1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sỹ: Nghiên cứu giải pháp xây dựng hệ thống đê biển Nam Bộ

123 829 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 14,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vùng ven biển Nam Bộ từ Bà Rịa Vũng Tàu đến Kiên Giang là vùng đa dạng về sinh thái, có vai trò lớn trong sự phát triển kinh tế của của miền Nam cũng như của cả nước. Dù vậy, tiềm năng kinh tế đa dạng của vùng này vẫn chưa được khai thác tương xứng, kém ổn định, vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro do thiên tai. Một trong những nguyên nhân là hệ thống đê biển được hình thành qua nhiều thế hệ với quy mô, nhiệm vụ, chức năng ở từng thời kỳ khác nhau, việc xây dựng mang tính chắp vá, hiện tại chưa đủ khả năng chống triều cường, nước biển dâng, để bảo vệ sản xuất và đời sống của nhân dân.Vì vậy, việc xây dựng hệ thống đê biển, đê ngăn mặn cửa sông Nam Bộ hoàn chỉnh, đồng bộ với quy mô công trình có khả năng giảm nhẹ thiên tai là một nhu cầu cấp thiết nhằm ứng phó với những thay đổi về khí hậu toàn cầu, bảo vệ sự phát triển bền vững cho sản xuất và ổn định đời sống nhân dân trong vùng. Để hệ thống đê biển làm việc ổn định, an toàn và phát huy hiệu quả phòng chống thiên tai đồng thời tiết kiệm kinh phí đầu tư xây dựng cần phải nghiên cứu các giải pháp xây dựng dựa trên các căn cứ khoa họcMỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI Đánh giá thực trạng hệ thống đê biển Nam Bộ; Xác định quy luật diễn biến của dải ven biển Nam Bộ; Xác định được các thông số kỹ thuật, giải pháp thi công đê biển Nam Bộ.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨUToàn bộ tuyến đê biển từ Bà Rịa – Vũng Tàu đến Kiên Giang, trong đó tập trung nghiên cứu một số đoạn điển hình, đại diện cho từng khu vực.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Là một quốc gia với chiều dài bờ biển khoảng 3260 km, Việt Nam có một lợithế rất lớn trong việc phát triển kinh tế biển và khai thác nguồn lợi từ vùng bãi ven

bờ Nhưng bên cạnh đó, chúng ta cũng phải gánh chịu những thiệt hại hết sức nặng

nề do thiên tai từ biển mang lại Hàng năm, những cơn bão liên tiếp đổ bộ từ biểnvào đất liền đã mang đi một khối lượng lớn về tài sản, tính mạng con người đồngthời để lại những thảm họa không nhỏ về môi trường mà nhiều năm sau con ngườivẫn chưa khắc phục được

Trong những năm gần đây sự khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên củacon người làm cho khí hậu toàn cầu thay đổi Nhiệt độ trái đất ngày càng nóng lên

là vấn đề thời sự tạo ra mối quan tâm đặc biệt cho tất cả các quốc gia trên thế giới.Hậu quả của hiện tượng này là mực nước biển ngày càng dâng cao kéo theo nhữngthảm họa như bão biển, sóng thần, động đất …

Một trong những biện pháp khắc phục những thiên tai đó được các nước trênthế giới và Việt Nam áp dụng đã mang lại những hiệu quả rất thiết thực là xây dựng

hệ thống đê biển để phòng chống thiên tai, bảo vệ tính mạng và tài sản của cư dânvùng ven biển

Vùng ven biển Nam Bộ từ Bà Rịa - Vũng Tàu đến Kiên Giang là vùng đadạng về sinh thái, có vai trò lớn trong sự phát triển kinh tế của của miền Nam cũngnhư của cả nước Dù vậy, tiềm năng kinh tế đa dạng của vùng này vẫn chưa đượckhai thác tương xứng, kém ổn định, vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro do thiên tai Mộttrong những nguyên nhân là hệ thống đê biển được hình thành qua nhiều thế hệ vớiquy mô, nhiệm vụ, chức năng ở từng thời kỳ khác nhau, việc xây dựng mang tínhchắp vá, hiện tại chưa đủ khả năng chống triều cường, nước biển dâng, để bảo vệsản xuất và đời sống của nhân dân

Vì vậy, việc xây dựng hệ thống đê biển, đê ngăn mặn cửa sông Nam Bộ hoànchỉnh, đồng bộ với quy mô công trình có khả năng giảm nhẹ thiên tai là một nhu

Trang 2

cầu cấp thiết nhằm ứng phó với những thay đổi về khí hậu toàn cầu, bảo vệ sự pháttriển bền vững cho sản xuất và ổn định đời sống nhân dân trong vùng

Để hệ thống đê biển làm việc ổn định, an toàn và phát huy hiệu quả phòngchống thiên tai đồng thời tiết kiệm kinh phí đầu tư xây dựng cần phải nghiên cứucác giải pháp xây dựng dựa trên các căn cứ khoa học

2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

- Đánh giá thực trạng hệ thống đê biển Nam Bộ;

- Xác định quy luật diễn biến của dải ven biển Nam Bộ;

- Xác định được các thông số kỹ thuật, giải pháp thi công đê biển Nam Bộ

3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Toàn bộ tuyến đê biển từ Bà Rịa – Vũng Tàu đến Kiên Giang, trong đó tậptrung nghiên cứu một số đoạn điển hình, đại diện cho từng khu vực

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Điều tra, thu thập, hệ thống hóa các tài liệu cơ bản phục vụ nghiên cứu;

- Kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây;

- Nghiên cứu lý thuyết cơ bản;

- Sử dụng các phần mềm tin học hiện đại

5 KẾT QUẢ DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC

- Đưa ra được bức tranh toàn cảnh về thực trạng hệ thống đê biển Nam Bộ

- Kiến nghị vị trí tuyến, quy mô công trình và các thông số kỹ thuật đê biểnNam Bộ

- Đề xuất kỹ thuật xây dựng đê biển Nam Bộ qua từng thời kỳ

Trang 3

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU CHUNG

1.1 VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG ĐÊ BIỂN

1.1.1 Đê biển và giảm nhẹ thiên tai

Trong vài thập niên gần đây khí hậu toàn cầu có sự biến đổi mạnh khiến chongày càng có nhiều tác động bất lợi đến môi trường sinh thái của trái đất Một trongnhững hậu quả của sự thay đổi khí hậu toàn cầu đó là hiện tượng nước biển dâng.Nguyên nhân chính của hiện tượng này là do ảnh hưởng của hiệu ứng nhà kính dẫnđến sự nóng dần lên của Trái đất, khiến cho các dải băng ở Bắc Cực tan nhanh hơn,nhiều nơi dải băng tan tới hơn 1 mét mỗi tháng; ngòai ra việc khai thác nước ngầmđang ngày càng gia tăng, đặc biệt tại các đô thị lớn, làm mặt đất bị sụt lún Theocảnh báo của Liên hiệp quốc thì Việt Nam có thể chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của

hiện tượng tan băng [15].

Theo tính toán, nếu mực nước biển toàn cầu tăng thêm 1 mét, Việt Nam sẽphải đối mặt với mức thiệt hại lên tới 17 tỷ USD/năm; 1/5 dân số sẽ mất nhà cửa và12,3% diện tích đất trồng trọt của cả nước sẽ biến mất; 40.000 km² diện tích đồngbằng và 17 km² diện tích bờ biển ở khu vực các tỉnh lưu vực sông Mêkông sẽ chịutác động của những trận lũ ở mức độ không thể dự đoán được Theo các nhà khoahọc, tại Việt Nam trong năm thập niên gần đây, hiện tượng Enso (hiện tượng nhiễuđộng nhiệt độ của nước biển vùng xích đạo Thái Bình Dương) ngày càng có tácđộng mạnh mẽ đến chế độ thời tiết và đặc trưng khí hậu trên nhiều khu vực Dự báonhiệt độ sẽ tăng tại các tỉnh miền Nam từ 0,1 ÷ 0,50C vào năm 2010, từ 0,4 ÷ 30C(năm 2070) và tại miền Bắc từ 0,3 ÷ 0,70C (năm 2010) và từ 1,2÷4,50C (năm 2070).Mực nước biển dự báo sẽ dâng cao thêm 3÷15cm (năm 2010) và từ 15÷90cm (năm2070)

Trang 4

Hình 1.1: Bản đồ dự báo các vùng ảnh hưởng nước biển dâng

ở Đồng bằng Sông Cửu Long (Nguồn: ICEM)

Cũng liên quan đến sự thay đổi khí hậu toàn cầu đã khiến cho ngày càng cónhiều dạng thiên tai xảy ra như: bão, động đất, sóng thần, sạt lở , với tần suất xuấthiện nhiều, cường độ lớn cũng như diễn biến khó lường, không tuân theo quy luậtnào Do vậy thiệt hại do thiên tai gây ra là rất lớn, theo thống kê chưa đầy đủ trongnhững năm gần đây chúng ta đã phải chứng kiến các thảm họa như: cơn bão Linda(bão số 5) tháng 11/1997 đổ bộ vào Nam Bộ làm 445 người chết, 3.409 người bịmất tích, 857 người bị thương, 3.783 tàu thuyền bị chìm, 22.000 ngôi nhà bị pháhủy, tổng thiệt hại về vật chất lên tới 5.569 tỷ đồng Đợt sóng thần xảy ra vào cuốinăm 2004 ở vùng Nam Á và Đông Nam Á, làm chết hơn 200.000 người, 2 triệungười mất nhà cửa, tổng thiệt hại lên tới nhiều tỷ USD Trận bão Katrina đổ bộ vàonước Mỹ cuối tháng 8/2005 với sức gió mạnh nhất lên tới 240 km/h đã cướp đimạng sống của hàng trăm người, đã gây thiệt hại về vật chất lên tới 100 tỷ USD

