1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NHTM CỔ PHẦN ĐẠI TÍN CHI NHÁNH HÀ NỘI

70 205 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 808 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động tín dụng mạnh mẽ là một kênhgiúp cho nền kinh tế có nguồn vốn dồi dào để đầu tư, phát triển, cung cấp vốn chohoạt động sản xuất kinh doanh và nhu cầu dịch vụ đời sống, làm đầu

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế nước

ta đã và đang hội nhập với nền kinh tế thế giới, thực hiện quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa, đưa nước ta trở thành nước phát triển, dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh

Góp phần không nhỏ vào tiến trình phát triển của đất nước, hệ thống ngânhàng có nhiệm vụ huy động vốn và cung cấp các dịch vụ tiền tệ tín dụng cho xãhội, cho nền kinh tế.Do vậy sự phát triển của nền kinh tế không thể thiếu vai trò củahoạt động tiền tệ tín dụng ngân hàng Hoạt động tín dụng mạnh mẽ là một kênhgiúp cho nền kinh tế có nguồn vốn dồi dào để đầu tư, phát triển, cung cấp vốn chohoạt động sản xuất kinh doanh và nhu cầu dịch vụ đời sống, làm đầu mối trung giannhằm điều hòa cung cầu tiền tệ trong phạm vi toàn xã hội.Vì thế hoạt động cho vayhuy động vốn là một nghiệp vụ quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mộtngân hàng thương mại

Hiện nay theo số liệu thống kê tính đến cuối năm 2010 số doanh nghiệp vừa vànhỏ chiếm khoảng 96% tổng số doanh nghiệp trong cả nước Đóng góp của doanhnghiệp vừa và nhỏ vào GDP chiếm tỉ trọng khá cao – trung bình khoảng 40-60%/năm.Các doanh nghiệp này giữ vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, trongtương lai nó sẽ là đối tượng cạnh tranh gay gắt của các tổ chức tín dụng Nhưng domột số vấn đề hạn chế mà việc cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại nhiều nơi vẫncòn chưa được mở rộng Do vậy vấn đề đẩy mạnh cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

sẽ giúp cho các doanh nghiệp này có điều kiện tốt hơn để phát triển kinh doanhđồng thời cũng giúp cho Ngân hàng mở rộng hơn trong lĩnh vực tín dụng của mình.Nhận thức được sự phát triển và tiềm năng của doanh nghiệp vừa và nhỏ, NgânHàng TMCP ĐẠI TÍN đã có chủ trương mở rộng cho vay sang khu vực doanhnghiệp này với mục đích mở rộng thị phần, tăng trưởng tín dụng và cung cấp dịch

vụ để thu phí

Trang 3

Với những vấn đề nêu trên cùng với quá trình thực tập tại NHTM CP ĐẠITÍN chi nhánh Hà Nội “GẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANHNGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NHTM CỔ PHẦN ĐẠI TÍN CHI NHÁNH HÀNỘI” là đề tài được chọn nghiên cứu trong quá trình thực tập Qua đề tài này emtìm hiểu , tổng hợp lý thuyết cơ bản liên quan đến đề tài và nghiên cứu thực trạng

mở rộng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngận Hàng TMCPĐẠI TÍN CHI NHÁNH HÀ NỘI bằng việc tìm hiểu tài liệu và thu thập số liệu hoạtđộng của chi nhánh

Cấu trúc đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về mở rộng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY

ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

1.1.Tổng quan về ngân hàng thương mại

1.1.1.Khái niệm về ngân hàng thương mại:

Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính trung gian có vị trí quan trọng nhấttrong nền kinh tế, tổng tài sản của NHTM luôn luôn có khối lượng lớn nhất trong toàn

bộ nền kinh tế ngân hàng Mặt khác, khối lượng séc hay tiền gửi không kỳ hạn mà nó

có thể tạo ra chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cung tiền trrj M1 của cả nền kinh tế

Có nhiều khái niệm khác nhau về NHTM :

Ở Hoa Kỳ: NHTM là công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tàichính và hoạt động ngành công nghiệp dịch vụ tài chính

Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sỡ nào thường xuyên nhận củacông chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng chochính họ vào nghiệ vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính

Ở Việt Nam theo sắc lệnh số 18CT/LDGCQL/SL ngày 20/10/1969 của chínhquyền Sài Gòn cũ cho rằng: NHTM là mọi xí nghiệp công hay tư laapjkeer cả chinhánh hay phân cục ngân hàng ngoại quốc mà hoạt động thường xuyên là thi hànhcho chính mình nghiệp vụ tín dụng, chiết khấu, tài chính với tiền ký thác của tưnhân hay xí nghiệp hay cơ quan công quyền

Theo Pháp lệnh ngân hàng ngày 23/05/1990 của Hội đồng Nhà nước xácđịnh”ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu vàthường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng sốtiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và là phương tiện thanh toán” Qua những khái niệm trên có thể rút ra một số điểm đặc trưng của Ngân hàngthương mại như sau:

 Ngân hàng thương mại là một tổ chức được phép sử dụng ký thác của côngchúng với trách nhiệm hoàn trả

Trang 5

 Ngân hàng thương mại là một tổ chức được phép sử dụng ký thác của côngchúng để cho vay, chiết khấu và thực hiện các dịch vụ tài chính khác

Cần phân biệt ngân hàng thương mại với các tổ chức tín dụng khác:

•Vào cuối thập niên 60, điểm đặc thù để phân biệt ngân hàng thương mại vớicác ngân hàng trung gian khác đó là ngân hàng thương mại là đơn vị duy nhất đượcphép mở tài khoản tiền gửi không kỳ hạn cho công chúng điều này có nghĩa làngười ta phân biệt nó dựa trên các thành phần của tài sản Nợ Vào lúc này tiền gửikhông kỳ hạn bị cấm trả lãi, tuy nhiên vì nhu ầu giao dịch thông qua Séc vẫn tănggấp đôi hàng năm, do đó khối lượng sé phát hành từ tài khoản gửi không kỳ hạntiếp tục tăng mạnh sau bộ phận tiền mặt pháp định,

•Từ ng năm 80 trở đi, sau khi tiền gửi không kỳ hạn được phép trả lãi, các ngân hàng tiết kiệm và các tổ chức tín dụng khác cũng được quyền và bắt đầu mở tài

khoản không kỳ hạn, cho phép công chúng sử dụng Séc một cách linh hoạt, đa dạng dưới nhiều hình thức Lúc này việc phân biệt ngân hàng thương mại với các ngân hàng khác dựa vào tài sản Nợ không còn phù hợp nữa, do vậy các chuyên gia phương Tây chuyển sang dựa trên tài sản Có để làm tiêu thức phân biệt Theo tiêu thức này một ngân hàng thương mại là ngân hàng trung gian mà tỷ lệ vốn cho vay vàomục đích thương mại và công nghiệp chiếm đa số trong tài sản Có của nó

1.1.2.Các hoạt động của Ngân hàng Thương Mại

1.1.2.1.Hoạt động huy động vốn:

Hoạt động huy động vốn hay còn gọi là nghiệp vụ tạo vốn trong ngân hàng,làm tăng giá trị nguồn vốn trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng, cơ bản gồmcác hình thức sau:

Nhận tiền gửi: NHTM nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức

tín dụng khác dưới các hình thức tiềng gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và cácloại tiền gửi khác

Phát hành giấy tờ có giá: NHTM phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và

các giấy tờ có giá để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nướckhi được Thống đốc NHNN chấp thuận

Vay của các tổ chức tín dụng khác : Hoạt động này cho phép NHTM được

Trang 6

vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ chức tíndụng nước ngoài Các NHTM có thể vay và cho vay lẫn nhau thông qua thị trườngliên ngân hàng ( Interbank Market ) Đây là trường hợp ngân hàng có lượng tiền gửitại NHNN thấp và không đáp ứng được nhu cầu chi trả, khi đó dưới sự tổ chức củaNHNN, ngân hàng này sẽ được vay của ngân hàng khác có lượng tiền gửi dư thừatại NHNN Ngoài ra các ngân hàng cũng có thể cho vay trực tiếp lẫn nhau màkhông thông qua thị trường liên ngân hàng Phương thức này rất linh hoạt giúp cácNHTM cân đối vốn một cách kịp thời Tuy nhiên quá trình vay vốn từ các tổ chứctín dụng khác phải đảm bảo các nguyên tắc sau :

+ Các ngân hàng phải hoạt động hợp pháp

+ Thực hiện việc cho vay và đi vay trên cơ sở hợp đồng tín dụng

+ Vốn vay phải có sự đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh củaNHNN

