1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá sự phát triển của nghề lưới rê tại phường Vĩnh Phước

88 680 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng giống như các khảo sát hoạt động kinh tế trong lĩnh vực thủy sản khác, sẽ không tránh khỏi sai số khi đánh giá các chỉ số kinh tế của đội tàu, và bài làm cũng không tham vọng tính

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Từ thời xa xưa, nghề cá đã cung cấp nguồn thực phẩm chủ yếu cho con người Thực phẩm thủy sản giàu đạm, ít mỡ, giàu khoáng chất, dễ tiêu hóa và ngày càng đang trở thành loại thực phẩm có nhu cầu cao trên toàn thế giới

Hơn nữa, nghề khai thác hải sản còn tạo cơ hội giải quyết công ăn việc làm cho nhiều cộng đồng dân cư, đặc biệt ở những vùng ven biển và vùng nông thôn Nghề khai thác hải sản không những trực tiếp tạo nguồn thu nhập cho một bộ phận lớn dân cư tham gia trong nghề, mà còn gián tiếp tạo nguồn thu nhập cho nghề nuôi trồng, chế biến, tiêu thụ, cũng như các ngành dịch vụ cho nghề cá khác như: sửa chữa ngư cụ, đóng sửa tàu thuyền, sản xuất nước đá, cung cấp dầu nhớt và cung cấp các trang thiết bị đánh bắt

Hiện nay, ngành thuỷ sản đang không ngừng tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng Trên con đường phát triển một ngành thuỷ sản bền vững, nhu cầu về thông tin thống kê nghề cá là rất lớn trong khi đó công tác xây dựng chiến lược phát triển kinh tế thủy sản của Việt Nam chủ yếu còn dựa vào các quan điểm chủ quan của các nhà hoạch định, thiếu cơ sở khoa học, đặc biệt là công tác thống kê dự báo

Cũng như nhiều địa phương khác nằm ven biển, thủy sản là một ngành kinh tế quan trọng của tỉnh Khánh Hòa Khánh Hòa hiện có trên 40 DN tham gia XKTS Năm 2006, sản lượng đánh bắt thủy sản toàn tỉnh đạt 65.000 tấn, nuôi trồng đạt 24.700 tấn Hàng năm, sản lượng sản phẩm xuất khẩu đạt khoảng 45.000 - 47.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 260 triệu USD Trữ lượng hải sản của Khánh Hoà khoảng 150 – 200 nghìn tấn và hàng năm có thể khai thác khoảng 70.000

tấn.(Nguồn:Sở thủy sảnKhánh Hòa)

Tuy nhiên sản lượng khai thác hải sản từ năm 2001 đến 2006 không tăng, hơn nữa lại có xu hướng giảm, rõ rệt nhất là năm 2004 giảm so với năm 2003 là 6.395 tấn và năm 2006 giảm so với năm 2005 là 1.190 tấn Bên cạnh đó số lượng tàu thuyền và tổng công suất qua mỗi năm tăng lên rõ rệt từ 4.812 chiếc với tổng công suất 110.578 CV năm 2001 tăng lên 5.424 chiếc với tổng công suất 224.775 CV

Trang 2

năm 2006, đã gây ra sự mất cân đối trong khai thác làm cho nguồn lợi thủy sản vốn

đã suy giảm nay lại càng cạn kiệt

Nguyên nhân này một phần do các nhà quản lý thủy sản của Khánh Hòa không nắm bắt được tình hình thực tế của nguồn lợi cũng như các vấn đề khác Quản lý thuỷ sản Khánh Hoà mới chỉ dừng lại ở quản lý đầu vào và quản lý các thông số kĩ thuật Số liệu của các cơ quan quản lý Khánh Hoà không giống nhau và không chính xác Như vậy sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển bền vững của nghành

Do đó, vấn đề cấp bách hiện nay là cần có biện pháp quản lý hữu hiệu để có thể phát triển nghề cá một cách bền vững Khái niệm “phát triển bền vững” ở đây phải được xem xét trên nhiều phương diện: về mặt sinh học, phải đảm bảo khai thác cân bằng với năng suất nguồn lợi; về mặt kinh tế, đảm bảo các đội tàu khai thác có đủ thu nhập để trang trải mọi chi phí; về mặt xã hội, duy trì việc làm và tạo được thu nhập ổn định cho ngư dân, tốc độ tăng thu nhập của nghề phải cao hơn tốc độ tăng trưởng của xã hội Do vậy để góp phần hỗ trợ cho công tác quản lý nghề khai thác hải sản đòi hỏi cần phải có các dữ liệu về trữ lượng, năng lực khai thác, các chỉ số kết quả kinh tế, xã hội về khai thác hải sản

Chính vì vậy em chọn đề tài: “ Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá sự phát triển của nghề lưới Rê tại phường Vĩnh Phước” làm luận văn tốt nghiệp

Mong muốn của đề tài là bước đầu thiết lập được những chỉ số cơ bản góp phần vào việc đánh giá rõ ràng và so sánh giữa các nghề cá qua thời gian Từ đó có thể biết được tình trạng hiện tại và năng suất của nghề để đưa ra được phương pháp quản lý thích hợp với thực tế của phường Vĩnh Phước

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xây dựng bộ chỉ số cho sự phát triển bền vững nghề lưới rê

- Đề xuất những khuyến nghị nhằm nâng cao kết quả kinh tế của đội tàu lưới rê tại Nha Trang

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Hiện tại thành phố Nha Trang có 27 xã phường, trong đó có 7 phường có nghề khai thác thuỷ sản tập trung với số lượng lớn Do điều kiện thời gian, năng lực bản

Trang 3

thân có hạn nên phạm vi nghiên cứu của đề tài xin được giới hạn lại là phường Vĩnh Phước Với mục đích nghiên cứu của đề tài nên đối tượng nghiên cứu đề tài xin chọn là nghề lưới Rê của phường trên

4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu của đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với dữ liệu được thu thập bằng bảng câu hỏi điều tra ngư dân

Số liệu phân tích của đề tài bao gồm:

- Số liệu thứ cấp: Số lượng tàu thuyền, năng lực khai thác được thu thập từ

Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản Khánh Hòa, Sở thuỷ sản Khánh Hòa, Văn phòng UBND thành phố Nha Trang, Đội thuế phường Vĩnh Phước, các trang Web Bộ Thủy Sản, Tổng cục thống kê, từ các báo cáo khoa học có liên quan, các tài liệu và giáo trình chuyên ngành thủy sản

- Số liệu sơ cấp: Được thu thập qua mẫu điều tra trực tiếp đối với các hộ ngư dân

nghề lưới rê thu ngừ tại phường Vĩnh Phước thành phố Nha Trang Gồm:

 Thông tin về tàu gồm số đăng ký, công suất và chiều dài tàu

 Thông tin về nhân công gồm thông tin về thuyền trưởng, thuỷ thủ, thu nhập bình quân cho một thuỷ thủ

 Thông tin về mùa đánh bắt gồm số tháng, số chuyến và số ngày bình quân cho một chuyến đánh bắt, cho cả hai mùa chính phụ

 Thông tin về tình hình đầu tư tài sản cố định gồm có giá mua, giá hiện tại và giá mua mới của các tài sản hiện có như vỏ tàu, máy tàu, thiết bị cơ khí, thiết

bị điện tử, ngư lưới cụ, thiết bị bảo quản

 Thông tin về chi phí sửa chữa lớn và bảo dưỡng hàng năm bao gồm các chí phí sửa chữa và bảo dưỡng vỏ tàu, máy tàu, lưới và các thiết bị khác nếu có

 Thông tin về bảo hiểm bao gồm bảo hiểm tàu và bảo hiểm thuyền viên nếu có

 Thông tin về chi phí biển đổi bình quân trên một chuyến biển gồm chi phí dầu diezel, nhớt, lương thực thực phẩm, đá và các chi phí phát sinh khác

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra thử đã nảy sinh nhiều vấn đề như khả năng ghi chép tính toán của người dân không chính xác một phần vì do trình độ học vấn

và nhận thức còn hạn chế, một phần do tâm lý sợ bị các cơ quan an ninh đăng kiểm kiểm tra, sự miễn cưỡng khi phải tiết lộ thu nhập của mình, v.v nên ít nhiều đã ảnh

Trang 4

hưởng đến số lượng mẫu thu thập Do đó, kích thước mẫu chủ yếu hướng đến những ngư dân nào chấp nhận và vui lòng tham gia vào qúa trình phỏng vấn Số mẫu thu thập được và tiến hành phân tích là 50 mẫu, loại 11 mẫu,còn 39 mẫu chiếm

tỷ lệ 25% trên tổng thể Nhưng giống như các khảo sát hoạt động kinh tế trong lĩnh vực thủy sản khác, sẽ không tránh khỏi sai số khi đánh giá các chỉ số kinh tế của đội tàu, và bài làm cũng không tham vọng tính đến tất cả các yếu tố đầu vào khi phân tích mà chỉ xét đến một số các nhân tố chính thiết yếu ảnh hưởng đến kết quả kinh

tế của đội tàu

Phương pháp xử lý số liệu

Trên cơ sở sử dụng phần mềm Microsoft Excel, phần mềm SPSS, số liệu được thu thập sẽ được nhập vào máy tính và phân tích bằng các hàm thống kê để đưa ra các giá trị cần thiết Các chỉ số này dùng để mô tả các đặc trưng kinh tế, thông số kỹ thuật của hộ ngư dân khai thác bằng nghề lưới Rê Đồng thời tiến hành phân tích kết quả kinh tế của nghề dựa trên tiêu chí công suất khác nhau để từ đó xác định được một cơ cấu đầu tư hợp lý

5 Kết cấu của đề tài

Luận văn được trình bày theo một kết cấu luận văn và báo cáo khoa học có tính truyền thống Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung và kết quả nghiên cứu được trình bày trong 3 chương:

 Chương 1: Lý thuyết về hệ thống chỉ số áp dụng trong quản lý nghề cá biển

 Chương 2: Phân tích và đánh giá một số chỉ số đối với nghề lưới Rê tại phường Vĩnh Phước

 Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị góp phần phát triển nghề lưới rê

Trang 5

CHƯƠNG 1

LÝ THUYẾT VỀ HỆ THỐNG CHỈ SỐ ÁP DỤNG TRONG

QUẢN LÝ NGHỀ CÁ BIỂN 1.1 Khái niệm các chỉ số phát triển bền vững nghề cá

Chỉ số là một biến số, thang hay bảng liệt kê liên quan đến chỉ tiêu Những dao động của chúng phản ánh sự thay đổi các yếu tố then chốt về khả năng bền vững của hệ sinh thái, nguồn lợi thủy sản, phúc lợi kinh tế và xã hội Vị trí và chiều hướng của chỉ số liên quan đến điểm tham khảo chỉ ra tình trạng hiện tại và năng động của hệ thống Các chỉ số cung cấp cho ta một cầu nối giữa mục tiêu và hành động quản lý (FAO, 1999)

