Giáo dục chính trị tư tưởng đạo đức, lối sống cho sinh viên trong giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh đã được đưa vào trong hệ thống đào tạo Đại học từ những năm 6
Trang 1MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài……… 1
2 Mục đích nghiên cứu……… 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu……… 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 3
5 Giả thuyết khoa học của đề tài ……… 4
6 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ……… 4
7 Phương pháp nghiên cứu……… 4
8 Cấu trúc luận văn……… 5
Chương 1 Cơ Sở lý luận và cơ sở pháp lý của vấn đề quản lý quá trình dạy học các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng HCM……
6 1.1 Quản lý giáo dục- quản lý các hoạt động dạy học………… 6
1.1.1 Quản lý và các chức năng quản lý……… 6
1.1.2 Quản lý giáo dục……… 8
1.1.3 Quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường……… 10
1.2 Khái niệm và đặc điểm của quá trình dạy học ……… 14
1.2.1 Khái niệm và bản chất của quá trình dạy học ………
14 1.2.2 Đặc điểm của quá trình dạy học ở Đại học……… 17
1.3 Quản lý quá trình dạy học ở các trường Cao đẳng………… 22
1.3.1 Vị trí của bậc cao đẳng trong hệ thống giáo dục quốc dân…… 22
1.3.2 Nội dung quản lý quá trình dạy học trong trường cao đẳng…… 23 1.3.3 Quản lý dạy học cấp khoa và tổ bộ môn trực thuộc ở trường
CĐ…
25
Trang 21.4 Vị trí, yêu cầu đặc thù của quá trình dạy học các môn khoa
học Mác-Lênin, Tư tưởng HCM………
27
1.4.1 Vị trí, vai trò của các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng
HCM trong các trường Đại học, Cao đẳng ở Việt Nam…
27
1.4.2 Yêu cầu đặc thù của quá trình dạy học các môn khoa học
Mác-Lênin, Tư tưởng HCM………
30
1.5 Một số định hướng đổi mới giáo dục Đại học cao đẳng…… 32 1.5.1 Chủ trương đổi mới GDĐH hiện nay……… 32 1.5.2 Một số định hướng đổi mới giáo dục ĐH,CĐ hiện nay… 33
Chương 2 Thực trạng quản lý dạy học các môn khoa học Mác -Lênin,
Tư tưởng Hồ Chí Minh………
45
2.1 Một số nét khái quát về hoạt động đào tạo của Trường …… 45 2.1.1 Quá trình phát triển của nhà trường……… 45 2.1.2 Về bộ máy tổ chức quản lý đào tạo……… 46
2.1.3 Tình hình phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên……… 49 2.2 Thực trạng quản lý dạy học của bộ môn Mác-Lênin……… 51 2.2.1 Về phương pháp nghiên
cứu………
51
2.2.2 Thực trạng về quản lý giảng dạy bộ môn ……… 52 2.2.3 Thực trạng về quản lý các hoạt động học tập của HS-SV 59 2.2.4 Thực trạng về quản lý CSVC phục vụ
………
62
Chương 3 Một số biện pháp lý quản lý quá trình dạy học các môn
khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh………
66
Trang 33.1.1 Nguyờn tắc đẳm bảo tớnh mục đớch……… 67
3.1.2 Nguyờn tắc đảm bảo tớnh đồng bộ……… 67
3.1.3 Nguyờn tắc đảm bảo tớnh thực tiễn……… 68
3.1.4 Nguyờn tắc đảm bảo tớnh phự hợp……… 68
3.2 Những biện phỏp quản lý quỏ trỡnh dạy học cỏc mụn
khoa học Mỏc-Lờnin,Tư tưởng HCM………
69 3.2.1 Nhúm biện phỏp nõng cao nhận thức giỏo dục chớnh trị cho
CBQL, GV và HSSV về vị trớ vai trũ cỏc mụn khoa học………
69 3.2.2 Nhúm biện phỏp Lập kế hoạch đào tạo bồi dưỡng ……… 71
3.2.3 Nhúm biện phỏp tăng cường đổi mới hoạt động giảng dạy……
73 3.2.4 Nhóm biện pháp tăng c-ờng quản lý các hoạt động học …… 78
3.2.5 Nhúm biện phỏp tăng cường hệ thống thụng tin ……… 81
3.2.6 Nhúm biện phỏp tăng cường quản lý và sử dụng hiệu quả…… 83
3.2.7 Nhúm biện phỏp tăng cường kiểm tra đỏnh giỏ ……… 85
3.2.8 Mối quan hệ giữa cỏc biện phỏp……… 88
3.3 Khảo nghiệm tớnh cần thiết, tớnh khả thi của cỏc biện phỏp 89 3.3.1 Mụ tả cỏch thức khảo sỏt……… 89
3.3.2 Kết quả khảo sỏt tớnh cần thiết và tớnh khả thi ……… 90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……… 97
Kết luận……… 97
Khuyến nghị ……… 100
Phụ lục
Trang 4NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN Stt Viết tắt Viết đầy đủ
1 Bộ GD&ĐT : Bộ Giáo dục và Đào tạo
7 CNH-HĐH : Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá
8 CNTT : Công nghệ thông tin
19 KTCN : Kỹ thuật công nghiệp
20 NCKH : Nghiên cứu khoa học
21 NDDH : Nội dung dạy học
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đảng cộng sản Việt Nam kiên trì lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng
Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, đồng thời làm kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, của cách mạng Việt Nam nói chung và của đường lối phát triển giáo dục đào tạo nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói riêng Do đó thế hệ trẻ Việt Nam với mọi lứa tuổi, mọi bậc học đều được học tập về Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng HCM
Bác Hồ đã từng nói : “Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa” Sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi giáo dục đại học cao đẳng không chỉ quan tâm đào tạo mặt trình độ nghề nghiệp mà còn đặc biệt coi trọng việc “dạy người với những phẩm
chất hàng đầu của con người mới XHCN”
Giáo dục chính trị tư tưởng đạo đức, lối sống cho sinh viên trong giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh đã được đưa vào trong hệ thống đào tạo Đại học từ những năm 60 với mục tiêu hình thành thế giới quan và những phẩm chất chính trị cần thiết như: Lý tưởng cách mạng, niềm tin, ý chí, ước mơ, niềm tự hào dân tộc… Tất cả những phẩm chất đó được hình thành và phát triển trong quá trình học tập, rèn luyện tại trường Đại học và cao đẳng trong các họat động thực tiễn của cuộc sống Trong đó có vai trò đặc biệt của bộ môn Mác- Lênin, Tư tưởng
Hồ Chí Minh
Tuy nhiên cho đến nay chất lượng dạy học các môn Khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra trong giai đoạn hiện nay Sinh viên hiện nay thường có quan niệm có chuyên môn giỏi sẽ có việc là thu nhập cao Vì vậy, có không ít sinh viên
Trang 6học các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh với thái độ cầm chừng miễn sao trả bài xong cho thầy cô Thậm chí gian lận trong thi cử các môn học quan trọng này đã trở thành căn bệnh mãn tính ở các trường Đại học, Cao đẳng
Mặt khác, trong đội ngũ giảng viên Mác- Lênin, Tư tưởng HCM cũng xuất hiện những hạn chế có ảnh hưởng xấu đến công tác giảng dạy Do số lượng giảng viên quá thiếu nên mỗi giảng viên dạy từ 2 đến 3 môn, thậm chí dạy không đúng chuyên ngành Cũng do giảng viên phải dạy nhiều không có thời gian nghiên cứu, làm ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy các môn học
Về chất lượng, còn không ít giảng viên Mác-Lênin chưa có vốn kiến thức sâu rộng, yếu về ngoại ngữ, chưa được trang bị có hệ thống sâu sắc về vấn
đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ chí Minh đường lối cách mạng của Đảng, nội dung và đặc điểm của thời đại ngày nay
Chính vì lẽ đó Bộ chính trị đã nhiều lần ra nghị quyết về tăng cường vai trò và chất lượng các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng HCM trong nhà trường Đánh giá tình hình giáo dục - đào tạo, Nghị quyết hội nghị lần thứ
2 Ban chấp hành trung ương (Khoá VIII) đã chỉ rõ: “Chất lượng và hiệu quả giáo dục còn thấp đặc biệt đáng lo ngại là trong một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân lập nghiệp.” [15 Tr.27]
Một trong các nguyên nhân của sự sa sút về chất lượng hiệu quả giáo dục ở bậc đại học, cao đẳng không thể không kể đến vai trò và chất lượng dạy học các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay ở các trường đại học, cao đẳng còn chưa đạt được các yêu cầu chức năng vốn
có của các bộ môn này
Trước tình hình trên là một giảng viên tại trường Cao đẳng Kinh tế -
Kỹ thuật Công nghiệp I với mong muốn nâng cao trình độ, vận dụng lý luận vào thực tiễn góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập các
Trang 7môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh Chúng tôi đã chọn đề
tài: “Các biện pháp quản lý quá trình dạy học các môn khoa học Mác-
Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I, trong điều kiện đổi mới giáo dục đại học hiện nay ” làm
đề tài nghiên cứu cuối khoá học
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hoá các cơ sở lý luận và phân tích thực trạng,
