Với những kiến thức đã được học tại trường, tôi đã được khoa Khai thác Hàng hải giao cho thực hiện đồ án tốt nghiệp: Điều tra hiện trạng thuyền viên; trang bị an toàn, cứu hỏa cho nghề c
Trang 1LỜI CÁM ƠN
Kính Thưa các Thầy Cô giáo!
Trải qua thời gian 4,5 năm học tập tại trường ĐH Nha Trang đến nay, tôi đã hoàn thành chương trình đào tạo của nhà trường Để có kết quả như ngày hôm nay đó là nhờ công ơn của các Thầy cô đã hết lòng tận tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu mà các Thầy cô có được sau bao nhiêu năm làm việc.
Với những kiến thức đã được học tại trường, tôi đã được khoa Khai thác Hàng hải
giao cho thực hiện đồ án tốt nghiệp: Điều tra hiện trạng thuyền viên; trang bị an toàn, cứu hỏa cho nghề câu cá ngừ đại d ương của phường Vĩnh Trường - Tp Nha Trang - tỉnh Khánh Hòa do Thầy Th.S Trần Đức Lượng hướng dẫn.
Trong thời gian vừa qua, bên cạnh sự phấn đấu, nổ lực của bản thân, c ùng với sự động viên của gia đình, sự dạy dỗ, hướng dẫn tận tình của các thầy giáo và sự giúp đỡ của bà con ngư dân, các cơ quan ban ngành trong tỉnh Khánh Hòa, đặc biệt là phường Vĩnh Trường đến nay đồ án tốt nghiệp của tôi đ ã được hoàn thành.
Lời đầu tiên cho tôi được bày tỏ lòng biết ơn đến Cha Mẹ tôi - Người đã sinh ra và nuôi dưỡng tôi trong suốt quãng đời đi học của mình.
Tôi xin chân thành cám ơn đến các Thầy cô trong khoa Khai thác H àng hải trường Đại học Nha Trang, Sở Thủy sản Khánh H òa, Chi cục Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản tỉnh Khánh Hòa, Bảo Việt Khánh Hòa, hội nghề cá phường Vĩnh Trường đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và thực hiện đề tài.
Trân trọng cám ơn sự giúp đỡ quý báu của ban quản lý công ty TNHH Ho àng Hải, các chủ tàu, các thuyền trưởng và bà con ngư dân phường Vĩnh Trường đã cung cấp thông tin và giúp cho tôi tìm hi ểu thực tế về hiện trạng thuyền vi ên, trang bị an toàn; cứu hỏa cho tàu câu cá Ngừ đại dương của phường Vĩnh Trường – Tp Nha Trang – Tỉnh Khánh Hòa.
Đặc biệt, tôi xin tỏ lòng biết ơn Thầy giáo hướng dẫn Th.S Trần Đức Lượng, người
đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành đồ án tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cám ơn!
Sinh viên: Nguyễn Nhật Quân
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm qua ngành thủy sản của nước ta phát triển mạnh mẽ cả về nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản Sản lượng khai thác và nuôi trồng năm sau luôn cao hơn năm trước đã góp phần tăng thu nhập cho ngành kinh tế quốc dân Sản lượng khai thác qua các năm được tăng lên do số lượng tàu thuyền khai thác cả nước ngày một tăng lên Tuy nhiên đi đôi với sự phát triển đó là sự gia tăng rủi ro về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Chính vì vậy mà an toàn lao động đang là mối quan tâm hàng đầu không chỉ trong ngành thủy sản mà nhiều ngành và nhiều lĩnh vực khác nhau của xã hội.
Khánh Hòa là một trong những tỉnh có thế mạnh về kinh tế thủy sản với những đội tàu khai thác thủy sản không ngừng gia tăng ở các địa ph ương trong toàn tỉnh, trong
đó có phường Vĩnh Trường – một phường ven biển phía Tây Nam của Th ành phố Nha Trang Toàn tỉnh có khoảng trên 5900 chiếc tàu đang hoạt động khai thác thủy sản trong đó phường Vĩnh Trường có khoảng 545 chiếc, chiếm trên 9% số lượng tàu của toàn tỉnh.
Trong những năm gần đây, tỉnh đã có những chiến lược, chính sách khuyến khích ngư dân tổ chức khai thác, đánh bắt xa bờ nhằm bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven bờ đang có nguy cơ cạn kiệt Phát triển đội tàu khai thác cá ngừ đại dương của tỉnh là một trong những ví dụ điển hình về khai thác xa bờ Tuy nhiên, nghề đánh bắt xa bờ nói chung cũng như nghề câu ngừ đại dương nói riêng luôn phải đối mặt với những nguy hiểm Các tàu thuyền này phải hoạt động trong những điều kiện thời tiết khắc nghiệt như sóng gió to, đặc biệt là thời gian cuối năm chịu ảnh hưởng lớn của những trận gió mùa từ phương Bắc Vùng ngư trường khai thác còn là nơi có nhiều cơn bão hàng năm xuất hiện và là nơi có mật độ tàu thuyền qua lại cao Mặt khác, tàu thuyền lại phải hoạt động xa bờ nên rất khó khăn cho công tác thông tin li ên lạc và cứu hộ khi
có sự cố Do đó, các tàu cũng như các cơ quan có liên quan cần ý thức quan tâm đến công tác đảm bảo an toàn trong sản xuất nhằm giảm bớt những tai nạn có thể xảy ra đối với các tàu này.
Trang 3Xuất phát từ mục đích đảm bảo an to àn cho người và phương tiện hoạt động khai thác thủy sản nói chung và nghề câu ngừ nói riêng cũng như mục đích đào tạo của chuyên ngành An Toàn Hàng H ải của khoa Khai thác Hàng hải – trường ĐH Nha
Trang, tôi được giao cho thực hiện đồ án tốt nghiệp: “Điều tra hiện trạng thuyền viên, trang bị an toàn, cứu hỏa cho nghề câu cá ngừ đại dương của phường Vĩnh Trường Tp Nha Trang tỉnh Khánh H òa ”
Trong thời gian thực hiện đồ án, mặc dù đã hết sức cố gắng để hoàn thành các nội dung của đồ án nhưng do trình độ hiểu biết và điều kiện thực hiện còn nhiều hạn chế nên những kết quả đạt được trong đồ án này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Thầy h ướng dẫn, Quý Thầy cô và bạn đọc để đồ án này hoàn thiện hơn cũng như để bản thân tôi có sự hiểu biết sâu sắc h ơn
về vấn đề nghiên cứu trên.
Xin chân thành cám ơn
Người thực hiện
Sinh viên: Nguyễn Nhật Quân
Trang 4MỤC LỤC
Trang LỜI CAM ĐOAN
LỜI CÁM ƠN 1
LỜI NÓI ĐẦU 2
MỤC LỤC 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1 Tổng quan nghề câu cá ngừ đại dương ở Việt Nam: 7
2 Tổng quan nghề câu cá ngừ đại dương ở Khánh Hòa: 10
3 Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa: 11
4 Tình hình kinh tế - xã hội phường Vĩnh Trường – Tp Nha Trang: 14
5 Tổng quan nghề cá tỉnh Khánh Hòa: 16
5.1 Phân bố dân cư nghề cá theo đơn vị hành chính: 16
5.2 Năng lực tàu thuyền nghề cá: 20
5.2.1 Thống kê số lượng tàu thuyền theo địa phương và theo công suất của 2 quí đầu năm 2007: 20
5.2.2 Thống kê số lượng tàu thuyền từng địa phương và theo công suất của tỉnh Khánh Hòa tính đến ngày 7/9/2007: 21
5.2.3 Thống kê số lượng tàu thuyền theo từng địa phương và theo từng nghề tính đến 7/9/2007: 22
5.3 Sản lượng khai thác thủy sản của tỉnh Khánh H òa: 23
5.3.1 Sản lượng khai thác theo năm của tỉnh: 23
5.3.2 Sản lượng khai thác theo từng địa phương của tỉnh: 25
5.3.3 Sản lượng khai thác theo nghề của tỉnh: 25
5.4 Chính sách, định hướng phát triển nghề cá của tỉnh Khánh Hòa: 27
6 Một số tài liệu liên quan đến vấn đề thuyền viên, trang bị an toàn, trang bị cứu hỏa cho tàu cá nói chung và tàu câu cá ngừ đại dương nói riêng: 29
7 Những quy định về thuyền viên, trang bị an toàn, cứu hỏa với tàu thuyền nghề cá nói chung và nghề câu cá ngừ nói riêng: 30
7.1 Những quy định về thuyền viên trên tàu cá: 30
Trang 57.2 Những quy định về trang bị thuyền viên trên tàu cá: 31
7.3 Những quy định về cứu hỏa trên tàu cá: 31
8 Tổng quan về thuyền viên, trang bị an toàn, cứu hỏa trên các tàu thuyền nghề cá Việt Nam hiện nay: 31
9 Nhận xét phần tổng quan: 32
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN C ỨU 33
1 Đặt vấn đề: 33
2 Tính cấp thiết của đề tài: 34
3 Nội dung nghiên cứu: 34
4 Phương pháp nghiên cứu: 34
4.1 Cách tiến hành đề tài: 34
4.2 Phạm vi và đối tượng: 36
4.3 Xây dựng các tiêu chí để đánh giá lựa chọn mô hình về thuyền viên, trang bị an toàn, trang bị cứu hỏa trên các tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương: 36
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG 37
1 Kết quả điều tra tàu thuyền nghề câu: 37
2 Nguyên nhân các tàu đăng k ý nghề câu ở phường Vĩnh Trường chuyển đổi sang hoạt động nghề khác: 42
3 Các thông số cơ bản của tàu thuyền khảo sát: 46
4 Giới thiệu vàng câu trên tàu nghề câu cá ngừ đại dương: 48
5 Mùa vụ và ngư trường hoạt động của tàu câu cá ngừ đại dương: 53
6 Hiện trạng thuyền viên trên các tàu đăng ký nghề câu ở phường Vĩnh Trường: 53
7 Thực trạng trang bị an toàn trên các tàu đăng ký nghề câu phường Vĩnh Trường: 57
