Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong nền kinh tế thị trường thì sự tồn tại và phát triển của các DNVVN làmột tất yếu khách quan.. Và cũng như các loại hì
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 2
1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ 2
1.1.1 Khái niệm Doanh nghiệp vừa và nhỏ 2
1.1.2.Đặc điểm Doanh nghiệp nhỏ và vừa 3
1.2 Tín dụng Ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 7
1.2.1.Khái niệm và vai trò của Tín dụng Ngân hàng Thương mại 7
1.2.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng 7
1.2.1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 9
1.2.2 Phân loại tín dụng ngân hàng 12
1.3 Phát triển tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 15
1.3.1 Quan niệm về phát triển tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 15
1.3.2 Một số chỉ tiêu đánh giá sự phát triển tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ 16
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại 19
1.3.3.1 Các nhân tố liên quan đến bản thân các Ngân hàng thương mại 20
1.3.3.2 Nhân tố vĩ mô 23
1.3.3.3.Các nhân tố thuộc về các doanh nghiệp vừa và nhỏ 24
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐÔNG NAM Á – CHI NHÁNH HAI BÀ TRƯNG 26
2.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á 26
2.2 Thực trạng phát triển tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng cổ phần thương mại Đông Nam Á - Chi nhánh Hai Bà Trưng 31
Trang 22.3 Đánh giá việc phát triển tín dụng đối với DNVVN tại NHTMCP Đông Nam
Á – Chi nhánh Hai Bà Trưng 40
2.3.1 Những kết quả đạt được 40
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 42
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NHTMCP ĐÔNG NAM Á - CHI NHÁNH HAI BÀ TRƯNG 47
3.1.Định hướng phát triển hoạt động tín dụng của NHTMCP Đông Nam Á - Chi nhánh Hai Bà Trưng 47
3.2 Các giải pháp nhằm phát triển hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTMCP Đông Nam Á - Chi nhánh Hai Bà Trưng 49
3.2.1 Đa dạng hoá hoạt động tín dụng đối với DNVVN 49
3.2.2 Nâng cao chất lượng công tác thẩm định tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, thực hiện đúng quy trình tín dụng: 50
3.2.3 Hoàn thiện cơ chế bảo đảm tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng 51
3.2.4 Tổ chức đào tạo cán bộ tín dụng của Ngân hàng trong đó tập trung nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ tín dụng 51
3.3 Một số kiến nghị 52
3.3.1 Kiến nghị với Nhà nước 52
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Đông Nam Á 54
3.3.3 Kiến nghị đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ 55
KẾT LUẬN 57
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DNVVN : Doanh nghiệp vừa và nhỏDNNQD : Doanh nghiệp ngoài quốc doanhNHTM : Ngân hàng thương mại
SEABANK : Ngân hàng Đông Nam ÁNHTMCP : Ngân hàng Thương mại cổ phần
Trang 4DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức SEABANK Hai Bà Trưng 28
Biểu đồ 1: Doanh số cho vay của chi nhánh qua các năm 32
Biểu đồ 2: Dư nợ tín dụng của chi nhánh qua các năm 33
Biểu đồ 3: Dư nợ tín dụng đối với DNVVN phân theo thời hạn 35
Biểu đồ 4: Dư nợ tín dụng phân theo loại hình 36
Bảng 2.1: Doanh số cho vay DNVVN 31
Bảng 2.2: số lượng DNVVN có quan hệ với chi nhánh 32
Bảng 2.3: Dư nợ của DNVVN ( đơn vị tính: triệu đồng ) 33
Bảng 2.5: Dư nợ tín dụng phân theo loại hình 35
Bảng 2.6: dư nợ tín dụng DNVVN theo ngành 36
Bảng 2.7: Doanh số thu nợ DNVVN trong tổng doanh số thu nợ 38
Bảng 2.8: Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn của DNVVN 38
Trang 5DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nghiệp vụ ngân hàng thương mại – TS Tô Ngọc Hưng biên soạn
2 Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, GS.TS Lưu Thị Hương ( chủ biên), NXBThống kê, Năm 2004
3 Giáo trình Ngân hàng thương mại,TS Phan Thu Hà ( chủ biên), NXB Thống
7 Luật doanh nghiệp, 2005
8 Quy chế tín dụng của Ngân hàng Đông Nam Á
9 Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng bản thân tôi,không sao chép của người khác; các nguồn tài liệu trích dẫn, số liệu sử dụng và nộidung chuyên đề tốt nghiệp trung thực Đồng thời cam kết rằng kết quả quá trìnhnghiên cứu của chuyên đề tốt nghiệp này chưa từng được công bố trong bất kỳcông trình nghiên cứu nào
Hà nội, ngày 10 tháng 4 năm 2011
Sinh viên
Quách Ngọc Toàn
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đã, và đang có những bước phát triển đáng kểvới tốc độ tăng trưởng cao và khá ổn định Để đạt được những thành tựu to lớn đókhông thể không kể đến sự đóng góp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Với quy
mô nhỏ gọn, yêu cầu về vốn và công nghệ không quá cao, đồng thời linh hoạttrong mô hình tổ chức và quản lý nên doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng thể hiện
là một trong những mô hình kinh tế có tính thích ứng cao, phù hợp với bối cảnhthực tại của nước ta hiện nay Vì vậy nó luôn là mối quan tâm và nhận được nhiềuchính sách hỗ trợ từ Chính phủ, các Bộ ngành, các tổ chức khác trong nước cũngnhư quốc tế Song song với quá trình mở cửa của nền kinh tế cùng các chính sáchkhuyến khích của Nhà nước, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ đang phát triển với mộttốc độ chóng mặt cả về số lượng lẫn quy mô, đóng góp tích cực trên nhiều mặt cho
sự phát triển chung của nền kinh tế Tuy nhiên nhìn chung đại bộ phận các doanhnghiệp vừa và nhỏ còn gặp phải rất nhiều khó khăn
Tuy thấy rõ tiềm năng của loại hình doanh nghiệp này nhưng do còn nhiềuvướng mắc trong công tác tín dụng nên các Ngân hàng nói chung và ngân hàngthương mại cổ phần Đông Nam Á nói riêng vẫn chưa tận dụng hết được các nguồnlợi mà doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể mang lại
Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề tín dụng ngân hàng đối với các doanhnghiệp vừa và nhỏ hiện nay và qua quá trình tìm hiểu thực tế về hoạt động tín dụngcủa Ngân hàng cổ phần Đông Nam Á – chi nhánh Hai Bà Trưng trong thời gian
thực tập em đã chọn đề tài :" Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á – chi nhánh Hai Bà Trưng ” cho chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Kết cấu nội dung chuyên đề gồm ba chương :
Chương I : Tín dụng ngân hàng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Chương II: Thực trạng phát triển tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á – Chi nhánh Hai Bà Trưng
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hoạt động tín
dụng đối với DNNVV tại NHTMCP Đông Nam Á – Chi nhánh Hai Bà Trưng