Trang 5

Năm 2005 được xem là mốc quan trọng của Việt Nam trong công tác phòng chốngthiên tai từ phía biển Liên tiếp các cơn bão số 2, 4, và 6 đổ bộ vào các tỉnh miềnBắc trong vòng 3 tháng đã làm suy yếu đáng kể sức chống đỡ của toàn hệ thống đêbiển Tiếp theo đó, cơn bão số 7 (Damrey) tháng 9/2005 đổ bộ vào các tỉnh từQuảng Ninh đến Nghệ An, nước dâng kết hợp với triều cường và sóng lớn đã gây

vỡ đê và ngập lụt tại nhiều nơi thuộc các tỉnh Hải Phòng, Nam Định và Thanh Hóa,gây ra hậu quả nặng nề về kinh tế của toàn vùng Gần đây nhất là cơn bão Durian(số 9) được hình thành ở ổ bão Bắc Thái Bình Dương vào ngày 26-11-2006 và kếtthúc ở Vịnh Thái Lan ngày 5-12-2006 Bão Durian với quỹ đạo đường di chuyểnbất thường, không tuân theo quy luật nào đã gây thiệt hại lớn cho các tỉnh NamTrung Bộ và Nam Bộ, khiến cho hàng trăm km đê biển bị hư hỏng, mùa màng bịthiệt hại, hàng ngàn căn nhà bị sập và tốc mái, nhiều công trình công cộng như:đường giao thông, đường điện, trụ sở, trường học bị tàn phá Ước tính thiệt hại docơn bão số 9 gây ra lên đến hàng trăm tỷ đồng [3]

Tất cả những thiệt hại do thiên tai gây ra nói trên đối với Việt Nam đều có thểgiảm nhẹ nếu như chúng ta có hệ thống đê biển vững chắc, với quy mô, kích thướccông trình đủ lớn để đủ sức chống chọi với thiên tai Nhận thức được vai trò quantrọng của hệ thống đê biển, qua nhiều thế hệ, cha ông chúng ta đã xây dựng, củng

cố, nâng cấp hệ thống đê biển từ những năm xa xưa cho đến ngày này Chính vì vậy

mà các thảm họa nêu trên đã được giảm thiểu, đã được ngăn chặn ở nhiều nơi,không cho nước biển tràn vào tàn phá nhà cửa, đất đai, hoa màu và cơ sở hạ tầngvùng ven biển Để đối mặt với những ảnh hưởng bất lợi của thời tiết và các hiệntượng tự nhiên bất thường có thể xảy ra, trong những năm tới nước ta cần phải tiếptục chú ý hơn nữa đến công tác đê điều và phòng chống lụt bão, thông qua việcnâng cấp duy tu và bảo trì hệ thống đê hiện có, nghiên cứu làm mới các hệ thống đêcần thiết tại những khu vực xung yếu cần bảo vệ Việc tiến hành nâng cấp và xâymới hệ thống đê biển cần được tiến hành trên cơ sở các nghiên cứu chuyên ngành

cụ thể về tiêu chuẩn an toàn, tính khả thi, tính thực tiễn liên quan đến các khía cạnh

Trang 6

kinh tế và kỹ thuật, gắn liền với chiến lược phát triển chung của từng vùng, từngkhu vực và toàn quốc.

1.1.2 Đê biển và “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”

Vừa qua tại Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá X)cũng đã đưa ra nghị quyết về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” TrongChiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020, phải phấn đấu để nước ta trở thành mộtquốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trênbiển, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ giữa pháttriển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường; cóchính sách hấp dẫn nhằm thu hút mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế biển; xâydựng các trung tâm kinh tế lớn vùng duyên hải gắn với các hoạt động kinh tế biểnlàm động lực quan trọng đối với sự phát triển của cả nước Phấn đấu đến năm 2020,kinh tế biển đóng góp khoảng 53-55% GDP, 55-60% kim ngạch xuất khẩu của cảnước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống củanhân dân vùng biển và ven biển Để đạt được những mục tiêu này, cần thấy rõnhiệm vụ của hệ thống đê biển trong tương lai

+ Hệ thống đê biển là tiền đề để hình thành và phát triển các đô thị ven biển,các trung tâm phát triển kinh tế biển Trước hết, cần phải khai thác lợi thế và pháttriển du lịch biển trên hàng nghìn ki-lô-mét bờ biển, ngành công nghiệp sạch màthiên nhiên đã ban tặng tiềm năng cho Việt Nam, một lợi thế không nhỏ so với cácnước trong khu vực Tuy nhiên cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển du lịch hiệnnay còn yếu kém, đặc biệt là giao thông Do vậy cần xây dựng một hệ thống đê biểnvững chắc, vừa kết hợp làm đường giao thông, vừa làm lá chắn chống ngập lụt, bảo

vệ dân cư và cơ sở hạ tầng các trung tâm du lịch, các đô thị ven biển trong tươnglai Hệ thống đê biển này sẽ trở thành con đường huyết mạch, liên lạc giữa các đôthị ven biển, đồng thời là tuyến phòng thủ bảo đảm an ninh quốc phòng

+ Hệ thống đê biển khép kín sẽ bảo vệ an toàn cho dải ven biển của các địaphương, phục vụ chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nhất là kinh tế nông nghiệp và nuôi

Trang 7

đảm nhiệm chức năng chủ động điều tiết nước ngọt, mặn phù hợp với từng giaiđọan phát triển kinh tế nông nghiệp và thủy sản, góp phần xóa đói, giảm nghèo vàphát triển kinh tế bền vững cho các địa phương

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác bảo vệ bờ biển và phòng chống

lũ từ phía biển, Chính phủ đã quyết định lập kế hoạch đầu tư một chương trình cấp

quốc gia về xây dựng và củng cố hệ thống đê biển (“Chương trình Nhà nước về xây dựng và nâng cấp hệ thống đê biển”) Theo đó, từ 2005 đến năm 2020 Nhà nước

đầu tư trên 10 nghìn tỉ đồng cho việc xây dựng nâng cấp và làm mới các tuyến đêbiển Để việc xây dựng hệ thống đê biển có đủ căn cứ khoa học, Nhà nước đã giaocho Bộ NN&PTNT chủ trì thực hiện một chương trình nghiên cứu phục vụ xâydựng hệ thống đê biển, bao gồm 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Chương trình khoa học công nghệ phục vụ xây dựng đê biển và

công trình thủy lợi vùng cửa sông ven biển; Phạm vi thực hiện của giai đoạn 1 baogồm các địa phương có đê biển từ Quảng Ninh đến Quảng Nam;

Giai đoạn 2: Chương trình củng cố, nâng cấp và xây dựng mới đê biển các

tỉnh từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang;

Các đề tài của giai đoạn 1 đã và đang được thực hiện, các đề tài của giai đoạn

2 mới trong giai đoạn đề xuất

Do những vai trò to lớn đã nêu trên, việc đầu tư xây dựng hệ thống đê biểnNam Bộ đúng yêu cầu kỹ thuật, đáp ứng được mục đích đặt ra, tạo tiền đề để pháttriển bền vững và ổn định đời sống của nhân dân vùng ven biển nói riêng và cảnước nói chung là rất cấp thiết

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ XÂY DỰNG ĐÊ BIỂN TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

1.2.1 Tình hình xây dựng đê biển trên thế giới

Tổ hợp đê và các hạng mục khác trong hệ thống công trình phòng chống cáchiểm họa do thiên tai gây ra từ biển được các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là cácquốc gia có biển quan tâm Tuy nhiên, tùy thuộc vào đặc điểm tự nhiên, khí hậu, địa

Trang 8

hình và trình độ phát triển của mỗi quốc gia mà các hệ thống này được phát triển ởmức độ khác nhau.

Hà Lan là một đất nước có đến 2/3 diện tích thấp hơn mực nước biển, vì vậy

sự bền vững của các hệ thống đê biển là vấn đề sống còn đối với người Hà Lan.Chính vì lẽ đó họ đã bằng mọi cách bảo vệ vững chắc hệ thống đê trước tác độngcủa thiên nhiên Sau thảm họa đê biển năm 1953, chính phủ Hà Lan đã có nhữngchính sách quan tâm đặc biệt tới hệ thống này như đê là công trình có cấp đặc biệtcao; Với đê sông thông thường, tần suất thiết kế là (1:1.250); hệ thống đê biển đượcthiết kế với tần suất thấp hơn (1:10.000), thậm chí thấp hơn nữa

Hình 1.2: Bản đồ phân vùng tần suất thiết kế đê biển Hà Lan

Trang 9

Đê biển được xây dựng sao cho không cho phép nước tràn dưới tác động củasóng bão; kết cấu của đê được đặc biệt quan tâm và được kiểm soát rất chặt chẽ vềchất lượng trong quá trình xây dựng thông qua một ủy ban riêng thuộc Nhà nước.

