Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu
Trang 1- Cho vay: 5 + Cho vay tiêu dùng: Sự gia tăng thu nhập cuả người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã hướng các ngân hàng tới người tiêu dùng như là một khách hàng tiềm năng 5 + Tài trợ cho dự án: bên cạnh cho vay truyền thồng là cho vay ngắn hạn, các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ trung và dài hạn: tài trợ xây dựng nhà máy, phát triển ngành công nghiệp cao Một số ngân hàng còn cho vay để đầu tư vào đất 5 + Bảo quản tài sản hộ : Các ngân hàng thực hiện việc lưu trữ và các giấy tờ có giá và các tài sản khác cho khách hàng trong két( vì vậy còn gọi là dịch vụ cho thuê két) Ngân hàng thường giữ hộ những tài sản tài chính, giấy tờ cầm cố, hoặc những giấy tờ quan trọng khác của khách với nguyên tắc an toàn,
bí mật, phải thuật tiện 5 + Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán: Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản mà còn thực hiện thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng Thanh toán qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách, khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt ( an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí) đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho khách hàng Khi ngân hàng mở chi nhánh, phạm vi thanh toán qua ngân hàng được mở rộng, càng tạo nhiều tiện ích hơn Điều này đã khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để nhờ thanh toán
hộ Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, bên cạnh các thể thức thanh toán như Séc, Ủy nhiệm chi, nhờ thu, L/C , đã phát triển các hình thức thanh toán bằng điện tử, thẻ 5 + Quản lý ngân quỹ: Các ngân hàng mở tài khoản của mình và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp và nhiều cá nhân Nhờ đó ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách hàng Do
có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu chi cho một công ty kinh doanh, tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các công ty chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn, cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán 5 + Tài trợ các hoạt động của Chính phủ: Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn đã trở thành trọng tâm chú ý của Chính phủ Do nhu cầu chi tiêu lớn là thường là cấp bách trong khi thu không đủ, Chính phủ các nước đều muốn tiếp cận các khoản cho vay của ngân hàng Ngày nay chính
Trang 2Báo cáo thực tập
phủ dành quyền cấp phép hoạt động và kiểm soát các ngân hàng Các ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của Chính phủ
và tài trợ cho Chính phủ Các ngân hàng thường mua trái phiếu Chính phủ theo tỷ lệ nhất định trong tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được 6 + Bảo lãnh: Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng, nên ngân hàng có uy tín trong bảo lãnh của khách hàng Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng và phát triển mạnh Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hóa và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác… 6 + Cho thuê thiết bị trung và dài hạn (Leasing): Nhằm để bán được các các thiết bị, đặc biệt là các thiết bị có giá trị lớn, nhiều hãng sản xuất và thương mại cho thuê Cuối hợp đồng thuê, khách hàng có thể mua ( do vậy còn gọi là hợp đồng thuê mua) Rất nhiều ngân hàng cho khách hàng quyền lựa chọn các thiết bị và cho khách hàng thuê với điều kiện khách hàng ơhair trả hơn 70% hoặc 100% giá trị tài sản cho thuê Do vậy cho thuê của ngân hàng cùng có nhiều điểm giống như cho vay, và được xếp vào tín dụng trung và dài hạn 6 + Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn: Do hoạt dộng trong lĩnh vực tài chính các ngân hàng có rất nhiều chuyên gia về quản lý tài chính Vì vậy nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng quản
lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ Dịch vụ ủy thác phát triển sang cả ủy thác vay hộ, ủy thác cho vay hộ, ủy thác phát hành, ủy thác đầu tư…Thậm chí, các ngân hàng đóng là người được ủy thác trong di chúc, quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản, bảo quản các tài sản có giá Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đâu tư, về quản lý tài chính, về thành lập , mua bán, sáp nhập doanh nghiệp 6 + Cung cấp dịch vụ môi giới chứng khoán: Nhiều ngân hàng đang phấn đấu cung cấp đầy đủ các dịch
vụ tài chính cho phép khách hàng thỏa mãn mọi nhu cầu Đây là một trong những lý do chính khiến các ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán Trong một vài trường hợp, các ngân hàng tổ chức ra công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán để cung cấp dịch vụ môi giới 6 + Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm: Từ nhiều năm nay các ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó bảo đảm việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị chết, bị tàn phế hay gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán Ngân hàng liên doanh với công ty bảo hiểm hoặc tổ chức công ty bảo hiểm con, Ngân hàng cung cấp dịch vụ tiết kiệm gắn với bảo hiểm như tiết kiệm an sinh, tiết kiệm hưu chí 7 + Cung cấp các dịch vụ đại lý: Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi Nhiều ngân hàng (thường ngân hàng lớn) cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng như thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ… 7
1.2 K HÁI NIỆM , PHÂN LOẠI TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI N GÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HĐBĐTV : Hợp đồng bảo đảm tiền vay
TSBĐ : Tài sản bảo đảm tiền vay
TSBĐTV : Tài sản bảo đảm tiền vay
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
- Chức năng tạo tiền: Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân NHTM Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội 4
- Cho vay: 5 + Cho vay tiêu dùng: Sự gia tăng thu nhập cuả người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã hướng các ngân hàng tới người tiêu dùng như là một khách hàng tiềm năng 5 + Tài trợ cho dự án: bên cạnh cho vay truyền thồng là cho vay ngắn hạn, các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ trung và dài hạn: tài trợ xây dựng nhà máy, phát triển ngành công nghiệp cao Một số ngân hàng còn cho vay để đầu tư vào đất 5 + Bảo quản tài sản hộ : Các ngân hàng thực hiện việc lưu trữ và các giấy tờ có giá và các tài sản khác cho khách hàng trong két( vì vậy còn gọi là dịch vụ cho thuê két) Ngân hàng thường giữ hộ những tài sản tài chính, giấy tờ cầm cố, hoặc những giấy tờ quan trọng khác của khách với nguyên tắc an toàn,
bí mật, phải thuật tiện 5 + Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán: Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản mà còn thực hiện thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng Thanh toán qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách, khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt ( an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí) đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho khách hàng Khi ngân hàng mở chi nhánh, phạm vi thanh toán qua ngân hàng được mở rộng, càng tạo nhiều tiện ích hơn Điều này đã khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để nhờ thanh toán
hộ Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, bên cạnh các thể thức thanh toán như Séc, Ủy nhiệm chi, nhờ thu, L/C , đã phát triển các hình thức thanh toán bằng điện tử, thẻ 5 + Quản lý ngân quỹ: Các ngân hàng mở tài khoản của mình và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp và nhiều cá nhân Nhờ đó ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách hàng Do
có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu chi cho một công ty kinh doanh, tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các công ty chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn, cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán 5 + Tài trợ các hoạt động của Chính phủ: Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn đã trở thành trọng tâm chú ý của Chính phủ Do nhu cầu chi tiêu lớn là thường là cấp bách trong khi thu không đủ, Chính phủ các nước đều muốn tiếp cận các khoản cho vay của ngân hàng Ngày nay chính phủ dành quyền cấp phép hoạt động và kiểm soát các ngân hàng Các ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của Chính phủ
và tài trợ cho Chính phủ Các ngân hàng thường mua trái phiếu Chính phủ theo tỷ lệ nhất định trong tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được 6
Trang 5Báo cáo thực tập
