1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu nguồn lợi và một số đặc điểm sinh học của loài trai tai tượng vẩy (Tridacna squamosa lamarck, 1819) tại Cù Lao Chàm, Vịnh Nha Trang, Nam Yết, Phú Quốc ở biển Việt Nam

87 867 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 4,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG --- NGUYỄN QUANG ĐÔNG NGHIÊN CỨU NGUỒN LỢI VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LOÀI TRAI TAI TƯỢNG VẨY TRIDACNA SQUAMOSA LAMARCK,1819 TẠI CÙ LAO CHÀM, VỊNH NHA TRA

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

-

NGUYỄN QUANG ĐÔNG

NGHIÊN CỨU NGUỒN LỢI VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LOÀI TRAI TAI TƯỢNG VẨY (TRIDACNA SQUAMOSA LAMARCK,1819) TẠI CÙ LAO CHÀM, VỊNH NHA TRANG, NAM

YẾT, PHÚ QUỐC Ở BIỂN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

-

NGUYỄN QUANG ĐÔNG

NGHIÊN CỨU NGUỒN LỢI VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LOÀI TRAI TAI TƯỢNG VẨY (TRIDACNA SQUAMOSA LAMARCK,1819) TẠI CÙ LAO CHÀM, VỊNH NHA TRANG, NAM

YẾT, PHÚ QUỐC Ở BIỂN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Nuôi trồng thuỷ sản

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực.Các số liệu tham khảo khác sử dụng trong nghiên cứu này thuộc về bản quyền của các tác giả và được trích dẫn một cách rõ ràng minh bạch

Người cam đoan

Nguyễn Quang Đông

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Nuôi trồng thuỷ sản này được hoàn thành tại

Hội đồng đào tạo sau Đại học - Trường Đại học Nha Trang Hoàn thành luận văn này,

trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn TS Nguyễn Quang

Hùng, đã tận tâm hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài luận

văn này

Xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản, Trường Đại

học Nha Trang, Bộ Giáo dục và Đào tạo, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi

trong thời gian thực hiện đề tài luận văn này

Nhân dịp này, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể cán bộ chuyên môn thuộc

Phòng Nghiên cứu Bảo tồn biển, Viện Nghiên cứu Hải sản nơi tôi công tác, Trung tâm

nhiệt đới Việt- Nga đặc biệt là TS Nguyễn Quang Hùng và PGS TS Đỗ Văn Khương

đã tạo điều kiện và cho phép tôi được sử dụng tư liệu để hoàn thành luận văn Xin

chân thành cảm ơn các thầy, cô, Khoa Nuôi Trồng Thủy Sản - Trường đại học Nha

Trang đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khoá học này

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân và các bạn, đồng

nghiệp đã quan tâm sâu sắc, chia sẻ khó khăn và động viên để tôi hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 4

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới .4

1.1.1 Điều kiện môi trường sống của Trai tai tượng vẩy 4

1.1.2 Nghiên cứu liên quan đến phân bố nguồn lợi trai tai tượng vẩy 4

1.1.3 Tình hình khai thác và thương mại Trai tai tượng vẩy 5

1.1.4 Vị trí phân loại của trai tai tượng (Tridacna squamosa) 7

1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 13

1.2.1 Đặc điểm phân bố nguồn lợi trai tai tượng vẩy .13

1.2.2 Tình hình khai thác và tiêu thụ trai tai tượng vẩy .14

1.3 Vài nét khát quát về địa điểm thu mẫu nghiên cứu .16

1.3.1 Địa lý 16

1.3.2 Một số yếu tố thủy lý thủy hóa .19

1.3.3 Đặc điểm cấu trúc hình thái rạn san hô tại 4 đảo nghiên cứu 23

1.3.4 Một số yếu tố thủy sinh vật 25

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CƯU 29

2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu .29

2.2 Phương pháp nghiên cứu 31

2.2.1 Thiết kế điều tra, nghiên cứu 31

2.2.2 Phương pháp Manta tow tổng quan và xác định diện tích rạn 32

2.2.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm phân bố nguồn lợi, mật độ và kích thước 33

2.2.4 Phương pháp phân loại 34

2.2.5 Phương pháp cố định và bảo quản mẫu 34

2.3 Phương pháp ước tính trữ lượng và khả năng khai thác bền vững 35

Trang 6

2.4 Nghiên cứu đặc điểm sinh học 36

2.5 Phân tích và xử lý số liệu 42

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43

3.1 Một số đặc điểm sinh học của loài trai tai tượng vảy (T squamosa) 43

3.1.1 Hình thái cấu tạo của trai tai tượng (Tridacna squamosa) 43

3.1.2 Đặc điểm dinh dưỡng 45

3.1.3 Thành phần thức ăn trong dạ dày 46

3.1.4 Đặc điểm sinh thái 46

3.1.5 Đặc điểm sinh học sinh sản 47

3.1.6 Chu kỳ sinh dục và mùa vụ sinh sản 50

3.2 Hiện trạng phân bố nguồn lợi trai tai tượng vẩy 53

3.2.1 Phân bố nguồn lợi loài trai tai tượng theo vùng địa lý 53

3.2.2 Phân bố nguồn lợi loài trai tai tượng trên nền đáy rạn và địa hình đới rạn 54

3.2.3 Phân bố nguồn lợi theo độ sâu .56

3.2.4 Hiện trạng nguồn lợi loài trai tai tượng vẩy tại 4 đảo nghiên cứu .57

3.2.4.1 Sinh khối 57

3.2.4.2 Trữ lượng tức thời .58

3.2.4.3 Sự biến động nguồn lợi loài T.squamosa tại 4 vùng đảo nghiên cứu dưới các mối tác động .59

3.3 Các giải pháp khai thác hợp lý, bảo vệ và quản lý bền vững nguồn lợi trai tai tượng vẩy .60

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

PHỤ LỤC .73

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

SCUBA-Diving Thiết bị lặn sâu

Organization oj the United Nations)

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Sản lượng xuất khẩu trai tai tượng vẩy (Tridacna squamosa) của một

số nước/lãnh thổ trên thế giới (1994-2003) 6

Bảng 1.2 Mùa vụ sinh sản của các loài trai tai tượng 12

Bảng 1.3 Thông số môi trường cơ bản trong nước tại tại 04 vùng đảo nghiên cứu 20

Bảng 1.4 Hàm lượng muối dinh dưỡng trong nước tại 04 vùng đảo nghiên cứu 21

Bảng 1.5 Hàm lượng xyanua và hàm lượng dầu hòa tan trong nước tại 04 vùng đảo nghiên cứu 22

Bảng 1.6 Đặc điểm kiểu rạn, phân đới cấu trúc và các dạng sống ưu thế của quần xã san hô tại 2 khu vực biển nghiên cứu 24

Bảng 2.1 Bảng toạ độ các điểm khảo sát trai tai tượng vẩy tại 4 vùng nghiên cứu 29

Bảng 2.2 Số lượng mặt cắt thu mẫu trên các khu vực khảo sát 32

Bảng 2.3 Phân chia giai đoạn phát triển theo nhóm kích thước chiều dài cơ thể T squamosa 39

Bảng 3.1 Kích cỡ lớn nhất của loàiTridacna squamosa tại 4 đảo nghiên cứu .44

Bảng 3.2 Tương quan thành thục sinh dục theo nhóm kích thước 50

Bảng 3.3 Sức sinh sản tuyệt đối, tương đối củatrai tai tượng vẩy theo nhóm kích thước .52

Bảng 3.4 Trữ lượng tức thời loài trai tai tượng Tridacna squamosa tại 4 vùng nghiên cứu .59

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Loài trai tai tượng T squamosa 9

Hình 1.2 Sơ đồ cấu tạo nội quan liên và hoạt động của tảo Zooxanthellaetrên cơ thể của T squamosa 11

Hình 2.1 Vị trí địa lý tự nhiên tại 4 khu vực nghiên cứu Trai tai tượng vẩy 31

Hình 2.2 Khảo sát tổng quan bằng phương pháp Manta tow 32

Hình 2.3 Phương pháp lặn SCUBA điều tra, nghiên cứu Trai tai tượng vẩy 34

Hình 2.4 Một số đặc điểm hình thái ngoài để nhận dạng các loàitrai tai tượng vẩy 37

Hình 2.5 Phương pháp đo và xác định các chỉ tiêu hình thái ngoài 37

Hình 2.6 Một số đặc điểm cấu tạo trong của trai tai tượng 38

Hình 2.7 Xử lý mẫu bằng máy xử lýmô tự động 40

Hình 2.8 Máy đúc mẫu Thermo shadon Histocentre 2 40

Hình 2.9 Quy trình cắt lát, làm nhãn và sấy khô mẫu 42

Hình 2.10 Buồng chứa các bể hóa chất nhuộm mẫu 42

Hình 3.1 Một số đặc điểm hình thái phân loại của loài trai tai tượng vẩy 43

Hình 3.2 Cơ thể trai tai tượng nhìn từ bên ngoài 45

Hình 3.3 Các giai đoạn phát triển của buồng trứng ( Độ phóng đại 40X ) 49

Hình 3.4 Phân bố mật độ cá thể loài Tridacna squamosa tại 4 đảo nghiên cứu 54

Hình 3.5 Đặc điểm phân bố loài Tridacna squamosa thường bám nhẹ và nổi cả cơ thể trên mặt nền đáy 55

Hình 3.6 Phân bố loài T squamosa 56

Hình 3.7 Dải độ sâu phân bố củaloài trai tai tượng vẩy trên 4 đảo nghiên cứu 57

Hình 3.8 Sinh khối trung bình (kg/500m 2 ) trai tai tượng Tridacna squamosa tại 4 đảo nghiên cứu năm 2011 57

Hình 3.9 So sánh sinh khối trai tai tượng Tridacna squamosa 4 vùng đảo với các đảo phía Nam khác ở Việt Nam 58