Đê thường có cả cơ ngoài và cơ trong kết hợp giao thông Tùy theo mức độ quantrọng mà kết cấu của đê cũng khác nhau Chẳng hạn đê không trực diện với biểnthường là đê đất với lõi đất hoặc lõi cát bảo vệ bằng đất sét, ngoài trồng cỏ cả máitrong và mái ngoài, tần suất thiết kế cũng thấp hơn Đối với những đê trực diện vớibiển thì lõi không khác so với những đê khác, nhưng nền đê được xử lý và gia cố rấtcẩn thận, lớp bảo vệ khá đặc biệt Đó là các khối bảo vệ có xu hướng chuyển từdạng “bản” như đang được sử dụng phổ biến hiện nay sang dạng cột để tăng ổn định

và dễ sửa chữa khi có sự cố Kết cấu của đê có xu thế mở rộng với việc bố trí cơngoài đủ lớn để chiết giảm tối đa năng lượng sóng leo và sóng tràn đỉnh, đồng thời

đó cũng là đường giao thông kết hợp đường sửa chữa, bảo dưỡng đê khi cần thiết.Việc bảo vệ mái ngoài và chân đê cũng được xem là đặc biệt quan trọng trong xâydựng đê biển Tại những vùng có tác động sóng lớn, bảo vệ mái ngoài đê và chân đêthường được tăng cường bằng lớp vỏ hợp bởi các cấu kiện bê tông đúc sẵn, có thểtheo hình thức loại kết cấu tự chèn

hoặc các khối hình lập phương (ví

dụ như: Tetrapod, Accrepod,

X-block hay Cube), với khối lượng từ

vài tấn đến vài chục tấn thả phía bãi

trước để triệt tiêu bớt năng lượng

sóng trước khi sóng vào đến đê

Hình 1.3: Đê biển kết hợp giao

thông ở Hà Lan

Hệ thống đê biển của Mỹ đa dạng hơn do địa hình nước này không giống HàLan Chính vì vậy chiến lược phòng chống thiên tai của Mỹ cũng khác dẫn tới kếtcấu của đê cũng khác Ngoài những thành phố quan trọng ven biển thì dải bờ biểnrộng lớn của nước Mỹ là những khu vực không quá đông dân cư, đất lại rộng nên

Trang 10

chiến lược đối với các vùng này là xây dựng một cơ sở hạ tầng rất tốt với hệ thốngđường giao thông rộng, nhiều làn, nhiều kiểu để nếu rủi ro xảy ra thì sơ tán ra khỏivùng nguy hiểm rất nhanh Vì vậy, kết cấu đê biển không quá kiên cố như ở HàLan Xu thế “tự nhiên” tác động ít nhất tới môi trường cũng là quan điểm phát triểncủa Mỹ.

Các nước gần chúng ta thì Nhật Bản có hệ thống đê biển khá đặc biệt Là quốcgia có bốn mặt là biển, thường xuyên bị động đất, sóng thần đe dọa với nguy cơ pháhoại hệ thống đê điều rất lớn nên Nhật Bản cũng đặc biệt quan tâm tới đê cửa sông

và đê biển mặc dầu đất đai của Nhật Bản hầu hết cao hơn mực nước biển Ở đấtnước này, qui định thiết kế với từng loại đê theo cấp công trình được giám sát chặtchẽ Đê cũng là một công trình đa mục tiêu, trong đó vấn đề giao thông được ưutiên hàng đầu, chính vì vậy đê biển của Nhật Bản cũng rất chỉnh thể

Một đặc điểm quan trọng của hệ thống đê biển của các nước phát triển là côngnghệ xây dựng rất tiên tiến; qui trình công nghệ được đảm bảo Máy móc được ápdụng trong mọi khâu của quá trình từ khảo sát, thiết kế, xây dựng, vận hành và bảodưỡng nên những hỏng hóc nhỏ trong điều kiện bình thường rất ít xảy ra, trừ những

sự cố thiên tai lớn mà thôi

Ở những nước như: Hà Lan, Đức, Bỉ, Anh, Đan Mạch, Mỹ, Nhật Bản Ngoàiviệc tăng cường hệ thống đê biển thì việc duy trì bãi trước như một giải pháp khôngchỉ giúp tăng an toàn cho đê mà còn là chiến lược phát triển du lịch biển, vì vậy,người ta quan tâm đến những giải pháp mềm như: nuôi bãi, trồng rừng ngập mặnv.v Các đội tàu hút cát hoạt động thường xuyên làm rộng các bãi tắm, tạo thêmcảnh quan, dải đất ven biển được trồng cây chắn sóng, bài toán phát triển bền vữngmôi trường sinh thái biển luôn được đặt ra trong các dự án phát triển

1.2.2 Tình hình xây dựng đê biển trong nước

Đường bờ biển nước ta trải dài từ Bắc tới Nam đi qua nhiều vùng với các điềukiện địa chất, thủy văn và khí hậu khác nhau, chính vì vậy mà hệ thống đê biển ởmỗi vùng đều có đặc thù riêng về quy mô, kiến trúc, cũng như mức độ quan trọng

Trang 11

1.2.2.1 Hệ thống đê biển và đê cửa sông vùng đồng bằng Bắc Bộ (từ Quảng Ninh đến Ninh Bình)

Được xây dựng bồi trúc, phát triển theo thời gian và do rất nhiều thế hệ thựchiện Đê chủ yếu là đê đất, vật liệu lấy tại chỗ và người địa phương tự đắp bằngnhững phương pháp thủ công

Hình 1.4: Thi công đê biển Hải Hậu

Hệ thống đê biển hình thành từ kinh nghiệm của cha ông chúng ta khi thấyrằng điều kiện mở đất có thể bắt đầu được là tiến hành Chính vì vậy, đê khôngthành tuyến rõ ràng mà là các đoạn nằm giữa các cửa sông Có những địa phươngchỉ trong vòng một thế kỷ đã có nhiều

lần lấn đê phát triển ra ngoài, mà cho

đến nay vẫn còn tồn tại những tuyến đó

như đê huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo (Hải

Phòng); đê Thái Thụy, Tiền Hải (Thái

Bình), đê Kim Sơn (Ninh Bình) v.v

Hình 1.5: Đê biển Hải Hậu – Nam Định

bị tàn phá do bão

Trang 12

1.2.2.2 Vùng ven biển Bắc Trung Bộ (Từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh)

Theo thống kê chiều dài các tuyến đê biển, đê cửa sông khu vực Bắc Trung Bộkhoảng 406 km Mặc dù đã được quan tâm đầu tư khôi phục, nâng cấp thông qua dự

án PAM 4617, OXFAM, EC, CARE, ADB, tuy nhiên quy mô tuyến đê biển vùngnày nhìn chung là thấp nhỏ, khi có bão lớn thường xảy ra hiện tượng tràn và vỡ đê.Một số tồn tại chính của tuyến đê biển Bắc Trung Bộ như sau:

- Còn khoảng 223km/406km đê biển, đê cửa sông thấp nhỏ, chưa đủ cao trìnhchống lũ, nước tràn thường xuyên khi có bão hoặc gió mùa duy trì dài ngày

- Chiều rộng mặt đê khoảng 2 ÷ 2,5m, số đoạn có chiều rộng trên 3m khoảng200km gây khó khăn trong việc duy tu bảo dưỡng, đặc biệt trong những trận bãogây sạt lở hay vỡ đê Mặt khác, nếu coi đê là một tuyến giao thông thì cũng chưa đạtđược mục đích Đây cũng là một vấn đề được đặt ra trong việc phát triển kinh tếvùng biển Một khi cơ sở hạ tầng giao thông đủ mạnh thì mới có cơ hội phát triểnkinh tế và là điều kiện đầu tư trở lại cho nâng cấp, củng cố hệ thống đê biển sẵn có

- Lõi đê gồm phần lớn là đất cát, phần gia cố bằng lớp đất sét bao bên ngoàilại không đủ dày, không đảm bảo các chỉ tiêu cơ lý đất đắp, nên chỉ cần một hưhỏng cục bộ sẽ dẫn tới hậu quả sẽ phá hỏng cả một đoạn đê lớn Thực tế cho thấyrằng, khi gặp bão có nước tràn là đê bị vỡ nhiều đoạn

- Mặt đê mới được gia cố cứng hóa một phần, về mùa mưa bão mặt đê thường

bị sạt lở, lầy lội nhiều đoạn không thể đi lại được

- Mái phía biển nhiều nơi chưa được bảo

vệ, vẫn thường xuyên có nguy cơ sạt lở đedọa đến an toàn của đê, đặc biệt trong mùamưa bão Mái đê phía đồng chưa được bảo

vệ nên nhiều đoạn bị xói, sạt khi mưa lớnhoặc sóng tràn qua

Hình 1.6: Tuyến đê biển Hậu Lộc

Trang 13

- Dải cây chắn sóng trước đê biển tuy đã được quan tâm bảo vệ, nhưng do đặcđiểm khu vực có độ phì kém, cây khó phát triển, thêm vào đó ý thức bảo vệ của dânđịa phương chưa tốt dẫn đến hiệu quả bảo vệ của lớp đệm bãi trước chưa cao trongkhi bãi biển ở một số đoạn có xu hướng bào mòn, hạ thấp gây sạt lở chân kè, đe dọađến an toàn của đê biển như đoạn Ninh Phú, Hậu Lộc (tỉnh Thanh Hóa), đoạn kèCẩm Nhượng, đê Hội Thống (tỉnh Hà Tĩnh).

- Một vấn đề tồn tại lớn đối với tuyến đê biển Bắc Trung Bộ là hệ thống cốngdưới đê rất nhiều về số lượng, hầu hết được xây dựng từ vài chục năm trước đây vớikết cấu tạm bợ và đang bị xuống cấp nghiêm trọng Cần có quy hoạch lại, sửa chữa

và xây dựng mới để đảm bảo an toàn cho đê, phù hợp với quy hoạch chung về pháttriển sản xuất

1.2.2.3 Vùng ven biển Trung Trung Bộ (Từ Quảng Bình đến Quảng Nam)

Nằm kẹp giữa các cửa sông mà lưu vực chủ yếu nằm gọn trong lãnh thổ nước

ta Đất liền được bảo vệ bởi hệ thống đê khá nhỏ xung quanh các cửa sông và mộtphần bờ biển Phần lớn dải bờ biển được bảo vệ bởi các đụn cát, có nơi cao đến 30

÷ 50 m như ở Quảng Bình, Quảng Trị, Bắc Thừa Thiên - Huế, rộng tới hàng vàitrăm mét, hoặc với cả cây số như ở Quảng Bình, Quảng Trị Đê thông thường chỉ cócao trình tới 3 ÷ 3.5 m và cho phép nước tràn Đê biển ngắn, bị chia cắt bởi cácsông, rạch, địa hình đồi cát ven biển và bảo vệ một diện tích canh tác nhỏ hẹp dọctheo đầm phá Đê biển, đê cửa sông khu vực Trung Trung Bộ có tổng chiều dàikhoảng 560 km với nhiệm vụ ngăn mặn, giữ ngọt, chống lũ tiểu mãn hoặc lũ sớmbảo vệ sản xuất hai vụ lúa đông xuân và hè thu, đồng thời phải đảm bảo tiêu thoátnhanh lũ chính vụ Một số tuyến đê bảo vệ các khu nuôi trồng thủy sản Đa số cáctuyến đê biển bảo vệ diện tích canh tác nhỏ dưới 3000 ha Chính vì vậy, đê khôngcao, nhưng cần phải gia cố ba mặt để chống hư hỏng khi lũ tràn