đề tài cố gắng đề xuất các biện pháp quản lý quá trình dạy học các môn
khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh tại trường CĐ Kinh tế- KTCNI trong điều kiện đổi mới giáo dục đại học hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học các môn các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng
Hồ Chí Minh tại trường CĐ Kinh tế- KTCNI
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý quá trình dạy học các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh tại trường CĐ kinh tế-KTCN I trong điều kiện đổi mới giáo dục đại học hiện nay
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Tổng quan và phân tích các lý luận quản lý giáo dục và các cơ sở pháp
lý của đào tạo Đại học, Cao đẳng liên quan đến vấn đề nghiên cứu trong điều kiện đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho việc xác định các biện pháp quản lý quá trình dạy học các môn
khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 84.2 Khảo sát đánh giá thực trạng quản lý quá trình dạy học các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh tại trường CĐ kinh tế - KTCN I và tổng kết kinh nghiệm, khái quát hoá các biện pháp quản lý dạy học các môn này tại Trường những năm gần đây, làm cơ sở thực tiễn của việc xác định các biện pháp quản lý quá trình dạy học các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh tại Trường CĐ kinh tế-KTCN I trong điều kiện đổi mới giáo dục đại học hiện nay
4.3 Đề xuất các biện pháp quản lý quá trình dạy học các môn khoa học
Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh tại trường CĐ kinh tế-KTCN I trong điều kiện đổi mới giáo dục đại học hiện nay
5 Giả thuyết khoa học của đề tài
Các biện pháp quản lý quá trình dạy học các môn khoa học Mác- Lênin,
Tư tưởng HCM nếu được xây dựng đồng bộ trên cơ sở kết hợp giữa các cơ sở
lý luận, sự kế thừa kinh nghiệm quản lý đào tạo vốn có và sự phát triển các kinh nghiệm đó trong điều kiện đổi mới giáo dục đại học cao đẳng hiện nay, chắc chắn sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh tại Trường CĐ kinh tế-KTCN I
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Bước đầu hệ thống hoá và vận dụng lý luận quản lý giáo dục để đưa
ra được cơ sở lý luận cho các biện pháp quản lý quả trình dạy học ở bộ môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng HCM góp phần làm phong phú lý luận quản lý giáo dục ở bậc Đại học, Cao đẳng
- Góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy – học tập các học các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh tại trường CĐ Kinh tế-KTCNI
Trang 9- Nếu các biện pháp được đánh giá khả thi ở trường CĐ Kinh KTCNI, thì kết quả nghiên cứu này cũng có thế xem xét vận dụng thành công trong quá trình dạy học các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường cao đẳng, đại học có điều kiện tương tự
tế-7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu một số khái niệm cơ bản của quản lý giáo dục, các cơ sở pháp lý và nội hàm của vấn đề đổi mới giáo dục đại học, cao đẳng hiện nay
- Nghiên cứu các văn bản của chính phủ, Bộ Công nghiệp, Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Sở giáo dục và đào tạo Nam Định, quản lý về các hoạt động đào tạo việc giảng dạy - học tập và của việc giảng dạy học tập các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng HCM nói riêng
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Khảo sát kinh nghiệm quản lý đào tạo, đánh giá thực trạng quá trình dạy học các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng HCM
- Phương pháp quan sát : Quan sát các hoạt động đào tạo ở trường CĐ kinh tế-KTCN I , các hoạt động giảng dạy – học tập ở bộ môn
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Xử lý số liệu bằng biểu bảng và các phân tích các định lượng tương ứng
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Trang 10Chương 1 Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của vấn đề quản lý quá
trình dạy học các môn Khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng HCM
Chương 2 Thực trạng quản lý dạy học các môn khoa học
Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh tại trường CĐ kinh tế-KTCN I
Chương 3 Một số biện pháp lý quản lý quá trình dạy học các môn
Khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng HCM
Trong luận văn gồm có phụ lục, biểu bảng, sơ đồ và tài liệu tham khảo
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC CÁC MÔN KHOA HỌC MÁC-LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
1.1 Quản lý giáo dục và quản lý các hoạt động dạy học
1.1.1 Quản lý và các chức năng quản lý
1.1.1.1 Khái niệm về quản lý
Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật tác động đến một
hệ thống hoạt động xã hội từ tầm vĩ mô đến tầm vi mô Có nhiều cách tiếp cận, do vậy rất có thể có nhiều cách quan niệm khác nhau về quản lý Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Quản lý là tác động
có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [5, Tr.1]
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang lại định nghĩa "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến" [21,14]
Các giáo sư Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng, quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn [20, Tr.17]
Những quan niệm về quản lý của các tác giả tuy có khác nhau về cách tiếp cận nhưng đều toát lên một số quan điểm chung nhất về quản lý như sau:
- Là một quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục đích nhất định
- Là công cụ hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm
Trang 12- Là phương thức hoạt động tốt nhất để đạt được mục tiêu chung của một nhóm, một tổ chức
1.1.1.2 Các chức năng của quản lý
- Các công trình nghiên cứu khoa học quản lý tuy có nhiều ý kiến chưa thật đồng nhất trong thuật ngữ để chỉ ra các chức năng quản lý, song
về cơ bản đã thống nhất có 5 chức năng cơ bản: Kế hoạch - Tổ chức - Chỉ đạo - Kiểm tra- Thông tin.[13, Tr.52]
- Kế hoạch: là chức năng trung tâm, được hiểu khái quát là một chương trình hành động cụ thể của chủ thể quản lý căn cứ vào hiện trạng ban đầu của tổ chức trong từng thời kỳ, từng giai đoạn, được hoạch định, lập ra trước khi tiến hành thực hiện một nội dung nào đó để đạt được mục tiêu đề ra
- Tổ chức: là sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, những con người, những dạng hoạt động thành một hệ toàn vẹn, biến tập hợp các thành tố rời rạc thành một thể toàn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tương tác với nhau một cách tối ưu
- Chỉ đạo: là phương thức hoạt động của chủ thể quản lý nhằm điều hành bộ máy của tổ chức hoạt động thực hiện mục tiêu kế hoạch Về thực chất, chỉ đạo là những hoạt động xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của người lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lý, huy động mọi lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch nhằm đảm bảo các hoạt động của tổ chức diễn
ra trong kỷ cương trật tự
- Kiểm tra đánh giá: là biện pháp tác động của chủ thể lên khách thể nhằm xác lập trạng thái vận hành của tổ chức, đánh giá kết quả vận hành của tổ chức, xem mục tiêu và toàn bộ kế hoạch đã đạt đến mức độ nào Thông qua kiểm tra, chủ thể quản lý thấy được những bất cập, những
ưu điểm trong quá trình hoạt động, tìm ra nguyên nhân, có biện pháp điều chỉnh xử lý, uốn nắn, phát huy kịp thời Giúp chủ thể rút ra những bài học kinh nghiệm quản lý trong quá trình vận hành
Trang 13- Ngoài ra, nhiều nhà nghiên cứu còn đề nghị đưa “Thông tin quản lý” như là một chức năng không thể thiếu
Trong hoạt động quản lý, các chức năng quản lý thực hiện có hiệu quả hay không phụ thuộc hoàn toàn vào thông tin Thông tin vừa là phương tiện, vừa là công cụ tiến hành hiệu quả, liên kết chặt chẽ các chức năng quản lý trong hoạt động quản lý
+ Thông tin là một nguồn lực Không giống như những nguồn lực vật chất, thông tin tự nó không tham gia vào việc xác định giá trị của mình
