BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG KHOA NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN THỬ NGHIỆM BỔ SUNG HUFA TRONG KHẨU PHẦN THỨC ĂN NÂNG CAO SỨC SINH SẢN CỦA TÔM CÀNG XANH Macrobrachium rose
Trang 1BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG KHOA NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
THỬ NGHIỆM BỔ SUNG HUFA TRONG KHẨU PHẦN THỨC ĂN NÂNG CAO
SỨC SINH SẢN CỦA TÔM CÀNG XANH Macrobrachium rosenbergii
(De Man, 1879) CÁI GIẢ TÁI PHÁT DỤC
Luận văn tốt nghiệp Chuyên ngành Nuôi trồng Thủy sản, khoá 2003-2008
Sinh viên thực hiện:
Đỗ Thuỵ Thuý Vân MSSV: 45DN142 Lớp : 45NT-2 Cán bộ hướng dẫn:
TS Ngô Anh Tuấn ThS Nguyễn Nhứt
Nha Trang, 12/2007
Trang 3TÓM TẮT
Thử nghiệm ảnh hưởng các chất DHA và EPA trong thành phần HUFA bổ sung trong khẩu phần thức ăn lên sự tái phát dục, sức sinh sản, chất lượng trứng, chất lượng ấu
trùng 1 ngày tuổi của tôm càng xanh cái giả Macrobrachium rosenbergii (De Man, 1879)
nuôi tái phát dục đã được nghiên cứu trong thí nghiệm Trong đó, DHA và EPA là dạng hỗn hợp trong sản phẩm Turbo-HUFA được bố trí 3 nghiệm thức thí nghiệm ứng với 3 nồng độ bổ sung: 2 mL, 4 mL, 6 mL/kg thức ăn công nghiệp và nghiệm thức đối chứng không bổ sung HUFA Thí nghiệm tiến hành 45 ngày trên các bể ximăng ngoài trời, chu kỳ kiểm tra là 14 ngày/lần và đã thu được một số kết quả ban đầu
Nồng độ 2, 4, 6 mL HUFA bổ sung trong thức ăn có ảnh hưởng đến tỷ lệ sống tôm cái (lần lượt theo thứ tự là 91,2%; 91,5%; 94,5% và đối chứng 89,6%), thời gian tái phát dục (3,2; 2,6; 2,0 ngày và đối chứng 5,1 ngày), đẻ trứng (23,4; 17,6; 24 ngày và đối chứmg
17 ngày) và tần suất lột xác của tôm mẹ (21,9; 17,2; 17,2 ngày/lần và đối chứng 15,3 ngày/lần) trong thời gian nuôi vỗ nhưng khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05) Sự phát triển của buồng trứng tôm cái ở các nghiệm thức có bổ sung HUFA thể hiện tốc độ tăng về chiều dài ổn định khác biệt có ý nghĩa (p<0,05) giữa nghiệm thức bổ sung 4 mL HUFA/kg thức ăn so với nghiệm thức đối chứng, đặc biệt, thể hiện rõ rệt nhất ở lần đẻ trứng thứ 5 của tôm cái ở nghiệm thức bổ sung 4 mL HUFA/kg thức ăn Mặt khác, tôm cái ở nghiệm thức bổ sung 6 mL HUFA/kg thức ăn đạt tỷ lệ tái phát dục cao nhất (81,033,5%) và khác biệt có ý nghĩa (p<0,05) so với nghiệm thức không bổ sung HUFA (71,94,6%) Tỷ lệ tôm cái mang trứng thấp: 10,2-14,4%
Bên cạnh, tôm cái giả tái phát dục ở nghiệm thức bổ sung 4 mL HUFA/kg thức ăn
có sức sinh sản tuyệt đối là 60.0132.771 trứng/con cái, sức sinh sản tương đối 1.966148 trứng/g tôm mẹ và sức sinh sản thực tế là 36055 ấu trùng/g tôm mẹ cao nhất và khác biệt
có ý nghĩa (p<0,05) so với nghiệm thức không bổ sung HUFA (48.0745.232 trứng/con cái, 1.418136 trứng/g tôm mẹ và 18721 ấu trùng/g tôm mẹ) Đồng thời, đường kính và khối lượng ướt của trứng cũng tăng tỷ lệ thuận với nồng độ bổ sung HUFA trong quá trình nuôi vỗ với giá trị cao nhất ở nghiệm thức bổ sung 6 mL HUFA (0,54 mm; 0,13 mg), thấp nhất là nghiệm thức bổ sung 2 mL HUFA và đối chứng (0,51 mm và 0,10 mg) và sự khác biệt có ý nghĩa (p<0,05) Tỷ lệ nở của trứng cũng tăng dần theo sự tăng hàm lượng 2, 4, 6
mL HUFA bổ sung trong thức ăn nuôi vỗ lần lượt là 16,3%; 19,3%; 23,5% và khác biệt có
ý nghĩa (p<0,05); nghiệm thức bổ sung 6 mL HUFA cao hơn đối chứng nhưng khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05) Sức chống chịu của ấu trùng một ngày tuổi ở các nghiệm thức
Trang 4có giá trị 24h-LC50 dao động từ 0,33-0,36 ppm (tính theo nồng độ NH3) cao nhất ở nghiệm thức bổ sung 4 mL HUFA/kg thức ăn nhưng khác biệt không có ý nghĩa giữa các nghiệm thức (p>0,05) Qua đợt thí nghiệm, các chỉ tiêu về sinh sản, chất lượng trứng và ấu trùng chỉ tăng lên trong lần sinh sản thứ 4, 5 rồi giảm thấp dần ở các lần tiếp theo
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Tóm tắt ii
Mục lục iv
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
Giải thích thuật ngữ và chữ viết tắt viii
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
Phần 2: TỔNG LUẬN 3
2.1 Tình hình nghiên cứu và nuôi tôm càng xanh 3
2.1.1 Lịch sử nghiên cứu tôm càng xanh 3
2.1.2 Tình hình nuôi tôm càng xanh 4
2.2 Đặc điểm sinh học của tôm càng xanh 6
2.2.1 Phân loại 6
2.2.2 Hình thái 6
2.2.3 Phân bố 8
2.2.4 Tập tính sống 8
2.2.5 Vòng đời 9
2.2.6 Đặc điểm sinh trưởng 9
2.2.7 Điều kiện môi trường sống 9
2.2.8 Đặc điểm sinh sản 10
2.2.9 Đặc điểm dinh dưỡng 14
2.3 Quy trình tạo con cái giả bằng phương pháp vi phẫu loại bỏ tuyến đực 21
2.3.1 Vai trò tuyến đực 21
2.3.2 Cơ sở khoa học của việc tạo tôm cái giả bằng phương pháp vi phẫu 21
2.3.3 Quy trình sản xuất tôm càng xanh toàn đực 23
Phần 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 24
3.2 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 24
3.2.1 Vật liệu 24
3.2.2 Dụng cụ 25
3.3 Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu 26
3.3.1 Bố trí thí nghiệm 26
3.3.2 Phương pháp theo dõi và xác định các chỉ tiêu 28
Trang 63.3.3 Phương pháp thu thập, tính toán và xử lý số liệu 31
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Tỷ lệ sống tôm bố mẹ nuôi vỗ tái phát dục 33
4.2 Thời gian tái phát dục, đẻ trứng, lột xác và sự phát triển buồng trứng 34
4.2.1 Thời gian tái phát dục 34
4.2.2 Thời gian đẻ trứng 34
4.2.3 Thời gian lột xác 35
4.2.4 Sự phát triển của buồng trứng 36
4.3 Tỷ lệ tôm cái tái phát dục và mang trứng 40
4.4 Sức sinh sản của tôm mẹ 42
4.4.1 Sức sinh sản tuyệt đối 42
4.4.2 Sức sinh sản tương đối 43
4.4.3 Sức sinh sản thực tế 44
4.5 Chất lượng trứng 45
4.5.1 Đường kính và khối lượng ướt của trứng 45
4.5.2 Tỷ lệ nở của trứng 47
4.6 Chất lượng ấu trùng 48
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Đề xuất 51 Tài liệu tham khảo
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
trang
Bảng 1: Một số đặc điểm hình thái phân biệt tôm đực và tôm cái 8
Bảng 2: Các giai đoạn phát triển buồng trứng tôm càng xanh 11
Bảng 3: Sự biến động sức sinh sản tuyệt đối của tôm càng xanh 13
Bảng 4: Chỉ tiêu về kích cỡ tôm mẹ tuyển chọn cho sinh sản 13
Bảng 5: Khẩu phần thức ăn của tôm càng xanh 14
Bảng 6: Nhu cầu Prôtêin cho tôm càng xanh 15
Bảng 7: Mức Protein đề nghị trong thức ăn của tôm càng xanh ở Thái Lan 16
Bảng 8: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn công nghiệp 24
Bảng 9: Tốc độ phát triển chiều dài của buồng trứng tôm cái giả tái phát dục 37
Bảng 10: Tỷ lệ tái phát dục và đẻ trứng của tôm cái 40
Bảng 11: Tỷ lệ tái phát dục của tôm cái qua các lần sinh sản 41
Bảng 12: Sức sinh sản của tôm mẹ ở các nghiệm thức thí nghiệm 42
Bảng 13: Khối lượng ướt, đường kính và tỷ lệ nở của trứng 45
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
trang
Hình 1: Đặc điểm hình thái ngoài của tôm càng xanh 7
Hình 2: Sơ đồ quy trình tạo tôm cái giả 23
Hình 3: Gan bò 24
Hình 4: Cá biển 24
Hình 5: Thức ăn công nghiệp 24
Hình 6: Hóa chất pha dung dịch test ấu trùng 25
Hình 7: HUFA và Vitamin C 25
Hình 8: Dụng cụ cân tôm và trứng 26