+ Bảo lãnh: Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng, nên ngân hàng có uy tín trong bảo lãnh của khách hàng Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng và phát triển mạnh Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hóa và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác… 6 + Cho thuê thiết bị trung và dài hạn (Leasing): Nhằm để bán được các các thiết bị, đặc biệt là các thiết bị có giá trị lớn, nhiều hãng sản xuất và thương mại cho thuê Cuối hợp đồng thuê, khách hàng có thể mua ( do vậy còn gọi là hợp đồng thuê mua) Rất nhiều ngân hàng cho khách hàng quyền lựa chọn các thiết bị và cho khách hàng thuê với điều kiện khách hàng ơhair trả hơn 70% hoặc 100% giá trị tài sản cho thuê Do vậy cho thuê của ngân hàng cùng có nhiều điểm giống như cho vay, và được xếp vào tín dụng trung và dài hạn 6 + Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn: Do hoạt dộng trong lĩnh vực tài chính các ngân hàng có rất nhiều chuyên gia về quản lý tài chính Vì vậy nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng quản
lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ Dịch vụ ủy thác phát triển sang cả ủy thác vay hộ, ủy thác cho vay hộ, ủy thác phát hành, ủy thác đầu tư…Thậm chí, các ngân hàng đóng là người được ủy thác trong di chúc, quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản, bảo quản các tài sản có giá Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đâu tư, về quản lý tài chính, về thành lập , mua bán, sáp nhập doanh nghiệp 6 + Cung cấp dịch vụ môi giới chứng khoán: Nhiều ngân hàng đang phấn đấu cung cấp đầy đủ các dịch
vụ tài chính cho phép khách hàng thỏa mãn mọi nhu cầu Đây là một trong những lý do chính khiến các ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán Trong một vài trường hợp, các ngân hàng tổ chức ra công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán để cung cấp dịch vụ môi giới 6 + Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm: Từ nhiều năm nay các ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó bảo đảm việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị chết, bị tàn phế hay gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán Ngân hàng liên doanh với công ty bảo hiểm hoặc tổ chức công ty bảo hiểm con, Ngân hàng cung cấp dịch vụ tiết kiệm gắn với bảo hiểm như tiết kiệm an sinh, tiết kiệm hưu chí 7 + Cung cấp các dịch vụ đại lý: Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi Nhiều ngân hàng (thường ngân hàng lớn) cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng như thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ… 7
1.2 K HÁI NIỆM , PHÂN LOẠI TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI N GÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Cuộc khủng hoảng tài chính xuất phát từ Mỹ đã lan rộng ra phạm vi toàn cầu,nguy cơ suy thoái kinh tế thế giới ngày càng bộc lộ rõ, giá cả trên thị trường thế giới vềnguyên liệu, nhiện liệu và lương thực thực phẩm xoay chiều sang giảm mạnh Trongđiều kiện đó, chính sách tài chính, tiền tệ đã được nới lỏng hơn, song nói chung giảipháp kiềm chế lạm phát của chính phủ vẫn tiếp tục phát huy tác dụng
Trước bối cảnh phức tạp của nền kinh tế thế giới và trong nước, trong 6 thángđầu năm, NHNN đã có những phản ứng chính sách kịp thời, sử dụng đồng bộ vàquyết liệt các giải pháp thắt chặt tiền tệ kiềm chế lạm phát có hiệu quả và ổn địnhkinh tế vĩ mô Trước những tín hiệu khả quan về kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát
từ tháng 7/2010 đến nay, NHNN đã từng bước nới lỏng chính sách tiền tệ bằng cácgiải pháp linh hoạt để thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh và chủ động ngănngừa nguy cơ suy giảm kinh tế Trong điều kiện diễn biến cung cầu ngoại tệ trên thịtrường không ổn định do biến động tăng, giảm nguồn ngoại tệ chuyển vào ViệtNam, nhập siêu tăng cao và yếu tố tâm lý, đầu cơ, NHNN đã sử dụng linh hoạt cácgiải pháp để ổn định thị trường, hỗ trợ xuất khẩu và hạn chế nhập siêu
Giá lương thực tăng nhanh hơn so với mức tăng của cả giỏ hàng hóa Việctăng giá, đặc biệt giá lương thực ảnh hưởng đến người nghèo, nhất là người nghèo
đô thị, những người sử dụng phần lớn thu nhập cho mua hàng hóa thực phẩm màkhông phải cho giáo dục hay y tế và không có cơ hội tiếp cận lương thực dễ dàngnhư người nghèo nông thôn Hơn nữa, người nghèo nông thôn có khả năng hưởnglợi từ việc mua bán lương thực trong bối cảnh tăng giá, tạo yếu tố triệt tiêu ảnhhưởng lạm phát
Những vấn đề nêu trên là biểu hiện cơ bản nhất của nhu cầu tín dụng cá nhâncủa người dân Việt Nam Cho cá nhân vay dài hạn, trung hạn và ngắn hạn là mộttrong những lính vực hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn ThươngTín Đây là vấn đề nổi bật trong thời điểm mà các tổ chức đang hạn chế đầu tư lớn vànhu cầu tiêu dùng không đi đôi với khả năng thanh toán của người dân Bên cạnh việccải thiện thực trạng huy động vốn cá nhân, tập trung mạnh vào lĩnh vực tín dụng cánhân là con đường sáng cho các ngân hàng trong thời điểm hiện nay
Trong thời gian thực tập tại PGD Sacombank Chợ Mơ em thấy nhu cầu tíndụng của khách hàng cá nhân rất nhiều và vấn đề thẩm định cho vay được đặc biệt
quan tâm Vì vậy em đã lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng
Trang 7thẩm định tín dụng cá nhân “ làm đề tài cho chuyên đề thực tập
Kết cấu của Chuyên đề thực tập gồm:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thẩm định tín dụng cá nhân tại ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng công tác thẩm định tín dụng cá nhân tại Phòng giao dịch Sacombank Chợ Mơ
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thẩm định tín dụng cá nhân tại PGD Sacombank Chợ Mơ
Trang 8CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG
CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại (NHTM)
1.1.1 Khái niệm NHTM
Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tàichính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thựchiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trongnền kinh tế
Theo Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa ViệtNam ghi: “ Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngânhàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và và sử dụng số tiền này để cấptín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”
1.1.2 Đặc điểm của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Chức năng của Ngân hàng thương mại
- Chức năng trung gian tín dụng: Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng,ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhucầu về vốn Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đivay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữalãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên thamgia: người gửi tiền và người đi vay: Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từkhoản vốn tạm thời nhàn rỗi dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ.Hơn nữa ngân hàng còn đảm bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấpcác dịch vụ thanh toán tiện lợi Đối với người đi vay, họ sẽ thỏa mãn được nhu cầuvốn kinh doanh tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp, chi tiêu, thanh toán mà không chiphí nhiều về sức lực thời gian cho việc tìm kiếm những nơi cung ứng vốn riêng lẻ
Đặc biệt là đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trongviệc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trìnhtái sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất củangân hàng thương mại
Trang 9- Chức năng trung gian thanh toán: Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ chocác doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàngnhư trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặcnhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu kháctheo lệnh của họ Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanhtoán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tíndụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanhtoán phù hợp Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mangtheo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sửdụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán Do vậy các chủthể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán antoàn Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc
độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế
- Chức năng tạo tiền: Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản
chất của ngân NHTM Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chínhcho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mangtính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh
tế Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM làchức năng tín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năng trung gian tíndụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lạiđược khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trêntài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiềngiao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năngnày, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế,đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội
Trang 10như phần thưởng cho khách hàng về việc sẵn sang hi sinh nhu cầu trước mắt và chophép ngân hàng sử dụng tạm thời để kinh doanh Khi cung cấp dịch vụ tiền gửi,ngân hàng thu “phí” dán tiếp thông qua thu nhập của hoạt động sủ dụng tiền gửi đó.
