Hiện nay hệ thống chuẩn mực kế toán của Việt Nam đang được xây dựng và ngày càng hoàn thiện, việc nhận thức đúng đắn và đầy đủ bản chất của kế toán quản trị, thấy được hiệu quả thiết thự
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
-HUỲNH THỊ THANH THÖY
XÂY DỰNG HỆ THỐNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Huỳnh Thị Thanh Thúy
Trang 3và thông tin hữu ích cho quá trình thực hiện luận văn
Sau cùng, tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình đã hết lòng quan tâm
và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi để hoàn thành chương trình cao học này
Trong quá trình thực hiện, mặc dù đã hết sức cố gắng để hoàn thiện luận văn, trao đổi và tiếp thu các ý kiến đóng góp của các thầy, cô và bạn bè, tham khảo nhiều tài liệu song cũng không thể tránh khỏi sai xót Rất mong nhận được những thông tin đóng góp, phản hồi từ quý thầy, cô và các bạn
Khánh Hòa, tháng 10/2014
Huỳnh Thị Thanh Thúy
MỤC LỤC
Trang 4Lời cam đoan i
Lời mở đầu 01
Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng hệ thống kế toán quản trị 05
1.1 Tổng quan về kế toán quản trị 05
1.1.1 Khái niệm về kế toán quản trị 05
1.1.2 Nhu cầu thông tin của nhà quản lý 06
1.1.3 Mục tiêu của kế toán quản trị 07
1.1.4 Chức năng của kế toán quản trị 08
1.1.4.1 Chức năng lập kế hoạch 08
1.1.4.2 Chức năng kiểm tra 08
1.1.4.3 Chức năng tổ chức và điều hành 09
1.1.4.4 Chức năng ra quyết định 09
1.1.5 Yêu cầu tổ chức hệ thống kế toán quản trị 09
1.2 Nội dung của kế toán quản trị đối với doanh nghiệp 10
1.2.1 Kế toán quản trị chi phí 10
1.2.1.1 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động 11
1.2.1.2 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí 12
1.2.2 Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận 13
1.2.3 Lập dự toán ngân sách kinh doanh 15
1.2.4 Kế toán đánh giá trách nhiệm quản lý 16
1.2.4.1 Trung tâm chi phí 16
1.2.4.2 Trung tâm lợi nhuận 17
1.2.4.3 Trung tâm đầu tư 17
1.2.5 Thông tin thích hợp cho việc ra quyết định 18
1.3 Kinh nghiệm tổ chức hệ thống kế toán quản trị cho các doanh nghiệp khác 18
1.4 Hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp (53/2006/TT-BTC) 20
Kết luận chương 1 21
Trang 5Chương 2: Thực trạng áp dụng hệ thống kế toán quản trị trong các doanh nghiệp
xây dựng Tỉnh Khánh Hòa 24
2.1 Khái quát về doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn Tỉnh Khánh Hòa 24
2.1.1 Sơ lược về ngành xây dựng Khánh Hòa 24
2.1.2 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của ngành xây dựng 25
2.1.3 Đặc điểm của sản phẩm xây lắp 26
2.2 Thực trạng kế toán quản trị của các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn 27
2.2.1 Khái quát chung về kế toán quản trị của các doanh nghiệp xây dựng 27
2.2.2 Thực trạng khảo sát kế toán quản trị của các doanh nghiệp xây dựng 28
2.2.3 Đánh giá thực trạng khảo sát kế toán quản trị tại các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn 31
2.2.3.1 Thực trạng tổ chức kế toán quản trị chi phí 31
2.2.3.2 Thực trạng tổ chức kế toán quản trị các yếu tố sản xuất 37
2.2.3.3 Quy trình hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp xây dựng 39
2.2.3.4 Kế toán tài chính 42
2.2.3.5 Thực trạng mô hình kế toán quản trị trong các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn 46
2.2.3.6 Thực trạng hệ thống định mức chi phí và hệ thống dự toán ngân sách tại các doanh nghiệp xây dựng 49
2.3 Đánh giá chung về thực trạng tổ chức kế toán quản trị trong các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 50
2.3.1 Thực trạng hệ thống định mức chi phí và hệ thống dự toán ngân sách 50
2.3.2 Thực trạng tổ chức kế toán quản trị các yếu tố sản xuất 51
2.3.3 Thực trạng tổ chức kế toán quản trị chi phí 52
2.3.4 Thực trạng tổ chức kế toán trách nhiệm 55
2.3.5 Thực trạng tổ chức hệ thống báo cáo kế toán quản trị 56
Kết luận chương 2 58
Chương 3: Nghiên cứu xây dựng và áp dụng hệ thống kế toán quản trị trong các doanh nghiệp xây dựng……….59
3.1 Sự cần thiết phải xây dựng 59
3.1.1 Sự cần thiết 59 3.1.2 Yêu cầu của việc hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị đối với doanh nghiệp
Trang 6xây dựng 60
3.2 Giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị nhằm tăng cường quản lý HĐSXKT trong các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 62
3.2.1 Hoàn thiện việc xây dựng hệ thống định mức chi phí và hệ thống dự toán ngân sách 62
3.2.2 Hoàn thiện việc tổ chức kế toán quản trị các yếu tố sản xuất 63
3.2.3 Hoàn thiện việc tổ chức kế toán quản trị chi phí 65
3.2.4 Hoàn thiện việc tổ chức kế toán trách nhiệm 70
3.2.5 Hoàn thiện tổ chức hệ thống báo cáo kế toán quản trị 74
3.2.6 Hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy cáo kế toán quản trị 76
3.3 Các giải pháp hỗ trợ công tác xây dựng hệ thống kế toán quản trị 80
3.3.1 Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác tổ chức kế toán quản trị 81
3.3.2 Đào tạo nguồn nhân lực thực hiện công tác kế toán quản trị 81
Kết luận chương 3 83
Kết luận 84 Tài liệu tham khảo
Phụ lục 1
Phụ lục 2
Phụ lục 3
Phụ lục 4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 71 CMA: (Certified Management Accountant) Chứng nhận kế toán quản trị
2 CT: Công trình
3 BHXH: Bảo hiểm xã hội
4 BHYT: Bảo hiểm y tế
5 BHTN: Bảo hiểm thất nghiệp
12 QLDN: quản lý doanh nghiệp
13 ROI: Tỷ lệ lợi nhuận/ vốn sử dụng bình quân hay tỷ lệ hoàn vốn đầu tƣ
14 RI: Lãi thặng dƣ
15 TT: Thông tƣ
16 TSCĐ: Tài sản cố định
17 XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Số hiệu
2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí của các doanh nghiệp
XD trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
46
3.1 Sơ đồ quy trình thu thập thông tin lập báo cáo kết quả thực hiện 75 3.2 Sơ đồ mô hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị 77
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài:
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang gặp nhiều khó khăn và khủng hoảng, kinh tế Việt Nam cũng không ngoại lệ, điều này đồng nghĩa với việc nền kinh tế nước nhà sẽ gặp nhiều khó khăn và thử thách hơn Việc cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trên thương trường kinh tế ngày càng khốc liệt hơn, mạnh mẽ hơn Để tồn tại
và đứng vững trên chiến trường kinh tế, các nhà quản trị doanh nghiệp phải làm gì và làm như thế nào? Đó là câu hỏi không chỉ riêng lẻ với một doanh nghiệp nào mà là xu thế chung của các doanh nghiệp hiện nay Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải có những thông tin liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình và những thông tin đó phải kịp thời, chính xác để có thể chớp thời cơ và ra các quyết định đúng đắn Một trong những công cụ quan trọng và vô cùng hữu hiệu để cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp đó là kế toán quản trị Kế toán quản trị giúp cho các nhà quản lý trong việc hoạch định, kiểm tra, kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh tại đơn vị và đưa ra các quyết định kinh tế
Nếu như ở một số quốc gia như Canada, Mỹ, kế toán quản trị đã trở thành một nghề với những tiêu chuẩn nghề nghiệp xác định (CMA) Ở Việt Nam, kế toán quản trị cũng đã xuất hiện, phát triển gắn liền chính sách, chế độ kế toán áp dụng ở các doanh nghiệp; tuy nhiên, kế toán quản trị chỉ mới được đề cập một cách hệ thống vào đầu những năm 1990 trở về đây và trở thành yêu cầu cấp bách trong xây dựng hệ thống thông tin kế toán vào đầu những năm 2000 khi các doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng quản lý để tăng năng lực cạnh tranh trong môi trường cạnh tranh không những ở phạm vị thị trường Việt Nam mà còn mở rộng ra thị trường khu vực, thị trường thế giới Về mặt luật pháp, thuật ngữ kế toán quản trị cũng chỉ vừa được ghi nhận chính thức trong luật kế toán Việt Nam ban hành ngày 17.6.2003
Hiện nay hệ thống chuẩn mực kế toán của Việt Nam đang được xây dựng và ngày càng hoàn thiện, việc nhận thức đúng đắn và đầy đủ bản chất của kế toán quản trị, thấy được hiệu quả thiết thực của kế toán quản trị trong quá trình ra quyết định quản lý, cũng như phải nhanh chóng xây dựng và áp dụng hệ thống kế toán quản trị cho các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp xây dựng là cần thiết để cung cấp những thông tin một cách chính xác, kịp thời đến Ban lãnh đạo Công ty nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại đơn vị
Trang 10Chính vì lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Xây Dựng Hệ Thống Kế Toán