Hình 9: Dụng cụ test môi trường 26
Hình 10: Hệ thống bể nuôi tôm bố mẹ 27
Hình 11: Tôm bố mẹ 27
Hình 12: Sơ đồ thiết kế thí nghiệm bổ sung HUFA vào thức ăn 27
Hình 13: Cách đo chiều dài buồng trứng tôm cái 28
Hình 14: Tôm cái mang trứng vàng cam (mới đẻ) 29
Hình 15: Phương pháp đo đường kính trứng 29
Hình 16: Tôm cái mang trứng xám đậm (sắp nở) 30
Hình 17: Xô ấp tôm cái mang trứng 30
Hình 18: Sự biến động tỷ lệ sống tôm bố mẹ nuôi vỗ tái phát dục 33
Hình 19: Thời gian tái phát dục của tôm cái 34
Hình 20: Thời gian đẻ trứng của tôm cái 34
Hình 21: Thời gian lột xác của tôm cái 35
Hình 22: Sự phát triển buồng trứng tôm cái giả ở các nghiệm thức 36
Hình 23: Các giai đoạn phát triển buồng trứng tôm cái giả 39
Hình 24: Tỷ lệ tái phát dục của tôm cái ở các lần tái phát dục 41
Hình 25: Sức sinh sản tuyệt đối của tôm cái qua các lần sinh sản 42
Hình 26: Sức sinh sản tương đối của tôm cái qua các lần sinh sản 43
Hình 27: Sức sinh sản thực tế của tôm cái qua các lần sinh sản 44
Hình 28: Sự biến đổi đường kính trứng tôm cái qua các lần sinh sản 46
Hình 29: Tỷ lệ nở của trứng ở các nghiệm thức qua các lần sinh sản 47
Hình 30: 24h-LC50 ở các nghiệm thức 48
Trang 9GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Tôm cái giả: Những con tôm đực đã được dùng kỹ thuật vi phẫu loại bỏ tuyến đực
từ giai đoạn 25- 40 ngày tuổi, mang nhiễm sắc thể giới tính ZZ
PL20-60: Post larvae 20-60 ngày tuổi
Ø: đường kính
TAN: Hàm lượng Ammonia tổng số (Total Ammonia Nitrogen)
ANOVA: One-way Analysis of Variances
TPD: tái phát dục
ĐC: đối chứng
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
Viện NCNTTS II: Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II
HUFA: là nhóm các acid béo không no có mạch cacbon dài (từ 20 cacbon trở lên), chứa từ 4-6 nối đôi trong mạch cacbon (highly unsaturated fatty acid)
PUFA: là nhóm các acid béo không no có mạch cacbon dài và có ít nhất là 2 nối đôi trong mạch cacbon (poly unsaturated fatty acid)
DHA: Docosahexaenoic acid
EPA: Eicosapentaenoic acid
AA: Arachidonic acid
24h-LC50: nồng độ NH3 gây chết 50% số ấu trùng thí nghiệm sau 24 giờ thử
NST: nhiễm sắc thể
FAO: tổ chức thực phẩm và nông nghiệp thuộc Liên Hợp Quốc (Food and
Agriculture Organization)
Trang 10Phần 1: MỞ ĐẦU
Tôm càng xanh Macrobrachium rosenbergii (De Man, 1879) là một đối tượng nuôi
ngọt có giá trị kinh tế cao và đang được ưa chuộng trên thị trường Đây là loài tôm có kích thước lớn nhất trong nhóm tôm nước ngọt, ít nhạy cảm với bệnh tật, rộng muối, có thể sinh sản quanh năm, dễ nuôi ghép với các loài khác Đặc biệt, ở cùng một độ tuổi tôm đực sinh trưởng và đạt kích thước lớn hơn tôm cái Đây là đặc điểm quan trọng được quan tâm để rút ngắn thời gian nuôi và nâng cao năng suất nuôi thương phẩm Vì vậy, nhu cầu đàn tôm giống có tỷ lệ đực cao là đòi hỏi cấp thiết hiện nay
Trước tình hình đó, năm 2002, công nghệ “sản xuất giống tôm càng xanh toàn đực”
đã được thực hiện phối hợp giữa trường Đại học Ben Gurion, Israel và Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II đạt một số kết quả nhất định Tuy vậy, việc sử dụng những con tôm
đã chuyển đổi giới tính bằng vi phẫu loại bỏ tuyến đực (tôm cái giả) làm con bố mẹ cho sinh sản cho kết quả thấp (Afalo, 2006), nhất là khi cho đẻ tái phát dục Hơn nữa, chất lượng ấu trùng cũng thấp (thể hiện qua khả năng chống chịu trong môi trường có ammonia rất kém), tỷ lệ sống dao động lớn từ 5-51% [2] Từ đó cho thấy chất lượng tôm bố mẹ sau khi chuyển đổi giới tính còn gặp nhiều khó khăn, cần phải nghiên cứu tìm biện pháp giải quyết bởi đặc tính khác biệt của chúng so với tôm bình thường
Một trong những yếu tố được đánh giá có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng tôm bố mẹ là dinh dưỡng Hiện nay vấn đề dinh dưỡng của tôm càng xanh vẫn còn nghiên cứu rất hạn chế đặc biệt là đối với tôm cái giả Đối với tôm càng xanh bình thường đã có một vài nghiên cứu về nhu cầu đạm (40% prôtêin và năng lượng 4.000 Kcal có khả năng nâng cao sức sinh sản), acid amin (Das, 1996), ảnh hưởng của việc bổ sung chất béo cao phân tử (HUFA) trong thức ăn đối với hàm lượng HUFA trong trứng [21] hay nghiên cứu
về bổ sung các nguồn lipid khác nhau trong thức ăn nâng cao chất lượng tôm càng xanh bố
mẹ [4] Năm 1994, D’Abramo đã thí nghiệm và ước tính được nhu cầu vitamin C cho tôm càng xanh giai đoạn hậu ấu trùng là trên 100 mg/ kg thức ăn [27] Gần đây, dự án “sản xuất tôm càng xanh toàn đực” đã có một số nghiên cứu về việc kết hợp thức ăn công nghiệp, thức ăn tươi (cá biển, gan bò, mực) và một số chất bổ sung (vitamin C, HUFA) trong dinh dưỡng cho tôm bố mẹ Kết quả ban đầu cho thấy việc bổ sung 2 g vitamin C/kg thức ăn công nghiệp và 4 mL Panga HUFA/kg thức ăn cho tỷ lệ thành thục cao nhất (63,1%) Sức sinh sản tăng dần khi tăng lượng HUFA (1 mL, 2 mL, 4 mL) bổ sung và chất lượng trứng có sự sai khác có ý nghĩa giữa các nồng độ HUFA khác nhau ở tôm cái giả sinh sản lần đầu [12] Tuy vậy những ảnh hướng chưa thể hiện rõ rệt ở tôm tái phát dục, nhất là việc nghiên cứu đánh giá về ảnh hưởng của từng loại acid béo không no cao phân
Trang 11tử trong thành phần HUFA đã sử dụng điển hình như DHA (Decosahexaenoic, 22:6n-3), EPA (Eicosapetaenoic, 20:5n-3), chưa được thực hiện Trong khi đó, các acid béo không
no này đã được các nhà nghiên cứu dinh dưỡng trên thế giới đánh giá là vô cùng quan trọng đối với sinh trưởng và sinh sản của động vật bậc cao trên cạn [37] cũng như các loài
cá biển đã nghiên cứu [40] Chính vì vậy, nghiên cứu đi sâu về ảnh hưởng của các chất DHA và EPA trong thành phần HUFA trên tôm cái giả tái phát dục là vấn đề cấp bách và
có ý nghĩa thực tiễn lớn hiện nay để nâng cao tỷ lệ thành thục, sức sinh sản, chất lượng trứng và ấu trùng, tăng giá trị và giá trị sử dụng của tôm mẹ Trên những cơ sở đó, đề tài:
“Thử nghiệm bổ sung Turbo-HUFA vào khẩu phần thức ăn nâng cao sức sinh sản
tôm càng xanh Macrobrachium rosenbergii (De Man, 1879) cái giả tái phát dục” được
thực hiện góp phần cho dự án tiếp tục nghiên cứu, phát triển và hoàn thiện
Mục tiêu đề tài
Nâng cao sức sinh sản của tôm cái giả tái phát dục;
Nâng cao chất lượng ấu trùng
Nội dung đề tài
Đánh giá tỷ lệ sống và tần suất lột xác của tôm mẹ ở ba nồng độ HUFA bổ sung trong khẩu phần thức ăn khác nhau
Đánh giá các chỉ tiêu sinh sản gồm sức sinh sản, sự phát triển của buồng trứng, thời gian tái phát dục và tỷ lệ tái phát dục, tỷ lệ đẻ tương ứng với ba nồng độ HUFA bổ sung trong khẩu phần thức ăn khác nhau;
Đánh giá chất lượng trứng về khối lượng trứng ướt, đường kính trứng và tỷ lệ nở ở
ba nồng độ HUFA bổ sung trong khẩu phần thức ăn khác nhau;
Đánh giá chất lượng ấu trùng ở ba nồng độ HUFA bổ sung trong khẩu phần thức ăn khác nhau
Trang 12
Phần 2: TỔNG LUẬN
2.1 Tình hình nghiên cứu và nuôi tôm càng xanh
2.1.1 Lịch sử nghiên cứu tôm càng xanh
Tôm càng xanh đầu tiên được Rumplius G.E mô tả và đặt cho rất nhiều tên gọi
khác nhau từ thế kỷ 18 Đến năm 1879, De Man đã đặt tên là Macrobrachium rosenbergii