1.2 Mục đích của các chỉ số

Mục đích của các chỉ số là góp phần vào việc đánh giá rõ ràng và so sánh giữa các nghề cá qua thời gian Chúng mô tả bằng thuật ngữ đơn giản ở mức độ mà các mục tiêu đặt ra cho phát triển bền vững đạt được.Các chỉ số hỗ trợ cho quá trình đánh giá việc thực hiện các chính sách và quản lý thủy sản ở cấp độ toàn cầu, khu vực, quốc gia Chúng cung cấp một công cụ hiểu biết sẵn sàng về tình trạng nguồn lợi và hoạt động thủy sản và đánh giá khuynh hướng liên quan đến các mục tiêu phát triển bền vững Trong quá trình đo lường sự tiến bộ hướng về phát triển bền vững, một bộ chỉ số khuyến khích hành động để đạt phát triển bền vững

Các chỉ số có thể giúp đơn giản hóa và hài hòa báo cáo ở các cấp khác nhau Ở cấp độ khu vực, các chỉ số có thể hổ trợ quá trình hài hòa các chiến lược quản lý nguồn lợi và đo lường toàn bộ sức khỏe của hệ sinh thái biển quy mô lớn Ở cấp độ quốc gia, quốc gia có thể sử dụng các chỉ số để tạo ra một bức tranh của ngành thủy sản và môi trường của nó.Ở cấp độ ngành, các chỉ số cung cấp một công cụ hoạt động trong quản lý thủy sản, như một cầu nối giữa các mục tiêu và hành động quản

Trước đây các chỉ số được sử dụng trong quản lý thủy sản có khuynh hướng là chỉ số sinh học và tập trung vào loài mục tiêu Ngày nay khi đánh giá sự tiến bộ hướng về phát triển bền vững nên bao gồm các chỉ số phản ánh rộng hơn với các mục tiêu sinh thái, xã hội, kinh tế và thể chế

Trang 6

1.3 Quản lý nghề cá dựa trên bộ chỉ số

Quản lý nghề cá vì mục tiêu phát triển bền vững là một hoạt động đa chiều và đa cấp mà điều này phải tính đến nhiều nhân tố trên diện rộng hơn chứ không chỉ bó hẹp trong sự sinh tồn của trữ lượng cá và ngành thủy sản Nó đòi hỏi phải cung cấp thông tin và các chỉ số trên nhiều khía cạnh ( ngoài trữ lượng cá hay hoạt động đánh cá) Những thay đổi trong hoạt động đánh bắt nên được đánh giá và nên xem đó là những lực đẩy tạo nên những thay đổi kinh tế và sinh thái vốn tác động lên cả yếu

tố cầu và cung của ngành thủy sản và các ngoại lực bao gồm cả cạnh tranh quyền sử dụng và quản lý hệ sinh thái dưới biển

Sơ đồ 1 chỉ ra mối quan hệ giữa quản lý thủy sản theo hướng truyền thống vốn chủ yếu là tập trung vào quản lý trữ lượng mục tiêu trong 1 đơn vị quản lý cụ thể như ngành thủy sản, sự phát triển bền vững của nghề thủy sản dựa trên hệ thống tham chiếu phát triển bền vững (SDRS được mô tả chi tiết bên dưới) mà hệ thống này sử dụng các chỉ số và điểm tham chiếu Rõ ràng, 1 vài chỉ số sẽ có thể áp dụng chung cho những thang đo khác nhau nhưng với những mức độ khác nhau những chỉ báo

mở rộng hơn sẽ phụ thuộc phần lớn vào qui mô nghiên cứu hay mục tiêu nghiên cứu của đơn vị quản lý hay đơn vị ngành nghề

Hoạt động quản lý nghề cá theo kiểu truyền thống đã quan tâm đến những vấn đề phát triển bền vững trong một thời gian dài, nhưng xu hướng ngày nay là mở rộng thêm khái niệm quản lý bao gồm thêm nhiều khía cạnh khác trong khi giảm dần sự tập trung nghiên cứu vào yếu tố khác

Quá trình ra quyết định trong ngành thủy sản luôn đòi hỏi đến sự cân bằng giữa mục tiêu và lợi ích cạnh tranh( giữa những ngành trong một cộng đồng và giữa cộng đồng này với 1 cộng đồng khác) mà được giải thích dưới nhiều ngôn từ khác nhau

và ở những cấp độ khác nhau

Chất lượng của bộ chỉ số và thông tin đạt đến mức độ hỗ trợ liên lạc và phối hợp hành động của tất cả có lợi ích liên đới trong nghề cá

Trang 7

Sơ đồ 1 : Mối quan hệ giữa hệ thống quản lý theo kiểu truyền thống và

hệ thống tham chiếu phát triển bền vững

1.4 Bộ chỉ tiêu đa chiều áp dụng phát triển bền vững nghề cá theo hướng dẫn của FAO

Yếu tố Các tiêu chí lựa chọn

Giá trị sản lượng Đóng góp của ngành thủy sản vào GDP Giá trị xuất khẩu của ngành thủy sản Đầu tư trong các đội tàu đánh bắt và các cơ sở chế biến Thuế và trợ cấp

Doanh thu ròng Thu nhập

Nhân khẩu học Giáo dục

vững

Kế hoạch quản lí nghề cá

Trang 8

Yếu tố Các tiêu chí lựa chọn

Truyền thống đánh bắt Phá sản

Sự phân phối của giới trong việc ra quyết định

Sinh thái Cơ cấu đánh bắt

Sự dối dào tương đối về tỷ lệ khai thác loài mục tiêu Tác động trực tiếp của ngư cụ đánh bắt đối với loài không phải là mục tiêu

Tác động gián tiếp của việc đánh bắt Tác động trực tiếp của ngư cụ lên môi trường sống

Áp lực đánh bắt (so sánh giữa khu vực đánh bắt và khu vực không đanh bắt)

Đa dạng sinh học (loài) Thay đổi trong khu vực và chất lượng của môi trường sống

Thể chế Hệ thống quản lý

Quyền tài sản Tính minh bạch và sự tham gia Năng lực quản lý

1.5 Cách tiếp cận quản lý nghề cá dựa trên hệ thống các chỉ số ở Việt Nam

Theo nghiên cứu của FAO (1999), bộ chỉ số phát triển bền vững nghề cá phải phản ánh 4 yếu tố: kinh tế, xã hội, sinh thái, quản lý Mỗi yếu tố được xây dựng bởi nhiều chỉ tiêu khác nhau Hiện nay trên thế giới đã có nhiều nước áp dụng quản lý thuỷ sản dựa trên việc sử dụng các chỉ số để ra quyết định Từ ngày 10-12/10/ 2005

tại Hải Phòng- Việt Nam đã diễn ra “Hội thảo khu vực Đông Nam Á ứng dụng các

chỉ số trong công tác quản lý thích ứng nghề cá biển ” Đây là hội thảo đầu tiên ở

Việt Nam nghiên cứu về quản lý thích nghi Trong thực tế, chúng ta chưa có một báo cáo, đề tài nghiên cứu khoa học nào đã được công bố về quản lý thích nghi, chính vì thế hội thảo là nơi các nhà khoa học Việt Nam học tập, nghiên cứu về quản

Trang 9

lý thích nghi trong ngành thuỷ sản Tại hội thảo các nhà khoa học Việt Nam đã đưa

ra bức tranh tổng quan về thuỷ sản Việt Nam hiện tại cũng như phương hướng phát triển trong tương lai, đồng thời hội thảo là nơi các nhà khoa học thuỷ sản các nước ASEAN thảo luận, trao đổi kinh nghiệm về việc sử dụng các chỉ số trong quản lý thích nghi thuỷ sản Hội thảo là cơ hội cho Việt Nam học tập kinh nghiệm quý giá của các nước khi Việt Nam đang trong quá trình đưa ra những phương pháp tiếp cận mới trong quản lý nghề cá biển và xây dựng hệ thống tư vấn đa lĩnh vực để đảm bảo công tác quản lý nghề cá biển được dựa trên những nền tảng kiến thức tốt nhất Hiện tại chúng ta đang nỗ lực xây dựng hệ thống dựa trên phương pháp quản lý thích ứng, phù hợp chiến lược của các quốc gia ASEAN và được SEAFDEC hỗ trợ thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả các chỉ số trong công tác quản lý thuỷ sản

Để làm được như vậy, trước tiên chúng ta đánh giá lại hiện trạng của Thuỷ Sản Việt Nam, chúng ta hoàn toàn có thể vẽ lên bức tranh chi tiết cho thuỷ sản Việt Nam bằng những con số thống kê chính xác, những đồ thị hàm số tiêu chuẩn, để từ

đó chúng ta xây dựng, thiết lập các nhóm chỉ số sử dụng cho quản lý thuỷ sản Nhóm chỉ số này phải là công cụ quan trọng thiết yếu, đắc lực cho quá trình ra quyết định của Bộ Thuỷ Sản, các Sở Thuỷ Sản của tỉnh

Trách nhiệm của Bộ Thuỷ Sản lúc này là đưa ra phương hướng chỉ đạo chung cần tập trung tới phát triển, gìn giữ, điều khiển các phương án quản lý đặc trưng sinh thái biển Bộ cần kết hợp chặt chẽ giữa lợi ích kinh tế địa phương, ngư dân với cung cấp, tài trợ, quản lý và phát triển thuỷ sản

Trước tiên Bộ cần thành lập các khu nghiên cứu, bảo tồn biển, tiếp theo cần quan tâm tới quản lý đăng kí tàu thuyền Bộ cần phân chia vùng biển quản lý theo từng vùng, phân chia vùng quản lý có thể thực hiện theo tiêu thức độ sâu mức nước biển hoặc khoảng cách (tính theo hải lý) từ bờ tới đường biên vùng quản lý để từ đó ấn định biên độ công suất tàu hoạt động tương ứng trên từng vùng nước biển Bộ cần xác định các vùng biển cần bảo vệ, vùng biển cấm, khai thác thuỷ sản, danh sách các loài thuỷ sản cho phép khai thác, kích thước cho phép khai thác với từng loài thuỷ sản thuộc đối tượng đánh bắt, nhằm phục hồi tài nguyên biển theo cơ chế sinh học

Trang 10

Phục hồi tài nguyên biển với mục đích quan trọng nhất là giữ gìn và bảo vệ các đặc trưng sinh thái biển, cần dựa trên các hoạt động nhân tạo tác động vào môi trường bằng các chính sách, quyết định của Bộ Những chỉ số như sau sẽ rất cần thiết cho công tác hoạch định các kế hoạch và ra quyết định của Bộ

- Trữ lượng khai thác thuỷ sản các năm

- Giá trị thương mại ước lượng của một chuyến biển.( Tính theo vùng)

- Tỉ lệ chuyến biến/ mùa ( Tính theo vùng)

- Tỉ lệ cá bị bỏ lại môi trường/ chuyến biển ( Tính theo vùng)

- Mức độ khai thác.( Tính theo vùng)