Quản Trị Tại Các Công Ty Xây Dựng Trên Địa Bàn Tỉnh Khánh Hòa” làm luận
văn tốt nghiệp, với hy vọng đề tài giúp cho Ban lãnh đạo Công ty quan tâm đến kế toán quản trị và áp dụng vào Công ty nhằm góp phần hỗ trợ nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, quản lý tại công ty
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Luận văn tập trung vào những nội dung chính sau đây:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về tổ chức công tác kế toán quản trị
- Khảo sát tình hình xây dựng và áp dụng hệ thống kế toán quản trị tại các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
- Xây dựng hệ thống kế toán quản trị tại các doanh nghiệp xây dựng Xây dựng
hệ thống các nguyên tắc cần phải tuân theo trong quá trình xây dựng và áp dụng hệ thống kế toán quản trị Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kế toán quản trị cho các doanh nghiệp xây dựng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Thực trạng áp dụng hệ thống kế toán quản trị tại các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu và đề cập đến vấn đề kế toán quản trị tại các công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân…trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
4 Tổng quan tài liệu nghiên cứu:
Trong thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài, tác giả đã tham khảo một số luận văn cao học, luận án tiến sĩ và các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị của một số Trường Đại học đầu ngành về kế toán quản trị
+ Nguyễn Như Khoa (2008) “Tổ chức công tác kế toán quản trị tại tổng công ty lương thực Miền Nam” Tác giả vận dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh để mô tả thực trang sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty, thực trạng
tổ chức bộ máy kế toán, những biểu hiện của kế toán quản trị trong kế toán tài chính Nhằm xác định hiệu quả đạt được do áp dụng kế toán quản trị
+ Võ Thị Hồng Diễm (2010) “ Xây dựng hệ thống kế toán quản trị tại các công
Trang 11ty thương mại dịch vụ vi tính tại Thành Phố Hồ Chí Minh” Tác giả đã trình bày một cách đầy đủ lý thuyết về kế toán quản trị, mô hình tổ chức và nội dung tổ chức công tác kế toán quản trị tại các doanh nghiệp thương mại dịch vụ vi tính Từ đó tổ chức công tác kế toán quản trị phù hợp với các nội dung: tổ chức phân loại chi phí,
tổ chức lập dự toán, tổ chức tài khoản, tổ chức báo cáo kế toán quản trị và tổ chức công tác phục vụ cho việc ra quyết định tại các doanh nghiệp thương mại nói chung
và doanh nghiệp thương mại dịch vụ vi tính nói riêng
+ Hồ Nam Phương (năm 2012) “Vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp gạch ngói tỉnh Bình Dương” Tác giả áp dụng phương pháp phân tích, tổng hợp dựa trên số liệu khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp gạch ngói tỉnh Bình Dương Từ đó hệ thống hóa và phân tích, nhận xét những vẫn đề cơ bản về tổ chức công tác kế toán quản trị tại các doanh nghiệp gạch ngói tỉnh Bình Dương Nhằm góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận, điều kiện áp dụng, định hướng xây dựng kế toán quản trị để nâng cao chất lượng hệ thống quản lý sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói chung và trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gạch ngói nói riêng
Trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã hệ thống các nội dung cơ bản của hệ thống kế toán quản trị và đề xuất phương hướng ứng dụng kế toán quản trị vào các ngành cụ thể theo phạm vi nghiên cứu của đề tài Mặc dù vậy tất cả các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị đã công bố đều chưa nghiên cứu chuyên sâu về tổ chức kế toán quản trị nhằm tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp xây lắp, trong khi ngành xây dựng là ngành đang rất phát triển, rất cần tổ chức kế toán quản trị một cách khoa học, hiệu quả để cung cấp những thông tin cần thiết phục vụ cho quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh xây lắp
Các công trình nghiên cứu khoa học về kế toán quản trị chủ yếu tập trung vào các kỹ thuật tính toán và chức năng ghi chép sổ sách để lập các báo cáo cho các nhà quản trị Kế toán quản trị cần được tiếp cận theo hướng gắn chặt hơn nữa với hoạt động kinh doanh Những thông tin kế toán quản trị cung cấp là cơ sở cho việc các quyết định phù hợp nhất với chiến lược và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nhà quản trị ngày càng phải hiểu hơn các công cụ kế toán quản trị, trong khi các chuyên gia kế toán quản trị phải am tường về chiến lược kinh doanh, cơ cấu
Trang 12tổ chức của doanh nghiệp hay những phương pháp quản lý hiện đại như quản lý chất lượng toàn diện, hệ thống sản xuất tinh gọn hay hệ thống tồn kho kịp thời,… Bên cạnh đó, các tác giả chưa đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa tổ chức kế toán quản trị với yêu cầu, nội dung các chỉ tieu kinh tế tài chính của quản lý doanh nghiệp
5 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện luận văn, các phương pháp chung nghiên cứu khoa học đã được áp dụng như:
- Nghiên cứu lý luận kết hợp với điều tra khảo sát thực tế để phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê
- Phương pháp điều tra, thống kê thu thập số liệu, thông tin bằng bảng câu hỏi, đối tượng điều tra là các chuyên gia, cán bộ quản lý, nhân viên kế toán đang làm việc trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn Tỉnh Khánh Hòa
- Số liệu sơ cấp thu được từ điều tra bằng bản câu hỏi, và phỏng vấn sâu do tác giả luận văn thực hiện
6 Bố cục của luận văn:
Luận văn gồm có 3 chương:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG KẾ TOÁN
QUẢN TRỊ
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG HỆ THỐNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG TỈNH KHÁNH HÒA
CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG VÀ ÁP DỤNG HỆ THỐNG KẾ
TOÁN QUẢN TRỊ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG
KẾT LUẬN
Trang 13CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG HỆ
THỐNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
1.1 Tổng quan về kế toán quản trị
1.1.1 Khái niệm về kế toán quản trị
Kế toán quản trị được định nghĩa theo nhiều khía cạnh khác nhau, tuy nhiên tất
cả đều thống nhất chung mục đích kế toán quản trị cung cấp thông tin định lượng tình hình kinh tế - tài chính về hoạt động doanh nghiệp cho các nhà quản trị ở doanh nghiệp và kế toán quản trị là một bộ phận kế toán linh hoạt do doanh nghiệp xây dựng phù hợp với đặc điểm kinh tế kỹ thuật, tổ chức quản lý
Kế toán quản trị là thuật ngữ mới xuất hiện ở Việt Nam trong vòng 15 năm trở lại đây và đã thu hút được sự chú ý của các doanh nghiệp Tại Việt Nam, một số doanh nghiệp đã bước đầu vận dụng và xây dựng cho mình một bộ máy kế toán quản trị riêng biệt
Đánh dấu cho sự mở đầu này khi Luật Kế toán Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17/6/2003 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2004 đã quy định về KTQT ở các đơn vị như sau: KTQT là việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin tài chính theo yêu cầu và quyết định kế toán trong nội bộ đơn vị kế toán (Luật Kế toán Việt Nam - điều 3, khoản 4) Tuy nhiên, việc này chỉ được dừng lại ở góc độ nhìn nhận và xem xét, chưa có một quyết định cụ thể hay hướng dẫn thi hành mang tính tổng quát Do đó việc hiểu và vận dụng Kế toán Quản trị ở các DN Việt Nam còn rất mơ hồ
Ngày 16/01/2006, Bộ tài chính tổ chức lấy ý kiến về việc ban hành thông tư hướng dẫn về thực hiện KTQT tại trường Đại học Kinh tế TP.HCM Có thể nói, đây là động thái đầu tiên thể hiện sự quan tâm của cấp nhà nước đối với việc thực hiện KTQT tại Việt Nam
Đến ngày 12/6/2006, Thông tư số 53/2006/TT-BTC của Bộ Tài Chính về hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp chính thức được ra đời nhằm hướng dẫn cho các doanh nghiệp thực hiện KTQT Từ khi ra đời đến nay kế toán quản trị vẫn mò mẫm lối đi, vẫn chưa có một tổ chức nào có đủ chuyên môn và kinh nghiệm chuyên tư vấn xây dựng hệ thống KTQT Còn đối với các doanh nghiệp, thì KTQT vẫn còn xa vời về mặt lý luận lẫn vận hành
Trang 14Kế toán quản trị (tiếng Anh: Managerial Accounting) là lĩnh vực chuyên môn
của ngành kế toán nhằm nắm bắt các vấn đề về thực trạng, đặc biệt thực trạng tài chính của doanh nghiệp; qua đó phục vụ công tác quản trị nội bộ và ra quyết định quản trị Thông tin của kế toán quản trị đặc biệt quan trọng trong quá trình vận hành của doanh
nghiệp, đồng thời phục vụ việc kiểm soát, đánh giá doanh nghiệp đó.)