- Cho vay:
+ Cho vay tiêu dùng: Sự gia tăng thu nhập cuả người tiêu dùng và sự cạnhtranh trong cho vay đã hướng các ngân hàng tới người tiêu dùng như là một kháchhàng tiềm năng
+ Tài trợ cho dự án: bên cạnh cho vay truyền thồng là cho vay ngắn hạn, cácngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ trung và dài hạn: tài trợxây dựng nhà máy, phát triển ngành công nghiệp cao Một số ngân hàng còn chovay để đầu tư vào đất
+ Bảo quản tài sản hộ : Các ngân hàng thực hiện việc lưu trữ và các giấy tờ cógiá và các tài sản khác cho khách hàng trong két( vì vậy còn gọi là dịch vụ cho thuêkét) Ngân hàng thường giữ hộ những tài sản tài chính, giấy tờ cầm cố, hoặc nhữnggiấy tờ quan trọng khác của khách với nguyên tắc an toàn, bí mật, phải thuật tiện + Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán: Khi khách hànggửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản mà còn thực hiện thực hiệncác lệnh chi trả cho khách hàng Thanh toán qua ngân hàng đã mở đầu cho thanhtoán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không cần phải đến ngân hàng đểlấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách, khách hàng mang giấy đến ngânhàng sẽ nhận được tiền Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt ( an toàn,nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí) đã góp phần rút ngắn thời gian kinhdoanh và nâng cao thu nhập cho khách hàng Khi ngân hàng mở chi nhánh, phạm vithanh toán qua ngân hàng được mở rộng, càng tạo nhiều tiện ích hơn Điều này đãkhuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để nhờ thanh toán hộ Cùng với sựphát triển của công nghệ thông tin, bên cạnh các thể thức thanh toán như Séc, Ủynhiệm chi, nhờ thu, L/C , đã phát triển các hình thức thanh toán bằng điện tử, thẻ.+ Quản lý ngân quỹ: Các ngân hàng mở tài khoản của mình và giữ tiền của phầnlớn các doanh nghiệp và nhiều cá nhân Nhờ đó ngân hàng thường có mối liên hệ chặtchẽ với nhiều khách hàng Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năngtrong việc thu ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngânquỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu chi cho một công ty kinh doanh, tiếnhành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các công ty chứng khoán sinh lợi vàtín dụng ngắn hạn, cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán
Trang 11+ Tài trợ các hoạt động của Chính phủ: Khả năng huy động và cho vay vớikhối lượng lớn đã trở thành trọng tâm chú ý của Chính phủ Do nhu cầu chi tiêu lớn
là thường là cấp bách trong khi thu không đủ, Chính phủ các nước đều muốn tiếpcận các khoản cho vay của ngân hàng Ngày nay chính phủ dành quyền cấp phéphoạt động và kiểm soát các ngân hàng Các ngân hàng được cấp giấy phép thànhlập với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách củaChính phủ và tài trợ cho Chính phủ Các ngân hàng thường mua trái phiếu Chínhphủ theo tỷ lệ nhất định trong tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được.+ Bảo lãnh: Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rấtlớn và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng, nên ngân hàng có uy tíntrong bảo lãnh của khách hàng Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngàycàng đa dạng và phát triển mạnh Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng củamình mua chịu hàng hóa và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổchức tín dụng khác…
+ Cho thuê thiết bị trung và dài hạn (Leasing): Nhằm để bán được các cácthiết bị, đặc biệt là các thiết bị có giá trị lớn, nhiều hãng sản xuất và thương mại chothuê Cuối hợp đồng thuê, khách hàng có thể mua ( do vậy còn gọi là hợp đồngthuê mua) Rất nhiều ngân hàng cho khách hàng quyền lựa chọn các thiết bị và chokhách hàng thuê với điều kiện khách hàng ơhair trả hơn 70% hoặc 100% giá trị tàisản cho thuê Do vậy cho thuê của ngân hàng cùng có nhiều điểm giống như chovay, và được xếp vào tín dụng trung và dài hạn
+ Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn: Do hoạt dộng trong lĩnh vực tài chínhcác ngân hàng có rất nhiều chuyên gia về quản lý tài chính Vì vậy nhiều cá nhân vàdoanh nghiệp đã nhờ ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ.Dịch vụ ủy thác phát triển sang cả ủy thác vay hộ, ủy thác cho vay hộ, ủy thác pháthành, ủy thác đầu tư…Thậm chí, các ngân hàng đóng là người được ủy thác trong
di chúc, quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản, bảoquản các tài sản có giá Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia tưvấn tài chính Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đâu tư, về quản lý tài chính, về thànhlập , mua bán, sáp nhập doanh nghiệp
+ Cung cấp dịch vụ môi giới chứng khoán: Nhiều ngân hàng đang phấn đấucung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng thỏa mãn mọi nhu cầu.Đây là một trong những lý do chính khiến các ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụmôi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và
Trang 12các chứng khoán Trong một vài trường hợp, các ngân hàng tổ chức ra công tychứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán để cung cấp dịch vụ môi giới.+ Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm: Từ nhiều năm nay các ngân hàng đã bánbảo hiểm cho khách hàng, điều đó bảo đảm việc hoàn trả trong trường hợp kháchhàng bị chết, bị tàn phế hay gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán.Ngân hàng liên doanh với công ty bảo hiểm hoặc tổ chức công ty bảo hiểm con,Ngân hàng cung cấp dịch vụ tiết kiệm gắn với bảo hiểm như tiết kiệm an sinh, tiếtkiệm hưu chí.
+ Cung cấp các dịch vụ đại lý: Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt độngkhông thể thiết lập chi nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi Nhiều ngân hàng(thường ngân hàng lớn) cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng nhưthanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trongđồng tài trợ…
1.2 Khái niệm, phân loại tín dụng cá nhân tại Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm
Danh từ tín dụng dung để chỉ một hành vi kinh tế rất phức tạp như: bán chịuhàng hoá, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, ký thác, phát hành giấy bạc Trong mỗimột hành vi tín dụng vừa nói, chúng ta thấy hai bên cam kết với nhau như sau::
- Một bên trao ngay một số hàng hóa hay tiền bạc
- Còn bên kia cam kết sẽ hoàn lại những đối khoản của tài hoá đó trong mộtthời gian nhất định và theo một số điều kiện nào đó Trong quan hệ giao dịch trênthể hiện các nội dung: Trái chủ hay còn gọi là người cho vay chuyển giao cho ngườithụ trái hay còn gọi là người đi vay một lượng giá trị nhất định Giá trị này có thểdưới hình thái giá trị hoặc dưới hình thái hiện vật như hàng hoá, máy móc, thiết bịbất động sản Người thụ trái hay là người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời một thờigian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thỏa thuận, người đi vay phải hoàntrả cho người cho vay Giá trị hoàn trả thường lớn hơn giá trị cho vay hay nói cáchkhác người đi vay phải trả them phần lợi tức Thước đo phần lợi tức này là giá trị tàihàng hoá hoặc tiền tệ và lãi suất mà hai bên thoả thuận Người cho vay phải tuânthủ nguyên tắc: Lãi suất cho vay phải chứa đựng các yếu tố như lạm phát, rủi ro vàchi phí cơ hội Người cho va y phải chú ý đến giá trị thời gian của tiền