- Thành phần và số lượng các loài thuỷ sản khai thác/ chuyến biển

Các nhóm chỉ số khi được thiết lập phải thể hiện ba nội dung quan trọng: Một là hiệu quả kinh tế - xã hội, hai là hiệu quả môi trường sinh thái, ba là hiệu quả sử dụng tài nguyên Các nhóm chỉ số khi thiết lập phải đạt một số tiêu chuẩn sau đây:

- Ít biến đổi: Các thông tin quan trọng thu được từ các chỉ số chúng ta phải tính

toán, chính vì thế kết quả thu được rất dễ thay đổi Để sử dụng chúng, các nhà quản lý cần xác định biên độ thay đổi của chỉ số và nên dùng những chỉ số có biên độ dao động hẹp

- Dễ hiểu: Các chỉ số sử dụng càng đơn giản, dễ hiểu bao nhiêu thì sử dụng chúng càng dễ dàng bấy nhiêu Chính vì thế các chỉ số nên đơn giản hoá

- Phải tính toán được: Các chỉ số phải chính xác, chuẩn, và định lượng được, tránh tình trạng phỏng đoán

- Có ý nghĩa: Các chỉ số tính toán phải thể hiện tính quan trọng của nó

- Hiệu quả nhanh: Các chỉ số là công cụ quản lý chính vì thế cần phải có tính

hiệu quả trong thời gian ngắn, phù hợp với từng giai đoạn quản lý

1.6 Những nhóm chỉ số dữ liệu được dùng cho quản lý thuỷ sản

1.6.1 Nhóm chỉ số bảo vệ đặc trưng hệ sinh thái

a) Mục tiêu :Bảo vệ đặc trưng hệ sinh thái

Chỉ số : - Thành phần chuyến biển.(%)

- Số loài đánh bắt trong một chuyến biển.( Loài)

- Tổng trữ lượng sinh thái vùng.( tấn)

Trang 11

Vấn đề giải quyết:

- Điều khiển thành phần chuyến biển của đội tàu trong vùng khai thác

- Xác định tính kinh tế của loài khai thác Xắp xếp thứ tự ưu tiên của các loài

trong khai thác cũng như kế hoạch bảo vệ, gìn giữ mức sản lượng sinh học

- Tổng sản lượng khai thác cho phép của vùng và mật độ tập trung các loài

thuỷ sản khai thác của vùng Là chỉ số xác định vùng đánh bắt, vùng bảo vệ, vùng cấm, các khu bảo tồn, nghiên cứu biển, là cơ sở bảo vệ đa dạng sinh học biển

b) Mục tiêu:

- Giảm mức khai thác chung của vùng

- Tăng trữ lượng khai thác vùng

Chỉ số: - Năng suất khai thác ( CPUE)

CPUE: Năng suất khai thác trên một đơn vị cường lực CPUE được hiểu là sản lượng khai thác trung bình trong một ngày của một loại tàu thuyền (theo nghề) nào

đó Đơn vị tính: kg/tàu/ngày

Mẫu dữ liệu Dữ liệu và thông tin yêu cầu

Năng lực khai

thác

Số tàu khai thác.( Kích cỡ và tải trọng)

Số giờ hoạt động khai thác.( Mẻ lưới, chuyến biển, ngày) Công suất

Chiều dài tàu

Vấn đề giải quyết: Nghiên cứu hiệu quả khai thác một chuyến biển của từng vùng c) Mục tiêu: Bảo vệ trữ lượng thuỷ sản

Chỉ số: - Biên độ kích thước cho phép khai thác

Trang 12

- Tỉ lệ cạn kiệt là cơ sở ra quyết định cắt giảm, cấm đối với hoạt động khai thác trên vùng quản lý thuỷ sản

- Vùng tập trung sinh sản, mùa tập trung sinh sản là căn cứ đưa ra quy định

về ngư trường và thời gian khai thác thuỷ sản

d) Mục tiêu: Giảm tình trạng thương mại vượt mức cho phép

Chỉ số: % cá biển / chuyến biển

Vấn đề giải quyết: Xác định tỉ lệ cho phép khai thác của những loài thuỷ sản

cần bảo vệ

e) Mục tiêu: Bảo vệ lưới thức ăn

Chỉ số: Mức độ dinh dưỡng

Vấn đề giải quyết: Nghiên cứu mức độ dinh dưỡng lưới thức ăn của vùng nhằm

bảo vệ cân bằng sinh thái biển

f) Mục tiêu : Làm giảm tác động của hoạt động khai thác đối với tài nguyên biển Chỉ số:

- Thay đổi mức độ phong phú và thành phần của động vật biển

- Thay đổi đặc trưng sinh thái

- Trữ lượng khai thác vùng

- Ước lượng trữ lượng sinh thái vùng

Vấn đề giải quyết: Nghiên cứu thay đổi mức độ phong phú và thành phần của

động vật biển và biên độ biến động của đặc trưng sinh thái, là căn cứ để xây dựng

kế hoạch bảo vệ tài nguyên biển

1.6.2 Nhóm chỉ số kinh tế - xã hội

a) Mục tiêu: Xác định thu nhập từng tàu cá

Chỉ số:

- Doanh thu/ chi phí chuyến biển tàu cá

- Chi phí khai thác trung bình chuyến biển

- Thu nhập của thuyền trưởng

- Thu nhập của thuỷ thủ

Vấn đề giải quyết:

- Doanh thu/ chi phí chuyến biển của tàu cá≥ 1, tương đương hoạt động khai thác có lãi

Trang 13

- Chi phí khai thác trung bình ≤ giá trị trung bình chuyến biển

- Thu nhập của các thuỷ thủ và thuyền trưởng phải cao hơn chuẩn nghèo của

xã hội

b) Mục tiêu: Xác định mức độ đóng góp của nghề thuỷ sản đối với vùng

Chỉ số: - Đóng góp của nghề thuỷ sản chính đối với vùng về chất lượng

- Đóng góp của nghề thuỷ sản chính đối với vùng về giá trị

- Đóng góp của nghề thuỷ sản chính đối với vùng về chi phí

- Phân loại cảng cá

- Thu nhập trên một sản phẩm mục tiêu

- Xuất Khẩu ( Số lượng và giá trị, tính theo vùng)

- Nhập khẩu ( Số lượng và giá trị, tính theo vùng)

- Số nghề cá

Vấn đề giải quyết: Mức độ đóng góp của nghề thuỷ sản chính => trung bình đóng

góp của nghề thuỷ sản trong vòng 5 năm Cần tiêu chuẩn tỉ lệ đóng góp của nghề thuỷ sản cho vùng thích hợp

c) Mục tiêu: Xác định mức độ đóng góp giải quyết việc làm

Chỉ số: - Số lao động trong nghề thuỷ sản

- Số lao động thuỷ sản/ tổng số lao động vùng

- Thu nhập của hộ dân cư

- % Số thuỷ thủ trong hộ dân cư

- % Số thuỷ thuỷ/ vùng

- % Tỉ lệ biết đọc biết viết trong số thuỷ thủ

- % Tỉ lệ phổ cập giáo dục trong thuỷ thủ

- % Thành viên của hộ gia đình khai thác tốt nghiệp đại học

- % Thu hồi vốn/ vốn đầu tư của nghề thuỷ sản

Trang 14

- % Tỉ lệ biết đọc biết viết trong số thuỷ thủ ≥ 100%

- % Tỉ lệ phổ cập giáo dục trong thuỷ thủ ≥ 20%

- % Thành viên của hộ gia đình khai thác tốt nghiệp đại học≥10%

- % Thu hồi vốn/ vốn đầu tư của nghề thuỷ sản ≥20%

1.6.3 Nhóm chỉ số khả năng khai thác của đội tàu

*Mục tiêu: Quản lý năng lực khai thác của đội tàu

* Chỉ số: - Số lượng tàu khai thác

1.7 Phương pháp phân tích đánh giá các chỉ số

1.7.1 Phương pháp xác định doanh thu chi phí

Do đặc thù của nghề cá, không như những loại hình kinh doanh khác, là một nghề hoạt động theo thời vụ và chịu ảnh hưởng rất nhiều của yếu tố tự nhiên Một

số chi phí như nhiên liệu, đá, lương thực, sửa chữa máy…vẫn phát sinh trong qúa trình dò tìm cá Thậm chí có khi không đánh được một mẻ cá nào hoặc rất ít mà vẫn tốn chi phí vận hành Vì vậy, không thể áp dụng phương pháp phân loại chi phí theo mức độ phụ thuộc vào sản lượng Trong trường hợp này, tác giả đề nghị phương pháp phân loại chi phí theo mức độ phụ thuộc vào chuyến biển Vì số chuyến biển đánh bắt trong năm là tương đối ổn định và cường độ hoạt động thường biến đổi theo hai mùa chính phụ Do đó, ta có thể cố định một số loại chi phí để phân bổ

Trang 15

hàng năm như vốn đầu tư thuyền máy móc trang thiết bị trên tàu; và bóc tách một số loại chi phí biến đổi theo từng chuyến biển như chi phí tiền lương, chi phí dầu nhớt, lương thực thực phẩm, chi phí đá bảo quản sản phẩm

Bên cạnh đó, do điều kiện thời gian và chi phí, do cách ghi chép của người dân khá sơ sài, đề tài không thể điều tra một cách chi tiết và chính xác cho từng chuyến biển, mà áp dụng cách tính chi phí trung bình và doanh thu trung bình của chuyến biển Sau đó, ngoại suy tổng doanh thu và tổng chi phí cho một năm để làm cơ sở tính lợi nhuận và các chỉ tiêu hiệu quả tài chính khác cho nghề lưới Rê Phương pháp chung có thể được trình bày một cách tóm tắt theo sơ đồ sau:

Tổng doanh thu năm bao gồm doanh thu khai thác trong mùa chính và doanh thu khai thác trong mùa phụ Khoản mục chi phí vận hành gồm có: chi phí cố định, chi phí biến đổi, chi phí tiền lương

Trang 16

Chi phí cố định: là kết quả của những quyết định ban đầu về quy mô sản xuất do

đó không phụ thuộc vào mức độ hoạt động Hay nói cách khác, đó là những chi phí vận hành mà không biến đổi theo mùa vụ hoạt động của các đội tàu Chi phí cố định bao gồm chi phí khấu hao, bảo hiểm (bảo hiểm tàu và bảo hiểm thuyền viên), và lãi vay phải trả hàng năm Chi phí biến đổi hàng năm: chủ yếu phụ thuộc vào mức độ hoạt động như số chuyến biển trung bình trong năm

Chi phí biển đổi bao gồm chi phí nhiên liệu, lương thực thực phẩm, đá bảo quản sản phẩm, và tiền sinh hoạt hàng ngày cho thuỷ thủ Chi phí biến đổi của năm sẽ bằng tổng chi phí biến đổi hai vụ chính và phụ Chí phí trung bình một vụ sẽ bằng chi phí biển đổi trung bình một chuyến nhân với số chuyến biển của mỗi vụ