Trên thế giới, ở những nước có nền kinh tế thị trường, kế toán quản trị đã xuất hiện từ lâu trong hệ thống kế toán của doanh nghiệp
Theo liên đoàn kế toán quốc tế công bố trong tài liệu tổng kết các khái niệm kế toán quản trị trên thế giới năm 1998, “Kế toán quản trị được xem như là một quy trình định dạng, kiểm soát, đo lường, tổng hợp, phân tích, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin tài chính, thông tin phi tài chính liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp cho những nhà quản trị thực hiện hoạch định, đánh giá, kiểm soát, điều hành hoạt động
tổ chức nhằm đảm bảo sử dụng có trách nhiệm, hiệu quả nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp”
Theo định nghĩa của Viện kế toán viên Hoa Kỳ, kế toán quản trị “là quá trình nhận diện, đo lường, phân tích, diễn giải và truyền đạt thông tin trong quá trình thực hiện các mục đích của tổ chức Kế toán quản trị là một bộ phận thống nhất trong quá trình quản lý, và nhân viên kế toán quản trị là những đối tác chiến lược quan trọng trong đội ngũ quản lý của tổ chức”
1.1.2 Nhu cầu thông tin của nhà quản lý
Hoạt động lãnh đạo, quản lý gắn liền với thông tin Thông tin luôn được các
Trang 15nhà lãnh đạo, quản lý coi như hệ thần kinh của hệ thống quản lý Thông tin cung cấp tin tức để ra quyết định quản lý, thông tin được truyền đi như các thông điệp để thực hiện quyết định quản lý Thông tin có mặt và tác động đến tất cả các khâu của quá trình lãnh đạo, quản lý Trong bối cảnh kinh tế đang phục hồi và phát triển ở Việt Nam, để lãnh đạo, quản lý tốt một doanh nghiệp, để công việc chạy đều, dự báo được trước các rủi ro, các doanh nhân phải nhanh nhẹn và nhạy bén trong việc thu thập thông tin, chắt lọc thông tin chính xác, phổ biến, cung cấp thông tin đúng lúc, đúng đối tượng
Nhà quản trị ở các cấp khác nhau sẽ có nhu cầu thông tin khác nhau Tùy theo chức năng, nhiệm vụ của từng thành viên trong tổ chức mà kế toán quản trị sẽ thiết kế
và cung cấp thông tin phù hợp
Các thông tin cung cấp phải thỏa mãn các yêu cầu sau:
- Thích hợp: Thông tin thích hợp là những thông tin liên quan đến phương
án trong tương lai và phải phù hợp với mục đích mà nhà quản trị nhắm đến
- Đầy đủ: Thông tin phải phản ánh được mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh và thông tin đó cung cấp những nội dung cần thiết cho việc ra quyết định của nhà quản trị đúng, kịp thời
- Rõ ràng: Nội dung thông tin phải được trình bày và truyền đạt một cách rõ ràng, mạch lạc để người vận dụng có thể thấu hiểu và thực hiện không bị sai xót
- Đáng tin cậy: Thông tin cung cấp cho nhà quản trị phải đảm bảo độ tin cậy, chất lượng nội dung không bị rò rỉ và có thể sử dụng
- Đúng lúc: Thông tin cung cấp phải kịp thời, phù hợp với mục đích yêu cầu công việc
Thông tin của kế toán quản trị được thu thập từ hai nguồn:
- Nguồn nội bộ: Thu được từ sổ sách kế toán tài chính, sổ theo dõi chi tiết tại đơn vị, các thông tin từ các phòng kinh doanh, maketing…
- Nguồn bên ngoài: Từ việc quan sát đối thủ cạnh tranh, trên báo, đài các kênh truyền thông, internet, thu thập thông tin thông qua phỏng vấn khách hàng
1.1.3 Mục tiêu của kế toán quản trị
Mục tiêu chính của kế toán quản trị là cung cấp thông tin cho lãnh đạo doanh nghiệp để ra quyết định quản trị đúng và kịp thời, giúp lãnh đạo chủ động tham gia vào quá trình quản trị hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị Mục tiêu của kế toán
Trang 16quản trị bao gồm
Cung cấp thông tin: thông tin là cơ sở để ra các quyết định quản trị, đặc biệt là
nó rất cần trong việc xây dựng và phổ biến mục tiêu hoạt động của tổ chức, lập kế hoạch kinh doanh, tổ chức và quản trị nhân sự, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch
Tham gia vào quá trình quản trị: Cán bộ kế toán quản trị ngày nay không còn đơn thuần làm công việc đo, đếm Các kỹ năng tài chính của người làm kế toán quản trị có được từ kinh nghiệm và đào tạo đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều hoạt động của doanh nghiệp Người làm kế toán quản trị ngày nay cần phải hiểu được các lĩnh vực chức năng khác như marketing, tài chính, quản trị hòa quyện với các quyết định của kế toán
Kế toán quản trị là một bộ phận trong hệ thống thông tin của một tổ chức Các nhà quản lý dựa vào thông tin kế toán quản trị để hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chức (Hilton, 1991)
1.1.4 Chức năng của kế toán quản trị
Trước hết phải xuất phát từ mong muốn của nhà quản lý các cấp trong nội bộ doanh nghiệp để đặt ra các yêu cầu thông tin cụ thể cho mọi lĩnh vực gắn với các chức năng quản lý (Chức năng lập kế hoạch, chức năng kiểm tra, chức năng tổ chức và điều hành, chức năng ra quyết định)
1.1.4.1 Chức năng lập kế hoạch
Một tổ chức thì cần lập kế hoạch cho các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn Kế hoạch dài hạn thông thường sẽ đòi hỏi những quyết định có tính chiến lược liên quan đến việc đạt được những mục tiêu lâu dài Kế toán quản trị phải cung cấp các chỉ tiêu
về số lượng và giá trị phù hợp với chỉ tiêu kế hoạch Các chỉ tiêu này vừa có tính quá khứ, vừa có tính dự báo Kế toán quản trị cũng tham gia vào việc lập dự toán ngân sách hàng năm cho tổ chức, đơn vị
1.1.4.2 Chức năng kiểm tra
Kế toán quản trị cung cấp các thông tin theo mục tiêu quản lý đặt ra Các thông tin này được hình thành trên cơ sở tổ chức hạch toán chi tiết, bằng phương pháp kế toán và bằng phương pháp phân tích đồ thị biểu diễn các thông tin do kế toán và các nghành khác cung cấp Kế toán quản trị cũng cung cấp những báo cáo so sánh biến động giữa số thực tế và số kế hoạch Những biến động không theo kế hoạch sẽ được chỉ ra và theo đó sẽ có hướng sửa chữa
Trang 17Vì thế một hệ thống kiểm soát hiệu quả không thể thiếu khâu lập kế hoạch và ngược lại lập kế hoạch mà không có kiểm soát là vô nghĩa
1.1.4.3 Chức năng tổ chức và điều hành
Trong việc tổ chức, nhà quản lý sẽ quyết định cách liên kết tốt nhất giữa tổ chức, con người với các nguồn lực lại với nhau sao cho kế hoạch được thực hiện có hiệu quả nhất Trong việc điều hành, các nhà quản lý giám sát hoạt động hàng ngày và giữ cho cả tổ chức hoạt động trôi chảy Đối với chức năng điều hành, kế toán quản trị cung cấp thông tin về các chỉ tiêu hoạt động chủ yếu bằng chỉ tiêu phi tiền tệ, trên các báo cáo nhanh Để có các thông tin này Phần lớn các chứng từ phục vụ cho kế toán quản trị có cùng nguồn gốc với kế toán tài chính, nhưng do mục đích cung cấp thông tin khác nhau, nên mức độ xử lý chứng từ có khác nhau Do vậy trên cùng một hệ thống chứng từ kế toán, chỉ cần thêm vào các nội dung chi tiết để phục vụ hạch toán chi tiết theo yêu cầu của kế toán quản trị Mặt khác cũng cần thiết số liệu từ nguồn khác Ví dụ: Số liệu về thống kê thị phần các mặt hàng trên thị trường, số liệu thống kê
về lao động,về thị trường lao động.v.v…
1.1.4.4 Chức năng ra quyết định
Ra quyết định là việc thực hiện những lựa chọn hợp lý trong số các phương án khác nhau Ra quyết định không phải là một chức năng riêng biệt, nó là một chức năng quan trọng, xuyên suốt các khâu trong qúa trình quản lý một tổ chức, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện cho đến kiểm tra đánh giá Chức năng ra quyết định được vận dụng liên tục trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp Việc ra quyết định liên quan đến việc lựa chọn các giải pháp khác nhau
Kế toán quản trị cung cấp thông tin cho người quản lý giúp cho việc đưa ra quyết định được hiệu quả và thông suốt Các thông tin được cung cấp phải phù hợp và thích ứng với mục tiêu đã đề ra của tổ chức
Tóm lại, chức năng của kế toán quản trị là nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản trị, trong đó chức năng lập kế hoạch và ra quyết định là chức năng quan trọng nhất trong việc điều hành hoạt động kinh doanh của tổ chức
1.1.5 Yêu cầu tổ chức hệ thống kế toán quản trị
Hệ thống kế toán quản trị không có một quy chuẩn pháp lý chung nào về hình thức lẫn nội dung báo cáo Do đó, doanh nghiệp phải tự xây dựng một hệ thống chỉ tiêu kế toán quản trị cụ thể theo mục tiêu quản trị đặt ra Các chỉ tiêu này phải đảm bảo
Trang 18so sánh được giữa các thời kỳ để đưa ra được các đánh giá chính xác về thực tế tình hình hoạt động của doanh nghiệp Trong quá trình hội nhập, doanh nghiệp có thể tham khảo các mô hình báo cáo, hệ thống chỉ tiêu của các tập đoàn kinh tế trên thế giới để
áp dụng phù hợp với thực tế của mình
Kế toán quản trị xuất phát từ mục tiêu quản lý doanh nghiệp, mang tính đặc thù của loại hình hoạt động, nên không thể mang tính bắt buộc thống nhất trong các loại hình doanh nghiệp Về phía doanh nghiệp, là chủ thể hành động, cần phải nhận thức rõ