7.1 Trang bị máy chính trên các tàu đăng ký nghề câu ở phường Vĩnh Trường: 57
7.2 Trang bị cứu sinh trên các tàu đăng ký nghề câu ở phường Vĩnh Trường: 58
7.3 Trang bị cứu hỏa trên các đăng ký nghề câu phường Vĩnh Trường: 61
7.4 Trang bị cứu thủng trên các tàu đăng ký nghề câu ở phường Vĩnh Trường: 65
7.5 Trang bị điện tử trên các tàu đăng ký nghề câu ở phường Vĩnh Trường: 68
7.6 Trang bị đèn hàng hải trên các tàu đăng ký nghề câu ở phường Vĩnh Trường: 71
Trang 6CHƯƠNG 4: CÁC NGUY CƠ TAI NẠN TIỀM ẨN ĐỐI VỚI THUYỀN VIÊN VÀ
PHƯƠNG TIỆN: 73
1 Tổng quan về tình hình tai nạn tàu cá: 73
2 Nhóm nguy cơ tai nạn trong hàng hải: 75
3 Nhóm nguy cơ tai nạn trong sản xuất: 75
CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH MỘT SỐ TAI NẠN ĐIỂN HÌNH 78
1 Sự cố tàu bị lật: 78
2 Sự cố người rơi xuống biển: 81
3 Sự cố đâm va: 81
4 Sự cố lưỡi câu móc vào người: 86
5 Sự cố cháy nổ: 87
CHƯƠNG 6: MÔ HÌNH THUYỀN VIÊN; TRANG BỊ AN TOÀN, TRANG BỊ CỨU HỎA TRÊN TÀU CÁ 88
1 Mô hình về thuyền viên: 88
2 Mô hình trang bị an toàn: 91
3 Mô hình trang bị cứu hỏa: 93
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 PHỤ LỤC
Trang 7CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHI ÊN CỨU
1 Tổng quan nghề câu cá ngừ đại d ương ở Việt Nam:
Nghề sản xuất cá ngừ đại dương xuất hiện ở Việt Nam vào những năm đầu thậpniên 90 thông qua việc chuyển giao công nghệ của một số doanh nghiệp nh ư Liên hiệpThủy sản Hạ Long, Tổng Công ty Hải sản Biển Đông, Công ty TNHH Việt Tân v à sự
tự du nhập của một số ngư dân làm nghề lưới rê khai thác cá chuồn ở miền Trung
Cá ngừ đại dương là đối tượng khai thác rất quan trọng v à có giá trị kinh tế cao.Nghề khai thác cá ngừ đại dương ở nước ta đã phát triển khá mạnh mẽ trong nhữngnăm gần đây và có xu hướng gia tăng trong những năm tới Đ ược sự quan tâm đầu tưcủa Nhà nước, sự hỗ trợ kỹ thuật của Tổng công ty Hải sản Biển Đông, cùng sự cần cùchịu khó học hỏi kinh nghiệm của ng ư dân, nghề câu cá ngừ đại dương đã nâng sảnlượng khai thác xa bờ của ngành lên 550.000 tấn, góp phần tăng kim ngạch v à mặthàng thuỷ sản xuất khẩu, bảo vệ an ninh chủ quyền quốc gia, đẩy mạnh phát triển kinh
tế xã hội ven biển
Bảng 1-1: Sản lượng khai thác cá ngừ từ năm 2001 - 2004 :
- Ở Việt Nam, đối tượng khai thác chủ yếu của nghề câu cá ngừ l à cá ngừ vằn, cángừ vây vàng và cá ngừ mắt to, cá kiếm, cá mập và một số loài cá nổi đại dương khác.Kết quả nghiên cứu cho thấy trữ lượng cá ngừ đại dương ở vùng biển nước ta khoảng44.853 tấn, khả năng khai thác khoảng 17.000 tấn Những kết quả nghi ên cứu ban đầucho thấy cá ngừ đại dương xuất hiện quanh năm ở vùng biển ngoài khơi miền Trung,
Trang 8mùa vụ khai thác chính từ tháng 11 đến tháng 4, mùa phụ từ tháng 5 đến tháng 10 Tuynhiên tháng 10 đến tháng 12 thời tiết xấu nên nhiều tàu không đi khai thác, ở nhà sửachữa tàu, trang thiết bị và ngư cụ chuẩn bị cho mùa đánh cá tiếp theo.
- Ngư trường hoạt động nghề câu vàng cá ngừ đại dương thay đổi theo mùa Thôngthường những tháng đầu mùa (tháng 12 đến tháng 3), tàu thường khai thác ở vùng biểnBắc Biển Đông, Đông Bắc Hoàng Sa, Bắc Trường Sa, các tháng giữa mùa (Tháng 4-6)
ở vùng biển Trường Sa, miền Trung và những tháng còn lại ở vùng biển Nam Trường
Sa, Nam Biển Đông Như vậy, cá ngừ có tính di cư theo mùa (từ đầu năm đến cuốinăm) từ Bắc xuống Nam
- Cá ngừ đại dương là đối tượng di cư xa, nơi cư trú hoặc di chuyển qua thường làcác đảo, quần đảo và vùng nước đại dương nên việc nghiên cứu tập tính di cư kết đàn phục vụ việc khai thác hiệu quả v à bảo vệ nguồn lợi rất khó khăn v à tốn kém Từ
1995 đến nay, một số nghiên cứu về đánh giá nguồn lợi, dự báo ng ư trường, kỹ thuậtkhai thác… có liên quan đến cá ngừ đại dương đã được thực hiện ở phạm vi hợp tácquốc tế, cấp nhà nước, cấp Bộ và ở cả các địa phương có nghề khai thác cá ngừ đạidương phát triển Tuy nhiên do thiết bị và kinh phí nghiên cứu có hạn nên kết quả phục
vụ sản xuất thực tế còn nhiều hạn chế
- Cho đến nay cá ngừ đại dương ở nước ta chủ yếu được đánh bắt bằng nghề câuvàng, các nghề khác như lưới vây, lưới rê, câu tay… vẫn chưa được sử dụng nhiều đểkhai thác đối tượng này Hiện nay cả nước có khoảng 1670 tàu chuyên câu cá ngừ.Khoảng 45 trong số đó là tàu câu cá ngừ công nghiệp, trang thiết bị khai thác v à bảoquản sản phẩm hiện đại của các doanh nghiệp Số c òn lại là tàu truyền thống được cảihoán từ các tàu lưới rê và câu đáy của ngư dân
- Do qui mô và kết cấu vàng câu không giống nhau cùng với tập quán khai tháckhác nhau giữa các vùng nên kỹ thuật khai thác giữa các tàu, giữa các địa phương cũng
có những điểm khác nhau trong qui tr ình kỹ thuật Sự khác nhau lớn nhất v à quan trọngnhất đó là độ sâu thả câu và sử dụng mồi Đội tàu câu công nghiệp hiện đại của cácdoanh nghiệp thường thả mồi câu ở độ sâu từ 50-150m, đội tàu truyền thống của ngưdân thả mồi câu ở độ sâu thấp hơn, thường từ 25-60m Độ sâu thả mồi câu được xácđịnh bằng cách điều chỉnh chiều d ài dây phao hoặc khoảng cách giữa hai phao Mồi
Trang 9câu được sử dụng chủ yếu là cá chuồn, cá nục, bạc má bảo quản lạnh, c òn đội tàutruyền thống thường dùng mồi là cá chuồn hoặc mực đại dương tươi khai thác trực tiếpbằng lưới rê chuồn hoặc mua từ tàu câu mực Chuyến biển thường kéo dài từ 15-25ngày (đối với tàu truyền thống) hoặc 30-50 ngày (đối với tàu công nghiệp hiện đại),mỗi ngày thực hiện từ 1-2 mẻ.
- Tuy nhiên, do đặc thù phát triển của nghề này, các thiết bị an toàn hàng hải, cứusinh, cứu hộ được trang bị trên tàu còn nhiều hạn chế hoặc không đồng bộ nên đảm bảo
an toàn cho người và tài sản khi hoạt động trong điều kiện thời tiết xấu vẫn l à tháchthức lớn cho công tác cứu hộ, đảm bảo an to àn khai thác trên biển của ngành Hơn nữatrình độ chuyên môn và nghiệp vụ phòng, tránh bão của ngư dân còn nhiều bất cập
- Công nghệ bảo quản sản phẩm của các đội t àu khai thác cá ngừ đại dương hiện làvấn đề hết sức bức xúc và cần được quan tâm đầu tư đúng mức Hầu hết các đội tàubảo quản cá đơn thuần bằng đá cây xay nhỏ trước mỗi chuyến biển Ngư dân chưanhận biết được tầm quan trọng của chất lượng mà chỉ quan tâm nhiều đến số lượng.Chính vì vậy, tỷ lệ cá tươi xuất khẩu của nước ta đạt thấp, giá bán cá ngừ tr ên thịtrường thấp hơn các nước khác Kết quả đó đã làm giảm đáng kể giá trị xuất khẩu vàhiệu quả khai thác của các đội tàu khai thác cá ngừ đại dương Hiện nay, cá ngừ đượctiêu thụ ở 3 dạng sản phẩm là cá ngừ tươi sống (philê), cá ngừ đông lạnh và đóng hộp
Cá ngừ Việt Nam đã xuất sang hơn 40 thị trường trên thế giới
- Trong những năm vừa qua, sự phát triển nhanh và ồ ạt của nghề sản xuất cá ngừđại dương ở nước ta đã cho thấy nhiều vấn đề cần phải giải quyết nh ư sự thiếu thôngtin về đối tượng và ngư trường khai thác; ngư cụ và phương pháp khai thác còn lạchậu, thiếu trang thiết bị phục vụ khai thác, phương pháp tổ chức khai thác đơn lẻ, xungđột trên biển còn thường xuyên diễn ra, kỹ thuật sơ chế bảo quản sản phẩm còn yếu,mạng lưới thu mua, cơ sở sơ chế và bảo quản sản phẩm còn chưa được tổ chức phùhợp, chưa có thông tin đầy đủ về thị trường tiêu thụ Hơn nữa hiện chưa có mộtchương trình nghiên cứu tổng thể về đối tượng này, chưa có đơn vị nào có đầy đủthông tin toàn diện về nghề sản xuất cá ngừ đại d ương nên việc định hướng phát triểnphù hợp với tiềm năng nguồn lợi, điều kiện kinh tế, tr ình độ lao động và hội nhập kinh
tế quốc tế gặp nhiều khó khăn Trong năm qua v à sáu tháng đầu năm nay, nghề câu cá
Trang 10ngừ đại dương gặp nhiều khó khăn do giá xăng dầu tăng, biến động ng ư trường, tiêuthụ sản phẩm nên nhiều tàu bị thua lỗ, không thể duy trì sản xuất được, ảnh hưởng đếnđời sống ngư dân và nguồn nguyên liệu cho chế biến cũng như thị trường xuất khẩu.Chính vì vậy, để định hướng phát triển khai thác cá ngừ th ành ngành sản xuất chủ lựccủa nghề cá xa bờ và điều chỉnh sản xuất theo hướng ổn định và bền vững thì sự phốihợp hành động của cả Nhà nước và người khai thác là rất cần thiết.