Trang 10

MỞ ĐẦU

Trong sản lượng khai thác thủy sản hàng năm trên thế giới thì động vật thân

mềm (Mollusca) đóng vai trò khá quan trọng Năm 2000, động vật nhuyễn thể chiếm

11% tổng sản lượng thủy sản trên thế giới, trong đó sản lượng nuôi chiếm 30% tổng sản lượng NTTS thế giới Sản lượng nhuyễn thể (đánh bắt + NTTS) tăng nhanh chóng trong 5 thập kỷ qua, từ 1,1 triệu tấn năm 1959 đến 14,9 triệu tấn năm 2000 Sự tăng trưởng này chủ yếu là do tăng sản lượng NTTS và đặc biệt rất nhanh từ thập kỷ 90 Sản lượng nuôi nhuyễn thể tăng từ 3,6 triệu tấn năm 1990 lên 10,7 triệu tấn năm 2000, nuôi nhuyễn thể chiếm 71,9% tổng sản lượng nhuyễn thể trên thế giới [18]

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn lợi Trai tai

tượng vẩy (T squamosa), phân bố nguồn lợi, bước đầu nghiên cứu sản xuất giống và

đã triển khai một số hoạt động liên quan đến phục hồi, tái tạo nguồn lợi tự nhiên ở nhiều nơi Tuy nhiên, ở Việt Nam, mặc dù đã có một số ít công trình nghiên cứu/bài báo công bố có liên quan đến nguồn lợi Trai tai tượng vảy (họ Tridacnidae) Nhưng chúng ta cũng cần nhìn nhận thực tế, khách quan về một số vấn đề còn tồn tại và hạn chế như sau:

• Từ trước đến nay, hầu như chưa có một công trình nghiên cứu nào về hiện trạng

nguồn lợi, đặc điểm sinh học Trai tai tượng vẩy (T squamosa) được thực hiện một

cách đầy đủ và đồng bộ ở biển Việt Nam Một số ít thông tin liên quan đến thành phần loài, phân bố nguồn lợi loài Trai tai tượng vảy thuộc họ Tridacnidae mới chủ yếu thu thập được từ các chương trình điều tra cơ bản về nguồn lợi động vật đáy nói chung, nhưng cũng chưa được đầy đủ và chưa phản ánh đúng được hiện trạng nguồn lợi Trai tai tượng vảy ở biển Việt Nam

• Các nghiên cứu liên quan đến nguồn lợi Trai tai tượng vảy như: đặc điểm sinh

học, sinh thái, phân bố mật độ, của loài Trai tai tượng vảy T squamosa ở biển Việt

Nam hầu như chưa có

• Các thông tin liên quan đến hiện trạng khai thác (bao gồm: ngư cụ khai thác, mùa vụ và địa điểm khai thác…) Từ lâu, trên thế giới đã nhận thấy được vai trò sinh

thái và giá trị kinh tế của Trai tai tượng vảy, nên từ những năm 1980 nhiều nước đã tiến hành triển khai các hoạt động quản lý, nuôi phục hồi, tái tạo nguồn lợi Trai tai tượng vảy (họ Tridacnidae) và đã đạt được những thành công nhất định

Trang 11

Tại Việt Nam tới nay chưa có nghiên cứu, điều tra tổng thể về trai tai tượng vẩy, do đó thông tin về loài này rất hạn chế Theo các nghiên cứu bước đầu của Viện nghiên cứu Hải sản và một số tổ chức khác, trai tai tượng vẩy ngoài tự nhiên của Việt Nam ngày càng cạn kiệt Do vậy Trai tai tượng vẩy nói riêng và nguồn lợi động vật thân mềm nói chung là đối tượng kinh tế lớn của Việt Nam nên chúng được chú ý nghiên cứu trong các năm gần đây

Các công trình nghiên cứu về Trai tai tượng và nguồn lợi thân mềm như:

- Nghiên cứu phục hồi và phát triển nguồn lợi Trai tai tượng (họ Tridacnidae) ở

biển Việt Nam Của Nguyễn Quang Hùng năm 2009-2011

- Điều tra tổng thể hiện trạng đa dạng sinh học trong hệ sinh thái rạn san hô và vùng ven đảo ở vùng biển Việt Nam phục vụ phát triển bền vững của Đỗ Văn Khương năm 2010-2015

Dựa trên kết quả nghiên cứu của các đề tài mà tôi trực tiếp tham gia, tôi được

Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường đại học Nha Trang, Viên nghiên cứu Hải sản, chủ nhiệm đề tài và các thành viên tham gia đề tài tạo điều kiện cho tôi viết luận văn thạc

sỹ “Nghiên cứu nguồn lợi và một số đặc điểm sinh học của loài trai tai tượng vảy

(Tridacna squamosa, Lamarck, 1819) tại Cù Lao Chàm, Vinh Nha Trang, Nam Yết, Phú Quốc ở biển Việt Nam”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu hiện trạng nguồn lợi phân bố và một số đặc điểm sinh học của loài

trai tai tượng vảy (T squamosa)

- Đề xuất được giải pháp bảo vệ và khai thác hợp lý nguồn lợi trai tai tượng vảy

(T squamosa)

3 Các nội dung nghiên cứu

- Một số đặc điểm sinh học của loài trai tai tượng vảy (T squamosa)

- Hiện trạng phân bố nguồn lợi trai tai tượng vẩy ở 4 đảo (Cù Lao Chàm, Vinh Nha Trang, Nam Yết, Phú Quốc )

- Các giải pháp khai thác hợp lý, bảo vệ và quản lý bền vững nguồn lợi trai tai tượng vẩy

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài làm đầy đủ thêm các nghiên

cứu về đặc điểm sinh học của loài trai tai tượng vảy, nguồn lợi trai tai tượng vảy Bên

Trang 12

cạnh đó kết quả của đề tài góp phần nâng cao hiệu quả về khai thác hợp lý nguồn lợi trai tại tượng vẩy ở 4 đảo ven biển Việt Nam

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn là cơ sở ứng dụng thực tiễn

cho việc qui hoạch, quản lý, khai thác trai tai tượng vảy ở 4 đảo Đồng thời định hướng cho việc phát triển nghề nuôi trai tai tượng vảy, tạo thêm nghề nuôi mới, góp phần phát

triển kinh tế-xã hội tại các huyện đảo

 Những điểm mới của luận văn

- Đánh giá được nguồn lợi phân bố theo vùng địa lý tại 4 đảo của Việt Nam

- Đề tài bổ sung và làm đầy đủ thêm những hiểu biết về đối tượng loài trai tai

tượng vẩy (T squamosa), từ đặc điểm sinh học sinh sản

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.1.1 Điều kiện môi trường sống của Trai tai tượng vẩy

Kết quả nghiên cứu, thống kê trên thế giới cho thấy, các loài thuộc họ Trai tai

tượng (Tridacnidae) nói chung và loài T squamosa nói riêng chỉ phân bố trong các rạn

san hô ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương

[77], [85]

Trai tai tượng T squamosa cư trú trong hệ sinh thái rạn san hô có mối quan hệ

mật thiết với quần xã sinh vật và các điều kiện sinh thái trong hệ sinh thái rạn san hô Những thay đổi của hệ sinh thái rạn cũng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của các loài Trai tai tượng [51]

Nhiệt độ: Tất cả các loài Trai tai tượng nói chung và loài Trai tai tượng vảy (T

squamosa) nói riêng đều yêu cầu sống trong môi trường nước đại dương sạch, nhiệt độ

nước tối ưu được xác định trong khoảng từ 23-310C [67]

Độ muối: Trai tai tượng được tìm thấy trong nước biển với mức độ muối

khoảng 35‰ Mức độ muối tối thiểu mà Trai tai tượng có thể sinh sống chưa được biết đến nhưng nó có liên quan với các loài san hô tạo rạn Các loài san hô vùng nhiệt đới

đã được ghi nhận có thể thích nghi khi độ muối trong môi trường sống của chúng giảm

đi tới 20% [67]

Độ trong: Các loài trai tai tượng vảy (T squamosa) thường sống trong môi

trường nước trong sạch, là nơi tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền ánh sáng đến những loài tảo cộng sinh với chúng

1.1.2 Nghiên cứu liên quan đến phân bố nguồn lợi trai tai tượng vẩy

Họ Trai tai tượng (Tridacnidae) thuộc lớp động vật thân mềm (ĐVTM) hai mảnh vỏ (Bivalvia), lớp phụ Heterodonta, Bộ Veneroida Kết quả nghiên cứu, thống

kê trên thế giới cho thấy, các loài thuộc họ trai tai tượng (Tridacnidae) nói chung và loài trai tai tượng vẩy nói riêng chỉ phân bố trong các rạn san hô ở vùng biển nhiệt đới

và cận nhiệt đới thuộc khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương [77],[85] Trong đó, loài trai tai tượng vẩy có kích thước của vỏ có thể đạt tới khoảng 40cm

Trong các công trình nghiên cứu của Rosewater (1965, 1982) và Lucas (1988)

đã mô tả khá chi tiết về phân bố địa lý và khóa phân loại của loài trai tai tượng vẩy

Trang 14

thuộc họ Tridacnidae trên thế giới Một trong những đặc điểm phân loại chủ yếu và khác biệt với các loài ĐVTM hai mảnh vỏ khác là loài Trai tai tượng vẩy có vỏ rất dày, dạng vảy và là những loài ĐVTM hai mảnh vỏ duy nhất có màng áo với nhiều màu sắc sặc sỡ do có sự cộng sinh với tảo ở mô màng áo, vì vậy màu sắc của màng áo phụ thuộc rất lớn vào màu sắc của loài tảo cộng sinh [74]