Phần lớn các tuyến đê được đắp bằng đất thịt nhẹ pha cát, một số tuyến nằmsâu so với cửa sông và đầm phá đất thân đê là đất sét pha cát như đê Tả Gianh(Quảng Bình) đê Vĩnh Thái (Quảng Trị), một số đoạn đê đã được bảo vệ 3 mặthoặc 2 mặt bằng tấm bê tông để cho lũ tràn qua như tấm đê phá Tam Giang (Thừa

Trang 14

Thiên Huế), đê hữu Nhật Lệ (Quảng Bình), ngoài các đoạn đê trực tiếp chịu tácđộng của sóng, gió được xây dựng kè bảo vệ, hầu hết mái đê được bảo vệ bằng cỏ,

đê vùng cửa sông được bảo vệ bằng cây chắn sóng với các loại cây sú, vẹt, đước.Một số tồn tại chính của các tuyến đê biển Trung Trung Bộ như sau:

- Còn 240 km/ 560 km đê biển, đê cửa sông chưa được đầu tư tu bổ nâng cấpnên còn thấp nhỏ, chưa đảm bảo cao độ phong lũ yêu cầu

- Trừ đoạn đê thuộc thuộc thành phố Đà Nẵng có chiều rộng mặt đê trên 4,0m,còn lại hầu hết bề rộng mặt đê nhỏ hơn 3.5m, thậm chí có đến 272km mặt đê chỉrộng 1.5 ÷ 2.0m Chiều rộng mặt đê nhỏ gây khó khăn rất lớn trong việc kết hợpgiao thông bộ cũng như cứu hộ đê

- Toàn bộ mặt đê chưa được gia cố cứng hóa, về mùa mưa bão mặt đê thường

bị lầy lội nhiều đoạn không thể đi lại được

- Đến nay mới có khoảng 165km/560km có kè bảo vệ mái, phần lớn mái đêphía biển chưa được bảo vệ, hoặc lớp bảo vệ chưa đủ kiên cố nên vẫn thường bị sạt

lở đe dọa đến an toàn của các tuyến đê biển Một số đoạn đê thuộc Thừa Thiên Huế, Quảng Nam được gia cố 3 mặt trong các dự án đầu tư nâng cấp trong nhữngnăm qua

Cũng như vùng Bắc Trung Bộ, số lượng cống dưới đê rất lớn và được xâydựng từ vài chục năm trước với kết cấu tạm bợ, nhiều cống kiên cố không có tườngcánh mà đắp bằng đất Nhiều cống không còn phù hợp với quy hoạch sản xuất,ngoài một số cống được tu bổ, nâng cấp thông qua dự án PAM 4617, hầu hết cáccống còn lại đang bị xuống cấp nghiêm trọng Cần có quy hoạch lại, sửa chữa vàxây dựng mới để đảm bảo an toàn cho đê, phù hợp với quy hoạch chung về pháttriển sản xuất

1.2.2.4 Đê biển Nam Trung Bộ

Vùng Nam Trung Bộ đã hình thành một số tuyến đê ven biển, đê cửa sôngkhá sớm như: Đê Đông tỉnh Bình Định với chiều dài hơn 40km, được xây dựng từnhững năm 1930; đê Xuân Hòa, Xuân Hải được xây dựng phía trong đầm Cù Mông

Trang 15

tỉnh Phú Yên được xây dựng và bồi trúc trong những năm 1956-1958; đê NinhGiang, Ninh Phú huyện Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa được đắp trước năm 1975 Cònlại các tuyến đê khác ở các tỉnh Nam Trung bộ phần lớn được hình thành sau nhữngnăm 1975 Hệ thống đê biển, đê cửa sông ở khu vực này thường ngắn và bị chia cắtbởi các cửa sông, đầm phá, dãy núi hoặc đồi cát Các tuyến đê được hình thành chủyếu do người dân tự đắp, mang tính tự phát, xuất phát từ những bức xúc bảo vệ mùa

vụ, đất đai sản xuất nông nghiệp, lập thành vành đai dân cư cho từng làng, xómriêng lẻ cũng như lấn biển để nuôi trồng thủy sản Chính vì vậy đê biển ở khu vựcnày khá tạm bợ và manh mún, chỉ có một số ít đoạn đê được Nhà nước đầu tư xâydựng có kết cấu khá vững chắc, một số đoạn đê được lát bê tông cả 3 mặt nhằm vừađảm bảo chống triều cường, ngăn mặn vừa đảm bảo yêu cầu thoát lũ Tiêu biểu chocác tuyến đê được xây dựng trong giai đoạn sau 1975 là :

- Đê Bình Chánh, Bình Dương với chiều dài gần 10km thuộc huyện Bình Sơntỉnh Quảng Ngãi được xây dựng và đắp bồi trúc những năm 1993÷2002; sau đó năm

2005 được hoàn thiện và kiên cố hóa, đê được lát bêtông 3 mặt từ nguồn vốn ODAkhông hoàn lại do chính phủ Úc tài trợ

- Từ năm 1999 ÷ 2006 các tuyến đê thuộc huyện Mộ Đức, Đức Phong tỉnhQuảng Ngãi được đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách Trung ương

- Đê kè Bắc sông Đà Rằng thành phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên, xây dựng năm

2002, với chiều dài tuyến 3,2km Đê được kết hợp làm đường giao thông và chỉnhtrang đô thị

- Đê kè Trần Phú thành phố Nha Trangtỉnh Khánh Hòa với chiều dài 1km, xâydựng năm 2001

Hình 1.7: Kè Trần Phú – Nha Trang

Trang 16

Hiện nay toàn bộ miền Nam Trung Bộ có: 18 tuyến đê biển với chiều dài101,8km; 31 tuyến đê cửa sông với chiều dài 131,35 km; 19 tuyến kè với chiều dài23,26 km Các tồn tại chính của đê biển Nam Trung Bộ:

- Hầu hết các tuyến đê có bề rộng mặt B < 4,0 m gây khó khăn cho việc bảodưỡng cũng như cứu hộ đê nhất là trong mùa bão

- Cao trình đỉnh đê các tuyến đê không đồng bộ và hầu hết chưa đạt yêu cầuchống lại nước dâng và sóng do bão

1.2.2.5 Đê biển Nam Bộ

- Trước năm 1975:

Từ đầu thế kỷ XX, nhiều khu vực ven biển đã được khai thác quy mô nhỏ, đêtạm bợ thấp và nhỏ, qua quá trình chống trọi với thiên nhiên, ảnh hưởng triều biển,

đê cũng được tu bổ, bồi đắp và ổn định dần

Vào thập niên 30 để bảo vệ vùng đất ven biển tỉnh Bạc Liêu từ Thị xã đến cửasông Gành Hào, tuyến đê ngăn mặn được đắp vào đầu năm 1940 dài 51km, là mộttrong những trục giao thông ven biển quan trọng

Đầu thập niên 40, tuyến đê Tiếp Nhật – Long Phú cũng được đắp dọc sôngHậu, đến năm 1973 căn bản hoàn thành với tổng chiều dài 63km

Đê An Biên - An Minh dài 24km, được xây dựng để ngăn mặn từ biển Tâyvào khu vực An Biên – An Minh

- Từ năm 1975 đến nay:

Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Đảng và Nhà nước ta đó rất quantâm tới công tác trị thủy trong đó có việc tu bổ, nâng cấp và hoàn thiện hệ thống đêbiển Nhận thức được tầm quan trọng, tính bức xúc của hệ thống đê biển, Nhà nước

đã xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển, nhiều chương trình cấp quốc gia vềđiều tra, khảo sát tài nguyên biển đã được thực hiện, các chương trình nâng cấp đêbiển do Nhà nước và các tổ chức quốc tế trợ giúp thực sự tạo ra sự ổn định giúp choviệc phát triển kinh tế biển Song song với các hoạt động tư vấn, nhiều chươngtrình, đề tài nghiên cứu các cấp từ Trung ương đến địa phương có biển đã được triển

Trang 17

khai nhằm điều tra, xác định lượng bùn cát bồi tích ở các vùng được bồi và lượngbùn cát bị xói mất ở các vùng biển lấn, các nghiên cứu về thủy triều, nước dâng,trường sóng, gió, dòng chảy, trong điều kiện bình thường cũng như khi gặp bãonhằm xây dựng được các luận cứ khoa học cho các giải pháp thiết kế, thi công hệthống đê biển, phòng chống thiên tai Hiện nay trên toàn khu vực Nam Bộ có 16tuyến đê biển với chiều dài 444,36km; 2 tuyến kè biển với tổng chiều dài 16,5 km.