Trang 8CHƯƠNG I TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1 Khái niệm Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có tầm quan trọng ngày càng lớn vì phạm vi hoạtđộng của họ có ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế thế giới Theo Cơquan quản lý DNVVN thì DNVVN chiếm tới 90 % số lượng doanh nghiệp trên thế
giới và 40 – 50 % GDP của các nước Hiện nay tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu
và quản lý mà các cơ quan, các tổ chức, các nhà nghiên cứu kinh tế đã đưa ra cáctiêu chí khác nhau để xác định DNVVN Vì vậy, các định nghĩa về DNVVN làtương đối khác nhau, có xu hướng thay đổi theo tính chất hoạt động, mục đích củaviệc xác định và mức độ phát triển các doanh nghiệp trong nền kinh tế Tuy nhiên,
để phân biệt doanh nghiệp lớn với DNVVN thì hiện nay hầu hết các nước trên thếgiới chủ yếu đều dựa trên hai tiêu chí: tổng vốn kinh doanh và tổng số lao động Ví
dụ như theo Liên minh Châu Âu, DNVVN là có số lượng công nhân không vượtquá 250 Tại Mỹ là không quá 1000, trong đó doanh nghiệp có số lao động 200 trởxuống là doanh nghiệp nhỏ Còn với Nhật Bản, các doanh nghiệp có dưới 300 laođộng hoặc vốn đầu tư nhỏ hơn 1 triệu USD thì được coi là DNVVN
Theo ngân hàng thế giới, DNVVN được chia thành ba loại căn cứ vào quy mô
đó là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa Doanh nghiệpsiêu nhỏ có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ thì số lượng lao động
sẽ từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 - 300 lao động
Tại Việt Nam: " DNVVN là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng kýkinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồnghoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người " ( trích điều 3 củaNghị định 90/2001/NĐ - CP định nghĩa về DNVVN )
Đây cũng chỉ là định nghĩa mang tính chất tương đối, bởi một doanh nghiệp
có thật sự nhỏ khi có số lao động nhỏ hơn 300 hay không thì còn tùy thuộc vào
Trang 9lĩnh vực hoạt động Chính vì vậy, có thể xem DNVVN là một doanh nghiệp hoạtđộng độc lập trong một lĩnh vực kinh doanh nhưng không thống trị trong lĩnh vựckinh doanh của mình Đây là định nghĩa mới nhất đang được áp dụng đối vớiDNVVN ở Việt Nam và nó được coi là cần thiết và phù hợp với tình hình kinh tế -
xã hội của nước ta trong giai đoạn hiện nay Cùng với sự phát triển không ngừngcủa nền kinh tế, và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, định nghĩa về DNVVN trongtương lai sẽ tiếp tục còn nhiều thay đổi
Riêng tại ngân hàng TMCP Đông Nam Á: DNVVN là doanh nghiệp có vốnchủ sở hữu ≤ 10 tỷ, doanh thu ≤ 50 tỷ, tổng tài sản ≤ 50 tỷ
1.1.2 Đặc điểm Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Đặc điểm chung của DNVVN trong nền kinh tế:
- Quy mô nhỏ :
DNVVN là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về vốn hay số lượnglao động, mô hình quản lý nhìn chung là đơn giản, chi phí quản lý đào tạokhông lớn do đó có thể dễ dàng thành lập và chuyển đổi mặt hàng sản xuấtkinh doanh Hoạt động của các DNVVN chủ yếu hướng vào lĩnh vực phục vụtrực tiếp đời sống, những sản phẩm có sức mua cao và đáp ứng nhu cầu thiếtyếu của dân cư Các DNVVN cũng đóng vai trò rất quan trọng trong lưuthông và cung cấp hang hóa, dịch vụ, bổ sung cho các doanh nghiệp lớn
- DNVVN năng động, nhạy bén và dễ thích ứng với sự thay đổi thườngxuyên của thị trường
Do có quy mô vừa và nhỏ, bộ máy quản lý gọn nhẹ cho nên các DNNVV dễdàng tìm kiếm và đáp ứng các yêu cầu có hạn trong những thị trường, có phản ứngnhanh nhạy trước sự biến động của thị trường, đáp ứng được thị hiếu của ngườitiêu dùng Hiện nay trên thế giới, tính chất cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đangchuyển hướng từ cạnh tranh giá cả sang cạnh tranh về mẫu mã, chất lượng và côngnghệ nên lợi thế của các DNVVN càng được thể hiện một cách rõ nét
- Tổ chức của các DNVVN là đơn giản, chi phí thấp:
Do quy mô vốn nhỏ, số lượng lao động không nhiều nên việc tổ chức sảnxuất cũng như bộ máy quản lý của các DNVVN là tương đối đơn giản, gọn nhẹ
Trang 10Người chủ doanh nghiệp có thể dễ dàng hơn trong việc nắm bắt thông tin, quản lýđiều hành Vì vậy các quyết định, các chỉ tiêu đến với người lao động một cách nhanhchóng, hạn chế được nhiều khâu trung gian, tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp.
- DNVVN góp phần duy trì tự do cạnh tranh:
Trong khi các doanh nghiệp lớn cần thị trường lớn, đôi khi đòi hỏi có sự bảo
hộ của Chính phủ và dẫn tới độc quyền thì DNVVN hoạt động với số lượng đôngđảo và sản phẩm của mỗi doanh nghiệp làm ra không chiếm tỷ trọng lớn trong toàn
bộ số lượng sản phẩm trên thị trường nên không có tình trạng độc quyền, dễ dàng
Tuy nhiên, bên cạnh đó các DNVVN vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn, hạn chếnhất định như: Các DNVVN có quy mô không lớn lắm nên thường hoạt động thiếuvững chắc, ít có khả năng phản ứng trước những thay đổi về quy định pháp lý và
do đó dễ rơi vào tình trạng phá sản Mặt khác, trong quá trình hoạt động, cácDNVVN cũng có thể làm nảy sinh một số tiêu cực ảnh hưởng đến đời sống kinh tế
- xã hội như hiện tượng trốn thuế, làm hàng giả, hàng không đảm bảo chất lượng…
và đặc biệt là ý thức bảo vệ mội trường nhìn chung còn chưa tốt, đặc biệt là ở cáclàng nghề thủ công nghiệp
Đặc điểm của DNVVN ở Việt Nam:
Ngoài những đặc điểm chung của DNVVN trong nền kinh tế thị trường, các
DNVVN Việt Nam cũng mang những đặc thù riêng về sản xuất kinh doanh :
Khi nói đến các DNVVN là nói đến các doanh nghiệp thuộc khu vực ngoàiquốc doanh Các DNVVN chủ yếu bao gồm các loại hình như: doanh nghiệp tư
Trang 11nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn Chúng có quy mô nhỏ, phântán, khả năng liên kết với nhau kém, hoạt động trong nhiều lĩnh vực nhưng chủ yếutập trung trong các lĩnh vực chính đó là thương mại và dịch vụ, công nghiệp sảnxuất hàng tiêu dùng, xây dựng và dịch vụ vận chuyển hàng hóa - hành khách.Đặc điểm của các DNVVN ở nước ta là có quy mô nhỏ, bộ máy quản lý gọnnhẹ, không cồng kềnh, phương thức quản lý linh hoạt, và thường tập trung ở vùngđông dân cư như các đô thị lớn, ven thành phố Đây là nguyên nhân dẫn đến sự dichuyển của lao động từ nông thôn ra thành thị Theo số liệu thống kê của Bộ kếhoạch và Đầu tư, tính đến năm 2010 ở nước ta DNVVN chiếm khoảng 96% trongtổng số hơn 450.000 doanh nghiệp đã thành lập trên toàn quốc Các doanh nghiệp nàyđang đóng góp khoảng 40% GDP, 31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, tạo ra trên77% việc làm phi nông nghiệp, hơn 50% số lao động làm việc trong doanh nghiệp vàmỗi năm tăng thêm khoảng nửa triệu lao động Chủ các DNVVN phần lớn là lớp ngườitrẻ, năng động, nhạy bén với kinh tế thị trường, có óc sáng tạo, quyết đoán trong kinhdoanh và có nhiều ý tưởng mới lạ, có định hướng chiến lược lâu dài.
