DANH MỤC VIẾT TẮT1 TNHH TM&DV Trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ Các tàu hoạt động nghề khai thác thủy sản nói chung v à nghề câu cá ngừ đạidương ở Khánh Hòa chủ yếu là tổ chức sả
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
LỜI CÁM ƠN
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHI ÊN CỨU - 01
1.1 Đặt vấn đề - 01
1.2 Tổng quan nghề cá tỉnh Khánh Hòa - 02
1.2.1 Khái quát chung về tỉnh Khánh Hòa -02
1.2.2 Phân bố dân cư nghề cá theo đơn vị hành chính - 03
1.2.3 Đặc điểm khí hậu thủy văn - 04
1.2.4 Ngư trường hoạt động nghề cá Khánh H òa - 04
1.2.5 Năng lực tàu thuyền nghề cá - 05
1.2.6 Khu neo đậu tàu thuyền - 08
1.2.7 Cơ sở hạ tầng, dịch vụ nghề cá - 09
1.2.8 Những chính sách phát triển nghề cá của tỉnh Khánh Ho à -12
1.2.9 Giới thiệu chung về phường Xương Huân – Nha Trang - 13
1.3 Tình hình nghiên cứu về tổ chức sản xuất nghề câu cá ngừ đại d ương trong nước và thế giới - 14
1.3.1 Tình hình phát triển nghề cá ngừ thế giới - 14
1.3.2 Tình hình phát triển nghề cá ngừ trong nước - 15
1.3.3 Nghề khai thác cá ngừ tại Khánh Hoà -16
1.3.4 Quy trình tổ chức khai thác nghề câu Khánh H òa - 16
1.3.5 Một số Mô hình tổ chức sản xuất hiệu quả của tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương của Việt Nam - 19
1 Mô hình công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Khai thác Hải sản Đại Dương -19
2 Mô hình công ty TNHH Mạnh Hà – Vũng Tàu - 22
3 Mô hình công ty Khai thác và d ịch vụ hải sản Biển Đông - 23
4 Mô hình Công ty XNK Lâm Thu ỷ sản Bến Tre - 24
5 Mô hình tổ tàu thuyền an toàn số 01 P Phú Lâm,
Trang 2Tuy Hòa, Phú Yên -24
Nhận xét - 25
1.3.6 Giới thiệu một số Mô hình tổ chức sản xuất của tàu thuyền các nghề khác nghề câu cá ngừ đại dương của Việt nam - 26
1 Mô hình Liên tập đoàn đánh cá biển Nam Triệu (Hải Phòng) - 26
2 Mô hình tổ chức hợp tác Mai Lợi tỉnh Bến Tre - 27
3 Mô hình HTX cổ phần ngư nghiệp Hải Tiến - 28
Nhận xét - 28
1.4 Tổng quan về tai nạn tàu thuyền nghề cá -28
1.4.1.Tai nạn chìm tàu do mặc cạn - 30
1 Phân tích tai nạn -31
2 Biện pháp khắc phục - 31
1.4.2 Sự cố mất câu -32
1 Phân tích sự cố mất câu - 32
2 Biện pháp khắc phục - 33
1.4.3 Tai nạn chìm tàu -33
1.5 ĐÁNH GIÁ CHUNG -33
CHƯƠNG 2 : NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU -35 2.1 Phương pháp nghiên cứu - 35
2.1.1 Nội dung nghiên cứu - 35
2.1.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu - 35
2.1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu - 35
2.1.4 Phương pháp nghiên cứu - 35
1 Phương pháp điều tra số liệu - 35
2 Phương thức phân tích và xử lý số liệu -36
2.2 CÁC TIÊU CHÍ ĐỂ ĐÁNH GIÁ LỰA CHỌN MÔ H ÌNH - 36
2.2.1 Kinh tế xã hội -36
2.2.2 Tổ chức đánh bắt - 37
2.2.3 Cách thức hoạt động của mô hình -37
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU - 39
Trang 33.1 Kết quả điều tra thực trạng về tàu thuyền tại địa phương nghiên cứu -39
3.1.1 Các thông số cơ bản của tàu thuyền -39
3.1.2 Thực trạng thuyền viên - 44
3.1.3 Thực trạng về trình độ thuyền viên trên địa bàn nghiên cứu -48
3.2 THỰC TRẠNG HÌNH THỨC TỔ CHỨC SẢN XUẤT - 48
3.2.1 Mô hình tổ chức đánh bắt đơn lẻ - 48
1 Mô hình đánh bắt đơn lẻ theo kiểu tàu KH1953TS - 48
a) Tàu thuyền - 48
b) Kết quả hoạt động thực tế của mô h ình -51
c) Các yếu tố nguy cơ, tiềm ẩn gây tai nạn cho mô hình tàu KH1953TS -53
d) Nhận xét và đánh giá -55
2 Mô hình đánh bắt đơn lẻ theo kiểu tàu KH6342TS - 57
a) Tàu thuyền - 57
b) Kết quả của hoạt động thực tế - 60
c) Yếu tố nguy cơ, tiềm ẩn gây tai nạn của mô hình tàu KH6342TS -61
d) Nhận xét và đánh giá -62
3.2.2 Mô hình đánh bắt theo hình thức cha con -63
1 Hình thức cha con ông Đặng Bợ - 63
a) Tàu thuyền - 63
b) Kết quả hoạt động thực tế của nhóm cha con ông Đặng Bợ - 69
c) Yếu tố nguy cơ, tiềm ẩn tai nạn cho tàu và người - 72
d) Nhận xét và đánh giá -74
2 Mô hình đánh bắt kiểu cha con ông Huỳnh Qúy -75
a) Tàu thuyền - 75
b) Kết quả hoạt động thực tế của cặp t àu trong một chuyến biển - 78
c) Nguy cơ, tiềm ẩn gây nhiều tai nạn - 80
d) Nhận xét và đánh giá -81
3.2.3 Mô hình đánh bắt theo nhóm - 81
1 Mô hình tổ chức sản xuất theo nhóm có 2 – 3 tàu - 82
a) Tàu thuyền - 82
b) Kết quả hoạt động hình thức tổ chức sản xuất -87
Trang 4c) Yếu tố nguy cơ tiềm ẩn gây tai nạn cho người và tàu - 91
d) Nhận xét và đánh giá -92
2 Mô hình tổ chức đánh bắt theo nhóm có 4 – 6 tàu - 93
a) Tàu thuyền - 93
b) Kết quả thực tế hình thức tổ chức sản xuất của nhóm - 100
c) Yếu tố nguy cơ tiềm ẩn gây tai nạn - 101
d) Nhận xét và đánh giá - 103
Nhận xét chung - 103
3.3 PHÂN TÍCH LỰA CHỌN MÔ HÌNH - 105
3.3.1 Tổ chức khai thác theo chuyến biển phối hợp kiểu cuốn chiế u - 105
3.3.2 Tổ chức khai thác theo chuyến biển phối hợp có t àu mẹ chuyên làm nhiệm chế biến, chuyển tải - 106
3.4 LỰA CHỌN, XÂY DỰNG MÔ HÌNH - 107
3.4.1 Thông số mô hình tàu cần lựa chọn - 108
1 Tính toán số tàu cần thiết cho mô hình - 108
2 Số lượng thuyền viên cần có trên tàu - 109
3 Trang bị hàng hải, vô tuyến điện, phòng nạn trên tàu mô hình - 110
3.4.2 Phương thức hoạt động của đội tàu - 110
3.4.3 Lập biểu đồ hoạt động của đội tàu - 111
3.5 ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT - 113
3.6 ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN, ÁP DỤNG V ÀO THỰC TẾ - 113
3.7 VẤN ĐỀ MỞ RỘNG - 115
ĐỀ XUẤT Ý KIẾN - 116
1 Về phía cơ quan chức năng - 116
2 Về phía ngư dân - 117 KẾT LUẬN
Trang 5DANH MỤC VIẾT TẮT
1 TNHH TM&DV Trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ
Các tàu hoạt động nghề khai thác thủy sản nói chung v à nghề câu cá ngừ đạidương ở Khánh Hòa chủ yếu là tổ chức sản xuất đơn lẻ, trong khi ngư dân chỉ dựavào kinh nghiệm để đi đánh bắt, trình độ hiểu biết về khoa học công nghệ c òn rấtthấp kết hợp với tình trạng tàu thuyền và các trang thiết bị trên tàu chưa được đảmbảo nên vấn đề mở rộng ngư trường đánh bắt còn hạn chế, năng xuất đánh bắt ch ưacao và vấn đề an toàn trong sản xuất chưa được đảm bảo, còn có quá nhiều nguy cơtiềm ẩn gây tai nạn cho người và tàu thuyền
Tuy vậy, theo như Chỉ thị số 03/2006/CT-BTS ngày 27/03/2006 V/v Tăng
cường quản lý hoạt động khai thác thủy sản trên các vùng biển Việt Nam “…Trong
T
Trang 6khai thác thuỷ sản xa bờ: Chưa xây dựng được mô hình tổ chức khai thác xa bờ, hiệu quả hoạt động khai thác thuỷ sản ở v ùng biển xa bờ của nhiều tàu cá còn thấp…”.
Và ngày 09/08/2006 Bộ Thủy sản đã có Thông báo số : 1729/TB-BTS V/v Kếtluận của Thư trưởng Lương Lê Phương tại Hội thảo Quản lý, khai thác v à tiêu thụ
cá ngừ đại dương có đánh giá “…Tổ chức sản xuất còn đơn lẻ, chi phí sản xuất lớn, công tác hỗ trợ, cứu hộ, cứu nạn và đảm bảo an toàn trên biển gặp nhiều khó khăn Bước đầu hình thành tổ đội liên kết khai thác trên biển ở các địa phương ”
Xuất phát từ yêu cầu thực tế cần thiết phải xây dựng l ên một mô hình tổ chứcsản xuất nghề câu cá ngừ đại d ương thông qua thực trạng sản xuất hiện có nhằmđảm bảo được an toàn trong sản xuất đánh bắt, mở rộng được ngư trường đánh bắtvới chi phí nhiên liệu và thời gian ít nhất cuối cùng đưa đến lợi nhuận trong mỗichuyến biển được nâng cao Với yêu cầu muốn giúp cho sinh viên thực tập tốtnghiệp nắm bắt được thực tế công việc, Khoa Khai thác H àng hải trường Đại học
Nha Trang đã giao cho tôi thực hiện đồ án tốt nghiệp đại học : “Điều tra hiện trạng
về hình thức tổ chức sản xuất của tàu câu cá ngừ đại dương tại phường Xương Huân, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa ”.