Như vậy: Tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó mộtbên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhấtđịnh, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả phần tài sản đã mượn
Trang 13cộng thêm một phần lợi tức theo thời hạn đã thoả thuận Với chức năng kinh doanhtiền tệ, các ngân hàng thương mại tham gia vào quan hệ tín dụng với hai tư cách Ngânhàng đóng vai trò thụ trái và hành vi này được gọi là đi vay bao gồm nhận tiền gửi củakhách hàng, phát hành trái phiếu để vay vốn trong xã hội, vay vốn của ngân hàng trungương và các ngân hàng khác Ngân hàng đóng vai trò trái chủ, hành vi này được gọi làcho vay Vì tính chất phức tạp của hoạt động cho vay vì thế khi nói đến tín dụng người
ta thường đề cập đến hoạt động cho vay mà bỏ quên mặt thứ hai đó
Tín dụng cá nhân là tín dụng cho vay đối với khách hàng là tư nhân cá thể hay
hộ gia đình mà nhu cầu vay vốn chủ yếu nhằm phục vụ cho các hoạt động tiêu dùngnhư trang trải mua sắm hàng tiêu dùng, vật dụng gia đình, xe cộ…
1.2.2 Phân loại và đặc điểm tín dụng cá nhân
1.2.2.1 Phân loại
Trong lĩnh vực tín dụng hiện nay các NHTMCP thường tỏ ra năng động và
ưu thế hơn các ngân hàng quốc doanh và ngân hàng nước ngoài trong việc tiếp cận,cung cấp tín dụng cho khách hàng cá nhân Nhìn chung hiện nay các NHTMCP đãphát triển các sản phẩm tín dụng khá đa dạng và phong phú cho khách hàng cá nhânDựa vào mục đích cho vay có thể chia thành cho vay cá nhân có thể chia thành:
- Cho vay đáp ứng nhu cầu vốn để thực hiện các phương án sản xuất kinhdoanh (hay tài trợ kinh doanh bán lẻ): là hình thức cho vay gián tiếp người tiêudùng Đối với công ty bán lẻ thực hiện bán hàng trả góp cho người tiêu dùng và cáchợp đồng bán hàng đó nếu thỏa mãn tiêu chuẩn tín dụng sẽ được ngân hàng mua lạitheo mức lãi suất phù hợp với mức độ rủi ro, chất lượng của các bảo đảm và thờihạn vay Phương thước cho vay được thực hiện bằng cách ngân hàng cấp tín dụngcho công ty bán lẻ để để người này mua hàng của nhà sản xuất, sau đó bán lại chongười tiêu dùng Thông thường loại cho vay này có thời hạn gốc và có thể gia hạnthêm Đi kèm với khoản vay này là hợp đồng bảo đảm của công ty bán lẻ, trong đótrao quyền cho ngân hàng được xiết nợ đối với hàng hóa tồn kho trong trường hợpcông ty bán lẻ không thanh toán nợ
- Cho vay mua sắm hàng tiêu dùng, vật dụng gia đình, phương tiện giao thông (ôtô, xe máy ), mua nhà/đất để ở bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế, du lịch…cũng có thể được tài trợ bởi cho vay tiêu dùng nhằm hỗ trợ tài chính giúp khách hàng hưởng các tiện ích trước khi tích lũy đủ, đáp ứng những nhu cầu tài chính cấp bách
Trang 141.2.2.2 Đặc điểm
a) Tổng quan cho vay KH cá nhân:
Đối tượng khách hàng cá nhân bao gồm:
o Ngại thực hiện giao dịch với ngân hàng sẽ lộ thông tin thu nhập với người
có thu nhập cao và mặc cảm giao dịch với ngân hàng với người có thu nhập thấp
o Quy mô các khoản vay thường nhỏ hơn rất nhiều so với các khoản vay củacác doanh nghiệp sản xuất kinh doanh do chủ yếu phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt
o Nhu cầu vay thường phun thuộc vào chu kỳ kinh tế
o Nhu cầu vay của khách hàng thường ít co giãn với lãi suất, thông thườngkhách hàng quan tâm đến số tiền mà họ phải thanh toán hơn lãi suất mà họ phải chịu
o Mức thu nhập cũng như trình độ học vấn có ảnh hưởng rất nhiều đến nhucầu vay cũng như số tiền được chấp nhận vay của khách hàng
o Chất lượng thông tin mà cá nhân cung cấp thường không cao
o Nguồn trả nợ của khách hàng có thể biến động lớn, phụ thuộc vào quá trìnhlàm việc của đối tượng khách hàng này
o Tư cách khách hàng là một yếu tố khó xác định, xong lại hết sức quan trọngquyết định khả năng hoàn trả khoản vay, đặc biệt là khoản vay theo hình thức tín chấp
o Thời gian vay thường ngắn, trừ với loại hình vay mua nhà thời gian vay cóthể lên đến 20 năm
Việc hiểu được đặc điểm của khách hàng cá nhân sẽ giúp cho ngân hàng cóđược chính sách thích hợp để thu hút khách hàng cá nhân đến giao dịch với ngânhàng, tuy nhiên hiện nay một số NHTM ở Việt Nam hiện nay chưa có sự quan tâmđúng mực với loại hình khách hàng này mà chỉ chú trọng đến đối tượng khách hàng
là các doanh nghiệp, vì về nghiệp vụ thì giao dịch với khách hàng cá nhân chi phícao, đó là do: Thứ nhất: Đặc điểm giao dịch khách hàng cá nhân là số lượng tàikhoản và số hồ sơ giao dịch lớn song doanh số giao dịch lại thấp; Thứ hai: Số lượngkhách hàng đông nhưng phân tán rộng khiến cho việc quản lý gặp nhiều khó khăn
Trang 15Vì vậy các ngân hàng phải tăng số lượng các chi nhánh hoặc đầu tư giao dịch online
=> Tốn kém
Lợi ích của việc cho vay khách hàng cá nhân:
o Đối với Ngân hàng
• Mở rộng mối quan hệ với khách hàng
• Đa dạng hóa sản phẩm
• Tạo điều kiện phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ
• Tăng thu lợi nhuận
• Phân tán rủi ro
o Đối với khách hàng
• Đáp ứng nhu cầu kinh doanh, tiêu dung
• Hưởng các tiện ích trước khi tích lũy đủ
• Đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cấp bách
o Nhóm khách hàng chiến lược:
• Những người sản xuất tiểu thủ công nghiệp
• Nghệ nhân có truyền thống, kỹ thuật cao
• Cá nhân SXKD, TMDV có uy tín
• CBCNV, người lao động có mức thu nhập tương đối cao và ổn định
b) Các bước thực hiện trong quá trình cấp tín dụng cho khách hàng:
Trước khi cho vay
Trong khi cho vay
Sau khi cho vay
c) Quy trình nghiệp vụ cho vay khách hàng cá nhân:
Quy trình cho vay phục vụ sản xuất dinh doanh
o Tiếp nhận hồ sơ:
• Tùy thuộc KH đã có quan hệ tín dụng hoặc khách hàng mới, CBTD có tráchnhiệm hướng dẫn, giải thích, đầy đủ, rõ ràng cho KH về điều kiện tín dụng và thủtục hồ sơ xin vay vốn để KH bổ sung (KH cũ) hoặc lập hồ sơ (KH mới) tránh KHphải đi lại nhiều lần, gây phiền hà cho KH
• Hồ sơ phải do KH cá nhân lập, CBTD không được làm thay
o Thẩm định các điều kiện vay vốn
• Thẩm định khách hàng vay vốn
Trang 16• Thẩm định phương án, dự án vay vốn
• Thẩm định tài sản bảo đảm
o Xác định số tiền, thời gian, phương thức cho vay
• Xác định số tiền vay
- Nhu cầu vay vốn
- Khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân
- Giá trị tài sản cố định
- Quy định về mức cho vay để xác định số tiền vay
• Xác định thời hạn vay vốn dựa vào:
- Nhu cầu vay vốn
- Khả năng trả nợ
- Thời gian sử dụng còn lại của tài sản bảo đảm
- Tuổi của khách hàng so với giới hạn về độ tuổi để xác định về thời hạn, kỳhạn trả nợ gốc, lãi
• Xác định phương thức cho vay:
- Tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng tiền vay của khách hàng, CBTD hướng dẫn
KH sử dụng hình thức thanh toán thuận tiện nhất
o Thẩm định rủi ro, tái thẩm định
• Trình hồ sơ cho vay tới phòng lãnh đạo phòng kinh doanh
• Lãnh đạo phòng kinh doanh kiểm tra lại nội dung thẩm định của cán bộ tín dụng
•Người có thẩm quyền phê duyệt cho vay căn cứ vào nội dung tờ trình thẩmđịnh căn cứ vào qui chế của Ngân hàng nhà nước để quyết định cho vay
•Nếu là món vay vượt quyền phán quyết Chi Nhánh Sacombank thì chi nhánhSacomabank trình lên trụ sở chính Sacombank Việt Nam
o Trình duyệt khoản vay, ký HĐTD, HĐBĐTV và đăng ký GDBĐ
•Nếu cán bộ tín dụng không đồng ý cho vay thì phải thông báo cho khách hàng
•Nếu cấp có thẩm quyền quyết định phê duyệt cho vay cán bộ tín dụng phải:
- Tiến hành lập HĐTD; HĐ BĐTV; hướng dẫn khách hàng ký hợp đồng
- Trình cấp có thểm quyền
Trang 17- Việc đăng ký giao dịch có bảo đảm (theo qui định) phải thực hiện trước khigiải ngân
o Giải ngân
• Cán bộ tín dụng:
- Tiếp nhận hồ sơ đề nghị giải ngân (giấy nhận nợ; chứng từ/ giấy chứng minhmục đích sử dụng tiền vay)
- Đối chiếu hồ sơ đề nghị giải ngân với điều kiện giải ngân trong hợp HĐTD
- Nếu đủ điều kiện giải ngân thì ký vào giấy nhận nợ và trình hồ sơ đề nghịgiải ngân theo qui định của Sacombank Việt Nam
•Lãnh đạo phòng kinh doanh
- Kiểm tra lại hồ sơ do cán bộ tín dụng trình
- Nếu đủ điều kiện giải ngân thì ký vào giấy nhận nợ và trình người có thẩmquyền phê duyệt
•Người có thẩm quyền (Giám đốc/ người được ủy quyền)
- Kiểm tra lại hồ sơ do phòng kinh doanh trình
- Nếu đủ điều kiện giải ngân thì ký vào giấy nhận nợ và trả lại hồ sơ chophòng kinh doanh
o Kiểm tra, giám sát khoản vay
•Việc kiểm tra giám sát khoản vay được thực hiện đồng thời với quá trình giảingân; thu nợ; cơ cấu lại thời hạn trả nợ
•Một số yêu cầu cần phải xem xét và kiểm tra:
- Kiểm tra lại cơ sở của khách hàng: TSBĐTV và tình hình sử dụng vốn vay thực tế
- Theo dõi tình hình thị trường và nghành sản xuất kinh doanh cảu người vay
có ảnh hưởng đến vốn vay ngân hàng
- ĐỊnh kỳ đánh giá lại TSBĐ
- Phân tích đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh và tính hình tài chính kháchhàng để có nhận xét, đánh giá và áp dụng biện pháp cho vay thu nợ và quản lý tíndụng phù hợp
o Thu hồi nợ gốc, lãi và xử lý những phát sinh
•CBTD theo dõi tiến độ trả nợ của khách hàng theo lịch của HĐTD
•Thông báo và đôn đốc khách hàng trả nợ đến hạn
Trang 18•Nếu khách hàng không trả nợ đúng hạn – CBTD báo cáo bằng văn bản tớiphòng kinh doanh, ban giám đốc và thực hiện theo quy định của Sacombank Việt Nam
o Thanh lý hợp đồng, giải chấp TSBĐ và lưu giữ hồ sơ
Quy trình cho vay tiêu dùng:
o Quy trình cho vay tiêu dùng được thực hiện tương tự như cho vay phục vụsản xuất kinh doanh, dịch vụ nhưng đơn giản ( lược bỏ một số bước không phù hợp)
o Cho vay trả góp: Ngân hàng và khách hàng xác định và thoả thuận trước
số tiền lãi vay phải trả cộng với số nợ gốc chia ra để trả theo các kỳ hạn trong thờigian vay Hình thức cho vay này thường áp dụng cho những khách hàng có nguồnthu ổn định, thời hạn cho vay trung hoặc dài hạn (từ 1 năm trở lên)
o Cho vay cầm cố bằng sổ tiết kiệm, kỳ phiếu hoặc giấy tờ khác trị giá được
bằng tiền do Sacombank và các tổ chức tín dụng khác phát hành đối với nhữngkhách hàng là chủ sở hữu hợp pháp giấy tờ trị giá được bằng tiền đó
o Cho vay theo hạn mức: Ngân hàng sẽ đáp ứng nhu cầu vốn cho các khách
hàng cá nhân thực hiện phương án sản xuất kinh doanh có nhu cầu vốn thường xuyên
o Các loại hình cho vay bán lẻ khác
1.3 Thẩm định tín dụng cá nhân trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
1.3.1 Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của thẩm định tín dụng
1.3.1.1 Khái niệm:
Thẩm định tín dụng là một khâu trong toàn bộ quy trình tín dụng nói chungnhưng khâu này cực kỳ quan trọng, bởi vì một khách hàng/ khoản tín dụng đượcđịnh hình và định tính thỏa đáng hay không chủ yếu là trong khâu này này Do đókhâu này cần được tách riêng ra và chi tiết hóa thành một quy trình riêng, gọi là quytrình thẩm định tín dụng
“ Qui trình thẩm định tín dụng là bản chỉ dẫn các bước tiến hàng từ xem xét,thu thập thông tin cần thiết cho đến khi rút ra được kết luận sau cùng về khả năngthu hồi nợ cho vay.”
Trang 191.3.1.2 Mục đích và ý nghĩa của thẩm định tín dụng
Thẩm định tín dụng (phân tích tín dụng) là phân tích khả năng hiện tại vàtiềm tàng của khách hàng về sử dụng vốn tín dụng cũng như khả năng hoàn trả vốnvay ngân hàng Mục tiêu của thẩm định tín dụng là tìm kiếm những tình huống cóthể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng và tiên lượng khả năng kiểm soát của ngân hàng
về các loại rủi ro đó, cũng như dự kiến các biện pháp phòng ngừa và hạn chế nhữngthiệt hại có thể xảy ra Mặt khác thẩm định tín dụng giúp cho ngân hàng kiểm tratính chính xác của các thông tin do khách hàng cung cấp từ đó có nhận định đúng
về thái độ của khách hàng Toàn bộ quy trình thẩm định có thể được thể hiện quacác bước sau:
- Bước 1: Xem xét hồ sơ vay của khách hàng
- Bước 2: Thu thập thông tin cấn thiết bổ xung
- Bước 3: Thẩm định khả năng thi hồi nợ thông qua thông tin có được
- Bước 4: Ước lượng và kiểm soát rủi ro tín dụng
- Bước 5: Kết luận sau cùng về khả năng thu hồi nợ vay
Trong các bước trên thì bước 3 và bước 4 là quan trọng nhất vì đòi hỏi các kỹthuật và công cụ thẩm định kỹ thuật thích hợp Hai kỹ thuật phổ biến thường được
sử dụng trong bước này phân tích báo cáo tài chính và thẩm định dự án đầu tư
1.3.2 Nội dung thẩm định tín dụng cá nhân trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
Các nguồn thông tin cần thiết để thẩm định tín dụng nhìn chung gồm hai loại:
là thông tin tài chính và thông tin phi tài chính Nguồn thông tin các ngân hàngthường sử dụng bao gồm:
- Hồ sơ từ khách hàng vay: Đây là bộ hồ sơ mà khách hàng gửi cho ngân hàngkhi có nhu cầu vay Hồ sơ bao gồm những hồ sơ chính như sau: Hồ sơ pháp lý; Hồ
sơ tình hình tài chính; Hồ sơ về kế hoạch, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệptrong tương lai; Dự án hoặc phương án vay
- Thông tin lưu trữ tại ngân hàng: Đây là các thông tin mà ngân hàng theo dõi
và lưu trữ về những người đi vay khác nhau Nếu khách hàng đang có nhu cầu vay
đã từng đã từng quan hệ với ngân hàng thì những thông tin về các mối quan hệ này
đã được ngân hàng lưu trữ , theo dõi Đây là nguồn thông tin rất đáng tin cậy đểngân hàng sử dụng phân tích khách hàng Tuy nhiên chất lượng của nguồn thông tinnày phụ thuộc vào kết quả cảu việc tổ chức thu thập và sử lý thông tin về kháchhàng của ngân hàng
Trang 20- Thông tin từ các cuộc điều tra, phỏng vấn: Các thông tin này thường rất cầnthiết để bổ xung cho các thông tin về khách hàng mà các nguồn thông tin trênchưa có hoặc ngân hàng muốn kiểm tra tính chính xác và trung thực của cácthông tin trên.
Ngoài các thông tin trên, ngân hàng có thể sử dụng các nguồn thông tin khác
để thẩm định tín dụng: Bao gồm các thông tin từ các ngân hàng khác; thông tin từbạn hàng cảu khách hàng vay; thông tin từ đối thủ cạnh tranh của khách hàng; thôngtin từ các tổ chức thông tin chyên môn; từ các cơ quan truyền thông, từ báo chí…Nội dung của thẩm định tín dụng cá nhân: tùy theo từng ngân hàng chọn cácnội dung phân tích về các mặt khác nhau của người đi vay thường được tập hợpthành từng nhóm Có rất nhiều nhóm các nội dung phân tích về khách hàng, trong
đó co nhóm 5C thường được các ngân hàng sử dụng:
Character (Tư cách của khách hàng vay vốn)
Capacity (Khả năng vay mượn của người đi vay)
Cash (Khả năng tạo ra tiền để trả nợ ngân hàng)
Collateral ( Bảo đảm tín dụng)
Conditions ( Điều kiện môi trường)
1.3.2.1 Thẩm định tư cách của khách hàng vay vốn
Tư cách của người đi vay muốn nói tới thiện chí trả nợ của người Để ngânhàng có thể chấp nhận cho vay, người đi vay cần phải được xác định là lương thiện
và về mặt tư cách có thể tin tưởng được Tuy nhiên điều nay không phải dẽ thựchiện, nhất là với khách hàng mới tiếp xúc với ngân hàng lần đầu Chưa kể có rấtnhiều khách hàng đã từng trải trong việc vay mượn và có ý định lừa đảo ngân hàng
Tư cách của người đi vay có thể được xác minh và phán đoán bằng cách xem xétcác thông tin sau đây dựa trên kỹ năng và kinh nghiệm của cán bộ thẩm định tíndụng của ngân hàng:
Những thông tin lịch sử về quan hệ của khách hàng với ngân hàng; giữakhách hàng với các bạn hàng của khách hàng
Trang 21 Liệu khách hàng có cường điệu để đưa ra các lý lẽ để vay mượn không?