* Phân bố theo chiều ngang: Phân bố theo chiều ngang được chi phối bởi yếu

tố nhiệt độ Mặc dù trai tai tượng nói chung phân bố rất rộng trên thế giới nhưng mỗi loài trai trai tai tượng lại phân bố ở những vùng nhất định, trong đó trai tai tượng vẩy lại phân bố ở những vùng nhất định, chỉ xuất hiện tại bờ biển Saya de Malha thuộc Ấn

Độ Dương Loài T squamosa phân bố kéo dài từ Biển Đỏ và bờ biển Đông Phi phía

Ấn Độ -Thái Bình Dương cho tới các đảo Pitcairn, sau đó chúng được du nhập vào Hawaii [69]

* Phân bố theo phương thẳng đứng: Phân bố theo chiều thẳng đứng được

quyết định bởi yếu tố nhu cầu về cường độ ánh sáng và độ sâu Vì trai tai tượng vẩy sống cộng sinh với tảo, nên ánh sáng có vai trò quan trọng trong phân bố của đa số chúng Tùy loài trai tai tượng mà nhu cầu ánh sáng có khác nhau, chúng được biểu

hiện qua phân bố theo độ sâu và thường phân bố gắn liền với các rạn san hô Loài T squamosa thường tìm thấy xung quanh những cây san hô sống [44] Chúng thường có

thể sống ở độ sâu đến khoảng 15m nước với độ trong nước rất lớn [46]

1.1.3 Tình hình khai thác và thương mại Trai tai tượng vẩy

Tình hình khai thác: Từ những năm 1960, nguồn lợi Trai tai tượng nói chung

và trai tai tượng vẩy nói riêng đã được phát hiện thấy phân bố ở khu vực Thái Bình Dương và bị khai thác bởi những tàu cá của Đài Loan Do nhu cầu ngày càng gia tăng trong giai đoạn này nên từ những năm 1970 đến những năm 1980 nguồn lợi Trai tai tượng ở khu vực Thái Bình Dương đã có hiện tượng bị giảm sút dần do bị khai thác quá mức [82],[68],[48] Đến nay, việc khai thác Trai tai tượng ở Đài Loan đã được quản lý khá chặt chẽ, tuy nhiên ở những vùng biển trung gian giữa Đài Loan, Australia

và các nước khác thì nguồn lợi Trai tai tượng vẫn đang có dấu hiệu bị giảm sút [69] Ngoài ra, nguồn lợi loài Trai tai tượng ở các khu vực Solomon, Papua New Guinea và

ở các vùng rạn hô ngầm của Australia còn đang bị đe dọa cạn kiệt [69] Thương mại

Tridacna squamosa: Trong giai đoạn 1994 - 2003, thông tin về xuất khẩu loài Trai tai

tượng vảy (T squamosa) được thu thập ở 34 nước và lãnh thổ, tuy nhiên số liệu thống

Trang 15

kê chi tiết chỉ thu thập được ở khoảng 20 nước và vùng lãnh thổ Các số liệu tập trung chủ yếu vào một số nước/lãnh thổ như: Fiji, MINC (Marshall Islands New Caledonia), Tonga, Vanuatu và Việt Nam

Bảng 1.1 Sản lượng xuất khẩu trai tai tượng vẩy (Tridacna squamosa) của một

số nước/lãnh thổ trên thế giới (1994-2003)

Trang 16

Nguồn: Thông tin thương mại được cung cấp từ CITES (C) và Trung tâm quan trắc bảo tồn

quốc tế UNEP, Cambridge, Vương quốc Anh (W)

1.1.4 Vị trí phân loại của trai tai tượng (Tridacna squamosa)

T.Squamosa vỏ kích cỡ lớn, gân phóng xạ vồng to nhưng là gân đơn, số lượng

gân biến đổi từ 4-6 gân, có hốc tơ bám

Giới động vật Animalia

Ngành Mollusca

Lớp Bivalvia Lớp phụ Heterodonta

Bộ Veneroida Phân họ Tridacnicea

Họ Tridacnidae Giống Tridacna Loài T squamosa

Tên Việt Nam thường gọi là loài: Trai tai tượng vẩy

 Đặc điểm cấu tạo

Trai tai tượng vảy- Scaly giant clam: Trên bề mặt vỏ có các vẩy lớn tạo thành các rãnh sâu có dạng hình máng Màng áo có các vết chấm lốm đốm màu xanh da trời,

Trang 17

màu nâu và màu xanh lá cây Kích thước của vỏ có thể đạt tới khoảng 40cm, dày chắc, nặng, hình trứng Hai vỏ bằng nhau, mép bụng vỏ cong gợn sóng, trước đỉnh vỏ có lỗ

tơ chân dài Bản lề ngoài dài màu nâu, mặt vỏ màu trắng đục, có 4 – 6 gờ phóng xạ rất lớn trên đó có nhiều phiến vảy Mương giữa 2 gờ phóng xạ lớn có nhiều gờ phóng xạ nhỏ Mặt trong vỏ màu trắng sứ, mặt khớp dài, vỏ phải có 1 răng giữa và 2 răng bên phía sau, vỏ trái có 1 răng giữa và 1 răng bên phía sau Mép lỗ tơ chân có một số gờ cắt ngang dạng răng cưa Vỏ cá thể trưởng thành dài trên dưới 200mm, cao 132mm, rộng 145mm

Trang 18

(Nguồn ảnh: Đề tài trai tai tượng)

Hình 1.1 Loài trai tai tượng T squamosa

có các đường vân chạy song song

Trang 19

 Dinh dưỡng

Nhằm mục đích nắm vững cơ chế dinh dưỡng để chủ động giải quyết vấn đề thức ăn trong nuôi loài Trai tai tượng, các nghiên cứu về dinh dưỡng của Trai tai tượng nói riêng và các loài thân mềm hai mảnh vỏ nói chung Gibert Barnabe, 1994 nghiên cứu hình thái, tổ chức và tế bào học hệ thống tiêu hóa của ấu trùng, con non và con trưởng thành các loài thân mềm hai mảnh vỏ Các tác giả khác như: Ansell, 1962 nghiên cứu về cấu trúc tuyến tiêu hóa ấu trùng loài Venus striatula: Creek, 1960 nghiên cứu loài Cardium edule; Sastry, 1965 nghiên cứu trên Aequipecten irradians; Hick Mann & Gruffydd, 1970 nghiên cứu trên loài Ostrea edulis; Bayne, 1970 và Masson, 1975 nghiên cứu trên loài Mytilus edulis Kết quả chỉ ra rằng sự khác nhau về cấu trúc tuyến tiêu hóa giữa các loài là rất nhỏ

Các loài thuộc họ Trai tai tượng Tridacnidae nói chung và Trai tai tượng vẩy T.squamosa nói riêng có 2 hình thức dinh dưỡng chủ yếu là: Tự dưỡng thông qua ăn

lọc các mảnh vụn hữu cơ ngoài môi trường nước và cộng sinh với một số loài tảo quang hợp (Symbiodinium microadriaticum) sống bám trên phần màng áo nhô ra ngoài vỏ để quang hợp lấy nguồn dinh dưỡng nuôi cơ thể [74]

Tảo cộng sinh – zooxanthellae: Tảo đơn bào zooxanthellae được định danh là

loài Symbiodinium micriadriaticum được chứa trong một cấu trúc đặc biệt của trai gọi

là lớp áo (mantle) [89] Các loài tảo này quang hợp tạo ra đường, axit amin, axit béo sau đó một phần dinh dưỡng này sẽ được phóng trực tiếp vào mạch máu của Trai tai tượng và qua màng tế bào của tảo Chính vì thế Trai tai tượng chỉ cần nuôi trong môi trường nước sạch và đủ ánh sáng mặt trời là chúng có thể sinh trưởng phát triển bình thường [75]

Cơ chế hoạt động của tảo cộng sinh - Zooxanthellae: Tảo đơn bào Zooxanthellae được định danh là loài Symbiodinium micriadriaticum được chứa trong một cấu trúc

đặc biệt của trai gọi là lớp màng áo

Trang 20

1: ống tảo loại 1 2: ống tảo loại 2

3: ống tảo loại 4: màng áo

Hình 1.2 Sơ đồ cấu tạo nội quan liên và hoạt động của tảo Zooxanthellae

trên cơ thể của T squamosa

Các zooxanthellae cố định trong các ống nhỏ Các ống này được kéo dài từ dạ

dày tới dìa thịt của Trai tai tượng Đây là điều khác với các loài san hô, các zooxanthellae cố

định trong các tế bào riêng lẻ Các loài zooxanthellae qua quá trình quang hợp và cung

cấp cho Trai tai tượng các sản phẩm cũng như san hô đã nhận Zooxanthellae chuyển

CO2 và NH3 thành carbonhydrate và các chất dinh dưỡng khác cho ký chủ của nó Các

chất dinh dưỡng khác mà Tridacna Squamosa nhận từ zooxanthellae là: cacbon ở dạng

glucose và các amino acid như alamine Nghiên cứu cho thấy rằng glucose là carbonhydrate

sơ cấp được thải ra bởi zooxanthellae để cung cấp cho nó là oligosaccharide (dạng cơ

bản của glucose), kế đến là glutamats, aspartate Succinate, alanine và glycerol [72]

Trên thực tế, chúng sản xuất nhiều hơn so với nhu cầu của bản thân và lượng

đường, những chất dinh dưỡng (amino axit, các axit béo) dôi ra sẽ được hấp thu trực

tiếp từ màng tế bào tảo vào hệ thống mạch máu Trai tai tượng Đây là lý do Trai tai

tượng luôn xuất hiện ở tư thế nằm ngửa thay vì vùi mình trong bùn hay nằm ngang với

một bên vỏ tiếp xúc mặt đáy Chừng nào mà chúng còn nằm ngửa với các mô áo

hướng lên trên, thì chúng còn có thể đáp ứng được phần lớn nhu cầu dinh dưỡng của

mình thông qua zooxanthellae [72]