Đề tài gồm có những nội dung cần phải thực hiện nh ư sau :
Chương 1 : Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương 2 : Phương pháp nghiên c ứu
Chương 3 : Kết quả nghiên cứu
Chương 4 : Kết luận và đề xuất ý kiến
Mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng để hoàn thành tốt nội dung của đồ án nhưng do trình độ hiểu biết còn hạn chế cũng như điều kiện thực hiện gặp nhiều khó khăn nên những kết quả điều tra, khảo sát đ ược thể hiện trong đồ án này còn nhiều thiếu sót Em rất mong nhận đ ược sự góp ý chân thành từ các Thầy Cô giáo trong Khoa, đặc biệt là Thầy giáo hướng dẫn : TS Phan Trọng Huyến Tôi cũng mong nhận được sự phê bình, góp ý từ bạn đọc để đồ án tốt nghiệp n ày cũng như sự hiểu biết về vấn đề nghiên cứu được hoàn thiện và sâu sắc hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Nha Trang, ngày 12 tháng 11 năm 2007
Trang 7Người thực hiện
Tô Văn Phương
LỜI CÁM ƠN - -
ời đầu tiên cho tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cha Mẹ và gia đình tôi Những người đã sinh ra và dày công nuôi dưỡng tôi trong suốt quãng đời đi học của mình để tôi có được như ngày hôm nay.
Tôi xin chân thành cám ơn đến các Qúy cơ quan Sở Thủy sản, Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản Khánh Hòa, Ủy ban Nhân dân phường Xương Huân thành phố Nha Trang, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Khánh Hòa, Đồn Biên phòng 372, Ban lãnh đạo cảng Hòn Rớ, Đội tàu câu cá ngừ đại dương của công ty KT, TM&DV Hải sản Đại Dương và toàn thể bà con ngư dân địa phương đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình điều tra, khảo sát và thu thập số liệu.
Và xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến các Thầy Cô giáo trong tr ường Đại học Nha Trang đã dạy dỗ tôi trong suốt quãng đời sinh viên Đặc biệt tôi xin bày tỏ lóng biết
ơn sâu sắc nhất đến Thầy giáo TS Phan Trọng Huyến, người đã dày công trực tiếp
uốn nắn kịp thời những sai sót, chỉ b ảo và hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện, cuối cùng xin cám ơn chân thành đến tập thể các bạn sinh viên trong lớp 45ATHH
đã giúp đỡ, động viên trong lúc khó khăn để tôi hoàn thành đồ án tốt nghiệp này.
Một lần nữa tôi xin chân thành cám ơn !
Nha Trang, ngày 12 tháng 11 năm 2007
L
Trang 8Người thực hiện
Tô Văn Phương
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHI ÊN CỨU
1.1 Đặt vấn đề :
Trong mọi ngành kinh tế, khi mà các yếu tố hợp thành một quy trình sản xuất
từ yếu tố tìm hiểu nguồn nguyên nhiên liệu, nguồn nhân lực phục vụ sản xuất kinhdoanh, quá trình tổ chức sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm…Tất cả phải đượcvận hành một cách thông suốt, phải được gắn kết “hữu cơ ” với nhau
Một trong các ngành kinh tế đó là ngành khai thác biển, với lợi thế là một đấtnước có bờ biển dài 3260km, rất thuận lợi cho Việt Nam phát triển kinh tế biển.Trong đó ngành khai thác thủy sản chiếm một vị trí rất quan trọng trong sự pháttriển đó, đặc biệt là ngành khai thác xa bờ
Trong ngành khai thác xa bờ, khai thác cá ngừ là đối tượng đã được Bộ Thủysản ưu tiên lựa chọn để thực hiện chủ trương xây dựng cơ chế, chính sách nhằmphát huy năng lực quản lý, khai thác của cộng đồng ng ư dân trong việc gắn kết chặtchẽ các khâu : khai thác, bảo quản sản phẩm sau khi thu hoạch, tổ chức sản xuẩn,chế biến và tiêu thụ sản phẩm lấy khoa học công nghệ l àm nền tảng phát triển.Trong việc đánh bắt hải sản nói chung v à nghề câu cá ngừ đại dương nói riêng,các yếu tố khoa học công nghệ ảnh h ưởng đến năng xuất, hiệu quả đánh bắt v à vấn
đề đảm bảo an toàn trong sản xuất bao gồm : Ngư trường và nguồn lợi, Công nghệkhai thác, loại ngư cụ, Phương tiện đánh bắt, Hình thức tổ chức đánh bắt và Kinhnghiệm khai thác, kinh nghiệm hàng hải trong quá trình đi khai thác xa bờ củathuyền trưởng…thì yếu tố hình thức tổ chức sản xuất đặc biệt quan trọng, có ýnghĩa rất lớn đến việc khai thác hiệu quả, an to àn trong khai thác của chủ tầu,thuyền trường
Trên thế giới việc nghiên cứu và phát triển các loại hình tổ chức đánh bắttheo nhóm, tập đoàn đã áp dụng, đặc biệt là đánh bắt theo các mô hình hạm đội theohình thức hệ thống khép kín trong một doanh nghiệp, công ty từ khâu chuẩn bị rangư trường, khai thác đánh bắt, bảo quản v à tiêu thụ sản phẩm Trong đó có một tàu
Trang 9mẹ chuyên làm nhiệm vụ chế biến sản phẩm và chuyển tải các nhu yếu phẩm,nguyên nghiên liệu, lương thực thực phẩm cho các tàu đánh bắt trên biển của hạmđội…
Khánh Hòa có nhiều đảo ven bờ đặc biệt có đảo lớn nhất l à đảo Hòn Tre vớidiện tích là 36 km2, các đảo Hòn Miếu, Hòn Tằm, Hòn Mun đều lớn trên 1 km2.Đảo lớn nhất nằm trong vịnh là Hòn Lớn (ở vịnh Vân Phong) có diện tích 44 km2.Khánh Hòa có nhiều bán đảo lớn, bán đảo Hòn Hèo có diện tích 146 km2, bán đảoCam Ranh: 106 km2, bán đảo Hòn Gốm: 83 km2
Khánh Hòa có 2 sông có trữ lượng nước phong phú nhất là: Sông Cái ở NhaTrang có lưu vực khoảng 1800 km2 và sông Dinh ở Ninh Hòa có lưu vực 800 km2.Lưu vực của toàn bộ các sông, suối ở Khánh Hòa tới 3000 km2 Đây là những yếu
tố hết sức thuận lợi cho sự phát triển nghề cá trong tỉnh
2/ Đặc điểm kinh tế xã hội :
Vùng biển Khánh Hòa có nghề cá phát triển sớm và đã tiếp cận với kỹ thuậtkhai thác cơ giới theo kiểu tư bản chủ nghĩa năm 1965
Năm 2001 sản lượng cá biển đạt 66.130tấn, số l ượng tàu thuyền là 4.812chiếc, sản lượng cá nước ngọt là 33.000 tấn Cho đến năm 2002, sản lượng cá biển
là 66.500 tấn, số lượng tàu thuyền là 4.901 chiếc, sản lượng cá nước ngọt là 17.500tấn
Trang 10Xuất phát từ điều kiện thuận lợi của thi ên nhiên và kinh nghiệm của ngư dân,
từ lâu nhiều làng cá đã được hình thành như : Đại Lãnh, Đầm Môn, Khải Lương,Hòn Khói, Tân Thủy, Ngọc Diêm, Lương Sơn, Cù Lao, Bãi Miếu, Bình Tân…nếunhư nghiên cứu lịch sử và điều kiện hình thành của các làng này tốt thì có thể trên
cơ sở đó quy hoạch hoặc phát triển mở rộng các l àng cá sẽ giúp ích được rất nhiều,tránh được những áp đặt chủ quan, thiếu c ơ sở khoa học
1.2.2 Phân bố dân cư nghề cá theo đơn vị hành chính:
Cụm dân cư nghề cá tỉnh Khánh Hòa được phân bố ở các khu vực thành phố
và các huyện, thị xã có mặt giáp biển được thể hiện qua bảng tổng hợp sau :
Bảng 1.1 : Phân bố dân cư nghề cá tỉnh Khánh Hòa :
STT Thành phố
Nha Trang
Thị xã Cam Ranh
Huyện Vạn Ninh
Huyện Ninh Hòa
Trang 11Vĩnh Thọ Cam Bình Đại Lãnh Ninh Hải
Vĩnh Phước
PhườngCam Linh
XãVạn Thọ Xã Ninh Diêm
Xương Huân
PhườngCam Lợi
XãVạn Long Xã Ninh Thuỷ
Vĩnh Trường
PhườngCam Thuận
XãVạn Thắng
XãNinh Vân
Phước Đồng
XãCam Phú
Thị trấnVạn Giã
XãNinh Ích
Vĩnh Lương
XãCam Phúc Bắc Xã Vạn Hưng
XãNinh Lộc
XãNinh Hà
Cam Hải Đông Xã Vạn Thạnh
XãNinh Phú
Bắc
Cam Lập
1.2.3 Đặc điểm khí hậu thủy văn :
Khánh Hòa thuộc vùng khí hậu nhiệt đới ẩm điển hình, độ ẩm 70-80%, lượngmưa trung bình là 1300-1700mm Nhiệt độ trung đình hàng năm là 26,40 Xu thếchung, mùa có nhiệt độ cao kéo dài từ tháng 5 – 9, mùa có nhiệt độ thấp nhất là từtháng 12 đến tháng 2 Ở Khánh Hòa không có mùa đông rõ rệt, chỉ có 2 mùa là mùakhô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 8, còn mùa mưa rất ngắn kéo dài từ thảng 9 – 12,riêng 4 tháng này lượng mưa đã đạt đến 1000mm
Nhiệt độ nước biển tầng mặt có giá trị trung b ình cực đại là 31,30C và giá trị cựctiểu là 23,40C, độ mặn có giá trị cực đại là 35,820/00 và đạt cực tiểu là 30,110/00
Trang 12Riêng ở trong đầm, có nơi độ mặn tăng lên đền 410/00 vào mùa khô và xuống tới 10/00
vào mùa mưa Độ pH của nước biển Khánh Hòa dao động từ 7 ÷ 7,5
1.2.4 Ngư trường hoạt động nghề cá Khánh H òa :
Ngư trường hoạt động của tàu cá tương đối rộng từ Khánh Hòa đến KiênGiang, trong đó nhiều thuyền nghề hoạt động xa bờ nh ư nghề câu cá ngừ đạidương (kéo dài từ quần đảo Hoàng Sa đến quần đảo Trường Sa), nghề lưới kéo(ngư trường chính từ Ninh Thuận đến B à Rịa – Vũng Tàu), nghề lưới cản (ngưtrường chính ở Bà Rịa – Vũng tàu, Kiên Giang, Cà Mau) và nghề vây (ngư trườngchính ở Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận)