2 Tổng quan nghề câu cá ngừ đại d ương ở Khánh Hòa:
- Trong các nghề đánh bắt khơi, nghề câu là nghề quan trọng của tỉnh Khánh Ho à,trước đây nghề câu ở Khánh Hoà gồm câu lộng chủ yếu là câu cá rạn, nghề câu khơichủ yếu là câu cá mập lấy vi cá, câu mực, câu cá chân rạn Đến năm 1995, Khánh Ho àbắt đầu triển khai việc câu cá ngừ đại d ương Đi đầu trong lĩnh vực này là Công tyTNHH Trúc An, đơn vị có công nhiều trong việc đầu tư và tiêu thụ sản phẩm cá ngừđại dương Để phát triển được nghề này, bước đầu Công ty TNHH Trúc An thu ê 2 tàu
đi câu, chịu toàn bộ phí tổn và trả 30 triệu đồng/tháng cho một t àu để câu thử nghiệm.Đầu tiên khi mới vào nghề, các thuyền trưởng sử dụng hải đồ có đánh dấu ngư trườngcủa Nhật, khai thác theo mùa từ khu vực quần đảo Hoàng Sa đến dưới quần đảoTrường Sa Đến năm 1996, khi 2 tàu câu có kết quả, nhiều ngư dân phổ biến kinhnghiệm lẫn nhau và học tập thêm kinh nghiệm của ngư dân Phú Yên để nâng cấp tàuthuyền, mua sắm ngư lưới cụ tham gia nghề câu cá ngừ đ ại dương Lúc này Công ty vàmột số chủ nậu khác tổ chức bán trả chậm lưỡi câu dây cước cho chủ tàu có nhu cầucâu cá ngừ đại dương và mua lại sản phẩm Nghề câu cá ngừ đại d ương bắt đầu pháttriển Đến thời điểm hiện nay tại tỉnh Khánh Ho à có trên 300 chiếc tham gia khai thácnghề câu cá ngừ đại dương Đa số các tàu khai thác nghề câu cá ngừ đại dương đềukiêm nghề, hết mùa vụ cá ngừ đại dương (từ tháng 1 đến tháng 8 hàng năm) các tàunày chuyển sang các nghề khác như : giã cào, lưới rê, câu mực, v.v
- Nghề câu cá ngừ đại dương của tỉnh Khánh Hoà chủ yếu tập trung ở một số xãphường tại thành phố Nha Trang như Vĩnh Thọ, Vĩnh Phước, Xương Huân, Hòn Rớ-Phước Đồng, các địa phương khác số lượng không đáng kể Nhiều chủ thuyền đã tổchức thành từng nhóm sản xuất trên cùng ngư trường để hổ trợ giúp đỡ lẫn nhau trong
Trang 11sản xuất, thông tin cho nhau về giá ti êu thụ sản phẩm và hỗ trợ lẫn nhau khi gặp phải
sự cố trên biển
- Sản lượng chính của nghề câu cá ngừ đại dương ở Khánh Hòa là cá ngừ vây vàng,
cá ngừ mắt to sản lượng rất ít Từ tháng 2 đến tháng 6 sản l ượng cá ngừ đại dươngtương đối cao so với các tháng khác, b ình quân sản lượng khai thác 1 chuyến biển của
1 tàu trong các tháng này khoảng 700kg, sản lượng cá ngừ đại dương đánh bắt được cảtỉnh Khánh Hoà hàng năm đạt từ 1500 - 2000 tấn
- Hiện nay, tại Khánh Hoà có 7 công ty tổ chức thu mua cá ngừ đại dương để chếbiến xuất khẩu là: Công ty TNHH Hải Vương, Công ty TNHH Trúc An, Công tyTNHH Tiến Thịnh, Công ty TNHH Hoàng Hải, Công ty TNHH Thịnh Hưng, công ty
cổ phần Nha Trang Seafoods (F17) và Công ty TNHH Đại Dương Địa điểm mua chủyếu tại Cảng cá Hòn Rớ, bến cá Cù Lao và các vị trí thuận lợi chung quanh gần cầuXóm Bóng - Nha Trang
3 Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa:
3.1 Đặc điểm tự nhiên và cơ sở hạ tầng:
3.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm khí tượng thủy văn:
Khánh Hoà là một tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, cách thủ đô H à Nội 1280 km vềphía nam, cách thành phố Hồ Chí Minh 448 km về phía Bắc và có thành phố NhaTrang là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hoá của tỉnh Phía Bắc giáp tỉnh Phú Y ên,phía Nam giáp tỉnh Ninh Thuận, phía Tây giáp tỉnh Đăklăk, Lâm Đồng , phía Đônggiáp biển Đông Diện tích tự nhiên Khánh Hoà là 5.197 km2, dân số 1,1 triệu người Làmột tỉnh đất không rộng, người không đông nhưng được thiên nhiên ưu đãi đặc biệt:khí hậu ôn hoà: Nhiệt độ trung bình hàng năm là 27oC, lượng mưa trung bình hàngnăm 1.737mm, nhiệt độ nước biển tầng mặt có giá trị trung b ình cực đại là 31,30C vàgiá trị cực tiểu là 23,40C, độ mặn có giá trị cực đại là 35,82‰ và đạt cực tiểu là30,11‰ Riêng ở trong đầm có nơi độ mặn tăng lên đến 41‰ vào mùa khô và xuốngtới 1‰ vào mùa mưa; độ ẩm: 70 ÷ 80% Khánh Hòa có cảnh quan xinh đẹp: bờ biểndài trên 385 km, trong đó gần 100 km là bãi cát trắng, có nhiều bán đảo và vịnh lớn,trong đó vịnh Nha Trang được công nhận là thành viên thứ 29 của Câu lạc bộ các vịnhđẹp nhất thế giới; Cam Ranh là vịnh có vị trí chiến lược nổi tiếng thế giới; Vân Phong
Trang 12là Vịnh có tiềm năng lớn trong việc phát triển kinh tế du lịch trong t ương lai KhánhHoà có nhiều đảo ven bờ, có vùng núi cao, đồi trung du, đồng bằng và nhiều sông ngòi;
Có thể ví Khánh Hoà là một bức tranh thu nhỏ của đất nước Việt Nam
3.1.2 Đặc điểm ngư trường nguồn lợi:
Tỉnh Khánh Hoà nằm ở vùng cực Nam Trung Bộ kéo dài từ vĩ độ 11050’00”N đến
vĩ độ 12054’00”N, có diện tích tự nhiên khoảng trên 5000 km2, với hơn 520 km đường
bờ biển và 135 km đường bờ ven đảo Điểm cực đông của Khánh Ho à cũng là điểmcực đông của tổ quốc vì vậy rất thuận lợi cho việc phát triển nghề khai thác thuỷ sản,nhất là nghề khai thác khơi
Biển Khánh Hoà có trên 200 đảo lớn nhỏ Trong 32 đảo ven bờ có 19 đảo có diệntích từ 0,05 km2 trở lên với tổng diện tích khoảng 49 km2 Đảo ven bờ lớn nhất là đảoHòn Tre có diện tích 36 km2, các Đảo Hòn Miếu, Hòn Mun và Hòn Tằm đều lớn trên 1
km2 Trong 70 đảo nằm trong các đầm vịnh, có 26 đảo có diện tích từ 0,05 km2 trở lên.Đảo lớn nhất nằm trong vịnh là Hòn Lớn (ở Vịnh Vân Phong - Bến Gỏi) có diện tíchtới 44 km2
Khánh Hoà có nhiều bán đảo lớn, bán đảo Hòn Hèo có diện tích 146 km2, bán đảoCam Ranh 106 km2, bán đảo Hòn Gốm 83 km2
Khánh Hoà có các Vịnh và đầm lớn như Vịnh Vân Phong - Bến Gỏi, có diện tích
503 km2, độ sâu dưới 30m, Vịnh Nha Trang 249 km2, độ sâu dưới 16m và Vịnh CamRanh có diện tích 185 km2, độ sâu dưới 25m
Đổ ra biển Khánh Hoà có hàng chục sông suối nhỏ và ngắn Đáng kể có 2 sông cótrữ lượng nước phong phú nhất tỉnh: Sông Cái ở Nha Trang có l ưu vực khoảng 1800
km2 và Sông Dinh ở Ninh Hoà có lưu vực 800 km2 Lưu vực của toàn bộ các sông, suối
ở Khánh Hoà lên tới 3000 km2 Điều kiện tự nhiên đã tạo cho Khánh Hoà có gần 1000
ha hồ chứa nước phục vụ cho thuỷ lợi và nuôi trồng thuỷ sản
3.1.3 Cơ sở hạ tầng:
Khánh Hoà có hệ thống cơ sở hạ tầng tương đối phát triển, nằm trên các trục giaothông quan trọng của cả nước: có Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc Nam nối liền với cáctỉnh phía Bắc và phía Nam, Quốc lộ 26 nối với Đăk Lăk và các tỉnh Tây Nguyên
Trang 13Khánh Hoà có 6 cảng biển, trong đó có 3 cảng biển cho tàu có trọng tải l0.000 30.000 tấn cập bến, có ga đường sắt chính, có 2 sân bay, đặc biệt sân bay Cam Ranh
-có thể nâng cấp thành sân bay quốc tế, thuận lợi cho việc giao lưu trong nước và quốctế; mạng điện quốc gia đã và có thể đáp ứng mọi nhu cầu về điện năng cho các nh àđầu tư; hệ thống thông tin liên lạc đạt trình độ kỹ thuật tiên tiến
Hình 1-1: Bản đồ hành chính tỉnh Khánh Hòa
Trang 143.2 Nguồn nhân lực:
Khánh Hòa có 42% dân số trong độ tuổi lao động, trên 2,1% tốt nghiệp cao đẳng,đại học trở lên Có 1 trường đại học, 5 trường cao đẳng, 1 trường trung học chuyênnghiệp, 3 viện nghiên cứu quốc gia và hệ thống các loại hình đào tạo dạy nghề, mặtbằng dân trí và hệ thống các trường đào tạo này là cơ sở đảm bảo nguồn nhân lực chophát triển trong tương lai
Với điều kiện thuận lợi về tự nhi ên, nguồn lao động dồi dào, cơ sở vật chất đượcchuẩn bị sẵn, Khánh Hòa đã và đang tạo ra những cơ hội mới, chính sách cởi mở, năngđộng để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nuớc đến đầu tư vàcùng hợp tác phát triển
Tiềm năng thế mạnh của tỉnh Khánh Ho à bao gồm: Du lịch, Thuỷ sản, Đóng, sửachữa tàu - Cảng biển, Ngành sợi-dệt-may, Khoáng sản, Các lĩnh vực tổng hợp khác
3.3 Tiềm năng kinh tế thủy sản của tỉnh:
Vùng biển Khánh Hoà có dòng hải lưu Bắc – Nam Thái Bình Dương chảy qua, làvùng biển giàu tiềm năng đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản Những loại hải sản có trữlượng lớn là: tôm hùm, tôm sú, mực, cá thu, cua, ghẹ Diện tích nu ôi trồng thuỷ sảnkhoảng 7.500 ha, sản lượng thuỷ sản hàng năm khoảng 85 ngàn tấn; đặc biệt KhánhHoà có điều kiện thuận lợi về tự nhiên cũng như về cơ sở và đội ngũ nghiên cứuchuyên ngành (như Viện Hải dương Học, Đại học Nha Trang) để phát triển tôm giốngnên Bộ Thuỷ sản đã đặt tại đây Trung tâm Nghiên cứu thuỷ sản III và đang xây dựngvùng nuôi tôm giống tập trung để cung cấp cho cả nước
4 Tình hình kinh tế - xã hội phường Vĩnh Trường – Tp Nha Trang:
Trang 15Phước Đồng; phía Đông giáp núi Chụt, ph ường Vĩnh Nguyên; phía Bắc giáp phườngPhước Long; phía Nam giáp biển.