Vy vốn ngắn hạn của NHNN: đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp

bách trong chi trả của NHTM Các NHTM trong trường hợp thiếu khả năng chi trảhoặc thiếu hụt dự trữ tạm thời có thể vay NHTW Một số hình thức cho vay củaNHNN đối với NHTM:

+ Tái cấp vốn

+ Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu các giấy tờ có giá ngắn hạn khác… + Cho vay có đảm bảo bằng thế chấp hoặc có cầm cố thương phiếu và cácgiấy tờ có giá ngắn hạn khác

- Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN

1.1.2.2.Hoạt động sử dụng vốn:

Với nguồn vốn huy động được, NHNN sẽ sử dụng trong nhiều hoạt động khácnhau để nhằm mục đích tạo lợi nhuận cho ngân hàng Trong đó quan trọng nhất làcác hoạt động sau:

- Hoạt động ngân quỹ: Là hoạt động huy động bảo đảm khả năng chi trả thanhtoán thường xuyên của ngân hàng Nguồn đảm bảo cho khả năng này là những tài sản cótính lỏng cao

- Hoạt động đầu tư: Ngân hàng có thể tham gia vào các hoạt động đầu tư trên

Trang 7

thị trường chứng khoán, góp vốn liên doanh liên kết nhằm sinh lời và phân tán rủi ro

- Hoạt động tín dụng : Theo điều 20, khoản 08, luật các tổ chức tín dụng

1997 và sửa đổi năm 2004, hoạt động tín dụng là việc các tổ chức tín dụng sử dụngnguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng Như vậy có thể hiểu, tíndụng là quan hệ vay mượn, bao gồm cả việc đi vay và cho vay Tuy nhiên khi gắntín dụng với một chủ thể nhất định thì tín dụng ngân hàng bao hàm nghĩa là chovay Có thể nói, tín dụng là hoạt động truyền thống và chủ yếu tạo ra lợi nhuận chongân hàng Hoạt động này bao gồm :

+ Cho vay: Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kếtkhách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định Cho vay làtài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng Các phương thức cho vay của NHTM rất

đa dạng Nếu căn cứ theo thời hạn cho vay, NHTM được cho các tổ chức,cá nhânvay vốn dưới các hình thức: cho vay ngắn hạn và cho vay trung hạn,dài hạn để thựchiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ…Nếu căn cứ theo tàisản đảm bảo, cho vay lại bao gồm cho vay có tài sản đảm bảo và cho vay không cầntài sản đảm bảo Trong đó, cho vay không cần tài sản đảm bảo có thể được cấp chokhách hàng có uy tín, là khách hàng có mối quan hệ tốt với ngân hàng, thườngxuyên và có tình hình tài chính minh bạch, ít xảy ra nợ xấu Bên cạnh đó, nếu căn

cứ theo mức độ rủi ro thì cho vay lại có các khoản vay lành mạnh và các khoản vay

có vấn đề Các khoản vay lành mạnh là các khoản vay đảm bảo tính thu hồi nợ cao,ngược lại là các khoản vay không đảm bảo Các cách phân loại này giúp ngân hàngthường xuyên đánh giá lại tính an toàn của các khoản vay, trích lập dự phòng tổnthất kịp thời

Và khi đã chấp nhận cho khách hàng vay, ngân hàng phải lập hợp đồng tíndụng Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện cho vay, chứng minh đượcmục đích sử dụng vốn vay, hình thức cho vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay,hình thức bảo đảm, tài sản đảm bảo, phương thức trả nợ và những cam kết bắt buộckhác tùy từng quy định của ngân hàng Có thể nói họat động cho vay của ngân hàngđem lại một tỷ lệ sinh lời cao nhất nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất

Trang 8

trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng

+ Chiết khấu thương phiếu: Là việc ngân hàng ứng trước cho khách hàng mộtkhoản tiền bằng mệnh giá thương phiếu trừ đi lãi suất triết khấu và hoa hồng phí,đổi lại ngân hàng sẽ được sở hữu một thương phiếu chưa hết hạn ( hoặc một giấy nợ) Khi thương phiếu hết hạn, ngân hàng sẽ tiến hành thu nợ thương phiếu

1.1.3 Các chức năng của ngân hàng thương mại:

1.1.3.1 Chức năng trung gian tín dụng

NHTM là cầu nối giữa những người có vốn dư thừa và những người có nhucầu về vốn Thông qua việc huy động khai thác các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhànrỗi trong nền kinh tế, NH hình thành nên quỹ cho vay cấp tín dụng cho nền kinh tế.Với chức năng này NH vừa đóng vai trò là chủ thể đi vay, vừa đóng vai trò là chủthể cho vay

Xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình tái sản xuất xã hội,NHTM với vai trò là một tổ chức chuyên kinh doanh về tiền tệ, tín dụng, nắm bắttình hình cung cầu về vốn tín dụng sẽ thực hiện và chuyển giao vốn một cách cóhiệu quả Thông qua việc thu hút tiền gửi với khối lượng lớn, NH có thể giải quyếtmối quan hệ giữa cung và cầu vốn tín dụng về khối lượng và cả thời gian tín dụng.Thông qua chức năng trung gian tín dụng NHTM góp phần tạo lợi ích cho tất

cả các chủ thể kinh tế tham gia và lợi ích chung của nền kinh tế

Đối với người gửi tiền: Họ sẽ thu được lợi từ các khoản vốn tạm thời nhàn rỗidưới hình thức lãi tiền gửi, đồng thời NH cũng đảm bảo an toàn cho các khoản tiềngửi và cung cấp cho khách hàng những dịch vụ thanh toán tiện lợi

Đối với người vay: Họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu về vốn để kinh doanh, chitiêu, thanh toán mà không phải tiêu tốn nhiều chi phí về sức lực, thời gian cho việctìm kiếm nơi cung ứng vốn tiện lợi chắc chắn và hợp pháp

Đối với bản thân NH: NH sẽ tìm kiếm được khản lợi nhuận từ chênh lệch giữalãi xuất cho vay và lãi xuất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới đây là yếu tố quyếtđịnh cho sự tồn tại và phát triển của NHTM

Đối với nền kinh tế: Chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy

Trang 9

nền kinh tế tăng trưởng, vì nó đáp ứng được nhu cầu về vốn để đảm bảo quá trìnhsản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất Với chức năng này,

NH đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt đôngj, kích thích quátrình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh

1.1.3.2 Chức năng trung gian thanh toán

NH làm chức năng trung gian thanh toán khi nó thực hiện theo yêu cầu củakhách hàng như trích một khoản tiền trên tài khoản tiền gửi để thanh toán tiền hànghóa, dịch vụ hoặc nhập vào khoản tiền gửi của khách hàng từ bán hàng hóa hoặccác khoản thu khác

NH thực hiện chức năng trung gian thanh toán làm cho nó trở thành thủ quỷcho khách hàng Việc nhận tiền gửi và theo dõi các khoản thu, chi trên tài khoảntiền gửi của khách làm cho NH thực hiện được vai trò trung gian thanh toán Trênthực tế, khi việc thanh toán trực tiếp giữa các chủ thể kinh tế bằng tiền mặt gặpnhiều hạn chế và rủi ro cao, do phải tập hợp, kiểm tra, vận chuyển làm cho chi phíthanh toán cao mà lại thiếu chính xác và an toàn, đặc biệt là khi hai đơn vị này cách

xa nhau, điều này tạo nên nhu cầu và gia tăng khối lượng thanh toán qua NH

Chức năng trung gian thanh toán của NH có ý nghĩa rất lớn đối với các hoạtđộng của nền kinh tế xã hội Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt qua hệthống NH góp phần giảm chi phí và lượng tiền mặt trong lưu thông và đảm bảo antoàn trong thanh toán Việc lựa chọn phương thức thanh toán không dùng tiền mặtthích hợp cho phép khách hàng thực hiện thanh toán nhanh chóng và hiệu quả, điềunày góp phần tăng tốc độ lưu thông hàng hóa, tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quảcủa quá trình tái sản xuất xã hội Mặt khác, việc cung ứng các dịch vụ thanh toánkhông dùng tiền mặt giúp cho NH thu hút nhiều khách hàng mở tài khoản tại NH và

do đó tạo điều kiện để thu hút nguồn vốn tiền gửi

Khi kết hợp chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian thanh toántaọ cho NHTM khă năng tạo ra tiền ghi sổ thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanhtoán của khách hàng tại NHTM Từ một lượng tiền gửi ban đầu, qua nghiệp vụ chovay dưới hình thức chuyển khoản, đã làm cho số dư trên tài khoản tiền gửi trong hệ

Trang 10

thống NHTM tăng lên.