Thế nhưng mãi đến năm 1950, Rolthius L.B mới xác định lại và sử dụng chính thức tên này cho đến nay [12]
Từ thế kỷ XIX trở đi bắt đầu có nhiều nghiên cứu về sự phân bố của tôm càng xanh
ở khu vực Ấn Độ Dương và các nước Đông Nam Á như các nghiên cứu của Oliver (1811), Lamarek (1818), Kom (1918), Roux (1932),…Đặc biệt, Roux (1933) đã mô tả khá rõ về hình thái, phân loại và vùng phân bố của loài tôm này S.W Ling (1969) đã nghiên cứu các đặc điểm sinh học ngoài tự nhiên, hình thái ấu trùng trong phòng thí nghiệm và công bố quy trình sinh sản nhân tạo tôm càng xanh, đánh dấu cột mốc quan trọng cho sự phát triển của kỹ thuật sản xuất giống tôm càng xanh [33] Sagi và Cohen (1990) đã phát hiện vai trò của tuyến Androgenic trong điều khiển giới tính tôm càng xanh và nó đã trở thành cơ sở quan trọng trong sản xuất giống tôm càng xanh về sau này [13]
Bên cạnh, các nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, hàm lượng oxy trong nước lên
tỷ lệ sống của tôm càng xanh được thực hiện bởi một số tác giả như: Farmanfamian A.A, 1987; Raana Z., 1982; Brody T.,1980; New M.B, 1980
Vấn đề dinh dưỡng tôm càng xanh cũng đã có một số nghiên cứu từ khá sớm Piamsak Menasveta và ctv (1980) đã thí nghiệm thức ăn kết hợp giữa cám gạo và bột cá với tỷ lệ 1:1, hàm lượng protein là 40%, kết quả tôm sinh trưởng kích thước lần lượt là 47,76 g ở ao đất; 25,02 g ở lồng và 26,32 g ở bể xi măng sau 6 tháng nuôi Gomez Diaz và cộng sự (1988) đã nghiên cứu về tỷ lệ protein và tinh bột để đạt mức tăng trưởng và tỷ lệ sống cao nhất của tôm càng xanh là 1:1 Reigh và ctv., (1989) thí nghiệm trên tôm càng xanh về ảnh hưởng của các loại acid béo lên sinh trưởng của tôm cho thấy thức ăn chứa nguồn lipid chủ yếu là linolenic (18:2n-6) thì có tác dụng sinh trưởng Khi nghiên cứu bổ sung phospholipid vào khẩu phần thức ăn cho tôm bố mẹ với 3 mức tỷ lệ: 0,8:2,4 và 4,6%, Cavalii và cộng sự(2000) đã kết luận rằng việc bổ sung này không có sự khác biệt về sức sinh sản, kích thước trứng cũng như tỷ lệ sống và sức chịu đựng của ấu trùng 8 ngày tuổi [28] D’Abramo (1994) sử dụng 2 loại vitamin C: Ascorbyl-2 monophosphat và Ascorbyl-
6 palmitate đã ước tính nhu cầu vitamin C cho tôm càng xanh ở giai đoạn hậu ấu trùng là trên 100 mg vitamin C/kg thức ăn [22] Cavalii và cộng sự (1999) báo cáo rằng khi cho
Trang 13tôm bố mẹ ăn thức ăn có bổ sung HUFA (đặc biệt là n-3 HUFA) thì sẽ làm ảnh hưởng đến hàm lượng HUFA của trứng HUFA có trong trứng tôm càng xanh ở mức nồng độ cao không chỉ làm tăng khả năng ấp trứng mà còn nâng cao được chất lượng ấu trùng [21]
Riêng ở Việt Nam, nghiên cứu về tôm càng xanh chỉ bắt đầu từ sau năm 1975, nhưng mới là những nghiên cứu sơ bộ Năm 1979, Trường Đại Học Cần Thơ phối hợp với
Sở Thủy Sản TP HCM đã cho sinh sản nhân tạo tôm càng xanh đạt được kết quả khả quan Một số nghiên cứu của Trần Thị Thanh Hiền (1998, 2000) về ảnh hưởng của thức ăn lên sinh trưởng và thành thục của tôm càng xanh đã góp phần phát triển kỹ thuật sản xuất giống và nuôi thương phẩm tôm càng xanh [3] Tuy vậy, nghiên cứu về thành phần sinh hóa của động vật thủy sinh cũng như nghiên cứu về ảnh hưởng của thức ăn lên thành phần sinh hoá của tôm cá còn rất ít Do đó, đây là một vấn đề cần thiết phải đi sâu nghiên cứu, nhất là đối với các loài có giá trị kinh tế cao như tôm càng xanh
Gần đây đã có một số nghiên cứu đi sâu vào sinh lý sinh sản của tôm càng xanh Phạm Anh Tuấn (2000) nghiên cứu tổ chức tuyến sinh dục, tuyến androgenic và điều khiển giới tính tôm càng xanh [16] Đặc biệt là công trình nghiên cứu sản xuất giống tôm càng xanh toàn đực bằng kỹ thuật vi phẫu loại bỏ tuyến đực thành công đã tạo bước đột phá trong sản xuất con giống, nâng cao năng suất và giá trị kinh tế tôm càng xanh [27]
Trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu về đối tượng tôm càng xanh chúng ta thấy rằng việc nghiên cứu về đối tượng này cần được quan tâm nhiều hơn nữa Đặc biệt, vấn đề dinh dưỡng cho tôm là cần thiết để nghề tôm càng xanh được phát triển rộng rãi
2.1.2 Tình hình nuôi tôm càng xanh
Nuôi tôm càng xanh thương phẩm trên thế giới đã xuất hiện từ lâu, đặc biệt khi người đầu tiên là tiến sĩ Ling (1969) đã cho biết đầy đủ chu kỳ sống của tôm trong phòng thí nghiệm [38] Sau đó khi Fujimura và Okamoto thực hiện sản xuất giống đại trà thì việc nuôi tôm thương phẩm ngày càng phát triển mạnh hơn Từ đó, tôm càng xanh đã trở thành hàng hoá xuất khẩu của nhiều nước như: Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia…[8]
Theo thống kê của FAO (2000), sản lượng tôm càng xanh trên toàn thế giới đạt được khoảng 5.246 tấn (1984) và đã tăng gấp hơn 3 lần (17.680 tấn) với giá trị khoảng 75 triệu USD vào năm 1989 Trong đó, sản lượng tôm nuôi chiếm 72% tổng sản lượng (FAO, 1998) Ở châu Á, Thái Lan và Malaysia là một trong những nước có nghề nuôi tôm phát triển ưu thế với công nghệ nuôi tôm thương phẩm và quy trình sản xuất giống đặc sắc (Boonyaratpalin và Vorasayan, 1983) Còn Trung Quốc và Ấn Độ cũng khá thành công trong chưong trình sản xuất giống và nuôi tôm thương phẩm trên các thuỷ vực nước ngọt
Trang 14lớn Trung Quốc đã đạt mức 37.000 tấn (1996), 43.000 tấn (1997), 62.000 tấn (1998) và được xem là có sản lượng tôm càng xanh lớn nhất, chiếm 95% tổng sản lượng tôm càng xanh thế giới (FAO, 2002) Theo báo cáo mới nhất của năm 2003, chỉ riêng Trung Quốc, sản lượng tôm càng xanh đạt trên 300.000 tấn (Miao, 2003) [8]
Ở nước ta từ sau năm 1975, nuôi tôm càng xanh mới phát triển nhưng chủ yếu theo phương pháp dân gian, diện tích nhỏ, con giống tự nhiên và theo mùa vụ nên năng suất không cao mà lại bị động về con giống Từ năm 1985 trở lại đây, phong trào nuôi tôm,
nhất là nuôi tôm sú Penaeus monodon, phát triển mạnh với nhiều phương pháp nuôi: quảng
canh, bán thâm canh hay nuôi trong ruộng lúa (báo cáo của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II (Viện NCNTTS II) tháng 12/1995) Còn tôm càng xanh vẫn chưa thu hút sự quan tâm của người nuôi do quy trình sản xuất giống phức tạp, chưa hoàn chỉnh và kỹ thuật nuôi thương phẩm còn nhiều hạn chế
Tuy nhiên, sản xuất giống tôm càng xanh nhân tạo đã bắt đầu phát triển mạnh từ
1999 khi nhu cầu con giống ngày càng cao và thành công trong việc nghiên cứu, ứng dụng
mô hình mới là mô hình nước xanh cải tiến mà hiện đang áp dụng rộng rãi và hiệu quả nhất ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Từ đây, sản lượng tôm càng xanh có sự thay đổi lớn ĐBSCL chỉ từ một vài trại tôm càng xanh vào 1999, đến 2003 đã có 94 trại, đạt sản lượng 76 triệu tôm bột/năm [8]
Theo ghi nhận của FAO (2001), Việt Nam đang đứng thứ hai ở bảng xếp hạng với sản lượng 28.000 tấn/năm và là nước có sản lượng tôm càng xanh trong tự nhiên lớn hơn
so với một số nước trong khu vực Đông Nam Á, khoảng 6.000 tấn/năm (1980) Theo thống
kê năm 2002 của Bộ Thủy Sản, cả nước đạt khoảng 10.000 tấn tôm càng xanh, trong đó ĐBSCL chiếm chủ yếu Tổng sản lượng tôm giống càng xanh sản xuất năm 2004 là 90