- Phường Vĩnh Trường có diện tích 185 ha, dân số 15.700 ng ười với 2985 hộ
Hình 1-2: Bản đồ hành chính phường Vĩnh Trường
4.2.2 Cơ sở hạ tầng:
- Phường Vĩnh Trường có cảng cá Vĩnh Trường là nơi tập trung neo đậu và buônbán của tất cả tàu thuyền hoạt động thủy sản trong phường với số lượng tàu thuyền ravào cảng cá vào mùa khô là 1200 chiếc, vào mùa mưa là 945 chiếc
4.3 Nguồn nhân lực:
- Đại đa số dân cư ở đây đều hoạt động ngành thủy sản như khai thác, nuôi trồng, chếbiến, Cụ thể như sau:
+ Khai thác thủy sản chiếm 50%
+ Chế biến Thủy sản chiếm 20%
+ Nuôi trồng thủy sản chiếm 1%
- Trình độ văn hóa: Không biết chữ: 12%, Tiểu học: 20%, Trung học: 50%, Cao đẳng
& đại học: 18%
Trang 16Không biết chữ Tiểu học Trung học Cao đẳng & đại học
Hình 1-3: Biểu đồ thể hiện trình độ văn hóa của dân cư phường Vĩnh Trường
4.4 Vệ sinh môi trường:
Số hộ có nhà vệ sinh tự hoại chiếm 60%
Số hộ không có nhà vệ sinh chiếm 40%
Số hộ vứt rác thẳng xuống sông (nh à chò ven biển, sống trên thuyền) là 950 hộ
4.5 Hoạt động kinh tế chính của phường Vĩnh Trường:
Số người hoạt động trong khai thác thủy sản chiếm 50%, sản lượng đánh bắt 10.000tấn, với số lượng tàu thuyền khai thác thủy sản lên đến 545 chiếc Qua đó ta thấy, khaithác thủy sản là một trong những thế mạnh của ph ường
2) Phường Cam Linh
3) Phường Cam Lợi
c Huyện Vạn Ninh.
1) Xã Đại Lãnh 2) Xã Vạn Thọ 3) Xã Vạn Long 4) Xã Vạn Phước 5) Xã Vạn Thắng 6) Thị Trấn Vạn Giã 7) Xã Vạn Hưng 8) Xã Vạn Lương 9) Xã Vạn Thạnh
d Huyện Ninh Hoà.
1) Xã Ninh Hải
Trang 175.1.2 Luồng lạch, cảng cá, nơi neo đậu:
Bảng 1-3: Các cảng cá trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa:
Địa
phương Bến cá chính
Số tàu có thể tiếp nhận
Các nghề chính Hình thức
quản lý
Cù Lao 150 Câu vàng, Rê trôi, Giã cào Nhà nước quản lý Vĩnh Trường 200 Mành, Vây cá cơm Nhà nước quản lý Nha
Trang
Hòn Rớ 300 Câu vàng, Rê trôi, Giã cào
đôi, Mành, Vây cá cơm Nhà nước quản lý
Đá Bạc 120 Giã đơn, đôi, vây ánh sáng Nhà nước quản lý Lãng Ông 130 Giã đơn, đôi, vây ánh sáng Hình thành tự phát Cầu Ông Hưởng 20 Giã đơn, đôi, vây ánh sáng Bến cá tư nhân Cầu Bà Thương Giã đơn, đôi, vây ánh sáng Bến cá tư nhân
Cam
Ranh
Bến cá Ông Rạng 20 Giã đơn, đôi, vây ánh sáng Bến cá tư nhân Đại Lãnh 150 Lưới giã, Trũ rút, vây Hình thành tự phát Vạn Giã 100 Lưới giã, Trũ rút, vây Hình thành tự phát Chùa tàu 60 Lưới giã, Trũ rút, vây Hình thành tự phát Vạn Thắng-thôn Quản lợi 40 Lưới giã, Trũ rút, vây Bến cá tư nhân Vạn Hưng-thôn Xuân Tự 20 Lưới giã, Trũ rút, vây Hình thành tự phát Vạn Hưng-thôn Xuân Hà 20 Lưới giã, Trũ rút, vây Hình thành tự phát Đầm Môn 100 Trũ rút, Lưới vây Hình thành tự phát
Vạn
Ninh
Khải Lương 100 Trũ rút, Lưới vây Hình thành tự phát Lương Sơn 150 Giã cào đơn, đôi, lưới cước Hình thành tự phát Ninh
Hoà Ninh Thuỷ 20 Giã cào đơn, đôi, lưới cước Hình thành tự phát
+ Về luồng lạch:
- Hệ thống luồng lạch ở Khánh Hoà đã từ lâu không được nạo vét cho nên xuấthiện rất nhiều bãi bồi gây khó khăn cho tàu bè ra vào khi thuỷ triều xuống, có một số
Trang 18- Qua tìm hiểu tại Nha Trang thì được biết hệ thống luồng lạch của Tỉnh đangtrong quá trình xây dựng và tu sửa lại cho nên các thông số thực tế về luồng lạch chưađược công bố.
+ Về hệ thống cảng cá:
- Tại Khánh Hoà hệ thống cảng cá được phân bố tương đối hợp lý thuận lợi choviệc cập tàu của ngư dân, nhưng thời gian sử dụng đã rất lâu nên cơ sở hạ tầng đãxuống cấp không đáp ứng được nhu cầu ngày càng phát triển về nghề biển Vì thế nên
kế hoạch xây dựng, sửa chữa hệ thống cảng cá đến năm 2010 đã được khởi công
- Bên cạnh hệ thống cảng cá đã xuống cấp đang có kế hoạch xây dựng lại thì hiệnnay ở Khánh Hoà cũng đang có một số cảng với cơ sở hạ tầng đảm bảo như cảng cáHòn Rớ
Hình 1-4: Cảng cá Hòn Rớ
5.1.3 Danh sách các vị trí neo đậu toàn tỉnh Khánh Hoà:
Bảng 1-4: Các vị trí neo đậu cho tàu cá trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa:
đầu tư
vốn đầu tư (1.000 đồng)
Trang 19+ Hiền Lương - Cầu Treo
-5 bến phao neo, 10 ụ
bờ và 150m tường kè.
1.000.000
1.000.000 1.000.000
2 Huyện Ninh Hoà
+ Bình tây (theo quy
hoạch trung ương) xã
3.700.000 3.700.000
20 bến phao neo
50 bến phao neo
10 trụ bờ và 200m tường kè
+ 10 trụ nối bờ, 30 trụ phao độc lập, đèn báo hiệu.
+ Nạo vét luồng.
10.500.000 500.000 1.500.000 1.000.000 5.500.000
2.000.000
Trang 2010 trụ bờ và 200m tường kè.