Do nền kinh tế Việt Nam còn chưa thực sự phát triển, cho nên quy mô sảnxuất kinh doanh của các DNVVN ở Việt Nam còn nhỏ Nhìn chung ở nước ta phầnlớn các DNVVN đang hoạt động trong tình trạng thiếu vốn Nguồn vốn hoạt độngchủ yếu là vốn tự có và vay trên thị trường phi tài chính Các DNVVN ít có khảnăng tiếp cận với các nguồn vốn ngân hàng do không đảm bảo các điều kiện cầnthiết về tài sản đảm bảo cũng như các điều kiện vay vốn khác Đặc biệt là trongnăm 2008 do chịu sự tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, các doanhnghiệp Việt Nam nhất là DNVVN đang gặp rất nhiều khó khăn Vấn đề tiếp cậnvới nguồn vốn của DNVVN vốn dĩ đã hạn chế nay lại càng khó khăn hơn Phầnlớn các DNVVN Việt Nam huy động vốn theo 2 cách, vay ngân hàng và từ bạn bèhoặc từ chính các đối tác thông qua việc ứng trước tiền hàng, hay được chấp nhậntrả chậm tiền hàng Tuy nhiên, khi nền kinh tế khủng hoảng, nguồn vốn huy động
từ bạn bè, đối tác gần như là không còn, bởi họ đều khan hiếm vốn và tìm cách thu
Trang 12về Do đó vai trò của vốn tín dụng ngân hàng là rất quan trọng.Tuy nhiên đến naychỉ có khoảng 50% doanh nghiệp ngoài quốc doanh tiếp cận được vốn ngân hàng,trên 90% DNVVN ngoài quốc doanh vẫn có nhu cầu vay vốn, nhưng chỉ hơn 10%được vay 100% theo nhu cầu
Hiện nay phần lớn các DNVVN Việt Nam đang sử dụng công nghệ lạc hậu1-2 thế hệ so với các nước tiên tiến như Mỹ, Nhật Cụ thể là khoảng 15-20 năm đốivơi ngành điện tử, 20 năm đối với ngành cơ khí Có khoảng 70% dây chuyềncông nghệ ra đời từ thập niên 60 của thế kỷ trước, 75% là các thiết bị đã hết khấuhao và 50% là đồ tân trang Đây là khó khăn có tính nội tại nhưng cũng là tháchthức lớn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của DNVVN Việt Nam Tỷ lệ đầu
tư cho đổi mới công nghệ ở các DNVVN nước ta chỉ chiếm khoảng 0,2% - 0,3%tổng doanh thu Đây là một tỷ lệ quá thấp so với các nước khác trong khu vực như
Ấn Độ là 5%, Hàn Quốc 10% Đây là một phần nguyên nhân dẫn đến tình trạngsản phẩm làm ra không thể đáp ứng được chất lượng, mẫu mã và ảnh hưởng rất lớntới nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm cũng như khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp Theo số liệu thống kê thì trong những năm gần đây công nghệ lạchậu ở Việt Nam đã làm tăng chi phí tiêu hao hơn 1,5 lần so với định mức tiêuchuẩn của thế giới, chi phí đầu vào cũng cao hơn 30 - 50% so với các nước trongkhu vực ASEAN Nguyên nhân của vấn đề này chủ yếu vẫn là do các DNVVN ởViệt Nam còn thiếu vốn để đầu tư đổi mới trang thiết bị, nâng cao công nghệ sảnxuất Mặt khác việc tiếp cận nguồn vốn vay từ ngân hàng khó khăn, chi phí vay từcác tổ chức tín dụng phi ngân hàng lại khá cao
Đội ngũ quản lý của DNVVN Việt Nam nhìn chung chưa được đào tạo đầy
đủ Gần 45% số chủ doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài quốc doanh chưa có bằngcấp chuyên môn Theo số liệu thống kê số tiến sỹ chỉ chiếm khoảng 0.66%, thạc sỹ2.33%, đại học là 37,82%, cao đẳng là 3.56%, tốt nghiệp trung học chuyên nghiệpchiếm 12,33% và 43.3% có trình độ thấp hơn Các chủ doanh nghiệp vẫn chủ yếuhoạt động dựa trên kinh nghiệm và các mối quan hệ thân quen Tuy nhiên hiện naytình trạng này đã và đang dần dần được cải thiện, các chủ DNVVN đã chú trọngđến việc nâng cao kiến thức nền tảng, phục vụ tốt hơn cho việc quản lý, điều hành
Trang 13cũng như nâng cao, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Hệ thống sổ sách của phần lớn các DNVVN Việt Nam vẫn chưa thực sựminh bạch, các báo cáo tài chính còn mang tính chất đối phó, thiếu tin cậy Trênthực tế có không ít các doanh nghiệp xây dựng nhiều báo cáo khác nhau để nộpcho ngân hàng, cơ quan thuế và cho chủ doanh nghiệp Bộ phận quản lý giám sátcác hoạt động sản xuất kinh doanh còn yếu hoặc sơ sài làm giảm tính chính xáctrong các báo cáo tài chính Nhiều DNVVN thường bán hàng mà không có hợpđồng kinh tế, không tuân thủ chế độ phát hành hóa đơn bán hàng, ko phản ánhđúng thực trạng hoạt động Do vậy các báo cáo tài chính của DNVVN chư thực sự
là cơ sở đáng tin cậy để đánh giá chính xác hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.Chính vì các hạn chế trên mà các DNVVN gặp rất nhiều vấn đề khi tiếp cậncác nguồn vốn Mặc dù chiếm trên 95% tổng số doanh nghiệp, song tổng số vốncho sản xuất, kinh doanh của các DNVVN mới chỉ đạt khoảng 28.92% so với tổngvốn của tất cả các doanh nghiệp trong cả nước
1.2 Tín dụng Ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1.Khái niệm và vai trò của Tín dụng Ngân hàng Thương mại.