Đánh giá chung về hệ thống đê biển, đê cửa sông Nam Bộ:

- Đê biển, đê cửa sông đã phát huy tác dụng ngăn mặn xâm nhập vào đồng,bảo vệ đất canh tác cho những vùng ngọt hóa

- Nhiều nơi đê đã góp phần khai hoang lấn biển, mở rộng đất canh tác

- Việc xây dựng đê biển và các công trình trên đê trong các năm qua trên thực

tế đã góp phần quan trọng trong việc chủ động điều tiết nguồn nước góp phầnchuyển đổi cơ cấu sản xuất, phát triển giao thông nông thôn, củng cố an ninh quốcphòng

- Cao trình nhiều tuyến đê biển, đê cửa sông hiện chưa đủ khả năng phòngchống thiên tai, khi gặp triều cường và bão thường bị thiệt hại lớn

- Các tuyến đê biển, đê cửa sông hầu hết còn thiếu cống nên chưa chủ độngtrong tiêu úng, tiêu phèn, hạn chế hiệu quả ngăn mặn, giữ ngọt, chưa đáp ứng yếucầu chuyển đổi sản xuất cho một số vùng

- Do được xây dựng qua nhiều thời kỳ nên đê biển Nam Bộ thiếu tính hệ thống

về vùng và đối tượng bảo vệ, không thống nhất về tiêu chuẩn kỹ thuật

1.2.2.6 Những vấn đề còn hạn chế trong khảo sát thiết kế và thi công đê biển

Trong những năm qua công tác khảo sát thiết kế và thi công đê biển đã đạtđược nhiều thành tích đáng khích lệ và đúc rút được nhiều kinh nghiệm quý báu.Bước đầu đã áp dụng những giải pháp tiên tiến vào hoàn cảnh thực tế ở từng vùng,từng địa phương và đã có những hiệu quả nhất định Tuy nhiên trong công tác khảosát, thiết kế, thi công và quản lý sử dụng các tuyến đê hiện nay còn tồn tại nhữngbất cập như sau :

Trang 18

a Về công tác khảo sát

Chạy dọc dải ven biển, các tuyến đê thường rất dài, địa chất đất nền luôn thayđổi trên toàn tuyến, trong khi khoảng cách các hố khoan quá xa nên khó mô tả hếtđược đặc điểm địa chất dưới đất nền Hiện nay, công tác khảo sát địa chất và thínghiệm đất phục vụ thiết kế thi công xây dựng đê chủ yếu sử dụng các phương phápsau đây :

- Khoan bằng tay, bằng máy và lấy mẫu nguyên dạng;

- Khoan xuyên tĩnh, cắt cánh;

Do địa chất ở vùng nghiên cứu chủ yếu là đất sét bão hoà nước, công việc lấymẫu nguyên dạng gặp nhiều khó khăn, mức độ phá hoại của mẫu tăng cao khi độnhạy của đất tăng lên Các mẫu sau khi được lấy và bảo quản bằng cách bọc sáp đểcách ly với không khí và nước bên ngoài Tuy nhiên, trong quá trình vận chuyển dokhoảng cách từ nơi lấy mẫu đến phòng thí nghiệm rất xa, làm cho mẫu bị rungđộng, phá hoại kết cấu, rạn nứt lớp bọc bảo vệ dẫn đến việc bay hơi nước trongmẫu… Bên cạnh đó mẫu đất lại được thí nghiệm trên những thiết bị cũ và lạchậu… Những nguyên nhân trên đã ảnh hưởng rất nhiều, thậm chí làm sai lệch đếnkết qủa các chỉ tiêu của mẫu đất

b.Về công tác thiết kế thi công

Vấn đề lún cố kết của lớp đất đắp vẫn chưa được nghiên cứu triệt để Trongnhiều trường hợp độ lún này chiếm tỷ lệ rất cao so với độ lún toàn thể;

Không kể đến độ sâu vùng ảnh hưởng của khối đất đắp Độ sâu tính lún phải

kể đến chiều rộng của mặt đê;

Không kể đến độ lún theo thời gian và độ lún thứ phát của nền sau cố kết;Không đưa ra các biện pháp xử lý nền, lựa chọn sai hoặc không hiệu quả cácgiải pháp xử lý nền đất yếu;

Không thực hiện công tác kiểm tra chất lượng trong quá trình thi công theotừng lớp, không tiến hành so sánh dung trọng khô tại hiện trường và dung trọng khôtrong phòng thí nghiệm;

Trang 19

Thiếu các tài liệu, thiết bị quan trắc lún của công trình trên nền đất yếu;

Ở một số tuyến đê các đơn vị thi công không có kinh nghiệm hoặc vì một số lý

do nào đó không tuân thủ đồ án thiết kế, sử dụng các thiết bị thi công cơ giới lớn,đắp nhanh tới cao trình thiết kế làm phá hủy lớp đất mặt gây sụt lún và các sự cốnghiêm trọng khác

Chưa đề cập đến vấn đề dâng cao mực nước biển do biến đổi khí hậu toàn cầu

và ảnh hưởng của nó đối với hệ thống đê biển

Trang 20

CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HỆ THỐNG ĐÊ BIỂN VÀ

QUY LUẬT DIỄN BIẾN DẢI VEN BIỂN NAM BỘ

2.1 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐÊ BIỂN NAM BỘ

Qua kết quả điều tra khảo sát thực địa dải ven biển từ Bà Rịa - Vũng Tàu đếnKiên Giang kết hợp với việc nghiên cứu tổng hợp, phân tích các tài liệu liên quantới hệ thống đê biển thu thập được cho thấy:

Hiện trên toàn khu vực Nam Bộ có 16 tuyến đê biển với chiều dài 444,36km;

2 tuyến kè biển với tổng chiều dài 16,5 km Đê biển từ Bà Rịa - Vũng Tàu đến KiênGiang được hình thành qua nhiều thời kỳ, giai đoạn khác nhau với mục đích yêucầu nhiệm vụ của tuyến đê không giống nhau, vì vậy thiếu sự đồng bộ, thiếu sự nhấtquán về mục tiêu, nhiệm vụ và cũng thiếu sự thống nhất về các chỉ tiêu thiết kế, xâydựng Thực trạng đê biển Nam Bộ được đánh giá theo các tỉnh như sau:

2.1.1 Thực trạng đê biển tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Hình 2.1: Bản đồ hiện trạng đê biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Trang 21

Đường bờ biển tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có chiều dài khoảng 120km từ SuốiChùa, giáp với tỉnh Bình Thuận, đến sông Cái Mép, giáp ranh với Thành phố HồChí Minh Toàn tỉnh có 32 km đê biển chia thành ba tuyến đó là tuyến đê biển ChuHải, tuyến đê biển Phước Hòa và tuyến đê biển Hải Đăng.

2.1.1.1 Đê Chu Hải

Được xây dựng năm 1976, nâng cấp năm 1993 Tuyến đê chạy dọc quốc lộ 51

về phía Sông Vi thuộc địa giới các xã: Long Hưng, Hội Bài, Phước Hòa A và Thị

xã Bà Rịa Đê có nhiệm vụ ngăn mặn bảo vệ sản xuất cho 3.900 ha Tổng chiều toàntuyến 14,6 km và có 09 cống dưới đê Chiều rộng mặt đê từ 3 ÷ 4 m, cao trình mặt

đê +2,1m, hệ số mái thượng, hạ lưu m = 3 Đê được đắp bằng đất đồng chất, máithượng hạ lưu được bảo vệ bằng đá lát khan Các cống dưới đê có kết cấu bằng bêtông cốt thép, cao trình đáy cống -1,5 m, kích thước cống 1,4 x1,4 m, chiều dàicống L = 15 m

Hiện tại, về cơ bản tuyến đê biển Chu Hải có chất lượng tương đối tốt, đê nằmcách mép bờ biển trung bình từ 6 đến 8 km, do vậy khả năng ổn định trước triềucường bão lớn là hoàn toàn có thể Tuy nhiên do công trình thường xuyên chịu tácđộng của thủy triều, nắng, mưa làm xói mòn nên đã bị xuống cấp Bề rộng mặt đêchỉ còn khoảng 2,5 ÷ 2,7m, mái đê thượng, hạ lưu bị sạt lở, chiều cao đê thấp hơnthiết kế ban đầu từ 0,2 ÷ 0,4 m

Hình 2.2: Hiện trạng tuyến đê biển Chu Hải

Trang 22

Về các cống dưới đê phần đá xây bảo vệ mái thượng hạ lưu bị sạt lở Cánh cửacống bị rò rỉ Bê tông cốt thép thân cống bị nước mặn xâm thực Máy đóng mở vậnhành khó khăn do nước mặn làm rỉ sét Trong thời gian tới cần đầu tư nâng cấp 9cống dưới đê để đảm bảo hệ thống đê biển hiện có làm việc đồng bộ.

Hình 2.3: Hiện trạng cống dưới đê biển Chu Hải

2.1.1.2 Đê Phước Hòa

Được xây dựng năm 2001, tuyến đê được xây dựng đi qua các xã Hội Bài,Phước Hòa, Huyện Tân Thành, có nhiệm vụ ngăn mặn 500 ha Đê được thiết kế vớicấp công trình cấp V, chiều dài toàn tuyến 9,5 km và 13 cống dưới đê Cao trìnhđỉnh đê +2,6 m, chiều rộng mặt đê 3m, hệ số mái thượng hạ lưu m = 3

Tuyến đê được đắp bằng đất đồng chất, cống dưới đê có kết cấu bằng bê tôngcốt thép và đá xây bảo vệ mái thượng hạ lưu Hiện nay công trình đang hoạt động

ổn định

2.1.1.3 Tuyến đê ngăn mặn Hải Đăng

Được hình thành từ năm 1978, thuộc phường 12 thành phố Vũng Tàu, cóchiều dài 8 km, với nhiệm vụ ngăn mặn, chống sạt lở bờ biển Đê được đắp bằngđất, bề rộng mặt đê 2m, hệ số mái đê m = 2,5, cao trình đỉnh đê từ +1,5÷+2,0m.Qua sự tác động trực tiếp của sóng biển, triều cường và mưa lớn nhiều đoạn đê đã bị

hư hỏng Từ năm 1992 đến năm 2005, UBND thành phố Vũng Tàu đã đầu tư xây

Trang 23

dựng 1.750 m kè đá để bảo vệ thân đê tại những đoạn đê xung yếu và đặc biệt vàonăm 1999 và 2003 đã tu bổ, xây mới 6.350m thân đê và kè đá 02 đoạn thuộc tuyến

đê bị xuống cấp trầm trọng Hiện nay cần tiếp tục triển khai tu bổ, sửa chữa khẩncấp 220m kè đá, thân đê bị rạn nứt, hở hàm ếch có nguy cơ gây đổ kè, vỡ đê Đồngthời xây dựng kế hoạch để đắp đất áp trúc thân đê với tổng chiều dài khoảng1.600m