5 trụ nối bờ
20 trụ phao độc lập Nạo vét cục bộ
8.800.000 1.050.000
1.050.000 5.780.000
1.000.000
Hiện nay ở Khánh Hoà ngoài những khu neo đậu theo quy hoạch trung ương thìcòn có nhiều khu tự phát do ngư dân sử dụng làm nơi neo đậu thường xuyên Do đó,việc quản lý các tàu thuyền này gặp rất nhiều khó khăn, nhất là vào mùa mưa bão Vìvậy, các cơ quan có chức năng cần có những biện pháp nhằm khuyến khích các t àu nàyvào neo đậu ở những nơi theo quy hoạch để thuận lợi cho việc quản lý v à trợ giúp khicác tàu gặp sự cố trong mùa mưa bão
5.2 Năng lực tàu thuyền nghề cá:
5.2.1 Thống kê số lượng tàu thuyền theo địa phương và theo công suất của 2 quí đầu năm 2007 của tỉnh Khánh Hòa:
Bảng 1-5: Số lượng tàu thuyền theo địa phương và công suất của 2 quí đầu năm 2007:
Địa phương
Công suất
Tổng số lượng tàu Khánh Diên Ninh Hoà Ninh Vạn Ranh Cam Trang Nha
Trang 215.2.2 Thống kê số lượng tàu thuyền theo từng địa phương và theo công suất của của tỉnh Khánh Hòa tính đến ngày 7/9/2007:
Bảng 1-6: Số lượng tàu thuyền theo địa phương và công suất tính đến ngày 7/9/2007:
Địa phương
Công suất
Tổng số lượng tàu Khánh Diên Ninh Hoà Ninh Vạn Cam Ranh Trang Nha
Toàn tỉnh tăng 530 chiếc, chiếm tỉ lệ 100%
Ninh Hòa tăng 147 chiếc, chiếm tỉ lệ 32%
Vạn Ninh tăng 115 chiếc, chiếm tỉ lệ 23%
Cam Ranh tăng 37 chiếc, chiếm tỉ lệ 6,98%
Nha Trang tăng 172 chiếc, chiếm tỉ lệ 37%
Ninh Hòa Vạn Ninh Cam Ranh Nha Trang
Tỉ lệ gia tăng tàu thuyền
Hình 1-5: Biểu đồ tỉ lệ gia tăng tàu thuyền trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
Qua đồ thị ta thấy số lượng tàu thuyền ở Nha Trang gia tăng nhanh nhất với 1172chiếc dưới 20cv, 1463 chiếc từ 20cv – 75cv, 97 chiếc từ 75cv – 90cv, 418 chiếc trên90cv Qua đó cho thấy Nha Trang là địa bàn rất thuận lợi để tập trung nhiều loại nghềkhác nhau, với đường bờ biển dài và nhiều hòn đảo lớn nhỏ là nơi tập trung nhiều sảnlượng hải sản, thu hút đông đảo ng ư dân phát triển nghề biển
Trang 22Cùng với sự phát triển nghề biển ở Nha Trang nh ư vậy thì ở các địa phương nhưCam Ranh, Vạn Ninh, Ninh Hoà cũng ngày càng đa dạng hoá các loại tàu ở nhiều mứccông suất.
Ngược lại, Diên Khánh là một vùng xa biển, không thích hợp với phát triển nghềbiển cho nên nhân dân không đầu tư vào lĩnh vực này, do đó địa phương này có sốlượng tàu thuyền ít nhất, cụ thể chỉ có một chiếc với côn g suất lớn hơn 90CV nhưnghiện nay cũng đã bán đi nơi khác
Như vậy ta có thể nhận thấy tình hình phân bố tàu chưa đồng đều ở các địaphương
Hình 1-6: Biểu đồ phân bố tàu thuyền ở các địa phương trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
5.2.3 Thống kê số lượng tàu của từng địa phương theo từng nghề tính đến ngày 7/9/2007 trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa:
Bảng 1-7: Số lượng tàu thuyền theo từng nghề tính đến ngày 7/9/2007:
Nghề
Địa phương
Tổng số lượng tàu
Giã cào
Cản, cước,
Mành,Trủ, vây rút Nghề khác
Trang 23Mành, Trủ, vây rút Nghề khác
Hình 1-7: Biểu đồ tỉ trọng số lượng tàu thuyền của các nghề
Nhận xét
Nhìn vào bảng thống kê và biểu đồ trên ta thấy số lượng tàu câu là 488 chiếc, chiếm
tỉ lệ 8,25% số lượng tàu của toàn tỉnh Điều này cho thấy số lượng tàu nghề câu cònquá ít so với các tàu hoạt động nghề khác Do đó chính quyền tỉnh cần có chính sách đểkhuyến khích phát triển hơn nữa đội tàu câu, nhất là câu cá ngừ đại dương để thực hiệnđịnh hướng phát triển và bảo tồn nguồn lợi thủy sản trong bối cảnh nguồn lợi thủy sảnven bờ đang cạn kiệt dần Bên cạnh đó chúng ta cũng thấy rằng tổng số lượng tàu phục
vụ nghề mành, trủ, vây rút chiếm tỷ trọng lớn nhất cụ thể là 3071 chiếc bởi vì đặc tínhcủa ngư trường của tinh Khánh Hoà là tập trung nhiều đàn cá di cư nên ta thấy nghềlưới vây ở đây tương đối phát triển
5.3 Sản lượng khai thác thủy sản của tỉnh Khánh H òa:
5.3.1 Sản lượng khai thác thủy sản theo năm của tỉnh:
Bảng 1-8 : Thống kê sản lượng khai thác thủ sản theo năm của tỉnh (ĐVT: nghìn tấn)
Trang 24* Nhận xét:
Qua đồ thị cho thấy sản lượng khai thác thủy sản ở Khánh H òa tăng đều qua cácnăm Đó vừa là điều đáng mừng nhưng cũng đáng lo ngại Sản lượng khai thác thủysản cao đem lại kim ngạch xuất khẩu cao về cho tỉnh nh ưng cũng đem lại thiệt hạikhông nhỏ là nguồn lợi thủy sản ngày một cạn kiệt, nhất là nguồn lợi thủy sản ven bờ
* Sản lượng khai thác thủy sản các tháng đầu năm 2007:
- Tháng 01/2007 khai thác được 3.300 tấn thủy sản tăng 3,1% so c ùng kỳ năm trước
- Khai thác thủy sản 2 tháng đầu năm được 6.400 tấn tăng 12,2% so cùng kỳ nămtrước
- Nghề cá ngừ đại dương đạt sản lượng khá, quý I/2007 khai thác được 11.800 tấn thủysản tăng 20,4% so cùng kỳ năm trước
- 4 tháng đầu năm khai thác được 19.500 tấn tăng 14,7% so cùng kỳ năm trước
- 5 tháng đầu năm đánh bắt thủy sản được 26.000 tấn tăng 4% so cùng kỳ năm trước
- 6 tháng đầu năm khai thác được 34.038 tấn thủy sản tăng 3,1% so c ùng kỳ năm trước
3.3 3.1
5.4
7.7
6.5 8.038
Hình 1-9: Biểu đồ sản lượng khai thác thủy sản các tháng đầu năm 2007 ở Khánh H òa
* Nhận xét:
Qua đồ thị thể hiện sản lượng khai thác thủy sản qua các tháng đầu năm 2007 ởKhánh Hòa ta thấy sản lượng các tháng 4 , 5 , 6 tăng vượt bậc so với các tháng đầunăm Lý do có sự tăng nhanh này là vì đây là các tháng khai thác chính trong năm c ủacác nghề Cũng qua đồ thị ta thấy sản l ượng khai thác tăng quá nhanh, sản l ượng khaithác các tháng đều vượt so với cùng kỳ năm trước Điều này cần được các cơ quan cóchức năng có biện pháp điều tiết sản l ượng khai thác nhằm bảo vệ nguồn lợi v à pháttriển bền vững
Trang 255.3.2 Sản lượng khai thác thủy sản theo từng địa ph ương của tỉnh Khánh Hòa:
Bảng 1-9: Sản lượng khai thác thủy sản năm 2006 theo từng địa phương của tỉnh (Tấn)
TS khác
Hình 1-10: Biểu đồ sản lượng khai thác thủy sản theo từng địa ph ương của tỉnh
* Nhận xét: Cũng như sự phân bố số lượng tàu thuyền ở các địa phương trong tỉnh,
sản lượng khai thác thủy sản ở Nha Trang có phần v ượt trội so với các địa phươngkhác Điều này chứng tỏ rằng Nha Trang là địa bàn rất thuận lợi để phát triển nghề khaithác thủy sản, với đường bờ biển dài và nhiều hòn đảo lớn nhỏ là nơi tập trung nhiềuloài hải sản, thu hút đông đảo ngư dân phát triển nghề biển
5.3.3 Sản lượng khai thác thủy sản theo các nghề của tỉnh Khánh Hòa:
Bảng 1-10: Sản lượng khai thác theo nghề năm 2006 của tỉnh (ĐVT: Tấn):
Nghề
Trang 26Hình 1-11: Biểu đồ sản lượng khai thác thủy sản theo nghề của tỉnh Khánh Hòa
* Nhận xét: Qua biểu đồ ta thấy sản lượng khai thác thủy sản nghề câu chiếm tỉ trọng
rất thấp trong tổng số sản lượng khai thác thủy sản so với các nghề khác Nếu nh ư sảnlượng khai thác nghề câu của toàn tỉnh là 2472 tấn, chiếm 4,28% tổng sản lượng khaithác được thì sản lượng các nghề khác như lưới kéo là 18552 tấn, chiếm 32,16 %; nghềlưới vây là 8731 tấn, chiếm 15,13%; lưới rê 9431,5 tấn, chiếm 16,35%; nghề khác l à18487,83 tấn, chiếm 32,05% Qua đó đặt ra một dấu hỏi cho các c ơ quan có chức năng
là làm thế nào để thúc đẩy hơn nữa nghề câu của tỉnh nhằm đem lại hiệu quả h ơn nữa
về sản lượng nghề câu của tỉnh đồng thời cũng ph ù hợp với định hướng khai thác vàbảo vệ nguồn lợi thủy sản, nhất là nguồn lợi thủy sản ven bờ
Nghề câu Lưới kéo Lưới vây Lưới Rê Nghề khác