Có thể biểu diễn sự kết nối các chức năng cơ bản của một chu trình quản lý theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1 Các chức năng và chu trình quản lý
1.1.2 Quản lý giáo dục
1.1.2.1 Khái niệm quản lý giáo dục
Mục tiêu
Chất lượng, hiệu quả, GD gia tăng
Kế hoạch hoá
Chỉ đạo
Kiểm tra
Trang 14Quản lý giáo dục là một khái niệm quản lý chuyên ngành, dựa trên các nguyên lý nền tảng của khoa học quản lý nói chung Khái niệm quản lý cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau Ở đây chúng ta chỉ đề cập đến khái niệm quản lý giáo dục trong phạm vi quản lý một hệ thống giáo dục chung
mà hạt nhân là hệ thống các trường học
Theo M.I.Kônđacôp: Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp kế hoạch hoá nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống cả về số lượng và chất lượng.[tr 93 ]
Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang [21 tr 93] đã viết: Quản lý giáo dục thực chất là tác động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, giáo dục thể chất theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát
là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Quản lý giáo dục là
sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt kết quả mong muốn.[3]
Các quan điểm trên tuy có những cách diễn đạt khác nhau, nhưng đều toát lên bản chất của quản lý giáo dục: đó là sự tác động có tổ chức, có tính định hướng, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý ở các cấp lên đối tượng quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục ở cơ sở và của toàn bộ
hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định
1.1.2.2 Các nội dung cơ bản của quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục được hiểu như là một tập hợp những biện pháp về tổ chức, phương pháp, nội dung giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính… Do người lãnh đạo cơ sở đào tạo đưa ra nhằm bảo vệ sự vận hành bình thường của
Trang 15các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng và chất lượng Quản lý giáo dục còn được hiểu rộng
hơn, theo nghĩa tổng quát, là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng
xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội
Từ những ý kiến trên có thể khái quát được nội hàm cơ bản của quản
lý giáo dục:
Quản lý giáo dục là một hoạt động chuyên biệt của chủ thể quản lý, bao gồm một tập hợp các tác động có chủ đích thực hiện tốt các chức năng
kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đảm bảo sự vận hành tối
ưu của một hệ thống/tổ chức/cơ quan giáo dục - đào tạo, nhờ đó mà đạt được các mục tiêu phát triển giáo dục- đào tạo với chất lượng và hiệu quả cao hơn
Quản lý giáo dục bao gồm nhiều cấp độ: Quản lý hệ thống giáo dục quốc dân, quản lý nhà trường, quản lý các hoạt động chuyên biệt
Quản lý giáo dục không chỉ quản lý hoạt động dạy - học mà còn quản
lý lực lượng xã hội khác, các yếu tố, điều kiện khác nhằm đảm bảo chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục- dạy học
Quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà trường là nhằm mục đích tăng cường phân cấp quản lý bên trong nhà trường với những trách nhiệm và quyền hạn rộng rãi hơn để thực hiện nguyên tắc giải quyết vấn đề tại chỗ, trên cơ sở đó đưa chất lượng, hiệu quả giáo dục đào tạo của nhà trường (Cơ
sở đào tạo) đạt đến một trạng thái chất lượng cao hơn
1.1.3 Quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường
1.1.3.1 Quản lý nhà trường
Nhà trường nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân và hệ thống xã hội Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: "Nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội,
Trang 16thực hiện chức năng tạo nguồn cho các yêu cầu của xã hội, đào tạo các công dân cho tương lai Với tư cách là một tổ chức giáo dục cơ sở vừa mang tính giáo dục, vừa mang tính xã hội, trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ, nó là tế bào chủ chốt của bất kỳ hệ thống giáo dục nào từ trung ương đến địa phương" [3tr 37]
Quản lý nhà trường theo nghĩa trực tiếp ở một cơ sở đào tạo, có thể
hiểu là một bộ phận của quản giáo dục, bao gồm nội dung quản lý tất cả các hoạt động diễn ra trong nhà trường, đảm bảo đưa chất lượng giáo dục
và đào tạo của nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đào tạo của cấp học
Quản lý nhà trường đại học là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác, nhằm tận dụng nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có, hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường
và tiêu điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo đưa nhà trường tiên lên một trạng thái mới
Dựa theo điều 53, Luật giáo dục 1998, có thể xác định nội dung Quản
lý nhà trường đại học bao gồm:
- Quản lý công tác tuyển sinh
- Quản lý chương trình giáo dục và đào tạo do Bộ quy định
- Quản lý hoạt động dạy và học
- Quản lý con người tham gia hoạt động dạy và học
- Quản lý cơ sở vật chất, điều kiện thiết yếu phục vụ hoạt động dạy học
- Quản lý chất lượng đầu ra
Như vậy, quản lý hoạt động dạy và học là một trong các nội dung cơ bản của quản lý nhà trường và có mối liên hệ với các yếu tố khác trong hệ:
1.1.3.2 Nội dung cơ bản của quản lý hoạt động dạy và học trong nhà trường
Trên cơ sở nhiệm vụ quản lý trường học, quản lý hoạt động dạy và học tập trung chủ yếu vào các nội dung cơ bản sau đây:
Trang 17a) Xây dựng kế hoạch và quản lý kế hoạch dạy học
Kế hoạch dạy học là một bộ phận của kế hoạch giáo dục của một cở
sở đào tạo, trong đó bao hàm các mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu, nhiệm vụ trọng tâm, nhiệm vụ cụ thể, biện pháp tổ chức thực hiện, chương trình thực hiện, thời gian, tiến độ và phân công thực hiện, được cụ thể hoá trong từng tháng, từng tuần Kế hoạch dạy học của nhà trường được triển khai thành
kế hoạch của các tổ, nhóm chuyên môn và cá nhân Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ, nhóm trưởng chuyên môn có trách nhiệm giám sát, đôn đốc chỉ đạo cấp mình phụ trách thực hiện đúng kế hoạch
b) Tổ chức chỉ đạo các hoạt động dạy – học
Thực chất hoạt động dạy học gồm hai hoạt động thành phần: hoạt động Dạy của thầy và hoạt động Học của học sinh Hai hoạt động này luôn luôn gắn bó mật thiết với nhau, tạo nên đặc trưng của quá trình hoạt động của nhà trường
- Tổ chức chỉ đạo các hoạt động Dạy - Học, trước hết là phải đảm bảo các yêu cầu về giảng dạy của giáo viên:
+ Đảm bảo tiến độ và yêu cầu chuyên môn thực hiện chương trình môn học, kế hoạch giảng dạy các môn học
+ Đảm bảo yêu cầu trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ giáo viên bộ môn
+ Đào tạo chất lượng, hiệu quả giảng dạy và các kết quả, kiểm tra đánh giá dạy học phù hợp với các mục tiêu số lượng, chất lượng đề ra + Đổi mới PPDH và nâng cao chất lượng bài dạy, giúp HS-SV đạt được mục tiêu môn học, bài học
- Tổ chức chỉ đạo dạy học còn là những tác động về phía người học : + Tổ chức quản lý nề nếp học tập
+ Xây dựng phương thức học tập/ động cơ/ động lực của người học
Trang 18+ Quản lý tốt các hoạt động học tập của sinh viên theo quy chế nhằm đạt được chất lượng, hiệu quả đào tào
+ Quản lý hoạt động học của HS-SV ở góc độ hoạt động GD, rèn luyện về nhân cách, các hoạt động tập thể, lối sống và thói quen sinh hoạt văn hoá, văn minh
- Tổ chức quản lý dạy học còn là sự tác động để huy động mọi nguồn lực (trí lực, vật lực, tài lịêu) trong và ngoài trường để tạo điều kiện tốt nhất đảm bảo chất lượng dạy và học
c) Tổ chức kiểm tra đánh giá chất lượng hoạt động dạy - học
Được tiến hành bằng các hình thức dự giờ, thăm lớp, phiếu hỏi, kiểm tra khảo sát đầu năm, kiểm tra viết giữa kỳ, kiểm tra cuối kỳ và cuối năm Các biện pháp thường tiến hành là kiểm tra xác suất, kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất, kiểm tra có báo trước và kiểm tra toàn diện Mục đích của các biện pháp này nhằm phát hiện đúng, đánh giá sát nhất năng lực thực tế của giáo viên và chất lượng thực của hoạt động dạy, học; đồng thời phát hiện những điểm yếu, những bất cập về chất lượng do quá trình chỉ đạo và thực hiện có sai lệch hoặc phát sinh từ thực tế biến động ngoài dự kiến