Chi phí tiền lương: gồm hai phần: thu nhập sau mỗi chuyến biển (hoặc mỗi tháng, tùy theo tập quán của từng địa phương) và tiền sinh hoạt hàng ngày, thường

số tiền này sẽ được phát theo doanh thu hoặc dựa trên nỗ lực khai thác của từng chuyến biển

Tổng giá trị tăng thêm bằng tổng doanh thu năm trừ đi chi phí vận hành phải trả cho nhà cung cấp bao gồm chi phí cố định (không tính chi phí khấu hao và lãi vay)

và chi phí biến đổi (không tính chi phí lao động) Hay nói cách khác, nó là tổng của chi phí lao động, chi phí khấu hao, lãi vay và lãi ròng

Tổng dòng tiền luân chuyển bằng tổng giá trị tăng thêm trừ đi chi phí lao động, tức là bằng doanh thu năm trừ đi tất cả chi phí không tính chi phí khấu hao và lãi vay

Lãi ròng được tính một cách đơn giản bằng tổng doanh thu năm trừ đi tổng chi phí Hay nói cách khác, lãi ròng bằng tổng dòng tiền luân chuyển trừ đi chi phí khấu hao và lãi vay

Các định nghĩa và phương pháp tính lợi nhuận ở trên cũng đã được sử dụng trong rất nhiều phân tích các đội tàu khai thác ở các nước công nghiệp Tuy nhiên, như đã

đề cập ở trên, cần phải có sự điều chỉnh thích hợp với hệ thống sổ sách kế toán của ngư dân cho thích hợp

Trang 17

1.7.2 Phương pháp tính khấu hao

Do thông tin về bộ dữ liệu bị hạn chế, nên tác giả đề nghị phương pháp tính khấu hao theo đường thẳng Phương pháp này khấu hao đội tàu trên cơ sở giá trị vốn đầu

tư và số năm dự kiến sử dụng Khấu hao tàu hàng năm bao gồm khấu hao vỏ tàu, máy tàu, ngư cụ, trang thiết bị khai thác và hàng hải Thời gian tính khấu hao dựa theo khung quy định hiện hành của Bộ Tài chính [1] là 15 năm đối với vỏ và máy tàu, 7 năm đối với ngư lưới cụ và trang thiết bị khai thác Tuy nhiên, Bộ tài chính không có quy định cụ thể cho tàu cũng như các trang thiết bị khai thác đã qua sử dụng Bên cạnh đó, qua khảo sát thực tế, nhiều ngư dân đã trả lời rằng một con tàu

có thể sử dụng đến 20 năm thậm chí là 25 năm Tâm lý người dân bao giờ cũng muốn con tàu của mình luôn tồn tại bởi nó là cơ nghiệp của cả gia đình, vì vậy họ thường né tránh những câu hỏi đại loại như “Con tàu của bác có thể sử dụng tối đa được bao nhiêu năm?” hoặc “Con tàu của bác so với khi mua còn được bao nhiêu

%?” thì rất nhiều câu trả lời rằng “Tôi sử dụng đến khi nào hỏng thì thôi” hoặc “còn mới 60% đến 70%” Trong khi đó có tàu đã đóng từ năm 1989 Vì vậy, sẽ là không hợp lý nếu áp dụng một cách cứng nhắc theo quy định của Bộ Tài chính đề ra Ở đây, trên cơ sở tìm hiểu lấy ý kiến của một số ngư dân đáng tin cậy, tác giả đề nghị: Đối với vỏ tàu mua mới, là 20 năm và mua lại là 15 năm Đối với máy tàu mua mới,

là 18 năm; mua lại là 12 năm Đối với ngư lưới cụ: là 4 năm và trang thiết bị khai thác khác mua mới, là 7 năm; mua lại là 5 năm Lưu ý rằng khái niệm mua mới ở đây được hiểu là mua tại các cơ sở bán thiết bị vật tư phục vụ ngành Khái niệm mua lại được hiểu là việc mua đi bán lại giữa các ngư dân khai thác hải sản với nhau Máy tàu hiện nay đa số là hàng bãi của Nhật đã qua sử dụng nhưng theo quan điểm trên vẫn được xếp vào nhóm mua mới

Cũng cần chú ý rằng vào những năm 1990, nền kinh tế Việt Nam bị lạm phát cao, người dân thường lấy vàng làm thước đo trao đổi mua bán thay cho tiền tệ Các tàu có cùng chiều dài nhưng đôi khi lại có giá mua khác nhau do chất lượng khác nhau, năm mua, năm đóng mới khác nhau, giá gỗ, giá vàng và có khi do khả nămg mặc cả khác nhau… Bên cạnh đó, giá cả thị trường cũng tác động không nhỏ đến giá mua hàng hóa, vì thế tất yếu sẽ ảnh hưởng đến khấu hao và do đó ảnh hưởng đến chi phí và lợi nhuận khai thác

Trang 18

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ CHỈ SỐ ĐỐI VỚI NGHỀ LƯỚI RÊ TẠI PHƯỜNG VĨNH PHƯỚC

A ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN PHƯỜNG VĨNH PHƯỚC

2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội phường Vĩnh Phước

Dưới chế độ phong kiến qua sưu tầm tài liệu của chế độ cũ để lại, thì nơi đây thường gọi là làng Cù Lao, trong kháng chiến chống Pháp đặt tên bí mật là làng Phước Thịnh Trải qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, tên gọi cho đến ngày nay là phường Vĩnh Phước

2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

Về địa lý, phía Đông giáp biển Đông và phường Vĩnh Thọ, phía Tây giáp đường sắt phường Ngọc Hiệp và xã Vĩnh Ngọc, phía Nam giáp phường Vạn Thạnh, phía Bắc giáp phường Vĩnh Hải Tổng diện tích của phường là 1.438 km2 nằm phía Bắc Thành phố Nha Trang, nằm dọc 2 bên đường 2 tháng 4 chạy dài từ đầu cầu Hà Ra (nhánh sông phía Nam Sông Cái) đến phường Vĩnh Hải Sông Cái Nha Trang chia làm hai nhánh: nhánh phía Bắc chảy ngang qua cầu xóm Bóng, nhánh phía Nam chảy ngang qua cầu Hà Ra, cả hai nhánh đều chảy ra biển Đông tạo thuận lợi cho ghe, thuyền vào trú đậu khi có sóng to gió lớn

Về khí hậu, nằm trong khu vực duyên hải miền Trung, chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng khô ráo ôn hòa, quanh năm nắng ấm, thường chỉ có hai mùa rõ rệt: mùa khô kéo dài từ 8 đến 9 tháng và mùa mưa ngắn chỉ từ 3 đến 4 tháng Mưa bão, gió mùa Đông bắc cũng như áp thấp nhiệt đới chỉ ảnh hưởng đến vùng biển Khánh Hoà từ tháng 9-12 Vì vậy rất thuận lợi cho hoạt động khai thác hải sản, đặc biệt tàu dưới 30 CV có thể sản xuất từ 230 – 280 ngày/ năm Nhiệt độ trung bình hàng năm trên dưới 260C, các tháng cuối năm và đầu năm hơi lạnh nhưng không rét buốt, mùa hè ít bị ảnh hưởng bởi gió tây Lượng mưa cũng tương đối ít, trung bình từ 1.200 đến 1.800 mm

Thuỷ triều Khánh Hoà thuộc loại thuỷ triều hỗn hợp thiên về nhật triều, trong một tháng có khoảng 20 ngày nhật triều Trong năm, tháng có hoạt động thuỷ triều mạnh nhất là tháng 6 đến 7 và tháng 11 đến 12

Trang 19

Biển Khánh Hoà chịu ảnh hưởng của 2 dòng hải lưu chính: dòng chảy mùa gió Tây Nam và dòng chảy gió mùa Đông Bắc Dòng hải lưu nóng đưa theo nhiều ấu trùng, thức ăn và nhiều loài cá đến tạo ngư trường phong phú với sản lượng cao Dòng hải lưu mạnh đẩy cá đi xa bờ gây khó khăn cho nghề khai thác thuỷ sản Hoạt động chế độ hải lưu tạo thành hiện tượng nước trồi lưu động từ tháng 4 đến tháng

10 Đây là mùa cá chính của Khánh Hoà Từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, ảnh hưởng của nước triều yếu dần cá di cư xa bờ làm sản lượng cá giảm rõ rệt

2.1.2 Đặc điểm xã hội

Mật độ dân cư trước năm 1945 rất thưa thớt, dân cư sống dọc theo đường quốc lộ 1A (nay là Đường 2/4), hai bên đường cây cối bờ bụi rậm rạp um tùm Phía Nam Sông Cái (Cầu Bóng) là vùng sình lầy với cây lau, cây sậy, cây bần phủ kín Ở phía Bắc Sông Cái có Tháp Bà Ponaga, dãy Núi Sạn có nhiều loại gỗ có giá trị kinh tế cao và cũng là nơi ẩn trú của nhiều loại thú; trong đó có cả thú dữ, có nhiều nơi không có người ở cũng như chưa có thôn xóm

Từ một vùng đất hoang vắng, dân cư thưa thớt, chưa có thôn xóm; qua 2 cuộc kháng chiến dân cư từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Bình, Phú Yên tụ hợp về đây sinh sống ngày càng đông Trước năm 1975, phường Vĩnh Phước chung (gồm cả Vĩnh Thọ) có 4.720 hộ với 20.937 nhân khẩu và có 10 thôn (khóm) sinh sống trên diện tích 2.438 km2 Đầu năm 1976, sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng 2 miền Nam-Bắc sum họp một nhà, tình hình dân số ngày càng phát triển đông lên, nên Uỷ ban Cách mạng Lâm thời Thị xã Nha Trang quyết định chia tách phường Vĩnh Phước thành 2 phường Vĩnh Thọ và Vĩnh Phước Địa giới của từng phường và cơ cấu dân cư theo ngành nghề cũng được quyết định cụ thể nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý hành chính và tổ chức sản xuất của mỗi phường Phường Vĩnh Phước khi đó bao gồm 6 khóm là: Hà Ra, Hà Phước, Tháp

Bà, Sơn Thủy, Phương Mai, Trường Phúc và Hòn Chồng Dân số có khoảng 2.000

hộ và 12.000 nhân khẩu, trong đó có khoảng 5.000 người ở độ tuổi lao động Đến nay dân số tăng lên ngày càng đông, đến cuối năm 2006 phường có khoảng 5.897

hộ với 26.241 nhân khẩu cả thường trú và tạm trú, hình thành nên 10 khóm dân cư gồm có: Hà Phước, Hà Ra 1, Hà Ra 2, Tháp Bà, Sơn Thủy, Phương Mai, Trường Phúc 1, Trường Phúc 2, Hòn Chồng 1, Hòn Chồng 2

Trang 20

Nhân dân sống ở đây chủ yếu là làm nghề thủy sản như: khai thác đánh bắt và chế biến thuỷ sản, từ chỗ có vài trăm người dần dần đến vài ngàn người và đến nay

có hơn hàng vạn người, đa số là ngư dân từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Bình và Phú Yên tụ hợp về đây sinh sống Hiện nay, Phường Vĩnh Phước không chỉ có nghề khai thác hải sản mà có rất nhiều nghề như: tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vụ, thương mại – du lịch, chăn nuôi gia súc gia cầm, nuôi trồng và chế biến thủy sản