Tảo phân bố trên màng áo của trai tạo nên màu sắc cho màng áo

Trang 21

Nếu không có ánh sáng mặt trời thì Trai tai tượng sẽ bị chết rất nhanh kể cả khi

có thức ăn trong nước, từ đó có thể thấy được tầm quan trọng của Tảo Zooxanthelle tới

sự sống của Trai tai tượng Trai tai tượng có thể sống được trong môi trường có bùn lắng nhẹ hay độ đục vừa phải nhưng chúng vẫn ưa môi trường biển nhiệt đới, trong và sạch

Tảo zooxanthellae bắt đầu vào cơ thể trai từ giai đoạn ấu trùng Veliger, trước giai đoạn biến thái Chúng ở trong dạ dày của trai một vài ngày mà không bị tiêu hóa như các loài sinh vật phù du làm thức ăn khác Trước giai đoạn biến thái chúng bắt đầu

xâm nhập, cộng sinh gắn với mô màng áo để quang hợp tạo ra nguồn dinh dưỡng [45]

 Sinh sản

Trai tai tượng là loài lưỡng tính, tính đực chín trước, tính cái chín sau: Đầu tiên, chúng phát triển như một cá thể đực trong khoảng từ 2-3 năm đầu, sau đó tuyến sinh dục sẽ phát triển thành 2 hợp phần cả phóng trứng và tinh trùng Trong giai đoạn đẻ tinh trùng sẽ được phóng ra trước và trứng được phóng ra sau Trứng và tinh trùng được thụ tinh ngoài môi trường nước và nở thành ấu trùng Kích thước, tuổi chín muồi sinh dục và mùa vụ sinh sản phụ thuộc vào đặc điểm của từng loài và từng khu vực địa

lý khác nhau Kích thước thành thục lần đầu và có thể đưa vào cho sinh sản dao động

từ 10-50cm tuỳ từng loài

Sức sinh sản tuyệt đối của Trai tai tượng có thể dao động từ hàng triệu trứng đối

với loài kích thước nhỏ như loài T crocea đến hàng trăm triệu trứng đối với các loài kích thước lớn như loài T gigas [74]

Mỗi loài trưởng thành ở độ tuổi khác nhau Mùa vụ sinh sản: Đối với các khu vực có vĩ độ thấp thì sự sinh sản xảy ra quanh năm Tuy nhiên, ở những nơi có vĩ độ cao hơn, mỗi loài có mùa vụ sinh sản riêng được thể hiện trong Bảng 1.2:

Bảng 1.2: Mùa vụ sinh sản của các loài trai tai tượng

Hippopus hippopus Mùa Hè

Hippopus porcellanus Không tìm thấy

Tridacna crocea Mùa Hè

Tridacna derasa Mùa Xuân

Tridacna maxima Mùa Đông

Tridacna squamosa Mùa Đông

Tridacna tevoroa Không có dữ liệu

Tridacna costata Không có dữ liệu

(Nguồn: http://animal.com/Aquaruim-Coral-Reefs/Giant-Clam)

Trang 22

Qua các tài liệu nghiên cứu được tổng quan ở trên cho thấy, trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu họ trai tai tượng nói chung và loài trai tai tượng vẩy nói riêng Những nghiên cứu đó phần nào giải đáp được các khía cạnh về đặc điểm sinh học, sinh thái, những ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan và khách quan nguồn lợi loài trai tai tượng vẩy ở mỗi khu vực và vùng địa lý khác nhau Tuy nhiên, khi áp dụng kết quả nghiên cứu để đưa ra các giải pháp bảo vệ và tái tạo nguồn lợi, quản lý sao cho hiệu quả thì cần có sự linh hoạt trong điều kiện của mỗi vùng, mỗi quốc gia và khu vực

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM

Trai tai tượng vẩy là một trong những nguồn lợi hải đặc sản thuộc lớp ĐVTM hai mảnh vỏ và có giá trị kinh tế cao ở Việt Nam Thịt có hàm lượng dinh dưỡng cao,

vỏ là hàng mỹ nghệ và có giá trị làm dược liệu Chúng cung cấp nguồn thức ăn bổ dưỡng và là nguồn sản phẩm xuất khẩu (dạng tươi sống và vỏ) mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho ngư dân ven biển-đảo [20]

1.2.1 Đặc điểm phân bố nguồn lợi trai tai tượng vẩy

- Tại Việt Nam tới nay chưa có nghiên cứu, điều tra tổng thể về trai tai tượng,

do đó thông tin về loài này rất hạn chế Theo một số nghiên cứu ban đầu, trai tai tượng ngoài tự nhiên của Việt Nam ngày càng cạn kiệt Việc thử nghiệm nuôi một số loài trai

tai tượng Tridacna spp đã được tiến hành nhưng chưa có kết quả khả quan Từ trước

tới nay mặt hàng trai tai tượng xuất khẩu hoàn toàn được đánh bắt, khai thác từ tự nhiên Trai tai tượng phân bố chủ yếu ở ven biển miền Trung và ven đảo phía Nam (Phú Quốc, Phú Quý, Côn Đảo, Vịnh Nha Trang) từ vùng hạ triều đến độ sâu khoảng 20m, trên các nền đáy đá hoặc các rạn san hô Trước những năm 1990, một số loài thường gặp có mật độ phân bố cao nhất đạt khoảng 50 - 200 cá thể/ 500m2

 Phân bố

Kết quả thống kê tài liệu cho thấy, cả 5 loài Trai tai tượng ở Việt Nam chỉ thấy phân bố tập trung từ vùng biển miền Trung trở xuống đến vùng biển phía Nam, vùng biển phía Bắc không thấy có loài nào phân bố Phạm vi phân bố từ vùng triều đến vùng dưới triều trên các vùng rạn đá và rạn san hô [15];[10],[29]

Theo tài liệu trích dẫn trong Sách đỏ Việt Nam (2000), tại Việt Nam 2 loài Trai

tai tượng Tridacna gigas, Hippopus hippopus phân bố chủ yếu ở quần đảo Trường Sa Trong đó, loài Trai tai tượng khổng lồ (T gigas) là loài trai lớn và nặng nhất trong lớp

Trang 23

ĐVTM hai mảnh vỏ, mẫu vật thu được tại đảo Sinh Tồn (Trường Sa) có chiều dài 0,95m, rộng 0,51m, vết màng áo 24x26cm, vết cơ khép vỏ có đường kính 10cm Hiện

nay tại Việt Nam mới chỉ phát hiện thấy loài T gigas phân bố ở vùng biển Trường Sa

Đây là loài quí hiếm, có không gian phân bố hẹp, trữ lượng ngoài tự nhiên rất ít, mức

đe doạ bậc R (Sách đỏ Việt Nam, 2000)

Trai tai tượng vẩy T squamosa được ghi nhận là loài phân bố khá phổ biến ở

biển Việt Nam, phân bố trên các rạn san hô từ Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận cho đến Trường Sa, Phú Quý và Phú Quốc [29]

Theo báo Tiền Phong (số ra ngày 30/9/2004, trang 2): “Sau gần 2 năm khảo sát tại vùng biển Cù Lao Chàm - Hội An, các nhà nghiên cứu thuộc trường ĐH Khoa học

tự nhiên - ĐH Quốc gia Hà Nội đã tìm thấy tại đây 56 loài thân mềm có giá trị kinh tế

và quí hiếm Trong đó có 20 loài thuộc nhóm ốc, 34 loài thuộc lớp 2 mảnh vỏ Trên các rạn san hô và khe đá dưới triều, có 5 loài ốc quý hiếm, trong đó có 2 loài thuộc

nhóm ốc nón Đặc biệt, Trai tai tượng tại Cù Lao Chàm có tới 3 loài trong tổng số 5

loài tìm thấy ở vùng biển Việt Nam”

Theo nguồn thông tin tổng hợp từ ADB (1999) và BirdLife International (2001)

thì loài Trai tai tượng vẩy Tridacna squamosa phân bố nhiều nhất ở Phú Quốc, tiếp

đến là Hòn Mun – Nha Trang Tuy nhiên, theo Số liệu thống kê từ Sở Thuỷ sản Kiên Giang (2007), cho đến nay nguồn lợi Trai tai tượng tại Phú Quốc đã và đang bị suy giảm nhanh chóng do bị khai thác quá mức liên tục trong những năm gần đây nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu

1.2.2 Tình hình khai thác và tiêu thụ trai tai tượng vẩy

Do họ trai tai tượng và loài trai tai tượng vẩy nói chung có giá trị nuôi giải trí,

mỹ nghệ và đặc biệt giá trị về dinh dưỡng lớn Trai tai tượng chứa đầy đủ các acid amin có giá trị sinh học cao chống được mỡ hoá gan, giàu nguyên tố vi lượng, hàm lượng DHA và các thành phần axit béo không no khác chiếm tỷ lệ rất cao nên vấn nạn khai thác Trai tai tượng để bán cho các nhà hàng, công ty xuất khẩu hay các đầu nậu diễn ra mạnh mẽ trong nhiều năm qua Một yếu tố khác góp phần làm cho nhiều người tham gia vào khai thác trai là vì chi phí khai thác thấp và kỹ thuật đơn giản Người dân chỉ cần một chiếc ghe nhỏ có trang bị bình lặn khí là có thể lặn bắt được trai mang đi bán hay đáp ứng nhu cầu của người đặt hàng

Trang 24

Theo thông báo của Ban thư ký CITES quốc tế, từ ngày 14-18/07/2008, Ủy ban thường trực Công ước CITES đã tổ chức họp lần thứ 57 tại Geneva - Thụy Sỹ, trong

đó thảo luận về việc tạm thời cấm xuất khẩu các loài trai tai tượng (Tridacna spp.) từ

Việt Nam và một số quốc gia khác do chưa đáp ứng được các khuyến nghị của Ủy ban Động vật CITES (CITES, Cục Kiểm lâm, 2008)