Các thông tin trong quá khứ của khách hàng có tốt không?
Nếu là khách hàng mới thì tại sao lại tìm đến ngân hàng này? Ngân hàng có
đủ thông tin để đánh giá khach hàng này không?
1.3.2.2 Khả năng vay mượn của người đi vay
Ngân hàng phải chắc chắn rằng khách hàng đang yêu cầu vay có quyền yêucầu ngân hàng cho vay và về mặt pháp lý đủ tư cách để ký kết hợp đồng vay Mộtkhi khách hàng hội tụ đủ những điều kiện như vậy có nghĩa là khách hàng có đủkhả năng vay mượn
1.3.2.3 Khả năng tạo tiền để trả nợ ngân hàng
Khoản vay phải được hoàn trả là yêu cầu cơ bản của hoạt động cho vay Ngânhàng không thể cấp tín dụng cho khách hàng không có khả năng hoàn trả tiền vay,nagy cả khi khoản vay có bảo đảm Bảo đảm chỉ đóng vai trò như một dự phòngcho khả năng trả nợ mà thôi
Để biết khách hàng có khả năng trả nợ không ngân hàng cần thực hiện một
số công việc sau:
- Tính toán số tiền khách hàng phải trả bao gồm cả lãi
- Tìm cách xác định nguồn trả nợ
- Trừ các khoản chi tiêu mà khách hàng phải dùng từ nguồn trả nợ
Ngân hàng phải cố gắng làm sao cho nguồn trả nợ chảy thẳng vào ngân hàngXác định thời gian nợ chính xác là vấn đề quan trọng, góp phần làm cho kháchhàng hoàn trả nợ đúng như cam kết trong hợp đồng tín dụng
Ngân hàng cho vay là để hưởng lãi cho nên việc xem xét lãi suất cho vay làrất quan trọng
Lãi suất cho vay có thể là lãi suất cố định hoặc lãi suất thả nổi Khách hàng córủi ro cao thì lãi suất cho vay sẽ cao hơn so với khách hàng có độ rủi ro thấp hơn
1.3.2.4 Bảo đảm tín dụng
Bảo đảm tiền vay là việc TCTD áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi
ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàngvay Bảo đảm tín dụng có thể thực hiện bằng nhiều cách: bảo đảm bằng tài sản thếchấp, bảo đảm bằng tài sản cầm cố, bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay vàbảo đảm bằng hình thức bảo lãnh của bên thứ ba Nói chung bất kỳ tài sản (TS )hoặc các quyền phát sinh từ TS có thể tạo ra ngân lưu đều có thể dùng làm bảo đảmtiền vay Tuy nhiên thông thường điều kiện về bảo đảm tiền vay là:
Trang 22Giá trị bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm
TS dùng làm bảo đảm nợ vay phải tạo ra được ngân lưu
Có đầy đủ cơ sở pháp lý để người cho vay có quyền xử lý TS dùng làm bảođảm tiền vay
1.3.2.5 Điều kiện môi trường
Ở nội dung này, ngân hàng phải dự đoán xu hướng ngành nghề mà người đivay hoạt động và những biến động của điều kiện kinh tế ảnh hưởng đến khả năngtrả nợ của người đi vay như thế nào
Ngoài những nội dung thẩm định tín dụng như trên ngân hàng còn sử dụng bổxung thêm nội dung :
1.4 Chất lượng thẩm định tín dụng
Chất lượng và hiệu quả của thẩm định tín dụng phụ thuộc rất nhiều vàoCBTD Chất lượng thẩm định tín dụng thể hiện trước hết ở các Báo cáo thẩm định.Bởi vì các Báo cáo thẩm định là sự phản ánh khả năng, năng lực đánh giá và phântích khách hàng trong việc áp dụng quy trình thẩm định Chất lượng thẩm định tíndụng còn thể hiện ở thời gian thẩm định và chi phí của quá trình thẩm định Nóicách khác công tác thẩm định tín dụng đạt chất lượng khi nó giúp cho quyết địnhcủa Ngân hàng trong việc cho vay là đúng đắn, đảm bảo khả năng thu hồi nợ, khôngphát sinh nợ quá hạn và vẫn đảm bảo lợi ích của khách hàng với lãi suất phù hợp vàcác chính sách ưu đãi thích đáng
Chất lượng thẩm định tín dụng đối với khách hàng cá nhân được thể hiện:
Kết quả thẩm định tình hình tài chính của khách hàng
Các kết quả thẩm định tình hình tài chính khách hàng giúp cán bộ thẩmđịnh đưa ra được kết luận đúng đắn hiệu quả về mặt tài chính ; khả năng trả nợ,nguồn trả nợ và thời gian trả nợ của khách hàng từ đó giúp Ngân hàng đưa ra cácquyết định tài trợ chính xác, hợp lý
Trang 23 Kết quả thẩm định tài chính của khách hàng phải giúp Ngân hàng xác địnhđược số tiền cho vay bao nhiêu, dự kiến tiến độ giải ngân, khả năng thu hồi vốncũng như các điều kiện cho vay khác
Khi tiến hành thẩm định tình hình tài chính khách hàng, cần chú ý tới cácchỉ tiêu để đánh giá chất lượng thẩm định tín dụng là:
1) Nợ quá hạn: Tỷ lệ nợ quá hạn đối với khách hàng cá nhân được tính bằng
tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn cho vay khách hàng cá nhân và tổng dư nợ cho vaykhách hàng cá nhân của ngân hàng tại một thời điểm nhất định thường là cuốitháng, quí hay năm:
Nợ quá hạn Khách hàng cá nhân
Nợ quá hạn cho vay khách hàng =
cá nhân Tổng dư nợ cho vay khách hàng
lệ nợ quá hạn cao thì chất lượng hoạt động tín dụng thấp)
Mức độ thực hiện quy chế, các quy định về công tác thẩm định tín dụng,các văn bản pháp luật khác có liên quan của Ngân hàng và khách hàng
Thời gian thẩm định
Công tác thẩm định tín dụng cá nhân là cả một quá trình Nếu thời gian thẩm
Trang 24định là quá ngắn thì không đánh giá được hết tình hình thực tế của khách hàngnhưng nếu thời gian thẩm định là quá dài, chưa hẳn cán bộ thẩm định làm việc tỉ mỉ,cẩn thận mà rất có thể họ đã làm lỡ mất một cơ hội tài trợ tốt, cơ hội giúp Ngânhàng có thêm nguồn thu, thêm khách hàng…Chính vì vậy mà công tác thẩm định tíndụng phải diển ra theo qui trình, tuần tự đảm bảo về mặt thời gian đảm bảo mục tiêu tàitrợ của Ngân hàng và đảm bảo kế hoạch hoạt động của khách hàng so với dự kiến.
