, trong một rạn đá hoặc trong giới hạn khoảng cách chỉ vài kilomet Nhum sọ trưởng thành có thể bắt gặp ở những vùng nước cạn có độ sâu 0,5 m hoặc ở độ sâu đến 75 m nước

1.4 Đặc điểm dinh dưỡng

Nhum sọ nói chung thường tập trung chủ yếu ở vùng có nhiều cỏ biển, rong, đá tảng và các rạn san hô, đây là nơi có điều kiện sinh thái thuận lợi cho sự sinh trưởng, sinh sản và phát triển của nhum sọ Thức ăn của nhum sọ thay đổi theo từng giai đoạn

phát triển: ấu trùng ở giai đoạn sống trôi nổi ăn tảo phù du đơn bào như Isochrysis galbana, Chaetoceros sp, Dunaliella tertiolecta… ở giai đoạn ấu trùng sống đáy ăn tảo đáy như Navicula sp, Nitszchia sp, Cocconeis Khi lớn lên chúng ăn các loại rong biển như Sargassum sp, Padina sp, Hypnea, Hydroclathrus clathratus, Kappaphycus sp, Gracilaria sp… (Shimabukuro, 1982) Ngoài các loại thức ăn phổ biến trên, nhum sọ

T gratilla sống ở rạn san hô thuộc quần đảo Madagascar còn ăn các loại sinh vật nổi,

chất thối rữa, thịt cá do gai trên cơ thể quấn lại và bắt được (Maharavo, 1993)

1.5 Đặc điểm sinh trưởng

Chu kỳ sống của nhum sọ gồm 2 giai đoạn: giai đoạn ấu trùng sống trôi nổi và giai đoạn sống đáy (Uehata, 1986; Shokita, 1991)

(i) Giai đoạn ấu trùng sống trôi nổi: ấu trùng mới nở Pyramid có kích thước

trung bình là 130 m Sau 5 ngày phát triển chuyển thành ấu trùng 4 tay với chiều dài từ 350600 m và ăn tảo nổi đơn bào, sau đó phát triển thành ấu

trùng 6 tay, chiều dài từ 600800 m Sau 20 ngày từ khi trứng được thụ tinh, ấu trùng phát triển thành ấu trùng 8 tay, chiều dài từ 8001200 m Nhum sọ con (Juvenile) có kích thước đường kính vỏ 23 mm xuất hiện sau 4060 ngày

(ii) Giai đoạn sống đáy: Sau khi ấu trùng 8 tay biến thái thành nhum sọ con,

chúng chuyển sống đáy và ăn tảo đáy Khi kích thước đạt 23 mm, nhum sọ con bắt đầu ăn rong biển

Trang 10

Tốc độ sinh trưởng của nhum sọ phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển và điều kiện sống Theo kết quả điều tra ở môi trường tự nhiên của nhum sọ cho thấy tốc độ tăng trưởng từ con giống 510 mm có thể đạt từ 5070 mm đường kính vỏ trong năm đầu tiên (Maharavo, 1993) Theo kết quả nghiên cứu của Shokita (1991), nhum sọ lớn nhanh ở giai đoạn từ 01 tuổi Nuôi từ giai đoạn con giống trong vòng 10 tháng có thể đạt kích cỡ 82,4 mm, qua năm thứ 2 thì tốc độ sinh trưởng chậm lại, khi trưởng thành

có thể đạt tới 100 mm Nhum sọ đạt kích thước đường kích tối đa 101,5 mm, và nặng 444,8 g Shokita tiến hành thu mẫu ngoài tự nhiên, sau đó đem về nuôi ở các bể xi măng thì thấy chúng sinh trưởng nhanh hơn và đạt kích thước lớn hơn so với những cá thể sống ngoài tự nhiên Cá thể lớn nhất đạt tới đường kính 138,5 mm, chiều cao 86,2

mm và nặng 1021 g

Cũng theo kết quả nghiên cứu của Shimabukuro (1987), nhum sọ con tăng trưởng nhanh khi chuyển đổi từ thức ăn tảo đáy sang ăn rong biển Chúng đạt kích thước đường kính 10 mm vào tháng 5, 6 khi ăn tảo đáy và đạt 6070 mm vào tháng