Cơ cấu lao động của phường năm 2006 như sau: lao động khai thác, nuôi trồng thủy sản: 20,5%; lao động kinh doanh dịch vụ – thương mại: 24,5%; cán bộ công chức nhà nước: 29%, lao động tự do phổ thông: 31%

Ngành khai thác đánh bắt thuỷ sản vẫn giữ ở mức trung bình từ 2.000-2.500 tấn/năm (năm 2006) Tính đến cuối năm 2006, toàn phường có khoảng 185 tàu với tổng công suất khoảng 13.695 CV đã giải quyết việc làm cho hơn 1500 lao động.Các ngành cơ khí tàu thuyền, sản xuất chế biến và nuôi trồng thủy sản ngày càng giảm Chăn nuôi gia súc, gia cầm giảm, các ngành tiểu thủ công nghiệp, dịch

vụ và cơ khí sửa chữa gia công ổn định nhưng giá trị sản lượng công nghiệp tăng hơn trước Các ngành kinh doanh thương nghiệp và dịch vụ phát triển mạnh [9]

2.2 Hiện trạng khai thác nghề lưới Rê

2.2.1 Một số đặc điểm kỹ thuật của hoạt động đánh bắt hải sản nghề lưới Rê

Lưới rê (hay còn gọi là lưới giăng hoặc lưới cản) là một trong những ngư cụ phổ biến của nước ta hiện nay, bởi sản lượng do nghề này đem lại đứng hàng thứ hai sau lưới kéo Mặt khác, người ta còn thấy lưới rê có thể hoạt động ở rất nhiều thủy vực khác nhau như, ao, hồ, sông và biển Lưới rê có thể đánh bắt như là một ngư cụ cố định hoặc như là ngư cụ di động, có thể khai thác cả tầng mặt, tầng giữa và tầng

Trang 21

Tùy theo cấu trúc, số lượng tàu hoạt động, đối tượng khai thác, phương pháp khai thác khác nhau mà ngư dân phân chia thành các loại Rê khác nhau Hiện nay, ở Khánh Hòa có các phương pháp đánh bắt chủ yếu:

Rê trôi gần bờ: tàu thuyền thường khai thác ở độ sâu 40-200m, chủ yếu ở ngư

trường Khánh Hòa ( 10040 – 12050’E ) Lưới của họ chủ yếu là lưới sợi ni lông với chiều dài từ 3000 – 8000m Đối tượng khai thác chính của nghề này là các loại cá thu và cá ngừ Mùa chính là từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau

Rê đáy: là loại lưới kép có chiều dài 3000 – 6000m, kích thước mắt lưới 2a = 80

– 90 mm Vụ chính là từ tháng 3 đến tháng 12 Đội tàu này thường khai thác ở độ sâu 70 – 200 m Đối tượng khai thác chính: cá nục, cá thu, cá đối và một số loài cá rạn khác Ngư trường Nam phú yên, Khánh Hòa, Bắc Ninh Thuận có khi cả khu vực Trường Sa

Rê trôi xa bờ: lưới là loại sợi ni lông có chiều dài từ 10.000 – 17000m, độ mở

cao của lưới 18 – 20 m, kích thước mắt lưới 2a = 100 mm Cá ngừ là đối tượng khai thác chính [2]

Một số hình ảnh lưới rê:

Với những đặc điểm như vậy, ưu điểm của lưới rê là được sử dụng rộng rãi ở các vùng nước khác nhau, kỹ thuật khai thác đơn giản, đối tượng đánh bắt có chọn lọc theo kích cỡ mắt lưới, chất lượng sản phẩm cao Tuy nhiên nó có nhược điểm là đánh bắt bị động và năng suất đánh bắt thường không cao

2.2.2 Tổ chức sản xuất

a Điều hành sản xuất:

Chủ tàu tự chủ về mặt tài chính, tổ chức sản xuất, và hạch toán sổ sách, thuyền trưởng chịu trách nhiệm kỹ thuật, nắm bắt thông tin ngư trường cũng như mùa vụ để điều động tàu đi sản xuất Theo số liệu khảo sát có được thì đa số các chủ tàu đều là

Trang 22

thuyền trưởng ( 84.6%) nên các công việc trên thường do bản thân tự làm hoặc các thành viên trong gia đình ( chủ yếu là vợ)

b.Bố trí nhân lực:

Do đặc tính của nghề nên số thủy thủ bình quân tham gia một chuyến biển từ 10 đên 12 người Và tàu thường được trang bị la bàn, thiết bị điện tử, phao cứu sinh

Họ thường làm cả lễ tết Và trên thuyền thường gồm có một thợ máy, còn lại đa số

là lao động trực tiếp, thuyền trường thường làm nhiệm vụ chỉ huy kỹ thuật và xác định nơi khai thác

c Quyết toán và phân chia lợi nhuận:

Việc này thường do vợ chủ tàu ghi lại doanh thu và chi phí cho một chuyến biển sau đó trừ đi phần chi phí đã bỏ ra ( thường là chi phí biến đổi) cho mỗi chuyến biển rồi mới chia lợi nhuận Thường lợi nhuận được chia theo tỉ lệ từ chủ tàu chiếm 60%

- 70% còn lại là thủy thủ chia theo vị trí và công sức làm việc Vì ngoài chia lợi nhuận cho thủy thủ họ còn phải chia cho “bạn” là những người chung lưới, tàu theo

tỉ lệ đầu tư

2.2.3 Tổ chức chuyến biển

Mùa chính của nghề Rê thường là từ tháng 12 đến tháng 8 (âm lịch) năm sau Tàu thường không đi khai thác nhiều trong thời gian từ tháng 10 đến hết tháng 11(âm lịch) do thời tiết xấu và để bảo trì tu sửa tàu

Tàu nghề lưới rê khai thác vào ban đêm, mỗi đêm đánh 1 mẻ lưới, thời gian thả lưới mất 2 giờ, thời gian ngâm lưới khoảng 2 đến 4 giờ tuỳ theo con trăng, thời gian kéo lưới và muối cá 4-6 giờ Mỗi chuyến kéo dài 15 -25 ngày, mỗi tháng tàu khai thác 1-2 chuyến từ ngày 17 đến ngày 12 âm lịch tháng sau tùy thuôc vào mùa vụ và kích thước tàu Tàu nhỏ khai thác mùa chính thường đi 2 chuyến/tháng, sau mỗi chuyến tàu thường nghỉ 2-5 ngày để chuẩn bị Tổng số ngày hoạt động trong năm là 230-250 ngày Tuy thời gian đánh bắt có thay đổi, nhưng cách thức tổ chức một chuyến biển về cơ bản vẫn không có gì thay đổi, bao gồm các bước sau:

+ Chuẩn bị

Bao gồm chuẩn bị ở bờ và ở ngư trường trước khi mẽ khai thác thực sự bắt đầu

Chuẩn bị ở bờ: Trước khi ra khơi, một số công việc cần thiết phải chuẩn bị và

kiểm tra sau:

Trang 23

- Tàu, máy nên được kiểm tra lại, nếu có hư hỏng (hoặc dự đoán là có thể bị hư hỏng trong quá trình đánh bắt sắp tới) thì nên sửa chữa, tăng cường hoặc gia cố trước khi đi Lưới cũng nên kiểm tra lại, nếu thấy rách hoặc mục nhiều quá thì nên

vá hoặc thay thế lưới mới

- Xăng, dầu, nước đá, muối, lương thực, thực phẩm, thuốc men, cần được chuẩn bị đầy đủ cho một chuyến đi dài ngày

Chuẩn bị ở ngư trường:Khi đã đến ngư trường, trước khi thả lưới ta cần xem xét,

tính toán các điều kiện thực tế ở ngư trường, bao gồm:

- Đo đạc hoặc dự đoán độ sâu ngư trường và độ sâu mà đối tượng khai thác có thể xuất hiện Khi này ta điều chỉnh (nới dài ra hoặc thu ngắn lại) dây phao ganh nhằm đưa lưới đến đúng độ sâu mà đàn cá đang hoạt động Trong trường hợp đàn

cá ở gần nền đáy ta cũng nên xem xét khả năng giềng chì có thể bị vướng chướng ngại vật nền đáy mà điều chỉnh dây phao ganh phù hợp

- Dự đoán hướng di chuyển của đàn cá Công tác thả lưới phải đảm bảo thả chặn ngang được đường di chuyển của cá

- Xem xét hướng dòng chảy (hướng nước) và hướng gió, cũng như tốc độ của gió và nước để chọn mạn thả lưới và hướng thả cho phù hợp, sao cho lưới không bị tắp (vướng) vào chân vịt tàu

- Sau khi đã xem xét, đánh giá các điều kiện ngư trường thì bắt đầu thả lưới.[2]

+ Thả lưới

Trong quá trình thả lưới người thuyển trưởng nên cẩn thận, cho tàu chạy với tốc

độ chậm, điều khiển hướng thả lưới ngang với dòng chảy và chú ý coi chừng lưới tắp vào chân vịt Khi này người thủy thủ cố gắng ném lưới ra xa tàu và đảm bảo lưới không bị rối và tránh mắt lưới móc vào nút áo người đang thao tác thả lưới.Nếu

có sự cố gì phải dừng tàu lại ngay và xử lý, cần đảm bảo nguyên tắc là “tàu dưới gió

và lưới dưới nước”, nghĩa là luôn để cho mạn làm việc của tàu nằm phía dưới gió (để gió thỏi bãt tàu ra xa lưới) và lưới ở phía cuối nước (để nước đạp lưới ra xa tàu) Thả cho trường hợp này có thể tránh cho lưới khỏi quấn chân vịt.[2]

+ Trôi lưới

Sau giai đoạn thả lưới là đến thời gian trôi lưới Thời gian trôi lưới là thời gian lưới được ngâm thả trôi trong nước cũng chính là thời gian khai thác (thời gian cá

Trang 24

đóng vào lưới) Thời gian trôi lưới tùy thuộc vào ý muốn của người khai thác, ở ngoài biển, thời gian trôi lưới thường tính từ lúc mặt trời lặn cho đến khoảng 11-12 giờ khuya, khoảng sau 4-5 giờ thì bắt thu lưới

Trong thời gian này công việc tương đối nhàn hạ, chỉ cần cử 1-2 người trực theo dõi quan sát lưới và tình hình khu vực xung quanh Một số công việc cần chú ý trong thời gian này là:

- Xem xét tính trạng trôi của lưới, để kịp điều chỉnh phương thả lưới sao cho cắt ngang đường di chuyển của cá

- Xem xét, so sánh với hải đồ để đánh giá xem coi lưới trong quá trình trôi có đi qua vùng có chướng ngại vật nền đáy hay không để kịp thời điều chỉnh hoặc thu lưới