triệu con (nguồn: http://www.fistenet.gov.vn) Và cũng trong khu vực này, diện tích nuôi
tôm càng xanh chiếm khoảng 6.000 ha với sản lượng đạt xấp xỉ 1.400 tấn (2000), tập trung nhiều nhất ở các tỉnh: Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang và chủ yếu áp dụng nuôi theo các mô hình: nuôi trên ruộng lúa, nuôi mương vườn, nuôi bán thâm canh trong ao hay nuôi đăng quầng Gần đây nó đã được di giống về nuôi ở một số tỉnh ở Bắc và Trung Bộ [8]
Trang 152.2 Đặc điểm sinh học của tôm càng xanh
2.2.1 Phân loại
Tôm càng xanh có tên khoa học là Macrobrachium rosenbergii được De Man đặt
tên vào năm 1879, ước tính có khoảng 200 loài [8] Theo Holthuis (1980) và Barnes (1987) tôm càng xanh có vị trí phân loại như sau:
Ngành chân đốt: Arthropoda
Lớp giáp xác: Crustacea
Lớp phụ giáp xác bậc cao: Malacostraca
Bộ mười chân: Decapoda
Bộ phụ chân bơi: Natantia Phân bộ: Caridea Họ: Palaemonidae Phân họ Palaemoninae
Giống: Macrobrachium Loài: Macrobrachium rosenbergii (de Man, 1879)
Tên khoa học: Macrobrachium rosenbergii
Tên tiếng Anh: Giant Freshwater Prawn
Trang 16 Phần bụng hơi tròn, có 6 đốt có thể cử động và một telson Các đốt bụng hơi tròn trên mặt lưng và dẹt hai bên, năm đốt đầu gắn với năm đôi phụ bộ gọi là chân bụng (chân bơi) Tấm vỏ trước chồng lên tấm vỏ sau và tấm vỏ đốt bụng 2 rất to phủ lên cả hai tấm vỏ
1 và 3, điểm phân biệt với các loài tôm biển Telson và đuôi là bánh lái, cuối telson luôn dài hơn các đuôi và giữa đôi gai trong có 3 lông tơ [1]
Tôm nhỏ cơ thể màu sáng, trên giáp đầu ngực có sọc xanh đen dọc hai bên Tôm trưởng thành có những vệt xanh sậm ngang lưng xen kẽ với màu trắng trong của cơ thể Đặc điểm về cỡ, hình dạng, màu sắc và các gai trên đôi càng thay đổi theo giai doạn thành thục của tôm, nhất là tôm đực Khi tôm nhỏ đôi càng màu trong, sau thành màu vàng cam (càng lửa) chưa có gai hay gai rất mịn, lông tơ ít hoặc chưa có Khi tôm lớn, đôi càng xanh đậm, nhiều lông tơ và gai nhọn Dựa vào đó chia thành các giai đoạn: tôm nhỏ, càng lửa nhạt, càng lửa đậm, càng lửa đậm chuyển tiếp càng xanh, càng xanh nhạt, càng xanh đậm
vùng mang của giáp đầu
telson
phần thân
và đuôi
đốt bụng 2 càng
bánh lái
Trang 17Bảng 1: Một số đặc điểm hình thái phân biệt tôm đực và tôm cái [8]
Kích cỡ Lớn hơn và đầu ngực to hơn tôm
Không có
Bụng Mặt bụng của đốt bụng thứ nhất
có điểm cứng ở giữa
Tôm cái thành thục có tấm bụng thứ nhất, thứ hai và thứ ba dài và
nở rộng, hình thành buồng ấp trứng
Lông tơ sinh
dục
Không có Xuất hiện nhiều trên chân ngực và
chân bụng của tôm trưởng thành Tuyến
và các thủy vực nước lợ, nước trong cũng như nước đục Phạm vi phân bố, mật độ quần đàn tự nhiên của tôm càng xanh phụ thuộc vào một số yếu tố môi trường mà trước hết là nhiệt độ, độ mặn và pH [11]
2.2.4 Tập tính sống
Môi trường sống của tôm càng xanh là nước ngọt và lợ vùng nhiệt đới, chất đáy thích hợp là bùn hay bùn cát Hậu ấu trùng và tôm trưởng thành sống ở nước ngọt, thích
Trang 18ánh sáng vừa (400 lux) và ăn tạp (FAO, 1985; Lương Đình Trung, 1999; Ismael và M.B New, 2000) [8]
Tôm càng xanh có tính ăn thịt lẫn nhau và xảy ra khi nuôi mật độ cao hay thiếu thức ăn (Smith và Sandifer, 1975; Segal và Roe, 1975; Ismael và M.B.New, 2000) Hậu ấu trùng và tôm trưởng thành thường tấn công lẫn nhau trong giai đoạn lột xác và sau khi lột xác Vì vậy, việc dùng giá thể nhân tạo như thực vật thủy sinh (bèo, lục bình), lưới nylon hay ống nhựa PVC cho vào giai hay bể giúp nâng cao tỉ lệ sống tôm nuôi (Ling, 1969; Fujimuta và Okamoto, 1972) [5]
2.2.5 Vòng đời
Vòng đời tôm càng xanh trải qua bốn giai đoạn: trứng, ấu trùng, hậu ấu trùng và tôm trưởng thành Tôm trưởng thành thường sống, thành thục và sinh sản chủ yếu ở vùng nước ngọt như: sông, rạch, ao, hồ…Trong mùa sinh sản, tôm cái thành thục sẽ lột xác tiền giao vĩ (pre-mating moult), sau đó sẽ bắt cặp và giao vĩ [38]
Tôm mẹ đẻ và ấp trứng dưới chân bụng, di cư ra vùng cửa sông nước lợ có độ mặn
từ 6-18‰ Ở đó ấu trùng được nở ra, sống trôi nổi theo kiểu phù du (Uno và Kwon, 1969) trải qua 11 giai đoạn và 12 lần lột xác để trở thành hậu ấu trùng Theo Ling (1969), với nhiệt độ từ 25-310C, thời gian ấp trứng là 19-23 ngày Ấu trùng cần có nước lợ để phát triển và sẽ chết trong vòng vài ngày sau khi nở nếu chúng sống trong nước ngọt hoặc nước
có độ mặn cao [38] Sau đó, tôm con di cư ngược dòng vào các vùng nước ngọt, ở đó chúng sẽ sinh trưởng và thành thục (FAO, 1985) [8]
2.2.6 Đặc điểm sinh trưởng
Tương tự các loài giáp xác khác, sự sinh trưởng của loài tôm này theo kiểu bậc thang và chỉ tăng kích thước sau mỗi lần lột xác Chu kỳ lột xác của tôm phụ thuộc vào kích cỡ, tình trạng sinh lý, dinh dưỡng, môi trường sống, Tôm nhỏ chu kỳ lột vỏ ngắn hơn tôm lớn.Tôm đực và tôm cái tăng trưởng gần tương đương cho tới khi đạt cỡ 35-50 g thì có
sự phân đàn rõ rệt và con đực sẽ sinh trưởng nhanh hơn con cái (có thể đạt khối lượng gấp đôi) trong cùng thời gian nuôi và độ tuổi Khi bắt đầu thành thục (30-40 g/con), tôm cái giảm sinh trưởng do tập trung dinh dưỡng để phát triển buồng trứng [8]
2.2.7 Điều kiện môi trường sống
Nhiệt độ thích hợp là 26-31oC, tốt nhất 29-31oC (Diaz–Herrara và Buckle–Ramizer, 1990) Ở nhiệt độ ngoài khoảng 22-33oC tôm giảm hoạt động, sinh trưởng và sinh sản, còn dưới 13oC hay trên 38oC có thể gây chết tôm [8]
Trang 19Độ mặn dao động tuỳ giai đoạn phát triển trong vòng đời của tôm Ấu trùng cần độ mặn 6-16‰, tốt nhất là 10-12‰ Đối với tôm lớn, chúng có thể chịu mặn đến 25‰ (tuy nhiên, khi nuôi tôm tốt nhất không quá 10‰) [8]
Ôxy hoà tan khác nhau tuỳ giai đoạn, nhiệt độ, Giá trị ôxy tối thiểu trên 2,1 ppm
ở 23oC, trên 2.9 ppm ở 28oC và 4,7 ppm ở 33oC đối với tôm con Còn tôm lớn cần nhiều ôxy hơn và cần duy trì trên 4,0 ppm [8]
Độ pH thích hợp nhất cho sinh trưởng của tôm là 7,0-8,5, dưới 6,5 hay trên 9,0 kéo dài không tốt cho tôm Đặc biệt pH có ảnh hưởng lớn đến sinh sản tôm mẹ [8]
Độ cứng: tôm cần các loại khoáng như canxi, magiê cho quá trình tạo vỏ mới khi lột xác, thích hợp nhất từ 50-150 ppm Độ cứng hơn 300 ppm làm tôm chậm lớn và bị bám nguyên sinh động vật Đạm có hàm lượng tốt nhất là ở mức dưới 0,1 ppm đối với đạm nitrite và dưới 1 ppm đạm amôn [8]
2.2.8 Đặc điểm sinh sản
Sự thành thục, giao vỹ, đẻ và ấp trứng
Tôm tự nhiên sinh sản hầu như quanh năm và tập trung vào những mùa chính tùy từng nơi Theo Rao (1991), ở hồ Kolleru thuộc nam Ấn Độ, tôm trứng xuất hiện quanh năm nhưng hoạt động sinh sản mạnh nhất vào những tháng nóng (tháng 8 đến tháng 1 năm sau) Varghese và ctv (1992) báo cáo rằng mùa bắt tôm trứng ở Karala (Nam Ấn Độ) thường vào lúc bắt đầu mùa mưa Ở ĐBSCL, tôm càng xanh có 2 mùa sinh sản chính là từ tháng 4-6 và từ tháng 8-10 [11] [13]