Ở vùng biển Khánh Hòa có 3 ngư trường truyền thống gồm:
+ Ngư trường Bắc Khánh Hòa từ vĩ tuyến 12030’N trở lên
Nghề truyền thống: giã đơn, vây rút chì, rê lộng, đăng, trũ bao ánh sáng, giãđôi, pha xúc, vó mành, lưới cước…
+ Ngư trường Nha Trang nằm trong phạm vi từ vĩ tuyến 12000’N đến 12030’ N Nghề truyền thống: giã đơn, trũ rút ánh sáng, đăng, vó mành ánh sáng, pha xúc,vây rút chì, câu, lưới cản, lưới chồng, lưới hai, giả đôi…
+ Ngư trường Nam Khánh Hòa từ vĩ tuyến 12000’N trở xuống phía Nam
Ở đây ngư dân có nghề truyền thống: giã đơn, trũ rút, pha xúc, vây rút chì, giả đôi…
Ngư trường nghề câu cá ngừ đại dương tỉnh Khánh Hòa :
Nghề câu cá ngừ đại dương hoạt động từ tháng 11 đến tháng 7 âm lịch (m ùa vụchính - mùa vụ Bắc), từ tháng 8 đến tháng 10 âm lịch (m ùa vụ phụ - mùa vụ Nam),ngư trường khai thác thay đổi theo thời gian trong năm Đầu năm, t àu câu địaphương hoạt động ở vĩ độ cao, quanh quần đảo Tr ường Sa khoảng (120 – 170N ;
1110– 1170E), vào mùa vụ Nam di chuyển xuống phía Nam (60–100E ;1100-1150E)
1.2.5 Năng lực tàu thuyền nghề cá :
Theo kết quả thống kê của Sở Thủy sản Khánh Hòa thì số lượng tàu thuyềncủa tỉnh tính đến năm 2006 là 5562 chiếc đạt khoảng 220.000CV, trong đó đánh bắt
xa bờ vào khoảng hơn 400 chiếc giới hạn từ 90CV đến 450CV với tổng công suấtkhoảng 70.000CV, được thể hiện qua bảng số liệu sau :
Bảng 1.2 : Cơ cấu Tàu thuyền khai thác hải sản giai đoạn 2002 -2006:
Trang 132002 2003 2004 2005 2006
Chiếc
(Biểu đồ 1.1 : Biểu đồ thể hiện số lượng tàu thuyền qua các năm từ 2002 – 2006 )
Nhận xét :
Qua biểu đồ 1.1 ta thấy rằng số lượng tàu thuyền của tỉnh Khánh Hóa qua
các năm đều tăng với 4901 chiếc (năm 2002) đã tăng lên 5562 chiếc (năm 2006)
tức là tăng khoảng 1,13% Qua đây cũng có thể hiểu đ ược rằng, ngành thủy sản củađịa phương vẫn phát triển ngày một tăng về số lượng đi đôi với chất lượng, thể hiệnđược sự quan tâm thích đáng của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương cùng
bà con ngư dân trong việc phát triển lĩnh vực thủy sản
Bảng 1.3 : Cơ cấu nghề nghiệp khai thác hải sản tính đến năm 2006:
Trang 145 150-<400CV 6 5 22 9 24
( Nguồn :Phòng Kỹ thuật sở - Sở Thủy sản Khánh Hòa )
Đánh giá tàu thuyền theo nghề năm 2006:
0 500 1000 1500 2000 2500
khác
Số lượng
( Biểu đồ 1.2 :Biểu đồ thề hiện số lượng tàu thuyền các nghề năm 2006 )
Nhận xét :
Qua biểu đồ 1.2 ta thấy số lượng tàu thuyền khai thác theo nghề năm 2006
của toàn tỉnh phân bố không đồng đều Trong khi nghề lưới Kéo, Rê, Câu chỉ
chiếm tỷ lệ tương ứng là : 12,98% ; 12,13% ; 7,64% trong tổng số lượng tàu thuyền toàn tỉnh Thì số lượng tàu thuyền nghề lưới Vây là 25,08%, đặc biệt tàu thuyền nghề khác là khá lớn chiếm khoảng 42,16% so với tổng số tàu thuyền của
toàn tỉnh Lý giải cho sự không đồng đều n ày là do đặc điểm địa hình, đặc điểmcũng như phạm vi ngư trường mà tàu của địa phương hoạt động phù hợp với nghềlưới Vây và các nghề khác
Bảng 1.4 : Bảng thống kê lượng tàu thuyền theo địa phương :
Phân chia công suất Địa phương Tổng tàu
thuyền ( chiếc)
Tổng công suất (cv) <20 20 - 75 75 - 90 >=90
NghềChiếc
Trang 15(Nguồn : Chi cục BVNLTS – Sở Thủy sản Khánh Hòa )
Đánh giá tàu thuyền theo địa phương :
Số lượng (chiếc) Công suất(cv)
( Biểu đồ1.3: Biều đồ thể hiện số lượng, công suất tàu theo địa phương 6/2007)
Nhận xét :
Nhìn vào biểu đồ ta thấy tổng số lượng tàu, công suất tàu ở các địa phươnghuyện, thị trong tỉnh Khánh Hòa có sự phân bố không đều Cụ thể, huyện Di ênKhánh chiếm với tỷ lệ rất nhỏ với chỉ có 1 chiếc t àu công suất >90cv trong tổng số
5738 chiếc; Ninh Hòa chiếm 8,7% ( Số lượng ), 4,74% (công suất) trong toàn tỉnh;
Vạn Ninh chiếm 15,63%(số lượng), 9,90% (công suất) trong to àn tỉnh; Cam Ranhchiếm với lượng tương đối là 23,75% (số lượng), 14,58%(công suất); Tp.Nha Trangchiếm lớn nhất với xấp xỷ 52%(số lượng), 70,63% (công suất) trong to àn tỉnh Đây
là số liệu sát với thực tế về địa hình, vị trí địa lý của huyện thị trong tỉnh, chẳng hạnnhư Diên Khánh là một huyện giáp rất ít với biển, Thị x ã Cam Ranh và Tp.NhaTrang là 2 địa phương có vị trí địa lý cộng với sự đầu tư phát triển mạnh trong lĩnhvực thủy sản nên chiếm tỷ lệ rất cao trong toàn tỉnh
1.2.6 Khu neo đậu tàu thuyền:
Trang 16UBND tỉnh thông báo về việc quy định khu vực neo đậu t àu thuyền trên địabàn tỉnh để đảm bảo an toàn cho tàu thuyền và tính mạng của bà con ngư dân trongmùa mưa bão.
Vị trí neo đậu được quy định như sau:
Khu Vũng Rô: Vị trí địa lý: 12051/52//N - 109025/24//E Diện tích khu vực 500
ha Khoảng cách từ Đại Lãnh đến Vũng Rô là 10 km
Vũng Ké: Vị trí địa lý: 12039/36//N - 109022/45// E Diện tích khu vực 400 ha.Cách xa bến đò Vạn Giã 25 km
Khu vực hạ lưu cầu Hiền Lương và Cầu Tréo: Vị trí địa lý: 12040/44//N
-109013/07//E Diện tích khu vực 20 ha
Khải Lương: Vị trí địa lý: 12035/30//N - 109024/03//E
Hòn Rớ: Vị trí địa lý: 12011/38//N - 109012/05//E Diện tích khu vực 100 ha
Bình Ba: Vị trí địa lý: 12050/36/N - 109014/10//E Diện tích khu vực 75 ha
Vịnh Cam Ranh: Vị trí địa lý: 12054/17//N - 109008/08//E Diện tích khu vực
300 ha
Riêng các tàu thuyền khi neo đậu trong khu vực cửa sông Cái phải thực hiệnđúng các quy định sau: Nghiêm cấm neo đậu trong khu vực hành lang bảo vệ cầuđường sắt và cầu đường bộ, không buộc tàu vào chân cầu, trụ cầu
Trang 17Chiều dài cầu tàu: 200m
Độ sâu vùng nước trước cảng: 4m, Cỡ loại tàu thuyền vào cảng an toàn:tàu có công suất 500 CV, chiều dài tới 28m
Các điểm giới hạn có toạ độ sau:
A(12012’056N; 109011’750E) cách đầu cầu cảng phía Tây Bắc 136,3m
B(12011’869N; 109011’922E) cách đầu cầu cảng phía Đông Nam199,7m
C(12012’056N; 109011’669E) cách tường rào cảng phía Tây Bắc 57m
D(12011’869N; 109011’841E) cách tường rào cảng phía Đông Nam165m
b)Vùng cảng cá Đá Bạc Cam Ranh:
o Chiều dài vùng nước: 143 m
o Chiều rộng vùng nước: 100 m
o Ví trí cầu cảng: (11054’116N; 109008’538E)
o Chiều dài cầu tàu: 60m
o Độ sâu vùng nước trước cảng: 4m
o Cỡ loại tàu thuyền vào cảng an toàn: tàu có công suất 500 CV, chiều dài tới30m
Các điểm giới hạn có toạ độ sau:
o A(11053’933N; 109008’506E) cách đầu cầu cảng chính phía Đông 207m
o B(11054’124N; 109008’417E) cách đầu cầu cảng chính phía Tây 225m
o C(11054’113N; 109008’640E) cách cổng tường rào cảng phía Đông 102m
o D(11054’252N; 109008’553E) cách đầu cầu cảng tàu nhỏ phía Tây 100m
c)Vùng cảng cá Vĩnh Trường:
Chiều dài vùng nước: 143 m
Chiều rộng vùng nước: 100 m
Ví trí cầu cảng: (12012’081’’N; 109011’072E)
Chiều dài cầu tàu: 41m
Độ sâu vùng nước trước cảng: 3m
Cỡ loại tàu thuyền vào cảng an toàn: tàu có công suất 250 CV, chiều dài tới20m
Trang 18 Các điểm giới hạn có toạ độ sau:
- A(12012’047N; 109012’029E) cách đầu cầu cảng phía Nam 114m
- B(12012’117N; 109012’020E) cách đầu cầu cảng phía Bắc 110,5m
- C(12012’047N; 109012’083E) cách đầu cầu cảng phía Nam 55m
- D(12011’869N; 109011’841E) cách đầu cầu cảng phía Bắc 47m
Số tàu có thể tiếp nhận
Các nghề chính
Hình thức quản lý
Cù Lao (Quy hoạchlại)
150
Câu vàng, Rêtrôi,Giã càođôi
Nhà nướcquản lý
Câu vàng, Rêtrôi, Giã càođôi, Mành,Vây ánh sáng
Nhà nướcquản lýNha Trang
Vĩnh
Mành, Vây cácơm
Nhà nướcquản lý
Giã đơn, giãđôi, Vây ánhsáng
Hình thành
tự phát
nhânCầu Ông
Trang 19Đại Lãnh 150 Lưới giã, Trũ
nhânVạn Hưng
(ThônXuân Tự)
tự phátVạn Hưng
(ThônXuân Hà)
1.2.8 Những chính sách, chủ trương phát triển nghề cá của tỉnh Khánh Hoà.
Thực hiện Quyết định số 131/2004 /QĐ-TTC ngày 16/7/2004 của Thủ tướngChính phủ “Phê duyệt chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm2010”
Công văn số 2264/TS-KT/BVNLTS ngày 5/10/2004 c ủa Bộ Thủy sản “V/vtriển khai thực hiện chương trình 13”
Trang 20Sở Thủy sản tỉnh Khánh Hòa xây dựng “Chương trình Bảo vệ và Phát triểnNguồn lợi thủy sản tỉnh Khánh Hòa đến năm 2010”.