1.2.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính có vai trò hết sức quan trọngtrong nền kinh tế Xét trên phương diện số lượng các dịch vụ tài chính thì ngânhàng được xem là tổ chức trung gian tài chính cung cấp danh mục tài chính đadạng nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế
Ngân hàng bao gồm nhiều loại phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tếnói chung cũng như hệ thống tài chính nói riêng Trong đó NHTM luôn chiếm tỷtrọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần cũng như số lượng các ngân hàng Theonghị định số 49/2000/NĐ - CP, NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ tất cảcác hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mụctiêu lợi nhuận, từ đó góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước
NHTM thực hiện hai hoạt động cơ bản là hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn:
- Hoạt động huy động vốn là hoạt động phản ánh quá trình hình thành vốnkinh doanh cho NHTM thông qua một loạt các hình thức khác nhau Hoạt động
Trang 14huy động vốn của các NHTM gồm các hoạt động như nhận tiền gửi; phát hànhchứng chỉ tiền gửi, phát hành trái phiếu và các giấy tờ có giá khác; đi vay và một
số hoạt động khác như dịch vụ ủy thác, các hoạt động thanh toán không dùng tiềnmặt…Trong số các nguồn đó thì nguồn tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán lànguồn huy động quan trọng nhất và luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn tiềncủa ngân hàng, đồng thời mang lại nguồn lợi rất lớn cho hoạt động kinh doanh
- Hoạt động sử dụng vốn là việc NHTM sử dụng nguồn vốn tự có và đặc biệt là
nguồn vốn huy động được để đưa vào kinh doanh nhằm mục đích trả các khoản phíkhi huy động vốn, đảm bảo an toàn trong kinh doanh, đồng thời tạo lợi nhuận chongân hàng Có thể nói đây chính là cơ sở để NHTM tồn tại và phát triển Các hoạtđông cơ bản trong sử dụng vốn của NHTM bao gồm: dự trữ bắt buộc, hoạt động chovay, hoạt động kinh doanh ngoại tệ và các hoạt động đầu tư chứng khoán, bất độngsản Sử dụng vốn chính là quá trình tạo nên các loại tài sản khác nhau của NHTM,trong đó hai loại tài sản lớn và quan trọng nhất đó là cho vay và đầu tư
NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ, do đó đa phần tài sản của ngân hàng làcác tài sản tài chính như các hợp đồng tín dụng, chứng khoán, giấy tờ có giá, cáckhoản tiền gửi Ngân hàng trung ương và tổ chức tín dụng khác Bên cạnh đó cómột phần nhỏ trong tổng tài sản của ngân hàng là các tài sản cố định ví dụ như nhàcửa, trang thiết bị, máy móc phục vụ cho quá trình hoạt động kinh doanh
Trong thực tế cuộc sống thì thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩakhác nhau, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dungriêng Đối với quan hệ tài chính tín dụng có thể theo các nghĩa sau:
+ Nếu xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệmsang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì có thể coi tín dụng là phương pháp chuyển dịchquỹ từ người cho vay sang người đi vay
+ Trong quan hệ tài chính cụ thể thì tín dụng là một giao dịch về tài sản trên
cơ sở hoàn trả giữa hai chủ thể
+ Tín dụng cũng có thể hiểu là một số tiền cho vay và các định chế tài chínhcung cấp cho khách hàng
Nói tóm lại trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của NHTM thì tín
Trang 15dụng có thể được hiểu như sau:
Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay(ngân hàng, các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân doanh nghiệp
và các chủ thể khác) Trong đó, bên cho vay thực hiện chuyển giao tài sản chobên đi vay sử dụng trong một khoảng thời gian thỏa thuận, còn bên đi vay cótrách nhiệm hoàn trả về điều kiện vốn gốc và lãi vay đối với bên cho vay khiđến hạn thanh toán
1.2.1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong nền kinh tế thị trường thì sự tồn tại và phát triển của các DNVVN làmột tất yếu khách quan Và cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, trong quátrình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, các doanh nghiệp này cũng phải sửdụng nguồn vốn tín dụng ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn cũng như để
có thể tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn của mình Vốn tín dụng các ngân hàng đầu
tư cho các DNVVN đóng vai trò hết sức quan trọng, nó không những thúc đầy sựphát triển khu vực kinh tế này mà thông qua đó còn tác động trở lại thúc đẩy hệthống ngân hàng, đổi mới chính sách tiền tệ và hoàn thiện các cơ chế chính sách vềtín dụng, thanh toán ngoại hối… Để thấy rõ vai trò của tín dụng ngân hàng trongviệc phát triển DNVVN, ta xét một số vai trò sau:
Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế hỗ trợ sự ra đời - phát triển của cácDNVVN, góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho các DNVVN
Trong cơ chế thị trường hiện nay, bất cứ ai cũng đều muốn đồng vốn củamình sinh lời Những người có vốn tạm thời nhàn rỗi sẽ sẵn sàng cho vay số tiền
đó để kiếm lãi, còn các doanh nghiệp cũng vì mục đích sinh lợi của vốn mà cầnvay thêm tiền để mở rộng sản xuất Với tư cách là trung gian dẫn vốn, ngân hàng
đã giải quyết được mâu thuẫn đó Với hoạt động đi vay để cho vay, ngân hàng đãtạo ra cơ hội cho các chủ doanh nghiệp muốn thành lập công ty hoặc mở rộng sảnxuất kinh doanh có thể được vay vốn để thực hiện
Tín dụng ngân hàng tác động điều tiết sự di chuyển vốn đầu tư làm bình quânhoá tỷ suất lợi nhuận thúc đẩy sự phát triển của các DNVVN, Tín dụng ngân hàngluôn luôn chuyển hướng đầu tư vào những doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận cao,
Trang 16đồng thời hạn chế hoặc không đầu tư vào những doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuậnthấp Qua đó tín dụng ngân hàng làm thay đổi quan hệ về cung- cầu hàng hoá vàthay đổi cơ cấu ngành nghề kinh tế.
Ngoài vốn chủ sở hữu, các doanh nghiệp còn có thể sử dụng các nguồn vốnkhác như vốn vay từ ngân hàng, vốn tín dụng thương mại, phát hành các giấy nợ,giấy tờ có giá Tuy nhiên đối với các DNVVN hiện nay, việc huy động vốn từ thịtrường tài chính là rất khó khăn, mặt khác việc huy động vốn từ các tổ chức tài chínhphi ngân hàng lại đòi hỏi chi phí rất cao cho nên nguồn vốn vay ngân hàng là sự lựachọn thích hợp nhất đối với các DNVVN Nếu có thể sử dụng nguồn vốn này, cácdoanh nghiệp không những tiết kiệm được chi phí, không làm ảnh hưởng đến quyền
sở hữu của doanh nghiệp mà còn có được một khoản tiết kiệm từ thuế Đồng thờitạo đòn bẩy cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được hiệu quả hơn
Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn củaDNVVN
Khi sử dụng vốn tín dụng ngân hàng các doanh nghiệp phải tuân thủ hợpđồng tín dụng, đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi vay đúng hạn cũng như tôn trọngcác điều khoản trong hợp đồng tín dụng cho dù doanh nghiệp làm ăn có hiệu quảhay không Vì vậy muốn có vốn tín dụng của ngân hàng đòi hỏi các doanh nghiệpphải có phương án sản xuất khả thi, không chỉ thu hồi đủ vốn mà các doanh nghiệpcòn phải tìm cách sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh vòng quay vốn, đảm bảo tỷsuất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới có thể trả được nợ và kinhdoanh có lãi Trong quá trình cho vay, ngân hàng đều thực hiện kiểm soát trước,trong và sau khi giải ngân buộc các doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích
đã cam kết và có hiệu quả
Tín dụng ngân hàng góp phần đảm bảo cho hoạt động của các DNVVNđược liên tục
Trong nền kinh tế thị trường luôn đòi hỏi các doanh nghiệp phải cải tiến kỹthuật, thay đồi mẫu mã hàng hóa, đổi mới công nghệ máy móc thiết bị để tồn tại vàphát triển trong cạnh tranh Song trên thực tế không một doanh nghiệp nào có thểđảm bảo đủ 100% vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh Vốn tín dụng của ngân
Trang 17hàng đã góp phần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ bản, muasắm máy móc thiết bị, cải tiến phương thức kinh doanh, từ đó góp phần thúc đẩyquá trình phát triển sản xuất kinh doanh được liên tục.