Ngoài tự nhiên cũng như trong nuôi nhân tạo, tôm càng xanh sinh sản lần đầu khoảng 3-3,5 tháng tuổi kể từ hậu ấu trùng 10-15 ngày tuổi (PL10-15), cỡ 10-13 cm hay khối lượng nhỏ nhất gặp ngoài tự nhiên là 7,5 g [10] Theo Daniels, Cavalli và Smullen (2000), tôm cái thường thành thục khi đạt 15-20 g (có khi tôm cái chỉ 6,5 g cũng đã mang trứng) [28] Tuy vậy, tuổi và kích cỡ thành thục của tôm còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như môi trường, thức ăn,…Khi đã thành thục sinh dục, tôm đực có thể giao phối bất cứ lúc nào, trong khi đó tôm cái chỉ đáp ứng khi đã “lột vỏ tiền giao hợp” Nói cách khác, sự ghép đôi chỉ có hiệu quả giữa tôm đực có vỏ cứng với tôm cái mới lột xác, vỏ mềm và buồng trứng cuối giai đoạn IV Khi buồng trứng tôm cái chín hoàn toàn, tôm cái lột xác tiền giao vĩ Quá trình lột xác tiền giao vĩ tôm cái sẽ tiết ra hormone có tác dụng kích thích tôm đực tìm đến
Trong quá trình thành thục, buồng trứng tôm càng xanh trải qua 4 giai đoạn phát triển trong vòng 14-20 ngày (xem bảng 2)
Trang 20Quá trình giao phối của tôm càng xanh được miêu tả chi tiết bởi Ismael và New (2000); Karplus, Malecha và Sagi (2000) [32] Sau khi tôm đực và tôm cái làm quen nhau, lập tức tôm đực hưng phấn, nhô cao đầu, dựng mình lên, rung bộ râu, duỗi thẳng cặp càng
ra để phô trương sức mạnh Các động tác này diễn ra trong 10–30 phút đến khi tôm cái bị thuyết phục Sau đó tôm đực dùng càng ôm tôm cái và dùng chân chùi sạch phần vỏ ở ngực tôm cái Động tác này kéo dài 10–15 phút và sau đó diễn ra quá trình gắn tinh: túi tinh của tôm đực bắn vào phần bụng và ngực, giữa những đôi chân ngực của tôm cái ở trong dung dịch nhờn do tôm cái tiết ra
Bảng 2: Các giai đoạn phát triển buồng trứng tôm càng xanh [8]
Tác giả Giai
đoạn
Nguyễn Thanh Phương (2003) Chang & Shih (1995)
I Trứng chưa thành thục Buồng trứng nhỏ,
trong suốt, nằm ở vùng chót sau của
khoang giáp đầu ngực Trứng có hình cầu
với nhân rõ ràng và nguyên sinh chất
trong suốt Đường kính trứng đạt
0,064-0,128 mm
Buồng trứng không thể hiện
II Chớm thành thục Buồng trứng chiếm
khoảng 1/4-1/2 chiều dài của khoang giáp
đầu ngực và có màu vàng Trứng hơi ngà
do có noãn hoàng trong nguyên sinh chất
Nhân không thấy rõ Đường kính trứng
khoảng 0,191-0,447 mm
Buồng trứng với một điểm nhỏ màu vàng được thấy gần phía sau vùng giáp đầu ngực
III Thành thục Buồng trứng phát triển mạnh
và chiếm hơn 3/4 chiều dài khoang đầu
ngực, có màu vàng cam Trứng hơi đục,
nhân không thấy được do hình thành noãn
hoàng Đường kính trứng
0,3192-0,545mm
Một khối mô trứng,với màu cam,có thể biểu hiện từ phía sau giáp đầu ngực vừa đến vùng trước của răng chủy thứ nhất
IV Chín muồi Buồng trứng chiếm toàn bộ
chiều dài khoang giáp đầu ngực, màu
vàng sậm Trứng có hình cầu, đục do
noãn hoàng tích tụ nhiều Đường kính
trứng 0,4468-0,7661 mm
Buồng trứng có sự lớn lên và mở rộng sang vùng của răng chủy thứ nhất
trước của giáp đầu ngực
Trang 21Sau giao vĩ 2–5h (hoặc 6–24h) tôm bắt đầu đẻ trứng (thường vào ban đêm) Con cái khi đẻ cong mình về trước tạo sức đẩy trứng từ buồng trứng ra ngoài qua lỗ sinh dục ở gốc chân ngực thứ 3 rồi rơi thẳng vào buồng ấp Trong quá trình đẻ, trứng được thụ tinh khi đi ngang túi chứa tinh Trứng bao bọc bằng một màng mỏng, giống như những chùm nho Các chùm trứng này dính chặt vào các sợi lông ở 4 đôi chân bụng đầu tiên Thời gian
đẻ trứng khoảng 10–60 phút Những tôm cái thành thục, chín muồi nhưng không được giao
vĩ vẫn đẻ trứng, trứng này rụng sau 1–2 ngày
Suốt quá trình ấp trứng, tôm cái dùng chân bụng quạt nước cung cấp oxy cho trứng
nở và loại bỏ các trứng hư, dị vật dính vào khối trứng Thời gian ấp đến trứng nở từ 15-23 ngày phụ thuộc vào nhiệt độ, pH nước Tôm càng xanh thuộc loại mắn đẻ Trong điều kiện thuận lợi, thức ăn đầy đủ, tôm có thể đẻ 4-6 lần trong năm Buồng trứng thường tái thành thục khi tôm cái đang mang trứng Khi tôm cái phóng thích ấu trùng ở bụng xong sẽ lột xác sau 2-5 ngày để giao vĩ và đẻ tiếp Khoảng thời gian giữa hai lần lột xác tiền giao vĩ ngắn nhất là 23 ngày
Sự phát triển của phôi
Trứng hình bầu dục, đường kính 0,6–0,7 mm và có màu da cam tươi Sau khi thụ tinh 4h, trứng phân đôi tế bào, sau đó khoảng 1h30 đến 2h có một lần phân bào Sau 24h
việc phân bào hoàn thành Hốc mắt phát triển vào ngày thứ 7 Các sắc tố của mắt bắt đầu
xuất hiện vào ngày thứ 8 Đến ngày thứ 10 sắc tố xuất hiện, tim hình thành và bắt đầu đập Phôi bào phát triển hoàn toàn vào ngày thứ 12, lúc trứng chuyển từ màu da cam sang nhạt rồi xám dần [9]
Ấu trùng phát triển hoàn toàn trong trứng vào ngày thứ 16–17, trứng có màu xám đậm Đến ngày thứ 19–20 trứng sẽ nở (26-28oC) Quá trình này diễn ra chậm chạp nhưng liên tục Ấu trùng dùng miệng rung động màng trứng và co rút cơ thể làm cho trứng mỗi lúc một dài thêm Các động tác này đột ngột dừng trong 10 phút, sau đó mạnh mẽ và liên tục hơn Thân ấu trùng tiếp tục giật, mình và phần đuôi của ấu trùng dùng làm vật che cho mắt và đầu được đẩy ra ngoài trước, tiếp theo là phần mình Cuối cùng bằng một cái búng mạnh của thân, toàn bộ ấu trùng lọt ra ngoài vỏ, 5 phút sau ấu trùng bắt đầu bơi lội [8]
Sức sinh sản
Sức sinh sản của tôm thay đổi từ 7.000–503.000 trứng/cá thể, sức sinh sản tương đối của tôm tự nhiên khoảng 500–1.000 trứng/gam khối lượng tôm (tôm nuôi trong ao hồ khoảng 300-600 trứng/gam khối lượng tôm), tuỳ thuộc vào kích cỡ, khối lượng và số lần tham gia sinh sản [8] Theo New và Singholka (1985), tôm càng xanh thành thục hoàn
Trang 22toàn có thể mang 80.000 đến 100.000 trứng Tôm cái có thể tái phát dục và đẻ lại sau 16–
45 ngày, có khi là 7 ngày, đẻ lại 5–6 lần trong vòng đời [41] Sức sinh sản tuyệt đối ở lần mang trứng đầu tiên thấp hơn tôm phát dục kế tiếp ước tính trung bình 5.000-20.000 trứng/cá thể (FAO, 1985) Nhiều ý kiến khác nhau về sức sinh sản của tôm càng xanh trong tự nhiên thông qua bảng 3:
Bảng 3: Sự biến động sức sinh sản tuyệt đối của tôm càng xanh [12]
Nghiên cứu biến động sức sinh sản tương đối của tôm theo các nguồn và kích cỡ khác nhau của Nguyễn Thanh Phương và ctv, (2006) cho thấy số lượng trứng trên mỗi gam tôm mẹ dao động từ 961–1.096 trứng, số trứng theo các nhóm kích cỡ khác nhau ở cùng một nguồn tôm khác biệt không có ý nghĩa thông kê Tuy nhiên, số trứng của tôm tự nhiên cao hơn có ý nghĩa so với nguồn tôm mẹ từ ao nuôi thương phẩm và nguồn tôm mẹ nuôi
vỗ cùng một nhóm kích cỡ Khi so sánh sự tương quan khối lượng tôm càng xanh cái mang trứng với sức sản xuất, kích thước trứng và chiều dài ấu trùng cho thấy được sức sinh sản tăng theo thể trọng tôm mẹ và đạt mức cao nhất 1.219 trứng/g thể trọng tôm mẹ ở nhóm tuổi 120-140 g Ở nhóm có khối lượng từ 40 g trở lên sẽ đảm bảo được chất lượng [42] Khi chọn tôm mẹ cho sinh sản các tác giả đã thống nhất trong giới hạn kích thước nhất định được thể hiện thông qua bảng 4:
Trang 23Bảng 4: Chỉ tiêu về kích cỡ tôm mẹ tuyển chọn cho sinh sản [7]
Theo Ang (1991), nghiên cứu sức sinh sản của tôm càng xanh trong ao có khối lượng 6,22-45,80 g có sức sinh sản dao động từ 1.211-89.747 trứng/con cái Tôm càng xanh là loài có sức sinh sản tương đối thấp so với một số loài giáp xác khác (sức sinh sản của tôm thẻ 200.000-500.000 trứng/tôm mẹ; tôm sú 200.000-1.200.000 trứng/tôm mẹ (Cúc, 1981; Tuấn và ctv, 1994; Trung, 2004)) [8]