- Việt Nam có 4 loài Trai tai tượng thuộc giống Tridacna là: Tridacna crocea,

T maxima, T squamosa và T gigas Theo Công ước CITES, tất cả các loài trai tai

tượng đều thuộc phụ lục II của Công ước CITES (được phép khai thác, xuất khẩu có điều kiện) Theo quy định của Việt Nam (nghị định số 59/2005/NĐ-CP ngày 4/5/2005; Thông tư số 02/2006/TT-BTS ngày 20/03/2006 và Thông tư số 62/2008/TT-BNN ngày 20/5/2008), Trong đó đã qui định kích cỡ khai thác cho phép đối với các loài Trai tai tượng như: được phép khai thác các cá thể có chiều dài vỏ nhỏ nhất 140mm đối với

loài T crocea; 340 mm đối với loài T maxima và 350 mm đối với loài T squamosa;

thời gian cấm khai thác từ 1/4 đến 31/7 hàng năm

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tổng hợp tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước thuộc lĩnh vực của đề tài luận văn cho thấy: Trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn lợi Trai tai tượng (họ Tridacnidae) nói chung và Trai tai tượng vẩy nói riêng, trong đó đã thống kê được danh mục thành phần loài, phân bố nguồn lợi, loài trai tai tượng vẩy thuộc họ Trai tai tượng (Tridacnidae), đã triển khai một số hoạt động liên quan đến phục hồi, tái tạo nguồn lợi tự nhiên ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, ở Việt Nam, mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu/bài báo công bố có liên quan đến nguồn lợi Trai tai tượng vẩy (họ Tridacnidae)

Từ trước đến nay, hầu như chưa có một công trình nghiên cứu nào về đánh giá nguồn lợi Trai tai tưởng vẩy được thực hiện một cách đầy đủ và đồng bộ ở biển Việt Nam nói chung và 4 vùng đảo nghiên cứu nói riêng Một số ít thông tin liên quan đến đặc điểm sinh học, phân bố nguồn lợi các loài Trai tai tượng vẩy thuộc họ Tridacnidae mới chủ yếu thu thập được từ các chương trình điều tra cơ bản về nguồn lợi động vật đáy nói chung, nhưng cũng chưa được đầy đủ và chưa phản ánh đúng được hiện trạng nguồn lợi Trai tai tượng vẩy ở biển Việt Nam

Các nghiên cứu liên quan đến nguồn lợi Trai tai tượng vẩy như: đặc điểm sinh học, sinh thái, phân bố mật độ, khối lượng, kích thước và ước tính trữ lượng của các

loài thuộc họ Trai tai tượng Tridacnidae ở biển Việt Nam hầu như chưa có

Trang 25

Các thông tin liên quan đến hiện trạng khai thác (bao gồm: ngư cụ khai thác, hình thức khai thác, cường lực và sản lượng khai thác, mùa vụ và địa điểm khai thác ở

Việt Nam hầu như rất ít

Từ lâu, trên thế giới đã nhận thấy được vai trò sinh thái và giá trị kinh tế của Trai tai tượng nói chung và loài Trai tai tượng vẩy nói riêng , nên từ những năm 1980 nhiều nước đã tiến hành triển khai các hoạt động quản lý, nuôi phục hồi, tái tạo nguồn lợi Trai tai tượng vẩy (họ Tridacnidae) và đã đạt được những thành công nhất định Tuy nhiên ở Việt Nam, trong nhiều năm gần đây mặc dù nguồn lợi Trai tai tượng vẩy

đã được cảnh báo bị suy giảm nghiêm trọng, một số loài có nguy cơ bị đe doạ tuyệt chủng và đã được liệt kê vào Danh lục Sách đỏ Việt Nam (năm 2000, 2007) do bị khai thác quá mức Nhưng cho đến nay, hầu như chưa có một chương trình nghiên cứu nào liên quan đến giải pháp quản lý, bảo vệ, phục hồi và tái tạo nguồn lợi Trai tai tượng vẩy ở biển Việt Nam Trong đó, về nghiên cứu đặc điểm sinh học, sản xuất giống nhân tạo nhằm bổ sung nguồn lợi tự nhiên và xây dựng các mô hình nuôi được xem là một trong những giải pháp có hiệu quả nhằm phục hồi, tái tạo nguồn lợi Trai tai

1.3 Vài nét khát quát về địa điểm thu mẫu nghiên cứu

1.3.1 Địa lý

 Đảo Cù Lao Chàm (Quảng Nam)

Cách bờ biển Cửa Đại (Hội An, Quảng Nam) 15 km, nằm ở 15052’- 10000’vĩ độ Nam và 108022’ – 108044’ kinh độ Đông Phần đảo nổi là 1544ha, Cù Lao Chàm là một cụm đảo bao gồm 8 đảo theo chiều cánh cung trải rộng trên diện tích biển 15 km2, phần đảo nổi là 1.544ha bao gồm: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô Mẹ, Hòn Cô Con, Hòn Lá, Hòn Tai, Hòn Ông Đảo có độ cao so với mặt nước biển là 517m; độ sâu

10 – 20m, một số vùng tới 30m

Núi ở đảo có địa hình bóc mòn, thung lũng và các bồn thu nước cổ ở độ cao 40 – 80m, độ dốc 15 - 200 Đảo nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, chỉ có hai mùa là mùa khô và mùa mưa, ít chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh ở miền Bắc, mang đầy đủ tính trội của khí hậu nhiệt đới điển hình của phía Nam

Lượng mưa trung bình 2.000 – 2.500mm, tuy nhiên phân bố không đều theo không gian và thời gian; mùa mưa vào tháng 9 đến tháng 12 (chiểm 80% lượng mưa

cả năm), mùa mưa trùng với mùa bão (trung bình 2 – 3 cơn bão/năm)

Độ ẩm ở đây tương đối cao, trung bình 84%

Trang 26

Do đảo Cù Lao Chàm nằm gần cửa đại nên chất lượng môi trường nước quanh đảo chịu ảnh hưởng rất lớn của nguồn nước lục địa từ cửa sông này đổ ra, đặc biệt là các tháng mùa mưa

Chế độ thủy triều mang tính chất bán nhật triều không đều, biên độ trên 2m Độ cao của sóng khoảng 0,5 – 1,2m

Tốc độ gió không có sự chênh lệch lớn giữa các mùa trong năm; vào mùa đông tốc độ gió trung bình là 3 m/s, mùa hè là 3 – 3,5m/s.[19]

 Vịnh Nha Trang (Khánh Hòa)

Vịnh Nha Trang có diện tích khoảng 507km2 bao gồm 19 đảo lớn nhỏ, trong đó Hòn Tre là đảo lớn nhất với diện tích 3.250 ha; đảo nhỏ nhất là Hòn Nọc chỉ khoảng 4ha.[3]

Khí hậu ở đây khá ôn hòa nhiệt độ không khí trung bình năm là 26,40C

Chế độ gió: Được chia thành hai mùa gió chính, mùa gió Đông Bắc (từ tháng

10 đến tháng 2 năm sau) và mùa gió Đông Nam (từ tháng 5 đến tháng 8)

Chế độ mưa: Có sự khác nhau rõ rệt giữa hai mùa gió Ở mùa gió Tây Nam mưa nhiều, lượng mưa trung bình 1800 – 2000mm/tháng tập trung vào từ tháng 9 đến tháng 12 Sang gió mùa Đông Bắc, lượng mưa rất thấp thường dưới 20mm/tháng đồng thời bị ảnh hưởng trực tiếp của khối nước khối nước chảy từ vùng biển Trung Bộ nên

 Nam Yết (Khánh Hòa)

Nam Yết thuộc quần đảo Trường Sa có tọa độ 10011’00’’ vĩ độ Bắc và

114021’42’’kinh độ Đông, cách đảo Ba Bình do Đài Loan đang chiếm giữ khoảng 10 hải lý cách đảo Sơn Ca 12 hải lý về phía Tây Nam, cách đảo Ga Ven do Trung Quốc chiếm giữ khoảng 6 hải lý về phía Đông Đảo Nam Yết là một phần của cồn Tizard cùng với đảo Ba Bình, Sơn Ca, bãi Bàn Than, đá Núi Thị [16]

Đảo có hình dáng bầu dục hơi hẹp bề ngang, nằm theo hướng Đông – Tây dài khoảng 650m, chiều rộng khoảng 170m, diện tích khoảng 96500m2 Quanh đảo có bờ

kè bê tông được xây dựng trong 8 năm

Trang 27

Đảo có một vành đá san hô bao quanh với nhiều màu sắc sặc sỡ Bãi san hô ngập nước bao quanh đảo lan ra bao quanh cách bờ từ 300 – 1000m Khi thủy triều thấp nhất bãi san hô nhô lên khỏi mặt nước từ 0,2 – 0,4m

Đảo nằm trong khu vực phía Nam vùng Biển Đông nên mang khí hậu đặc trưng của vùng khơi Chế độ hải văn của đảo không bị ảnh hưởng của các dòng nước từ lục địa đưa tới chủ yếu chịu sự chi phối trực tiếp của các quá trình hoàn lưu khí quyển, tương tác biển - khí quyển cũng như các quá trình động lực tại chỗ hoặc từ đại dương đưa tới

Chế độ nhiệt: Nhiệt độ khá cao và ổn định trong cả hai mùa cũng như trong ngày Nhiệt độ không khí thường lớn hơn 260C, biên độ không khí trong năm tương đối nhỏ khoảng 3 - 40C, trong ngày biên độ dao động nhiệt độ khoảng 2 - 30C

Lượng mưa tương đối lớn, với tổng lượng mưa trong một năm thường trên 2.000mm Trong một năm lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 12 (trong

đó tháng 11 và tháng 12 tương đối lớn), lượng mưa thấp nhất thường vào tháng 3 và tháng 4