Hình 2.4: Đê ngăn mặn Hải Đăng

Các thông số kỹ thuật của các tuyến đê biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đượcthống kê trong bảng 2.1

Bảng 2.1: Các thông số kỹ thuật của các tuyến đê biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Địa điểm xây dựng

& Tên công trình

Thời gian xây dựng

Thông số kỹ thuật

L (km)

B (m)

Caotrìnhđỉnh(m)

Máitrong

Máingoài

CốngdướiđêHuyện Tên công trình

Khởicông

Hoànthành

1,5-0÷2,5

Trang 24

2.1.2 Thực trạng đê biển Thành phố Hồ Chí Minh

Hình 2.5: Bản đồ hiện trạng đê biển Tp Hồ Chí Minh

Hiện nay trên toàn chiều dài đường bờ biển thuộc địa phận thành phố Hồ ChíMinh chưa có đê, nhưng có khoảng 15 km kè bảo vệ bờ biển, thuộc các xã ĐồngHòa và Cần Thạnh, huyện Cần Giờ

Tuyến kè biển Cần Giờ được xây dựng từ năm 1995 và được sửa chữa nângcấp, cải tạo lại một số đoạn vào năm 2004 Các thông số kỹ thuật chính của tuyến

kè theo tài liệu thiết kế sửa chữa như sau:

- Cao độ đỉnh: +2,0 m;

- Bề rộng đỉnh: B = 2,0 m;

Trang 25

- Mái dốc: phía biển m = 3; phía đồng m = 1,5;

- Kết cấu kè gồm 3 lớp, vải địa kỹ thuật, đá dăm lót dày 10 cm và trên cùng là

đá hộc lát khan D30 dày 50 cm

Nhìn chung toàn tuyến kè hiện khá ổn định, nhiều vị trí kè được bồi lắng, tuyvậy cũng có một vài đoạn đang bị sạt lở

Hình 2.6: Kè biển Cần Giờ Tp Hồ Chí Minh

Ngoài ra trên địa phận thành phố Hồ Chí Minh còn có đoạn kè bờ biển dài 1,5

km được xây dựng để bảo vệ xã đảo Thạnh An

Hình 2.7: Kè bờ biển Thanh An Đức huyện Cần Giờ

Trang 26

2.1.3 Thực trạng đê biển tỉnh Tiền Giang

Hình 2.8: Bản đồ thực trạng đê biển tỉnh Tiền Giang

Đến nay tỉnh Tiền Giang mới xây dựng được 43,612 km đê biển và đê cửasông, trong đó phần đê biển là 21,018 km Đê được đắp bằng đất đồng chất Mặt đêrộng 6m được trải sỏi đỏ để kết hợp làm đường giao thông, hiện nay ngành giaothông đã trải nhựa mặt đê đoạn giao với tỉnh lộ 24 đến khu vực Đèn Đỏ dài khoảnghơn 3km Một phần đoạn đê xung yếu dài 2.449m (K28 + 463 đến K30 + 912) đang trựcdiện với biển do rừng phòng hộ bên ngoài bị tàn phá đã được xây kè lát mái bảo vệdài 1,84km (bằng cục bê tông tự chèn Tsc178) Dọc chiều dài tuyến đê biển có 15cống ngăn mặn giữ ngọt, đa số cống đã bị hư hỏng, xuống cấp cần phải tu bổ vànâng cấp

Trang 27

Hình 2.9: Đoạn đê trực diện với biển được kè bảo vệ bằng cục Tsc 178

Về rừng phòng hộ ngập mặn ven biển: tỉnh Tiền Giang có tổng diện tích rừng

là 1.600 ha, chủ yếu trồng các loại cây: đước, mắm, bần, dừa nước , trong đó có

360 ha thuộc các xã Vàm Láng, Kiểng Phước, Tân Điền, Tân Thành có vai trò đặcbiệt quan trọng bảo vệ an toàn cho hơn 21 km đê biển Chiều rộng của dải rừng phíangoài đê thay đổi từ 100 ÷ 500m Mặc dù từ năm 1998 đến nay rừng phòng hộ venbiển Gò Công được phục hồi, tuy nhiên diện tích rừng vẫn giảm, tại một số vị trí đairừng phòng hộ khá mỏng, có vị trí đê nằm trực diện biển như đọan K28+70 đến

Trang 28

- Đầu tư phát triển khoảng 3 km rừng phòng hộ ven biển đoạn xung yếu.

- Xây dựng mới tuyến đê phòng thủ từ cống Tân Thành đến cống Rạch Xẽodài khoảng 14.68 km

- Xây dựng khoảng 15km đê biển, đê cửa sông Gò Công 2

- Xây dựng kè chắn sóng khoảng 800 m trên đoạn xung yếu thuộc tuyến đêbiển Gò Công từ K28+075 đến K28+440 và đoạn kè từ K30+054,6 đến K30+488,3

- Phục hồi nâng cấp hệ thống đê biển, đê cửa sông Gò Công 2

Bảng 2.2: Các thông số kỹ thuật chính của đê biển Tiền Giang

Địa điểm xây dựng

& Tên công trình

Thông số kỹ thuật

L (km)

B (m)

Caotrìnhđỉnh(m)

Mái trong

Mái ngoài

Cống dưới đêHuyện Tên công trình

Công

Đông

Đê biển Gò Công Đông1 21,02 4-6 4,2 2 3 15

Đê cửa sông đoạn từ cống

Trang 29

Hình 2.11: Bản đồ thực trạng đê biển tỉnh Bến Tre

Đường bờ biển tỉnh Bến Tre có chiều dài khoảng 65 km, từ cửa Đại (sông MỹTho) đến cửa Cổ Chiên (sông Cổ Chiên) Dọc đường bờ biển có 4 cửa sông lớngồm: cửa sông Mỹ Tho, cửa sông Ba Lai, cửa sông Hàm Luông và cửa sông CổChiên Hiện nay tỉnh Bến Tre mới chỉ xây dựng được 46,3 km đê biển, đê cửa sôngtrên địa bàn huyện Bình Đại, đê được đắp bằng đất tại chỗ, mái đê được trồng cỏbảo vệ, mặt đê trải sỏi đỏ rộng 4m, dày 20cm;

Các thông số cơ bản của đê:

- Chiều rộng mặt đê B = 5 m

- Cao trình đỉnh đê +3,5 m

- Hệ số mái dốc: phía biển m = 3, phía đồng m =2

Đê có nhiệm vụ bảo vệ cho 32.294 ha diện tích nuôi trồng thủy sản, 1369 hađồng muối và khoảng 120.000 dân sinh sống

Trang 30

Hình 2.12: Hình ảnh đê biển huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre

Nhìn chung bờ biển tỉnh Bến Tre không bị xâm thực ngoại trừ đoạn bờ tại cửasông Mỹ Tho có dài khoảng 4 km hiện đang bị sạt lở ở mức độ trung bình, tốc độbiển lấn khoảng 5 m/năm

Rừng phòng hộ ở tỉnh Bến Tre phát triển mạnh, với tổng diện tích rừng phòng

hộ ngập mặn ven biển 3.689 ha Ở huyện Bình Đại rừng chủ yếu nằm ở khu vựcphía Nam tỉnh lộ ĐT 883, với chiều rộng của rừng phía ngoài tuyến đê từ 200 ÷

3000 m Vùng ven biển Ba Tri rừng phòng hộ chỉ còn là một dải hẹp dọc bờ biển,phân bố cách quãng Ven biển Thạnh Phú rừng tập trung chủ yếu ở phía Nam rạchCái Mênh - Hồ Cỏ Cây rừng chủ yếu là các loại: đước, mắm, bần

Đê biển, đê cửa sông huyện Bình Đại hiện khá tốt, có thể chịu được triềucường, gió bão tới cấp 9 Tuy vậy, do đê chưa khép kín còn thiếu các công trình trên

đê như: cầu, cống nên chưa phát huy được hiệu quả, đoạn đê biển trên địa phận xãThới Thuận dài 5 km có đôi chỗ đê bị nứt nẻ, sạt lở mái cần được tu bổ sớm

Những vấn đề tồn tại ở tuyến đê biển Bến Tre cần phải xây dựng củng cố

và nâng cấp:

Trang 31

- Xây dựng tuyến đê biển Ba Tri dài 31,58 km với 19 công trình cầu cống,đảm bảo ngăn lũ, triều cường cho 14.529 ha diện tích đất tự nhiên, điều tiết mặnnuôi trồng thủy sản cho 4.101 ha.

- Xây dựng 50,8 km đê Thạnh Phú

- Tiếp tục củng cố nâng cấp tuyến đê Bình Đại, cứng hóa mặt đê và xây dựngcác cống dưới đê

2.1.5 Thực trạng đê biển tỉnh Trà Vinh

Tuyến đê biển Trà Vinh theo quy hoạch dài 86,36 km, xuất phát từ cống VàmLầu, xã Mỹ Long Bắc, huyện Cầu Ngang chạy dọc theo bờ biển và kết thúc tại cốngBắc Trang, xã An Quảng Hữu huyện Trà Cú Hiện tại đã có 67,87 km đê được xâydựng

Tuyến đê hiện hữu được đắp bằng đất, mái đê trải sỏi đỏ Cao trình đỉnh đê từ+3,0 ÷ +3,5m, hệ số mái đê phía biển m = 3, phía đồng m = 2 Đê chưa khép kín,liền tuyến do còn có hai đoạn chưa được xây dựng và chưa có các công trình dưới

đê như cầu, cống Về cơ bản các đoạn đê hiện hữu đang có khả năng chống đượcsóng gió, triều cường, riêng đoạn đê Hiệp Thạnh và Ba Động cần phải có biện phápgia cố mái ngoài do rừng phòng hộ ở đây đã bị sóng biển phá hủy