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định tín dụng
1.4.1 Yếu tố thuộc về Ngân hàng
Trình độ, năng lực và đạo đức của CBTĐ
Yếu tố con người là yếu tố rất quan trọng có tính quyết định đến chất lượng côngtác thẩm định.Trong tất cả các bước của quy trình cho vay và thẩm định tín dụng đều liênquan đến CBTĐ Vì vậy trình độ, năng lực và đạo đức nghề nghiệp phải được Ngânhàng quan tâm hàng đầu Nếu đội ngũ cán bộ làm sai quy trình, thẩm định qua loa,không chính xác hoặc vi pham lợi ích nghề nghiệp…sẽ dẫn đến các quyết định sai lầmgây tổn thất cho Ngân hàng, đặc biệt đối với các DADT lớn, thời gian thực hiện trongnhiều năm và có tầm ảnh hưởng lớn đến tình hình khinh tế- xã hội của quốc gia
Chính vì tầm quan trọng của nguồn nhân lực mà ngày nay các Ngân hàngkhông ngừng bồi dưỡng, đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho các cán bộ thẩm địnhcộng với chế độ đãi ngộ thích đáng
Quy trình và phương pháp thẩm định
Quy trình và phương pháp thẩm định phải khoa học Hiện nay các Ngân hàngkhông ngừng đổi mới công nghệ, áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ tiêntiến nhất giúp cho CBTD đánh giá và phân tích hồ sơ vay vốn một cách nhanhchóng và hiệu quả Không những tiết kiệm về thời gian, chi phí mà vẫn đảm bảoviệc ra quyết định đúng đắn Nếu quy trình và phương pháp thẩm định tín dụngkhông khoa học, thủ tục rườm rà, phức tạp sẽ làm mất nhiều thời gian, công sứccũng như chi phí và thậm chí có thể làm mất cơ hội tài trợ khách hàng hoặc dẫn đếntình trạng Ngân hàng đầu tư vào một dự án không thích đáng
Cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho công tác thẩm định:
Trang 25 Công tác tổ chức, kiểm tra, kiểm soát thẩm định tín dụng doanh nghiệp:Thẩm định đòi hỏi phải chính xác nên công tác tổ chức, kiểm soát phải nghiêm ngặt
để kịp thời phát hiện ra những sai sót và có biện pháp xử lý kịp thời, xác đáng
1.4.2 Các yếu tố khách quan
Khách hàng:
Khách hàng cá nhân chiếm số lượng, nhu cầu sử dụng vốn lớn và thời gianvay dài Vì vậy mà những thông tin điều tra, xác minh về hồ sơ khách hàng khôngđầy đủ và chính xác thì sẽ ảnh hưởng tới chất lượng của công tác thẩm định tíndụng và quyết định cho vay của Ngân hàng Để tạo mối quan hệ tốt đẹp và lâu dàivới Ngân hàng cũng như giúp cho công tác thẩm định được diễn ra nhanh chóngđảm bảo kế hoạch hoạt động , khách hàng nên cung cấp đầy đủ các yêu cầu theoquy định của Ngân hàng
Môi trường chính trị và chính sách của Nhà nước:
Chiến lược đầu tư có sự chi phối từ các yếu tố về chính trị và chính sách củaNhà nước Bởi vậy trong suốt quá trình hoạt động tài trợ đều bám theo những chủtrương và hướng dẫn của Nhà nước
Ngoài ra những yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên cũng ảnh hưởng tới chấtlượng thẩm định
Trang 26CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG
CÁ NHÂN PHÒNG GIAO DỊCH SACOMBANK CHỢ MƠ
2.1 Giới thiệu về NH TMCP Sài Gòn Thương Tín và PGD Sacombank Chợ mơ – Chi nhánh Hà Nội (65 Ngô Thì Nhậm, Hà Nội)
2.1.1 Tình hình kinh tế xã hội địa phương
Quận Hai Bà Trưng nằm ở phía Đông Nam nội thành Hà Nội.giáp sông Hồng, qua bờ sông là quận Long Biên; phía Tây giáp quận Đống Đa và mộtphần nhỏ giáp quận Thanh Xuân; phía Nam giáp quận Hoàng Mai; phía Bắc giáp quậnHoàn Kiếm Diện tích tự nhiên: 9,62km²Dân số: 378.000 người (năm 2009)
- Về kinh tế: Trên địa bàn quận Hai Bà Trưng có nhiều nhà máy, xí nghiệp củaTrung ương và Hà Nội như: Dệt Kim Đồng Xuân; cảng Hà Nội; cụm công nghiệpMinh Khai -Vĩnh Tuy với hàng chục xí nghiệp nhà máy, chủ yếu thuộc các ngành dệt,
cơ khí, chế biến thực phẩm Kinh tế nhiều thành phần trên địa bàn quận phát triểnnhanh Hiện trên địa bàn quận có hơn 3.300 doanh nghiệp, trong đó 70% là thươngmại, dịch vụ, còn lại là hoạt động công nghiệp Năm 2008, giá trị sản xuất công nghiệpngoài quốc doanh tăng 14,5%; doanh thu thương mại, du lịch, dịch vụ tăng hơn15%;tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn quận đạt 933,841 tỷ đồng
- Về công tác xã hội: Hơn 5 năm qua quận đã hỗ trợ sửa chữa và xây dựng 167 nhà đạiđoàn kết, hỗ trợ cho 1.201 hộ gia đình thoát nghèo, trên 33.000 lao động được giớithiệu việc làm Đến nay, số hộ nghèo trong toàn quận còn 1.022 hộ (chiếm 1,35%)
- Công tác y tế, dân số, kế hoạch hóa gia đình; công tác giáo dục đào tạo; côngtác thông tin tuyên truyền và tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thểthao tiếp tục giữ vững và đạt kết quả tốt trong nhiều năm qua
Quận Hai Bà Trưng là địa bàn có quy mô lớn, tập trung nhiều doanh nghiệp,
tổ chức và có mật độ dân cư đông với thu nhập cao của Thủ đô, đây cũng là địa bàn
có thì trường giàu tiềm năng cho sự mở rộng hoạt động của các NHTM
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển PGD Sacombank Chợ Mơ
Ngân hàng TMCP Sài Gòn (Sacombank) tiền thân là Ngân hàng TMCPQuế Đô – được thành lập vào năm 1992 và đến ngày 08/04/2003 ngân hàngchính thức được đổi tên thành Ngân hàng TMCP Sài Gòn – SBC Thương hiệunày đã dần định hình và ngày càng chiếm được sự tin tưởng của người dân vàdoanh nghiệp khắp cả nước
Trang 27Với định hướng kinh doanh “ Lợi nhuận là nhất thời, thị phần là vĩnh viễn”,đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập của Việt Nam với lộ trình thực hiện cam kếttrong lĩnh vực hoạt động trong lĩnh vực tài chính đối với Tổ chức Thương mại Thếgiới (WTO) đang dần được thực hiện kể từ sau ngày 01/04/ 2007, Sacombankkhông ngừng đẩy mạnh hoạt động mở rộng hoạt động mở rộng mạng lưới giao dịchđến mọi miền đất nước.