Triển khai Chỉ thị 01/1998/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc nghiêmcấm sử dụng chất nổ, xung điện, chất độc để khai thác thủy sản
1.2.9 Giới thiệu chung về phường Xương Huân – Nha Trang.
1/ Vị trí địa lý phường Xương Huân :
Xương Huân là một phường nội thành của thành phố Nha Trang – KhánhHòa, phía bắc giáp sông Cái và phường Vĩnh Thọ, phía nam giáp ph ường Lộc Thọ,phía đông giáp phường Vạn Thạnh và chợ Đầm là một trong các phường trọngđiểm nội thành thuộc khối biển của Nha Trang, với ½ chu vi của phường chạy dọctheo dòng sông Cái và theo một phần dọc bờ biển Nha Trang Với diện tích khoảng0.63Km2, với 2150 hộ và khoảng trên 13.850 nhân khẩu Với đặc điểm trên 50%dân số của phường hoạt động bằng nghề đánh bắt hải sản, 215 t àu thuyền tập trungtại các khu vực Cồn Tân Lập và đường Cồn Giữa ( gồm 07 tổ dân phố )
Là một phường nội thành nhưng có địa hình ven sông, ven biển nên cónhững thuận và khó khăn sau :
Về mặt thuận lợi : Nhân dân tự phát triển nghề truyền thống từ v à đánh bắt
thủy sản từ xưa, bao gồm các ngành nghề chủ yếu như lười cản nilo, câu cá ngừ đạidương, câu cá mực…và kinh doanh thương mại dịch vụ, du lịch đã góp phần đáng
kể trong việc tăng thu nhập cho các hộ gia đình, ổn định phát triển kinh tế của giađình và địa phương
Tuy nhiên, Phường Xương Huân cũng không ít khó khăn như bị ảnh hưởngnhiều do thiên tai lũ lụt, vì sát biển nên dễ bị triều cường lũ lụt cuốn trôi đối với một
số nhà sàn bằng gỗ trên sông, sát sông, sóng to, gió l ớn làm tốc mái, nhà cửa hư hại.Mặt khác, gần đây những đợt tràn dầu từ biển khơi vào dọc bờ biển gây ô nhiễmmôi trường Nhất là trong cơn bão số 9 ( Durian) năm 2006 vừa qua
2/ Đặc điểm kinh tế-xã hội :
Xương Huân là một trong những phường trọng điểm, có phong trào văn hóa,thể dục thể thao phát triển mạnh trong những năm gần đây
Về kinh tế :
Trang 21Xương Huân là phường trọng điểm về ngành kinh tế biển – thủy sản ( vớitrên 50%) nên trong thời gian tới phường tiếp tục phát triển mạnh nghề đánh bắtthủy sản xa bờ phát triển các nghề truyền thống l àm mắn và chế biến thủy sản.Ngoài ra, việc phát triển các dịch vụ, du lịch với hệ thống các nh à hàng, khách sạn
là một chiến lược phát triển lâu dài của phường
Kinh tế thủy sản của phường Xương Huân :
Phát triển nghề khai thác xa bờ bằng việc tăng công suất t àu thuyền và sảnlượng đánh bắt Do xương Huân không có mặt bằng nước để phát triển nuôi trồngthủy sản nên chính quyền đã tạo điều kiện cho một số người dân đi nơi khác làmnghề nuôi trồng thủy sản
Trong các năm từ 2000-2006, sản lượng đánh bắt thuỷ sản trung b ình toànphường đạt khoảng 5000 tấn, trong đó các năm từ 2000 – 2002 có mức độ sảnlượng đáh bắt cao, nhưng lại giảm xuống dần vào 2 năm 2003, 2004 do thời tiết bấtthường, khắc nghiệt có nhiều bão tố, áp thấp nhiệt đới hoành hành trên biển Và sảnlượng khai thác lại có xu hướng tăng dần trong năm 2006 – 2007
1.3 Tình hình nghiên cứu về tổ chức sản xuất nghề câu cá ngừ đại d ương trong nước và thế giới :
1.3.1 Tình hình phát triển nghề cá ngừ thế giới :
Sản xuất cá ngừ nói chung và cá ngừ đại dương nói riêng là một nghề sảnxuất công nghiệp tiên tiến của nghề cá thế giới Mặt hàng cá ngừ và sản phẩm chếbiến từ cá ngừ chiếm vị trí quan trọng trong c ơ cấu các mặt hàng xuất khẩu và tiêudùng nội địa của nhiều nước
Với những tiến bộ về nghiên cứu nguồn lợi, công nghệ và phương pháp khaithác cá ngừ cũng được cải tiến Công nghệ khai thác cá ngừ bằng l ưới vây cũngđược phát triển ở hầu hết khắp vùng biển, kỹ thuật câu tay, vàng câu, câu chạy cũngđược cải tiến đáng kể Hiện nay, tr ên thế giới các nghề câu, vây…đều khai thác ởcác vùng biển khơi từ 400S – 400N Trong đó sản lượng cá ngừ khai thác bằng lướivây chiếm tỷ trọng cao nhất Các nước có nghề lưới vây công nghiệp phát triểnmạnh nhất trên thế giới như : Nhật, Mỹ, Tây Ban Nha, Pháp…với ph ương thứcđánh bắt, trang thiết bị máy móc phục vụ sản xuất, h àng hải hiện đại và khai thácdài ngày trên biển ( vào khoảng 50 – 60 ngày) Ngoài ra, nghề câu vàng cũng được
Trang 22phát triển mạnh trong những năm trở lại đây với tr ình độ công nghệ không có sựkhác biệt nhau giữa các quốc gia, mà chỉ khác biệt về qui mô tàu thuyền và kỹ thuậtbảo quản sản phẩm sau thu hoạch.
Trong tổng số cá ngừ đánh bắt được, có khoảng 65% sản lượng đánh bắtđược ở Thái Bình Dương, khoảng 21% ở Ấn Độ Dương và 14% ở Đại Tây Dương.Trong cơ cấu về sản lượng theo loài, cá ngừ vằn là đối tượng quan trọng nhất với50% tổng sản lượng đánh bắt, kế sau là cá ngừ vây vàng chiếm khoảng 30%, cá ngừmắt to 10% và cá ngừ vây xanh là 5% trong tổng sản lượng cá ngừ thế giới
Ngày nay, nhu cầu tiêu thụ cá ngừ trên thế giới ngày càng tăng làm cho áp lựchai thác nguồn lợi cá ngừ ngày càng lớn Nhiều tổ chức nghề cá và quốc gia venbiển đã cảnh báo về sự suy giảm nguồn lợi cá ngừ đại dương như : Ủy ban quốc tếbảo vệ cá ngừ đại dương ( ICCAT), Ủy ban cá ngừ nhiệt đới Châu Mỹ (IATTC), Ủyban cá ngừ Ấn Độ Dương (IOTC)
1.3.2 Tình hình phát triển nghề cá ngừ trong nước :
Nghề khai thác cá ngừ đại dương ở nước ta đã phát triển khá mạnh mẽ trongnhững năm gần đây và có xu hướng gia tăng trong những năm tới Năm 2004 cángừ đại dương ước tính đạt 20.000 tấn, vùng biển Việt Nam cá xuất hiện quanhnăm, mùa vụ khai thác chính là từ tháng 2 đến tháng 7 và tháng 10 đến tháng 11,riêng vùng biển Vịnh Bắc Bộ cá ngừ thường xuất hiện với mật độ cao ở gió m ùaTây Nam Được sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, sự hỗ trợ kỹ thuật của Tổngcông ty Hải sản Biển Đông, cùng sự cần cù chịu khó học hỏi kinh nghiệm của ng ưdân, nghề câu cá ngừ đại dương đã nâng sản lượng khai thác xa bờ của ngành lên550.000 tấn, góp phần tăng kim ngạch v à mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu, bảo vệ anninh chủ quyền quốc gia, đẩy mạnh phát triển kinh tế x ã hội ven biển
Sản lượng khai thác cá ngừ từ năm 2001- 2004 được thể hiện trong bảng sau:Bảng 1.7 : Đánh giá sản lượng khai thác cá ngừ 01 – 04
Tổng SL đánh bắt 1.347.800 1.434.800 1.426.233 1.724.200
Trang 23Năm 2005 sản lượng khai thác cá ngừ đại dương ước đạt 11.000 tấn, tươngđương giá trị khoảng 850 tỷ đồng Nhận thức được vai trò quan trọng của nghề sảnxuất cá ngừ đại dương trong thời gian qua Bộ Thuỷ sản đã chọn cá ngừ đại dương làđối tượng muc tiêu ưu tiên để phát triển nghề cá xa bờ.