Hình 1-12: Biểu đồ thể hiện tỉ trọng sản lượng khai thác của các nghề
Trang 275.4 Chính sách, định hướng phát triển nghề cá của tỉnh Khánh H òa:
Trong chương trình phát triển kinh tế biển từ nay đến năm 2010, Uỷ ban nhân dântỉnh Khánh Hoà vừa phải điều chỉnh kế hoạch khai thác sản l ượng hải sản chỉ đạt tối đakhoảng 80.670 tấn/năm vào năm 2010, so với mức 100.000 tấn đã đề ra trước đây.Việc điều chỉnh kế hoạch trên là do theo phân tích của ngành thuỷ sản KhánhHoà, lâu nay cường độ khai thác hải sản ven bờ quá lớn, trong khi công tác tái tạonguồn lợi không đáng kể, nên đã làm giảm nhanh trữ lượng hải sản Thực tế là tronggiai đoạn 2001- 2005, tổng sản lượng khai thác hải sản của Khánh Ho à chỉ ở mức trên327.000 tấn, đạt 89% kế hoạch đề ra Hoặc như năm nay Khánh Hoà đề ra mức sảnlượng khai thác là 67.000 tấn, nhưng 11 tháng qua chỉ được gần 50.000 tấn Sở thuỷsản Khánh Hoà cho rằng đây là dấu hiệu cho thấy khai thác hải sản ở Khánh Ho à đãvượt giới hạn trữ lượng cho phép, có nguy cơ phá vỡ tính bền vững
Theo đó, về đánh bắt hải sản, Khánh Hoà tổ chức lại lực lượng khai thác xa bờchuyên đánh bắt các loại hải sản có giá trị cao nh ư: cá ngừ đại dương, cá thu, mực theo hướng mỗi năm huy động 150 tỷ đồng từ các nguồn vốn đầu t ư cho đóng mới độitàu, lập đề án tổ chức khai thác ở ngư trường Trường Sa, bảo quản tốt sản phẩm sau thuhoạch nhằm tăng giá trị xuất khẩu; hạn chế khai thác ven bờ bằng cách chỉ duy tr ì sảnlượng ổn định ở mức từ 38.000 đến 40.000 tấn/ năm B ên cạnh đó, Khánh Hoà mởrộng diện tích nuôi trồng thuỷ sản l ên trên 7.500 ha bằng các chính sách khuyến khích;phát huy thế mạnh là tỉnh có ngành chế biến thuỷ sản đứng thứ 3 trong cả n ước (sau CàMau và Sóc Trăng), Khánh Hoà tiếp tục nâng cao trình độ công nghệ và đa dạng hoácác sản phẩm có giá trị, mở rộng các thị tr ường xuất khẩu mới tại EU và Bắc Mỹ, phấnđấu đến năm 2010 kim ngạch xuất khẩu h àng thuỷ sản đạt 310 triệu USD với tổng sảnphẩm trên 57.000 tấn, trong đó tỷ lệ hàng siêu thị chiếm 50%
Bên cạnh việc hạ sản lượng khai thác nhằm phát triển bền vững cũng cần hiện đạihóa các cảng cá để làm “Bà đỡ” cho phát triển nghề đánh bắt xa bờ nói chung v à nghề
cá ngừ nói riêng Những năm qua, tỉnh Khánh Hòa đã ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng ởcác cảng cá hiện đại, nhất là cảng Hòn Rớ, gắn với các dịch vụ hậu cần đảm bảo đủnăng lực làm “bà đỡ” cho nhu cầu phát triển nghề cá nói chung, nghề câu cá ngừ nóiriêng Cảng cá Hòn Rớ xây dựng khá hoàn thiện từ cầu cảng đến kho bãi, nhà xưởng,
Trang 28nhà phân loại cá, khu hành chính, xe cần cẩu, xe chuyên chở hải sản… Trưởng bancảng cá Hòn Rớ và chợ thủy sản Nam Trung bộ Đỗ Trung Hiệp cho biết: Cảng cá H òn
Rớ đầu tư trên diện tích 16.000m2, hoàn toàn khu biệt với nhà dân ở xung quanh, đượchoàn thành từ năm 2002 Chợ cá ở trong cảng với mặt b ằng 6.000m2 mới đưa vào sửdụng từ tháng 3/2007 Bước đầu chợ cá này chưa hoạt động hết chức năng, nhưng đãquản lý được các cơ sở thu mua, tổ chức được nhiều phiên đấu giá cá ngừ, nhằm chốngtình trạng mua ép giá, ép phẩm cấp cá ngừ; quản lý an to àn vệ sinh thực phẩm hảisản…Chính vì thế, tỉnh đã thu hút được nhiều doanh nghiệp nhảy vào đầu tư nghề đánhbắt cá ngừ; và giúp ngư dân chuyên nghề cá ngừ có cách làm ăn lớn trên biển
Ngoài ra, các cơ quan quản lý có chức năng cũng cần phải có những biện pháp đ ểbảo vệ quyền lợi cho bà con ngư dân, hạn chế tình trạng ép giá, ép phẩm cấp cá, bánxăng dầu cho ngư dân cao hơn giá thị trường của các doanh nghiệp, các chủ nậu gây thiệt hại cho ngư dân bằng cách xây dựng những chợ đấu giá cá ngừ để bảo vệnguồn lợi cho ngư dân, tổ chức dịch vụ cho thuê kho lạnh để ngư dân bảo quản cá,niêm yết giá cá trên thế giới, kêu gọi các doanh nghiệp vào cảng thu mua cá… Hiệphội nghề cá cần quản lý việc đấu giá cá ngừ Nếu các t ư thương ép giá, thì ban quản lýhiệp hội nghề cá lập tức trực tiếp làm “trọng tài kinh tế” để can thiệp, đồng thời tư vấncho ngư dân bán cá cho các cơ s ở khác… Nói tóm lại, các rủi ro trong ti êu thụ cá đượchiệp hội nghề cá “bảo kê”, do đó hạn chế xảy ra việc tư thương ép giá, ép phẩm cấp
* Tóm lại, định hướng phát triển nghề cá của Khánh H òa cho đến năm 2020 nhằmthực hiện những mục tiêu sau:
- Điều chỉnh cơ cấu khai thác vùng biển ven bờ một cách hợp lý nhằm khôi phục, bảotồn nguồn lợi cá và hệ sinh thái ven bờ
- Phát triển nghề cá xa bờ có hiệu quả, nâng cao chất lượng sản phẩm sau thu hoạch
- Nâng cao mức sống của cộng đồng ngư dân nghề khai thác cá biển tỉnh Khánh H òa
* Để thực hiện các mục tiêu đó thì ngoài các chính sách, hành động đã đạt đượcthì các cơ quan nhà nước cần:
- Tăng cường hơn nữa việc thống kê, đánh giá thực trạng nghề cá gần bờ và xa bờ vềcác mặt: số lượng tàu thuyền, cơ cấu nghề nghiệp, cơ sở hạ tầng và các vấn đề kinh tế
xã hội của cộng đồng ngư dân ven biển tỉnh Khánh Hòa
Trang 29- Triển khai tốt công tác đă ký, đăng kiểm tàu cá, thực hiện việc cấp, và thu hồi giấyphép khai thác thuỷ sản cho tàu thuyền đánh cá nhằm điều tiết cường lực khai thác hợp
lý, quản lý được mật độ khai thác tàu thuyền tại ngư trường trong tỉnh
- Đề xuất các cơ chế chính sách phù hợp trong quản lý nhằm sắp xếp lại cơ cấu nghềnghiệp và giảm cường lực khai thác vùng gần bờ, phát triển khai thác hải sản xa bờtrên cơ sở sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn lợi
- Thiết lập các khu vực hạn chế đánh bắt, cấm đánh bắt; phát triển v à quản lý có hiệuquả các khu bảo tồn biển biển trong tỉnh
- Triển khai các mô hình quản lý dựa vào cộng đồng và các biện pháp quản lý nghề cáphù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của nghề cá từng địa phương trong tỉnh gópphần quản lý tốt nghề cá, bảo vệ nguồn lợi, nâng cao đời sống ngư dân và giải quyếtcác vấn đề môi trường sinh thái
- Phối hợp với các lực lượng Biên phòng, Hải quân, Cảnh sát biển trong việc triển khaitốt công tác cứu hộ, cứu nạn cho ng ư dân khi gặp tai nạn rủi ro trên biển, đồng thờingăn chặn kịp thời các hành vi xâm phạm trái phép của tàu thuyền nước ngoài, bảođảm chủ quyền, quyền chủ quyền của n ước ta
- Xây dựng phần mềm cơ sở dữ liệu nguồn lợi thuỷ sản
6 Một số tài liệu liên quan đến vấn đề thuyền viên, trang bị an toàn, trang bị cứu hỏa cho tàu câu cá nói chung và tàu câu cá ngừ đại dương nói riêng:
- Tiêu chuẩn ngành 28 TCN 181 : 2002 Chức danh viên chức tàu thủy sản
- Tiêu chuẩn ngành 28 TCN 91-90, ngày 1/1/1991 của Bộ Thủy sản về trang bị antoàn cho tàu cá cỡ nhỏ
- Chỉ thị 01/CT-BTS về công tác phòng, chống lụt, bão, tìm kiếm cứu nạn, đảm bảo
an toàn cho người và tàu cá hoạt động thuỷ sản năm 2007
- Chỉ thị : 08/2007/CT-TTg về việc tăng cường công tác phòng, chống lụt, bão vàtìm kiếm, cứu nạn, giảm nhẹ thiệt hại do thi ên tai gây ra năm 2007
- Chỉ thị 43/1998/CT-UB của ủy ban nhân dân tỉnh Khánh H òa về việc thực hiệnchương trình phát triển kinh tế thuỷ sản
- Nghị định số 66/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 của Chính Phủ về đảm bảo an toàncho người và tàu cá hoạt động thủy sản
Trang 30- Thông tư 02/2007/TT-BTS hướng dẫn thực hiện Nghị định 66/2005/NĐ-CP ngày19/5/2005 của Chính Phủ về đảm bảo an toàn cho người và tàu cá hoạt động thủy sản.