11 khi ăn rong biển Theo Lê Đức Minh và cộng sự (2005), nhum sọ sinh trưởng thuận lợi trong điều kiện độ mặn từ 3035%; pH từ 7,58,5; nhiệt độ từ 2730oC

1.6 Đặc điểm sinh sản

1.6.1 Hình thái tuyến sinh dục

Nhum sọ là loài đơn tính Về hình dạng bên ngoài, nhum sọ đực, cái rất giống nhau nên chỉ phân biệt được con đực và con cái qua tuyến sinh dục dưới kính hiển vi Tuyến sinh dục của nhum sọ gồm 5 nhánh, các nhánh có nhiều thùy và dính vào vách miền trung gian ở mặt trong của vỏ Mỗi nhánh ăn thông ra bên ngoài qua lỗ sinh dục Tuyến sinh dục cái có màu vàng, tuyến sinh dục đực có màu hồng nhạt (Lê Đức Minh

và cộng sự, 2005) Theo kết quả nghiên cứu của Tuason và Gonmez (1979) thì nhum

sọ T gratilla dưới một năm tuổi ở điều kiện tự nhiên có kích thước tuyến sinh dục cực

đại khoảng 1015% khối lượng tươi của cơ thể, và chiếm khoảng 20% thể tích vỏ (Kobayashi, 1969)

1.6.2 Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục

Trang 11

Theo Lê Đức Minh và cộng sự (2005), quá trình phát triển tuyến sinh dục của nhum sọ ở vịnh Nha Trang- Khánh Hòa được chia thành 4 giai đoạn:

(i) Giai đoạn nghỉ: ở giai đoạn này, tuyến sinh dục chưa phát triển, là một dải

mỏng màu nâu sẫm Vách của các thùy nhăn nheo chứa các noãn bào, tinh bào có kích thước rất nhỏ (< 5 m) Các cá thể ở giai đoạn này thường là nhum sọ chưa trưởng thành Đối với những cá thể mới tham gia sinh sản xong, tuyến sinh dục còn chứa một số tế bào trứng, tinh trùng giai đoạn IV

còn sót lại Các tế bào này sẽ được hấp thụ bởi các thực bào

(ii) Giai đoạn phục hồi và bắt đầu phát triển: Các thùy bên trong của tuyến

sinh dục bắt đầu kéo dài về phía 2 cực, vẫn còn nhăn nheo ở giai đoạn này, một số tế bào trứng, tinh trùng đã xuất hiện ở ngoại vi của thùy chứa

noãn bào hay tinh bào

(iii) Giai đoạn thành thục: Tuyến sinh dục của nhum sọ đực và cái dày lên, kéo

dài về hai cực, có màu vàng nhạt, mềm nhão Các thùy của tuyến sinh dục chứa các noãn bào có nhân và hạt nhiễm sắc bắt màu rõ Kích thước trung bình của noãn bào đạt 26,3 m , tinh trùng bắt đầu hoạt hóa

(iv) Giai đoạn chín muồi sinh dục: Tuyến sinh dục căng mọng, chắc, dày như

múi cam kéo dài đến hai cực Tuyến sinh dục con cái màu cam tươi, con đực có màu vàng kem Các thùy của tuyến sinh dục chứa tế bào trứng và tinh trùng thành thục có kích thước dao động từ 30- 60 m, trung bình

50 m Tinh trùng hoạt động và lấp đầy các xoang

1.6.3 Mùa vụ sinh sản

Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Dự (2001) thì mùa sinh sản của nhum

sọ ở vịnh Nha Trang - Khánh Hòa bắt đầu từ tháng 7 và kéo dài đến tháng 1, sinh sản

rộ vào tháng 12 Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của Lê Đức Minh và cộng sự (2005) thì cho rằng: mùa sinh sản của nhum sọ ở vịnh Nha Trang kéo dài từ tháng 8 đến tháng 1 năm sau, rộ nhất vào tháng 10 Nhum sọ ở Madagascar lại có mùa vụ sinh sản quanh năm (Maharavo, 1993) Như vậy, vấn đề này cần phải nghiên cứu thêm để đưa ra những kết luận thống nhất