sự cần thiết của kế toán quản trị, phân biệt phạm vi kế toán quản trị, nội dung kế toán quản trị, phương pháp tiến hành kế toán quản trị, để tổ chức bộ máy tiến hành công tác
kế toán quản trị, tổ chức sổ, xây dựng hệ thống báo cáo…
Cần xây dựng một đội ngũ nhân sự làm công tác kế toán không những có chuyên môn nghiệp vụ mà còn có sự hiểu biết về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó mới có thể đưa ra các phân tích, đánh giá chính xác trên cơ sở số liệu thu thập được
Báo cáo của kế toán quản trị đựoc sử dụng kết hợp với các báo cáo khác của doanh nghiệp như báo cáo về thị trường, đối thủ cạnh tranh, công nghệ sản xuất… để
có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố đang tác động đến hoạt động của doanh nghiệp
Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc xử lý số liệu để giúp cho việc xử lý số liệu được nhanh chống và chính xác, tiết kiệm được thời gian và chi phí bỏ ra để có nguồn số liệu thông tin cần thiết, giúp cho việc ra quyết định của nhà quản trị được linh hoạt
1.2 Nội dung của kế toán quản trị đối với doanh nghiệp
1.2.1 Kế toán quản trị chi phí
Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành các hoạt động sản xuất thi công trong một thời kỳ nhất định
Chi phí sản xuất được hình thành do có sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản xuất vào sản phẩm sản xuất ra và được biểu hiện trên hai mặt:
- Về mặt định tính: Đó là bản thân các yếu tố vật chất phát sinh và têu hao
tạo nên quá trình sản xuất để đạt được mục đích tạo ra sản phẩm, dịch vụ
- Về mặt định lượng: Đó là mức tiêu hao cụ thể của các yếu tố vật chất
tham gia vào quá trình sản xuất và được biểu hiện qua thước đo phù hợp, mà thước đo
Trang 19tổng quát là tiền tệ
Cả hai mặt định tính và định lượng của quá trính sản xuất chịu sự chi phối thường xuyên của quá trình tái sản xuất và đặc điểm sản xuất sản phẩm của Doanh Nghiệp
Các doanh nghiệp muốn tồn tại và vươn lên khẳng định vị trí của mình cần phải năng động trong tổ chức quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt cần làm tốt công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, nhằm giảm chi phí từ đó hạ giá thành sản phẩm song vẫn đảm bảo yêu cầu về chất lượng công trình Ngành xây dựng cơ bản trong điều kiện phát triển như hiện nay ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quá trình tạo ra cơ sở vật chất cho đất nước và là ngành có số vốn bỏ ra nhiều do đó công tác hạch toán chi phí lại càng quan trọng nhằm chống thất thoát lãng phí và tham ô Muốn thực hiện được điều này các nhà quản lý cần phải nhờ đến công cụ - kế toán, kế toán quản trị, được xác định là khâu trọng tâm trong đó kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là bộ phận quan trọng hàng đầu với mục đích hạ thấp chi phí thông qua việc sử dụng tiết kiệm đầu vào, tận dụng tốt nguồn lực sản xuất hiện có, kết hợp các yếu tố sản xuất một cách tối ưu giúp quản lý chi phí, giá thành theo từng công trình, hạng mục công trình, từng giai đoạn, từ đó đối chiếu, so sánh với số liệu định mức, tình hình sử dụng lao động, vật tư, chi phí dự toán
để tìm ra nguyên nhân chênh lệch, kịp thời ra các quyết định đúng, điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh theo mục tiêu đã đề ra
1.2.1.1 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động nhằm:
- Cho thấy vị trí, chức năng của từng khoản mục chi phí trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức
- Là căn cứ để xác định giá thành sản phẩm và tập hợp chi phí theo các mặt hoạt động chức năng
- Cung cấp thông tin có phương pháp cho việc lập các báo cáo theo các mặt hoạt động, hoặc theo từng phạm vi trách nhiệm
Chi phí được phân chia thành các loại sau:
+ Chi phí nguyên liệu, vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ, thiết bị xây dựng
cơ bản mà doanh nghiệp đã dùng cho hoạt động sản xuất trong kỳ như: gach,
Trang 20đá, sắt, thép, xi măng, cốt pha…
+ Chi phí nhân công: bao gồm toàn bộ chi phí phải trả cho người lao động về tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp, trợ cấp mang tính chất lương, các khoản trích trích theo lương như: BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN
+ Chi phí khấu hao TSCĐ: bao gồm tổng số chi phí khấu hao của những TSCĐ dùng trực tiếp cho sản xuất thi công và những TSCĐ phục vụ cho nhu cầu quản
lý
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: là toàn bộ số tiền doanh nghiệp xây lắp chi trả cho các loại dịch vụ mua từ bên ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất như: tiền điện, điện thoại, tiền nước, tiền thuê máy…
+ Chi phí khác bằng tiền: bao gồm các khoản chi phí khác chi ra bằng tiền cho hoạt động sản xuất không thuộc các chi phí đã kể trên như: chi tiếp khách, hội nghị Với cách phân loại này sẽ giúp cho doanh nghiệp xác định được kết cấu tỷ trọng của từng loại chi phí trong tổng chi phí sản xuất để phục vụ cho công tác quản trị trong doanh nghiệp, làm cơ sở để lập dự toán cho kỳ sau
1.2.1.2 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Cách phân loại chi phí chủ yếu sử dụng trong kế tóan quản trị là phân loại chi phí trong mối quan hệ với khối lượng hoạt động (số lượng sản phẩm hoàn thành, số giờ máy hoạt động ) Theo cách phân loại này, các chi phí được phân thành chi phí biến đổi, chi phí cố định và chi phí hỗn hợp
- Chi phí biến đổi (biến phí) là các chi phí thay đổi về tổng số tỷ lệ với sự thay
đổi của mức độ hoạt động Tuy nhiên có loại chi phí biến đổi tỷ lệ thuận trực tiếp với biến động của mức hoạt động như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí lao động trực tiếp nhưng có chi phí biến đổi chỉ thay đổi khi mức hoạt động thay đổi nhiều và
rõ ràng như chi phí lao động gián tiếp, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị
- Chi phí cố định (định phí) là những khoản chi phí mà tổng số không thay đổi
khi có sự thay đổi mức độ hoạt động, nhưng chi phí trung bình của một đơn vị hoạt động thì thay đổi tỷ lệ nghịch với mức biến động của mức hoạt động Chi phí cố định không thay đổi về tổng số trong phạm vi phù hợp của mức độ hoạt động (ví dụ như chi phí khấu hao máy móc thiết bị sản xuất sẽ không thay đổi trong phạm vi khối lượng sản xuất từ 0 đến 2.000 tấn) nhưng nếu mức độ hoạt động tăng vượt quá phạm vi phù hợp đó thì chi phí khấu hao máy móc thiết bị sản xuất sẽ tăng vì phải đầu tư thêm máy móc
Trang 21thiết bị sản xuất.
- Chi phí hỗn hợp là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố của chi phí
cố định và chi phí biến đổi (như chi phí điện thoại, Fax, chi phí thuê phương tiện vận chuyển vừa tính giá thuê cố định, vừa tính giá thuê theo quãng đường vận chuyển thực tế )
Việc phân loại chi phí thành chi phí biến đổi, chi phí cố định và chi phí hỗn hợp tuỳ thuộc vào quan điểm nhìn nhận của từng nhà quản trị trong mục tiêu sử dụng cụ thể Kế toán tài chính không phân chia chi phí theo tiêu thức này nhưng nó lại rất cần thiết cho kế toán quản trị, giúp nhà quản trị có cách nhìn nhận chi phí, sản lượng và lợi nhuận để có quyết định quản lý phù hợp về số lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ, về giá bán sản phẩm trong từng giai đoạn cụ thể về việc nhận đơn đặt hàng mới với giá thấp hơn giá đang bán
1.2.2 Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận
Phân tích mối quan hệ giữa chi phí – khối lượng – lợi nhuận (Cost – Volume – Profit) là xem xét mối quan hệ nội tại của các nhân tố: giá bán, sản lượng, chi phí khả biến, chi phí bất biến và kết cấu mặt hàng, đồng thời xem xét sự ảnh hưởng của các nhân tố đó đến lợi nhuận của doanh nghiệp
Phân tích mối quan hệ C.V.P là một biện pháp hữu ích nhằm hướng dẫn các nhà doanh nghiệp trong việc lựa chọn để ra quyết định, như lựa chọn dây chuyền sản xuất, định giá sản phẩm, chiến lược khuyến mãi, sử dụng tốt những điều kiện sản xuất kinh doanh hiện có…
Để thực hiện phân tích mối quan hệ C.V.P cần thiết phải nắm vững cách ứng xử của chi phí để tách chi phí của doanh nghiệp thành chi phí khả biến, bất biến, phải hiểu
rõ báo cáo thu nhập theo số dư đảm phí, đồng thời phải nắm vững một số khái niệm cơ bản sử dụng trong phân tích
- Số dư đảm phí: (SDĐP) là số chênh lệch giữa doanh thu và chi phí khả biến
SDĐP được sử dụng trước hết để bù đắp chi phí bất biến, số dư ra chính là lợi nhuận SDĐP có thể tính cho tất cả các loại sản phẩm, một loại sản phẩm, một đơn vị sản phẩm
TỔNG SỐ DƯ ĐẢM PHÍ = TỔNG DOANH THU – TỔNG BIẾN PHÍ
Nó chỉ cho doanh nghiệp thấy rằng khi lượng sản phẩm bán ra thay đổi sẽ làm cho doanh thu thay đổi và sự thay đổi đó sẽ tác động như thế nào đến lãi thuần