NHTM có khả năng mở rộng tiền gửi không kỳ hạn từ một khoản tiền gửi banđầu, hoặc từ một khoản tiền nhận được từ ngân hàng trung ương thông qua việc cấptín dụng cho khách hàng Khi NHTM huy động tiền gửi không kỳ hạn và cung cấpcác dịch vụ trung gian thanh toán cho khách hàng, đều có khả năn tạo ra một lượngtiền gửi mở rộng Điều này được thể hiện khi mỗi lần thanh toán chuyển tiền từ tàikhoản này sang tài khoản khác để thực hiện một khoản thanh toán tiền hàng hóadịch vụ, lượng tiền gửi ban đầu không ra khỏi hệ thống NH nhưng số dư trên tàikhoản tiền gửi gia tăng về lượng Tốc độ gia tăng tiền tệ phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữbắt buộc, tỷ lệ sử dụng tiền mặt của khách hàng tiền gửi thanh toán, tỷ lệ dự trữ tiềnmặt thừa trên tiền gửi không kỳ hạn tại NH Cơ chế tạo tiền của NHTM cho thấymối quan hệ giữa tín dụng và lưu thông tiền tệ, việc mở rộng khối lượng tín dụng cóảnh hưởng đến khối tiền tệ lưu thông

Như vậy, các chức năng của NHTM có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổsung, hỗ trợ cho nhau, trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản,tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau Đồng thời, khi NH thực hiện tốtchức năng trung gian thanh toán lại góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng mở rộngquy mô hoạt động của NH

1.2.Hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp vừa vả nhỏ của ngân hàng thương mại

1.2.1.Khái niệm về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại:

Theo quyết định số 1627/2001/QĐ – NHNN của Thống đốc NHNN về việcban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, cho vay là mộthình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng mộtkhoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận vớinguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi

NHTM có thể tiến hành cho vay với nhiều đối tượng khách hàng như các cánhân, các DN… Tuy nhiên, tùy theo đối tượng vay vốn, khái niệm cho vay có thểđược hiểu theo những khía cạnh khác nhau Hiện nay, trong các đối tượng khách

Trang 11

hàng của NHTM thì DNVVN là đối tượng khách hàng có nhiều tiềm năng nhất Ưuđiểm của DNVVN không chỉ là sự gia tăng ngày càng lớn về số lượng mà còn lànhững đóng góp cho sự phát triển kinh tế và tăng thu nhập dân cư Vậy có thể hiểu

một cách khái quát rằng, cho vay DNVVN là hình thức cho vay mà theo đó ngân

hàng thương mại cho DNVVN sử dụng một khoản tiền để dùng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.

Khái niệm cho vay DNVVN là cơ sở trong việc phân loại các phương thứccho vay cũng như xác định đối tượng khách hàng vay vốn của NHTM

1.2.2.Khái quát hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM

1.2.2.1.Khái niệm, đặc điểm, vai trò của Doanh Nghiệp vừa và nhỏ

 Khái niệm về Doanh Nghiệp Vừa và Nhỏ:

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch

ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích thựchiện các hoạt động kinh doanh - tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các côngdoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụtrên thị trường nhằm mục đích sinh lời

Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) là những doanh nghiệp có quy mônhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thểchia thành ba loại căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanhnghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa Theo tiêu chí phân nhóm ở Việt Nam, theoNghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, qui định số lượnglao động trung bình hàng năm từ 200 đến 300 người lao động và có số vốn phápđịnh nhỏ hơn 10 tỷ đồng được coi là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó không phânbiệt doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một doanhnghiệp hoạt động độc lập trong một lĩnh vực kinh doanh nhưng không thống trịtrong lĩnh vực kinh doanh của mình

Công thức xác định quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc một ngành hoặc

Trang 12

địa bàn cụ thể như sau:

Sa : quy mô vừa và nhỏ chung trong một nước.

 Đặc Điểm của Doanh Nghiệp Vừa và Nhỏ:

Bên cạnh những đặc điểm của Doanh nghiệp nói chung như hoạt động sảnxuất kinh doanh hay dịch vụ nhằm tối đa hóa lợi nhuận, các DNVVN cũng cónhững đặc điểm riêng

- Dễ dàng khởi sự, bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ và năng động, nhạy bén với thay đổi của thị trường.

Doanh nghiệp chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằng khônglớn, các điều kiện sản xuất đơn giản là đó có thể bắt đầu hoạtđộng Vòng quay sản phẩm nhanh nên có thể sử dụng vốn tự có,hoặc vay bạn bè, người thân dễ dàng Bộ máy tổ chức gọn nhẹ linhhoạt, dễ quản lý, dễ quyết định Đồng thời, do tính chất linh hoạtcũng như quy mô nhỏ của nó, doanh nghiệp có thể dễ dàng pháthiện thay đổi nhu cầu của thị trường, nhanh chóng chuyển đổihướng kinh doanh, phát huy tính năng động sáng tạo, tự chủ, nhạybén trong lựa chọn thay đổi mặt hàng Từ đó doanh nghiệp sẽ tạo

ra sự sống động trong phát triển kinh tế

- Sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi

ro cao.

Đó là bởi vì các doanh nghiệp loại này có mức vốn đầu tư nhỏ,

sử dụng ít lao động nên có khả năng sẵn sàng mạo hiểm Trong

Trang 13

trường hợp thất bại thì cũng không bị thiệt hại nặng nề như cácdoanh nghiệp lớn, có thể làm lại từ đầu được Bên cạnh đó cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ có động cơ để đi vào các lĩnh vực mớinày: do tính chất nhỏ bé về quy mô nên khó cạnh tranh với cácdoanh nghiệp lớn trong sản xuất dây chuyền hàng loạt Họ phảidựa vào lợi nhuận thu được từ các cuộc kinh doanh mạo hiểm.

- Dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp.

Doanh nghiệp có nguồn vốn kinh doanh ít nên đầu tư vào cáctài sản cố định cũng ít, do đó dễ tiến hành đổi mới trang thiết bịkhi điều kiện cho phép Đồng thời doanh nghiệp tận dụng được laođộng dồi dào để thay thế vốn Với chiến lược phát triển, đầu tưđúng đắn,sử dụng hợp lý các nguồn lực của mình, các doanhnghiệp vừa và nhỏ có thể đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao,cũng như có thể sản xuất được hàng hoá có chất lượng tốt và cósức cạnh tranh trên thị trường ngay cả khi điều kiện sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp có nhiều hạn chế

- Không có hoặc ít có xung đột giữa người thuê lao động với người lao động.

Quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ tất nhiên là không lớn lắm

Số lượng lao động trong một doanh nghiệp không nhiều, sự phâncông lao động trong xí nghiệp chưa quá mức rõ rệt Mối quan hệgiữa người thuê lao động và người lao động khá gắn bó Nếu xảy raxung đột, mâu thuẫn thì dễ dàn xếp

Tuy nhiên, bên cạnh một số ưu điểm trên, các DNVVN tại ViệtNam hiện nay còn khá nhiều hạn chế.Có thể thấy hạn chế của loạihình doanh nghiệp này đến từ hai nguồn Các hạn chế khách quanđến từ thực tế bên ngoài, và các hạn chế đến từ chính các lợi thếcủa DNVVN

Trang 14

- Hạn chế đầu tiên và lớn nhất của DNVVN nằm trong chínhđặc điểm của nó, đó là quy mô nhỏ, vốn ít, do đó các doanhnghiệp này thường lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng mỗi khimuốn mở rộng thị trường, hay tiến hành đổi mới, nâng cấp trangthiết bị.

- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường phụ thuộc vào doanhnghiệp mà nó cung cấp sản phẩm

- Khó khăn trong nâng cấp trang thiết bị, đầu tư công nghệmới, đặc biệt là các công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng đếnnăng suất lao động, chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thịtrường

- Có nhiều hạn chế trong đào tạo công nhân và chủ doanhnghiệp,thiếu bí quyết và trợ giúp kỹ thuật, không có kinh nghiệmtrong thiết kế sảnphẩm, thiếu đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, nói cách khác là không đủ năng lực sản xuất để đáp ứng các yêu cầu

về chất lượng, khó nâng cao được năng suất và hiệu quả kinh doanh

- Thiếu trợ giúp về tài chính và tiếp cận thị trường, các doanhnghiệp vừa và nhỏ thường tỏ ra bị động trong các quan hệ thịtrường

- Do tính chất vừa và nhỏ của nó, DNVVN gặp khó khăn trongthiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác với các đơn vị kinh tế bênngoài địa phương doanh nghiệp đó đang hoạt động

- Cũng do tính chất vừa và nhỏ của nó, DNVVN gặp khó khăntrong thiết lập chỗ đứng vững chắc trong thị trường

Loại hình DNVVN tại Việt Nam đã và đang có những bước tiếnkhá vững trong nền kinh tế Tuy còn nhiều hạn chế xong không thểphủ nhận được vai trò to lớn của nó đối với nền kinh tế thị trườngđang trên đà đổi mới của Việt Nam

 Vai Trò:

Trang 15

Tạo ra nhiều việc làm với chi phí thấp

Các cơ sở doanh nghiệp vừa và nhỏ rất thích hợp với các phương pháp tiếtkiệm vốn và do đó chúng được công nhận là phương tiện giải quyết thất nghiệp hiệuquả nhất

Do đặc tính phân bố rải rác của chúng Các doanh nghiệp loại này thườngphân tán nên chúng có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều vùng địa lý và nhiềuđối tượng lao động, đặc biệt là với các vùng sâu vùng xa, vùng chưa phát triển kinh

tế, với các đối tượng lao động có trình độ tay nghề thấp.Nhờ vậy chúng vừa giảiquyết thất nghiệp vừa góp phần giảm dòng người chuyển về thành phố tìm việc làm

Do tính linh hoạt, uyển chuyển để thích ứng với các thay đổi của thị trườngcủa các DNVVN Trong trường hợp có biến động xảy ra, các doanh nghiệp lớn sẽđối phó khá chậm chạp, không phải vì cấp quản lý bất tài mà bởi vì doanh nghiệplớn thì khó xoay trở nhanh Họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động, sau đó sẽphải sa thải bớt lao động để cắt giảm chi phí đến mức có thể tồn tại và phát triểnđược trong điều kiện cung lớn hơn cầu Trong khi đó do khả năng linh hoạt, có thểthích ứng nhanh với thay đổi của thị trường, các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn cóthể tồn tại được mà không phải sử dụng đến biện pháp cắt giảm lao động

Cung cấp cho xã hội một khối lượng hàng hoá đáng kể về cả chất lượng,

số lượng và chủng loại

Các DNVVN thu hút một lượng lớn lao động và tài nguyên của xã hội để sảnxuất ra hàng hoá Để có thêm sức cạnh tranh trực tiếp với các công ty và tập đoànlớn, hàng hoá của họ nói chung thiên về sự đa dạng về chất lượng và chủng loại, tạocho người tiêu dùng có nhiều cơ hội được lựa chọn Bên cạnh đó họ cũng tiến vàonhiều thị trường nhỏ mà các công ty lớn bỏ qua vì doanh thu từ đó quá nhỏ

Tăng nguồn tiết kiệm và đầu tư cho dân địa phương

Nhìn chung các DNVVN được mở ra ở địa phương nào đều có công nhân vàchủ doanh nghiệp là người ở địa phương đó Khi các doanh nghiệp loại đó được mở

ra thì người dân lao động ở địa phương có công ăn việc làm, có nguồn thu nhập Kếtcục là quỹ tiền tiết kiệm - đầu tư của địa phương đó được bổ sung

Trang 16

Làm cho nền kinh tế năng động và hiệu quả hơn

Các công ty lớn và các tập đoàn không có được tính năng động của các đơn vịkinh tế nhỏ hơn chúng vì một nguyên nhân đơn giản là quy mô của chúng quá lớn.Quy luật của vật lý là khối lượng một vật càng lớn thì quán tính của nó càng lớn.Cũng vậy, các đơn vị kinh tế càng to lớn thì càng thiếu tính linh hoạt, thiếu khảnăng phản ứng nhanh, nói cách khác là sức ì càng lớn Một nền kinh tế đặt một tỷ lệquá lớn nguồn lao động và tài nguyên vào tay các doanh nghiệp quy mô lớn sẽ trởnên chậm chạp, không bắt kịp và phản ứng kịp với các thay đổi trên thị trường.Ngược lại, một nền kinh tế có một tỷ lệ thích hợp các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽtrở nên “nhanh nhẹn” hơn, phản ứng kịp thời hơn Tính hiệu quả của nền kinh tế sẽđược nâng cao

Phát huy và tận dụng các nguồn lực địa phương, góp phần tăng trưởng kinh tế

Một nền kinh tế bao giờ cũng có “vùng biên giới”, “vùng sâu”, “vùng xa” Đó

là các khu vực địa lý hoặc các thị trường có quy mô nhỏ, kém phát triển, hoặc là xatuyến giao thông, thiếu tài nguyên Các công ty lớn thường bỏ qua các khu vực đó

vì cho rằng nguồn lợi thu được từ đó không lớn bằng nguồn lợi thu được từ nơikhác với cùng một chi phí bỏ ra, nói cách khác là chi phí cơ hội của vùng đó cao.Nếu một nền kinh tế chỉ có các doanh nghiệp lớn thì điều này sẽ dẫn đến một sựphát triển không đều giữa các vùng, không tận dụng hết tài nguyên và giảm hiệuquả hoạt động của nền kinh tế cũng như gây ra các thiệt hại tiềm tàng cho nền kinh

tế Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì chi phí cơ hội của các vùngnày là chấp nhận được, xứng đáng với nguồn lợi thu lại Vì vậy họ sẵn sàng hoạtđộng ở đây nếu có các chính sách ưu đãi thích hợp của chính quyền địa phương

1.2.2.2.Các loại hình cho vay đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Ngắn hạn:

Là phương thức cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn thường xuyên hay nhucầu vốn do đặc điểm sản xuất kinh doanh theo thời vụ của doanh nghiệp Phần lớncác khoản cho vay này có thể thế chấp hoặc cầm cố tài sản Cho vay ngắn hạn đối

Trang 17

với DNVVN bao gồm một số phương thức cho vay như sau:

- Cho vay từng lần : Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàngđối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để cấphạn mức thấu chi Cho vay từng lần thường áp dụng cho các khoản vay dài hạn hoặccho vay các dự án Ưu điểm của phương thức cho vay từng lần là ngân hàng chủ động

sử dụng vốn, thu lãi cao do các món vay được tách biệt thành các hồ sơ khác nhau

Số tiền = tổng vốn Dự Án – vốn chủ - vốn khác ( nếu có)

- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là phương thức cho vay theo đó ngân hàngthỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng là mức dư nợ vaytối đa được duy trì trong một thời hạn nhất định mà ngân hàng và khách hàng đã thỏathuận trong hợp đồng tín dụng Căn cứ để cấp hạn mức tín dụng là kế hoạch tài chínhcủa doanh nghiệp, trong đó dự báo chi tiết về tài sản và vốn của doanh nghiệp

Đây là phương thức cho vay thuận tiện cho khách hàng vay mượn thườngxuyên và được ngân hàng tín nhiệm Phương thức cho vay này có ưu điểm là thủ tụcđơn giản, khách hàng chủ động được nguồn vốn vay, tuy nhiên về phía ngân hàng

dễ bị đọng vốn, đồng thời do các lần vay không tách biệt thành các kì hạn nợ cụ thểnên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay

- Cho vay thấu chi: Thấu chi là phương thức cho vay trong đó ngân hàng chophép khách hàng được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giớihạn nhất định và trong khoản thời gian xác định

- Cho vay luân chuyển: Là phương thức cho vay dựa trên luân chuyển củahàng hóa Phương thức này áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay vốn thườngxuyên và được ngân hàng tín nhiệm Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho kháchhàng Thủ tục vay chỉ cần thực hiện một lần cho nhiều lần vay Tuy nhiên nếukhách hàng gặp khó khăn trong tiêu thụ hàng hóa thì ngân hàng sẽ gặp khó khăntrong việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay không được quy định rõ ràng Quy mô cho vay ngắn hạn của NHTM đối với doanh nghiệp như sau:

Bước 1: Xác định nhu cầu hàng hóa dự trữ bình quân trong kì

DS bán tính theo giá vốn trong kì

Trang 18

Nhu cầu dự trữ hàng hóa =

Vòng quay hàng hóa dự trữ trong kì

Vòng quay được tính dựa trên DS bán ra tính theo giá vốn kì trước

DS bán kì trước =

Dự trữ hàng hóa bình quân kỳ trước

Bước 2: Xác định nhu cầu vay vốn ngắn hạn

Nhu cầu vay

Trang 19

Nếu doanh nghiệp hiện đang vay ngân hàng thì số tiền có thể cho vay thêm là:

Số tiền có thể = Nhu cầu vay ngắn hạn - Dư nợ đến thời điểm

cho vay thêm NH xin vay

Một số trường hợp ngân hàng không phân tích được phương án vay, ngânhàng quết định số tiền cho vay dựa vào giá trị tài sản đảm bảo

Số tiền có thể = Giá trị TSĐB x Tỷ lệ cho vay

cho vay

Trung và Dài Hạn:

Là phương thức cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu tài trợ cho tài sản cố định vàtài sản lưu động thường xuyên hay nhu cầu tài trợ cho các dự án riêng biệt Doanhnghiệp có nhu cầu tín dụng trung và dài hạn để mua sắm trang thiết bị, xây dựng,cải tiến kĩ thuật, mua công nghệ…Về nguyên tắc, doanh nghiệp có thể sử dụng vốndài hạn, bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn để tài trợ cho những loại tài sản này.Nhưng do vốn chủ sở hữu có giới hạn nên thường doanh nghiệp phải sử dụng đếnnguồn vốn vay dài hạn Doanh nghiệp có thể vay dài hạn thông qua ngan hàng hoặcphát hành trái phiếu huy động vốn trên thị trường

Nhu cầu theo = Nhu cầu đầu tư vào + Nhu cầu đầu tư vào

DA TSCĐ TSLĐ

Số tiền có thể cho vay = Nhu cầu đầu tư - Các nguồn khác tham gia tài trợ

Số tiền có thể

-Các nguồn khác tham gia

tài trợ Cho vay trung và dài hạn có thể bao gồm nhiều phương thức khác nhau nhưcho vay trả góp, cho vay theo các dự án…

- Cho vay trả góp: Là hình thức cho vay, theo đó ngân hàng cho phép kháchhàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn cho vay đã thỏa thuận Cho vay trả góprủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng hóa mua trả góp

- Cho vay theo các dự án: Khái niệm dự án có thể hiểu là tổng thể các chínhsách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt được

Trang 20

những mục tiêu nào đó trong một thời gian nhất định Cho vay theo dự án đòi hỏiquá trình thẩm định dự án một cách cẩn trọng và chính xác

Trên đây là một số phương thức cho vay DNVVN phân theo kì hạn cho vay.Mặc dù phương thức cho vay DNVVN có thể khác nhau, tuy nhiên các phương thức

đó đều phải tuân theo một quy trình cho vay chung nhất, đảm bảo tính đồng bộ vàthống nhất trong quá trình cho vay của NHTM

1.3.Mở rộng hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.3.1.Khái niệm:

Xét trong lĩnh vực ngân hàng, mở rộng cho vay DNVVN là việc tăng tỷ trọngcác khoản cho vay DNVVN trong tài sản của NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu ngàycàng cao của khách hàng về quy mô các khoản vay Bên cạnh đó, cùng với sự cạnhtranh gay gắt của các NHTM hiện nay, việc mở rộng cho vay có thể bao gồm nhiềutiêu chí khác nhau như: mở rộng quy mô, hình thức, phạm vi cho vay hay đối tượngcho vay

Quá trình mở rộng cho vay của NHTM kết hợp với các yếu tố khách nhưchính sách cho vay, chính sách khách hàng…nhằm đảm bảo hiệu quả và chất lượngcác khoản vay

1.3.2.Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng hoạt động cho vay

1.3.2.1.Nhân tố chủ quan:

 Từ phía ngân hàng

Để mở rộng hoạt động cho vay có hiệu quả và chất lượng, các NHTM cần đưa

ra những chính sách, hành động, phương hướng kinh doanh hợp lý Cụ thể như sau:

Chiến lược kinh doanh của ngân hàng

Mỗi một tổ chức ngay từ khi được thành lập ra đã phải có một phương châmhoạt động nhất định và phải có chiến lược kinh doanh phù hợp với các mục tiêu đãđặt ra Đó là một tiêu chí rất quan trọng đối với các ngân hàng thương mại

Trong nền kinh tế hiện nay, quá trình cạnh tranh càng ngày càng trở nên gaygắt, mỗi ngân hàng phải xây dựng cho mình một phương châm, chiến lược kinhdoanh đúng đắn và hiệu quả Đó là một điều kiện vô cùng quan trọng giúp cho ngân

Trang 21

hàng có định hướng nhất quán trong việc khai thác tốt nhất tiềm lực hiện có và cóthể thích ứng tốt với những biến đổi của môi trường kinh doanh gay gắt hiện nay.Khi mà chiến lược kinh doanh đặt ra không hiệu quả, không đúng đắn thì mọihoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng của ngân hàng nói riêngkhông thể phát triển được, thậm chí nó có thể gây nên những tổn thất khôn lườngcho ngân hàng

Chiến lược phát triển sẽ tạo ra một định hướng chung về khách hàng mục tiêucủa ngân hàng và từ đó xây dựng nên các chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với đốitượng khách hàng đó

Để phù hợp với xu thế hiện nay thì các NHTM đang ngày càng quan tâm đếncác DNVVN và đang thúc đẩy việc thiết lập chiến lược kinh doanh hướng vào đốitượng này Chính điều này đã có ảnh hưởng quyểt định đến họat động cho vay nóichung, doanh số cho vay cũng như chất lượng cho vay đối với DNVVN nói riêngtrong mỗi một ngân hàng

Trang 22

• Chính sách quy mô và giới hạn tín dụng:

Ngân hàng cam kết tài trợ cho khách hàng với món tiền và hạn mức nhất định.Giới hạn này ngoài các quy định theo luật thì mỗi ngân hàng còn có quy định riêng

về quy mô và giới hạn

Ví dụ như quy mô tối đa cho vay của mỗi giám đốc khu vực, giám đốc chinhánh, quy mô cho vay dựa trên giới hạn đảm bảo…

Chính sách này sẽ được quy định một cách cụ thể trong từng thời kỳ trongnăm có tính đến quy mô và tổ chức nguồn vốn của mỗi ngân hàng

• Lãi suất tín dụng:

Mỗi một ngân hàng đều có các mức lãi suất tín dụng khác nhau phân theotừng kỳ hạn, loại tiền, đối tượng khách hàng Lãi suất này có thể được cố định trongmột thời hạn tín dụng nhưng cũng có thể được thả nổi theo sự biến đổi của lãi suấttham khảo hặc chỉ số làm cơ sở điều chỉnh lãi suât hoặc cũng có thể là sự kết hơp cốđịnh có điều chỉnh sau một khoảng thời gian xác định

• Thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ:

Các thời hạn tín dụng có liên quan trực tiếp đến rủi ro thanh khoản trong hệthống ngân hàng và chu kỳ kinh doanh của người vay Các chính sách thời hạn tíndụng được đưa ra phải giải quyểt được mối quan hệ về thời hạn giữa nguồn(chủ yếu

do người gửi và do ngân hàng vay quyết định) và thời hạn tài trợ(bắt nguồn từ yêucầu của người vay do đặc điểm luân chuyển nguồn vốn và quy mô thu nhập quyếtđịnh) Kỳ hạn nợ liên quan đến tính toán các nguồn thu của khách hàng có thể dùng

để trả nợ

• Các khoản đảm bảo:

Chính sách đảm bảo gồm những quy định về trường hợp tài trợ cần đảm bảobằng tài sản, các loại đảm bảo cho mỗi loại hình tín dụng, danh mục các đảm bảođược ngân hàng chấp nhận, tỷ lệ phần trăm cho vay trên đảm bảo, đáng giá và quản

lý đảm bảo Chính sách tín dụng về các khoản đảm bảo cũng bao gồm cả việc đánhgiá tài sản đảm bảo và mức phán quyết tín dụng dựa trên việc định giá cho tài sảnđảm bảo

Trang 23

• Chính sách đối với tài sản có vấn đề

Các tài sản có vấn đề bao gồm các tài khoản nợ xấu và tài sản có biểu hiệnđáng ngờ Chính sách đối với tài sản có vấn đề gồm các quy định về cách thức xácđịnh nợ xấu và các tài sản đáng ngờ khác, tỷ lệ nợ xấu có thể chấp nhận và mức độxấu của các khoản nợ, trách nhiệm giải quyết, phạm vi thanh lý và khai thác

Như vậy, chính sách tín dụng của ngân hàng có ảnh hưởng vô cùng quan trọngtới khả năng tiếp cận tín dụng của các DNVVN Khi chính sách tín dụng mà linhhoạt, đa dạng thì nó sẽ đáp ứng được nhiều nhu cầu của DNVVN ở các phân đoạnthị trường khác nhau hay nói cách khác là sẽ làm tăng khả năng tiếp cận nguồn vốnngân hàng của các DNVVN

Quy mô nguồn vốn của ngân hàng thương mại:

Như ta đã biết, tất cả các hoạt động cho vay của NHTM đều phải tuân theo quyđịnh liên quan đến hoạt động cho vay của pháp luật Quy định 1627 về quy chế cho vaycủa một tổ chức tín dụng đối với một khách hàng có quy định ” dư nợ cho vay tối đa đốivới một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trừtrường hợp đối với những khoản cho vay từ các nguồn ủy thác của chính phủ, của các tổchức, cá nhân hay trường hợp khách hàng vay là một tổ chức tín dụng khác”