Hiện nay cả nước có khoảng 1670 tàu chuyên câu cá ng ừ Khoảng 45 trong
số đó là tầu câu cá ngừ công nghiệp, trang thiết bị khai thác và bảo quản sản phẩmhiện đại của các doanh nghiệp như Tổng công ty Hải sản Biển Đông, Công tyTNHH TM&DV hải sản Đại Dương, Công ty tư nhân Mạnh Hà… Số còn lại là tàutruyền thống được cải hoán từ các tàu lưới rê và câu đáy của ngư dân
1.3.3 Nghề khai thác cá ngừ tại Khánh Hoà :
Nghề câu cá ngừ đại dương phát triển sớm ở Phú Yên và Khánh Hòa đã họctập được từ năm 1996 Đến thời điểm hiện nay tỉnh Khánh H òa có trên 300 chiếctham gia khai thác cá ngừ đại dương
Nghề câu cá ngừ của tỉnh chủ yếu tập trung tại một số ph ường của thành phốNha Trang, Tàu thuyền chủ yếu là tàu vỏ gỗ, dạng tàu dân gian Khánh Hòa, có côngsuất từ 45 – 400 cv Do ngư trường xa bờ và thường xuyên hoạt động dài ngày trênbiển nên các tàu câu cá ngừ đều được trang bị các thiết bị hiện đại nh ư máy định vị
vệ tinh, máy tầm ngư, máy thông tin liên lạc tầm gần, một số tàu trang bị máy liênlạc tầm xa hiệu ICOM, alinco…Đối t ượng khai thác thường là cá ngừ mắt to, cángừ vây vàng, trong đó cá ngừ vây vàng có sản lượng khai thác khá cao Hàng năm,ngư dân Khánh Hoà khai thác đư ợc 1500 - 2000 tấn
Đối tượng khai thác :
Ở Việt Nam, cá ngừ phân bố ở cả vùng biển gần bờ lẫn vùng khơi, từ VịnhBắc Bộ đến vùng biển Nam Bộ, khu vực tập trung nhất l à vùng biển từ Đà Nẵngđến Khánh Hòa
Trong quá trình khai thác nghề câu cá ngừ tại tỉnh Khánh H òa, ngoài hai đốitượng chính là cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to, ngư dân Khánh Hòa còn khai thácđược những loài cá như cá Kiếm, cá Cờ, cá Ngừ Vằn,…
1.3.4 Quy trình tổ chức khai thác nghề câu Khánh H òa :
1 Công việc chuẩn bị :
Trang 24Một trong những công việc quyết định đến năng xuất, hiệu quả v à vấn đề antoàn trong mỗi chuyến biển chính là khâu chuẩn bị, khâu chuẩn bị trong mỗi chuyểnbiển của ngư dân thường có như : chuẩn bị đá cây bảo quản cá sau khi đánh bắt, dầu
mỡ, nhu yếu phẩm và lương thực thực phẩm cho thuyền viên trên tàu Đồng thời,kiểm tra và tu sửa lại các trang thiết bị khai thác, hàng hải, ngư cụ và chuẩn bị cácgiầy tờ xuất trình liên quan cho mỗi chuyến biển
Khởi hành :
Khi công việc chuẩn bị đã hoàn thành, chọn ngày xuất bến Để hành trình hànghải ra ngư trường được thuận lợi và an toàn thì thuyền trưởng cần phải tính toàn kỹlưỡng việc xác định hướng đi căn cứ vào hải đồ, định vị vệ tinh…đồng thời, trongquá trình tàu hành trình ra ngư trường thì thuyền viên trên tàu cũng cần phải kiểmtra lại toàn bộ các hệ thống liên kết trên ngư cụ, lưỡi câu, sắp xếp lại các hệ thốngdây triên, dây theo trong các sọt đựng và chuẩn bị mồi câu trước khi thả câu
2 Công việc đánh cá mồi :
Đặc điểm chính nghề câu cá ngư đại dương là mồi câu, hiện nay người tathường chuẩn bị cá mồi bằng hai cách : chuẩn bị mồi đ óng hộp mua sẵn ở bờ hoặcđánh cá mồi khi ra tới ngư trường Đối với ngư dân Khánh Hòa cá mồi thường đượcđánh bắt ở ngay trên ngư trường, người ta tiến hành đánh cá mồi bằng lưới cước đểbắt loại cá chuồn dùng làm mồi câu hoặc có thể mua hoặc đánh bắt mực xà từ câumực Qúa trình đánh bắt cá mồi kéo dài trong khoảng 3 tiếng (từ 6h – 9h sáng)
3 Quy trình thả câu :
Trong quá trình thả câu cần phải dịch chuyển các sọt đựng tri ên câu, thẻocâu, phao ganh, mồi câu đến các vị trí thường ngày làm việc ở các mạn trái, phải
Thả câu ( Qúa trình bủa câu):
Để quá trình thả câu được hiệu quả thì thuyền trưởng cần phải chọn hướnggió, hướng nước hợp lý từ đó đưa ra hướng bủa câu (thả câu) tối ưu Cần phải đảmbảo nguyên tắc trong quá trình thả lưới là : tàu dưới gió, câu cuối nước đồng thờicần phải tránh cho dây câu bị quấn v ào chân vịt
Khi thuyền trưởng ra lệnh thả câu thì một thủy thủ ném phao đầu câu có li ênkết với phao cờ xuống nước, một thủy thủ thả dây triên, một thủy thủ thả thẻo câu,
Trang 25một thủy thủ thả phao ganh Trong quá trình thả câu, thuyền trưởng cho tàu chạyvới tốc độ và phải theo hướng đã định sẵn lúc này dây triên, thẻo câu được thả từ từxuống đến hết vàng câu và thuyền trưởng sẽ điều khiển lên đầu gió vàng câu mộttầm nhìn thấy.
Trên thực tế, tốc độ móc mồi của một người từ 2-4 lưỡi/1 phút
Tốc độ thả câu từ : 400-600m/phút hoặc 500 lưỡi/1giờ
Thời gian bủa câu từ lúc 11h30’ – 13h chiều (tức vào khoảng 1h30’ – 2h30’)
4 Quá trình ngâm câu :
Thời gian ngâm câu khoảng 4 – 5 tiếng đồng hồ (5 – 7h tối) Trên thực tế,việc ngâm câu phục thuộc vào cả ngư trường hoạt động nhiều hay ít cá, mặt kháccũng tùy vào sự tính toán của thuyền trưởng khi mà thời gian ngâm câu càng nhiềuthì hiệu quả đánh bắt càng cao (sản lượng nhiều) vì trong thời gian ngâm câu, vàngcâu thường trôi theo dòng nước nhưng thời gian ngâm câu lâu quá nó sẽ ảnh h ưởngkhông nhỏ đến chất lượng sản phẩm cá đánh bắt dẫn đến việc ti êu thụ sản phẩm sẽkhông có giá thành cao
5 Quá trình thu câu :
Quá trình thu câu được tiến hành trong khoảng thời gian từ 7 hoặc 8 giờ tốicho đến 3-4 giời sáng hôm sau ( khoảng 7-8 giờ) Công việc thu câu được hoạt độngtheo nguyên tắc thả sau thu trước
6 Xử lý và bảo quản cá ngừ đại dương khai thác trên biển :
Theo Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III-Nha Trang kết hợp với việc đithực tế cho thấy Phương pháp xử lý và bảo quản cá ngư đại dương trên tàu đánh bắt
xa bờ, dài ngày trên biển của ngư dân các tỉnh khu vực miền Trung được tiến hànhnhư sau :
Ghi chú : √ : Công đoạn được thực hiện
* : Chỉ có tàu KH9143 - BTS thực hiện
Trang 26Quy trình xử lý và bảo quản cá ngừ đại dương :
1.3.5 Một số Mô hình tổ chức sản xuất hiệu quả của t àu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương của Việt Nam :
Đội tàu công suất lớn
Bao gói bảo quản
Bao gói bảo quản trong nướcbiển lạnh + khí CO2
Đội tàu ngư dân
Trang 271 Mô hình công ty TNHH Th ương mại và Dịch vụ Khai thác Hải sản Đại Dương:
Trong quá trình đi thực tế tại cảng cá Hòn Rớ, tôi đã được tiếp cận với anhTrần Trung Tuân – Thuyền phó tàu mẹ “Đại Dương 12” số ĐK: SG92466TS, đượcanh Tuân mô tả về mô hình tổ chức sản xuất mà đội tàu Đại Dương đã thực hiệntrong thời gian qua :
Công ty TNHH TM&DV Khai thác h ải sản Đại Dương được thành lập và đivào hoạt động tháng 03/2001 với sự chuyển giao công nghệ t àu thuyền chuyên dụng
và trang thiết bị hiện đại phục vụ cho sản xuất nghề câu cá ngừ đại d ương Sảnphẩm của công ty được xuất khẩu chính sang thị tr ường truyền thống Nhật Bản,
Mỹ, Úc…
Đội tàu khai thác của công ty gồm 9 chiếc được đánh bắt theo nhóm, có tàu
mẹ làm nhiệm vụ truyển tải, đem sản phẩm từ các t àu khai thác được về bờ, cungứng nguyên nhiên liệu cho tàu khai thác ngoài ngư trường
Đội tàu phối hợp và khai thác theo mô hình tổ chức sản xuất như sau :
Vào đầu mùa vụ: Đội tàu cử 2 chiếc ra khảo sát ngư trường (mục đích đi 2 tàu
nhằm đảm bảo an toàn khi hành trình, nếu một tàu gặp sự cố thì còn có tàu kia ứngcứu kịp thời Mặt khác, chỉ cử 2 t àu ra khảo sát trước vì phòng ngừa bất chắc khikhông tìm thấy cá, nếu cả đội tàu cùng ra ngư trường thì chi phí lúc đó bỏ ra sẽ rấtlãng phí nếu cả đội không tìm được cá), khi ra tới ngư trường thì 2 tàu chia ra 2hướng đi tìm cá, nếu một trong hai tàu tìm thấy cá thì điện về bờ kêu gọi tất cả cáctàu còn lại ra khai thác
Trong quá trình đánh bắt, sẽ có một tàu làm nhiệm vụ chuyển tải nếu có cá thìnhận sản lượng trở về bờ sau đó nhận đá, dầu, nguy ên nhiên liệu và lương thực thựcphẩm cần thiết từ bờ chuyển ra ng ư trường cho đội tàu khai thác Tàu làm nhiệm vụchuyển tải sẽ được luân phiên cho tất cả các tàu trong đội
Nếu vùng đó hết cá thì các tàu chia ra từng hướng đi tìm cá theo nguyên tắc:Bất kỳ tàu theo hướng nào trong đội tìm thấy cá thì kêu gọi các tàu trong đội gầnhướng đó nhất đến để tập trung khai thác dứt điểm tại khu vực đó nhằm nâng caosản lượng, chất lượng cá và giảm chi phí đi tìm cá
Trang 28Mô hình tổ chức sản xuất theo đội có tàu mẹ kiểm soát, điều hành các tàu cònlại trong đội đã đáp ứng được đòi hỏi của cấp lãnh đạo của công ty, khi mà sảnphẩm đội tàu đem về đều đạt chất lượng loại A, đạt yêu cầu xuất khẩu sang các thịtrường khó tính như Nhật, Mỹ…do cá được bảo quản tốt trên đội tàu khai thác.