Trang 32

Hình 2.13: Bản đồ hiện trạng đê biển tỉnh Trà Vinh

Hình 2.14: Đoạn đê Hiệp Thạnh trực diện với biển

Trang 33

Ngoại trừ đoạn bờ ở Hiệp Thạnh và Ba Động bị xói lở, các đoạn bờ còn lạichủ yếu là bồi tụ, xói lở nhẹ Rừng phòng hộ phát triển tốt, hiện có 2.204 ha rừngphòng hộ chạy dọc theo hơn 65 km đê biển Rừng có chiều rộng trung bình 300 m,

có một số vị trí rộng 1000 m Cây rừng chủ yếu là mắm, đước, bần, phi lao…

Tóm lại những tồn tại cần giải quyết ở đê biển Trà Vinh là:

- Khôi phục rừng phòng hộ trước đê, đặc biệt là đoạn trước đê Hiệp Thạnh, lànơi đang bị sóng biển uy hiếp dài khoảng 2km

- Xây dựng 2 đoạn đê còn lại là Long Hữu - Hiệp Thạnh, Hồ Tàu - Ông Nămvới tổng chiều dài là 18,49 km

- Hiện do nhu cầu chuyển đổi cơ cấu sản xuất của các địa phương có tuyến đê

đi qua (đặc biệt là nhu cầu phục vụ nuôi trồng thủy sản), việc xây dựng các cốngkhông còn phù hợp Từ thực tế đó, để đảm bảo thông suốt, cần nâng cấp thànhtuyến đường giao thông cấp V phục vụ tốt yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và đảmbảo an ninh quốc phòng của tỉnh, toàn tuyến đê cần xây dựng mới 32 cầu giao thông

có tải trọng H18, có chiều dài từ 20 m đến 365 m Tổng chiều dài các cầu là 2150m

Các thông số cơ bản của các đoạn đê nêu trên được ghi trong bảng 2.3 dưới

đây:

Bảng 2.3: Các thông số kỹ thuật cơ bản của đê biển Trà Vinh

Địa điểm xây dựng

& Tên công trình

Thông số kỹ thuật

L (km)

B (m)

Cao trình đỉnh

Mái trong

Mái ngoài

Cống dưới đê

Trang 34

2.1.6 Thực trạng đê biển tỉnh Sóc Trăng

Hình 2.15: Bản đồ sơ họa tuyến đê biển tỉnh Sóc Trăng

Tuyến đê biển tỉnh Sóc Trăng dài 91 km, bao gồm 3 hệ thống:

- Hệ thống đê biển huyện Vĩnh Châu

Trang 35

Hình 2.16: Rừng phòng hộ bị suy thoái khiến sạt lở tiến sát chân đê

- Hệ thống đê biển cù lao Dung

- Hệ thống đê biển huyện Long Phú

Theo tài liệu thiết kế thông số kỹ thuật của hệ thống đê biển tỉnh Sóc Trăngđược ghi trong bảng dưới đây:

Bảng 10: Thông số kỹ thuật đê biển Sóc Trăng

Đoạn đê Chiều dài

(km)

Cao trình đỉnh (m)

B đỉnh (m)

mái trong

mái ngoài

Đoạn đê biển giáp với đê biển Bạc Liêu đến khu vực Thị trấn Vĩnh Châu: có

mặt cắt đê khá ổn định, mặt đê được trải sỏi đỏ, mái đê trồng cỏ bảo vệ Đê có rừngphòng hộ khá tốt, chủ yếu là trồng mắm với chiều dày 150 ÷ 200m, tuy vậy vẫn cóhai đoạn khu vực cống số 5 với chiều dài khoảng 600m rừng phòng hộ bị suy thoái,sạt lở bờ biển đã tiến sát chân đê Hiện chính quyền địa phương đã phải xây dựng kè

Trang 36

rọ đá bảo vệ Riêng đoạn đê từ vị trí cống số 7 đến khu vực thị trấn Vĩnh Châu dàikhoảng 3 km hiện mặt đê đã được trải đá.

Hình 2.17: Hiện trạng đê biển từ TT Vĩnh Châu đến Bạc Liêu

Đê biển huyện Vĩnh Châu: có chiều dài 49,9 km được hoàn thành năm 1999.

Ngoài nhiệm vụ ngăn mặn giữ ngọt bảo vệ sản xuất, tuyến đê Vĩnh Châu còn làtuyến đường giao thông quan trọng nối liền Vĩnh Châu với Bạc Liêu Trên toànchiều dài tuyến đê Vĩnh Châu có 17 cống dưới đê Nhìn chung hầu hết các cống đều

đã bị xuống cấp Bê tông thân cống bị ăn mòn, cửa cống bị hư hỏng nặng, một sốkênh rạch trước và sau cống bị bồi lấp nghiêm trọng Dưới đây là một số hình ảnhghi lại thực trạng hư hỏng của các cống dưới đê biển huyện Vĩnh Châu

Hình2.18: Một số hình ảnh hiện trạng cống dưới đê biển Vĩnh Châu - Sóc Trăng

Đê biển Cù Lao Dung: có chiều dài 23,3 km, được bắt đầu từ cầu số 1, kết

thúc ở kênh Vàm Hồ Lớn Đê có nhiệm vụ bảo vệ 29.310 ha diện tích đất tự nhiên

Trang 37

và khoảng hơn 80.000 dân sinh sống Toàn tuyến có 4 cầu giao thông và 7 cốngdưới đê Đê được khôi phục nâng cấp năm 2002, nhìn chung tuyến đê này đang vậnhành tốt Rừng phòng hộ chủ yếu trồng các loại cây: dừa nước, mắm và bần Bề dàyrừng phía cửa Trần Đề lên tới gần 1000 m, riêng đoạn đê phía cửa Định An rừngphòng hộ đang bị suy thoái mạnh, có những vị trí rất mỏng chỉ còn một vài hàngcây chắn sóng cho đê Chính vì vậy hiện mái ngoài của đoạn đê này đã phải bảo vệbằng kè đá xây.

Hình 2.19: Thực trạng đê biển Cù Lao Dung Tuyến đê Long Phú: đã được ngành giao thông nâng cấp thành tuyến giao

thông Nam sông Hậu Mặt đê đã được trải nhựa, vì vậy tuyến đê này khá ổn định

Hình 2.20: Mặt đê trải đá phục vụ giao thông

Những tồn tại cần phải xử lý ở đê biển Sóc Trăng:

- Khôi phục rừng phòng hộ tại các vị trí rừng đang bị suy giảm;

Trang 38

- Sửa chữa nâng cấp 8 cống, xây mới 4 cống dưới đê Vĩnh Châu.

- Tu bổ, đắp áp trúc và trải nhựa mặt đê kết hợp giao thông trên cả hai tuyếnVĩnh Châu và Cù Lao Dung

2.1.7 Thực trạng đê biển tỉnh Bạc Liêu

Hình 2.21: Bản đồ hiện trạng đê biển Bạc Liêu

Tuyến đê biển tỉnh Bạc Liêu dài 52,4 km, kéo dài trên địa bàn của ba huyện,thị xã là: Giá Rai, Vĩnh Lợi, Bạc Liêu và phía đông của huyện Đông Hải Tuyến đêđược xây dựng từ những năm 1976 ÷ 1979 và được nâng cấp trong hai giai đoạn từ

1999 ÷ 2000 và từ 2004 đến nay Các thông số kỹ thuật chính của đê như sau:

- Cao trình đỉnh đê: +3,5;

Trang 39

- Chiều rộng đỉnh đê: B = 6m;

- Mái đê phía ngoài: m = 3, phía trong: m = 2

Theo quy hoạch ban đầu tuyến đê biển Bạc Liêu có nhiệm vụ chủ yếu là ngănmặn giữ ngọt bảo vệ sản xuất; Tuy nhiên thực tế từ năm 2001, tỉnh Bạc Liêu đã thựchiện công tác chuyển đổi sản xuất theo chủ trương của Chính Phủ, từ đó hầu hếtdiện tích vùng Nam Quốc lộ 1A của tỉnh đã chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản.Chính vì vậy dự án khôi phục nâng cấp đê biển Bạc Liêu đã được điều chỉnh chophù hợp với tình hình mới, điểm khác biệt nhất của sự thay đổi dự án trong 2 giaiđoạn đó là thay 11 cống dưới đê bằng 24 cầu giao thông Ngoài ra trong giai đoạnnâng cấp đê biển còn có các hạng mục như sau: Bồi trúc toàn tuyến đê, nạo vét 18cửa kênh, trải nhựa mặt đê làm đường giao thông, chôn mốc hành lang đê, trồng cỏventiver mái đê với tổng vốn đầu tư là 123,5 tỷ đồng (trong đó có 04 cầu giao thônglớn là Nhà Mát, Chùa Phật, Cái Cùng, Huyện Kệ và kết hợp đê xây dựng đường liênhuyện từ thị trấn Gành Hào đến Nhà Mồ do Sở Giao thông vận tải quản lý đầu tưxây dựng là 47 tỷ đồng)

Hiện tại việc bồi trúc tuyến đê đã được hoàn thành, mặt đê đang được trải đá,riêng đoạn đê từ cầu Đầu Đê đến Kênh 3 đã được trải nhựa; mái đê được trồng cỏVentiver đoạn giáp với Sóc Trăng dài 9,7 km; có 18 cây cầu do sở Nông nghiệp &PTNT quản lý đang được triển khai thi công; 1 cây cầu trong số 4 cầu lớn do SởGiao thông quản lý đã được hoàn thành, 3 cầu còn lại đã lập dự án

Hình 2.22: Hiện trạng đê biển Bạc Liêu

Trang 40

Nhìn chung, đê biển Bạc Liêu có rừng phòng hộ tương đối tốt; Rừng có chiềurộng từ 0,5÷1,0 km, với các cây trồng chủ yếu là mắm, đước v.v Hiện nay rừngphòng hộ đã được giao khoán cho các hộ nông dân chăm sóc, tuy nhiên do yêu cầunuôi trồng thuỷ sản nên nhiều diện tích rừng phòng hộ bị chặt phá để tạo thành cácvuông nuôi tôm xen trong khu vực rừng nên đã làm giảm mật độ cây trong rừngphòng hộ Bên cạnh đó một số vị trí rừng bị sóng biển phá hủy như đoạn khu vựcgần cửa Gành Hào, hiện tại trên đoạn chiều dài 1,5km ở khu vực này rừng đangđược khôi phục trồng mới.