Do đó, quy mô nguồn vốn của ngân hàng đặc biệt là quy mô vốn chủ sở hữu lànhân tố quan trọng quyết định đến khả năng cho vay của một ngân hàng Các ngânhàng lớn thường cung cấp các khoản cho vay có giá trị lớn cho các doanh nghiệpcòn các ngân hàng nhỏ thường tập trung cho vay các khỏan có quy mô nhỏ- nghiệp

vụ tín dụng bán lẻ

Ngoài ra, quy mô của ngân hàng cũng ảnh hưởng đáng kể đối với thu nhậpròng của các loại hình cho vay Để đạt được hiệu quả cao nhất trong cho vay, ngânhàng cần cung cấp các loại hình cho vay mà ngân hàng có lợi thế nhất Ví dụ như,các ngân hàng lớn thường có ưu thế trong cho vay kinh doanh bất động sản và chovay tiêu dùng trả góp, các ngân hàng có quy mô trung bình thường có lợi thế về cáckhoản cho vay theo thẻ tín dụng, còn các ngân hàng nhỏ lại có ưu thế trong cho vaythương mại

Trang 24

 Chất lượng và tính đa dạng của các hình thức cho vay

Đây là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động cho vay của ngân hàng.Một ngân hàng sẽ ít có khả năng lớn mạnh, khả năng mở rộng cho vay nếu nhữngsản phẩm cho vay mà nó cung cấp cho khách hàng là đơn điệu, chất lượng hoạtđộng không cao Một trong những đặc điểm đặc trưng của các sản phẩm dịch vụngân hàng là không có sự khác biệt, bản quyền khó xác định nên từ đó làm ảnhhưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng

Đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt, khốc liệt nhưngày nay thì buộc các ngân hàng phải không ngừng nâng cao chất lượng các sảnphẩm dịch vụ và thực hiện đa dạng hóa sản phẩm, tạo ra tính khác biệt cho sảnphẩm ngân hàng để củng cố và mở rộng thị phần, duy trì khả năng cạnh tranh củachính ngân hàng mình

 Thông tin tín dụng

Là tất cả các thông tin về tài chính, quan hệ tín dụng, đảm bảo tiền vay, tìnhhình tín dụng và thông tin pháp lý của khách hàng có quan hệ với ngân hàng Hệthống thông tin tín dụng được đưa ra nhằm hình thành cơ sở dữ liệu về khách hàng

để phục vụ cho quá trình cấp tín dụng, phân tích và quản lý tín dụng, quản trị rủi rotín dụng Mục đích quan trọng nhất của nó là tìm kiếm và phát hiện ra sớm cáckhoản tín dụng có vấn đề để đánh giá đúng mức độ rủi ro của các khoản nợ đồngthời dự báo trước khả năng một khoản tín dụng có thể chuyển sang nợ xấu

Trên cơ sở thông tin thu được, ngân hàng sẽ quyết định được một cách đúngđắn hơn trong quy trình kiểm tra, giám sát tín dụng Chất lượng của thông tin tíndụng ảnh hưởng trực tiếp đến khoản cho vay Khi thông tin tín dụng đầy đủ, chínhxác sẽ góp phần hạn chế và ngăn ngừa được phần nào rủi ro tín dụng, rủi ro lựachọn đối nghịch do thiếu thông tin không cân xứng về đối tượng đầu tư từ đó nângcao được hiệu quả hoạt động tín dụng

Thông tin tín dụng có thể khai thác từ các nguồn khác nhau Có thể nguồn bêntrong hay bên ngoài hệ thống; chính thức hay phi chính thức Việc thu thập thôngtin nhanh chóng, chính xác, đầy đủ ảnh hưởng lớn đến chất lượng hoạt động tíndụng từ đó ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận vốn ngân hàng của các DNVVN

Trang 25

 Trình độ cán bộ công nhân viên

Trình độ của cán bộ làm công tác cho vay có ảnh hưởng trực tiếp đến chấtlượng hoạt động tín dụng của NHTM Khi các cán bộ tín dụng có trình độ chuyênmôn nghiệp vụ, có kiến thức và hiểu biết sâu rộng thì sẽ có thể phân tích và nắm bắtđược tình hình của khách hàng và từ đó đưa ra được quyết định tín dụng chính xác.Ngược lại, khi các cán bộ tín dụng yếu kém về năng lực lao động, chưa được đàotạo một cách đầy đủ thì sẽ thiếu khả năng phân tích và đánh giá một cách chính xác

về khách hàng vay vốn, không bao quát được các điểm yếu về mặt pháp lý hoặc cácsai sót trong hồ sơ vay vốn của khách hàng nên từ đó đem ra những quyết định thiếuchính xác, gây nên những hậu quả xấu cho ngân hàng

1.3.2.2.Nhân tố khách quan:

 Từ phía doanh nghiệp vừa và nhỏ:

 Năng lực tài chính của DNVVN

Năng lực tài chính của DNVVN là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởngquyết định đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Doanh nghiệp hoạt động hiệuquả thì tình hình tài chính sẽ vững mạnh từ đó mới có thể đáp ứng được yêu cầu củangân hàng và có thể tiếp cận được nguồn vốn của ngân hàng Năng lực tài chínhđược thể hiện ở khối lượng vốn chủ sở hữu và tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổngnguồn vốn kinh doanh của DNVVN Vốn chủ sở hữu này sẽ phản ánh khả năng tựchủ tài chính, khả năng chống chọi với hoàn cảnh bất lợi của DN Khi tỷ trọng vốnchủ sở hữu trong tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp càng nhỏ chi phí vốn vaycàng lớn và đó có thể là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng kinh doanh thua lỗ vàmất khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng của doanh nghiệp

Hiện nay, các DNVVN muốn vay vốn ngân hàng thì phải đảm bảo là có mộtphần vốn tự có nhất định tham gia vào dự án, phương án sản xuất kinh doanh

Chính vì vậy, nếu như vốn sở hữu thấp nhưng nhu cầu đầu tư lớn cũng khó cóthể tiếp cận được nguồn vốn của ngân hàng

 Phương án sản xuất kinh doanh:

Đây là một vấn đề liên quan đến tính hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp khitiến hành sản xuất kinh doanh một sản phẩm nào đó Khi tiến hành phương án sản

Trang 26

xuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ tính toán doanh thu thu được, các chi phí liênquan và lỗ lãi Từ đó, doanh nghiệp sẽ đưa ra các quyết định là có tiến hành thựchiện các dự án hay không.

Đây là một trong những điều kiện vay vốn hàng đầu của DNVVN Để đảmbảo thu hồi được vốn vay từ các doanh nghiệp, ngân hàng phải chọn những phương

án khả thi, có khả năng thực hiện được và thực sự có hiệu quả để tiến hành đầu tư

Do vậy, việc doanh nghiệp có khả năng vay vốn của ngân hàng phụ thuộc một phầnvào phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có khả thi hay không

 Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ:

Khi một doanh nghiệp có đội ngũ quản lý tốt thì sẽ có được chiến lược kinhdoanh tốt, khả năng kinh doanh cao và có thể quản lý vốn tôt Nó được thể hiện ởcách thức tổ chức hoạt động chung, tổ chức hoạt động sổ sách kế toán, quản lý tàichính hiệu quả và phù hợp với quy định của pháp luật, môi trường kinh doanh Nócòn thể hiện ở trình độ nhận định thị trường để có được chiến lược kinh doanh năngđộng và các biện pháp nhằm chống chọi lại những biến động bất lợi của thị trường.Năng lực quản lý này nó ảnh hưởng trực tiếp đến đội ngũ cán bộ, đến sản phẩm củadoanh nghiệp, đến khả năng tiêu thụ sản phẩm, mối quan hệ với các đối tác Đâycũng là một tiêu chí quan trọng để ngân hàng đưa ra quyết định có cho DNVVN vayvốn hay không và nếu vay thì với hạn mức là bao nhiêu

 Đạo đức kinh doanh của chủ doanh nghiệp:

Đây là một trong những yếu tố quyết định đến khả năng tiếp cận vốn ngânhàng của DNVVN và đây chính là thiện chí trả nợ của chủ DNVVN Đạo đức kinhdoanh của DNVVN thể hiện ở việc doanh nghiệp trung thực, sử dụng vốn đúng mụcđích, quản lý tốt, báo cáo thật, đảm bảo hoạt động kinh doanh được lành mạnh, đảmbảo trả nợ được cho ngân hàng

Các DNVVN luôn muốn có thể tiếp cận được nhiều hơn tới nguồn vốn củangân hàng Nếu các DNVVN báo cáo một cách đầy đủ, minh bạch, sử dụng vốnđúng mục đích kinh doanh, thực hiện vay và trả tốt thì có thể tiếp cận được nhiềuhơn đối với nguồn vốn đó Tuy nhiên, nếu các DNVVN cố tình báo cáo sai lệch các

Trang 27

thông tin, sử dụng vốn sai mục đích thì sẽ không thể tiếp cận được với nguồn vốncủa ngân hàng Các ngân hàng sẽ mất dần niềm tin đối với các DNVVN từ đó sẽthắt chặt các biện pháp đảm bảo tiền vay Như vậy thì sẽ càng hạn chế khả năng tiếpcận vốn của các DNVVN.