Trang 12

1.6.4 Kích thước thành thục lần đầu

Fouda và Hellal (1990) đã nghiên cứu đặc điểm sinh sản của nhum sọ ở vịnh Aqoda và vùng phía bắc của biển Đỏ thấy rằng: tỷ lệ đực cái trong quần đàn tự nhiên

là 1: 1, kích thước thành thục sinh dục lần đầu ở những cá thể có đường kính khoảng

50 mm, dưới 1 năm tuổi Theo kết quả nghiên cứu của Lê Đức Minh và cộng tác viên (2005) đối với 348 cá thể thu từ vịnh Nha Trang theo nhóm đường kính vỏ thấy rằng: con đực và con cái bắt đầu thành thục ở nhóm đường kính vỏ 7080 mm, số cá thể có đường kính vỏ từ 81110 mm thành thục chiếm đa số trong các mẫu thu được Quần thể nhum sọ ở vịnh Nha Trang có sức sinh sản tuyệt đối rất lớn, dao động từ 42 đến

101 triệu trứng trên một cá thể, trung bình 64 triệu trứng, tỷ lệ đực : cái trong quần thể

là 1,3 : 1 Điều đó chứng tỏ nhum sọ có khả năng phục hồi quần đàn nhanh, có ý nghĩa trong việc tái tạo nguồn lợi này trong tự nhiên

1.6.5 Hoạt động sinh sản

Hoạt động sinh sản của nhum sọ đực và cái tương tự nhau Nhờ sự co cơ xoang liên tục mà trứng và tinh trùng được đẩy ra ngoài môi trường nước thông qua lỗ sinh dục Thời gian bị kích thích ở con đực và con cái gần như nhau, con đực thường phóng tinh sớm hơn, tiếp theo là con cái đẻ trứng Tinh trùng và trứng khi được phóng ra môi trường có dạng như vệt khói, lan tỏa dần ra môi trường Tinh trùng có màu trắng đục, trứng có màu vàng cam Sau khi trứng và tinh trùng được phóng ra, quá trình thụ tinh xảy ra trong môi trường nước Trứng sau khi được thụ tinh xuất hiện màng bao bọc xung quanh gọi là màng thụ tinh (Lê Đức Minh và cộng sự, 2005)

2 Hiện trạng nghề nuôi nhum sọ

2.1 Trên thế giới

Trên thế giới, nhum sọ đã được nghiên cứu từ lâu: Shimabukuro (1987), đã nghiên cứu sinh sản nhân tạo giống nhum sọ thành công với tỷ lệ sống đến giai đoạn con giống kích cỡ 3 mm là 10%; Shokita và Kakaru (1991) đã cho sinh sản nhân tạo nhum sọ với tỷ lệ sống đến cỡ con giống đạt 10,5% Tuy nhiên, vấn đề nuôi thương phẩm nhum sọ cũng mới được thực hiện ở một vài nước có trình độ khoa học và nghề nuôi trồng thủy sản phát triển Chúng đã được nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm thành công theo quy mô công nghiệp ở Trung Quốc và Nhật Bản nhưng các kết quả nghiên cứu vẫn chưa được công bố rộng rãi Hiện nay, nhu cầu tiêu

Trang 13

thụ nhum sọ ở hai quốc gia này ngày càng tăng, đặc biệt là Nhật Bản Riêng Chile mỗi năm xuất khẩu sang quốc gia này vào khoảng 34,8 tấn trứng nhum sọ đóng hộp (http://www.fistenet.gov.vn)