Chi nhánh Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Chi nhánh Hà nội (65 NgôThì Nhậm) là Chi nhánh đầu tiên của hệ thống NH TMCP Sài Gòn Thương TínViệt Nam, có lịch sử phát triển đi cùng với lịch sử phát triển của Sacombank Đượcthành lập và hoạt động từ năm 1993
Trải qua hơn 10 năm xây dựng và trưởng thành, Chi nhánh Sacombank 65Ngô Thì Nhậm đã tự tin vững bước trong công cuộc đổi mới, hoà mình với sự pháttriển vượt bậc của hệ thống điện tử hiện đại - an toàn - tin cậy đạt hiệu quả vớichuẩn mực quốc tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Nhờ chiến lược đa dạng hóa các phương thức, hình thức, giải pháp, huy độngvốn trong và ngoài nước, đa dạng hóa các hình thức kinh doanh và đầu tư, từ năm
1993 trở lại đây, Sacombank 65 Ngô Thì Nhậm đã thu được nhiều kết quả đángkhích lệ trong hoạt động kinh doanh, từng bước khẳng định vị trí của mình trongmôi trường kinh doanh mới với sự cạnh tranh gay gắt giữa các TCTC, các NHCP,NHTM liên doanh và các NH 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam
Ngày 12/03/2007, Ngân hàng TMCP Thương tín Việt Nam - Chi nhánh HàNội(65 Ngô Thì Nhậm) khai trương Phòng giao dịch Chợ Mơ tại số 442 phố BạchMai, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
Sự ra đời của Phòng giao dịch Chợ Mơ là bước đi cần thiết, đúng đắn trong chiếnlược phát triển kinh doanh, mở rộng mạng lưới hoạt động của Chi nhánh và góp phầntăng trưởng ổn định nguồn vốn tự huy động, tiếp tục đa dạng hóa danh mục kháchhàng, dịch vụ bán lẻ và góp phần tích cực trong việc giới thiệu, quảng bá hoạt động vàhình ảnh của Ngân hàng Thương tín tới tất cả các thành phần dân cư, tổ chức kinh tế,
xã hội trên địa bàn Quận hai Bà Trưng.PGD được đầu tư xây dựng khang trang gồmmột tầng trệt và hai tầng lầu Tọa lạc tại ví trí rất thuận lợi, ngay mặt đường phố BạchMai – Phường Trương Định – Quận Hai Bà Trưng – Hà Nội, nơi tập trung dân cư đôngđúc, nhiều cơ sở kinh doanh, gần, khu trung tâm thương mại… cùng hệ thống sảnphẩm - dịch vụ phong phú, cung cách phục vụ chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ nhânviên, PGD Chợ Mơ đã đáp ứng tối đa nhu cầu giao dịch tài chính ngày càng cao và đadạng của dân cư cũng như doanh nghiệp trên địa bàn
2.1.3 Bộ máy quản lý, tổ chức hoạt động
Trang 28Ban lãnh đạo PGD Chợ Mơ – Chi Nhánh Hà Nội – NHTMCP Sài GònThương Tín gồm có 1 Trưởng phòng giao dịch và 2 Bộ phận:
+ Quản lý và phát triển nhân viên của đơn vị
+ Giải quyết thắc mắc và khiếu nại của khách hàng
- Bộ phận tiền gủi và các dịch vụ khác:
+ Trực tiếp giao dịch và phục vụ khách hàng : Mở và quản lý tài khoản tiềngửi, tiền gửi thanh toán, tài khoản tiết kiệm của khách hàng, thu chi trực tiếp vớikhách hàng trong phạm vi hạn mức của mình
+ Thực hiện việc chuyển tiền thanh toán trong nước, thanh toán thẻ tín dụng,thu đổi ngoại tệ
+ Hạch toán chứng từ phát sinh trong ngày kịp thời, chính xác, đầy đủ
+ Thực hiện các công việc liên quan khác theo yêu cầu của cấp Lãnh đạo
- Bộ phận quan hệ khách hàng liên quan đến công tác cho vay, bảo lãnh…
2.1.4 Những kết quả đạt được trong những năm gần đây của PGD Chợ Mợ
- Chi Nhánh Hà Nội
2.1.4.1 Tình hình huy động vốn
Sau hơn 3 năm hoạt động, PGD Chợ Mơ đã phát triển ổn định và hiệu quả vàđặt được uy tín của người dân địa phương Sau đây là tình hình huy động vốn củaPGD trong 3 năm:
Trang 29Bảng 2.1: Bảng cơ cấu nguồn vốn huy động của PGD Chợ Mơ
Tổng nguồn vốn
263,250 100 344,000 100 494,500 100 80,750 30,67 150,50
0 43,75 Theo loại tiền gửi
Theo thời gian
33,75 12,83 73,000 21,22 84,500 17,1
0 39.25 16,29 11,52 15,75
Trang 30Nhìn vào số liệu ở bảng 1 ta thấy, tổng nguồn vốn huy động của PGD có nhiềubiến động qua các năm Năm 2008 tổng nguồn vốn huy động tăng 80,75 tỷ đồng sovới năm 2007, tương ứng với tỷ lệ tăng 30,67% Phát huy kết quả đạt được sangnăm 2009, nguồn vốn huy động đạt 494,5 tỷ đồng, tăng 150,5 tỷ đồng so với năm
2008, tương ứng tăng 43,75% Tỷ trọng các nguồn vốn huy động cũng có sự thayđổi khá lớn, trong đó, nếu phân theo loại tiền tệ thì nguồn vốn được huy động bằngđồng nội tệ luôn chiếm tỷ lệ lớn
Năm 2008, nguồn vốn nội tệ là 229,33 tỷ đồng, tăng 50,333 tỷ đồng so vớinăm 2007, tương ứng với tỷ lệ tăng 28,11% và chiếm tới 66,67 trong tổng nguồnvốn huy động của PGD Năm 2009 nguồn vốn nội tệ tăng 132,167 tỷ đồng so vớinăm 2008, tương ứng giảm 57,63%
Nguồn vốn huy động từ ngoại tệ cũng có xu hướng tăng qua các năm Năm 2008
là 114,667 tỷ đồng, tăng so với năm 2007 là 30,417 tỷ đồng, tương ứng tăng 36,10%;năm 2009 tăng so với năm 2008 là 18,333 tỷ đồng, tương ứng tăng 15,98%
Nếu phân nguồn vốn theo thời gian, nguồn vốn có kỳ hạn có xu hướng tăngqua các năm Năm 2008 nguồn vốn có kỳ hạn tăng 53,528 tỷ đồng so với năm 2007,tương ứng tăng 33,4%; năm 2009 so với năm 2008 tăng 91,250 tỷ đồng với tỷ lệ42,69% Nguồn vốn có kỳ hạn luôn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồnvốn huy động của PGD, năm 2008 chiếm tới 62,68% tổng nguồn vốn Đây là ưuđiểm lớn của PGD trong công tác huy động vốn, vì loại tiền gửi có kỳ hạn thườngrất ổn định, là nguồn tài trợ chính cho nhu cầu vay vốn trung và dài hạn
Nếu phân theo thành phần kinh tế, ta thấy rằng tỷ trọng tiền gửi của các TCKTluôn cao nhất Tuy năm 2009 tăng 38,210 tỷ so với năm 2008 cùng với lượng tiềngửi của các TCKT tăng qua các năm Tỷ trọng tiền gửi dân cư có sự biến động quacác năm; năm 2008 tăng 19,959% so với năm 2007, Sang năm 2009 tăng 68,74% sovới năm 2008 Còn tiền gửi của các TCTD chiếm tỷ trọng thấp nhất và có xu hướnggiảm qua các năm; năm 2008 giảm 16,29% so với năm 2007 còn năm 2009 tiếp tụcgiảm 15,75% so với năm 2008
Có thể nói, tổng nguồn vốn huy động của PGD tăng qua các năm là kết quảcủa việc quán triệt và triển khai các giải pháp thúc đẩy huy động vốn như: chínhsách lãi suất linh hoạt, nhạy bén theo sát diễn biến thị trường, đa dạng hóa các hìnhthức huy động,… Trong năm 2008, tình hình kinh tế thế giới cũng như trong nước
có nhiều biến động cộng với sự cạnh tranh lãi suất và mở rộng mạng lưới hoạt độngcủa hệ thống các NHTM trên địa bàn
Trang 312.1.4.2 Tình hình sử dụng vốn
Nếu như nghiệp vụ huy động vốn nhằm mục đích huy động các nguồn vốnnhàn rỗi trong nền kinh tế thì nghiệp vụ sử dụng vốn là nghiệp vụ làm cho đồng vốnhuy động được có khả năng sinh lời cho bản thân NH và mang lại hiệu quả kinh tế
xã hội Đối với các NH, huy động vốn được coi là “đầu vào” thì nghiệp vụ sử dụngvốn được coi là “đầu ra” của hoạt động kinh doanh tiền tệ tại NH Như vậy, để hoạtđộng được thường xuyên thì cần phải tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa đầu ra và đầuvào Sử dụng vốn an toàn và hiệu quả luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi NHtrong nền kinh tế, đặc biệt là trong môi trường cạnh tranh và tiềm ẩn nhiều rủi ronhư hiện nay Hoạt động sử dụng vốn là hoạt động chính mang lại lợi nhuận cho
NH nhưng cũng chính là điểm nóng của mọi rủi ro, tổn thất nghiêm trọng trong hoạtđộng của NH Chính vì vậy, quản lý tốt công tác sử dụng vốn có ý nghĩa cực kỳquan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi NH Không nằm ngoài xu thế đó,PGD Sacombank Chợ Mơ luôn chú trọng phát triển để hoạt động sử dụng vốn trởthành một hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của PGD