Tín dụng ngân hàng góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả năngcạnh tranh của các DNVVN
Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, do đó muốn tồntại và đứng vững thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh.Đặc biệt đối với các DNVVN, do có một số hạn chế nhất định nên việc chiếm lĩnh
ưu thế trong cạnh tranh đối với các doanh nghiệp lớn trong nước cũng như nướcngoài là một vấn đề khó khăn Xu hướng hiện nay của các doanh nghiệp này làtăng cường liên doanh liên kết, tập trung vốn đầu tư mở rộng sản xuất, trang bị kỹthuật hiện đại để tăng sức cạnh tranh Tuy nhiên để có một số vốn đủ lớn đầu tưcho sự phát triển trong khi vốn tự có hạn hẹp, khả năng tích lũy thấp thì phải mấtnhiều năm mới thực hiện được Và khi đó cơ hội đầu tư sẽ không còn nữa Nhưvậy biện pháp tốt nhât của các DNVVN chỉ có thể tìm đến tín dụng ngân hàng Chỉ
có tín dụng ngân hàng mới có thể giúp doanh nghiệp thực hiện được mục đích củamình là mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh một cách nhanh chóng
Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện cho các DNVVN tiếp cận nguồn vốnnước ngoài
Bên cạnh việc kích thích các tổ chức kinh tế và cá nhân trong nước thực hiệntiết kiệm, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn tiền tệ, thì tín dụng ngân hàngcòn thực hiện thu hút nguồn vốn nước ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau nhưtrực tiếp vay bằng tiền, bảo lãnh cho các doanh nghiệp trong nước mua thiết bị trảchậm, sử dụng hạn mức L/C… Như vậy quan hệ quốc tế của các doanh nghiệp đãđược mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, đặc biệt các doanhnghiệp trong lĩnh vực xuất nhập khẩu
Thông qua nguồn vốn vay này, DNVVN xác lập một cơ cấu vốn tối ưu đảmbảo kết hợp hiệu quả giữa nguồn vốn đi vay cũng như nguồn tự có nhằm sản phẩmsản xuất tại giá vốn bình quân rẻ nhất, nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng hànghoá và được thị trường chấp nhận Chỉ có như vậy thì doanh nghiệp mới đạt mục
Trang 18tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho các DNVVN.Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì hiếm có doanh nghiệp nào dùng vốn
tự có để sản xuất kinh doanh Nguồn vốn vay chính là công cụ đòn bẩy để doanhnghiệp tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn Đối với các DNVVN do còn nhiều hạnchế về vốn nên việc sử dụng vốn tự có để sản xuất là khó khăn vì vốn hạn hẹp,thêm vào đó nếu sử dụng thì giá vốn sẽ cao và sản phẩm khó được thị trường chấpnhận Để đạt hiệu quả cao thì doanh nghiệp phải có một cơ cấu vốn tối ưu, kết cấuhợp lí nhất là nguồn vốn tự có và nguồn vốn vay nhằm tối đa hóa lợi nhuận tạimức giá vốn bình quân rẻ nhất
1.2.2 Phân loại tín dụng ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong phúvới nhiều hình thức khác nhau, do vậy để sử dụng và quản lý tín dụng có hiệu quảthì phải tiến hành phân loại tín dụng Có nhiều cách phân loại tín dụng khác nhautùy theo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng Sau đây làmột số cách phân loại:
Nếu phân loại theo thời hạn tín dụng:
Phân loại tín dụng theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vìthời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn, sinh lợi của tín dụng cũng như khảnăng hoàn trả của khách hàng Theo thời gian, tín dụng được phân thành:
Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới 1 năm, thường được
dùng để cho vay bổ sung thiếu hụt vốn lưu động tạm thời của các doanh nghiệp vàcho vay phục vụ sinh hoạt của cá nhân
Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm.
Loại tín dụng này nhằm tài trợ cho các doanh nghiệp trong hoạt động mua sắm tàisản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ
có khả năng thu hồi vốn nhanh
Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, tín dụng dài hạn
được ngân hàng dùng để cung cấp cho các doanh nghiệp vào các vấn đề như: xâydựng cơ bản, đầu tư vào việc xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ
Trang 19sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.
Nếu phân loại theo mức độ tín nhiệm của khách hàng: Tín dụng không đảm bảo: Với loại tín dụng này, uy tín của người đi vay
được đặt lên hàng đầu do không có tài sản thế chấp, cầm cố hay có sự bảo lãnh củangười thứ ba
Tuy nhiên muốn vay theo loại này thì khách hàng phải hội tụ đủ một số điềukiện như: có quan hệ tín dụng lâu dài và có tín nhiệm với ngân hàng cho vay trongviệc sử dụng vốn vay và trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi; có phương án sảnxuất kinh doanh khả thi, có khả năng tài chính vững mạnh để thực hiện nghĩa vụtrả nợ; cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản nếu sử dụng vốn vaykhông đúng cam kết; cam kết trả nợ trước hạn nếu không thực hiện được các biệnpháp bảo đảm bằng tài sản
Tín dụng có đảm bảo: Đây là loại hình tín dụng chủ yếu của các ngân
hàng, các doanh nghiệp muốn được cấp tín dụng thì cần phải có tài sản thế chấp,cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba Đây là loại hình tín dụng mà kháchhàng không có uy tín cao với ngân hàng, nên khi vay vốn cần có sự đảm bảo Đó làcăn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thứ hai bổ sung cho nguồn thu nợ thứnhất thiếu chắc chắn
Nếu phân loại căn cứ vào rủi ro:
Cách phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại tính an toàncủa các khoản tín dụng và trích lập dự phòng tổn thất kịp thời Theo cách phân loại
này, tín dụng gồm:
Tín dụng lành mạnh: là các khoản tín dụng có khả năng thu hồi đầy đủ cả
nợ gốc và lãi đúng hạn
Tín dụng có vấn đề: Là các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh, ví
dụ như khách hàng gặp khó khăn trong tiêu thụ, khách hàng gặp thiên tai, kháchhàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính…
Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: Là các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn
ngắn nhưng khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo hữu hình cógiá trị lớn…
Nợ quá hạn khó đòi: Là các khoản nợ quá hạn đã lâu, khả năng trả nợ thấp,
Trang 20khách hàng dây dưa, chầy ỳ không trả nợ…
Nếu phân loại căn cứ vào xuất xứ tín dụng:
Cho vay trực tiếp: Với loại hình này thì ngân hàng trực tiếp cấp vốn cho
người có nhu cầu, và ngược lại người đi vay cũng trực tiếp hoàn trả nợ vay chongân hàng Như vậy trong quan hệ tín dụng này chỉ có hai chủ thể tham gia là ngânhàng và người đi vay
Cho vay gián tiếp: Là các khoản vay được ngân hàng thực hiện thông qua
việc mua lại các khế ước, các chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanhtoán Để thực hiện việc vay vốn theo hình thức này thì doanh nghiệp phải có cácgiấy tờ có giá và còn thời hạn thanh toán, đem đến ngân hàng, nếu ngân hàng chấpnhận thì họ sẽ cấp vốn và đến thời hạn thanh toán giấy tờ có giá thì ngân hàng sẽđòi nợ chủ thể phát hành giấy tờ có giá đó Cho vay gián tiếp có thể theo các loạinhư: chiết khấu thương phiếu, mua các phiếu bán hàng tiêu dùng và máy móc nôngnghiệp trả góp, nghiệp vụ bảo lãnh
Nếu phân loại căn cứ vào đối tượng tín dụng:
Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được dùng để hình thành vốn lưu
động của tổ chức kinh tế
Tín dụng vốn lưu động được các doanh nghiệp sử dụng để cho vay bù đắp mứcvốn lưu động thiếu tạm thời, và thường được chia ra làm các loại sau: cho vay dự trữhàng hóa, cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu thương phiếu
Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng thường được dùng để hình thành tài
sản cố định Loại tín dụng này thường được dùng để đầu tư mua tài sản cố định,cải tiến và đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xínghiệp và công trình mới Thời hạn cho vay đối với các loại tín dụng loại này làtrung hạn và dài hạn
Để đáp ứng các nhu cầu vốn cố định, ngân hàng đưa ra các hình thức của tíndụng trung và dài, bao gồm: tín dụng theo dự án, tín dụng tuần hoàn, tín dụng đồngtài trợ, nghiệp vụ bảo lãnh và tín dụng thuê mua
Phân loại căn cứ vào mục đích sử dụng vốn:
Tín dụng sản xuất, lưu thông hàng hóa: Là loại tín dụng chỉ dành riêng cho
các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác để tiến hành sản xuất và lưu
Trang 21thông hàng hóa.
Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức tín dụng chỉ dành riêng cho cá nhân để
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ví dụ như: mua sắm nhà cửa, xe cộ,…
Nói tóm lại việc phân loại tín dụng là rất cần thiết, nó giúp cho các nhà quản
lý ngân hàng cân đối giữa huy động vốn và sử dụng vốn, đảm bảo an toàn và tăngkhả năng sinh lời cho ngân hàng
Việc cho vay theo hình thức nào, và sử dụng loại hình tín dụng nào là phụ thuộcvào sự đánh giá, thẩm định của ngân hàng cũng như sự thoả thuận của hai bên
Hòa chung với sự tăng trưởng của nền kinh tế thì hoạt động của các doanhnghiệp nói chung và của DNVVN nói riêng không ngừng được phát triển cả vềlượng cũng như về chất, do đó nguồn vốn bổ sung cho sản xuất kinh doanh cũngkhông thể bị ngưng trệ Chính vì vậy, đối tượng khách hàng trong giao dịch tíndụng với ngân hàng hiện nay chủ yếu là doanh nghiệp
1.3 Phát triển tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.3.1 Quan niệm về phát triển tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Phát triển là sự biến đổi hoặc làm cho biến đổi theo chiều hướng tăng từ ít lênnhiều, từ nhỏ lên lớn, từ hẹp thành rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản sang phứctạp Phát triển là một khái niệm bao hàm cả sự tăng trưởng, là quá trình tăng tiến
về mọi mặt của một vấn để trong một thời kỳ nhất định
Phát triển hoạt động tín dụng đối với DNVVN bao gồm cả sự mở rộng vềquy mô cũng như thay đổi cơ cấu theo hướng hợp lý và nâng cao chất lượng tíndụng đối với các DNVVN
Sự mở rộng quy mô tín dụng đối với DNVVN là sự gia tăng về số lượngkhách hàng, doanh số cho vay và dư nợ của ngân hàng trong một khoảng thời giannhất định
Sự thay đổi cơ cấu theo hướng hợp lý là sự thay đổi của tỷ trọng tín dụng ngắnhạn với tín dụng trung dài hạn hay tỷ trọng tín dụng của đồng nội tệ với đồng ngoại tệtrong tổng dư nợ tín dụng theo hướng ngày càng phù hợp với xu thế của nền kinh tế.Còn nâng cao chất lượng tín dụng thể hiện qua các chỉ tiêu tuyệt đối và tươngđối thực tế như: dư nợ quá hạn thấp, tỷ lệ nợ quá hạn thấp, tỷ trọng nợ xấu trong
Trang 22tổng dư nợ nhỏ, các khoản tín dụng được sử dụng đúng với mục tiêu cấp tín dụng,các dự án được cấp tín dụng có tính khả thi cao, các khoản tín dụng có tính an toàncao Ngoài ra tín dụng còn phải đáp ứng được các nhu cầu của khách hàng.
1.3.2 Một số chỉ tiêu đánh giá sự phát triển tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, và thực hiện nền kinh tếchuyển đổi như hiện nay thì phát triển hoạt động tín dụng giữa ngân hàng với khuvực DNVVN là yêu cầu rất cấp thiết và quan trọng Phát triển tín dụng đối vớiDNVVN nhằm đáp ứng yêu cầu về vốn để các doanh nghiệp này đổi mới máymóc, thiết bị, cũng như ứng dụng khoa học - kỹ thuật, quy trình công nghệ hiện đạivào sản xuất - kinh doanh qua đó tăng sức cạnh tranh, phát huy vai trò quan trọngđối với phát triển kinh tế của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế Một số cácchỉ tiêu phản ánh sự phát triển hoạt động tín dụng đối với các DNVVN:
+ Chỉ tiêu dư nợ tín dụng đối với DNVVN
Chỉ tiêu Dư nợ tín dụng đối với DNVVN là giá trị tín dụng ngân hàng cấpcho khách hàng là DNVVN tại một thời điểm nhất định
Có thể xem xét chỉ tiêu này dựa vào một số chỉ tiêu tương đối :
Tỷ lệ = x 100%
Tỷ lệ này phản ánh tỷ trọng của hoạt động tín dụng đối DNVVN trong tổngthể hoạt động tín dụng của ngân hàng tại một thời điểm nhất định Tỷ lệ này cànglớn chứng tỏ hoạt động tín dụng đối với DNVVN có vai trò càng quan trọng tronghoạt động tín dụng của ngân hàng và ngược lại
Trang 23Chỉ tiêu tuyệt Doanh số tín dụng đối với DNVVN trong kỳ là giá trị tín dụng
mà DNVVN nhận được từ ngân hàng trong một thời kỳ nhất định thường là trongmột quý hoặc một năm
Việc xem xét chỉ tiêu này có thể dựa trên một số chỉ tiêu tương đối như:
+ Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN
Thu nhập từ hoạt động tín dụng của ngân hàng chủ yếu là nguồn thu nhập từ lãi
và một phần nhỏ từ phí Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động tín dụng đối với DNVVNphản ánh tính sinh lời của hoạt động này Các tỷ lệ thường được dùng để đánh giá là
Tỷ lệ = x 100%
Tỷ lệ này phản ánh tỷ trọng thu lãi từ hoạt động tín dụng DNVVN trong toàn
bộ thu lãi từ hoạt động tín dụng của ngân hàng trong một thời kỳ nhất định Tỷ lệnày càng cao thì chứng tỏ hoạt động tín dụng đối với DNVVN càng có vai tròquan trọng trong hoạt động tín dụng nói riêng và hoạt động kinh doanh nói chungcủa ngân hàng
Trang 24tiêu này ngoài phản ánh mức độ sinh lời còn phần nào phản ánh được sự phát triểncủa hoạt động tín dụng đối với DNVVN của ngân hàng.
+ Chỉ tiêu số lượng khách hàng tín dụng là các DNVVN
Số lượng khách hàng tín dụng là các DNVVN cũng là một chỉ tiêu xem xét
sự tăng trưởng của hoạt động tín dụng Số lượng khách hàng tăng đồng nghĩa vớihoạt động tín dụng có hiệu quả, thu hút và đáp ứng được yêu cầu vay vốn củanhiều khách hàng
+ Chỉ tiêu nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn:
Nợ quá hạn là nợ mà một phần hay toàn bộ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn trả
Tỷ lệ nợ quá hạn của DNVVN = x 100%
Tỷ lệ nợ quá hạn càng thấp thì chất lượng tín dụng DNVVN của ngân hàngcàng cao và ngược lại Tỷ lệ nợ quá hạn là chỉ tiêu phản ánh rõ nhất chất lượng tíndụng của ngân hàng, thể hiện tính rủi ro của hoạt động này
+ Chỉ tiêu nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu
Nợ xấu bao gồm các khoản nợ nằm trong nhóm 3 đến nhóm 5 theo quy địnhphân loại nợ:
Nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) là các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánhgiá không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn ( Nợ quá hạn từ 90 ngàyđến 180 ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày) Các khoản nợnày được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi
Nợ nhóm 4 ( nợ nghi ngờ ) là các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày dến 180 ngày Các khoản
nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là khả năng tổn thất cao
Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn ) là nợ quá hạn trên 360 ngày, nợ cơ cấulại thời hạn trả nợ trên 180 ngày và nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý Các khoản nợnày được tổ chức tín dụng đánh giá là không còn khả năng thu hồi vốn
Trang 25+ Chỉ tiêu về cơ cấu dư nợ DNVVN
Vào những thời kỳ khác nhau, các ngân hàng xác định mục tiêu, chính sáchphát triển khác nhau qua đó điều chỉnh hoạt động tín dụng theo cơ cấu hợp lý, đảmbảo sự phát triển của ngân hàng
Phân theo kỳ hạn thì cơ cấu dư nợ DNVVN bao gồm dư nợ tín dụng ngắnhạn, dư nợ tín dụng trung và dài hạn
Phân theo tiền tệ thì cơ cấu dư nợ DNVVN bao gồm dư nợ tín dụng DNVVNnội tệ và dư nợ tín dụng DNVVN ngoại tệ
Phân theo chủ thể thì cơ cấu dư nợ cho vay bao gồm dư nợ tín dụng Doanhnghiệp nhà nước, dư nợ tín dụng Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
+ Chỉ tiêu mức độ thỏa mãn nhu cầu khách hàng:
Nếu ngân hàng đem lại sự thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng thì khôngnhững tăng được số lượng khách hàng mà còn chứng tỏ chất lượng của các dịch vụngân hàng ngày càng được nâng cao
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, áp lực cạnh tranh của các doanhnghiệp là rất lớn, do đój các DNVVN phải không ngừng mở rộng sản xuất kinhdoanh, nâng cao chất lượng sản phẩm mới có thể tồn tại và phát triển Chính vì vậynhu cầu về vốn của các DNVVN không ngừng tăng, vậy nên việc phát triển tíndụng để cung cấp vốn cho DNVVN là hết sức cần thiết, nhằm tối ưu hoá cácnguồn lực xã hội Để làm được điều này thì cán bộ ngân hàng cần hiểu rõ nhữngnhân tố có thể tác động đến việc phát triển tín dụng bao gồm các yếu tố bên trong