2.2.9 Đặc điểm dinh dưỡng
Tập tính dinh dưỡng
Theo Ling (1969), tôm càng xanh có thể xếp vào nhóm ăn tạp vì chúng sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau bao gồm: ấu trùng côn trùng, côn trùng trưởng thành, động vật thân mềm nhỏ, giáp xác khác, cá, trái cây, lá và thực vật thủy sinh thượng đẳng khác Đặc biệt, khi thiếu thức ăn chúng có thể ăn thịt lẫn nhau Tôm có ruột ngắn, phần nghiền thức ăn phát triển, phổ thức ăn khác biệt không rõ rệt giữa con non và con trưởng thành với
tỷ lệ thức ăn động vật cao Chúng bắt mồi qua mùi vị và màu sắc thức ăn nhờ râu Khi gặp mồi chúng dùng chân ngực thứ nhất kẹp gắp thức ăn cho vào miệng [38]
Nhu cầu dinh dưỡng
Thức ăn phải đảm bảo cung cấp đủ các chất cần thiết xây dựng cơ thể đồng thời cung cấp nguồn năng lượng cho sinh vật hoạt động bình thường Trong đó thức ăn phải chứa đủ các chất dinh dưỡng thiết yếu, cân đối về thành phần, tỷ lệ giữa các chất trong khẩu phần Sự thiếu hoặc thừa một hoặc một số chất sẽ có ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng, phát triển, sinh sản và khả năng kháng bệnh của vật nuôi Cũng như các động vật khác, thức ăn cho tôm càng xanh cần đầy đủ các thành phần như: prôtêin, lipid, cacbonhydrate, khoáng, vitamin và một số chất khác Riêng đối với tôm bố mẹ, sự phát triển của tuyến sinh dục có quan hệ mật thiết với chế độ dinh dưỡng và kỹ thuật nuôi vỗ Với chế độ dinh dưỡng hợp lý, đủ, cân bằng các chất trong khẩu phần thức ăn và kỹ thuật nuôi vỗ tốt sẽ nâng cao tỷ lệ thành thục, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở và tỷ lệ sống ấu trùng cao, tăng sức sinh sản thúc đẩy quá trình tái phát dục (Bùi Thị Phương Khanh, 1989) [12]
Trang 24Bảng 5: Khẩu phần thức ăn của tôm càng xanh [8]
Kích cỡ tôm (g) Khẩu phần ăn (% khối lượng đàn tôm) 1-3
3-5 5-10 10-20 20-30
>30
6-8 5-6 4-5 3-4 2-3 1,5-2
Trong quá trình nuôi tôm càng xanh, loại thức ăn phổ biến nhất đã và đang sử dụng
là thức ăn chế biến tại chỗ gồm: bột cá, bột đậu nành, bột ngũ cốc, vitamin và khoáng chất, thức ăn cho heo và gà con (Booyaratpalin & New, 1993), có thể thêm Oxytetracylin, vitamin C và các chất từ bột tôm (ở Thái Lan) hoặc dầu cá, nhiều gốc phosphate, chất kết dính và muối Iod (ở Brazil) (Zimmermann, 1988) Bên cạnh, thức ăn công nghiệp và thức
ăn tươi từ động vật thủy sản cũng được sử dụng kết hợp để tăng hiệu quả sản xuất bởi các loại thức ăn này đều có dinh dưỡng cao nhưng thức ăn chế biến khó đảm bảo đủ thành phần cân đối, thức ăn công nghiệp giá thành cao, thức ăn tươi dễ ô nhiễm nước nuôi Vì vậy, việc lựa chọn và kết hợp sử dụng giữa các loại thức ăn trên là cần thiết để giảm bớt nhược điểm của mỗi loại và đạt hiệu quả cao nhất [12]
Đối với tôm càng xanh, thức ăn phải đảm bảo đủ các thành phần sau:
▪ Prôtêin
Prôtêin góp phần cơ bản tạo nên mọi tổ chức tế bào trong cơ thể, kể cả tuyến sinh dục, chiếm khoảng 65-75% trong thành phần sinh hóa của tôm [3] Mức prôtêin cần thiết trong nuôi tôm là 25-35% [8] Riêng tôm bố mẹ và ấu trùng thì prôtêin cao hơn (khoảng 40% và năng lượng 4000 kcal sẽ nâng cao sức sinh sản tôm bố mẹ [29]) Theo Trần Thị Thanh Hiền (2004), thức ăn tôm bố mẹ có hàm lượng prôtêin khoảng 43% trở lên [5] Còn Nguyễn Thanh Phương & ctv (2003) đề nghị thức ăn 40-45% prôtêin với thành phần bột
cá cao đạm và bột đậu nành [9] Mặt khác, prôtêin phải có đủ các thành phần acid amin thiết yếu giúp tăng trưởng và hoạt động các enzyme, hormon
Trang 25Bảng 6: Nhu cầu Prôtêin cho tôm càng xanh [12]
Mức protein thí nghiệm
(% khối lượng khô)
Mức protein tối thiểu (%
Perry và ctv., (1984) Theo Ganneswaran (1989) và Ang (1992), với thức ăn chứa protein 40-45% thì sức sinh sản của tôm càng xanh đạt tối ưu Mức Protein do S.Thongrod đề nghị ở Thái Lan được thể hiện ở bảng 7 [12]:
Bảng 7: Mức Protein đề nghị trong thức ăn của tôm càng xanh ở Thái Lan (Nguồn: S.Thongrod, pers comm., 1999) [8]
▪ Chất béo (Lipids)
Lipid giữ vai trò quan trọng trong sinh trưởng và sinh sản của tôm Đây là thành phần cấu tạo nên màng tế bào và giữ vai trò quan trọng trong việc tích luỹ năng lượng cho quá trình phát triển buồng trứng Nhu cầu lipid giảm dần theo độ tuổi của tôm (S Thongrod, 1999) [5] Lipid không chỉ như là nguồn cung cấp năng lượng (8-9 Kcal/g) mà còn cung cấp các acid béo, phospholipid, sterol cũng như là vật mang (carrier) của các vitamin tan trong dầu cần thiết cho sinh trưởng và phát triển, sinh sản của tôm cá [25]
Với vai trò quan trọng, lipid là một vấn đề đang được quan tâm nghiên cứu để nâng cao chất lượng thức ăn cho tôm, đặc biệt là thức ăn trong giai đoạn nuôi vỗ và ấu trùng [3] Trong những thành phần tan trong dầu thì PUFA (poly unsaturated fatty acid), HUFA (highly unsaturated fatty acid), phospholipid, sterol được quan tâm và nghiên cứu nhiều nhất
Nhu cầu lipid của tôm càng xanh bố mẹ khó có thể xác định chính xác vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chất lượng nguồn protein, năng lượng thức ăn, dạng và tỷ lệ của các acid béo thiết yếu Teshima và ctv (1992) đã xác định tốc độ sinh trưởng cao nhất về khối lượng có thể đạt đối với tôm càng xanh khi nuôi bằng thức ăn có bổ sung hỗn hơp acid
Trang 26béo họ 18:2n-6 theo tỷ lệ 12:1 Các acid béo nhóm PUFA như 20:4n-6, 20:5n-3 và 22:6n-3 rất cần thiết cho sự phát dục và đẻ trứng của các loài họ tôm he (Middleeditch và ctv.,
1979, 1980) [6] Đối với lipid, tỷ lệ giữa các acid béo cao phân tử n-3 và n-6 là rất quan trọng trong các giai đoạn phát triển của tôm Nhu cầu lipid dao động từ 6-7,5% và thay đổi theo quá trình phát triển của tôm Khẩu phần ăn giàu nhóm acid béo không no có vai trò rất quan trọng cho quá trình thành thục và sức sinh sản của tôm [8] Những nghiên cứu của Kanazawa (1977, 1979) chỉ ra rằng thức ăn cho tôm he Nhật Bản có bổ sung 1% acid béo
họ n-3 và n-6 sẽ kích thích tăng trọng [34] [35] Read (1981) cũng cho biết khi bổ sung 1%
acid béo họ 18:2n-6 và 18:3n-3 vào thức ăn cho tôm he Penaeus indicus cũng có tác dụng
kích thích tăng trưởng và tăng tỷ lệ sống [6] Theo một số kết quả nghiên cứu trước đây, tỷ
lệ lipid hợp lý trong thức ăn 8-9% sẽ giúp cho tôm càng xanh tăng trưởng tốt nhất [3] [25] [27]
Đối với tôm càng xanh, trong thành phần lipid, hai nhóm acid béo chính đang được chú trọng là PUFA (gồm Linoleic và Linolenic acid) và HUFA (chủ yếu là ARA, DHA, EPA) Các axit béo chưa no cao phân tử (HUFA) có vai trò rất quan trọng cho quá trình thành thục của tôm Nhu cầu về HUFA của tôm càng xanh thấp hơn so với những loài giáp xác biển, mặt khác tôm càng xanh cũng không có sự lựa chọn giữa n-3 hay n-6 HUFA cho nhu cầu HUFA của chúng như những loài tôm biển [35] Thức ăn cho tôm bố mẹ có hàm lượng chất béo bổ sung 8-10%, với tỷ lệ dầu mực/dầu bắp là 2/1 hoặc 1/1 làm tăng sức sinh sản của tôm mẹ cũng như tăng tỷ lệ sống, sức chịu đựng của ấu trùng so với nghiệm thức chỉ sử dụng dầu bắp hoặc dầu mực Trong thành phần của hai loại dầu nêu trên thì dầu mực có hàm lượng HUFA cao trong khi đó lại rất ít PUFA, dầu bắp thì ngược lại [5] Cavalli (2000) cho rằng thức ăn tôm càng xanh bố mẹ có bổ sung Linoleic acid (18:2n-6)