- Xem xét các phương tiện, tàu bè đi lại xung quanh gần khu vực ta thả lưới, nếu có khả năng tàu bạn cắt ngang hướng thả lưới của ta thỉ kịp thời báo động cho bạn biết là ta đang thả lưới để tàu bạn tìm cách tránh cắt lưới.[2]

+ Thu lưới và bắt cá

Sau thời gian thả lưới thì đến giai đoạn thu lưới và bắt cá Đây là công đoạn nặng nhọc nhất, cần rất nhiều người: 3-4 người kéo lưới, 1-2 người gỡ cá và 1 người điều khiển tàu chạy dọc theo chiều dài giềng phao với tốc độ chậm để giúp thu lưới nhanh và giảm được lực thu kéo lưới.Trong quá trình thu lưới và bắt cá ta có thể:

- Vừa thu lưới, vừa bắt cá nếu cá đóng ít và đóng rãi rác suốt chiều dài vàng lưới

- Thu lưới trước, bắt cá sau nếu cá nhiều và gỡ không kịp Khi này ta vẫn tiếp tục

gỡ cùng lúc với thu lưới, nhưng gỡ được bao nhiêu thì hay bấy nhiêu, còn lại thì sau khi thu lưới xong sẽ gỡ tiếp.[2]

+ Bảo quản và tiêu thụ

Bảo quản cá bằng muối hoặc đá trong trường hợp tàu khai thác dài ngày Sản phẩm nghề Rê được ướp đá Sản lượng cá đánh bắt được thường bán ở ngoài biển

và bán tại các bến cá Mỗi tàu thường bán sản phẩm của mình cho một hoặc hai nậu vựa cố định Tuy nhiên, năm gần đây do nậu vựa ép giá cá trong khi thực tế lại cao hơn nhiều cho nên nhiều tàu chuyển sang bán tự do (ai trả giá cao hơn thì bán)

Trang 25

Phương pháp bảo quản cá rất đơn giản chủ yếu ướp đá, có nhiều nơi không cần bảo quản bởi vì hiện nay có đội thu mua hải sản ngay trên nước nên các tàu thuyền sau khi đánh bắt được thường bán ngay cho các tàu đi thu mua hoặc đem bán tại các cảng cá và chợ cá nào thuận tiện cho mình nhất, không nhất thiết phải bán cá ở một chỗ nhất định

Do đặc điểm của nghề lưới rê là chắn ngang hướng cá di chuyển cho nên thông thường nghề này chỉ hoạt động vào ban đêm và vào những ngày trời tối trăng để cá khó thấy lưới chắn hướng di chuyển của chúng

2.3 Đặc điểm hoạt động đánh bắt hải sản nghề lưới Rê tại Nha Trang nói chung

và Vĩnh Phước nói riêng

2.3.1 Cơ cấu đội tàu lưới Rê:

Đến cuối năm 2006, toàn tỉnh có 5.517 tàu thuyền gắn máy với tổng công suất 224.775 CV

Bảng 1 Phân loại năng lực tàu thuyền theo công suất

Nhóm công

suất

Số lượng

Tỉ lệ ( % )

Số lượng

Tỉ lệ ( % )

Số lượng

Tỉ lệ ( % )

Số lượng

Tỉ lệ ( % )

(Nguồn Sở Thuỷ sản Khánh Hoà, 2007)

Qua bảng trên ta thấy rằng các nhóm tàu có công suất nhỏ hơn 89cv trong năm

2006 so với năm 2005 thì không tăng nữa Đó là do tỉnh đã có chính sách hạn chế tàu khai thác có công suất nhỏ Còn nhóm tàu có công suất lớn hơn 150cv do khai thác xa bờ bị lỗ nên tạm thời tỉnh chưa có chính sách đầu tư thêm

Mặt khác nhóm tàu có công suất từ 90cv – 149cv năm 2006 tăng nhiều so với năm 2005 do hoạt động của đội tàu này đạt hiệu quả kinh tế nhất trong các nhóm công suất trong những năm trở lại đây

Trang 26

Tổng số lượng tàu thuyền tại thành phố Nha Trang đạt 2.648 chiếc, công suất bình quân tàu thuyền đạt 44,1 CV/chiếc, được phân bố theo từng vùng lãnh thổ và theo nghề như sau:

Số lượng tàu tham gia hoạt động khai thác lưới rê là 286 chiếc với tổng công suất

24.486,5 CV, công suất trung bình là 85,6 CV/chiếc (Nguồn: Chi cục BVNL Thủy

Nghề khác

Tổng cộng

(Nguồn sở thủy sản Khánh Hòa 2007)

Biểu đồ: So sánh Nghề rê của Phường Vĩnh Phước với các phường khác

Vĩnh Phước Vĩnh Thọ Xương Huân Vĩnh Trường Vĩnh Lương Vĩnh Nguyên Phường khác

Số lượng tàu tham gia hoạt động khai thác lưới rê là 286 chiếc với tổng công suất 24.486,5 CV, công suất trung bình là 85,6 CV/chiếc

Như vậy có thể thấy rằng trong số các tàu hoạt động nghề Rê tại Nha trang thì ở Vĩnh Phước là chủ yếu Từ đó cho thấy, tuy số lượng tàu thuyền khai thác lưới rê không nhiều nhưng tổng công suất khá lớn

Trang 27

Bảng 3 : Thống kê mô tả một số đặc tính của tàu lưới Rê theo nhóm công

suất tại phường Vĩnh Phước

Nhóm công suất Số mẫu Chiều dài trung

(Nguồn: số liệu tính toán được theo thực tế điều tra)

2.3.2 Ngư trường khai thác lưới Rê trọng điểm

Vùng biển hoạt động của nghề từ Nha Trang đến hết hải phận Việt Nam về phía nam và khai thác khơi cách bờ từ hơn 70 hải lý Ngư trường khai thác đội tàu lưới rê chủ yếu theo đàn cá di cư, tập trung ở 3 khu vực khai thác khác nhau:

- Ngư trường Trường Sa (112030-114030’E; 6030-8030’N), đối tượng khai thác chính là cá ngừ trong đó cá sọc dưa chiếm 70%

- Ngư trường Bà Rịa-Vũng Tàu-Côn Đảo (1040-1100’E; 60-80’N), khai thác chính

cá thu, bao gồm cả cá sọc dưa với sản lượng ít

- Ngư trường Hải ngoại: Hải phận quốc tế giáp ranh với Malaysia và Indonesia (1090-1100’E; 4030’-5030’N), đối tượng khai thác chính là cá sọc dưa chiếm trên

90% [10]

Theo một số ngư dân có kinh nghiệm khai thác lưới rê, nghề này chủ yếu khai thác ở 2 ngừ trường chính: Ngư trường Việt Nam kéo dài từ Khánh Hòa đến Bà Rịa – Vũng Tàu và ngư trường Hải phận Quốc tế kéo dài từ Bà Rịa – Vũng Tàu đến ranh giới Malaysia và Philippin Tàu có chiều dài và công suất nhỏ khai thác thuận lợi ở ngư trường Việt Nam, tàu có chiều dài và công suất lớn sẽ thuận lợi khai thác

ở ngư trường Quốc tế nhưng không thuận lợi khai thác ở ngư trường Việt Nam, do ngư trường Việt Nam có nhiều tàu khai thác hoạt động nên tàu có chiều dài và công suất lớn cũng như chở nhiều ngư cụ sẽ kém linh hoạt hơn trong quá trình khai thác ở ngư trường này

Trang 29

Phân bố của ngư trường đánh bắt lưới Rê - Vụ Nam, 2006

Trang 30

2.3.3 Các dịch vụ hậu cần sau khai thác

Ở Nha Trang, bến cá Cù Lao nằm dưới chân cầu Trần Phú:

Một bến cá tại Nha Trang vào lúc sáng sớm

Ngư dân đang hối hả đưa cá vào bờ

Trang 31

Việc tiêu thụ sản phẩm khai thác hiện nay cũng có nhiều vấn đề đáng lưu ý Hầu hết sản phẩm khai thác ngư dân đều bán cho các chủ nậu hoặc chủ vựa, bởi đây là những người cho họ mua chịu nhiên liệu, đá và cung ứng phẩm khác để thực hiện chuyến biển Ngoài ra, các thương lái này có thể hỗ trợ tài chính cho ngư dân vào những thời điểm khó khăn khi hết vụ sản xuất hoặc đầu tư nâng cấp tàu Hoạt động bán hải sản của các ngư dân ven biển chịu sự chi phối rất lớn của tầng lớp trung gian này, họ thường rơi vào thế bị động và rất dễ bị ép giá Các chủ nậu vựa không chỉ thao túng thị trường nguyên liệu hải sản mà còn thao túng cả các sản phẩm dịch

vụ khác như xăng dầu, nước đá và nhu yếu phẩm cung ứng cho ghe tàu Mọi hoạt động giao dịch của họ thường không được kê khai đầy đủ nhằm trốn thuế nhà nước Điều này gây nên sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các thành phần kinh tế mà các doanh nghiệp làm ăn chân chính luôn là người thua thiệt

Trong nghề Rê ở phường Vĩnh Phước, thông qua một số chủ tàu được hỏi biết rằng có một số làm ăn không lãi lắm và có cam kết với Nậu vựa Khoản vay này thường không phải trả lãi nhưng sản phẩm phải bán với giá thấp hơn 4 – 7% giá thị trường Còn đối với các tàu không bị lệ thuộc vốn vào chủ nậu thì, chủ nậu lại tỏ ra tương đối sòng phẳng khi quyết định giá cả bởi chủ tàu có thể bán sản phẩm đánh bắt được cho người khác

Nếu như điều kiện và năng lực quản lý cảng cá tốt thì ngư dân phần nào an tâm khi tiêu thụ sản phẩm khai thác tại đây

Trang 32

B XÂY DỰNG BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA NGHỀ LƯỚI RÊ TẠI PHƯỜNG VĨNH PHƯỚC

Để đánh giá được sự phát triển bền vững của một nghề, cần phải phân tích trên cả

ba nội dung: đó là về mặt hiệu quả sinh thái, hiệu quả kinh tế xã hội và năng lực khai thác của đội tàu Do thời gian và phạm vi đề tài và khả năng có hạn nên em chỉ

có thể phân tích một số chỉ số cơ bản trong các nội dung đó

2.1 NHÓM CHỈ SỐ SINH THÁI ĐỐI VỚI NGHỀ RÊ TẠI PHƯỜNG VĨNH PHƯỚC

Mục tiêu chính là hỗ trợ kết quả sơ bộ trong phân tích các dữ liệu khoa học qua nhiều mốc thời gian để xác định biên độ biến đổi trữ lượng thuỷ sản của vùng quản lý, biên độ thay đổi của môi trường sinh thái Từ đó rút ra kết luận cho mức độ biến đổi đặc trưng sinh thái vùng, đưa ra các quyết định quản lý bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản

2.1.1 Số loài đánh bắt trong một chuyến biển

Nghề lưới Rê là nghề chủ lực khai thác các loài cá ngừ nhỏ hiện nay (thường gọi

là cá thu ngừ) Thành phần loài bắt gặp 222 loài hải sản thuộc 141 giống, 79 họ khác nhau, chủ yếu là họ cá thu ngừ ( 16 loài ) Trong đó mật độ bắt gặp nhiều nhất

là cá ngừ vằn, ngừ chù, ngừ chấm và cá ngừ vây vàng, cá sọc dưa và cá thu [3]

Cá ngừ thuộc họ cá thu ngừ (Scombridae) có giá trị kinh tế quan trọng nhất ở biển Việt Nam Cá ngừ phân bố ở khắp các vùng biển Việt Nam, kích thước cá tương đối lớn (6 loài có kích thước từ 20 – 70 cm, khối lượng từ 0,5 – 4 kg Riêng hai loài cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to có kích thước lớn 70 – 200 cm, khối lượng 1,6 – 64 kg) Căn cứ vào tập tính di cư có thể chia cá ngừ ở Việt Nam thành 2 nhóm nhỏ:

a) Nhóm các loài có kính thước nhỏ, di cư trong phạm vi địa lý hẹp

Đây là các loài cá ngừ có kích cỡ nhỏ (từ 20 – 70 cm, trọng lượng từ 0,5 – 4 kg),

có giá trị kinh tế thấp, chủ yếu tiêu thụ nội địa

Trang 33

1 Cá ngừ ồ

Tên tiếng Anh: Bullet tuna

Tên khoa học: Auxis rochei (Risso,1810)

- Phân bố: vùng biển miền Trung

- Mùa vụ khai thác: Quanh năm

- Kích thước khai thác: từ 140 – 310 mm, chủ

yếu 260 mm

2 Cá ngừ chù

Tên tiếng Anh: Frigate mackerel

Tên khoa học: Auxis thazard (Lacepede,1803)

- Phân bố: chủ yếu ở vùng biển miền Trung,

Đông và Tây Nam Bộ

- Mùa vụ khai thác: Quanh năm

- Kích thước khai thác: Dao động 150 – 310 mm, chủ yếu 250 – 260 mm

3 Cá ngừ chấm

Tên tiếng Anh: Eastern little tuna

Tên khoa học: Euthynnus affinis (Canner, 1850)

- Phân bố: chủ yếu bắt gặp ở vùng biển miền Trung

và Nam Bộ

- Mùa vụ khai thác: Quanh năm

- Kích cỡ khai thác: 240 –450 mm, chủ yếu 360 mm

4 Cá ngừ bò

Tên tiếng Anh: Longtail tuna

Têng khoa học: Thunnus tonggol (Bleeker, 1851)

- Phân bố: ở vịnh Bắc bộ, Trung bộ, Tây Nam bộ

- Mùa vụ khai thác: Quanh năm

- Kích thước khai thác: 400 – 700 mm

5 Cá ngừ sọc dưa

Tên tiếng Anh: Striped tuna

Tên khoa học: Sarda orientalis (Temminek &

Schlegel, 1844)

- Phân bố: vịnh Bắc bộ, vùng biển miền Trung

- Mùa vụ khai thác: Quanh năm

- Kích thước khai thác: 450 – 750 mm

Trang 34

b) Nhóm các loài di cư đại dương

1 Cá ngừ vằn

Tên tiếng Anh: Skipjack tuna

Tên khoa học: Katsuwonus pelamis

(Linnaeus, 1758)

- Phân bố: chủ yếu ở vùng biển miền

Trung, vùng biển khơi bắt gặp nhiều hơn vùng biển ven bờ

- Mùa vụ khai thác: Quanh năm

- Kích thước khai thác: Dao động 240 – 700 mm, chủ yếu 480 – 560 mm

2 Cá ngừ vây vàng

Tên tiếng Anh: Yellowfin tuna

Tên khoa học: Thunnus albacares (Bonnaterre, 1788)

- Phân bố: chủ yếu ở vùng biển xa bờ miền Trung và

Đông Nam bộ

- Mùa vụ khai thác: Quanh năm

- Kích thước khai thác: dao động 490 – 900 mm

3 Cá ngừ mắt to

Tên tiếng Anh: Bigeye tuna

Tên khoa học: Thunnus obesus (Lowe, 1839)

- Phân bố: ở vùng biển xa bờ miền Trung và

Tên tiếng Anh : Indo-Pacific Spanish mackerel

Tên khoa học : Scomberomorus guttatus

- Phân bố : Vịnh Bắc Bộ, vùng biển Trung

Bộ và Đông & Tây Nam Bộ

- Mùa vụ khai thác : quanh năm

- Kích thước khai thác : 450-550 mm

Trang 35

2 Cá thu ngàng

Tên tiếng Anh : Wahoo

Tên khoa học : Acanthocybium solandri

(Cuvier & Valenciennes, 1831)

- Mùa vụ khai thác : quanh năm, chính vụ

vào các tháng từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau

- Phân bố : vùng biển miền Trung và Đông Nam Bộ

- Kích thước khai thác : 800-1000mm

3.Cá cờ Ấn Độ (cá cờ gòn)

Tên tiếng Anh : Black marlin

Tên khoa học : Makaira indica

- Mùa vụ : quanh năm

- Phân bố : vùng biển miền Trung và Đông Nam Bộ

Ta có mối quan hệ giữa kích thước mắt lưới và chiều dài thân cá: a = k * l

Trong đó: a – Kích thước cạnh mắt lưới;

l - Chiều dài cá

k – Hệ số không đổi đối với một loại đối tượng cá (hệ số k trong bài được xác định theo công thức k =0.2*Cmax/l với C là chu vi lớn nhất tức chu vi mặt cắt nằm sát vây lưng, l là chiều dài cá.[2]

Như vậy, với mỗi lưới có kích thước mắt lưới đã cho chỉ đánh bắt có hiệu quả với một kích thước cá nhất định Cá có kích thước càng xa với kích thước đánh bắt có hiệu quả thì khả năng bị giữ lại lưới càng ít đi Đặc điểm đó nói lên tính đánh bắt có chọn lựa của nghề lưới rê

Trang 36

Việc tính toán lựa chọn kích thước mắt lưới phải tuân thủ qui định bảo vệ nguồn lợi,

có nghĩa là kích thước đối tượng đánh bắt không được nhỏ hơn kích thước cá nhỏ nhất cho phép khai thác Thông thường khi tính toán kích thước mắt lưới cho đối tượng có kích thước nhỏ nhất cho phép khai thác thì người ta phải tăng kích thước mắt lưới lên 20% để tránh đánh bắt đối tượng có chiều dài nhỏ hơn lmin , có nghĩa là:

a min = 1,2*k.*l min

Với cá thu ngừ có: a min =1,2*0.208*24= 6 cm

Trên thực tế khi phỏng vấn các hộ ngư dân được biết: kích thước cạnh mắt lưới chủ

yếu là: a = 4cm – 5cm Như vậy kích thước này chưa đạt tiêu chuẩn bảo vệ nguồn

lợi Cần phải quy định lại kích thước mắt lưới cho nghề Rê để không khai thác đối tượng có kích cỡ chưa được phép nhằm duy trì nguồn lợi

Bảng 2 1: Sản phẩm khai thác theo mùa của nghề Rê

Mùa gió đông bắc Mùa gió Tây Nam Mùa khai thác

Sản phẩm khai

thác theo mùa

Mùa khai thác cá thu, ngừ

Mùa khai thác cá thu ngừ, cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to

(Nguồn: Số liệu thu thập qua thực tế điều tra)

Đối với tàu khai thác lưới rê cá ngừ: Sản phẩm khai thác đội tàu này chủ yếu là

cá sọc dưa, cá chù, cá bò thuộc họ cá ngừ và một số cá tạp khác chiếm tỷ lệ từ 25% gồm: cá cờ, cá giòn, cá chủa, cá nạn, cá bè chang… Mùa khai thác từ tháng 01

20-âm lịch đến tháng 06 20-âm lịch hàng năm, nguồn cá tập trung chủ yếu ở vùng biển khơi từ Nha Trang đến Bà Rịa Vũng Tàu Đây là mùa khai thác chính cho nghề lưới

rê tại Nha Trang đặc biệt tàu có công suất nhỏ do thời tiết rất tốt và ngư trường hoạt động gần thành phố Nha Trang Mùa đông từ tháng 08 âm lịch đến tháng 01 âm lịch năm sau, nguồn cá ngừ chủ yếu tập trung ở vùng hải phận cực nam của tổ quốc giáp vùng biển Malaysia và Indonesia Mùa này các tàu có công suất lớn di chuyển theo nguồn cá để khai thác, tàu có công suất nhỏ không đủ khả năng đi xa phải bám ngư trường từ Nha Trang đến Vũng Tàu Một số tàu thuyền với chiều dài và công suất

Trang 37

trung bình, do khó khăn vươn khơi đến vùng biển phía nam, di chuyển ra ngư trường Vịnh Bắc bộ hoạt động trong những tháng mùa đông khai thác chủ yếu trong vùng đánh cá chung giữa Việt Nam và Trung Quốc

Đối với tàu khai thác lưới rê cá thu: đội tàu này hiện nay chiếm số lượng ít do đầu tư ngư cụ khai thác cá thu yêu cầu chất lượng cao hơn và đòi hỏi kinh nghiệm thuyền trưởng rất lớn trong phán đoán ngư trường, hơn nữa nguồn lợi cá thu có xu hướng cạn kiệt Sản phẩm khai thác đội tàu này chủ yếu là cá thu chiếm tỷ lệ khoảng 30%-40% về sản lượng và 65%-75% về giá trị trong doanh thu và một số cá loại tạp khác gồm: cá ngừ chiếm khoảng 50% về sản lượng và cá cờ, cá chim, cá chủa… Mùa khai thác từ tháng 01 âm lịch đến tháng 06 âm lịch được xem là mùa khai thác chính do thời tiết khá thuận lợi, mùa khai thác phụ từ tháng 08 âm lịch đến tháng 01 âm lịch năm sau do thời tiết xấu thường xuyên xảy ra gió bão Ngư trường khai thác đội tàu lưới rê cá thu tập trung từ Bình Thuận đến Côn Sơn

Vào mùa sinh sản từ tháng 10 đến tháng 12 hàng năm cá ngừ thường tập trung tại vùng biển phía nam giáp với Malaysia và Indonesia để đẻ trứng, trong thời điềm này ngư dân thường tập trung về ngư trường này khai thác Hầu hết lượng cá khai thác trong thời gian này tại ngư trường trên đều có mang trứng, gây ảnh hưởng rất

Tỉ lệ khối lượng khai thác(%) 8 45 47 35 55 10

(Nguồn: Số liệu thu thập qua thực tế điều tra)

Cá thu, ngừ là loại cá có kích thước và trọng lượng vào loại lớn so với các loài cá khác ở nước ta, nhưng nghề rê mới chỉ khai thác được các loài có kích thước trung

Trang 38

bình và nhỏ là chính, do đó gây lãng phí nguồn lợi, đồng thời trong tương lai sẽ không có loài cá lớn để khai thác