Ngoài ra như đã nói ở trên, Quản lý các hoạt động dạy- học còn thể hiện ở quản lý - tổ chức các mối liên hệ thông tin đa dạng, nhờ đó bảo đảm các hoạt động giảng dạy hoạt động giảng dạy- học tập và quản lý hiệu các hoạt động dạy trong nhà trường
Vậy quản lý hoạt động dạy học là một trong những nội dung cơ bản nhất trực tiếp nhất của quản lý nhà trường
Trong quản lý nhà trường nóí chung, quản lý quá trình dạy học nói riêng có hai loại tác động cơ bản: tác động của những chủ thể quản lý cấp trên và tác động của những chủ thể quản lý bên trong nhà trường
Chủ thể quản lý hoạt động dạy học của nhà trường chính là Ban giám hiệu và bộ máy quản lý do Hiệu trưởng điều hành Trong phạm vi hẹp hơn,
Trang 19hoạt động dạy học diễn ra tại các đơn vị cơ sở của nhà trường (Khoa và
các Tổ bộ môn) và trực tiếp ở hoạt động giảng dạy của các giảng viên Do
đó, chủ thể quản lý quá trình dạy học còn là cán bộ quản lý cấp Khoa, các trưởng bộ môn và là các giảng viên
Mặt khác, hoạt động giảng dạy của thày không thể tách rời hoạt động học tập của học sinh trong quá trình dạy học thống nhất, do đó, quản lý quá trình dạy học không thể không xem xét trong mối quan hệ biện chứng với việc quản
lý các hoạt động học tập của người học Chất lượng giáo dục chủ yếu của nhà trường do chất lượng dạy học quyết định, bởi vậy khi nói đến quản lý quá trình dạy học còn phải xem xét đến mọi khâu, đến các yếu tố điều kiện đảm bảo (thông tin, cơ sở vật chất…) của hoạt động quản lý nhà trường
Vốn là một bộ phận hữu cơ của quá trình đào tạo có tính tổng thể, nhưng công tác quản lý quá trình dạy học có những đặc điểm riêng, do đó muốn nâng cao chất lượng hoạt động của quá trình này nhà quản lý cần phải nghiên cứu sâu hơn về lý luận dạy học
1.2 Khái niệm, đặc điểm của quá trình dạy học ở bậc đại học, cao đẳng
1.2.1 Khái niệm và bản chất của quá trình dạy học
1.2.1.1 Khái niệm về quá trình dạy học
Lý luận dạy học đã khẳng định: Quá trình dạy học là quá trình sư phạm bộ phận, một phương tiện để trau dồi học vấn, phát triển năng lực và giáo dục phẩm chất, nhân cách thông qua sự tác động qua lại giữa người dạy và người học, nhằm truyền thụ và lĩnh hội một cách có hệ thống những tri thức khoa học, những kỹ năng và kỹ xảo nhận thức và thực hành Nói cách khác, quá trình dạy học là tiến trình vận động kết hợp giữa các hoạt động dạy và học để thực hiện các nhiệm vụ dạy và học đã được quy định [13 tr 23] Việc giảng dạy và học tập được hiểu là hai mặt của một quá trình bổ xung cho nhau, chế ước lẫn nhau, tác động qua lại với nhau, là
Trang 20động lực kích thích bên trong của mỗi chủ thể phát triển, tạo ra hoạt động dạy học với tư cách là một quá trình toàn vẹn, thống nhất
- Trong quá trình dạy học, vai trò của người thầy là định hướng, tổ chức, điều khiển, thực hiện việc truyền thụ tri thức, kỹ năng và kỹ xảo đến người học một cách khoa học, do đó luôn luôn có vai trò và tác dụng chủ đạo Vai trò chủ đạo của giáo viên thể hiện qua việc định hướng, tổ chức, điều khiển trực tiếp các hoạt động ở trên lớp, luôn luôn có ý nghĩa đặc biệt với việc đảm bảo chất lượng của quá trình học tập
Người học cần được tổ chức để có thể tiếp thu một cách có ý thức tự giác, tích cực, tự lực hệ thống kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo, hình thành năng lực hoạt động trí tuệ và thái độ đúng đắn Người học phải được coi là là chủ thể tích cực của hoạt động học, của việc hình thành nhân cách của bản thân Vai trò chủ động, tích cực, năng động của học sinh trong quá trình học tập có ý nghĩa quyết định đối với việc phát triển trí tuệ, lĩnh hội kiến thức, hình thành và phát triển nhân cách của bản thân với ý nghĩa chủ thể sáng tạo
- Quá trình dạy học chứa đựng nhiều quy luật: quy luật biện chứng giữa dạy học và giáo dục, quy luật thống nhất biện chứng giữa nội dung dạy học và phương pháp phương tiện dạy học, quy luật thống nhất biện chứng giữa việc xây dựng kế hoạch, việc tổ chức, việc điều chỉnh và kiểm tra hoạt động của học sinh trong quá trình dạy học… Trong hàng loạt quy luật đó thì quy luật thống nhất biện chứng giữa dạy và học là quy luật cơ bản Sự tác động qua lại giữa dạy và học phải đáp ứng được yêu cầu: nhận thức rõ mục đích điều khiển, tổ chức tốt các mối quan hệ Xuôi - Ngược, lựa chọn những phương pháp dạy học thích hợp trên cơ sở phân tích những thông tin thu được Sự tác động qua lại giữa dạy và học, giữa thày và trò được diễn ra theo cơ chế hợp tác, chính vì vậy người ta nói đến tính bình đẳng và dân chủ trong dạy học như là một nguyên tắc của quản lý giáo dục hiện đại
Trang 21- Quá trình dạy học là một hệ thống (chỉnh thể) luôn luôn ở trạng thái vận động và phát triển Nó gồm nhiều yếu tố cấu trúc tương tác trong mối quan hệ biện chứng với nhau
- Mục tiêu dạy học (kiến thức, thái độ, kỹ năng)
- Nội dung của dạy học (chương trình môn học, bài học)
- Phương pháp dạy và phương pháp học
- Người dạy và người học
- Kết quả dạy học (công tác kiểm tra đánh giá dạy học)
Do đó quản lý dạy học chính là quản lý theo từng yếu tố cấu thành quá trình dạy học, tác động làm cho từng yếu tố phát huy hết tiềm năng (chất lượng, hiệu quả) và đảm bảo quản lý tốt các mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố cấu trúc trong một quá trình dạy học
1.2.1.2 Về bản chất của quá trình dạy học đại học
Khác với quá trình dạy học ở trường phổ thông, bản chất của quá
trình dạy học ĐH (bao gồm cả Cao đẳng) là quá trình nhận thức độc đáo
có tính chất nghiên cứu của người sinh viên dưới sự điều khiển của giảng viên nhằm lĩnh hội một hệ thống tri thưc, kĩ năng, kĩ xảo một lĩnh vực nghề nghiệp ở trình độ cao Trong đó, phương pháp dạy học đại học phải được
coi là yếu tố quyết định, nhằm đạt được mục tiêu bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển nhân cách nghề nghiệp
Cấu trúc chức năng của quá trình dạy học ĐH theo tác giả Lưu Xuân Mới, được diễn tả bằng sơ đồ sau [18,Tr77]:
Sơ đồ 2: Sơ đồ cấu trúc chức năng của quá trình dạy – học đại học
Trang 22
Giáo dục đại học giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ hệ thống giáo dục, trực tiếp tác động đến trình độ phát triển của khoa học và công nghệ Đào tạo nhân lực là nhiệm vụ của nhà trường nói chung và của trường đại học,
CĐ nói riêng
Trong quá trình dạy học đại học, vấn đề then chốt là tổ chức, quản lý
mối quan hệ dựa trên sự hợp tác, cộng tác giữa hoạt động truyền đạt và điều
khiển của thầy và quản lý hoạt động lĩnh hội và tự học của trò
1.2.2 Một số đặc điểm của quá trình dạy học đại học, cao đẳng
Quản lý hoạt động dạy học đại học là tổ chức, quản lý các yếu tố
của quá trình, và là tập hợp tác động làm cho các yếu tố cơ bản của quá trình dạy học vận hành có chất lượng hiệu quả, nhờ đó mà đạt được các mục tiêu của dạy học Cần phải làm sáng tỏ một số đặc điểm của quá trình
dạy học đại học (gồm cả bậc cao đẳng) theo từng yếu tố cơ bản của nó
1.2.2.1 Về Mục tiêu của giáo dục đại học
Đào tạo người học có phẩm chất chính trị đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình
độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành, có khả năng phát hiện, giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành đào tạo.[18, Tr.25]
Trang 23Mục tiêu của giáo dục ĐH, CĐ là đào tạo ra con người năng động sáng tạo, tự chủ, có óc phê phán, có năng lực giải quyết các vấn đề mới nảy sinh,
có năng lực tự học, tự nghiên cứu suốt đời, có năng lực tạo nghiệp, tiến thân, lập nghiệp trong “thị trường sức lao động”[2, Tr.27] Người tốt nghiệp đại học ngày nay phải có những năng lực trội sau: Năng lực thích ứng với những thay đổi rất nhanh; Năng lực trí tuệ, năng lực hành động, năng lực tự học và năng lực quốc tế
1.2.2.2 Nhiệm vụ của dạy học ĐH, CĐ
Quá trình dạy học đại học, cao đẳng có ba nhiệm vụ cơ bản Ba nhiệm vụ dạy học này có mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời, biểu hiện sự tương quan giữa dạy học, giáo dục và phát triển [18, Tr.68]