và n-3 HUFA với hàm lượng của hai nhóm lần lượt là 13 g/kg và 15 g/kg thức ăn sẽ nâng cao sức sinh sản của tôm mẹ, tăng tỷ lệ nở của trứng và chất lượng ấu trùng Điều này chứng tỏ tôm càng xanh bố mẹ cần cả hai nhóm acid béo là PUFA và HUFA [28] Đây là điều cần lưu ý khi xây dựng công thức thức ăn cho tôm bố mẹ Theo Cacalli và cộng sự (1999), tôm bố mẹ ăn thức ăn có bổ sung HUFA thì sẽ làm ảnh hưởng đến hàm lượng HUFA của trứng [21] Teshima và ctv (1994) cho biết sự phát triển và thành thục của
buồng trứng ở tôm Penaeus seitferus và Penaeus japonicus phụ thuộc vào lượng acid béo
trong thức ăn Tương tự, hàm lượng cao nhóm n-3 HUFA tích lũy trong trứng tôm càng xanh sẽ làm tăng khả năng nở của trứng và chất lượng ấu trùng [21]
Đặc biệt, quá trình sinh sản có ảnh hưởng nhất định lên thành phần sinh hóa của tôm cái, nhất là hàm lượng lipid luôn bị giảm đáng kể sau khi sinh sản [3] Trong đó, thành
Trang 27phần một số acid béo quan trọng là DHA (Docosahexaenoic acid), EPA (Eicosapentaenoic acid) và AA (Arachidonic acid) bị suy giảm rất nhiều, nhất là DHA Có thể thấy, đây là những acid béo vô cùng quan trọng trong thành phần cấu tạo màng tế bào, điều hòa áp suất thẩm thấu và góp phần quan trọng trong hệ miễn dịch DHA ( 22:6n-3) là một acid béo không no cao phân tử đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển hệ thần kinh trung ương của giáp xác mà đã được chứng minh trên động vật có vú [37] và cá biển [39] Hàm lượng DHA và EPA trong khẩu phần thức ăn có ảnh hưởng đến sức sinh sản và khả năng nở của
trứng tôm Penaeus chinnensis và cả hai thành phần này đều có vai trò quan trọng để cải thiện khả năng ấp nở của giáp xác [21] [46] D’Abramo và Sheen (1993) đã khẳng định
tầm quan trọng của DHA, EPA và ARA đối với sự tăng trưởng của tôm càng xanh Những nghiên cứu cho thấy DHA và một số acid béo khác có thể đã được sử dụng như một nguồn năng lượng trao đổi chất, cụ thể trong suốt quá trình thành thục sinh dục, 62,5% lượng DHA đã sử dụng như nguồn năng lượng cho hoạt động của cơ thể (Clarke và ctv.,1990)
Đó cũng là lí do khiến cho hàm lượng các acid béo này giảm mạnh sau khi sinh sản [33]
Trong trứng các loài giáp xác, DHA chiếm khoảng 10-20% tổng lượng acid béo (Kattnervaf ctv., 1994; Wehitonann và Kattner, 1998) Tôm càng xanh không có khả năng chuyển hóa các chất khác thành DHA và EPA hoặc từ EPA thành DHA [34] [35] nhưng có thể tổng hợp EPA từ DHA [24] Sự thiếu khả năng tự tổng hợp Linoleic, Linolenic, DHA
và EPA cũng được phát hiện trên tôm Penaeus japonicus [24]; Penaeus monodon và
Penaeus merguiensis [35] Mặt khác, khả năng chuyển đổi từ nhóm acid béo 18 carbon
sang nhóm acid béo mạch dài hơn như 20:5n-3 (EPA) và 22:6n-3 (DHA) ở nhóm tôm này lại rất hạn chế [33]
Gần đây, ảnh hưởng qua lại về hàm lượng của DHA, EPA và AA đã được nghiên cứu [30] [45] Điều này xảy ra do tương tác cạnh tranh không chỉ giữa DHA và EPA mà còn giữa EPA và AA Ba acid béo này có hoạt tính sinh học khá mạnh và có thể xem như
là những enzym nội tại trong tế bào giúp vận chuyển những acid béo trong cấu trúc của phospholipid Khi khẩu phần thức ăn có hàm lượng EPA cao sẽ cạnh tranh với DHA ảnh hưởng xấu đến chức năng thần kinh, sinh trưởng và sự sống sót của ấu trùng cá biển [19] [20] EPA có hoạt tính sinh học thấp hơn AA nên với hàm lượng cao sẽ tác động đến hiệu quả hoạt động của AA trong tế bào [18] Sự tương tác cạnh tranh giữa EPA và AA đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành eicosanoid, hormon kích thích rụng trứng ở con cái thành thục [45]
Như vậy, những nghiên cứu trên đây chủ yếu về tác động của một hỗn hợp các acid béo cao phân tử thuộc nhóm HUFA là trên tôm càng xanh bình thường hoặc các đối tượng
Trang 28thủy sản khác Hầu như chưa có nghiên cứu về các chất này trên tôm càng xanh đã chuyển đổi giới tính bằng phương pháp vi phẫu (tôm cái giả) Chính vì vậy, nghiên cứu ảnh hưởng của DHA và EPA trong thành phần HUFA ở dạng nguyên chất hơn là cần thiết Đặc biệt, các dặc điểm sinh học, sinh sản khác biệt cũng như những ảnh hưởng của các chất dinh dưỡng đối với quá trình thành thục, sinh sản của tôm càng xanh cái giả cũng cần được nghiên cứu và tìm hiểu để có biện pháp khắc phục những khó khăn đang gặp trong sản xuất thực tiễn
Phospholipid là một thành phần quan trọng của màng sinh học của tế bào, có vai trò quan trọng trong vận chuyển lipid đặc biệt là cholesterol, là nguồn cung cấp choline, inositol, acid béo thiết yếu và năng lượng cũng như nâng cao chất lượng thức ăn bằng cách làm tăng độ ổn định về độ ẩm và là chất chống oxi hóa, chất tạo mùi cho thức ăn (Coutteau, 1997) Phospholipid cũng ảnh hưởng đến sự tiêu hoá của những thành phần dinh dưỡng khác như protein, vitamin, khoáng và acid béo thiết yếu [36] Một số nghiên cứu đã cho biết thức ăn phospholipid giúp tăng khả năng sinh sản cũng như sự phát triển của ấu trùng, hậu ấu trùng tôm he Khả năng tự sinh tổng hợp phospholipid của giáp xác rất giới hạn (Shieh, 1969), nhất là ở giai đoạn sớm trong vòng đời của các loài họ tôm he nên đòi hỏi phải có phospholipid trong khẩu phần cho sự sống và phát triển của chúng Tuy nhiên, việc bổ sung phospholipid trong thức ăn không có tác động gì cho sự tăng trưởng hoặc sống sót của ấu trùng và ấu niên của tôm càng xanh Đối với tôm càng xanh bố mẹ thì khẩu phần thức ăn có bổ sung phospholipid với tỷ lệ tăng từ 0,8% đến 4,6% không làm thay đổi sức sinh sản, kích thước, tỷ lệ nở của trứng cũng như sức chịu đựng của ấu trùng Dựa vào những kết quả này có thể thấy tôm càng xanh có khả năng tự tổng hợp phospholipids với tỷ lệ đủ theo nhu cầu của chúng [33]
Còn sterol cũng được đánh giá là một chất dinh dưỡng cần thiết Đây là tiền chất steroid mà trong thành phần có một hay nhiều nhóm hydroxyl Một trong những steroid có giá trị dinh dưỡng quan trọng nhất là cholesterol Cholesterol là thành phần của màng tế bào và là tiền chất hình thành hormon sinh dục, hormon lột xác và acid mật Nhìn chung, hầu hết các loài giáp xác đều không có khả năng tổng hợp sterol từ acid axetic và maloic [3] nhưng có khả năng chuyển hóa steroid trong thức ăn để nâng cao tăng trưởng và tỷ lệ sống của loài Trong đó, tôm càng xanh chỉ có khả năng tổng hợp một phần cholesterol cho quá trình trao đổi chất và hàm lượng chất này tăng lên đáng kể trong quá trình phát triển buồng trứng Cholesterol có liên quan chặt chẽ với sự sinh sản, quá trình phát triển của
buồng trứng tôm càng xanh và tôm he Nhật Bản Penaeus japonicus (Kanazawa và ctv.,
1980) [33]
Trang 29▪ Carbohydrate:
Đây là nguồn cung cấp năng lượng hóa học chủ yếu cho động vật, là nguồn cung
cấp năng lượng rẻ tiền nhất Carbohydrate là tiền đề cho sự trao đổi chất, giúp cho quá