Độ ẩm không khí ở đảo khá cao khoảng 82 - 83% (cao nhất vào tháng 1 và thấp nhất vào tháng 4), độ ẩm cao nhất là 96%, thấp nhất là 61% Độ ẩm cao mang theo nhiều hơi sương muối làm cho trang bị vũ khí, khí tài nhanh xuống cấp, lương thực, thực phẩm nhanh hư hỏng

Chế độ gió mang tính chất khí hậu xích đạo với hai mùa gió chính là: mùa gió Đông Bắc và mùa gió Tây Nam Đặc biệt ở khu vực không chịu ảnh hưởng của gió mùa cực đới (không khí lạnh phía Bắc) mà là gió tín phong Đông Bắc được bắt đầu từ lưỡi áp cao phó nhiệt đới Thái Bình Dương khá ổn định Cấp độ gió khá mạnh, chiếm

đa số từ 5,4 - 8,0m/s, hàng năm có khoảng 131 ngày có gió mạnh cấp 6 trở lên Khu vực còn là trung tâm bão của nam Biển Đông

Khi thủy triều thấp nhất đảo cao khoảng từ 3 đến 4 mét Khi biển lặng sóng cao

từ 0,2 đến 0, 5 mét Biển động sóng cao từ 4 đến 5 mét Từ tháng 8 đến tháng 12 là thời

kỳ cao điểm mưa to, gió lớn, gây khó khăn cho tàu ta neo đậu làm nhiệm vụ tại đảo

 Đảo Phú Quốc (Kiên Giang)

Huyện đảo Phú Quốc nằm trên vùng biển Tây – Nam bộ thuộc vịnh Thái Lan, thuộc vùng biển phía Tây Nam Việt Nam Là quần đảo lớn nhất ở Việt Nam và cách Thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang khoảng 120km , với tổng diện tích tự nhiên phần đất

Trang 28

liền là 589,23 km2, gồm 40 hòn đảo lớn nhỏ, trải rộng trên diện tích 60.000km2 mặt biển, giới hạn trong ô tọa độ địa lý là 9o45’ – 10030’N và 103055’ - 104o05’E Đảo Phú Quốc có địa hình đồi núi thấp (có 99 ngọn núi đồi, đỉnh núi cao nhất 603m so với mặt biển) nằm trên nền đá gốc đang bị mài mòn và độ sâu vùng biển ven đảo thường khoảng 10m với bờ biển khúc khuỷu tạo thành nhiều bãi triều rộng

Sườn Cuesta dốc đứng quay về phía Đông, quá trình mài mòn phát triển mạnh phổ biến ở hai mức độ cao 5 – 10m và 40- 60m

Phú Quốc thuộc vùng biển Tây Nam Bộ, nằm trong chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa và hoạt động của bão Tây Thái Bình Dương thường phát sinh ở phía Đông Philippines Chế độ gió mùa chịu ảnh hưởng một phần của gió mùa Tây Nam, nhưng thời gian ngắn hơn và ít biến động hơn so với gió mùa Đông Bắc, đặc biệt là vào thời

kỳ gió mùa Tây Nam, vùng biển này không bị oi bức của hiện tượng gió Lào như ở Bắc bộ và Trung bộ [19]

1.3.2 Một số yếu tố thủy lý thủy hóa

 Hiện trạng chất lượng môi trường của vùng nghiên cứu

• Nhiệt độ môi trường nước:

Nhiệt độ nước biển trung bình tại 4 khu vực nghiên cứu từ tháng 3 (cuối mùa gió đông bắc) đến tháng 6 (mùa gió tây nam) có xu hướng tăng dần từ phía Bắc (đảo

Cù Lao Chàm: 25,90C) (Nam Yết: 29,20C) (đảo Phú Quốc: 29,40C) Biên độ dao động nhiệt độ tại các trạm khảo sát phụ thuộc theo độ sâu, phần lớn các trạm khảo sát có độ sâu khoảng 10m nên trị số chênh lệch nhiệt độ giữa tầng mặt và đáy không lớn

Nhiệt độ là một trong những yếu tố có vai trò quan trọng trong môi trường biển, Những biến động nhiệt độ có ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng nước và quá trình sinh trưởng, phát triển của sinh vật nói chung và đối với các loài trai tai tượng vẩy nói riêng Mỗi một loài sinh vật chỉ có khả năng sinh trưởng và phát triển trong một khoảng nhiệt độ nhất định phù hợp với chúng Ngoài phạm vi đó, chúng có thể không phát triển thậm chí bị chết

• Độ muối:

Độ muối trung bình tại 04 đảo nghiên cứu dao động trong khoảng 32-33%o Trong đó, tại các đảo Phú Quốc, và vịnh Nha Trang có độ muối thấp và biến động mạnh nhất do ảnh hưởng của nguồn nước lục địa Đây cũng là một trong những tác nhân, gây ảnh hưởng đến chất lượng môi trường sống cũng như sự phát triển và tồn tại

Trang 29

của sinh vật ven đảo nói chung và nguồn lợi trai tai tượng vẩy Độ muối nước biển ven đảo Nam Yết, Cù Lao Chàm có giá trị cao và khá ổn định trong các tầng nước do đây

là các đảo ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của nguồn nước lục địa,

• Hàm lượng ôxy hoà tan (DO):

Trong thời gian khảo sát, môi trường nước biển quanh 04 đảo nghiên cứu chưa

có biểu hiện của sự thiếu hụt ôxy mà vẫn đảm bảo cho sự sinh trưởng và phát triển của sinh vật biển

Độ đục của nước do các chất lơ lửng gây ra, chúng có kích thước rất nhỏ từ dạng hạt thô đến hạt keo Độ đục của nước là một chỉ tiêu đánh giá mức độ ô nhiễm thủy vực bởi vì nước có độ đục lớn cản trở khả năng xuyên thấu của ánh sáng qua môi

Trang 30

trường nước, dẫn đến làm cản trở quá trình quang hợp của thực vật, trong đó có san hô

và các loài trai tai tượng vẩy (sống cộng sinh với loài tảo quang hợp), làm giảm hàm lượng oxy hòa tan trong nước, nếu nước quá đục sẽ làm cho vùng nước trở nên yếm khí, xuất hiện các khí độc hại tác động xấu đến sự sống của thủy sinh vật trong môi trường biển Như vậy có thể thấy, độ đục có khả năng ảnh hưởng gián tiếp đến phân

bố, sinh trưởng và nguồn lợi Trai tai tượng vẩy

 Muối dinh dưỡng

Hàm lượng trung bình muối dinh dưỡng N-NO2- trong nước biển tại 04 đảo nghiên cứudao động từ 3,0-4,2 µg/l, hàm lượng muối dinh dưỡng N-NO3- (dao động từ 29,3 - 49,5 µg/l), hàm lượng muối dinh dưỡng N-NH4+ (dao động từ 13,9 - 28,3 µg/l)

và hàm lượng muối dinh dưỡng P-PO43- (dao động từ 19,0 - 7,2 µg/l) Kết quả nghiên cứu cho thấy, hàm lượng các muối dinh dưỡng vô cơ ở các đảo đều thấp hơn GHCP theo QCVN 10:2008 Tuy nhiên, so với GHCP theo tiêu chuẩn nước biển của ASEAN, hàm lượng muối dinh dưỡng tại một số đảo đã vượt tiêu chuẩn này Bảng 1.4

Bảng 1.4 Hàm lượng muối dinh dưỡng trong nước tại 04 vùng đảo nghiên cứu

Thông số Tên đảo Giá trị (µg/l)

và 20% so với tiêu chuẩn ASEAN

Trang 31

Xyanua là một chất có độc tính cao đối với người, thủy sinh vật, đặc biệt là đối với san hô và các loài trai tai tượng vẩy cùng chung sống trong vùng rạn Xyanua khi xâm nhập vào cơ thể người và động vật sẽ ức chế hệ thống enzim, làm giảm khả năng vận chuyển oxy của hemoglobin trong máu, đầu độc và thậm chí gây chết đối với sinh vật Xyanua trong nước tồn tại ở các dạng khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường, đặc biệt trị số pH của nước Các dạng tồn tại chính của xyanua trong nước là xyanua tự do (HCN và CN-), các muối kim loại (như NaCN, KCN), các phức chất (Zn(CN)42-, Cd(CN)3-, Cu(CN)2- ), các dạng hữu cơ như các nitril ở dạng cấu tạo R -

CN Trong nước biển bề mặt với pH ≈ 8,3, có khoảng 80% xyanua tự do tồn tại ở dạng HCN Trong các dạng tồn tại của xyanua trong nước, hợp chất HCN là một chất có độc tính cao Vì vậy nồng độ giới hạn trong nước biển của một số quốc gia rất thấp, dao động trong khoảng từ 1 - 10 µg/l

dầu Theo GHCP của QCVN 10:2008 (0mg/l)

Bảng 1.5 Hàm lượng xyanua và hàm lượng dầu hòa tan trong nước tại 04 vùng đảo

Trang 32

Tại Nha Trang và Phú Quốc trong những năm gần đây việc phát triển du lịch trên đảo và dưới biển đã phần nào ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng môi trường sinh thái, môi trường của các loài thuỷ sinh nói chung và đối với các loài trai tai tượng vẩy, đặc biệt trong thời gian từ tháng 3-tháng 7 là giai đoạn sinh sản của trai tai tượng nên sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của ấu trùng và con non