2.1.8 Thực trạng đê biển tỉnh Cà Mau

Hiện tỉnh Cà Mau có 92 km đê biển Tây, bắt đầu từ kênh Năm Rạch Chèo tớirạch Tiểu Dừa, giáp tỉnh Kiên Giang, với tổng kinh phí đầu tư 48 tỷ đồng Đê đượcbắt đầu xây dựng vào năm 1997 và hoàn thành vào năm 2002 Đê có nhiệm vụ ngănmặn bảo vệ cho khoảng 163.220 ha đất canh tác

Các thông số kỹ thuật cơ bản của tuyến đê biển Tây tỉnh Cà Mau:

- Cao trình đỉnh đê: +2.5 m

- Bề rộng mặt đê: 6,0 m

- Mái đê phía biển: m = 3, phía đồng: m = 2

Dọc theo tuyến đê biển Tây có khá nhiều kênh rạch chảy ra biển, nhưng phíadưới đê chỉ mới xây dựng được 6 cống đó là: cống Tiểu Dừa, cống Ba Tỉnh, cống

Đá Bạc, cống Lung Ranh, cống Kênh Mới, cống Bảy Ghe, còn 11 cống dưới đêđang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư

Ngày đăng: 26/03/2015, 15:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2002), 14TCN130 - 2002 - Hướng dẫn thiết kế đê biển, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 14TCN130 - 2002 - Hướng dẫn thiết kế đêbiển
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Năm: 2002
2. Nguyễn Quang Chiêu (2004), Thiết kế và thi công nền đắp trên đất yếu, NXB xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế và thi công nền đắp trên đất yếu
Tác giả: Nguyễn Quang Chiêu
Nhà XB: NXBxây dựng
Năm: 2004
3. DDMFC, Báo cáo hàng năm về thiệt hại do bão, Cục Đê điều Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hàng năm về thiệt hại do bão
4. Trần Như Hối (2003), Đê biển Nam Bộ, NXB Nông nghiệp, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đê biển Nam Bộ
Tác giả: Trần Như Hối
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
5. Trần Như Hối (2006), Đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ xây dựng hệ thống đê bao bờ bao nhằm phát triển bền vững vùng ngập lũ ĐBSCL” Viện KHTL Miền Nam, Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu đề xuất các giải phápkhoa học công nghệ xây dựng hệ thống đê bao bờ bao nhằm phát triển bền vữngvùng ngập lũ ĐBSCL”
Tác giả: Trần Như Hối
Năm: 2006
6. Pierre Lareal, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Quang Chiêu, Vũ Đức Lục, Lê Bá Lương (2001), Nền đường đắp trên đất yếu trong điều kiện Việt Nam, NXB Giao thông vận tải, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền đường đắp trên đất yếu trong điều kiện Việt Nam
Tác giả: Pierre Lareal, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Quang Chiêu, Vũ Đức Lục, Lê Bá Lương
Nhà XB: NXBGiao thông vận tải
Năm: 2001
7. Phân viện quy hoạch thuỷ lợi Nam Bộ (2000), Báo cáo chính quy hoạch hệ thống đê biển và đê cửa sông ĐBSCL. TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính quy hoạch hệ thốngđê biển và đê cửa sông ĐBSCL
Tác giả: Phân viện quy hoạch thuỷ lợi Nam Bộ
Năm: 2000
9. Nguyễn Văn Thơ, Trần Thị Thanh (2002), Xây dựng đê đập, đắp nền tuyến dân cư trên đất yếu ở ĐBSCL, NXB Nông nghiệp, Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đê đập, đắp nền tuyến dâncư trên đất yếu ở ĐBSCL
Tác giả: Nguyễn Văn Thơ, Trần Thị Thanh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
10. Trường Đại học Thủy lợi (2001), Bài giảng thiết kế đê và công trình bảo vệ bờ, NXB Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng thiết kế đê và công trình bảo vệ bờ
Tác giả: Trường Đại học Thủy lợi
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 2001
11. Trường Đại học Thủy lợi (2004), Thi công các công trình Thủy lợi (tập 1+2), NXB Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi công các công trình Thủy lợi (tập 1+2)
Tác giả: Trường Đại học Thủy lợi
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 2004
12. Trường Đại học Thủy lợi (2006), Công trình bảo vệ bờ biển, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công trình bảo vệ bờ biển
Tác giả: Trường Đại học Thủy lợi
Năm: 2006
13. Nguyễn Uyên (2005), Xử lý nền đất yếu trong xây dựng, NXB Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lý nền đất yếu trong xây dựng
Tác giả: Nguyễn Uyên
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 2005
8. Hoàng Văn Tân, Trần Đình Ngô, Phan Xuân Trường, Phạm Xuân, Nguyễn Hải (1997), Những phương pháp xây dựng công trình trên nền đất yếu, NXB Xây dựng (tái bản), Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Bản đồ dự báo các vùng ảnh hưởng nước biển dâng  ở Đồng bằng Sông Cửu Long (Nguồn: ICEM) - Luận văn Thạc sỹ: Nghiên cứu giải pháp xây dựng hệ thống đê biển Nam Bộ
Hình 1.1 Bản đồ dự báo các vùng ảnh hưởng nước biển dâng ở Đồng bằng Sông Cửu Long (Nguồn: ICEM) (Trang 4)
Hình 1.4: Thi công đê biển Hải Hậu - Luận văn Thạc sỹ: Nghiên cứu giải pháp xây dựng hệ thống đê biển Nam Bộ
Hình 1.4 Thi công đê biển Hải Hậu (Trang 11)
Hình 2.1: Bản đồ hiện trạng đê biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu - Luận văn Thạc sỹ: Nghiên cứu giải pháp xây dựng hệ thống đê biển Nam Bộ
Hình 2.1 Bản đồ hiện trạng đê biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Trang 20)
Hình 2.3: Hiện trạng cống dưới  đê biển Chu Hải 2.1.1.2. Đê Phước Hòa - Luận văn Thạc sỹ: Nghiên cứu giải pháp xây dựng hệ thống đê biển Nam Bộ
Hình 2.3 Hiện trạng cống dưới đê biển Chu Hải 2.1.1.2. Đê Phước Hòa (Trang 22)
Hình 2.4: Đê ngăn mặn Hải Đăng - Luận văn Thạc sỹ: Nghiên cứu giải pháp xây dựng hệ thống đê biển Nam Bộ
Hình 2.4 Đê ngăn mặn Hải Đăng (Trang 23)
Hình 2.5: Bản đồ hiện trạng đê biển Tp. Hồ Chí Minh - Luận văn Thạc sỹ: Nghiên cứu giải pháp xây dựng hệ thống đê biển Nam Bộ
Hình 2.5 Bản đồ hiện trạng đê biển Tp. Hồ Chí Minh (Trang 24)
Hình 2.6: Kè biển Cần Giờ Tp. Hồ Chí Minh - Luận văn Thạc sỹ: Nghiên cứu giải pháp xây dựng hệ thống đê biển Nam Bộ
Hình 2.6 Kè biển Cần Giờ Tp. Hồ Chí Minh (Trang 25)
Hình 2.7: Kè bờ biển Thanh An Đức huyện Cần Giờ - Luận văn Thạc sỹ: Nghiên cứu giải pháp xây dựng hệ thống đê biển Nam Bộ
Hình 2.7 Kè bờ biển Thanh An Đức huyện Cần Giờ (Trang 25)
Hình 2.11:  Bản đồ thực trạng đê biển tỉnh Bến Tre - Luận văn Thạc sỹ: Nghiên cứu giải pháp xây dựng hệ thống đê biển Nam Bộ
Hình 2.11 Bản đồ thực trạng đê biển tỉnh Bến Tre (Trang 29)
Hình 2.12:  Hình ảnh đê biển huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre - Luận văn Thạc sỹ: Nghiên cứu giải pháp xây dựng hệ thống đê biển Nam Bộ
Hình 2.12 Hình ảnh đê biển huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre (Trang 30)
Hình 2.13: Bản đồ hiện trạng đê biển tỉnh Trà Vinh - Luận văn Thạc sỹ: Nghiên cứu giải pháp xây dựng hệ thống đê biển Nam Bộ
Hình 2.13 Bản đồ hiện trạng đê biển tỉnh Trà Vinh (Trang 32)
Hình 2.16: Rừng phòng hộ bị suy thoái khiến sạt lở tiến sát chân đê - Luận văn Thạc sỹ: Nghiên cứu giải pháp xây dựng hệ thống đê biển Nam Bộ
Hình 2.16 Rừng phòng hộ bị suy thoái khiến sạt lở tiến sát chân đê (Trang 35)
Hình 2.17: Hiện trạng đê biển từ TT Vĩnh Châu đến Bạc Liêu - Luận văn Thạc sỹ: Nghiên cứu giải pháp xây dựng hệ thống đê biển Nam Bộ
Hình 2.17 Hiện trạng đê biển từ TT Vĩnh Châu đến Bạc Liêu (Trang 36)
Hình 2.19: Thực trạng đê biển Cù Lao Dung - Luận văn Thạc sỹ: Nghiên cứu giải pháp xây dựng hệ thống đê biển Nam Bộ
Hình 2.19 Thực trạng đê biển Cù Lao Dung (Trang 37)
Hình 2.20:  Mặt đê trải đá phục vụ giao thông Những tồn tại cần phải xử lý ở đê biển Sóc Trăng: - Luận văn Thạc sỹ: Nghiên cứu giải pháp xây dựng hệ thống đê biển Nam Bộ
Hình 2.20 Mặt đê trải đá phục vụ giao thông Những tồn tại cần phải xử lý ở đê biển Sóc Trăng: (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w