Hiệu quả sản xuất năm 2004 của công ty :
Sản lượng khai thác cá ngừ xuất khẩu 413 tấn
Doanh thu : 20.187.056.946 đ
Chi phí : 20.064.534.562 đ
Lợi nhuận : + 122.522.384 đ
Hình thức hỗ trợ nhau trong quá trình sản xuất là :
Nếu một trong các tàu hết lương thực thực phẩm, nước ngọt, dầu mỡ,…thì cáctàu có thể san sẻ cho nhau để phục vụ khai thác, đánh bắt chờ đợi t àu tải ra cungứng…
Hỗ trợ nhau trong khi gặp nạn :
Có nhiều hình thức sự cố, tai nạn mà đội tàu gặp phải như : hư hỏng máy, đâm
va, mắc cạn…ví dụ khi một tàu bị hư hỏng máy, nếu trên tàu có phụ tùng thay thế,sửa chữa được thì tiến hành sửa chữa còn nếu chưa có thì nhờ các tàu trong đội hoặc
có thể điện về bờ nhờ sự trợ giúp trong tr ường hợp các tàu trong đội cũng không thểtrợ giúp khắc phục được
Trong trường hợp có một tàu bị sự cố hư hỏng cần phải nhờ tàu khác dìu dắt
về, căn cứ vào tình hình thực tế như thời tiết, điều kiện sóng gió và tình trạng hưhỏng sự cố thì đội tàu có thể cử hai hoặc ba chiếc thay vì một chiếc để hỗ trợ dìudắt về cảng được an toàn hơn…
Hỗ trợ nhau khi gặp bão :
Tất cả các tàu trong đội đều được trang bị thiết bị vô tuyến điện, h àng hải hiện đại
do vậy thông tin về bão thông thường các tàu đều được biết trước vì trong đội tàu cómáy Fax thời tiết trực tiếp từ các cơ sở dự báo thời tiết Khi có bão các tàu thườngxuyên liên lạc với nhau, liên lạc với trạm bờ (công ty), tối thiểu phải li ên lạc vớinhau vào lúc 6 giờ sáng, 9 giờ đêm trong ngày Tất cả hiện tượng thời tiết nào xảy
ra, nếu tàu nào nằm gần đó sẽ biết trước và gọi điện cho đội tàu tránh ra xa khu vực
đó Khi chạy tránh bão, theo phương châm các thuyền trưởng trong đội tàu cùng
Trang 29bàn bạc với nhau qua bộ đàm, chạy không chạy trùng với hướng bão, đặc biệt nếukhoảng cách từ tàu tới bão mà gần quá thì thuyền trưởng các tàu tính toán và chạytheo hướng cắt ngang 900 so với hướng bão.
Với mô hình đội tàu được trang bị hiện đại phục vụ cho khai thác, với kếhoạch chỉ cử 2 tàu đi tìm cá trước sẽ đảm bảo được an toàn khi hành trình trên biển,tiết kiệm được chi phí nhiên liệu và thời gian đi tìm cá
Đội tàu gồm 9 chiếc cùng nhau tập trung đánh bắt trong một khu vực ng ưtrường cho đến khi hết cá, sẽ làm cho chất lượng cá tốt hơn dẫn đến giá cá cao Phùhợp cho việc nhân rộng mô hình đánh bắt này với ngư dân tỉnh Khánh Hòa
2 Mô hình công ty TNHH Mạnh Hà – Vũng Tàu.
Công ty TNHH Mạnh Hà là một trong những công ty tại Việt Nam đ ượcthành lập và hoạt động chuyên về nghề câu cá ngừ đại dương và sản phẩm của công
ty cũng được xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, Mỹ và một số nước khác Công
ty có đội tàu bao gồm 08 chiếc với công suất từ 450 – 600CV, đội tàu được thiết kếtheo kiểu tàu câu Nhật Bản với các trang thiết bị hiện đại ph ù hợp và đáp ững đượccác tiêu chuẩn cao của tàu câu, có khả năng hoạt động trong điều kiện sóng gi ó lênđến cấp 7, cấp 8
Mô hình tổ chức sản xuất trên biển bao gồm nhiều tàu kết hợp với nhauthành đội tàu đánh bắt Đội tàu này cùng di chuyển từ bờ đến ngư trường để tìm cá,cùng hoạt động tổ chức đánh bắt, sau một thời gian đánh bắt với số l ượng sản phẩm
đủ lớn sẽ có một tàu làm nhiệm vụ thu gom tất cả sản phẩm của đội t àu đánh bắtđược để đem về bờ tiêu thụ đồng thời nhận các dịch vụ hậu cần, nhu yếu phẩm chođội tàu rồi vận chuyển ra biển và khai thác tiếp Qúa trình này được luân phiên quay
vòng cho lần lượt các tàu trong đội Sản lượng bình quân trên một tàu trong đội là 4 tấn/tháng.
Sản phẩm khi đưa vào bờ được các nhân viên kỹ thuật kiểm tra chặt chẽ vàđội xe của Công ty vận chuyển đến n ơi sản xuất để đóng vào Container sau đóchuyển trực tiếp đến các chợ bán đấu giá của các nước như Nhật Bản, Mỹ, HànQuốc…
Qúa trình tổ chức sản xuất trên biển của đội tàu Công ty và các phòng bancông ty có liên quan chặt chẽ với nhau từ khâu nắm bắt thông tin ng ư trường, giá cả
Trang 30sản phẩm, tàu thuyền và trang thiết bị hiện đại trên tàu, dịch vụ hậu cần trong mộtquy trình khép kín, cùng với đội ngũ thuyền viên được đào tạo một cách bài bản đãmang lại hiệu quả cao trong quá trình khai thác, đánh bắt cá ngừ đại dương.
Hiệu quả sản xuất :
Kết quả là hàng năm đội tàu đã mang về cho công ty một khoảng lợi nhuận
đáng kể khoảng trên 2 tỷ đồng đồng thời giải quyết được công ăn việc làm cho 130 thuyền viên với thu nhập bình quân mỗi lao động là 1,8 triệu đồng/tháng Đây được
coi là một doanh nghiệp tư nhân hoạt động có hiệu quả
3 Mô hình công ty Khai thác và d ịch vụ hải sản Biển Đông :
Công ty Khai thác và Dịch vụ Hải sản biển Đông trực thuộc của Tổng công
ty Hải sản Biển Đông chính thức đi v ào hoạt động từ ngày 01/01/2000
Mô hình cung ứng dịch vụ hậu cần cho ngư dân ở Hoài Nhơn, Bình Định là mộtsáng kiến độc đáo của công ty theo ph ương châm gần dân Công ty đã cử các cán bộ
có chuyên môn nằm vùng tại địa phương, nắm bắt đặc điểm từng tàu của ngư dân,sau đó cùng đầu tư dầu nhớt, thùng chứa đá, phao, ngư cụ, phương tiện đi biển vàhướng dẫn cách bảo quản cá ngừ, rồi đ ưa một tàu mẹ đi đánh cùng dân Hiện naycông ty đã ký kết hợp đồng với 10 chủ tàu ( ký một giá cố định, chịu thiệt khi rớtgiá) nhằm thu gom cá ngừ cho xuất khẩu thông qua các đ ơn vị của địa phương
Mô hình tổ chức đánh bắt được tiến hành với đội tàu khai thác gồm 14 tàu(tổng công suất là 5115 CV) Với đội tàu đánh bắt cá ngừ đại dương hiện đại cùngvới đội ngũ thuyền trường, thuyền viên và máy trường lành nghề, giàu kinh nghiệm.Với một tàu mẹ (của công ty) đi theo đội tàu ra ngư trường, có nhiệm vụ thực hiệndịch vụ hậu cần, cung ứng nguyên nhiên liệu cho đội tàu đồng thời thu gom sảnphẩm ở đội tàu vào bờ
Với mô hình tổ chức sản xuất theo đội tàu của công ty Khai thác và Dịch vụhải sản biển Đông đã đáp ứng đẩy đủ về điều kiện hoạt động nghề câu cá ngừ đạidương trên vùng biển xa bờ, cộng với cách bảo quản sản phẩm đúng ti êu chuẩn chấtlượng nên sản phẩm phần lớn được xếp vào loại A-chất lượng cao để xuất khẩu trựctiếp đến các thị trường tiêu thụ Nhật, Mỹ…
Hiệu quả sản xuất của công ty :
Trang 31Phương thức hoạt động hiệu quả của đội tàu, tổng sản lượng trong vòng 5 năm
từ 1999 đến 2003 là 1071 tấn, xuất khẩu được 889,1 tấn với tổng giá trị xuất khẩu 4,604 triệu USD Đây là mô hình mẫu tiêu biểu hiện đại của Việt Nam về phương
thức tổ chức đánh bắt và dịch vụ hậu cần trên biển được Bộ Thuỷ sản quan tâm đầu
tư và hỗ trợ…
4 Mô hình Công ty XNK Lâm Thu ỷ sản Bến Tre :
Mô hình Công ty XNK Lâm Thu ỷ sản Bến Tre là một mô hình của công tyNhà nước hoạt động khai thác cá xa bờ với hình thức tổ, đội, nhóm Sản xuất theomột mô hình khép kín từ khâu chuẩn bị ra ngư trường, khai thác, vận chuyển, dịch
vụ cung ứng hậu cần cho các tàu bám biển hoạt động để giảm thiểu chi phí đi lại v àkhâu tiêu thụ sản phẩm đã thu được hiệu quả đáng khích lệ giải quyết việc làm cho
324 lao động với thu nhập 1,5 triệu/1 tháng/ 1 người.