Trang 22* Tỷ lệ số dư đảm phí: là tỷ lệ phần trăm của số dư đảm phí (SDĐP) tính trên
doanh thu hoặc giữa phần đóng góp với đơn giá bán
Gọi g: là giá bán
a: là chi phí khả biến đơn vị
Tỷ lệ SDĐP = g - a x 100%
g Thông qua khái niệm về tỷ lệ số dư đảm phí ta thấy được mối quan hệ giữa doanh thu và lợi nhuận, cụ thể là : Khi doanh thu tăng lên một lượng thì lợi nhuận cũng tăng một lượng bằng doanh thu tăng lên nhân cho tỷ lệ SDĐP
* Kết cấu chi phí: là một chỉ tiêu tương đối phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa
định phí và biến phí chiếm trong tổng chi phí kinh doanh Phân tích cơ cấu chi phí là nội dung quan trọng của phân tích hoạt động kinh doanh, vì cơ cấu chi phí có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận khi mức độ hoạt động thay đổi
Không có một mô hình kết cấu chi phí chuẩn để tất cả các doanh nghiệp có thể
áp dụng, cũng không có câu trả lời chính xác nào cho câu hỏi kết cấu chi phí như thế nào là tốt nhất Mỗi doanh nghiệp xác lập kết cấu chi phí riêng căn cứ trên các đặc điểm kinh doanh và mục tiêu kinh doanh của mình qua việc xem xét các yếu tố : kế hoạch phát triển dài hạn và trước mắt của doanh nghiệp, tình hình biến động doanh thu qua các năm, quan điểm của các nhà quản trị đối với rủi ro,…
* Đòn bẩy kinh doanh (Operating leverage)
Đòn bẩy kinh doanh là một chỉ tiêu đo lường ảnh hưởng của những thay đổi doanh thu đối với lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp Độ lớn của đòn bẩy kinh doanh được xác định như sau:
Độ lớn của đòn bẩy kinh doanh = % thay đổi lợi nhuận kinh doanh
% thay đổi doanh thu
Độ lớn của đòn bẩy kinh doanh cho biết khi doanh thu biến động 1%, lãi trước thuế sẽ tăng bao nhiêu %
Chỉ tiêu độ lớn đòn bẩy kinh doanh được xác định ứng với mỗi mức sản lượng tiêu thụ của doanh nghiệp Tại một mức hoạt động, độ lớn của đòn bẩy kinh doanh được xác định
Độ lớn của đòn bẩy kinh doanh = Tổng số dư đảm phí
Tổng số dư đảm phí – Tổng định phí
Trang 23Khái niệm đòn bẩy kinh doanh có ý nghĩa trong công tác quản trị doanh nghiệp đòn bẩy kinh doanh là cơ sở để các nhà quản lý dự kiến mức lợi nhuận, đồng thời là cơ
sở để đánh giá rủi ro kinh doanh khi doanh nghiệp hoạt động trong môi trường mà doanh thu dễ thay đổi
1.2.3 Lập dự toán ngân sách kinh doanh
Dự toán là những tính toán, dự kiến một cách toàn diện mục tiêu mà tổ chức cần phải đạt được đồng thời chỉ rõ cách thức huy động các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu mà tổ chức đặt ra Dự toán được xác định bằng một hệ thống các chỉ tiêu về
số lượng và giá trị cho một khoản thời gian xác định trong tương lai Dự toán là cơ sở,
là trung tâm của kế hoạch và tiền đề cho việc dự toán là dự báo
Dự toán ngân sách: Là những tính toán, dự kiến một cách toàn diện mục tiêu kinh tế, tài chính mà doanh nghiệp cần đạt được trong kỳ hoạt động, đồng thời chỉ rõ cách thức, biện pháp huy động các nguồn lực để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ đó
Dự toán ngân sách là một hệ thống bao gồm nhiều dự toán như: dự toán tiêu thụ, dự toán sản xuất, dự toán chi phí nguyên vật liệu, dự toán chi phí nhân công, dự toán chi phí sản xuất chung, dự toán chi phí bán hàng, dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp, dự toán giá vốn hàng bán, dự toán vốn đầu tư, dự toán tiền, dự toán báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, dự toán bảng cân đối kế toán
- Dự toán tiêu thụ là nền tảng của dự toán tổng thể doanh nghiệp, vì dự toán
này sẽ xác lập mục tiêu của doanh nghiệp so với thị trường, với môi trường tiêu thụ được đánh giá là khâu thể hiện chất lượng hoạt động của doanh nghiệp
- Dự toán sản xuất là nhằm xác định số lượng, chủng loại sản phẩm sản xuất
trong kỳ tới
- Dự toán chi phí sản xuất nhằm xác định toàn bộ chi phí để sản xuất một khối
lượng sản phẩm đã được định trước quá trình sản xuất nào cũng luôn gắn với một trình độ kỹ thuật trong một thời kỳ nhất định
- Dự toán giá vốn hàng bán: giá vốn hàng bán thực chất là tổng giá thành của
khối lượng sản phẩm tiêu thụ trong kỳ tính theo phưng pháp giá toàn bộ
- Dự toán chi phí bán hàng nhằm mục đích tính trước và tập hợp các phương
tiện chủ yếu trong quá trình bán hàng Khi xây dựng dự toán cho các chi phí này cần tính đến nội dung kinh tế của chi phí cũng như yếu tố biến đổi và yếu tố cố định trong thành phần chi phí
Trang 24- Dự toán chi phí quản lý DN thường phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức của doanh
nghiệp chi phí này liên quan đến toàn bộ doanh nghiệp, mà không liên quan đến từng
bộ phận hoạt động nào
- Dự toán chi phí tài chính là quan tâm đến chi phí lãi vay mà doanh nghiệp
phải trả Cơ sở để lập dự toán chi phí tài chính là số tiền cần vay dài hạn và ngắn hạn trong mỗi kỳ lập dự toán cũng như lãi suất vay phải trả cho từng khoản vay
- Dự toán báo cáo kết quả kinh doanh số liệu dự toán trên các báo cáo tài
chính này thể hiện kỳ vọng của các nhà quản lý tại doanh nghiệp và có thể xem như một công cụ quản lý của doanh nghiệp cho phép ra các quyết định về quản trị, nó cũng
là cơ sở để đánh giá tình hình thực hiện dự toán đã đề ra
- Dự toán vốn bằng tiền là một trong những dự toán quan trọng của doanh
nghiệp Vì qua đó nó thể hiện khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán bằng tiền cho người lao động, các nhà cung cấp và đáp ứng các nhu cầu chi tiêu khác Dự toán vốn bằng tiền là cơ sở để doanh nghiệp có dự toán vay mượn, phát hành trái phiếu, cổ phiếu,…
Dự toán ngân sách là cơ sở để đánh giá thành quả hoạt động của từng bộ phận, của mỗi cá nhân phụ trách từng bộ phận, từ đó xác định trách nhiệm của từng bộ phận nhằm phục vụ tốt cho quá trình tổ chức và hoạch định
1.2.4 Kế toán đánh giá trách nhiệm quản lý
Kế toán trách nhiệm được hiểu là hệ thống thu thập và báo cáo các thông tin về doanh thu và chi phí theo nhóm trách nhiệm Các cấp quản lý sẽ phải chịu trách nhiệm
về lĩnh vực hoạt động của mình, của thuộc cấp và tất cả các hoạt động khác thuộc trách nhiệm của họ
Cấu trúc của một tổ chức phát triển khi các mục tiêu, trình độ công nghệ, đội ngũ nhân viên thay đổi Quá trình này thường diễn ra theo hướng từ quản lý tập trung sang quản lý phân quyền Một hệ thống kế toán trách nhiệm được thiết kế tốt phải thiết lập được các trung tâm trách nhiệm trong một tổ chức Trung tâm trách nhiệm được định nghĩa như một đơn vị trong tổ chức có toàn quyền kiểm soát chi phí, doanh thu và đầu tư Các trung tâm trách nhiệm có thể được phân loại như sau:
1.2.4.1 Trung tâm chi phí
Chịu trách nhiệm về chi phí đầu vào của tổ chức Trách nhiệm tài chính của trung tâm này là kiểm soát và báo cáo chỉ riêng về chi phí Một trung tâm chi phí có
Trang 25thể có nhiều đơn vị chi phí tùy thuộc vào việc cân nhắc về lợi ích và chi phí của việc vận hành, kiểm soát Phân tích chênh lệch dựa trên chi phí định mức và các kế hoạch ngân sách được theo dõi và điều chỉnh liên tục chính là phương thức điển hình của việc đo lường hiệu quả hoạt động của trung tâm chi phí
Trách nhiệm của trung tâm chi phí:
- Hoàn thành kế hoạch sản xuất, đáp ứng sản phẩm đầy đủ cho nhu cầu tiêu thụ, đảm bảo thực hiện kế hoạch sản xuất trong mối quan hệ với kế hoạch tiêu thụ
- Hoàn thành định mức và dự toán chi phí
- Kiểm soát chi phí trong mối quan hệ với doanh thu ước tính, góp phần gia tăng lợi nhuận
- Xác định các nguyên nhân chủ quan, khách quan tác động đến tình hình thực hiện các định mức và dự toán
1.2.4.2 Trung tâm lợi nhuận
Một trung tâm trách nhiệm được gọi là trung tâm lợi nhuận khi người quản lý chịu trách nhiệm cho cả chi phí (đầu ra) và doanh thu (đầu vào) và chênh lệch giữa đầu
ra và đầu vào chính là lợi nhuận Các trung tâm lợi nhuận không chỉ là các công ty chuyên về phân phối trong một tập đoàn hoặc các cửa hàng bán lẻ Ví dụ, một ngân hàng có thể xem mỗi phòng ban là một trung tâm lợi nhuận
Tổng hợp đầy đủ, chính xác doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh doanh; theo dõi và quản lý tình hình sử dụng tài sản, bảo toàn và phát triển vốn được đầu tư
1.2.4.3 Trung tâm đầu tư
Trung tâm đầu tư cũng tương tự như trung tâm lợi nhuận, chịu trách nhiệm trong việc tạo ra doanh thu, lập kế hoạch và kiểm soát chi phí Ngoài ra, người quản lý của trung tâm đầu tư có thẩm quyền điều phối, sử dụng, đầu tư tài sản để tìm kiếm mức lợi nhuận cao nhất Sự thành công của nó được đo lường không chỉ bởi số lợi nhuận tạo ra mà là lợi nhuận trong mối tương quan với tổng vốn đầu tư, tức khả năng sinh lợi của đồng vốn
Thành quả của các trung tâm đầu tư thường được đánh giá bằng việc sử dụng các thước đo:
- Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI)
- Lợi nhuận còn lại (RI)
Trang 26Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn
Trách nhiệm của trung tâm đầu tư:
Trung tâm phải thực hiện được các biện pháp cải thiện ROI
- Xem xét cân đối mở rộng đầu tư dài hạn, mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh, khắc phục việc quá chú trọng vào khuynh hướng đầu tư ngắn hạn, không phát triển đầu tư mà thu hẹp, giảm vốn hoạt động khi muốn tăng ROI
- Phân cấp về quản lý, xác định trách nhiệm và quyền ra quyết định về lượng vốn đầu tư ở các cấp quản lý Tránh khuynh hướng quản lý cấp cao can thiệp quá sâu vào hoạt động của các cấp thấp hơn
- Sử dụng một cách linh hoạt chỉ tiêu ROI, RI để đánh giá thành quả của các trung tâm, nhằm hướng hoạt động của các trung tâm đến các mục tiêu chung của tổ chức Ngoài ROI và RI một số nhà quản trị còn sử dụng chỉ tiêu EVA (Economic Value Added)
1.2.5 Thông tin thích hợp cho việc ra quyết định
Ra quyết định là việc thực hiện những lựa chọn hợp lý trong số các phương án khác nhau Ra quyết định không phải là một chức năng riêng biệt, nó là một chức năng quan trọng, xuyên suốt các khâu trong qúa trình quản lý một tổ chức, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện cho đến kiểm tra đánh giá Chức năng ra quyết định được vận dụng liên tục trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp
Tất cả các quyết định đều có nền tảng từ thông tin Do vậy, một yêu cầu đặt ra cho công tác kế toán, đặc biệt là kế toán quản trị là phải đáp ứng nhu cầu thông tin nhanh, chính xác cho nhà quản lý nhằm hoàn thành tốt việc ra quyết định
1.3 Kinh nghiệm tổ chức hệ thống kế toán quản trị cho các doanh nghiệp khác
Khảo sát kế toán quản trị ở các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cho đến thời điểm hiện nay, kế toán quản trị tồn tại dưới hai mô hình
Trang 27Với những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hệ thống quản lý dựa chủ yếu trên nền tảng chuyên môn hoá sâu theo từng bộ phận hoạt động sản xuất kinh doanh, từng hoạt động quản lý thì nội dung kế toán quản trị được xây dựng theo hướng cung cấp thông tin định lượng về tình hình kinh tế - tài chính theo từng bộ phận chuyên môn hoá để phục vụ hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra và ra quyết định của từng nhà quản lý ở từng cấp quản trị Nội dung mô hình kế toán quản trị này thường bao gồm những lý luận và nghiệp vụ kỹ thuật cơ bản về :
- Phân loại, kiểm soát, đánh giá chi phí theo từng phạm vi chuyên môn hoá, cấp bậc quản trị
- Xác định, kiểm soát, đánh giá giá thành sản phẩm, chủ yếu là giá thành sản phẩm của từng quá trình sản xuất
- Dự toán ngân sách hoạt động sản xuất kinh doanh hằng năm theo từng bộ phận và đánh giá trách nhiệm quản lý ở từng cấp bậc quản trị
- Thu thập, phân tích thông tin để thiết lập thông tin thích hợp xây dựng giá bán, phương án kinh doanh ngắn hạn, phương án kinh doanh dài hạn theo từng bộ phận, cấp bậc quản trị
- Phân tích, dự báo một số chỉ số tài chính ở từng bộ phận, doanh nghiệp
Với những doanh nghiệp có hệ thống quản lý dựa chủ yếu trên nền tảng từng
“quá trình hoạt động” nội dung kế toán quản trị được xây dựng theo hướng cung cấp thông tin định lượng về tình hình kinh tế - tài chính từng “quá trình hoạt động” để phục vụ hoạch định, tổ chức phối hợp - thực hiện, đánh giá hiệu quả của từng “đội công tác quá trình” Nội dung mô hình kế toán quản trị này thường gồm những lý luận
và nghiệp vụ kỹ thuật cơ bản về :
- Phân loại, kiểm soát, đánh giá chi phí theo từng “quá trình hoạt động” Quá trình hoạt động ở đây có thể hiểu một cách đơn giản là bao gồm tất cả các công đoạn,
bộ phận như nghiên cứu và phát triển sản phẩm, sản xuất, dịch vụ, thiết kế tiến trình sản xuất, sản phẩm, Marketing, phân phối, dịch vụ sau phân phối cho khách hàng hoặc bao gồm một nhóm công đoạn, bộ phận gắn kết nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh
- Dự toán ngân sách hoạt động của từng “quá trình hoạt động” và đánh giá hiệu quả của từng “đội công tác quá trình” Đội công tác quá trình được tổ chức bao gồm nhiều người có chuyên môn khác nhau cùng thực hiện một quá trình kinh doanh
Trang 28- Thu thập, phân tích thông tin để thiết lập thông tin thích hợp phục vụ lựa chọn từng “quá trình hoạt động” và phối hợp thực hiện quá trình hoạt động của “đội công tác quá trình”
- Phân tích, dự báo các chỉ số tài chính theo từng “quá trình hoạt động”, doanh nghiệp
1.4 Hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp BTC)
(53/2006/TT-+ Kế toán quản trị
a) Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh
tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị
kế toán (Luật Kế toán, khoản 3, Điều 4)
Kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp, như: Chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản phẩm; Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ; Phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận; Lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn hạn
và dài hạn; Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh; nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế Kế toán quản trị là công việc của từng doanh nghiệp, Nhà nước chỉ hướng dẫn các nguyên tắc, cách thức tổ chức và các nội dung, phương pháp kế toán quản trị chủ yếu tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện
b) Đối tượng nhận thông tin kế toán quản trị là Ban lãnh đạo doanh nghiệp và những người tham gia quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
Doanh nghiệp không bắt buộc phải công khai các thông tin về kế toán quản trị trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
c) Đơn vị tính sử dụng trong Kế toán quản trị, gồm: Đơn vị tiền tệ, đơn vị hiện vật, thời gian lao động hoặc các đơn vị tính khác theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
d) Nguyên tắc tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị: Việc tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị không bắt buộc phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc kế toán và có thể được thực hiện theo những quy định nội bộ của doanh nghiệp nhằm tạo
Trang 29lập hệ thống thông tin quản lý thích hợp theo yêu cầu quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp Doanh nghiệp được toàn quyền quyết định việc vận dụng các chứng từ kế toán, tổ chức hệ thống sổ kế toán, vận dụng và chi tiết hoá các tài khoản kế toán, thiết
kế các mẫu báo cáo kế toán quản trị cần thiết phục vụ cho kế toán quản trị của đơn vị
đ) Doanh nghiệp được sử dụng mọi thông tin, số liệu của phần kế toán tài chính
để phối hợp và phục vụ cho kế toán quản trị
Nội dung kế toán quản trị
- Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm;
- Kế toán quản trị bán hàng và kết quả kinh doanh;
- Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận;
- Lựa chọn thông tin thích hợp cho việc ra quyết định;
- Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh;
- Kế toán quản trị một số khoản mục khác:
+ Kế toán quản trị tài sản cố định (TSCĐ);
+ Kế toán quản trị hàng tồn kho;
+ Kế toán quản trị lao động và tiền lương;
+ Kế toán quản trị các khoản nợ
Hệ thống báo cáo kế toán quản trị
a) Báo cáo tình hình thực hiện:
- Báo cáo doanh thu, chi phí và lợi nhuận của từng loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ;
- Báo cáo khối lượng hàng hoá mua vào và bán ra trong kỳ theo đối tượng khách hàng, giá bán, chiết khấu và các hình thức khuyến mại khác;
- Báo cáo chi tiết khối lượng sản phẩm (dịch vụ) hoàn thành, tiêu thụ;
- Báo cáo chấp hành định mức hàng tồn kho;
- Báo cáo tình hình sử dụng lao động và năng suất lao động;
- Báo cáo chi tiết sản phẩm, công việc hoàn thành;
- Báo cáo cân đối nhập, xuất, tồn kho nguyên liệu, vật liệu, sản phẩm, hàng hoá;
Trang 30- Báo cáo chi tiết nợ phải thu theo thời hạn nợ, khách nợ và khả năng thu nợ;
- Báo cáo chi tiết các khoản nợ vay, nợ phải trả theo thời hạn nợ và chủ nợ;
- Báo cáo bộ phận lập cho trung tâm trách nhiệm;
- Báo cáo chi tiết tăng, giảm vốn chủ sở hữu
b) Báo cáo phân tích:
- Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận;
- Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp;
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất và tài chính;
Ngoài ra, căn cứ vào yêu cầu quản lý, điều hành của từng giai đoạn cụ thể, doanh nghiệp có thể lập các báo cáo kế toán quản trị khác