+ Dạy học nghề nghiệp ở trình độ cao bao gồm: Hệ thống tri thức và hệ thống kỹ năng, kỹ xảo gắn với nghề nghiệp tương lai của sinh viên
+ Dạy – học phương pháp nhận thức để tìm ra tri thức bao gồm: bồi dưỡng cho sinh viên phương pháp luận khoa học; phương pháp nghiên cứu
và phương pháp tự học; Phát triển phẩm chất và năng lực hoạt động trí tuệ của sinh viên
+ Dạy học thái độ góp phần bồi dưỡng cho sinh viên lý tưởng, niềm tin, hình thành nên họ nhân sinh quan và thế giới quan khoa học; những phẩm chất đạo đức tốt đẹp cũng như thái độ, tác phong của người cán bộ khoa học, kỹ thuật có tri thức, có tay nghề, có năng lực thực hành, năng động sáng tạo có khả năng thích ứng với những thay đổi nghề nghiệp
1.2.2.3 Hoạt động giảng dạy và người giảng viên ở trường ĐH, CĐ
Giảng dạy ở trường ĐH, CĐ là chức năng đặc biệt của người có trình độ chuyên môn cao (lý thuyết/ thực hành) nhằm tổ chức và điều khiển tối ưu quá trình chiếm lĩnh tri thức (hệ thống khái niệm khoa học) của học viên, trong và bằng cách đó hình thành trình độ năng lực chuyên môn và phát triển nhân cách học viên phù hợp đặc trưng nghề nghiệp [18, Tr.65]
Trang 24- Chủ thể của hoạt động giảng dạy là giáo viên ĐH, CĐ, người tổ chức cấc hoạt động học tập của học sinh và giữ vai trò quyết định chất
lượng giáo dục Đối tượng của hoạt động này là người học đã trưởng thành
(cũng là mục tiêu đào tạo), có vốn sống và năng lực nhận thức, năng lực hành động khá tốt (qua tuyển chọn đầu vào là các cuộc thi quốc gia)
- Mục đích của hoạt động giảng dạy ở bậc ĐH, CĐ không chỉ giúp người học học nắm vững kiến thức ở trình độ cao và hình thành kỹ năng hoạt động nghề nghiệp chuyên sâu, mà rất quan trọng là từ đó hình thành phương pháp tư duy, năng lực chuyên môn (thành thạo kĩ năng một ngành nghề nhất định) và các phẩm chất nhân cách nghề nghiệp, nghĩa là làm cho học viên trở thành người lao động thông minh, có tay nghề thành thạo và là người công dân có ý thức xã hội
- Nội dung giảng dạy ĐH, CĐ là hệ thống tri thức lý thuyết khoa học
và hệ thống kĩ năng nghề nghiệp ở trình độ chuyên sâu nhằm trang bị cho người học các phẩm chất, năng lực phù hợp yêu cầu của mục tiêu đào tạo nghề nghiệp
- Phương pháp giảng dạy (bao gồm các phương pháp nhận thức,
phương pháp điều khiển các hoạt động trí tuệ và thực hành, phương pháp giáo dục ý thức học tập cho học sinh…) nhằm giúp người học có được
phương pháp tư duy và phương pháp lao động khoa học, hiệu quả
1.2.2.4 Hoạt động học tập và người học ở trường ĐH, CĐ
Đặc điểm của hoạt động học tập ở ĐH, CĐ khác xa với hoạt động học tập ở trường phổ thông [17, Tr.65]
- Trước hết, học ở ĐH, CĐ là quá trình nhận thức đặc biệt, có tính chất
nghiên cứu khoa học và rèn luyện năng lực nghề nghiệp ở trình độ chuyên
môn cao
Trang 25- Học ở ĐH, CĐ là quá trình nhận thức đặc biệt, rất yêu cầu cao về tính
tự giác, tích cực, tự lực của người học Do đó, thực chất dạy học ở ĐH, CĐ
chính là “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”:
- Học ở ĐH, CĐ là quá trình là hoạt động có đối tượng, trong đó người
học là chủ thể tích cực, hệ thống khái niệm khoa học của từng lĩnh vực
khoa học/ nghề nghiệp là đối tượng để chiếm lĩnh Bản chất của học là sự
tiếp thu, xử lý thông tin chủ yếu bằng các thao tác trí tuệ dựa vào vốn kinh nghiệm sống có được của cá nhân, từ đó phát triển thành hệ thống tri thức khoa học, kỹ năng nghề nghiệp và hệ thống phẩm chất nhân cách phù hợp yêu cầu đặc trưng nghề nghiệp
- Phương pháp học ở ĐH, CĐ là các phương pháp nhận thức khoa học,
và các phương pháp thực hành nghề nghiệp ở trình độ lý luận bậc cao Đó
là phương pháp nhận thức tích cực, chủ động đòi hỏi khả năng tư duy độc lập và sáng tạo [18, tr.67]
Đặc thù và cũng là mục tiêu quan trọng nhất của việc giảng dạy ở trường
ĐH, CĐ là dạy cách cho sinh viên, trang bị cho họ những phương pháp và ký năng cơ bản để tăng cường khả năng tự học, thói quen học suốt đời
Hoạt động học tập của sinh viên ở trường ĐH, CĐ được hiểu là hoạt động
do bản thân sinh viên quyết định và thực hiện một cách tự giác, tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo để hoàn thành những nhiệm vụ học tập, làm thoả mãn nhu cầu nhận thức của bản thân và đạt được mục tiêu đã định Hoạt động tập của sinh viên phải hướng tới rèn luyện kỹ năng tự học Việc rèn luyện kỹ năng tự học phải được nâng lên từng bước:
- Tự học diễn ra dưới sự điều khiển trực tiếp của giảng viên
- Tự học diễn ra dươi sự điều khiển gián tiếp của giảng viên
- Tự học hoàn toàn thoát ly khỏi sự điều khiển của giảng viên Hình thức tự học có sự hướng dẫn trực tiếp của thầy, có vai trò định hướng cho sự hình thành các kỹ năng tự học khi họ còn ngồi trên ghế nhà trường, cũng như khi họ đã tốt nghiệp Điều này có nghĩa là việc hình
Trang 26thành, bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh gắn chặt với vai trò của người thầy
Người thầy đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và bồi dưỡng khả năng tự học cho sinh viên thông qua thực hiện các phương pháp dạy học tích cực, dạy học cá nhân hoá quá trình dạy học như đã trình bày ở trên
1.2.2.5 Nội dung dạy học ở bậc ĐH CĐ
Nội dung dạy học ở bậc ĐH, CĐ phải có tính hiện đại và phát triển, đảm bảo cơ cấu hợp lý giữa kiến thức khoa hoc cơ bản với kiến thức chuyên ngành và các bộ môn Mác- Lênin, tư tưởng HCM; Kế thừa và phát huy ruyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hoá dân tộc; tương ứng với trình độ chung của khu vực và thế giới Đào tạo trình độ đại học phải bảo đảm cho sinh viên có những kiến thức khoa học cơ bản và chuyên ngành tương đối hoàn chỉnh, có phương pháp làm việc khoa học, cóc năng lực vận dụng lý thuyết vào công tác chuyên môn
Nội dung chương trình đào tạo ĐH, CĐ phải phù hợp với xu thế tiến
bộ của thời đại, sự phát triển của khoa học công nghệ, vừa gắn chặt với yêu cầu phát triển của đất nước, phù hợp với văn hoá truyền thống dân tộc Như vậy nội dung đào tạo đại học phải đảm bảo các yêu cầu: Cơ bản, hiện đại, giữa dân tộc và nhân loại giữa khu vực và toàn cầu, giữa phần cứng và phần mền
1.2.2.6 Phương pháp dạy học ĐH CĐ
Phương pháp dạy học ĐH, CĐ phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực
tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm ứng dụng Phương pháp dạy học ĐH, CĐ phải được thiết kế phù hợp vói đối tượng để hướng tới mục đích cuối cùng là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đát nước[18,Tr.26] Về cơ bản, phương pháp dạy học ĐH
CĐ diễn ra theo hướng:
Trang 27- Tích cực hoá người học( dạy học tích cực) dựa trên nguyên tắc phát huy tính tích cực, tự giác và sáng tạo của người học Quá trình tích cực hoá người học có thể thông qua các hoạt động cụ thể như : Tổ chức cho sinh viên
tự nghiên cứu, làm việc nhóm, chuẩn bị báo cáo và thuyết trình trên lớp,
- Cá thể hoá: Dạy học cá nhân hoá dựa trên nguyên tắc tôn trọng người học, lấy người học làm trung tâm của qua trình đào tạo Mỗi sinh viên là một cá nhân với những cách tiếp cận, sự ưu tiên, mối quan tâm, sở thích, có những đầu tư về thời gian khác nhau, trí tuệ , công sức cho những nội dung học tập khác nhau đều có cơ hội như nhau trong học tập
- Công nghệ hoá quá trình dạy học Dựa trên nguyên tắc tiến hành chuyển giao công nghệdạy học đại học nhằm tiến đến một sự thống nhất , hiệu quả chung cho giáo dục, mà trước hết là trong từng trường, giữa các trường đại học với nhau
Như vậy, từ bản chất và các đặc điểm đặc thù của quá trình dạy học ở bậc ĐH, CĐ trên đây đã đặt ra những yêu cầu cao cho hoạt động quản lý quá trình dạy học ở các bậc học này
Đó chính là các cơ sở lý luận rất quan trọng để người quản lý nghiên cứu đề ra các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở
trường Đại học, Cao đẳng
1.3 Quản lý quá trình dạy học ở các trường Cao đẳng
1.3.1 Vị trí của bậc cao đẳng trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1 1 Vị trí và mục tiêu của giáo dục cao đẳng