2.2 ở Việt Nam

ở nước ta, nhum sọ đã được biết đến và khai thác từ lâu nhưng chưa được quan tâm nghiên cứu Ngoài một số tài liệu về phân loại của Dawydoff (1952), Trần Ngọc Lợi (1967), Đào Tấn Hổ (1994), về sinh hoá của Lâm Ngọc Trâm (1992), về sinh học sinh sản của Phạm Thị Dự (2001), và gần đây nhất về sinh sản nhân tạo của Lê Đức Minh (2005) thì chưa có công trình nghiên cứu cơ bản nào về nuôi thương phẩm nhum

sọ được công bố

Hiện nay, nhum sọ chưa được nuôi thương phẩm ở Việt Nam, nguyên nhân chủ yếu do hiểu biết về đối tượng này còn hạn chế, chưa có nguồn giống phục vụ cho nuôi thương phẩm và chưa xây dựng được quy trình kỹ thuật nuôi thương phẩm nhum sọ

Trong thời gian gần đây, nguồn nhum sọ tự nhiên hầu như bị cạn kiệt, do vậy các đề tài nghiên cứu đã được thực hiện nhưng mới chỉ dừng lại ở kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo Gần đây nhất, đề tài nghiên cứu về sinh sản nhân tạo của tác giả Lê Đức Minh và cộng sự (2005) bước đầu đã thu được những kết quả khả quan, nhưng tỷ

lệ sống của ấu trùng nhum sọ đến giai đoạn con giống vẫn còn thấp (1,98%)

Năm 2003, đề tài nuôi thử nghiệm nhum sọ cỡ thương phẩm trong bể xi măng được tác giả Lê Đức Minh và Hoàng Thị Thảo tiến hành tại Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy Sản III Kết quả thu được qua bảng:

Bảng 2: Kết quả nuôi thử nghiệm nhum sọ cỡ thương phẩm trong bể xi măng (nguồn: Diễn đàn N/c KHCN NTTS lần thứ 3 - Nha Trang tháng 8/2003)

Kích thước trung bình giống thả (g) 307,21

Tỷ lệ tăng trưởng đường kính trung bình (%) 0,71

Tỷ lệ tăng trưởng chiều cao trung bình (%) 0,94

Tỷ lệ tăng trưởng khối lượng trung bình (%) 1,94

Trang 14

Tỷ lệ sống (%) 84,48

Theo 2 tác giả: tốc độ tăng trưởng kích thước và khối lượng của nhum sọ trong điều kiện bể xi măng là rất chậm, nguyên nhân có thể do kích thước của nhum sọ khi nuôi quá lớn và đã đạt kích thước thành thục sinh dục, cộng với sự biến động của các yếu tố môi trường trong bể xi măng lớn nên tốc độ sinh trưởng của nhum sọ bị chậm lại chỉ đạt chưa tới 1% Tuy nhiên, những kết quả ban đầu thu được cũng đang làm tiền đề cho sự phát triển của nghề nuôi nhum sọ trong thời gian không xa

3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Khánh Hoà

3.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý, địa hình

Khánh Hoà là một tỉnh thuộc duyên hải Nam Trung Bộ, diện tích tự nhiên vào khoảng 5.179 km2, với hơn 250 km đường bờ biển và 135 km đường ven đảo Điểm cực đông của Khánh Hoà cũng là điểm cực đông của tổ quốc, vì vậy rất thuận lợi cho việc phát triển nghề cá vùng khơi Khánh Hoà có hơn 72 hòn đảo lớn nhỏ, có khoảng 1.000 km2 vịnh, đầm phá; vùng biển nông (độ sâu nhỏ hơn 30m) rộng 2.432 km2, có hơn 10.000 km2 thềm lục địa Đây là quỹ mặt nước tiềm năng to lớn cho sự phát triển của nghề cá vùng ven bờ và nuôi trồng hải đặc sản nhiệt đới Ngoài ra, Khánh Hoà còn

có các vùng san hô đa dạng với hơn 350 loài khác nhau, là một ngư trường thuận lợi cho các loài cá phát triển Dọc bờ biển có nhiều bãi triều, nhiều núi nhô ra biển và các bãi nhỏ tạo nên các đầm vịnh kín gió, kết hợp với các dòng hải lưu thay đổi theo mùa