Các tàu trong đội hoạt động đánh bắt có trang thiết bị hiện đại, lực l ượng laođộng có trình độ tay nghề và giàu kinh nghiệm đặc biệt là đội ngũ thuyền trưởng,thuyền phó, máy trưởng trên tàu Trong quá trình khai thác trên bi ển, thuyền trưởngcủa các tàu đều phải ghi nhật ký đánh bắt thường xuyên,liên tục sau đó mỗi chuyếnbiển về sẽ họp bàn, tìm ra đường di chuyển của cá, phạm vi ng ư trường hoạt độnghiệu quả để có thể đưa ra dự báo, nhận định về hướng di chuyển của đàn cá Ngoài
ra, đội ngũ lao động trên tàu không ngừng trao đổi, học hỏi những kinh nghiệm, kỹthuật đánh bắt của bà con ngư dân đòng thời luôn cập nhật, áp dụng những cái mớitrong vấn để tàu thuyền và trang thiết bị khai thác
Trong quá trình hoạt động sản xuất, tuỳ thuộc vào khả năng đánh bắt của mỗitàu, khả năng làm việc của từng thuyền viên mà công ty sẽ có chế độ khen thưởngthích đáng, luôn quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của thuyền vi ên nên đãtạo nên sức mạnh tập thể nhằm nâng cao năng xuất, hiệu quả đánh bắt đồng thời độitàu hoàn thành hoặc vượt kế hoạch được giao
5 Mô hình tổ tàu thuyền an toàn số 01 P Phú Lâm – Tuy Hòa – Phú Yên.
Khái quát về sự hình thành và phát triển :
Trang 32Với đặc thù là nghề đánh bắt đối tượng di cư rộng khắp ở Biển Đông, ngưtrường khai thác rộng cộng với chuyến đi khai thác d ài ngày và chi phí cho mộtchuyến biển ngày một tăng (các năm trước thì chi phí khoảng 40 – 50 triệu/chuyến,nhưng từ năm 2006 đến nay thì chi phí đã lên đến : 60 – 70 triệu/chuyến) Mặt khác,hàng năm các tàu đánh bắt riêng lẻ thường gặp phải những rủi ro như : sự cố về máychính, bể tàu, hư hỏng các trang thiết bị khai thác đ ã ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quảcũng như tính chất an toàn cho tàu và người trong một chuyến biến…đòi hỏi các tàunày cần phải có sự hỗ trợ, ứng cứu một cách kịp thời từ các t àu khác…Chính vìnhững yếu tố trên, Tổ tàu thuyền an toàn số 01 – Phú Lâm, Tuy Hòa, Phú Yên rađời.
Tổ tàu thuyền an toàn số 01 có 06 chiếc tàu (của 05 chủ tàu) với công suất từ90CV trở lên, chủ tàu đều là anh em, dòng họ thân thuộc hoặc là làng xóm lánggiềng tự nguyện gia nhập với tàu thuyền được trang bị máy thông tin liên lạc đầy
đủ Tổ có tổ trưởng, tổ phó đều là những người được các thành viên trong tổ bầu
chọn và hoạt động theo cam kết, nội quy “ Tàu thuyền an toàn” như đã quy định.
Tổ hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện là chủ yếu, không có nguồn hỗ trợ,không tiến thù lao, hoạt động theo hướng đoàn kết, tương thân tương trợ, hỗ trợnhau khi có sự cố trên biển nhăm đem lại hiệu quả đánh bắt v à an toàn cho người vàtàu thuyền trên biển
Trải qua những chuyến biển có nhau cộng với sự nhiệt t ình, trách nhiệm vàgương mẫu của tổ trưởng (Nguyễn Văn Hùng) dân dần các thành viên trong tổ đãhiểu và tin tưởng nhau hơn, chia sẻ những kinh nghiệm sản xuất cũng nh ư vùnghoạt động như trường hiệu quả cho nhau, đánh bắt dựa tr ên quy định, sự chỉ đạo của
tổ trưởng Đặc biệt, là kinh nghiệm về sửa chữa, khắc phục các sự cố xảy ra tr ênbiển như : hư hỏng, sự cố vỏ tàu, đứt dây câu, sự cố máy chính, đâm va mắccạn đồng thời sẵn sàng ứng cứu khi gặp sự cố trên biển Chính vì có sự chia sẻthông tin, kinh nghiệm cho nhau nên tổ tàu thuyền an toán số 01 Phú Lâm đã bámbiển dài ngày, sản lượng khai thác cao hơn với thu nhập bình quân của các thuyềnviên trong tổ khoảng 2,5 – 3,5 triệu đồng/1 chuyến biển Đồng thời cũng l à một môhình hoạt động điển hình, làm gương cho các tàu thuyền hoạt động cùng nghề khác
Nhận xét :
Trang 33 Trong 4 mô hình tổ chức sản xuất của các công ty trên, tất cả đều đượcthực hiện theo mô hình tổ chức khép kín, có nghĩa là :
- Tổ chức khép kín từ đội tàu khai thác, dịch vụ hậu cần và các trạm điều hành, chỉhuy tại bờ và tàu
- Tổ chức khép kín từ khâu chuẩn bị cho một chuyến biển, ra ng ư trường đánh bắt,bảo quản, tiêu thụ sản phẩm và lợi nhuận trong một chuyến biển
Do đội tàu của các công ty, xí nghiệp có hệ thống lạnh hiện đại n ên sảnphẩm cá ngừ sau khi đánh bắt được bảo quản tốt bằng phương pháp cấp đông Chấtlượng cá ngừ cao dẫn đến giá trị của sản phẩm cao
Đội tàu của công ty, xí nghiệp đều là các tàu chuyên dụng về nghề câu cángừ đại dương, các trang thiết bị hiện đại đảm bảo an toàn cho người và phươngtiện khai thác trên biển nên đội ngũ thuyền viên (Thuyền trưởng, thuyền phó, máytrưởng…) trên tàu đều là những người được đào tạo cơ bản, có trình độ chuyên môn
và kinh nghiệm trong việc khai thác đội tàu đánh bắt hiệu quả cao
Mặt khác, việc đầu tư các trang thiết bị trên tàu thuyền rất lớn
Được sự hỗ trợ, đầu tư của nhà nước như cho vay vốn, hỗ trợ về mặt tưvấn…
Mô hình tổ tàu thuyền an toàn số 01 P Phú Lâm là một mô hình đã có tính
chất kế thừa một cách linh hoạt theo mô h ình tổ đội sản xuất của các công ty, xínghiệp theo mô hình khép kín từ việc chuẩn bị cho một chuyến biển, tổ chức đánhbắt, bảo quản, tiêu thụ sản phẩm và hạch toán cũng như phân chia lợi nhuận theođội tàu
Đi theo tổ đội khi đánh bắt trên biển sẽ nâng cao tính an toàn cho người vàphương tiện, ứng cứu kịp thời được những sự cố, hư hỏng của tàu thuyền trên biển
1.3.6 Giới thiệu một số Mô hình tổ chức sản xuất của tàu thuyền các nghề khác nghề câu cá ngừ đại dương của Việt nam.
1 Mô hình Liên tập đoàn đánh cá biển Nam Triệu (huyện Thủy Nhuy ên Hải Phòng)
Là một mô hình tổ chức sản xuất, khai thác cá biển mang t ính chất tập thểhợp tác quy mô cấp xã, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, trình độ sản xuất củangư dân địa phương
Trang 34Nhiệm vụ của Liên tập đoàn :
Liên tập đoàn có nhiệm vụ chỉ đạo, điều hành sản xuất dịch vụ cho nghề khaithác cá biển
Lập kế hoạch, tham mưu cho UBND xã thực hiện nhiệm vụ phát triển nghề
cá, được UBND huyện và các Chi cục thuế ủy nhiệm thu các sắc thuế do Nh à nướcban hành đối với nghề cá
Hình thức hoạt động :
Liên tập đoàn tổ chức từng đội tàu, cụm tàu, từng tập đoàn nhỏ, các tổ dịch
vụ hậu cần nghề cá, các tổ, xưởng sửa chữa tàu thuyền; cùng cơ quan chuyên ngành
tổ chức tập huấn, bồi dưỡng thuyền trưởng, máy trưởng, các kỹ thuật, công nghệthủy sản, hàng hải, an toàn lao động trên biển, hạch toán kinh tế trên từng phươngtiện theo hộ gia đình
Quy mô và năng lực hoạt động :
Ðến nay, liên tập đoàn có hơn 800 tàu, thuyền đánh cá, với sản lượng hải sảnhằng năm khai thác được từ 8.500 đến 9.000 tấn, tổng giá trị sản l ượng đạt từ 125 tỷđồng đến 140 tỷ đồng
Mọi người trong xã đều có việc làm đồng thời địa phương cũng thu hút thêmnhiều lao động từ nơi khác đến làm việc (với tổng số lao động trực tiếp tr ên biển cólúc tới 3.500-4.000 người và gần 1.000 người làm dịch vụ nghề cá) Nhiều hộ ngưdân giàu lên từ sản xuất thủy sản
Mô hình Liên tập đoàn đánh cá Nam Triệu – Thủy Nguyên là một mô hìnhmẫu tiêu biểu cho sự liên kết các chủ phương tiện địa phương trong khai thác thủysản xa bờ
2 Mô hình tổ chức hợp tác Mai Lợi (xã Bình Thắng, huyện Bình Ðại, tỉnh Bến Tre).
Sự hình thành :
Mô hình hợp tác khai thác thủy sản Mai Lợi do một số ngư dân chuyên khaithác hải sản tự nguyện đứng ra thành lập năm 2001 với nghề chính là nghề LướiKéo đôi tầng đáy nhằm tạo ra hiệu quả sản xuất cao trong quá tr ình khai thác, giúp
đỡ nhau trong quá trình sản xuất và khi sự cố, hạch toán kinh doanh theo đội t àu
Quy mô hoạt động :
Trang 35Hợp tác xã Mai Lợi với đội tàu gồm có 8 chiếc tàu cá (với tổng công suất3.400 CV), Trong đó có ba tàu lo ại 500 CV, năm tàu loại 380 CV Tổ hợp tác gồm
4 thành viên có bốn đội tàu, số lao động là 56 (kể cả thợ bạn) Với chỉ có 4,25 tỷđồng tổng giá trị khi thành lập thì cho đến tổ hợp tác Mai Lợi có đội tàu luôn đượcđầu tư, nâng cấp các trang thiết bị ngày một tiên tiến với tổng giá trị tài sản lên đến8,23 tỷ đồng
3 Mô hình HTX cổ phần ngư nghiệp Hải Tiến (huyện Kim Sơn, Ninh Bình)
HTX Hải Tiến được thành lập từ việc củng cố một HTX cũ có khó khăn(1994), vốn đăng ký của HTX là 1,2 tỷ đồng (bằng tài sản sẵn có là đôi tàu cá cỡ
250 CV/chiếc và 30 ha đầm nuôi thủy sản) Năm 1997-1998, HTX vay vốn tín dụng
ưu đãi của Nhà nước (1,15 tỷ đồng) đóng đôi tàu kéo giã đôi (310 CV/chiếc) và cảihoán đôi tàu cũ Với việc tổ chức đánh bắt theo mô hình đội tàu lưới kéo sản xuấttrên biển nhằm giúp đỡ nhau trong quá trình khai thác, kh ăc phục sự cố trên biểnnên đội tàu của HTX đánh bắt với sản lượng liên tục được tăng cao, Năm 2002,HTX hoàn thành việc trả nợ vốn vay của Nhà nước (kể cả gốc và lãi) Mức lươngbình quân một lao động 750 nghìn đồng/tháng Doanh thu của HTX hàng năm đạt2,5-2,6 tỷ đồng Sản xuất, kinh doanh của HTX ổn định và phát triển vững chắc
Hoạt động theo kiểu hạch toán chung
Khai thác, đánh bắt trên biển theo tổ đội đã nâng cao được năng xuất đánhbắt và mức độ an toàn trên biển
Trên đây là những mô hình tổ chức sản xuất trên biển hiệu quả và tiêu biểutrên cả nước, các mô hình này đều có chung một điểm là sản xuất hạch toán kinhdoanh chung theo đội tàu
1.4 Tổng quan về tai nạn tàu thuyền nghề cá :
Trang 36Trong những năm qua, tai nạn tàu cá đã tăng lên đáng kể hàng năm khôngnhững gây thiệt hại về người và tài sản của ngư dân mà nó còn ảnh hưởng khôngnhỏ đến vấn đề sản xuất của ngành khai thác thủy sản nước ta.