Theo Luật giáo dục của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2005 tại điều 42 có quy định trường cao đẳng là một bộ phận quan trọng trong hệ
thống giáo dục quốc dân
Về mục tiêu đào tạo : Đào tạo trình độ cao đẳng giúp cho sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản về ngành nghề, có khả
Trang 28năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành đào tạo [Điều 39 – Luật Giáo dục]
Trên cơ sở mục tiêu, chương trình khung của từng ngành học của Bộ giáo dục - đào tạo, các trường cao đẳng xây dựng mục tiêu, chương trình cụ thể của từng ngành học, bậc học của trường mình
Có thể nói quy trình dạy – học được bắt đầu bằng việc phân tích đối tượng để xác định mục tiêu học tập và kết thúc bằng lượng giá để đo lường mức độ đạt được mục tiêu của người học
Như vậy đòi hỏi các nhà quản lý từ Ban giám hiệu (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng), đến BCN khoa, Trưởng bộ môn trước hết phải xây dựng
được hệ thống mục tiêu học tập (của chương trình đào tạo, của môn học)
Trên cơ sở hệ thống mục tiêu đó mà triển khai các tác động tổ chức, quản
lý và điều hành các hoạt động đào tạo một cách hiệu quả, nhằm thực hiện tốt quá trình dạy học, góp phần đắc lực trong việc nâng cao chất lượng đào tạo
1.3.1 2 Các nhiệm vụ cơ bản của giáo dục cao đẳng
Trong Điều lệ trường cao đẳng (ban hành kèm theo quyết định số 56 – 2003/QĐ-BGD & ĐT của bộ trưởng bộ GD & ĐT), các nhiệm vụ cơ bản của một trường cao đẳng (Điều 9) đã được xác định rõ là:
1) Đào tạo nhân lực có phẩm chất chính trị đạo đức tốt, có kiến thức
và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo có sức khoẻ, có năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội, tự tạo việc làm cho mình và cho những người khác, có khả năng hợp tác bình đẳng trong quan
hệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (đây chính là mục tiêu đào tạo của bậc học cao đẳng)
2) Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài trong những người học và trong đội ngũ cán bộ giảng viên của trường
Trang 293) Quản lý giảng viên, cán bộ, nhân viên, xây dựng đội ngũ giảng viên của trường đủ về số lượng, cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu tuổi và giới
4) Tuyển sinh và quản lý người học
1.3.2 Nội dung quản lý quá trình dạy học trong trường cao đẳng
1.3.2.1 Nội dung quản lý quá trình dạy học
Cơ sở pháp lý của quản lý quá trình dạy học ở trường cao đẳng ghi rõ trong Điều lệ trường Cao đẳng (Điều 10) như sau:
Trường cao đẳng được quyền tự chủ và chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và điều lệ này về quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường, tổ chức các hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ, tài chính, quan hệ và quốc tế, tổ chức và nhân sự Cụ thể là:
1) Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường phù hợp với chiến lược phát triển giáo dục và quy hoạch mạng lưới các trường cao đẳng của nhà nước
2) Xây dựng chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy, học tập đối với các ngành nghề nhà trường được phép đào tạo trên cơ sở chương trình khung do bộ giáo dục và đào tạo ban hành; tổ chức tuyển sinh theo chỉ tiêu của nhà nước, tổ chức các hoạt động đào tạo, công nhận tốt nghiệp, in ấn và cấp văn bằng theo quy định của bộ giáo dục và đào tạo
3) Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục; hợp tác, liên kết với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hoá, thể dục thể thao, y tế, nghiên cứu khoa học trong nước và ngoài nước nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, gắn đào tạo với việc làm, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế -xã hội
Như trên đã phân tích, quá trình dạy học được cấu thành bởi nhiều yếu
tố Mỗi yếu tố có vị trí xác định riêng, có chức năng riêng Các yếu tố tác
Trang 30động qua lại với nhau và vận động theo quy luật chung, tạo nên chất lượng của toàn bộ hệ thống.Vì vậy, công tác quản lý quá trình dạy học cần thường xuyên nghiên cứu để hoàn thiện từng bước, từng yếu tố của quá trình dạy học, nâng cao chất lượng các hoạt động dạy và học, góp phần thúc đẩy chất lượng của toàn bộ hệ thống
1.3.2.2 Tiêu chuẩn nghiệp vụ của giảng viên trường cao đẳng
Quản lý quá trình dạy học còn dựa trên cơ sở pháp lý đó là các quy định
tiêu chuẩn nghiệp vụ của giảng viên (Điều 26, Điều lệ trường cao đẳng)
Trong đó có nói rõ công việc chủ yếu của giáo viên là:
1) Chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, thực hiện các quy chế của bộ giáo dục và đào tạo, điều lệ trường cao đẳng và quy chế tổ chức, hoạt động của trường 2) Giảng dạy theo đúng nội dung của chương trình đã được Bộ giáo dục và đào tạo, nhà trường quy định; viết giáo trình, phát triển tài liệu phục
vụ giảng dạy học tập theo sự phân công của trường, khoa, bộ môn
3) Chịu sự giám sát của các cấp quản lý về chất lượng, nội dung, phương pháp đào tạo và NCKH
4) Tham gia hoặc chủ trì các đề tài NCKH, ứng dụng chuyển giao công nghệ theo sự phân công của trường, khoa, tổ bộ môn
5) Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo: Tôn trọng nhân cách của người học, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người học trong học tập, NCKH, rèn luyện tư tưởng, đạo đức, tác phong, lối sống 6) Không ngừng tự bồi dưỡng nghiệp vụ cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo
7) Hoàn thành tốt các công tác khác được trường, khoa, bộ môn giao
Có thể nói rằng các nội dung trên đây (mục tiêu đào tạo, nhiệm vụ của nhà trường, vai trò của giáo viên…) chính là cơ sở pháp lý giúp xác định nội dung quản lý hoạt động dạy – học trong các trường cao đẳng hiện nay
Trang 311.3.3 Quản lý dạy học cấp khoa và tổ bộ môn trực thuộc ở trường cao đẳng
Khoa, các tổ bộ môn trực thuộc là cấp đơn vị đào tạo cơ bản của một nhà trường ĐH, CĐ Để có thể đưa ra các biện pháp quản lý hoạt động dạy học các môn học thì trước hết cần phải làm rõ nội hàm của quản lý dạy học cấp khoa, tổ bộ môn trong trường ĐH, CĐ
1.3.3.1 Quản lý việc đảm bảo mục tiêu dạy học của bộ môn
Quản lý quá trình dạy học trước hết là đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu đào tạo: Cung cấp hệ thống kiến thức đã được quy định bởi chương trình môn học; góp phần rèn luyện hệ thống kỹ năng đặc thù của nghề nghiệp; hình thành thế giới quan khoa học, thái độ và tư duy nghề nghiệp và các phẩm chất của người lao động kĩ thuật có trình độ chuyên môn cao
Quản lý mục tiêu các môn học là quá trình thiết kế các tiêu chuẩn và duy
trì các cơ chế để đảm bảo chất lượng các thành tố, trong đó chủ yếu quản lý
các tiêu chí chất lượng của hoạt động dạy và hoạt động học Đó là nhiệm
vụ hàng đầu của trưởng khoa, trưởng bộ môn trực thuộc trong đó chủ yếu quản lý chất lượng dạy học (người học) Vai trò của người quản lý là đề ra các quy trình công tác, tạo điều kiện thực hiện các mục tiêu dạy học và giám sát xem các mục tiêu đó có thực hiện tốt không
Trên cơ sở đó, người quản lý cấp khoa, tổ bộ môn phải xây dựng được các kế hoạch dạy học của đơn vị và giúp mỗi giáo viên xây dựng kế hoach dạy học bộ môn của mình phù hợp với kế hoạch của đơn vị
1.3.3.2 Quản lý về thực hiện nội dung, chương trình đào tạo
Dựa trên kế hoạch dạy học và Chương trình môn học, Trưởng khoa, Trưởng bộ môn phải quản lý và ra các quyết định giải quyết tất cả vấn đề như: thực hiện nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy mà trước hết là phải dạy đúng, dạy đủ chương trình theo nội dung mà bộ môn đã quy định
Trang 32Thực hiện chương trình dạy học là thực hiện kế hoạch giảng dạy theo mục tiêu đề ra Về nguyên tắc, chương trình dạy học là pháp lệnh của nhà nước do Bộ GD & ĐT ban hành được cụ thể hoá trong tùng nhà trường Mọi giáo viên phải thực hiện nghiêm chỉnh, không tuỳ tiện thay đổi, thêm bớt là sai lệch chương trình dạy học
Do đó, để quản lý hiệu quả quá trình dạy học, trước hết tổ trưởng bộ môn phải nắm vững chương trình, đồng thời tổ chức cho giáo viên nghiên cứu nắm vững mục tiêu, chương trình dạy học của bộ môn