Trang 31KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong nền kinh tế thị trường, nền kinh tế mở, doanh nghiệp hoạt động trong môi trường đầy phức tạp, nhiều biến động, nhiều rủi ro Doanh nghiệp phải chủ động trong kinh doanh, phải tự quyết định các vấn đề kinh tế tài chính có liên quan đến sự tồn tại của doanh nghiệp, do đó thông tin để làm cơ sở cho các quyết định phải là thông tin nhiều mặt, thông tin hữu ích Những thông tin này không chỉ trong khuôn khổ hạch toán kế toán, mà nó còn mang tính hạch toán thống kê, hạch toán nghiệp vụ
và không loại trừ các chỉ tiêu tài chính, bởi vì kế toán và tài chính luôn có các quan hệ mật thiết trong các sự kiện kinh tế Loại thông tin này chỉ được cung cấp bởi bộ phận
kế toán quản trị trong doanh nghiệp
Kế toán quản trị mang đậm tính đặc thù, gắn với từng doanh nghiệp cụ thể, không thể xây dựng một mô hình kế toán quản trị chung cho tất cả các doanh nghiệp Việc hiểu và phân biệt được kế toán tài chính và kế toán quản trị sẽ tạo điều kiện thiết thực cho việc vận dụng kế toán quản trị vào thực tế doanh nghiệp
Trang 32CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG HỆ THỐNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG
TỈNH KHÁNH HÒA 2.1 Khái quát về doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnhh Khánh Hòa
2.1.1 Sơ lược về ngành xây dựng Khánh Hòa
Ngành xây dựng là một ngành công nghiệp đặc biệt tạo ra cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế Ngành xây dựng phát triển là tiền đề cho các ngành công nghiệp khác phát triển Sự phát triển của ngành xây dựng Tỉnh Khánh Hòa thể hiện qua các chỉ tiêu sau: Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế của ngành xây dựng tỉnh Khánh Hòa
3.193.269 4.078.974 4.557.905 4.850.379
4 Số vốn sản xuất bình
quân toàn ngành
Triệu đồng
83.408 34.023 39.605 101.509
(Theo số liệu của Tổng cục thống kê tỉnh Khánh Hòa)
Qua số liệu ta thấy ngành xây dựng đã góp phần giải quyết được một số lượng lớn việc làm cho người lao động, tổng sản phẩm tăng, lợi nhuận tăng góp phần đóng thuế để xây dựng, đổi mới Tỉnh Nhà,… với kết quả trên ngành xây dựng đã góp phần
to lớn vào việc hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế, xã hội mà Tỉnh và Nhà nước giao phó, từng bước đổi mới phát triển Tỉnh nhà và hội nhập với khu vực
Trang 332.1.2 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng
Ngoài những đặc điểm chung giống như mọi doanh nghiệp sản xuất khác, các DNXD còn có những đặc điểm mang bản chất kinh tế riêng biệt của nó Sự nhận thức đầy đủ các đặc điểm này thì việc giải quyết các vấn đề về tổ chức KTQT nhằm tăng cường công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh trong các DNXD mới có tính đúng đắn và khả thi cao
Thứ nhất: Sản phẩm xây lắp là các sản phẩm đơn chiếc, mỗi sản phẩm xây
dựng cơ bản sau khi hoàn thành có một đặc điểm riêng biệt không sản phẩm nào giống sản phẩm nào, và hình thành nên tài sản cố định của đơn vị khác Do vậy việc tổ chức quản lý và tổ chức kế toán quản trị phải căn cứ vào bản vẽ thi công và dự toán Các DNXD có thể tổ chức KTQT chi tiết cho từng CT, HMCT, từ đó lên kế hoạch về tài chính cũng như các điều kiện đảm bảo khác, công tác kiểm tra giám sát việc chi tiêu chặt chẽ đối với từng công trình
Thứ hai: Sản phẩm xây lắp có quy mô lớn, chu kỳ sản xuất ra một sản phẩm
thường kéo dài qua nhiều kỳ kế toán (1 quý, 1 năm, 2 năm, … 5 năm và có thể lâu hơn) Vì vậy khi tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp không xác định từng kỳ như các doanh nghiệp công nghiệp khác mà được xác định tùy thuộc vào đặc điểm kỹ thuật của từng CT, HMCT được thể hiện qua phương pháp lập dự toán và phương pháp thanh toán giữa bên giao thầu và bên nhận thầu Đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm xây lắp hoàn chỉnh cũng có thể là sản phẩm xây lắp theo từng giai đoạn hợp lý Sản phẩm xây lắp có kích thước lớn, giá trị lớn nên để sản xuất thi công cần số lượng lao động lớn, số lượng nguyên vật liệu, công cụ lao động lớn, nên giá thành sản phẩm xây lắp rất phức tạp và thường xuyên thay đổi theo từng giai đoạn Do vậy, việc xác định đúng đắn đối tượng tính giá thành và kỳ tính giá thành sẽ đáp ứng được yêu cầu quản lý kịp thời và chặt chẽ chi phí sản xuất kinh doanh, đánh giá được tình hình quản lý thi công trong từng giai đoạn
Thứ ba: Sản phẩm xây lắp có tính chất cố định, không thể nhập kho sau khi sản
xuất thi công hoàn thành mà được tiêu thụ ngay theo giá bán đã được xác định từ trước khi sản xuất thi công (tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp không được thể hiện rõ), kế toán phải theo dõi và phản ánh kịp thời các khoản thu Trong quá trình thi công phát sinh nhiều khoản chi phí như chi phí điều động công nhân, điều động máy móc thiết bị, chi phí nhà tạm,… kế toán phải theo dõi chi tiết, chính xác các khoản chi phí
Trang 34này và phân bổ cho các đối tượng phù hợp
Thứ tư : Hoạt động sản xuất xây lắp thường diễn ra ngoài trời chịu nhiều ảnh
hưởng của các điều kiện tự nhiên, do đó việc thi công xây lắp mang tính thời vụ và có nhiều rủi ro bất ngờ dẫn đến thiệt hại như phá đi làm lại, ngừng sản xuất Những khoản thiệt hại này cần phải được tổ chức theo dõi quản lý và hạch toán phù hợp với những nguyên nhân gây ra
Thứ năm : Sản xuất xây lắp không thực hiện cố định tại một nơi mà luôn thay
đổi do địa điểm xây dựng công trình trải dài trên một không gian rộng lớn trên địa bàn nhiều vùng khác nhau, điều kiện địa lý thay đổi, thiết kế thay đổi nên phương thức tổ chức thi công và biện pháp thi công cũng phải luôn luôn thay đổi cho phù hợp
Thứ sáu : Để nhận được công trình, các doanh nghiệp xây lắp thường trải qua
giai đoạn đấu thầu Do vậy, công tác xác định giá dự toán của công trình cần phải được coi trọng để từ đó xác định mức giá bỏ thầu hợp lý đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh
doanh xây dựng của đơn vị và khả năng trúng thầu
2.1.3 Đặc điểm của sản phẩm xây lắp
Đặc điểm của sản phẩm xây lắp là có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian sử dụng lâu dài, có giá trị lớn đòi hỏi các nhà xây dựng phải dự đoán trước xu hướng tiến
bộ xã hội để tránh bị lạc hậu Phong cách kiến trúc và kiểu dáng một sản phẩm cần phải phù hợp với văn hoá dân tộc Trên thực tế, đã có không ít các công trình xây dựng trở thành biểu tượng của một quốc gia như chùa Một cột ở Hà nội, tháp Ephen ở Pari
và do đó chất lượng của các công trình xây dựng cũng phải được đặc biệt chú ý Nó không chỉ ảnh hưởng tới tuổi thọ của công trình mà còn ảnh hưởng tới sự an toàn cho người sử dụng
Sản phẩm xây dựng với tư cách là các công trình xây dựng hoàn chỉnh thường
có các đặc điểm sau:
- Sản phẩm mang nhiều tính cá biệt, đa dạng về công dụng, cấu tạo và cả về phương pháp chế tạo Sản phẩm mang tính đơn chiếc vì phụ thuộc vào đơn đặc hàng của chủ đầu tư, điều kiện địa lý, địa chất công trình của nơi xây dựng
- Sản phẩm xây dựng là những công trình được xây dựng và sử dụng tại chỗ Vốn đầu tư xây dựng lớn và thời gian sử dụng lâu dài Do đó khi tiến hành xây dựng phải chú ý ngay từ khi lập dự án để chọn địa điểm xây dựng, khảo sát thiết kế và tổ chức thi công xây lắp công trình sao cho hợp lý, tránh phá đi làm lại, hoặc sửa chữa
Trang 35gây thiệt hại đến vốn đầu tư và giảm tuổi thọ công trình
- Sản phẩm xây dựng thường có kích thước lớn, trọng lượng lớn, số lượng, chủng loại vật tư, thiết bị xe máy thi công và lao động phục vụ cho mỗi công trình cũng khác nhau, lại luôn thay đổi theo tiến độ thi công Bởi vậy giá thành sản phẩm rất phức tạp, thường xuyên thay đổi theo từng khu vực, từng thời kỳ
- Sản phẩm có liên quan đến nhiều ngành, cả về phương diện cung cấp các yếu
tố đầu vào, thiết kế và chế tạo sản phẩm, cả về phương diện sử dụng công trình
- Sản phẩm xây dựng liên quan nhiều đến cảnh quan và môi trường tự nhiên, do
đó liên quan đến lợi ích của cộng đồng, nhất là đến dân cư của địa phương nơi đặt công trình
- Sản phẩm mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hóa, nghệ thuật
và quốc phòng Sản phẩm chịu nhiều ảnh hưởng của thượng tầng kiến trúc, mang bản sắc truyền thống dân tộc, thói quen tập quán sinh hoạt …
Quá trình từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình bàn giao và đưa vào sử dụng thường kéo dài Nó phụ thuộc quy mô và tính chất phức tạp về kỹ thuật của từng công trình Quá trình thi công được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thi công lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các công việc chủ yếu diễn ra ngoài trời chịu tác động rất lớn của các nhân tố môi trường xấu như mưa, nắng, lũ, lụt đòi hỏi các nhà xây dựng phải giám sát chặt chẽ những biến động này để hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng xấu của nó
2.2 Thực trạng kế toán quản trị của các doanh nghiệp xây dựng