Hiện nay khi nghiên cứu về môi trường nước, nhất là môi trường nước biển người ta đặc biệt quan tâm đến hàm lượng dầu hoà tan trong nước biển Hàm lượng dầu hoà tan trong môi trường ven biển nước ta thường có những biến động lớn, lúc tăng, lúc giảm là hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện hoạt động và số lượng tàu thuyền trong lĩnh vực giao thông vận tải, khai thác thuỷ sản và chất thải từ lục địa đưa ra biển Hàm lượng dầu trong nước lớn hơn 0,05mg/l có thể làm chết các con non và ấu trùng động vật biển, với hàm lượng lớn hơn 0,5mg/l làm giảm chất lượng của hải sản, hàm lượng 0,8 mg/l có thể huỷ diệt các loài động vật phù du Khi dầu loang trên mặt biển sẽ cản trở quá trình trao đổi khí (chủ yếu là oxy) với khí quyển, làm cản trở sự trao đổi nhiệt

và tạo ra lớp cặn ở đáy khi lắng đọng Như vậy, các sự cố môi trưởng do tràn dầu trên biển hoặc hàm lượng dầu trong nước biển quá giới hạn cho phép sẽ ảnh hưởng rất lớn đến đời sống thủy sinh vật nói chung, trong đó có trai tai tượng vẩy

1.3.3 Đặc điểm cấu trúc hình thái rạn san hô tại 4 đảo nghiên cứu

• Cấu trúc rạn các đảo thuộc vùng biển Trung Bộ

Về kiểu rạn, các rạn san hô tại Cù Lao chàm có kiểu rạn viền bờ không điển Đảo Cù Lao chàm rạn san hô có xu thế phân bố hẹp và chỉ hình thành 3 đới rõ ràng bao gồm đới ven bờ, đới sườn dốc và đới chân rạn Một số ran san hô có quy mô rộng

và phân 4 đới bao gồm rạn san hô khu vực vịnh Nha Trang, rạn khu vực phía Đông và phía Nam Tại các đảo nghiên cứu duy nhất có rạn san hô Nam Yết có cấu trúc rạn san

hô viền bờ điển hình với đầy đủ 5 đới cấu trúc bao gồm đới ven bờ, đới mặt bằng, đới

gờ rạn và đới sườn dốc, đới chân rạn Căn cứ trên đặc điểm hình thái và phân bố tự nhiên của các rạn san hô tại các đảo thuộc khu vực Trung Bộ có thể chia rạn san hô ở đây thành 2 kiểu phụ nằm trong kiểu rạn viền bờ.[19]

+ Nhóm rạn nửa kín: Bao gồm các rạn hòn Miếu, hòn Một, hòn Tằm và phía

Tây, Tây bắc Hòn Mun và Tây, Tây Nam Hòn Tre… thuộc vịnh Nha Trang và các khu rạn Đông Hòn Giai, Bãi Làng, Bãi Hương Cù Lao Chàm, tại các khu vực này rạn được

Trang 33

che chắn một phần bởi đảo lớn Cấu trúc các rạn san hô này chỉ hình thành 3 đới, rạn phân bố hẹp

+ Nhóm rạn hở:Các rạn hở như phía đông, đông bắc hòn Tre, đông hòn Mun,

hòn Nọc thuộc vịnh Nha Trang, một số đảo nhỏ tại quần đảo Cù Lao Chàm Các rạn thuộc nhóm rạn hờ này thường chịu ảnh hưởng mạnh của tương tác lực sóng biển đặc biệt tại các vùng phía Đông của các đảo, rạn san hô phân bố độ phủ thấp và cấu trúc rạn phụ thuộc rất lớn và nền đá gốc

Bảng 1.6 Đặc điểm kiểu rạn, phân đới cấu trúc và các dạng sống ưu thế của quần

xã san hô tại 2 khu vực biển nghiên cứu

Ghi chú: * Các kiểu rạn: 1- rạn viền bờ; 2- rạn vòng; 3- rạn đốm và 4- rạn chắn

* Các đới rạn: 1- đới ven bờ; 2-đới mặt bằng rạn; 3- đới mào rạn; 4- đới sườn dốc và 5- đới chân rạn

* Các dạng sống chính của san hô: 1-dạng cành, 2- dạng phủ, 3- dạng khối, 4-dạng bàn, 5- dạng phễu và 6- dạng lá

• Cấu trúc rạn các đảo thuộc vùng biển Tây Nam Bộ

Ở khu vực biển tây Nam Bộ, vùng nghiên cứu bao gồm 1 đảo Phú Quốc so với các vùng biển khác chế độ thuỷ văn, động lực ít có những biến động lớn Do vậy rạn san hô tương đối đồng nhất về hình thái, sự khác biệt chủ yếu do yếu tố nền đáy tạo nên, các rạn thường có chiều rộng từ 50-150m và phân bố đến độ sâu 10-16m nước Tại hai đảo thuộc khu vực này các rạn san hô thường phân bố ven các đảo nhỏ và không có các vụng kín Vì vậy có thể chia thành hai kiểu rạn phụ thuộc rạn san hô viền bờ.[19]

+ Nhóm rạn nửa kín: Bao gồm các rạn thuộc mặt trong của các hòn Móng Tay,

hòn Mê rút Trong, Mê Rút ngoài, hòn Đụng, hòn Dâm Ngang thuộc đảo Phú Quốc và

Trang 34

rạn san hô mặt trong khu vực hòn Tử, hòn Cao Cát, các rạn san hô nàyđược che chắn một phần của các hònđảo nhỏ Cấu trúc rạn thường chia thành 3 đến 4 đới tùy thuộc vào hính thái từng rạn Đặc trưng của các khu vực rạn này có sự phân bố nhiều hơn các nhóm san hô dạng cành và cành bàn

+ Nhóm rạn hở: Bao gồm rạn san hô tại các hòn Thơm, hòn, Dừa, hòn Rỏi và

các rạn mặt ngoài của các hòn hòn Móng Tay, hòn Mê rút Trong, Mê Rút ngoài, hònĐụng, hòn Dâm Ngang thuộc quần đảo Phú Quốc Đảo địa hìnhđảo gần như không tạo thành cũng vịnh nên hầu hết các rạn san hô củađảo thuộc vào nhóm rạn hở Rạn san hô phân bố thường hẹp do sự chi phối tự nhiên của nềnđáy cứng, rạn thường chịu tácđộng mạnh của sóng biển, dạng san hô sốngưu thế chủ yếu là dạng khối và phủ Cấu trúc rạn hình thành 3 đới: đới ven bờ, sườn dốc và đới chân rạn

1.3.4 Một số yếu tố thủy sinh vật

Thực vật nổi (Phytoplankton)

 Đảo Cù Lao Chàm (Quảng Nam)

Thực vật phù du: Qua các lần khảo sát tại các điểm quanh khu vực đảo Cù Lao Chàm cho thấy biến động mật độ thực vật phù du tại khu vực đảo dao động quanh mức 400- 8.720 tế bào/lít với mật độ trung bình là 3.040 tế bào/ lít Trong đó một số nhóm

loài có sự ưu thế về mật độ chủ yếu là các nhóm loài tảo silic như: Nitzschia closterium (1.200 tế bào/lít), Pleurosigma angulatum (240 tế bào/lít) hay loài tảo lam đặc trưng cho vùng biển khơi như: Trichodesmium erythraeum (6.000 tế bào/lít)

Trong khi đó nhóm tảo giáp bắt gặp với tần suất thấp và mật độ luôn bé hơn 80 tế bào/lít [17]

 Vịnh Nha Trang (Khánh Hòa)

Đã xác định được trên 175 loài thực vật phù du thuộc 3 ngành tảo là tảo xanh lam (Cyanophyceae), tảo khuê (Bacillariophyceae) và tảo giáp (Dianophyceae) phân

bố ở vùng biển ven đảo Hòn Cau trong đó tảo khuê có thành phần loài đa dạng nhất với nhóm tảo lông chim chiếm ưu thế Các giống có số lượng loài cao gồm Chaetoceros (28 loài), Rhizosolenia (14 loài), Ceratium (12 loài), Coscinodiscus (11 loài) và Bactriastrum (8 loài)

 Nam Yết (Khánh Hòa)

Thực vật phù du: Mật độ thực vật phù du tại khu vực này là khá thấp Kết quả nghiên cứu cho thấy tại các trạm quanh đảo mật độ tảo trung bình đạt 321 tế bào/lít

Trang 35

Mật độ cao nhất đạt được là 850 và mật độ thấp nhất thu được trong khu vực là 150 tế bào/lít [20] Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tiến Cảnh (2004) trên vùng biển khơi quần đảo Trường Sa đã đưa ra mật độ trung bình thực vật phù du trong các đợt khảo sát từ 2001- 2003 là 62 tế bào/lít, lớn hơn thời kỳ 1993-1997 là 30 tế bào/lít và trung bình nhiều năm cho vùng biển là 42 tế bào/lít Sự nghèo nàn về thực vật phù du chứng

tỏ sự nghèo nàn về hàm lượng các yếu tố dinh dưỡng trong nước biển mà nguyên nhân chủ yếu do vị trí xa đất liền nên ít được bổ sung

 Đảo Phú Quốc (Kiên Giang)

Thực vật phù du: Sinh vật phù du là nhóm sinh vật bậc thấp rất nhạy cảm với sự thay đổi của các điều kiện môi trường, chúng thể hiện tính chất của môi trường và tình trạng dinh dưỡng trong thuỷ vực Do vậy chúng là một trong những yếu tố chỉ thị và phản ánh cho chất lượng môi trường nước trong thuỷ vực

Chỉ số sinh học Sinh vật phù du vùng biển Tây Nam Bộ biến đổi theo mùa do phụ thuộc vào sự biến đổi của các điều kiện môi trường nhưng giá trị trung bình năm lại chênh lệch không lớn, chúng mang tính ổn định của các quần xã sinh vật phù du ở vùng biển nhiệt đới vĩ độ thấp (Nguyễn Dương Thạo, 2006) Thành phần Thực vật phù

du trong vùng nước biển Tây Nam Bộ khá phong phú và đa dạng (bảng 9), chủ yếu là các loài tảo silic biển rộng muối, rộng nhiệt Đã xác định được 124 loài với mật độ

trung bình 47.107tb/l chỉ số đa dạng loài của quần xã (H’) luôn cao hơn 4,0

Tổng số 181 loài TVPD thuộc 70 chi, 4 lớp tảo biển Trong đó lớp tảo silic

(Bacillariophyceae) phát hiện được 43chi, tiếp đến là lớp tảo giáp (Dinophyceae) gồm 23 chi, 75 loài; tảo lam (Cyanophyceae) 2 chi, 3 loài tảo lục (Chlorophyceae) có 2 chi [10]