 Từ môi trường bên ngoài:

 Chính sách phát triển kinh tế của đất nước:

Chính sách phát triển kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến việc mở rộng tín dụngcủa ngân hàng đối với DNVVN Sự thay đổi các chính sách vĩ mô của nhà nước sẽgây nên những biến động lớn đối với hoạt động cho vay của ngân hàng

Dựa trên cơ sở các đường lối, chủ trương, chính sách phát triển của Đảng vàNhà nước thì các doanh nghiệp sẽ xác định mục tiêu kinh doanh của mình, cân đốitài chính để xác định nhu cầu vay vốn ngân hàng Đồng thời, các ngân hàng thươngmại sẽ căn cứ vào các chỉ tiêu này để xác định cơ cấu tín dụng của mình một cách

 Môi trường pháp lý:

Môi trường pháp lý là một hệ thống văn bản pháp quy liên quan đến toàn bộcác hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng Khi một hệthống pháp luật đồng bộ thì sẽ tạo ra được một hành lang an toàn cho hoạt động củacác doanh nghiệp nói chung và hoạt động của các ngân hàng nói riêng Trong nềnkinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, pháp luật có vai trò cực kỳ quantrọng, nó như một hành lang pháp lý tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bìnhđẳng, an toàn, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể kinh tế và có tính chất bắtbuộc đối với tất cả các chủ thể kinh tế đó Khi mà hệ thống pháp luật rắc rối, khôngđồng bộ thì sẽ gây ra những khó khăn cho ngân hàng trong việc thực hiện các hợp

Trang 28

đồng tín dụng và sẽ ảnh hưởng đến khả năng mở rộng cho vay đối với các thànhphần kinh tế.

 Môi trường chính trị xã hội

Đây là một nhân tố quan trọng trong việc đưa ra quyết định đối với các nhàđầu tư Khi nền chính trị ổn định thì nó sẽ tạo ra được sự tin tưởng lớn đối với cácnhà đầu tư đặc biệt là đầu tư dài hạn Khi đầu tư tăng lên, các doanh nghiệp sẽ có cơhội để mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh từ đó hoạt động tín dụng của ngânhàng sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ

Những biến động bất ổn về chính trị- xã hội không những sẽ làm hạn chế đầu

tư, hạn chế các khoản vay mới mà còn tác động tiêu cực đến những khoản vay cũthông qua những ảnh hưởng bất lợi của nó đối với hoạt động của các DNVVN vàcủa ngân hàng

Bên cạnh đó, các quan niệm xã hội về sự ưa thích cá nhân, về các ngành nghềlĩnh vực kinh doanh cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp, sự biếnđộng của môi trường có thể làm thay đổi các triển vọng kinh doanh của doanhnghiệp Chính vì thế nó sẽ ảnh hưởng đến họat động tín dụng của doanh nghiệp đó.Thái độ của các cơ quan chính quyền cũng có ảnh hưởng lớn đến họat độngcủa các DNVVN Nó được thể hiện qua cách xử sự cũng như tinh thần phục vụ và

hỗ trợ cho DNVVN Thái độ của các phương tiện thông tin đại chúng cũng đónggóp tích cực vào sự chuyển biến thái độ tâm lý xã hội đối với các DNVVN

Như vậy, khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng của các DNVVN chịu ảnhhưởng của rất nhiều các yếu tố, không chỉ từ phía ngân hàng, từ phía DNVVN màcòn các yếu tố như môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, chính trị, xã hội…chính

vì vậy, để có thể tăng khả năng tiếp cận vốn ngân hàng của các DNVVN thì cầnphải có sự phối hợp một cách nhuần nhuyễn và chặt chẽ giữa tất cả các phía trongtổng thể đó

Trang 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY

ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NHTM

CỔ PHẦN ĐẠI TÍN CHI NHÁNH HÀ NỘI

2.1.Tổng quan về NHTM cổ phần ĐẠI TÍN chi nhánh Hà Nội

2.1.1.Sự hình thành và phát triển của NHTM cổ phần ĐẠI TÍN chi nhánh

1, Thị tứ Long Hòa, Huyện Cần Đước, Tỉnh Long An

Ngày 17/08/2007, theo quyết định số 1931/QĐ-NHNN, Ngân hàng TMCPnông thôn Rạch Kiến được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuậnchính thức chuyển đổi mô hình hoạt động thành Ngân hàng TMCP đô thị và đổi tênthành Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Tín, theo quyết định số 2136/QĐ-NHNNngày 17/09/2007 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Việc chấp thuận cho Ngân hàng Đại Tín chuyển đổi mô hình hoạt động từNgân hàng TMCP nông thôn sang Ngân hàng TMCP đô thị tạo điều kiện cho Ngân

Trang 30

hàng nâng cao năng lực về tài chính, mở rộng mạng lưới hoạt động kinh doanh, đủsức cạnh tranh và phát triển mạnh mẽ, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới củaTRUSTBank với mục tiêu phấn đấu trở thành một ngân hàng bán lẻ hiện đại theocác chuẩn mực quốc tế, cung cấp sản phẩm dịch vụ đa dạng từ cơ bản đến cao cấp,hoàn thành mục tiêu đưa TRUSTBank trở thành một trong số các ngân hàng có chấtlượng phục vụ tốt nhất tại Việt Nam.

Nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển và mở rộng mạnglưới hoạt động, theo quyết định số 1855/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ViệtNam, ngày 21/08/2008, Ngân hàng TMCP Đại Tín chuyển địa điểm trụ sở chínhđến số 145-147-149 Hùng Vương, phường 2, Thị xã Tân An, Tỉnh Long An

Vốn điều lệ và tổng tài sản giai đoạn 2007 - 2010

Sản phẩm dịch vụ chính:

Trang 31

Ngân hàng TMCP Đại Tín cung cấp đa dạng các sản phẩm, dịch vụ tài chínhphù hợp với nhu cầu của Quý khách hàng như :

•Huy động vốn (nhận tiền gửi của khách hàng) bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ;

•Sử dụng vốn (cung cấp tín dụng, đầu tư, hùn vốn liên doanh) bằng đồng ViệtNam, ngoại tệ;

•Các nghiệp vụ tài trợ thương mại: bảo lãnh như bảo lãnh dự thầu, bảo lãnhthực hiện hợp đồng, bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán ……

•Các dịch vụ trung gian (thực hiện thanh toán trong nước, thực hiện dịch vụngân quỹ, chuyển tiền kiều hối và chuyển tiền nhanh, bảo hiểm nhân thọ qua ngânhàng);

•Thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ

•SMS Banking: Thông báo thông tin

Sắp tới Ngân hàng sẽ triển khai cung cấp các dịch vụ ngân hàng hiện đại nhưInternet Banking, dịch vụ thanh toán trực tuyến, dịch vụ thẻ…

d Định hướng và mục tiêu phát triển

TRUSTBank định hướng trở thành một trong những Ngân hàng thương mại cổphần đô thị phát triển, có nghiệp vụ đa dạng, chất lượng phục vụ cao, công nghệngân hàng hiện đại, mạng lưới kênh phân phối rộng dựa trên nền tảng mô hình tổchức và quản lý theo chuẩn mực quốc tế, công nghệ thông tin hiện đại, công nghệngân hàng tiên tiến, từng bước đưa TRUSTBank trở thành một thương hiệu ngânhàng bán lẻ có uy tín trên thị trường tài chính trong nước và quốc tế

Trang 32

Dựa trên nền tảng định hướng nêu trên, Ngân hàng TMCP Đại Tín sẽ tiếp tụcđưa ra các giải pháp mới nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra:

Tăng vốn điều lệ: đảm bảo lộ trình do Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam đề ra, đến năm 2010 vốn điều lệ tăng lên 3.000 tỷ đồng

•Phát triển nguồn vốn huy động: hiện đại hóa công nghệ ngân hàng trựctuyến, cho ra các sản phẩm đa dạng, chương trình khuyến mại phù hợp, đáp ứngnhu cầu thiết thực và tốt nhất với từng đối tượng khách hàng