đã tạo nên những vùng nước có nguồn thức ăn phong phú cho các đàn cá hội tụ (Thuỷ sản Khánh Hoà tiềm năng và triển vọng)

3.1.2 Khí tượng thuỷ văn

Nha Trang - Khánh Hoà nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương và hơi thiên về khí hậu xích đạo Nhiệt độ không khí trung bình giữa các tháng trong năm chênh lệch không nhiều Nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 và tháng 2, phổ biến từ 1719oC Nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 và tháng 8, phổ biến từ 3537oC Nhiệt độ trung bình trong năm vào khoảng 27oC, khí hậu ôn hoà

Khánh Hoà một năm có hai mùa: mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 Lượng mưa trung bình hàng năm vào khoảng 1.737 mm, bằng

Trang 15

7080% lượng mưa trung bình của cả nước Mùa mưa thường trùng với mùa bão, gió nhưng tần suất bão ở đây thấp hơn nhiều so với các khu vực khác trong nước ở vùng biển Nha Trang - Khánh Hoà, bình quân hàng năm có từ 100140 cơn giông xuất hiện trong mùa mưa

Vùng biển Nha Trang có chế độ nhật triều không đều Trong tháng có khoảng

1822 ngày quan trắc thấy 1 lần nước lên, 1 lần nước xuống Biên độ triều biến động trong khoảng 1,22,0 m Độ mặn có sự khác biệt giữa hai mùa, giữa vùng nước ven

bờ và vùng biển sâu ngoài khơi Vào mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, ở vùng ven bờ độ mặn tương đối cao và ổn định từ 3336 ppm Đến mùa mưa, do ảnh hưởng của nước từ các sông đổ ra nên độ mặn vùng nước ven bờ có thể giảm 58 ppm so với mùa khô ở vùng nước sâu, ngoài khơi độ mặn ổn định hơn và dao động trong khoảng 3436 ppm

Chế độ dòng chảy: Dòng chảy đặc trưng tầng mặt nước biển Khánh Hoà theo mùa, mùa mưa chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam và mùa khô theo hướng ngược lại Tây Nam - Đông Bắc Dòng chảy tầng mặt tại vùng nước từ bờ ra khơi tới độ sâu

50100 m có xu hướng về phía đông với tốc độ trung bình 1020 cm/s, cực đại là

3040 cm/s Dòng chảy theo hướng Đông Nam, với tốc độ trung bình ở tầng mặt là

2030 cm/s, phù hợp với chế độ gió mùa (Đài khí tượng - thuỷ văn Nam Bộ)

3.1.3 Nguồn lợi thuỷ sản

Vùng biển Khánh Hoà có dòng hải lưu Bắc - Nam chảy qua, là vùng biển giàu tiềm năng đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản Đây là một trong 4 ngư trường trọng điểm của cả nước Tổng trữ lượng hải sản của Khánh Hoà khoảng 1.500.000 tấn, trong đó chủ yếu là cá nổi, chiếm 70% Khả năng khai thác cho phép hàng năm khoảng 85.000 tấn Ngoài nguồn lợi cá biển, vùng biển Khánh Hoà còn có các loại giáp xác như tôm hùm, tôm mũ ni, các loại cua, các loại thân mềm như: mực, ốc, bào ngư , nhum sọ và các loại rong, tảo có giá trị khác

3.2 Điều kiện kinh tế xã hội

3.2.1 Điều kiện kinh tế

Khánh Hoà là một tỉnh có tiềm năng về du lịch với hệ thống biển và đảo đẹp Bên cạnh đó, Khánh Hoà còn có tiềm năng về khai thác và nuôi trồng thuỷ sản bởi diện tích mặt nước và thềm lục địa rộng lớn Các hình thức nuôi nước mặn, ngọt, lợ