và yếu tố bên ngoài có liên quan đến hoạt động ngân hàng
1.3.3.1 Các nhân tố liên quan đến bản thân các Ngân hàng thương mại.
Trong các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng DNVVN của ngân hàng
ta có thể thấy rất rõ các yếu tố chủ quan, những yếu tố đến từ chính bản thân ngânhàng tác động:
Quy mô nguồn vốn của ngân hàng.
Quy mô nguồn vốn của ngân hàng là yếu tố cung cấp năng lực tài chính, là
Trang 26nền tảng cho hoạt động tín dụng Nếu ngân hàng có quy mô nguồn vốn lớn thì khảnăng đáp ứng nhu cầu tín dụng của các DNVVN sẽ cao hơn và thông qua đó gópphần phát triển tín dụng.
Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng là những định hướng chung về hoạt động cho vay nhưquy trình tín dụng, các quy định đảm bảo tiền vay của từng ngân hàng, về lãi suấttín dụng… Những định hướng này sẽ giúp tín dụng hoạt động có hiệu quả Chínhsách cho vay đúng đắn, đầy đủ, đồng bộ sẽ xác định phương hướng cho cán bộ tíndụng khi thực hiện nhiệm vụ của mình, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của hoạtđộng tín dụng Ngược lại một chính sách tín dụng không đầy đủ, không thống nhất
sẽ tạo ra định hướng lệch lạc cho hoạt động tín dụng dẫn đến việc cấp tín dụngkhông đúng đối tượng, tạo ra kẽ hở cho người sử dụng vốn, gây rủi ro tín dụng.Ngoài ra, chính sách tín dụng linh hoạt cũng là một nhân tố thúc đẩy hoạt động tíndụng phát triển, đặc biệt là trong môi trường kinh doanh ngày càng gay gắt giữacác NHTM như hiện nay Ở nước ta tín dụng đối với DNVVN là khoản mục tíndụng có mức độ rủi ro cao do vậy mặc dù xác định khách hàng DNVVN là thịtrường tiềm năng nhưng các ngân hàng vẫn cần xem xét lại một cách chặt chẽ cácyêu cầu, điều kiện tín dụng Nếu xây dựng được một chính sách tín dụng thực sựlinh hoạt và hợp lý thì ngân hàng có thể sẽ đạt được sự tăng trưởng cả về quy môlẫn chất lượng trong hoạt động tín dụng đối với DNVVN
Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng là một tập hợp những nội dung kỹ thuật hướng dẫn vềtrình tự tổ chức thực hiện các nghiệp vụ cho vay của ngân hàng từ khi phát sinhđến khi kết thúc một khoản vay, quy trình này bao gồm các bước:
Thẩm định trước khi cho vay: Để quyết định có nên cho DNVVN vay haykhông, NHTM sẽ cần tiến hành thẩm định Khi đó NHTM cần xem xét khách hàng là
ai, mục đích vay vốn là gì, phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có khảthi không, có đủ khả năng tài chính để trả nợ hay không… Sau các khâu thẩm địnhqua cán bộ tín dụng và trưởng phòng tín dụng ( người có thẩm quyền quyết định chovay ), nếu khoản vay này được chấp thuận thì NHTM sẽ tiến hành giải ngân
Trang 27Theo dõi trong quá trình cho vay: Khi tiền cho vay được giải ngân, nhiệm vụcủa cán bộ tín dụng là tiếp tục theo dõi diễn biến của khoản vay tín dụng để pháthiện kịp thời khi thấy có những biểu hiện rủi ro tín dụng có thể xảy ra, đồng thời có biệnpháp phòng ngừa, kiểm tra khoản vay có sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng đãcam kết hay không là cơ sở để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn và khả năng thu hồi vốn.Đánh giá sau khi kết thúc khoản vay: Sau khi đã thu hồi vốn cả gốc lẫn lãi,NHTM cần kiểm tra việc sử dụng vốn và đánh giá hiệu quả của khoản vay, qua đórút ra những kinh nghiệm trong hoạt động cấp tín dụng nhằm thúc đẩy hoạt độngtín dụng ngày càng được mở rộng
Lãi suất tín dụng
Lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhấtđịnh mà người sử dụng trả cho người sở hữu số vốn đó Thông thường để đảm bảoquyền lợi của người gửi tiết kiệm cũng như lợi nhuận của NHTM và DNVVN thìchính sách lãi suất được quy định theo xu hướng là lãi suất tiền gửi nhỏ hơn lãisuất tiền vay và lãi suất tiền vay nhỏ hơn lợi nhuận bình quân của doanh nghiệp,đồng thời lãi suất tiền gửi phải lớn hơn tỉ lệ lạm phát Tuy nhiên, chính sách lãi suấtcũng còn tuỳ thuộc vào chính sách tín dụng của từng ngân hàng sao cho vừa đảmbảo lợi nhuận ngân hàng mà vừa đảm bảo các chỉ tiêu của chính sách quốc gia Sựchênh lệch lãi suất giữa các ngân hàng chính là một trong những yếu tố để kháchhàng chọn lựa vì vậy với một mức lãi suất cạnh tranh thì ngân hàng có thể thu hútđược nhiều hơn các khách hàng, mở rộng hoạt động tín dụng của ngân hàng
Mạng lưới hoạt động của ngân hàng
Mạng lưới hoạt động của ngân hàng chính là một nhân tố quyết định tới khảnăng tiếp khách hàng là DNVVN, đồng thời tác động đến khả năng giám sát, theodõi của ngân hàng đối với khách hàng Do các DNVVN phân bố rộng rãi trên tất
cả mọi vùng miền nên chỉ các ngân hàng có mạng lưới chi nhánh, chi nhánh rộngkhắp các tỉnh, các địa bàn trên thành phố mới thu hút được đông đảo khách hàng làDNVVN Ngoài ra, các cơ sở sản xuất kinh doanh của DNVVN thường phân tángây khó khắn cho công tác giám sát khách hàng nên nếu có được một mạng lướirộng khắp sẽ hạn chế được các rủi ro, nâng cao hiệu quả giám sát
Trang 28Trình độ công nghệ, trang thiết bị của ngân hàng
Có được công nghệ và trang thiết bị hiện đại sẽ giúp cho quá trình thu thập,phân tích, xử lý dữ liệu và quản lý thông tin hiệu quả hơn, tiết kiệm chi phí và thờigian cho quá trình này, qua đó giúp ngân hàng có thể nâng cao năng lực cạnhtranh Mặt khác với công nghệ trang thiết bị hiện đại thì các giao dịch sẽ được diễn
ra chính xác, nhanh chóng và thuận lợi hơn
Trình độ, năng lực của cán bộ tín dụng.