7 Những quy định về thuyền viên, trang bị an toàn, cứu hỏa với tàu thuyền nghề
cá nói chung và nghề câu cá ngừ nói riêng:
Những quy định về thuyền viên và trang bị an toàn cho tàu cá được quy đinh theomột số văn bản pháp luật như tiêu chuẩn ngành 28TCN 181 2002 quy định về chứcdanh viên chức tàu thủy sản, tiêu chuẩn ngành 28 TCN 91-90, ngày 1/1/1991 của BộThủy sản về trang bị an toàn tàu cá cỡ nhỏ Bên cạnh đó là các quy định trong các luật,nghị định, thông tư, hướng dẫn có liên quan như Luật Thủy sản, Nghị định số66/2005/NĐ-CP19/5/2005 của Chính Phủ về đảm bảo an toàn cho người và tàu cá hoạtđộng thủy sản, Thông tư số 02/2007/TT-BTS ngày 13/7/2007 của Bộ trưởng Bộ Thủysản về việc hướng dẫn nghị định số 66/2005/NĐ-CP Trước đây, các quy định về trang
bị an toàn cho tàu cá được áp dụng theo quy định của tiêu chuẩn ngành 28 TCN 91-90,tuy nhiên hiện nay được hướng dẫn cụ thể chi tiết hơn trong thông tư số 02/2007/TT-BTS Theo đó, việc trang bị an toàn cho tàu cá được áp dụng theo những quy địnhtrong Phụ lục I của thông tư này
7.1 Những quy định về thuyền viên trên tàu cá:
- Các thuyền viên làm việc trên tàu phải chấp hành nội quy lao động trong doanhnghiệp theo điều 83 Bộ Luật Lao động của n ước CHXHCN Việt Nam và các văn bảnhướng dẫn thực hiện Điều này của nhà nước
- Hiểu, chấp hành các quy trình kỹ thuật sản xuất, quy phạm kỹ thuật an to àn vệ sinhlao động và công việc phòng chống bão lụt, tìm kiếm cứu nạn trên biển có liên quanđến nhiệm vụ của mình Thành thạo công việc về cứu hỏa, cứu sinh, chống thủng v à sơcứu trên tàu
- Bảo quản tốt máy móc, thiết bị, dụng cụ, vật tư, nguyên liệu, sản phẩm thủy sản vàtrang bị bảo hộ lao động được giao quản lý, sử dụng
- Thường xuyên học tập để nâng cao trình độ nghiệp vụ, chuyên môn, trình độ ngoạingữ, nâng cao năng suất lao động v à chất lượng sản phẩm
- Chấp hành các quy định, các tiêu chuẩn Nhà nước và tiêu chuẩn ngành về bảo vệnguồn lợi thủy sản, bảo vệ môi trường, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 31- Chấp hành các quy định của Nhà nước về an ninh quốc phòng trên biển có liên quanđến nhiệm vụ của mình.
- Hiểu biết và chấp hành các quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam, các Điều ướcquốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận có li ên quan nhiệm vụ được giao
- Thuyền trưởng và sĩ quan trên tàu phải nắm được đường lối, chủ trương của Đảng,pháp luật của Nhà nước và các quy định của Ngành liên quan đến công việc của mìnhđảm nhiệm
7.2 Những quy định về trang bị an to àn trên tàu cá:
Trang bị an toàn trên tàu cá được quy định theo Phụ lục I Thông t ư số BTS ngày 13/7/2007 của Bộ trưởng Bộ Thủy sản về việc hướng dẫn Nghị định số66/2005/NĐ-CP)
02/2007/TT-7.3 Những quy định về trang bị cứu hỏa trên tàu cá:
Trang bị cứu hỏa trên tàu cá được quy định theo Phụ lục I Thông t ư số BTS ngày 13/7/2007 của Bộ trưởng Bộ Thủy sản về việc hướng dẫn Nghị định số66/2005/NĐ-CP)
02/2007/TT-8 Tổng quan về thuyền viên, trang bị an toàn, cứu hỏa trên các tàu thuyền nghề
cá Việt Nam hiện nay:
Nhìn chung thuyền viên làm việc trên các tàu cá Việt Nam hiện nay chưa đượctrang bị đúng mức về an toàn lao động cũng như kiến thức, trình độ chuyên môn taynghề Họ chỉ làm việc theo kinh nghiệm Do đó chưa hiểu biết về bản chất công việcmình làm nên thường có thái độ chủ quan, coi th ường thao tác của mình, do đó dễ xảy
ra tai nạn
Đối với các thuyền trưởng, chủ tàu, họ thường có thói quen mê tín nên chưa coitrọng việc trang bị an toàn nói chung và trang bị cứu hỏa nói riêng cho tàu của mình.Một số tàu trang bị các dụng cụ an toàn với tâm lý đối phó sự kiểm tra của các c ơ quanchức năng hơn là tự bảo vệ cho mình khi có sự cố xảy ra Do đó đã xảy ra không ítnhững sự cố đáng tiếc làm thiệt hại về người và của Bên cạnh đó là các phương tiện,máy móc phục vụ khai thác cũ kỹ lạc hậu cũ ng góp phần gây ra những tai nạn
Trang 329 Nhận xét phần tổng quan:
- Nghề câu cá ngừ đại dương là một nghề rất phù hợp với điều kiện về ngư trườngcũng như khả năng đánh bắt của ngư dân Khánh Hòa Tuy vậy không phải tất cả cácđịa phương trong tỉnh đều phát triển nghề câu ngừ m à chỉ phát triển tập trung ở một sốphường nhất định như Xương Huân, Vĩnh Phước, Vĩnh Thọ, Hòn Rớ - Phước Đồng
- Nghề câu cá ngừ đại dương đã được các cơ quan ban ngành có liên quan có sựquan tâm đầu tư đúng mức Mặc dù nghề câu cá ngừ ở Khánh Hòa sinh sau so với cáctỉnh bạn như Phú Yên, Bình Định, nhưng thương hiệu cá ngừ Khánh Hòa đã chiếmđược vị thế đáng kể so với cả nước, nếu không muốn nói là vượt bậc so với các tỉnh lâncận như Phú Yên,
- Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần tháo gỡ, khắc phục:+ Các tàu câu cá ngừ phần lớn vẫn chưa đáp ứng được tính năng an toàn hàng hải.+ Kết cấu hầm bảo quản, quy trình bảo quản sản phẩm sau khai thác, các trangthiết bị phục vụ khai thác chưa bảo đảm
+ Các trang thiết bị bảo đảm an toàn lao động cá nhân, trang bị an toàn, trang bịcứu hỏa chưa được quan tâm đúng mức
- Do đó, việc nghiên cứu thực trạng và đề ra mô hình nhằm đảm bảo an toàn chongười và phương tiện cho nghề câu ngừ nói riêng và nghề đi biển nói chung là cần thiếtnhằm nâng cao hiệu quả khai thác cũng nh ư phù hợp với chính sách chủ trương củanhà nước
Trang 33để giảm thiểu những tai nạn đáng tiếc có thể xảy ra Tai nạn ở đây có thể l à mắc cáccăn bệnh do nghề nghiệp mang lại, ảnh h ưởng đến sức khỏe, gây thương tích chongười bị nạn, hoặc có thể là những tổn thất về người và của khi có sự cố xảy ra nhưcháy nổ, đâm va,
Nghề câu nói chung và nghề câu vàng nói riêng có đặc thù làm việc trong điều kiệnsóng gió lớn, là nơi giao nhau của các tuyến đường hàng hải quốc tế, có mật độ tàuthuyền qua lại cao Bên cạnh đó, các thuyền viên đa số phải làm việc trên các con tàu
cũ kỹ, kích thước nhỏ, phần lớn là được cải hoán từ những nghề khác v à thiếu nhữngtrang thiết bị cần thiết để đảm bảo an toàn cho chuyến biển Do đó, để hạn chế nhữngnguy cơ tai nạn tiềm ẩn có thể xảy ra, các tổ chức quốc tế v à nhà nước ta đã đưa ra cáccông ước, các bộ luật, các tiêu chuẩn ngành như: Công ước phòng ngừa va chạm tàuthuyền trên biển, công ước quốc tế về an toàn hàng hải tàu cá 1977, luật thủy sản, tiêuchuẩn ngành 28TCN91-90, nghị định số 66/2005/NĐ-CP19/5/2005 của Chính Phủ vềđảm bảo an toàn cho người và tàu cá hoạt động thủy sản
Trong thực tế, mặc dù đã có những văn bản pháp luật quy định về trang bị an to àncho người và phương tiện tham gia hoạt động trên biển nhưng thuyền viên làm việctrên tàu phần lớn chưa được trang bị quần áo bảo hộ lao động, ch ưa được trang bị cáckiến thức về an toàn lao động và làm việc với máy móc cũ kỹ, lạc hậu dễ gây tai nạncho người sử dụng Thực trạng này nguyên nhân một phần do các chủ tàu chưa quantâm đến điều kiện làm việc của nhân công cũng như một phần là thái độ chủ quan củachính bản thân người lao động Bởi thế, các tai nạn trong quá tr ình khai thác và bảoquản sản phẩm vẫn thường xuyên xảy ra
Trang 342 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, trong nghề đi biển nói riêng cũng như trongmọi ngành nghề nói chung, mặc dù con người đã được phần nào giải phóng sức laođộng nhờ những phương tiện cơ giới hóa Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mà cácphương tiện này đem lại thì vẫn còn đó những nguy cơ tai nạn tiềm ẩn làm thiệt hại đếnsức khỏe người lao động Mặt khác, bà con ngư dân hoạt động trên biển còn phải đốichọi với những rủi ro từ thiên nhiên mang lại Do đó, việc nghiên cứu đề tài này hyvọng góp một phần nào đó để các nhà chuyên môn và người lao động có một cái nhìntổng quan về hiện trạng thuyền vi ên, trang bị an toàn, cứu hỏa cho phương tiện nghềcâu nói riêng và của các nghề nói chung Cũng từ nghi ên cứu này có thể đưa ra nhữngbiện pháp để bảo vệ an toàn cho người và phương tiện nhằm mục đích đem lại hiệu quảcao trong lao động sản xuất
3 Nội dung nghiên cứu:
Qua thời gian nghiên cứu, điều tra thực tế trên các tàu đăng ký nghề câu củaphường Vĩnh Trường, tôi đã thu được các kết quả với những nội dung sau:
- Tổng quan về nghề câu cá ngừ nói chung v à khai thác thủy sản nói riêng
- Thực trạng về thuyền viên; trang bị an toàn; trang bị cứu hỏa trên các tàu đãđăng ký nghề câu ở phường Vĩnh Trường
- Những nguy cơ tai nạn tiềm ẩn trong quá trình tàu hoạt động trên biển
Trên cơ sở những kết quả thực trạng đó đồng thời dựa vào những văn bản pháp quycủa nhà nước, các cơ quan ban ngành có liên quan đ ể phân tích đánh giá, nhận xét đốivới việc trang bị đó có đảm bả o an toàn hay không, đội ngũ thuyền viên lao động trêncác tàu này có đáp ứng đầy đủ các bằng cấp, chứng chỉ chuy ên môn theo quy địnhkhông, trình độ chuyên môn nghề nghiệp cũng như sức khỏe, tuổi tác của các thuyềnviên có phù hợp với công việc mà họ đang làm hay không, Từ đó đề ra các biệnpháp, các mô hình về đội ngũ thuyền viên, mô hình về trang bị an toàn, trang bị cứuhỏa cho tàu cá nói chung và tàu câu ngừ nói riêng một cách có hiệu quả và hợp lý
4 Phương pháp nghiên cứu:
4.1 Cách tiến hành đề tài:
+ Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
Trang 35- Thời gian thực hiện: Từ ngày 31/07/2007 đến ngày 31/10/2007.