2.1.2 Tổng trữ lượng sinh thái

Trữ lượng cá nổi lớn ngoài khơi vùng biển miền Trung và Đông Nam Bộ năm 2004 ước tính là 1.156.000 tấn và khả năng khai thác bền vững là 405.000 tấn trong đó nhóm cá ngừ chiếm 65%

(Nguồn: Chi cục bảo vệ nguồn lợi Khánh Hòa)

Trong đó trữ lượng và khả năng khai thác cá ngừ vằn và cá ngừ đại dương như

Trang 39

Qua các bảng trên có thể thấy trữ lượng nguồn lợi cá thu ngừ ở Việt Nam là khá lớn Đây là điều kiện thuận lợi để tiếp tục phát triển nghề khai thác cá thu ngừ Đồng thời có biện pháp khai thác hợp lý để tiếp tục duy trì nguồn lợi này

(Nguồn: Số liệu thu thập qua thực tế điều tra)

Năng suất nghề Rê phụ thuộc vào mùa vụ:

- Từ tháng 12 đến tháng 4 năng suất khoảng 4 tấn với mỗi chuyến biển ( cá thu chiếm tỷ lệ 50 % - 60%, phần còn lại là các loại cá khác) Tuy nhiên theo điều tra thì sản lượng khai thác cá thu ngày càng giảm mạnh, nguồn lợi cá thu ngày càng giảm so với các năm trước

- Từ tháng 5 đến tháng 9 năng suất từ 7 – 8 tấn/ chuyến biển có khi lên 10 tấn loại cá khai thác vào mùa này chủ yếu là cá ngừ

Ngư cụ nghề lưới rê được chia thành từng tấm lưới, các tấm lưới kết lại với nhau tạo thành vàng lưới Mỗi tấm lưới có khoảng 1000 mắt lưới chiều dài và 180-200 mắt lưới chiều sâu Khi lưới được thả, mỗi mắt lưới tạo thành ô vuông với cạnh là 5 cm, chiều dài mỗi tấm lưới khoảng 60 m và chiều sâu từ 9-10 m, mỗi tàu trang bị khoảng 200-300 tấm ngư cụ tạo thành vàng lưới với chiều dài từ 12-18 km

Ta tính năng suất đánh bắt (CPUE): Năng suất khai thác trên một đơn vị cường lực

CPUE được hiểu là sản lượng khai thác trung bình trong một ngày của một loại tàu thuyền (theo nghề) nào đó Đơn vị tính: kg/tàu/ngày

Dựa vào dữ liệu điều tra, ta tính toán được:

Trang 40

Bảng 2.5: Năng suất khai thác (CPUE)

(kg/tµu/ngµy)

CPUE (kg/tấm lưới/tàu)

(Nguồn: Số liệu thu thập qua thực tế điều tra)

Qua bảng trên ta thấy rằng năng suất khai thác theo ngày thì nhóm công suất 25cv -89cv đạt kết quả cao nhất nhưng xét trên tấm lưới thì năng suất đạt hiệu quả nhất lại ở nhóm tàu có công suất 90 cv -180 cv, nguyên nhân do các tàu có công suất nhỏ thường khai thác gần bờ nên thời gian cho một chuyến biển ngắn

Năng suất khai thác phụ thuộc chủ yếu vào trữ lượng thuỷ sản vùng đánh bắt, kinh nghiệm thuỷ thủ, mức độ hiện đại của đội tàu khai thác

Khi hỏi ý kiến của ngư dân về sản lượng đánh bắt hiện nay so với vài năm trước thì hơn 65% cho biết là sản lượng đánh bắt bị sa sút Có nhiều nguyên nhân được đưa ra để giải thích sự sụt giảm sản lượng đánh bắt: sử dụng phương pháp đánh bắt bất hợp pháp, có quá nhiều tàu thuyền và sự xung đột giữa các loại phương tiện là các nguyên nhân thường được các ngư dân nhắc đến Giá nhiên liệu tăng, sản lượng đánh bắt thấp hơn, giá cá giảm và quá nhiều tàu thuyền đánh bắt cũng được cho là những nguyên nhân chính dẫn đến giảm sút thu nhập

Qua các bảng ở trên ta nhận thấy rằng về mặt giá trị kinh tế thì cá thu có giá trị gấp đôi so với cá ngừ, tuy nhiên sản lượng khai thác của cá thu so với cá ngừ kém hơn 2 lần Nguyên nhân theo các hộ ngư dân cho biết thì sản lượng khai thác cá thu trong mấy năm trở lại đây đã giảm rất nhiều từ bình quân là 4tấn/chuyến biển năm

2002 xuống còn 2,3 tấn/ chuyến biển (2006), tỷ lệ cá nhỏ trong khai thác tăng cao, còn cá lớn thì hầu hết là không có (8%) Đó là dấu hiệu báo động rõ ràng về tình

Ngày đăng: 26/03/2015, 16:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[4]- Nguyễn Tuấn - Luận văn bảo vệ thạc sĩ “Điều tra kết quả kinh tế nghề lưới rê thu ngừ tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra kết quả kinh tế nghề lưới rê thu ngừ tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Tác giả: Nguyễn Tuấn
[8]- UBND T ỉnh Khánh Hòa- Sở thủy sản Khánh H òa(2006) “Báo cáo tổng kết công tác thực hiện kế hoạch năm 2006” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo tổng kết công tác thực hiện kế hoạch năm 2006
[9]- UBND Phường Vĩnh Phước (2006), “ Báo cáo tổng kết kinh tế xã hội cuối năm 2006” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Báo cáo tổng kết kinh tế xã hội cuối năm 2006
Tác giả: - UBND Phường Vĩnh Phước
Năm: 2006
[10] Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản, Viện Nghiên cứu Hải sản. 2005. Tổng quan nghề cá Khánh Hòa. Hà Nội.2005[11] www.fistenet.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan nghề cá Khánh Hòa
[1]. Bộ Tài Chính. 1997. Quyết định 351- TC/QĐ CĐKT ngày 22/5/1997 của Bộ Tài chính về chế độ quản lý, sử dụng và tính hao mòn tài sản cố định Khác
[3]. Hội thảo quản lý và khai thác cá Ngừ đại dương Khác
[5]- T.s Dương Trí Thảo - Kinh tế học quản lý nghề cá và Kinh tế thủy sản 2 Khác
[6]- TS Ðào Mạnh Sơn- Nghiên cứu trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi và hiện trạng cơ cấu nghề nghiệp khu vực biển xa bờ Trung v à Ðông Nam Bộ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1 : Mối quan hệ giữa hệ thống quản lý theo kiểu truyền thống và - Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá sự phát triển của nghề lưới rê tại phường Vĩnh Phước
Sơ đồ 1 Mối quan hệ giữa hệ thống quản lý theo kiểu truyền thống và (Trang 7)
Bảng 2. 1: Sản phẩm khai thác theo mùa của nghề Rê - Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá sự phát triển của nghề lưới rê tại phường Vĩnh Phước
Bảng 2. 1: Sản phẩm khai thác theo mùa của nghề Rê (Trang 36)
Bảng 2.1: Giá trị kinh tế của cá thu, cá ngừ theo giá bán từ tàu - Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá sự phát triển của nghề lưới rê tại phường Vĩnh Phước
Bảng 2.1 Giá trị kinh tế của cá thu, cá ngừ theo giá bán từ tàu (Trang 37)
Bảng 2.3:Trữ lượng loài cá ngừ  Loài cá  Trữ lượng (tấn)  Tỷ lệ sản lượng (%) - Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá sự phát triển của nghề lưới rê tại phường Vĩnh Phước
Bảng 2.3 Trữ lượng loài cá ngừ Loài cá Trữ lượng (tấn) Tỷ lệ sản lượng (%) (Trang 38)
Bảng 2.5: Năng suất khai thác (CPUE) - Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá sự phát triển của nghề lưới rê tại phường Vĩnh Phước
Bảng 2.5 Năng suất khai thác (CPUE) (Trang 40)
Bảng 2.6: Một số thông tin về thuyền trưởng nghề lưới Rê tại Vĩnh Phước - Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá sự phát triển của nghề lưới rê tại phường Vĩnh Phước
Bảng 2.6 Một số thông tin về thuyền trưởng nghề lưới Rê tại Vĩnh Phước (Trang 42)
Bảng 2.7: Đầu tư chung của nghề lưới Rê tại phường Vĩnh Phước - Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá sự phát triển của nghề lưới rê tại phường Vĩnh Phước
Bảng 2.7 Đầu tư chung của nghề lưới Rê tại phường Vĩnh Phước (Trang 46)
Bảng 2.8:Cơ cấu đầu tư bình quân cho một đội tàu của nghề rê  theo nhóm - Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá sự phát triển của nghề lưới rê tại phường Vĩnh Phước
Bảng 2.8 Cơ cấu đầu tư bình quân cho một đội tàu của nghề rê theo nhóm (Trang 48)
Bảng 2.9 Nguồn vốn đội tàu nghề lưới rê thu ngừ - Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá sự phát triển của nghề lưới rê tại phường Vĩnh Phước
Bảng 2.9 Nguồn vốn đội tàu nghề lưới rê thu ngừ (Trang 49)
Bảng 2.11:Khấu hao đội tàu lưới Rê tại phường Vĩnh Phước - Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá sự phát triển của nghề lưới rê tại phường Vĩnh Phước
Bảng 2.11 Khấu hao đội tàu lưới Rê tại phường Vĩnh Phước (Trang 51)
Bảng 2.14: Chi phí bình quân cho mỗi chuyến biển tính theo nhóm công - Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá sự phát triển của nghề lưới rê tại phường Vĩnh Phước
Bảng 2.14 Chi phí bình quân cho mỗi chuyến biển tính theo nhóm công (Trang 55)
Bảng 2.15: Chi phí biến đổi đội tàu lưới rê thu ngừ qua các năm - Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá sự phát triển của nghề lưới rê tại phường Vĩnh Phước
Bảng 2.15 Chi phí biến đổi đội tàu lưới rê thu ngừ qua các năm (Trang 56)
Bảng 2.17: Doanh thu đội tàu lưới Rê qua các năm tại phường Vĩnh Phước - Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá sự phát triển của nghề lưới rê tại phường Vĩnh Phước
Bảng 2.17 Doanh thu đội tàu lưới Rê qua các năm tại phường Vĩnh Phước (Trang 58)
Bảng 2.23: Chỉ số khả năng khai thác của đội tàu theo nhóm công suất - Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá sự phát triển của nghề lưới rê tại phường Vĩnh Phước
Bảng 2.23 Chỉ số khả năng khai thác của đội tàu theo nhóm công suất (Trang 64)
Bảng câu hỏi điều tra hàng năm về đội tàu cá   tại thành phố Nha Trang, Việt Nam - Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá sự phát triển của nghề lưới rê tại phường Vĩnh Phước
Bảng c âu hỏi điều tra hàng năm về đội tàu cá tại thành phố Nha Trang, Việt Nam (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w