Chỉ riêng năm 2006, ngoài tai nạn do các cơn bão gây ra làm chìm, đắm hàngchục tàu cá, làm chết và mất tích hàng trăm người, làm hàng ngàn tàu bị hư hại do
va đập… theo thông tin tổng hợp từ các địa phương và Ðài thông tin Duyên hải,trên vùng biển Việt Nam đã xảy ra 73 vụ tai nạn với 55 tàu cá và 447 ngư dân
Trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa trong những năm trở lại đây tình hình tai nạn vẫn liên tục tăng
Theo số liệu thống kê của Sở Thủy Sản Khánh Hòa, thiệt hại do tai nạn, bãolụt trong toàn ngành thủy sản trong năm 2005 của được thống kê sau:
Trong đợt gặp gió lốc ngày 4&5/03/05 toàn tỉnh có 6 chiếc tàu bị chìm, 2người chiết ( có tìm thấy xác ), số người bị mất tích là 29 người, số người được cứuvớt là 17 người Ngoài ra, còn có 7 người chết do bão, lũ vào tháng 11- 12/2005 Đaphần thuyền viên bị chết là do tàu thuyền hoạt động trong điều kiện sóng gió lớnlàm tàu bị lật, bị chìm…
Theo thống kê không đầy đủ của Đồn Biên phòng 372 Nha Trang trực tiếpquản lý khu vực tàu qua lại cầu Trần Phú tính đến thời điểm tháng 9/2007 có 5 vụtai nạn tàu thuyền xảy ra gây tổn thất chìm tàu và chết người như sau :
1/ Tàu KH0153TS của chủ tàu Huỳnh Thanh Đức ( Sinh năm 1970) địa chỉ :
52 Phan Đình Dót, phường Phương Sài, Nha Trang
Tàu KH0153TS hoạt động nghề lưới Mành chụp chiều đi sáng về, ngày03/09/07 tàu xuất bến đi tời khu vực Hòn Nội, Hòn Ngoại (Khánh Hòa) tại tọa độ :(12002’N, 109021’E) thì phát hiện ghe bị phá nước và chìm lúc 23h45’ cùng ngày,
đã được tàu KH2285TS của ông Nguyễn Văn Tấn ( Hà Ra – Vĩnh Phước) giúp tátnước và đồng thời kêu một số tàu khác ra kéo vô bờ
2/ Tai nạn đâm va gây chìm tàu :
Tàu bị tai nạn : KH7170TS của ông L ê Văn Hoan ( 1969) Địa chỉ : Tổ 3,Trường Hải, Vĩnh Trường, Nha Trang
Tàu bị đâm va vào lúc 5h40’ ngày 21/08/07 tại tọa độ ( 120N, 1090E) Tainạn không có thiệt hại về người
Trang 37đi với bạn tàu khác miễn là hợp tính nhau, tàu thuyền trong đội không có tổ chức,không thống nhất được thời gian đi ra ngư trường và thời gian về bờ tiêu thụ sảnphẩm do vậy trong những lúc gặp sự cố, tai nạn xảy ra các t àu trong nhóm khôngthể đến ứng cứu kịp thời dẫn đến thiệt hại lớn về ng ười, tài sản của ngư dân.
Trong quá trình tìm hiểu thực tế, tôi xin đưa ra các vụ tai nạn điển hình về sựhoạt động đơn lẻ khi bị sự cố, tai nạn xảy ra không có lực l ượng ững cứu kịp thờigây tổn thất lớn về người và tài sản :
1.4.1.Tai nạn chìm tàu do mặc cạn :
Tàu tai nạn : KH6272TS của chủ tàu (thuyền trưởng) Mai Văn Cư
Trang 38Địa chỉ : Duy Hòa – Xương Huân – Nha Trang –KH.
Vào tháng 12/2005 trong một chuyến đi ra ngư trường khai thác cá ngừ đạidương, đang trong quá trình khai thác thì tàu bị sự cố bánh lái (rớt bánh lái) thuyềntrưởng đã cho tàu neo nủ (neo nổi) rồi liên lạc về bờ nhờ sự giúp đõ của thợ máy,tới các tàu khác lúc đó còn ở xa đến hỗ trợ Nhưng do trong điều kiện thời tiết xấu,chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam đã làm tàu quay theo các hướng không thểkiểm soát nổi và đưa tàu vào khu vực có bãi đá ngầm
Do mất khả năng quay trở, thời gian chờ các t àu khác đến hỗ trợ lâu, lúc thủytriều xuống đã làm cho tàu bị mắc cạn tại tọa độ (09044’N , 116040’E) Khi các tàubạn đến thì chỉ cứu được thuyền viên, các trang thiết bị vô tuyến điện, hàng hải ởtrên tàu Hậu quả là tàu bị chìm, tổn thất hoàn toàn, không bị tổn thất về người
bộ đàm với các tàu bạn trong tổ, nhóm sản xuất đang ở xung quanh tàu mình nhờ sự
hỗ trợ ngay lập tức, với khoảng cách từ 4 -5 hải lý hoạt động cách nhau giữa các t àutrong nhóm, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn t àu bạn có thể đến hỗ trợ về nhânlực, các dụng cụ và bộ phận cơ khí phục vụ cho quá trình sửa chữa bánh lái ngaytrên ngư trường đánh bắt Hoặc nếu không đủ khả năng khắc phục đ ược sự cố màcần phải chờ thợ máy từ bờ ra th ì các tàu bạn trong nhóm có thể dùng dây dìu dắttránh được tình trạng tàu bị sóng gió dưa vào khu vực có bãi cạn Với sự ứng cứukịp thời như vậy, chắc chắn tàu KH6272TS sẽ không bị mắc cạn và hư hỏng tàuhoàn toàn khi thủy triều xuống như đã xảy ra
Một nguyên nhân sâu xa đó là thuộc về bản thân nội tạng con tàu.Chủ tàu sửdụng máy chính đã qua sử dụng tân trang lại dẫn đến chất l ượng máy không đảmbảo, có nguy cơ tiềm ẩn xảy ra sự cố bất cứ lúc nào trong khi đó tàu lại hoạt động ởvùng biển khơi thời tiết, bão tố khắc nghiệt
Trang 39Do không thường xuyên kiểm tra kết cấu, các chi tiết bộ phận cấu th ành vàtrang thiết bị trên tàu cũng là nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến các sự cố, tai nạn ngo ài ýmuốn xảy ra chẳng hạn như sự cố hư hỏng chân vịt, rớt bánh lái…
2 Biện pháp khắc phục :
Để nghề khai thác thủy sản nói chung v à hoạt động nghề câu cá ngừ đạidương nói riêng đạt hiệu quả biện pháp tối ưu nhất là các tàu thuyền khai thác phảihoạt động theo nhóm :
Hoạt động theo tổ, nhóm sản xuất tr ên biển sẽ giúp cho các tàu bạn trongnhóm không phải tốn thời gian, chi phí nhiên liệu cho quá trình tìm ngư trường
Nâng cao khả năng mở rộng ngư trường hơn
Hỗ trợ nhau về lương thực, thực phẩm, đá bảo quản cá, dầu mỡ v à các nhuyếu phẩm khác mỗi khi một tàu nào đó bị thiếu cần giúp đỡ
Khi hoạt động theo nhóm, các tàu luôn ở khoảng cách gần nhau và thườngxuyên liên lạc với nhau sẽ ứng cứu kịp thời cho t àu bạn khi có sự cố, tai nạn xảy ra.Nâng cao được tính chất an toàn trong sản xuất nghề biển
1 Phân tích sự cố mất câu :
Trong quá trình đánh bắt bằng nghề câu, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến bịmất câu chẳng hạn như :
Trang 40Mất câu do sự tác dụng của dòng chảy làm đứt vàng câu, trôi đi theo dòngchảy phức tạp với chỉ một mình tàu bị mất câu đi tìm sẽ rất khó có thể tìm thấyđược, nhiều trường hợp đoạn câu bị mất đã bị các tàu khác ở xung quanh đó vớtmất.
Nếu vàng câu nằm trong tuyến đường hàng hải quốc tế, nơi có nhiều tàuthuyền qua lại Trong trường hợp dây ganh vàng câu ngắn dẫn đến vàng câu ở gầnmặt nước sẽ rất dễ bị đứt khi tàu đi qua, đôi khi còn bị tàu viễn dương kéo đi mất
Ngoài ra, còn có nguyên nhân trong s ự cố trên là do bị tàu khác cắt mất câu,
sự việc này xảy ra khi tàu hoạt động đơn lẻ không phối hợp với các tàu bạn cùnglàng, cùng xóm để có thể thông tin cho nhau và giúp đỡ nhau trong việc ngăn chặn
sự cố trên
2 Biện pháp khắc phục :
Cần thiết phải đi đánh bắt trong c ùng một nhóm, đánh bắt trong cùng mộtngư trường với khoảng cách hợp lý (có thể l à từ 2-3 hải lý), để thuận tiện trong việcphối hợp bủa câu (thả câu), các tàu trong nhóm có thể bủa câu song song nhau, đánhbắt ở các vị trí thuân lợi cho việc quan sát v àng câu của nhau nhằm ngăn chặn việc
1.5 ĐÁNH GIÁ CHUNG :