Trong bất cứ một hoạt động nào, bên cạnh những máy móc, những thiết bịtiên tiến, con người vẫn luôn đóng vai trò rất lớn cho sự thành công Chính vì vậykhi nói đến sự phát triển hoạt động tín dụng đối với các DNVVN không thể không
Đối với các cán bộ tín dụng, ngoài vấn đề về trình độ thì tác phong, thái độlàm việc cũng rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển của hoạtđộng tín dụng đối với DNVVN Cán bộ tín dụng thông thạo nghiệp vụ, nhanhnhẹn, linh động trong giao tiếp ứng xử đối với khách hàng chính là yếu tố làm tăngkhả năng thu hút khách hàng đến với ngân hàng
Việc kinh doanh của các NHTM trước hết dựa trên uy tín và sự tín nhiệm.Việc lựa chọn ngân hàng nào để tiếp cận nguồn vốn tín dụng không chỉ phụ thuộcvào chính sách, mức lãi suất của ngân hàng mà còn phụ thuộc vào uy tín, chấtlượng phục vụ của ngân hàng đó
Như vậy ngân hàng không những đạt được mức tăng trưởng tín dụng mà còn
hạn chế được rủi ro, nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN
Kiểm soát nội bộ
Nhân tố này có tác động không nhỏ đến hoạt động tín dụng của NHTM Sỡ dĩ
Trang 29trong quá trình cấp tín dụng, hoạt động kiểm soát là hoạt động thường xuyên, cầnthiết đối với các NHTM là vì, nếu thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát càngthường xuyên, chặt chẽ thì sẽ đảm bảo cho hoạt động tín dụng đi đúng hướng, thựchiện đúng nguyên tắc, đúng quy trình tín dụng Đồng thời thông qua kiểm tra, kiểmsoát nội bộ, NHTM có thể phát hiện ra được những sai phạm, yếu kém trong hoạtđộng tín dụng Từ đó có các biện pháp xử lý, chỉnh sửa kịp thời để ngày càng nângcao chất lượng tín dụng cũng như mở rộng hoạt động này
Trình độ Marketing của ngân hàng
Đây là một nhân tố rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường hiện nay Nếu
có một chiến lược Marketing hợp lý và hiệu quả thì ngân hàng sẽ có cơ hội rất lớn
để chiếm lĩnh được thị trường, phát triển hoạt động tín dụng đối với DNVVN, qua
đó nâng cao lợi nhuận kinh doanh cho ngân hàng
1.3.3.2 Nhân tố vĩ mô.
Sự phát triển của nền kinh tế:
Nhìn chung sự phát triển của nền kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt độngcủa các chủ thể kinh tế nói chung cũng như của hệ thống NHTM nói riêng Vớimột nền kinh tế ổn định thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của ngân hàng.Không những vậy, nền kinh tế ổn định còn giúp hoạt động của các DNVVN diễn
ra bình thường, không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố kinh tế như khủng hoảng, lạmphát nên có khả năng trả nợ đúng hạn, đúng kế hoạch do đó tiến hành mở rộng tíndụng cũng đơn giản hơn
Môi trường văn hóa xã hội
Môi trường văn hóa xã hội cũng tác động đến sự phát triển của hoạt động tíndụng của các NHTM thông qua các yếu tố như sự phân bố của ngành nghề, phân
bố lao động; tốc độ đô thị hóa, mức độ phát triển và vấn đề về mức độ ổn địnhcủa xã hội, trình độ dân trí, tư cách đạo đức của người đi vay
Nghiên cứu văn hóa, xã hội là một trong những khâu quan trọng giúp choNHTM có thể nhận diện được thị trường tiềm năng, mức độ an toàn của các khoảntín dụng từ đó có những quyết định và chiến lược phát triển tín dụng đối vớiDNVVN nói riêng và hoạt động tín dụng nói chung
Trang 30Môi trường pháp lý
Ảnh hưởng của môi trường pháp lý tới sự phát triển hoạt động tín dụng đốivới DNVVN được thể hiện ở tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, sự đầy đủ thốngnhất của các văn bản dưới luật, gắn liền với quá trình thực hiện nghiêm chỉnh cácquy định của pháp luật Ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tín dụng DNVVN làcác quy định đảm bảo an toàn của Nhà nước về hoạt động ngân hàng
Thực tế nền nước ta những năm qua đã cho thấy: pháp luật đã trở thành một
bộ phận không thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhànước Vài năm trở lại đây, dưới áp lực cạnh tranh của các ngân hàng nước ngoài,
và mới đây nhất là tác động của lạm phát cũng như cuộc khủng hoảnh kinh tế toàncầu, Nhà nước ta đã thực hiện các chính sách thắt chặt tiền tệ và điều chỉnh lãi suấtliên tục làm ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tín dụng đối với khu vực kinh tếnày.Vì vậy, nếu có một hành lang pháp lý đầy đủ, vững chắc thì hoạt động trongnền kinh tế cũng như trong hoạt động tín dụng sẽ diễn ra trôi chảy
1.3.3.3.Các nhân tố thuộc về các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Khả năng tài chính của khách hàng
Tình hình tài chính của doanh nghiệp là một trong những điều kiện tiên quyết
để ngân hàng xem xét quyết định cấp tín dụng cho các DNVVN Nếu DNVVN cókhả năng tài chính tốt sẽ đảm bảo cho khả năng trả nợ cho ngân hàng, chính là sựđảm bảo cho chất lượng tín dụng tại NHTM Năng lực tài chính của doanh nghiệpthể hiện ở khả năng thanh toán, khả năng hoạt động cũng như cơ cấu tài sản và khảnăng sinh lời của doanh nghiệp
Tính khả thi, khả năng sinh lời trong các dự án của khách hàng
Tính khả thi và khả năng sinh lời của các dự án được coi là một yếu tố thenchốt trong việc ra các quyết định liên quan đến hồ sơ xin cấp vốn tín dụng của cácdoanh nghiệp Tuy nhiên nhìn chung công tác xây dựng phương án kinh doanh củacác DNVVN còn gặp nhiều khó khăn mà nguyên nhân chủ yếu là kỹ năng quản lýtài chính còn yếu kém
Tài sản bảo đảm tín dụng
Đây được xem như là nguồn trả nợ thứ hai bên cạnh nguồn trả nợ thứ nhất làthu nhập của khách hàng Yêu cầu về tài sản đảm bảo cũng chính là điểm yếu của
Trang 31các DNVVN, vì hầu hết các tài sản bảo đảm chủ yếu có nguồn gốc từ tài sản cánhân của chủ doanh nghiệp tuy nhiên giá trị của các tài sản cá nhân thường thấphơn rất nhiều so với nhu cầu của các khoản vay.
Hệ thống thông tin tài chính của DNVVN
Việc thiếu một hệ thống thông tin tài chính mang tính chất trung thực, minhbạch và hệ thống kiểm soát hiệu quả, đồng bộ ở DNVVN làm cho các NHTM rấtkhó đánh giá được thực trạng, tình hình tài chính cũng như khả năng sinh lời và thanhtoán các khoản nợ vay của doanh nghiệp, do đó cản trở việc ra các quyết định cho vay
Tình hình sử dụng nguồn vốn tín dụng của khách hàng
Sau khi đã cấp tín dụng thì ngân hàng vẫn thường xuyên kiểm soát và theodõi quá trình sử dụng nguồn vốn tín dụng của khách hàng Đặc biệt là đối với cácDNVVN chưa tạo lập được uy tín vững vàng thì quá trình sử dụng vốn cần tuân thủđúng cam kết trong hợp đồng để có hiệu quả thực sự Điều này không những mang lạilợi nhuận cho bản thân các DNVVN mà nó còn là bước thiết lập mối quan hệ tín dụnglâu dài với các ngân hàng, tạo cơ sở cho sự phát triển ổn định của các DNVVN