Trang 16

đều rất phổ biến với nhiều đối tượng nuôi có giá trị kinh tế Các chính sách khuyến khích đầu tư đang giúp Khánh Hoà có tốc độ tăng trưởng cao trong những năm gần đây: Kinh tế - xã hội của Khánh Hoà không ngừng phát triển, tốc độ tăng giá trị sản phẩm tăng thêm trên 10%, cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng dịch

vụ du lịch và công nghiệp, thu ngân sách đạt trên 2.900 tỷ đồng, là một trong những tỉnh tự cân đối được ngân sách

3.2.2 Điều kiện xã hội

Tỉnh Khánh Hoà có diện tích tự nhiên vào khoảng 5.197 km2, với 1,1 triệu dân; thu nhập bình quân đầu người trên 600 USD/người/năm, có 42% dân số trong độ tuổi lao động, trên 2,1% tốt nghiệp cao đẳng, đại học trở lên Có 3 trường đại học và cao đẳng, 4 trường trung học chuyên nghiệp, 3 viện nghiên cứu quốc gia và hệ thống các loại hình đào tạo nghề Mặt bằng dân trí và hệ thống các trường đào tạo này là cơ sở đảm bảo nguồn nhân lực tại chỗ cho sự phát triển nhanh trong tương lai của toàn tỉnh (http://www.baokhanhhoa.com.vn)

Với điều kiện thuận lợi về tự nhiên, nguồn lao động dồi dào, cơ sở vật chất được chuẩn bị sẵn, Khánh Hoà đã và đang tạo ra những cơ hội mới, chính sách cởi mở, năng động để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến đầu

tư và cùng hợp tác phát triển

3.3 Vài nét về vùng nuôi thí nghiệm nhum sọ

Thí nghiệm nuôi thương phẩm nhum sọ được thực hiện tại Vũng Ngán, địa điểm này cách cảng Nha Trang gần 9 km về phía đông Vũng Ngán cùng với Đầm Máy được hình thành bởi 3 hòn đảo là: đảo Hòn Tre, Hòn Một và đảo Hòn Tằm nằm gần nhau theo dạng hình cung tạo cho khu vực này có dạng vũng kín, ít sóng gió Vũng Ngán có độ sâu mực nước từ 1825 m, quanh năm không chịu sự ảnh hưởng của nước ngọt từ các cửa sông Do vậy, ở đây nước biển có độ mặn tương đối ổn định,

sự biến động của độ mặn thường chỉ xảy ra theo mùa: mùa mưa và mùa khô nên rất thuận lợi cho nuôi trồng các loài hải sản

Vũng Ngán và Đầm Máy là nơi có nghề nuôi tôm hùm lồng, nuôi cá biển khá phát triển, có khoảng 130150 bè nuôi tập trung tại khu vực này Trong vài năm gần đây, vấn đề dịch bệnh đối với các đối tượng nuôi thường xảy ra khiến cho các hộ nuôi gặp nhiều khó khăn Hiện nay, chi phí thức ăn, con giống, công chăm sóc quản lý ngày

Trang 17

càng tăng cao, trong khi giá bán cỡ thương phẩm lại thấp, dịch bệnh hay xảy ra đã khiến bà con bị ép giá, tổn thất đối với mỗi hộ đều rất lớn Nhiều hộ nuôi đã chuyển từ nuôi tôm hùm lồng sang nuôi một số loài cá biển có giá trị và sức đề kháng tốt hơn như: cá mú, cá chẽm, bào ngư nhằm hạn chế ảnh hưởng của dịch bệnh.