•Xác định đối tượng và chính sách hoạt động kinh doanh: xác định đối tượngđầu tư tín dụng phù hợp để vừa nhanh chóng tạo ra lợi nhuận, vừa đảm bảo hoạtđộng kinh doanh ổn định và lâu dài Nghiên cứu đầu tư, tham gia liên doanh gópvốn đối với một số dự án trọng điểm; cơ cấu lại tài sản sinh lời nhằm đảm bảo hoạtđộng an toàn và ổn định thông qua các nghiệp vụ đầu tư trên thị trường liên Ngânhàng, đầu tư trái phiếu, chứng khoán

•Xác định thị trường và lĩnh vực kinh doanh khác: nhanh chóng nắm bắt các

cơ hội kinh doanh trên thị trường mục tiêu, có kế hoạch thâm nhập các thị trườngtiềm năng

•Phát triển các dịch vụ Ngân hàng: nâng cấp chất lượng dịch vụ hiện có, tạođiều kiện hỗ trợ cho các nghiệp vụ khác phát triển, liên kết với các Ngân hàng bạn

để phát triển các dịch vụ Ngân hàng nhằm phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn

•Phát triển mạng lưới hoạt động: tiếp tục phát triển mạng lưới đến các vùngtrọng điểm kinh tế trong nước nhằm giúp cho Ngân hàng tiếp cận và mang sảnphẩm Ngân hàng đến với khách hàng

•Phát triển nguồn nhân lực: Với một kế hoạch phát triển nguồn nhân lực phùhợp, chính sách tiền lương, thưởng hợp lý, Ngân hàng có thể thu hút và đào tạođược nhiều cán bộ, nhân viên giỏi và có tâm huyết với nghề, từ đó dễ dàng vượt quakhó khăn, thử thách, phát triển an toàn và bền vững

•Hiện đại hóa công nghệ Ngân hàng: là một trong những định hướng quantrọng của Ngân hàng, nhằm phục vụ ngày càng tốt hơn công tác quản trị, điều hành,

đồng thời là nền tảng cho việc phát triển các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng hiện đại

Trang 33

e Cam kết:

Với khẩu hiệu “TRUSTBank – Nơi của niềm tin và thành đạt” và mục đíchmang đến lợi nhuận tốt nhất cho các cổ đông, song song với việc đáp ứng nhu cầukhách hàng, Ngân hàng TMCP Đại Tín cam kết phục vụ một cách hiệu quả chotoàn thể khách hàng cũng như cán bộ công nhân viên của TRUSTBank Ngân hàngTMCP Đại Tín sẽ tiếp tục:

Đẩy mạnh cải cách nhằm đạt tới những chuẩn mực, thông lệ quốc tế về hoạtđộng tiền tệ, ngân hàng, tiếp tục nâng cao năng lực tài chính, chất lượng tín dụng đểtiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế Góp phần đưa ngành ngân hàng phấn đấu trở thànhngành kinh tế lớn trong khu vực và trên thị trường tài chính quốc tế trong giai đoạn2010-2020

Hướng đến hiện đại hóa công nghệ ngân hàng để nhanh chóng tiếp cận và pháttriển các dịch vụ ngân hàng thương mại hiện đại - đa năng, tăng cường công tácquản lý rủi ro nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về hệ số an toàn tín dụng, nângcao hiệu quả kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh

Chú trọng đẩy mạnh công tác huy động vốn với nhiều hình thức phong phú,chủ yếu huy động vốn trung - dài hạn trong dân cư để tạo nguồn cho vay, đáp ứngkịp thời nhu cầu vốn của các thành phần kinh tế trên phạm vi cả nước

Hướng đến phát triển bền vững và nhanh chóng mở rộng mạng lưới hoạt độngtại các tỉnh, thành trong cả nước, đặc biệt chú trọng mở rộng mạng lưới tại các vùngkinh tế trọng điểm

Phát triển sản phẩm thẻ (ATM, thẻ tín dụng) nhằm nâng cao chất lượng phục

Trang 34

hữu hiệu, thỏa mãn cao nhất các nhu cầu hợp lý của khách hàng trong khả năng chophép của mình.

Nghiên cứu phát triển đa dạng hóa các sản phẩm nhằm thỏa mãn tối đa các nhu cầucũng như tiện ích của khách hàng

Chi nhánh Hà Nội đi vào hoạt động từ tháng 2 năm 2008 và chính thức khaitrương vào ngày 17 tháng 03 năm 2008 Chi nhánh Hà nội có địa chỉ tại số 96- Phố

Bà Triệu- Phường Hàng Bài- Quận Hoàn Kiếm- Thành phố Hà Nội, đây là một địachỉ thuận lợi cho việc kinh doanh hoạt động Ngân hàng Sau gần 3 năm hoạt động,Chi nhánh đang dần dần ổn định, các cán bộ chi nhánh đang nỗ lực để thu hút thêmnguồn tiền gửi từ các tổ chức kinh tế và dân cư, các hoạt động kinh doanh và đầu tưđang dần dần có hiệu quả, từng bước nâng cao uy tín của Ngân hàng đối với kháchhàng

2.1.2.Bộ máy tổ chức tại NHTM cổ phần ĐẠI TÍN chi nhánh Hà Nội

Phó Giám Đốc

Phòng Kế

toán Tài

chính

Phòng Nguồn Vốn

Phòng Đầu Tư

Phòng Kinh Doanh

Trang 35

Hội sở chính gặp khó khăn về vốn Hiện nay Chi nhánh đã có 8 phòng giao dịch đivào hoạt động:

a. CN HÀ NỘI : 96 Bà Triệu, P.Hàng Bài, Q.Hoàn Kiếm, TP.Hà Nội

b PGD Cầu Giấy : 126 Nguyễn Phong Sắc, Quận Cầu Giấy, Hà Nội

c PGD Đống Đa : 163 Đặng Tiến Đông, P.Trung Liệt, Q.Đống Đa,TP.Hà Nội

d PGD Thạch Thất : Lô 8 KCN Kim Khí, Xã Phùng Xá, H.Thạch Thất,TP.Hà Nội

e PGD Hào Nam : 165 Phố Hào Nam, P.Ô Chợ Dừa, Q.Đống Đa, TP.HàNội

f PGD Hoài Đức : Km 6 tỉnh lộ 419, thôn Chùa Tổng, La Phù, Hoài Đức,

Hà Nội

g PGD Từ Liêm : Số 6 xã Xuân La , Xuân Đỉnh , Từ Liêm , Hà Nội

h Phòng giao dịch Sơn Đồng : Ngã tư Sơn Đồng tỉnh lộ 62, xã Sơn đồng,Huyện Hoài Đức, Hà Nội

i.PGD Trung Hoà :30 Nguyễn Thị Định, Trung Hòa, Quận Cầu Giấy, TP HàNội

Từ khi chính thức đi vào hoạt động cho đến nay, với những khó khăn trongbuổi đầu hoạt động, Ngân hàng khá chật vật đi tìm địa bàn hoạt động của riêngmình.Những bất cập lúc đầu là không tránh khỏi như:

Ngân hàng khá mới, doanh nghiệp và dân cư trên địa bàn Hà Nội còn chưahiểu nhiều về ngân hàng, cũng như ngân hàng chưa nắm rõ về nhu cầu của các đồitượng khách hàng

Sự cạnh tranh quyết liệt của các ngân hàng lớn trên địa bàn hoạt động

Tuy nhiên, ngay từ đầu Ban lãnh đạo ngân hàng đã biết cách khắc phục nhữngkhó khăn đó và đưa ngân hàng vào quỹ đạo các quy chế do NHTM Cổ Phần ĐạiTín ban hành Biện pháp chủ yếu của Ban Giám Đốc chủ yếu dựa vào bộ máy nhân

sự và công tác tiếp thị quảng cáo Cán bộ cũng như nhân viên trong ngân hàng đều

có trình độ Cao Đẳng, Đại học và rất giỏi về chuyên môn

Hiện nay hoạt động tín dụng ngân hàng đã ổn định và không ngừng được mởrộng quy mô cũng như phạm vi hoạt động:

+ Huy động vốn bằng VND cũng như ngoại tệ

Ngày đăng: 26/03/2015, 11:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu trên cho ta thấy doanh số cho vay ngắn hạn phat triển vượt mức trong năm 2010, doanh số cho vay ngắn hạn trong năm 2010 là 74.5% - GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NHTM CỔ PHẦN ĐẠI TÍN CHI NHÁNH HÀ NỘI
Bảng s ố liệu trên cho ta thấy doanh số cho vay ngắn hạn phat triển vượt mức trong năm 2010, doanh số cho vay ngắn hạn trong năm 2010 là 74.5% (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w