trình hấp thụ các amino acid Carbohydrate trong thức ăn dao động 30-40% Tôm càng
xanh có hệ men tiêu hóa chất bột đường hoạt động mạnh hơn so với các loài tôm biển Theo Biddle (1977), khả năng tiêu hóa cellulose chỉ khoảng 20% đối với loại thức ăn có mức cellulose là 47,5% trong khi các nguồn cacbonhydrat khác tôm có thể tiêu hóa đến 90% Ngoài ra, chúng còn có khả năng sử dụng chất bột đường dạng cao phân tử phức hợp tốt hơn so với đường đơn Thức ăn có chứa hàm lượng chất bột đường cao đến 40% vẫn cho kết quả tốt về tăng trưởng của tôm Vì vậy, thức ăn nuôi thương phẩm tôm càng xanh
rẻ hơn nuôi tôm biển [3]
▪ Vitamin và khoáng chất:
Khoáng chất cũng có vai trò quan trọng trong sinh trưởng và phát triển của giáp xác nói chung Tôm càng xanh có khả năng hấp thụ khoáng chất từ môi trường nước và thức ăn như ion Ca2+, Mg2+, P…(New M.B, 1980) Nhu cầu về khoáng cho giáp xác dao động trong khoảng từ 2–9,5% tính theo trọng lượng khô, trong đó tỉ lệ hàm lượng Ca:P là 0,76:1 đến 4:1 Theo Rath and Dube (1994) thấy rằng tăng trưởng và hệ số thức ăn (FCR) tốt nhất khi hàm lượng kẽm trong thức ăn đạt 90 mg/kg thức ăn Theo Biddle (1997), khi nghiên cứu sử dụng bột cá làm thành phần trong thức ăn của tôm càng xanh cho biết với mức 3%-5,3% Ca, Ca và P có tỉ lệ 1,76:1 là có ý nghĩa trong sinh trưởng của tôm [8] [12]
Nghiên cứu về nhu cầu vitamin trên giáp xác còn rất ít Hiện nay, vitamin đang được sử dụng trong các thí nghiệm về dinh dưỡng cũng như sản xuất thức ăn công nghiệp cho tôm Nhóm vitamin B cần thiết cho sử dụng chất đạm, béo và đường Các vitamin A
và C giúp cơ thể kháng bệnh Vitamin D cùng với các khoáng Ca, P rất cần cho hình thành lớp ngoài Thành phần cũng như mức độ phối hợp vitamin đã được nghiên cứu trên tôm biển và một số loại tôm nước ngọt Mức vitamin D được đề nghị bổ sung trong thức ăn tôm
là 5-6 lần, vitamin C là 18-500 lần so với mức bình thường Tỷ lệ sống và mức sinh trưởng của tôm càng xanh sẽ tăng từ mức 0 đến 100 mg vitamin C/kg thức ăn Khẩu phần cho tôm càng xanh bố mẹ có 300 µg vitamin E (α-tocopherol acetate) sẽ làm tăng sức sinh sản và chất lượng thế hệ con như sự tăng khả năng chịu đựng với ammonia của ấu trùng [12] Nghiên cứu của D’Abramo (1994) sử dụng hai loại Vitamin C: Ascorbyl 2-monophosphatn
và Ascorbyl-6 palmite đã ước tính nhu cầu Vitamin C cho tôm càng xanh ở giai đoạn hậu
ấu trùng là trên 100 mg Vitamin C/kg thức ăn Hơn nữa, hàm lượng vitamin C và E cao (khoảng 900 µg/g thức ăn) không ảnh hưởng đến sự lột xác, sinh trưởng, tỷ lệ chết cũng
Trang 30như tần suất đẻ và sức sinh sản của tôm bố mẹ mà chỉ tăng sức chống chịu của ấu trùng ở nồng độ ammonia cao [27]
Như vậy, tất cả các chất dinh dưỡng cấu thành trong thức ăn có mối tương tác rất chặt chẽ với nhau và được cơ thể sử dụng đồng thời Mà điều quan trọng là các chất này phải có lượng và chất đầy đủ , phối trộn theo một tỷ lệ thích hợp nhất trong thức ăn để cung cấp theo nhu cầu của từng loài vật nuôi khác nhau nói chung và tôm càng xanh nói riêng
2.3 Quy trình kỹ thuật tạo tôm càng xanh cái giả bằng phương pháp vi phẫu loại
bỏ tuyến đực
2.3.1 Vai trò tuyến đực
Sagi (1990) và Malecha (1992) nghiên cứu chuyên sâu về chức năng của tuyến đực đến sự biệt hóa giới tính cũng như đặc điểm sinh dục thứ cấp, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng Tuyến này nằm ở cuối ống dẫn tinh, là một dải tế bào dạng hình tháp liên kết lỏng lẻo và chịu sự ức chế của một tuyến nội tiết nằm ở cuống mắt tôm [43] [44] Ở con đực, tuyến này kiểm soát quá trình sinh sản mà bắt đầu, hoàn thành và tập trung hoạt động sinh dục khi có sự tuần hoàn của hormone tuyến đực trong máu rồi sau đó hoạt động sinh tinh xảy ra khi tuyến đực phát triển đầy đủ [14] Khi tuyến đực bị loại bỏ, càng tôm chậm phát triển, gai sinh dục và một số đặc điểm sinh dục phụ khác cũng tiêu biến, hệ sinh dục đực dần bị thoái hóa và giảm tốc độ tăng trưởng [9]
Với những nghiên cứu này, việc xác định độ tuổi thích hợp để loại bỏ tuyến đực ở tôm càng xanh đã được rất nhiều người quan tâm và có một số kết quả ban đầu Trên tôm đực nhỏ, khi loại bỏ tuyến đực, hầu hết cá thể thí nghiệm đã chuyển thành tôm đực càng cam nhưng không chuyển sang kiểu hình càng xanh Còn khi tiến hành vi phẫu tôm đực càng cam thì hầu hết chuyển sang kiểu hình càng xanh (76%) [43] [44] Riêng thí nghiệm loại bỏ tuyến đực của tôm ở độ tuổi postlarva 30-80 (PL30-80) ngày tuổi đã làm thay đổi các đặc điểm sinh dục thứ cấp, chuyển hóa thành con cái, con đực hoặc là bất thường [14] Mặt khác, những thí nghiệm ban đầu cũng cho thấy việc loại bỏ tuyến đực trên con đực còn non chưa có đặc điểm sinh dục thứ cấp đã mang lại những kết quả đầu tiên về sự biểu hiện tính cái ở con đực (phát triển ống dẫn trứng, hình thành trứng, lỗ mở sinh dục cái), cho khả năng chuyển đổi giới tính cái cao, phát triển tuyến sinh dục cái, có thể giao phối với con đực bình thường và sinh ra thế hệ con toàn đực Tuy nhiên, số tôm chuyển đổi giới tính đã phát triển thành thục không nhiều và khả năng sinh sản của chúng cũng chưa được kiểm chứng Nguyễn Văn Hảo (2004) đã ứng dụng thành công kỹ thuật này và tạo được một số
Trang 31lượng tôm cái giả nhưng tỷ lệ tôm cái giả có khả năng sinh sản còn thấp, tỷ lệ bất thường
về tuyến sinh dục và không thể sinh sản còn cao [2]
2.3.2 Cơ sở khoa học của kỹ thuật tạo tôm cái giả bằng phương pháp vi phẫu loại
bỏ tuyến đực ở tôm càng xanh
Tôm càng xanh cái trong tự nhiên mang bộ nhiễm sắc thể (NST) giới tính WZ và tôm đực với bộ NST giới tính ZZ Khi giao phối tạo thế hệ con F1 sẽ có kiểu di truyền NST giới tính theo tỉ lệ 50% ZZ:50% WZ, tương ứng với kiểu hình là 50% tôm đực và 50% tôm cái [2] [14]
Sơ đồ lai của tôm càng xanh bình thường trong tự nhiên:
Thế hệ con F1 50% WZ:50% ZZ (50% tôm cái:50% tôm đực) Sau khi tôm càng xanh đực đã chuyển đổi giới tính thành con cái Con cái này mang bộ NST giới tính của con đực ZZ (con cái giả) Tôm cái giả giao phối với tôm đực bình thường sẽ tạo ra một thế hệ con F1 chỉ có duy nhất một kiểu NST giới tính ZZ , tương ứng với kiểu hình toàn đực theo sơ đồ sau:
Sơ đồ lai giữa tôm cái giả và tôm đực bình thường:
Trang 322.3.3 Quy trình sản xuất tôm càng xanh toàn đực
PL toàn đực (100%)
Ấu trùng tôm càng
xanh toàn đực
Giao vỹ với tôm đực
Đẻ và mang trứng
Không thành công (loại bỏ)
Thành công (tôm cái giả)
Nuôi thành thục
Nuôi thương phẩm Nuôi tái
phát dục
Trang 33Phần 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu
Thời gian:17/08-15/10/2007
Địa điểm: Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nước ngọt Nam Bộ, ấp 2, xã An Thái Trung, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang
Đối tượng: Tôm càng xanh Macrobrachium rosenbergii (De Man, 1879) cái giả
(tôm đã chuyển đổi giới tính bằng phương pháp vi phẫu loại bỏ tuyến đực) tái phát dục
3.2 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
Bảng 8: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn công nghiệp (theo bao bì)