2.2.1 Khái quát chung về kế toán quản trị của các doanh nghiệp xây dựng
Nhằm mục đích tìm hiểu về nhận thức kế toán quản trị và công tác áp dụng kế toán quản trị trong bộ máy hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng ở một số Huyện và Thành Phố trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, tác giả chọn mẫu một số doanh nghiệp để tiến hành khảo sát công tác tổ chức bộ máy kế toán, kế toán quản trị hiện tại của đơn vị
* Quá trình khảo sát được tiến hành với mục đích:
- Tìm hiểu về bộ máy tổ chức hoạt động của doanh nghiệp: Quy mô hoạt động, lĩnh vực hoạt động
- Tìm hiểu về hệ thống kế toán: Công tác tổ chức, quy trình hoạt động
- Mối quan tâm của doanh nghiệp về kế toán quản trị
Trang 36Phạm vi khảo sát:
- Công tác khảo sát được tiến hành chủ yếu ở các doanh nghiệp xây dựng tại huyện Cam Lâm, Diên Khánh, Khánh Vĩnh, Ninh Hòa, TP Nha Trang, TP Cam Ranh trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
- Số lượng doanh nghiệp khảo sát: 40 trong tổng số 463 doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn (Thông tin doanh nghiệp _ Phụ lục 1)
- Thời gian khảo sát: Từ tháng 04/2012 đến tháng 11/2012
40 (mẫu phiếu khảo sát – Phụ lục 2)
- Thu thập và xử lý số liệu: Nhận lại các phiếu khảo sát đã gửi, nhận dạng bảng khảo sát kết hợp với thông tin thu thập trực tiếp để hoàn chỉnh các chỉ tiêu ở bảng khảo sát cuối cùng với các thông tin chi tiết của từng doanh nghiệp, sau đó tiến hành tổng hợp số liệu và phân tích kết quả thu thập được
2.2.2 Thực trạng khảo sát kế toán quản trị tại các doanh nghiệp xây dựng
1 Đặc điểm tổ chức bộ máy hoạt động doanh nghiệp xây dựng
a Loại hình doanh nghiệp
- Công ty trách nhiệm hữu hạn
- Doanh nghiệp tư nhân
- Công ty cổ phần
- Khác
72,5% 5% 22,5%
b Lĩnh vực hoạt động
- Xây dựng nhà ở và các công trình dân dụng
- Thi công xây dựng đường xá, cầu cống
- Thiết kế, xây dựng
- Khác
35% 50% 15%
Trang 37c Quy mô vốn
+ Dưới một tỷ đồng Việt Nam
+ Từ một đến năm tỷ đồng Việt Nam
+ Từ năm đến mười tỷ đồng Việt Nam
+ Trên mười tỷ đồng Việt Nam
d Số lượng nhân viên:
+ Dưới 20 nhân viên
+ Từ 20 nhân viên đến 50 nhân viên
+ Từ 50 nhân viên đến 100 nhân viên
+ Trên 100 nhân viên
7,5% 52,5% 20% 20%
52,5% 22,5% 7,5% 17,5%
2 Tổ chức bộ máy kế toán
a Tổ chức bộ máy kế toán:
- Chỉ có kế toán tài chính
- Kế toán tài chính và đang xây dựng kế toán quản trị
- Kế toán tài chính và đã có kế toán quản trị
77,5% 22,5%
b Tổ chức vận dụng chế độ kế toán
- Theo QD 15/2006/QD-BTC
- Theo QD 48/2006/QD-BTC
60% 40%
c Nhiệm vụ kế toán viên làm công tác kế toán và kế toán quản trị tại đơn
vị:
- Chỉ thực hiện công tác kế toán tài chính
- Vừa làm công tác tài chính, vừa lập báo cáo kế toán quản trị
- Chỉ làm công tác kế toán quản trị
77,5% 22,5%
d Công tác tổ chức kế toán quản trị tại các doanh nghiệp có kế toán quản
trị:
- Tổ chức hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ sách báo cáo riêng cho kế toán
quản trị
- Sử dụng chung chứng từ, tài khoản, sổ sách của kế toán tài chính, lập
báo cáo kế toán quản trị riêng
- Vừa sử dụng chung chứng từ, tài khoản , sổ sách của kế toán tài chính
vừa mở các tài khoản chi tiết phục vụ công tác kế toán quản trị
100%
e Nội dung kế toán quản trị được áp dụng tại các doanh nghiệp
Trang 38- Lập dự toán tiền, chi phí, giá vốn
- Lập báo cáo quản trị
- Tất cả các nội dung trên
100% 100% 100%
f Quan hệ giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị
- Là bộ phận của kế toán tài chính
- Là bộ phận độc lập đƣợc tổ chức riêng
100%
g Các loại báo cáo đƣợc lập tại doanh nghiệp:
- Báo cáo nợ phải thu, phải trả
- Báo cáo nợ vay ngân hàng
- Báo cáo tình hình nhận trả bảo hành tại các công trình
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
- Báo cáo tình hình tồn kho nguyên vật liệu
- Dự toán tiền
- Dự toán chi phí nguyên vật liệu
- Dự toán chi phí quản lý DN
- Dự toán chi phí sản xuất chung
- Các loại dự toán khác
100% 75% 100% 100% 100% 100% 100% 45% 100%
3 Quan điểm đánh giá về kế toán quản trị
a Đánh giá hoạt động mảng kế toán quản trị tại Doanh nghiệp:
Bảng 2.2: Bảng kết quả khảo sát
Trang 392.2.3 Đánh giá thực trạng khảo sát kế toán quản trị tại các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn
Qua kết quả khảo sát thực tế, đặc điểm tổ chức bộ máy hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa có nhiều hình thức khác nhau, trong đó thì loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm đa số với 72,5% trong tổng số các doanh nghiệp được khảo sát, phần lớn các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ Đa số các doanh nghiệp là hoạt động trong lĩnh vực thi công xây dựng đường xá, cầu, cống
2.2.3.1 Thực trạng tổ chức kế toán quản trị chi phí
a Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh
Chi phí sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp xây dựng rất đa dạng, phong phú, gồm nhiều loại và có nội dung, công dụng kinh tế, có yêu cầu quản lý và hạch toán khác nhau Kết quả khảo sát tại một số doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn cho thấy việc phân loại chi phí của các doanh nghiệp chủ yếu phân loại chi phí theo khoản mục chi phí và theo yếu tố chi phí
thành 5 khoản mục: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí quản lý doanh nghiệp Việc phân loại chi phí của các doanh nghiệp xây dựng theo khoản mục có ý nghĩa để tính giá thành sản xuất và tính giá thành toàn bộ cho công trình, hạng mục công trình khi
đã hoàn thành và để xác định kết quả của từng công trình, hạng mục công trình theo yêu cầu cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp và cho nhà quản trị của các cấp
gồm các yếu tố sau:
- Chi phí nguyên vật liệu như xi măng, sắt, thép, cát, sỏi ,đá…
- Chi phí nhân công như tiền lương, tiền công, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của công nhân xây dựng, dọn mặt bằng, bốc vác…
- Chi phí khấu hao các tài sản cố định như máy xúc, máy ủi, nhà văn phòng, nhà kho,…
- Các chi phí dịch vụ mua ngoài như tiền điện, tiền nước, nhà tạm, bảo hiểm an ninh, bảo hành…
- Các chi phí khác như giải phóng mặt bằng, đền bù, bàn giao CT…
Việc phân loại chi phí thành các yếu tố chi phí của các doanh nghiệp xây dựng
Trang 40chủ yếu phục vụ cho việc xây dựng dự toán chi phí cho từng công trình, hạng mục công trình nhằm góp phần kiểm soát chi phí
Các doanh nghiệp xây dựng cũng đã vận dụng tiêu thức căn cứ vào mối quan hệ của chi phí với đối tượng chịu chi phí, chia thành 2 dạng: Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp Chi phí trực tiếp thường tập hợp thẳng cho các đối tượng chịu chi phí Ví dụ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp thường hạch toán trực tiếp cho từng công trình, hạng mục công trình Chi phí gián tiếp như chi phí sản xuất chung, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí quản lý doanh nghiệp thường phân bổ cho các công trình theo nhiều tiêu thức khác nhau tùy theo từng doanh nghiệp
Ví dụ: Chi phí sản xuất chung của Công ty cổ phần xây dựng thủy lợi và cơ sở hạ
tầng phân bổ cho các công trình theo doanh thu nhận thầu của các công trình Chi phí sản xuất chung của công ty TNHH xây lắp 19/5 phân bổ cho từng công trình theo dự toán chi phí của các công trình Chi phí sử dụng máy thi công được công ty phân bổ cho các công trình theo số giờ máy thực tế thi công Chi phí sử dụng máy thi công của Công ty cổ phần xây dựng thủy lợi và cơ sở hạ tầng thực hiện phân bổ cho các công trình theo khối lượng thực tế thi công hoàn thành Để đánh giá kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp theo từng công trình, các doanh nghiệp cũng đã phân bổ chi phí quản lý doanh nghiệp cho từng công trình, tiêu thức phân bổ cũng tùy theo từng doanh nghiệp, có doanh nghiệp phân bổ theo doanh thu thực tế phát sinh của từng công trình,
có doanh nghiệp phân bổ theo chi phí thực tế phát sinh
Như vậy, các doanh nghiệp xây dựng chủ yếu vận dụng 3 tiêu thức phân loại chi phí áp dụng vào doanh nghiệp để kiểm soát chi phí và cung cấp thông tin chi phí về từng công trình, hạng mục công trình cho nhà quản trị doanh nghiệp Tuy nhiên việc vận dụng các tiêu thức phân bổ chi phí gián tiếp của một số doanh nghiệp còn hạn chế như tiêu thức phân bổ chưa xác đáng, các khoản chi phí tập hợp theo khoản mục sau
đó mới phân bổ, điều đó dẫn đến độ chính xác chi phí phản ánh cho các đối tượng chịu chi phí chưa cao
Các doanh nghiệp chưa vận dụng tiêu thức phân loại chi phí thành biến phí và định phí để phân tích mối quan hệ giữa chi phí, sản lượng và lợi nhuận từ đó chưa tăng cường công tác kiểm soát chi phí và phân tích thông tin chi phí để đưa ra quyết định quản trị doanh nghiệp