Trang 18

Phần 2: Phương pháp nghiên cứu

1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu

(i) Địa điểm nghiên cứu: tiến hành nghiên cứu tại Vũng Ngán - Nha Trang - Khánh Hòa

(ii) Thời gian nghiên cứu: tiến hành nghiên cứu từ 24/7/2007 đến 5/11/2007

(iii) Đối tượng nghiên cứu: nhum sọ (Tripneustes gratilla Linnaeus, 1758),

nguồn nhum sọ nuôi được thu ngoài tự nhiên

2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thương phẩm nhum sọ(Tripneustes

gratilla)

Thiết

kế lồng nuôi

Vệ sinh, chuẩ

n bị lồng nuôi

Kỹ thuật tuyển chọn giống

Kỹ thuật vận chuyển

và thả giống

Thức

ăn và quản

lý thức

ăn

Quản

lý các yếu tố môi trường nước

Quản

lý sức khỏe nhum

sọ

Kết luận và đề xuất ý kiến

Tìm hiểu một số đặc điểm sinh học của nhum sọ

Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thương phẩm nhum sọ

bị lồng nuôi

Kỹ thuật chăm sóc và quản lý

Kỹ thuật tuyển chọn, vận chuyển

và thả giống

Trang 19

3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Một số đặc điểm sinh học của nhum sọ

Tìm hiểu một số đặc điểm sinh học của nhum sọ dựa trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu tham khảo trong và ngoài nước, kết hợp với trực tiếp giải phẫu để quan sát, ghi nhận và trao đổi riêng trong quá trình nuôi

3.2 Kỹ thuật nuôi thương phẩm

+ Thức ăn: Rong câu chỉ vàng, được mua từ Phú Yên

+ Chế độ cho ăn: 40kg rong/3 ngày/1 lần cho ăn

+ Quản lý thức ăn: Định kỳ 3 ngày/1 lần trước mỗi lần cho ăn mới

+ Vệ sinh lồng: Vệ sinh lồng khi bị nhiều sinh vật bám, cuối vụ nuôi hoặc khi chuyển nhum sọ sang lồng khác

+ Theo dõi biến động các yếu tố môi trường:

Bảng 3: Phương pháp theo dõi các biến động của các yếu tố môi trường

Yếu tố Dụng cụ đo (sai số) Thời gian đo Ghi chú

Nhiệt độ Nhiệt kế thuỷ ngân (10C) 6 h và 14 h đo hàng ngày

Độ trong,

Trang 20

3.2.4 Theo dõi tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng của nhum sọ

+ Tiến hành đo tốc độ sinh trưởng của nhum sọ định kỳ 2 tuần/1 lần đo, mỗi lần đo 30 cá thể (đo đường kính sọ, chiều cao sọ của từng cá thể, cân đo khối lượng tổng thể) Do con giống nhum sọ thu tự nhiên có kích thước không đồng đều nên 30 cá thể được chọn là những cá thể trong số kích thước có tần xuất bắt gặp nhiều nhất, loại

bỏ các cá thể có kích thước bất thường như quá lớn hoặc quá nhỏ so với kích thước trung bình

+ Tỷ lệ % tăng trưởng theo đường kính sọ trung bình tính theo công thức:

+ Tỷ lệ % tăng trưởng theo chiều cao trung bình tính theo công thức:

+ Tỷ lệ % tăng trưởng khối lượng toàn thân trung bình tính theo công thức:

+ Tỷ lệ sống % (TLS) của nhum sọ được kiểm tra bằng cách đếm số lượng cá thể bị chết (định kỳ 1 tuần/ lần) và cuối cùng tính theo công thức:

+ Hệ số thức ăn (HSTA) xác định theo công thức:

Ngày đăng: 26/03/2015, 16:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Các đặc điểm hình thái cơ bản của nhum sọ (Tripneustes gratilla) giai  đoạn trưởng thành ở vịnh Nha Trang theo tài liệu của Lê Minh Đức và cộng sự, - Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thương phẩm nhum sọ (Tripneustes gratilla Linnaeus, 1758) tại Vũng Ngán, Nha Trang, Khánh Hòa
Bảng 1 Các đặc điểm hình thái cơ bản của nhum sọ (Tripneustes gratilla) giai đoạn trưởng thành ở vịnh Nha Trang theo tài liệu của Lê Minh Đức và cộng sự, (Trang 8)
Bảng  2:  Kết quả nuôi thử nghiệm nhum sọ cỡ thương phẩm trong bể xi  măng  (nguồn: Diễn đàn N/c KHCN NTTS lần thứ 3 - Nha Trang tháng 8/2003) - Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thương phẩm nhum sọ (Tripneustes gratilla Linnaeus, 1758) tại Vũng Ngán, Nha Trang, Khánh Hòa
ng 2: Kết quả nuôi thử nghiệm nhum sọ cỡ thương phẩm trong bể xi măng (nguồn: Diễn đàn N/c KHCN NTTS lần thứ 3 - Nha Trang tháng 8/2003) (Trang 13)
2. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu - Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thương phẩm nhum sọ (Tripneustes gratilla Linnaeus, 1758) tại Vũng Ngán, Nha Trang, Khánh Hòa
2. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu (Trang 18)
Bảng 3: Phương pháp theo dõi các biến động của các yếu tố môi trường - Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thương phẩm nhum sọ (Tripneustes gratilla Linnaeus, 1758) tại Vũng Ngán, Nha Trang, Khánh Hòa
Bảng 3 Phương pháp theo dõi các biến động của các yếu tố môi trường (Trang 19)
Bảng 4:  Kết quả thu mua và vận chuyển nhum sọ - Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thương phẩm nhum sọ (Tripneustes gratilla Linnaeus, 1758) tại Vũng Ngán, Nha Trang, Khánh Hòa
Bảng 4 Kết quả thu mua và vận chuyển nhum sọ (Trang 27)
Bảng 5: Diễn biến của một số yếu tố thủy lý, thủy hóa ở vùng nuôi - Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thương phẩm nhum sọ (Tripneustes gratilla Linnaeus, 1758) tại Vũng Ngán, Nha Trang, Khánh Hòa
Bảng 5 Diễn biến của một số yếu tố thủy lý, thủy hóa ở vùng nuôi (Trang 30)
Hình 5: Biến động của nhiệt độ nước theo thời gian  nuôi - Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thương phẩm nhum sọ (Tripneustes gratilla Linnaeus, 1758) tại Vũng Ngán, Nha Trang, Khánh Hòa
Hình 5 Biến động của nhiệt độ nước theo thời gian nuôi (Trang 31)
Bảng 6:  Kết quả nuôi nhum sọ ở lồng trên biển - Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thương phẩm nhum sọ (Tripneustes gratilla Linnaeus, 1758) tại Vũng Ngán, Nha Trang, Khánh Hòa
Bảng 6 Kết quả nuôi nhum sọ ở lồng trên biển (Trang 33)
Hình 6: Tỷ lệ sống của nhum sọ qua các lần kiểm tra - Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thương phẩm nhum sọ (Tripneustes gratilla Linnaeus, 1758) tại Vũng Ngán, Nha Trang, Khánh Hòa
Hình 6 Tỷ lệ sống của nhum sọ qua các lần kiểm tra (Trang 34)
Hình 8:  Tăng trưởng chiều cao trung bình của nhum sọ - Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thương phẩm nhum sọ (Tripneustes gratilla Linnaeus, 1758) tại Vũng Ngán, Nha Trang, Khánh Hòa
Hình 8 Tăng trưởng chiều cao trung bình của nhum sọ (Trang 36)
Hình 9:  Tăng trưởng khối lượng trung bình của nhum sọ - Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thương phẩm nhum sọ (Tripneustes gratilla Linnaeus, 1758) tại Vũng Ngán, Nha Trang, Khánh Hòa
Hình 9 Tăng trưởng khối lượng trung bình của nhum sọ (Trang 37)
Hình 10: Mẫu lồng nuôi  kép - Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thương phẩm nhum sọ (Tripneustes gratilla Linnaeus, 1758) tại Vũng Ngán, Nha Trang, Khánh Hòa
Hình 10 Mẫu lồng nuôi kép (Trang 39)
Hình 11: Mẫu lồng nuôi nhiều ngăn - Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thương phẩm nhum sọ (Tripneustes gratilla Linnaeus, 1758) tại Vũng Ngán, Nha Trang, Khánh Hòa
Hình 11 Mẫu lồng nuôi nhiều ngăn (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w