- Địa điểm nghiên cứu: Phường Vĩnh Trường – Tp Nha Trang – Tỉnh Khánh Hòa
+ Phương pháp điều tra số liệu:
Để số liệu điều tra đầy đủ, chính xác v à có độ tin cậy cao, công tác điều tra phảitiến hành tổng quát, điều tra từ các ban ngành liên quan, điều tra từ những cuộc phỏngvấn trực tiếp những thuyền viên trên tàu Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi thu thập
số liệu từ 2 nguồn:
- Nguồn thứ nhất: Được thu thập từ những cuộc phỏng vấn đối với những thủy thủtrên tàu câu cá ngừ của công ty TNHH Hoàng Hải, với những ngư dân, chủ tàu, thuyềntrưởng của các tàu đăng ký nghề câu của phường Vĩnh Trường Bên cạnh đó là bằngviệc đi trực tiếp xuống một số tàu để tìm hiểu, khảo sát để biết thực trạng an toàn trêntàu cá
- Nguồn thứ hai: Được cung cấp nhờ các cơ quan chính quyền, các cơ quan cóchuyên môn như: Sở thủy sản Khánh Hòa, Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản KhánhHòa, Công ty Bảo Việt Khánh Hòa, hội nghề cá phường Vĩnh Trường, ban quản lýcông ty TNHH Hoàng Hải
+ Các bước thu thập số liệu:
Các bước thu thập số liệu dựa trên các nguồn số liệu sau:
- Sở Thủy Sản Khánh Hòa: Thông qua phòng tổ chức hành chính để liên hệ thực
tập, sau đó đến phòng kỹ thuật tìm hiểu tình hình phát triển nghề cá của tỉnh
- Chi cục Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản: Thông qua phòng TCHC để liên hệ thực
tập và lấy số liệu về tàu thuyền hoạt động nghề câu của phường Vĩnh Trường
- Công ty Bảo Việt Khánh Hòa: Thông qua hồ sơ lưu trữ của công ty ta có thể tìm
hiểu các tai nạn xảy ra trong sản xuất (nếu có mua bảo hiểm) từ đó nắm đ ược cácnguyên nhân và đưa ra biện pháp khắc phục
- Ban quản lý công ty TNHH Hoàng Hải: Thông qua các hồ sơ lưu trữ của các
tàu trong đội tàu từ đó tìm hiểu tình hình phát triển và nghiên cứu các tai nạn của cáctàu trong đội tàu của công ty
- Số liệu điều tra bằng phiếu điều tra v à bộ câu hỏi tự thiết kế: Thông qua
phiếu điều tra và bộ câu hỏi này tiến hành điều tra bằng cách đến từng nhà của ngư dân
Trang 36dựa vào địa chỉ được cung cấp từ bảng thống kê tàu cá hoạt động nghề câu phườngVĩnh Trường (bảng thống kê này được cung cấp từ chi cục Bảo vệ nguồn lợi Thủy sảnKhánh Hòa), sau phỏng vấn ngẫu nhiên một người nào đó làm việc trên tàu vì ngườilàm việc trực tiếp trên tàu sẽ cho ta thu được những số liệu khách quan nhất Điều tramột một số tàu cụ thể nào đó trong danh sách để nắm được thực trạng về thuyền viên
và trang thiết bị xem có đảm bảo an toàn hay không? Từ đó hiểu rõ được nguyên nhântai nạn và đưa ra giải pháp ngăn ngừa
+ Xử lý số liệu thu thập được qua quá trình điều tra:
- Qua tình hình thực tế điều tra, dựa vào các quy định trong tiêu chuẩn ngành
28TCN91-90 của Bộ Thủy sản về trang bị an to àn tàu cá cỡ nhỏ , tiêu chuẩn ngành 28TCN 181 : 2002 Chức danh viên chức tàu thủy sản, luật thủy sản, Thông tư số02/2007/TT-BTS để phân tích, đánh giá mức độ an toàn cho thuyền viên vàphương tiện
- Bên cạnh đó, để có cái nhìn trực quan hơn, các số liệu thu thập được xử lý bằngphương pháp thống kê như dùng phần mềm EXCEL, sử dụng các giá trị trung bình vàphương pháp nội suy, sau đó tiền hành vẽ đồ thị các số liệu thu thập được
4.2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu: Điều tra hiện trạng thuyền viên, trang bị an toàn, cứu hỏa
trên tàu câu cá ngừ đại dương được thực hiện ở phường Vĩnh Trường-Tp Nha Tỉnh Khánh Hòa Phạm vi nghiên cứu là các tàu đăng ký nghề câu của phường VĩnhTrường được chọn ngẫu nhiên để việc nghiên cứu được khách quan
Trang Đối tượng nghiên cứu: Xuất phát từ mục đích của vấn đề an toàn và vệ sinh lao
động là nhằm bảo vệ người lao động và phương tiện nghề câu cá ngừ đại dương Nênđối tượng được quan tâm và chú ý nhất là hiện trạng thuyền viên, trang bị an toàn, cứuhỏa trong nghề câu nói chung và nghề câu cá ngừ đại dương của phường Vĩnh Trường
4.3 Xây dựng các tiêu chí để đánh giá lựa chọn mô hình về thuyền viên, trang bị
an toàn, trang bị cứu hỏa trên các tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương:
Dựa trên tình hình thực trạng thuyền viên, trang bị an toàn, trang bị cứu hỏa trên tàu
cá nói chung và tàu câu phường Vĩnh Trường nói riêng, từ đó lập cơ sở lý luận và thực
Trang 37tiễn để xây dựng các tiêu chí lựa chọn mô hình trang bị an toàn cho thuyền viên vàphương tiện Các tiêu chí đó là:
- Các trang bị an toàn phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội tại phường VĩnhTrường và chính sách chủ trương của nhà nước
- Các trang thiết bị đảm bảo an toàn và phòng cháy chữa cháy phải đảm bảo cáctiêu chuẩn về chất lượng và số lượng
- Các thuyền viên phải đảm bảo các tiêu chuẩn về sức khỏe và trình độ nhất địnhthì mới được tham gia lao động sản xuất tr ên tàu
CHƯƠNG 3:
KẾT QUẢ ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG
1 Kết quả điều tra tàu thuyền nghề câu:
Nghề câu cá ngừ đại dương của tỉnh Khánh Hoà chủ yếu tập trung ở một số xãphường tại thành phố Nha Trang như Vĩnh Thọ, Vĩnh Phước, Xương Huân, Hòn rớ -Phước Đồng, các địa phương khác số lượng không đáng kể Qua điều tra thực tế tìnhhình nghề câu ở phường Vĩnh Trường thì thu được một số kết quả như sau:
Số lượng tàu câu cá ngừ đại dương hiện nay của phường Vĩnh Trường đang có xuhướng giảm Theo thống kê từ chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản Khánh H òa thìphường Vĩnh Trường có 32 chiếc đăng ký hoạt động nghề câu nh ưng thực tế điều trahiện nay chỉ còn 16 chiếc đang hoạt động nghề câu, chiếm 50% trong tổng số t àu đăng
ký nghề câu Trong đó chỉ có 3 chiếc của công ty TNHH Ho àng Hải là hoạt động nghềcâu ngừ đại dương
Trang 38Kích thước chính Máy chính Chủ tàu
Nơi thường trú Nghề
đăng ký
Nghề đang hoạt động hiện nay Số đăng ký max L max B max D d
Tổng dung tích Ký hiệu Số máy
Công Suất (cv)
n (V/p) (V/p) ncv
Câu Câu KH96612TS 17 3.8 1.5 20.35 6YANMAR(6GH- ST) 0792 320 2200
Lê Văn Phi
(Phi Hốp)
Tổ 5 Trường
Sơn -Vĩnh Trường - NT Câu Thu mua KH96505TS 13.8 4 1.6 18.55 6YANMAR6CH 1768 90 1400
Đinh Văn
Nê
194 Võ Văn Hào -Trường
Thọ - Vĩnh Trường - NT
Phan
Chiều
132 Võ Văn Hào -Trường
Thọ - Vĩnh Trường - NT
Thọ - Vĩnh Trường - NT
-Nha Trang Câu Đã bán ghe KH6908TS 10.2 2.7 1.05 6.07 D18 Số mờ 18 2000
Lê Bản 188 Trần Câu Giã cào KH4099TS 13.9 3.5 1.45 15.9 3E-15B 0078 52 1400
Bảng 3-1: Bảng thống kê tình hình hoạt động và thông số kỹ thuật của các tàu đăng ký nghề câu ở phường Vĩnh Trường:
Trang 39Khánh Trường Hải -
Lê Mạnh Vĩnh Trường - Trường Sơn
Mành
Nguyễn
Hùng ½ Võ Thị Sáu - Trường Đông - Câu Đã bán ghe KH6116TS 10.9 2.9 0.9 6 3TGK CT8F1971 30 1800
Bảng 3-1: Bảng thống kê tình hình hoạt động và thông số kỹ thuật của các tàu đăng ký nghề câu ở phường Vĩnh Trường (tiếp theo):
Trang 40Vĩnh Trường
-NT Trần Văn
Bảng 3-1: Bảng thống kê tình hình hoạt động và thông số kỹ thuật của các tàu đăng ký nghề câu ở phường Vĩnh Trường (tiếp theo):