Trong quản lý quá trình dạy học Trưởng khoa, Trưởng bộ môn cần sử
dụng các loại hồ sơ quản lý như : Sổ tay giáo viên, sổ lên lớp, giáo án, sổ
dự giờ, để nắm bắt tình hình thực hiện phân phối chương trình của giáo viên
1.3.3.3 Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên
Hai loại công việc chủ yếu của giáo viên chuẩn bị trước giờ lên lớp là: Soạn bài và chuẩn bị các thiết bị của bài học Để quản lý tốt hai loại công việc trên, tổ trưởng bộ môn cần phải tập trung vào một số công việc sau:
- Phối hợp với giáo viên lập kế hoạch soạn bài, kế hoạch làm đồ dùng học tập và sử dụng các phương tiện dạy học, quản lý chất lượng bằng việc thường xuyên kiểm tra bài soạn của giáo viên
- Tổ trưởng bộ môn chịu trách nhiệm kiểm tra, theo dõi nắm bắt tình hình bài dạy của giáo viên như: Kiểm tra phân phối chương trình, đối chiếu với giáo án và bài dạy trên lớp, chú trọng kiểm tra trực tiếp những tiết dạy Kịp thời nêu gương làm cũng như góp ý phê bình những tiết dạy hoặc những giáo viên chưa làm tốt công việc này
1.3.3.4 Quản lý việc bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho GV
Quản lý hoạt động bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo kịp những thay đổi của nội dung, chương trình cũng là một trong những nội dung quản lý quá trình dạy học Trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay,
Trang 33người giáo viên ĐH, CĐ cần phải luôn cập nhật những tri thức mới, không
chỉ trong sách vở mà còn trong cuộc sống xã hội Muốn đạt được hiệu quả
cao và tránh được “tính cá thể” của mỗ người, tổ trưởng bộ môn cần có
biện pháp để nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội
ngũ giáo viên
Trước hết, cần rà soát tình hình đội ngũ, lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng
Trên cơ sở đó, tiến hành sắp xếp, tạo điều kiện, khuyến khích giáo viên
tham dự các hình thức đào tạo, bồi dưỡng, đăng ký tự học nâng cao Hình
thức đào tạo hiệu quả lớn nhất là cử đi học cao học hoặc nghiên cứu sinh
Đồng thời, cần kết hợp với việc bồi dưỡng chuyên môn thông qua sinh hoạt
chuyên môn, hội thảo khoa học, nghe báo cáo chuyên đề khoa học, viết
sáng kiến kinh nhiệm, NCKH
1.4 Vị trí, yêu cầu đặc thù của quá trình dạy học các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng HCM
1.4.1 Vị trí, vai trò của các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng HCM
trong các trường Đại học, Cao đẳng ở Việt Nam
Chủ nghĩa Mác-Lênin bao gồm ba bộ phận hợp thành là Triết học
Mác- Lênin, Kinh tế chính trị học Mác-Lênin và Chủ nghĩa xã hội khoa
học, trở thành một học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công
nhân hiện đại, soi đường cho cách mạng xã hội chủ nghĩa giải phóng nhân
loại khỏi chế độ tư hữu, áp bức bất công và nghèo nàn lạc hậu
Học tập nghiên cứu các môn học Mác-Lênin, Tư tưởng HCM có vai trò rất
quan trọng trong thời kỳ hội nhập hiện nay Đây là các môn học có vị trí đặc
biệt trong chương trình đào tạo Cao đẳng, Đại học Sinh viên cần phải học các
môn này để trong quá trình học và sau khi ra trường nắm vững được những qui
luật phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, vận dụng một cách
Trang 34sáng tạo và phát triển trong thực tiễn cách mạng Việt Nam Để có ý thức trách nhiệm cống hiến, góp phần tham gia xây dụng và bảo vệ Tổ quốc
- Về chương trình chi tiết môn học Mác-Lênin, Tư tưởng HCM (đã được quy định rõ trong chương trình Cao đẳng, Đại học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành)
- Về giáo trình, tài liệu tham khảo do Bộ Giáo dục & Đào tạo tổ chức biên soạn
- Về Phân bố chương trình, tổ chức dạy học
Thời lượng 16 đơn vị học trình ( 240 tiết học) trong đó:
+ Môn Triết học Mác-Lênin: 4 đơn vị học trình (60 tiết)
+ Môn Kinh tế chính trị Mác-Lênin: 6 đơn vị học trình (90 tiết)
+ Môn chủ nghĩa xã hội : 3 đơn vị học trình (45 tiết)
+ Môn Tư tưởng Hồ Chí Minh: 3 đơn vị học trình (45 tiết)
Các môn học này được dạy- học trong 3 năm :
- Học kỳ I năm thứ I (60 tiết mônTriết học Mác-Lênin)
- Học kỳ II năm thứ I (90 tiết môn Kinh tế chính trị)
- Học kỳ I năm thứ II (45 tiết môn Chủ nghĩa xã hội)
- Học kỳ II năm thứ III (45 tiết môn Tư tưởng Hồ Chí Minh)
Nghiên cứu, học tập các khoa học Mác-Lênin còn có ý nghĩa thực tiễn:
+ Trang bị những nhận thức lý luận chính trị - xã hội cho người học + Giúp sinh viên có nhận thức tổng hợp toàn diện về chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng HCM và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam
+ Cung cấp cho sinh viên một cách có hệ thống, có chọn lọc những kiến thức cơ bản của môn học
+ Để sinh viên có căn cứ khoa học hiểu và lý giải được các đường lối chính sách kinh tế của Đảng và nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, tạo niềm tin, cơ sở khoa học vào sự lãnh đạo của
Trang 35Đảng và sự tất thắng của CNXH Cùng với các môn khoa học khác, tiếp tục bồi dưỡng thế giới quan, phương pháp luận
+ Trang bị những kiến thức cơ bản của kinh tế chính trị Mác-Lênin, các quy luật kinh tế khách quan, sự vận dụng các quy luật kinh tế vào nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên CNXH
+ Trang bị cho Sinh viên những hiểu biết có hệ thống về những nguyên
lý cơ bản của triết học Mác-Lênin, giúp họ nắm được những quy luật phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, những biểu hiện của những quy luật
đó được vận dụng một cách sáng tạo và phát triển trong cách mạng Việt Nam
+ Góp phần rèn luyện cho sinh viên phương pháp biện chứng duy vật, làm định hướng để môn học khác, tự giác sử dụng nó như một công cụ nhìn nhận, đánh giá những vấn đề của thực tiễn xã hội và chủ động tham gia giải quyết những vấn đề nảy sinh theo khả năng và nhiệm vụ của mình
+ Góp phần xây dựng niềm tin vào con đường xây dựng CNXH, có
cơ sở lý luận khoa học phê phán bác bỏ những quan điểm sai lầm Xác định
lý tưởng, xây dựng lối sống, lẽ sống đúng đắn, giữ gìn bản sắc dân tộc và phù hợp với xu hướng tiến bộ chung của thời đaị, có ý thức và khả năng thực hiện các chủ trương chính sách, pháp luật của nhà nước và những quy chế của trường
+ Giúp sinh viên nắm được nội dung cơ bản của môn học Tư tưởng HCM là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam được thể hiện trong đường lối, quan điểm, chỉ thị, nghị quyết của đảng và pháp luật của nhà nước Từ đó củng cố niềm tin vào con đường đi lên CNXH ở nước ta, nâng cao niềm tự hào dân tộc về Đảng,
về Bác và có ý thức trách nhiệm cống hiến, góp phần tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc trên cương vị nhiệm vụ được phân công
+ Học tập nghiên cứu Tư tưởng HCM để hiểu rõ hơn, sâu hơn giá trị
to lớn của tư tưởng HCM đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và của
Trang 36nhân dân ta trước đây cũng như trong giai đoạn hiện nay, để thêm tin yêu người, quyết tâm đi theo con đường cách mạng mà HCM đã vạch ra cho dân tộc Việt Nam
Các kỳ Đại hội của Đảng CSVN đã luôn khẳng định: Chủ nghĩa Lênin, Tư tưởng HCM là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam, đặc biệt trong điều kiện nước ta đang chuyển đổi nền kinh tế và trong tình hình chính trị – xã hội phức tạp hiện nay
Mác-Vì vậy, học tập nghiên cứu Tư tưởng HCM chính là nhằm mục tiêu nâng cao nhận thức tư tưởng, cải biến phương pháp và phong cách làm việc của mỗi chúng ta (trong đó có HSSV), góp phần đưa công cuộc đổi mới đi đến thắng lợi ngày càng to lớn hơn
Hơn lúc nào hết, việc nghiên cứu học tập chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường ĐH, Cao đẳng hiện nay càng là vấn đề thực tiễn, cơ bản và cấp thiết
1.4.2 Yêu cầu đặc thù của quá trình dạy học các môn khoa học Mác-Lênin,
Tư tưởng HCM
1.4.2.1 Yêu cầu đặc thù của các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng HCM
Trong Hướng dẫn thực hiện của Bộ giáo dục đào tạo về nhiệm vụ
giảng dạy các môn Khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng HCM tại các trường đại học, cao đẳng (giai đoạn 2006-2020 ) [ 32,Tr.1] đã thể hiện rõ các yêu cầu đặc thù của quá trình dạy và học các bộ môn quan trọng này như sau:
- Về nội dung giáo trình: sử dụng giáo trình các môn Khoa học
Mác-Lênin, tư tưởng HCM phải bổ sung theo nội dung của Văn kiện cụ thể
là văn kiện Đại hội X của Đảng, báo cáo lý luận – thực tiễn của đất nước qua 20 năm đổi mới
- Về phương pháp giảng dạy: Thực hiện đổi mới phương pháp giảng
dạy theo hướng chuyển quá trình dạy học ở bậc đại học thành quá trình tự học
Trang 37của HS-SVcó tổ chức và hỗ trợ tối ưu của giảng viên Chỉ đạo việc giảm giờ lên lớp lý thuyết , tăng thời gian hội thảo có giảng viên hướng dẫn Thời gian sinh viên tự nghiên cứu có hỗ trợ về tư liệu và phương pháp của giảng viên
- Về kiểm tra, thi kết thúc môn học và thi tốt nghiệp thực hiện theo quy
chế đại học và cao đẳng chính quy ban hành theo quyết định số BGD&ĐT ngày 26/6/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
25/2006/QĐ-+ Đề thi phải sát nội dung chương trình đã công bố, đổi mới hình thức thi, khuyến khích việc ra đề thi theo hình thức mở và cho sinh viếnử dụng tài liệu trong khi làm bài, đề thi nên đảm bảo 50% kiến thức cơ bản và 50% nội dung vận dụng thực tiễn
+ Hình thức thi có thể thi viết, tự luận, vấn đáp, thi viết với trắc nghiệm, nhưng không thực hiện duy nhất hình thức thi trên máy tính, hoặc chỉ thi trắc nghiệm vì đây là môn học có tính đặc thù, vừa là môn khoa học mang tính khái quát cao, vừa là môn khoa học xã hội nhân văn mang tính
tư tưởng chính trị, giai cấp tình cảm, ý chí của cả người dạy và người học
1.4.2.2 Yêu cầu đặc thù đối với giảng viên môn học Mác-Lênin, Tư tưởng HCM
Đối với giáo viên CĐ, ĐH và nhất là đối với giảng viên Mác-Lênin,
Tư tưởng Hồ Chí Minh Để thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy các môn Khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng HCM trong những năm học 2006 - 2020 Bộ giáo dục đào tạo hướng dẫn như sau:
a) Đối với giáo viên CĐ, ĐH và nhất là đối với giảng viên
Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh cần phải thường xuyên hoàn thiện tri thức,
kĩ năng nghề nghiệp và không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp
vụ bằng con đường đào tạo, bồi dưỡng, học tập thường xuyên, có hệ thống toàn diện Tăng cường tự học, tự bồi dưỡng cá nhân, ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới, những kinh nghiệm giáo dục tiên tiến vào quá trình giáo dục của mình
Trang 38b) Các trường căn cứ vào quy mô đào tạo, khối lượng giảng dạy, quy hoạch đội ngũ để tuyển giảng viên các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh đảm bảo về số lượng và chất lượng, không bố trí giảng viên các môn học này, dạy vượt quá nhiều giờ so với quy định Dành thời gian để giảng viên có điều kiện nghiên cứu khoa học, đi thực tế, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, tham gia các hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên và các hoạt động chính trị – xã hội Cần xây dựng kế hoạch tuyển dụng đội ngũ giảng viên các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, để từ năm học 2007 - 2008 chấm dứt tình trạng giảng viên dạy 1000 tiết/năm và sẽ giảm dần các năm học tiếp theo quy định của Bộ
c) Những giảng viên dạy kiêm môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng
Hồ Chí Minh phải tham dự chương trình bồi dưỡng, chuẩn hoá kiến thức theo công văn số 370/HĐ & SĐH ngày 17/01/2005 và công văn số 83/BGD
& ĐT - ĐH & SĐH ngày 5/01/2006 của bộ giáo dục và đào tạo Không bố trí giảng viên chưa tham gia các lớp chuẩn hoá dạy kiêm các môn khoa học Mác-Lênin,Tư tưởng Hồ Chí Minh
1.5 Một số định hướng đổi mới giáo dục ĐH, CĐ ở Việt Nam hiện nay
1.5.1 Về chủ trương đổi mới giáo dục đại học, cao đẳng hiện nay
Trước xu thế đổi mới giáo dục trong thời đại toàn cầu hoá và cách mạng thông tin, Đảng CSVN đã sớm xác định giáo dục là “quốc sách hàng đầu”, “lĩnh vực then chốt”, “nền tảng, động lực” cho Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại và cần phải có một cuộc vận động “đổi mới giáo dục thật cơ bản và toàn diện cả về cơ cấu, nội dung, phương pháp dạy – học” Trong đó, đổi mới GDĐH là một khâu quan trọng đột phá trong đổi mới giáo dục hiện nay
Nghị quyết số 14/2005/NQ này 21/11/2005 của chính phủ về đổi mới
cơ bản toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006-2020 đã chỉ rõ: “Đổi
Trang 39mới là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước Nhà nước tăng cường đầu tư cho GDĐH, đồng thời đẩy mạnh XHH, tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế chính sách để các tổ chức, cá nhân và toàn xã hội tham gia phát triển GDĐH” [32,Tr.1]
Vì vậy không ngừng nâng cao chất lượng GDĐH là vấn đề cần được quan tâm và là yêu cầu cấp bách không chỉ đối với những nhà quản lý GDĐH, cán bộ giảng dạy, sinh viên mà cả toàn xã hội Đây là giả pháp duy nhất giúp GDĐH Việt Nam làm tròn sứ mạng lịch sử của mình đó là cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao cho công cuộc CNH - HĐH đất nước
Đổi mới GD ĐH là một tất yếu trong xu thế hiện nay Để thực hiện được việc này, đòi hỏi GDĐH phải đổi mới mạnh mẽ từ tư duy GDĐH, nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học đến đổi mới quản lý người học, quản lý chương trình đào tạo, quản lý cơ sở vật chất phục vụ chất lượng đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạo đã đề ra một số chủ trương và biện pháp quản
lý để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở các ngành học, bậc học Đối với bậc đại học cao đẳng, Bộ GD & ĐT cũng đang tiến hành xây dựng chương trình khung cho các ngành học ; Tổ chức nhiều cuộc hội thảo bàn
về đổi mới giáo dục, như hội thảo về : “Đổi mới phương pháp dạy học ở
đại học và cao đẳng”[28], “Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam- hội nhập
và thách thức”[29] Bên cạnh đó, các trường ĐH,CĐ trên toàn quốc cũng đã
tiến hành các hội nghị hàng năm bàn về đổi mới công tác quản lý GD-ĐT
Việt Nam trong giai đoạn mới, như: “Giáo dục Việt Nam thế kỷ 21”[12],
“Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ 21” [12], “những vấn đề chung của giáo dục đại học”[18]
Ngoài ra, để quản lý chất lượng GDĐH, Bộ GD & ĐT đã hình thành một
tổ chức chuyên trách về đảm bảo và đánh gía chất lượng GDĐH, trong thời
Trang 40gian tới sẽ tiến hành đánh giá chất lượng và điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo của các trường đại học Đây là chủ trương đúng đắn kịp thời, sẽ có tác động đến việc cải tiến và nânnng cao chất lượng đào tạo của các trường và nhất là nâng cao chát lượng giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng HCM ở trường Cao Đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp I
1.5.2 Một số định hướng đổi mới giáo dục đại học, cao đẳng hiện nay
Trong những năm qua, nền giáo dục đại học, cao đẳng (viết tắt GDĐH)
nước ta đang trong quá trình tự đổi mới Mặc dù có nhiều cố gắng và chuyển biến mạnh mẽ nhưng GDĐH nước ta vẫn còn nhiều yếu kém và bất cập Chất lượng và hiệu quả đào tạo còn thấp, học chưa gắn liền với hành, chương trình đào tạo thiếu linh hoạt, kém liên thông, đội ngũ thiếu và yếu
Trong giai đoạn 2006- 2020, trước yêu cầu cấp bách của công cuộc CNH-HĐH đất nước, trước yêu cầu hội nhập, GDĐH Việt Nam phải có những đổi mới mạnh mẽ có khả năng hoàn thành sứ mạng của mình Nghị quyết số 14/2005 của chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006-2020, đã thể hiện quyết tâm của Đảng và nhà nước ta về đổi mới GDĐH: “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học, tạo được sự chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và quy mô, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế
và nhu cầu học tập của nhân dân.”[ 32, Tr.2]
1.5.2.1 Đổi mới chương trình, phương pháp dạy học
Trên tinh thần đó, nghị quyết số 14/2005/NQ-CP cũng nêu rõ mục tiêu
cụ thể: “ Phát triển các chương trình GDĐH theo định hướng nghiên cứu
và định hướng nghề nghiệp- ứng dụng Bảo đảm sự liên thông giữa các chương trình trong toàn hệ thống kiểm định GD ĐH Xây dựng một vài trường ĐH đẳng cấp quốc tế”