Động vật nổi (Zooplankton)

 Đảo Cù Lao Chàm (Quảng Nam)

Giáp xác: Từ trước đến nay các nghiên cứu không chú trọng nhiều tới nhóm

động vật này Có 4 loài tôm hùm: Panulirus longipes, P omatus, P stimpsoni và P versicolor và 1 loài cua Charybdis feriata được tìm thấy trên các rạn san hô thuộc Cù

Lao Chàm

Động vật da gai: Khoảng 16 loài thuộc 9 giống và 8 họ da gai được ghi nhận tại

Cù Lao Chàm Diadema setosum, Acanthaster planci, Holothuria edulis và Holothuria atra là những loài phổ biến tại hầu hết các rạn sa hô Sao biển gai Acanthaster planci

và nhím biển Diadema được ghi nhận là có số lượng lớn trên một số rạn

Trang 36

Mật độ của các loài chiếm ưu thế xét theo tầm quan trọng về tài nguyên và sinh

thái nhìn chung được ghi nhận là tương đối thấp Pinctada margaritifera là loài đông

đúc nhất tại tất cả các rạn, với mật độ trung bình là 4,4 (s.e = 0,7) cá thể /400m2 (từ 1,0

- 10), Pinana bicolor có từ 1 - 16 cá thể/ 400m2, chỉ giá trung bình là 4,3 Mật độ loài

Atrina vexillum có từ 0,5 - 6 cá thể/400m2 Tridacna squamosa được tìm thấy ở hầu

hết các điểm khảo sát, với mật độ trung bình là 1,3 cá thể/400m2 và con số này cao hơn so với số lượng loài này ở hầu hết các vùng duyên hải khác ở Việt Nam Bào ngư

Haliotis spp và ốc đụn vắng bóng hoặc rất hiếm ở tất cả các điểm khảo sát Mật độ trung bình của Testus pyramis dưới 1 cá thể/400m2 trong khi Haliotis spp chỉ được

ghi nhận như một loài tại một vài điểm Các cuộc khảo sát về chất lượng tài nguyên tại bãi Da Ban và vũng Cay Chanh (Đông Cù Lao Chàm) ghi nhận được một số cá thể

loài Haliotis ovina và Haliotis varia trong khi Testus pyramis được tìm thấy với số

lượng nhiều, hầu hết là ở kích ỡ nhỏ [17]

 Vịnh Nha Trang (Khánh Hòa)

So sánh giữa các điểm giám sát, mật độ các loài chỉ thị phụ thuộc nhóm động vật không xương sống theo phương pháp reefcheck biến đổi lớn Mật độ ở Hòn Tằm cao nhất (77,6 cá thể/m2) và ở Bãi Bằng đạt thấp nhất (7 cá thể/m2) Tại tất cả các

điểm, Cầu gai đen (Diadema spp.) chiếm đa số so với các loài động vật không xương

sống khác Trái lại các loài có giá trị kinh tế chính (các loài hải sâm biển ăn được, tôm

hùm (Panulirus spp.), trai tai tượng (Tridacna spp.) rất hiếm hoặc không phát hiện

thấy tại các điểm giám sát là dấu hiệu rõ ràng chứng tỏ hoạt động khai thác quá mức

đã diễn ra rất thường ở các vùng nước của KBTB Sao biển gai (Acanthaster planci) là

loài sao biển phổ biến nhất vẫn phát hiện ở một số điểm với mật độ dao động từ 1 – 3

cá thể/m2. [17]

 Nam Yết (Khánh Hòa)

Trong thành phần loài của khu hệ sinh vật biển của quần đảo Trường Sa có thể tách thành 2 nhóm có đặc điểm phân bố khác nhau: nhóm loài di động xa, có sự phân

bố rộng theo không gian và thời gian phụ thuộc vào các yếu tố môi trường như nhiệt

độ, dòng chảy và các loài thuộc nhóm sinh vật ít di chuyển, gắn với một đảo, một khu vực nào đó như các loài sinh vật đáy

Thân mềm: Thân mềm là nhóm sinh vật đáy có số loài phong phú nhất Tổng số

đã phát hiện được 271 loài thuộc 97 giống 51 họ 8 bộ của lớp thân mềm Phong phú

Trang 37

hơn cả là lớp Gastropoda với 220 loài, tiếp đến là lớp hai mảnh vỏ Bivalvia 50 loài [17]

Giáp xác: Là nhóm sinh vật đáy có số loài phong phú thứ hai sau thân mềm Cho đến nay đã phát hiện được 122 loài thuộc 71 giống 14 họ Trong đó phong phú hơn cả là họ cua quạt (Xanthidae) với 75 loài 56 giống, chiếm tới 61% số loài giáp xác Các họ khác có số loài ít hơn nhiều, 1-10% Nhiều hơn cả là họ cua bơi (Portunidae) cũng chỉ có 6 giống (8%), 13 loài (10%)

 Đảo Phú Quốc (Kiên Giang)

Phân bố thành phần loài của nhóm động vật nhuyễn thể cho thấy tại đây có 2 lớp 8 bộ 17 họ và 25 loài trong đó lớp hai mảnh vỏ chiếm ưu thế

Trang 38

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CƯU

2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu

* Thời gian nghiên cứu: từ tháng 4/2010 đến 12/2011

* Đối tượng nghiên cứu: Loài Tridacna squamosa Lamarck, 1819 Tên Việt

Nam thường gọi là loài

* Địa điểm nghiên cứu đề tài được lựa chọn tại 4 khu vực nghiên cứu vùng ven biển Trung bộ kéo dài đến khu vực ven biển Tây Nam Bộ Tại mỗi vùng khảo sát, dựa vào thời gian khảo sát và lịch thủy triều để quy chuẩn các chỉ số độ sâu khảo sát theo

“0m hải đồ”.Vị trí địa lý tại các đảo nghiên cứu được thể hiện trong (Bảng 2.1, hình 1).Thực hiện các thí nghiệm sinh học ở cơ sở thí nghiệm của Viên nghiên cứu Hải Sản

Bảng 2.1:Bảng toạ độ các điểm khảo sát trai tai tượng vẩy tại 4 vùng nghiên cứu

MC1 108° 27' 04 15° 58' 25 MC13 108026’45”E 15058’01”N MC2 108° 29' 32 15° 58' 21 MC14 108029’21”E 15058’07”N MC3 108° 29' 12 15° 58' 07 MC15 108029’06”E 15057’45”N MC4 108° 32' 23 15° 54' 12 MC16 108032’02”E 15054’34”N MC5 108° 32' 24 15° 54' 43 MC17 108031’47”E 15055’39”N MC6 108° 32' 01 15° 55' 20 MC18 108030’28”E 15056’45”N MC7 108° 29' 29 15° 57' 25 MC19 108029’09”E 15056’49”N MC8 108° 28' 42 15° 56' 56 MC20 108028’32”E 15056’01”N MC9 108° 29' 04 15° 56' 39 MC21 108° 30' 33"E 15° 58' 03"N MC10 108° 28' 30 15° 56' 01 MC22 108° 26' 55"E 15° 58' 23"N MC11 108° 29' 33 15° 57' 24 MC23 108° 25' 15"E 15° 58' 20"N

Trang 39

MC5 109° 17' 50 12° 11' 36 MC17 109016’38”E 12011’38”N

MC8 109° 17' 55 12° 09' 52 MC20 109016’28”E 12013’48”N MC9 109014’25”E 12011’04”N MC21 109016’03”E 12011’32”N MC10 109014’32”E 12013’07”N MC22 109015’22”E 12012’05”N MC11 109016’36”E 12010’46”N MC23 109016’21”E 12011’37”N MC12 109016’39”E 12013’00”N MC24 109016’00”E 12012’43”N

Đảo

Phú

Quốc

MC12 103059’17”E 09059’02”N MC24 104000’46”E 09059’17”N

Trang 40

Hình 2.1 Vị trí địa lý tự nhiên tại 4 khu vực nghiên cứu Trai tai tượng vẩy

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế điều tra, nghiên cứu

Tổng quan một số tài liệu nghiên cứu về phân bố động vật đáy cỡ lớn tại các khu vực nghiên cứu của đề tài và trên toàn vùng biển Việt Nam là cơ sở cho chỉ tiêu phân tích và lựa chọn mặt cắt khảo sát

Phân tích điều kiện tự nhiên tại mỗi đảo nghiên cứu, kết hợp thông tin đặc điểm

phân bố sinh thái của Trai tai tượng vẩy Tridacna squamosa là cơ sở cho việc lựa

chọn phương pháp hợp lý và tiến hành khảo sát Từ đó sử dụng phương pháp Manta tow đánh giá tổng quan trên toàn khu vực, lựa trọn mặt cắt khảo sát đại diện cho từng vùng Số lượng mặt cắt và vị trí các mặt cắt mang tính đại diện cho các nội dụng nghiên cứu

về phân bố nguồn lợi, sinh thái của các loài trai tai tượng vẩy thuộc họ Tridacnidae

Ngày đăng: 26/03/2015, 09:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trương Ngọc An, (1993), Phân loại tảo Silic phù du biển Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội 1993, 315 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại tảo Silic phù du biển Việt Nam
Tác giả: Trương Ngọc An
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1993
4. Lã Văn Bài và cs, 1997. “Đặc điểm phân bố và cấu trúc nhiệt - muối vùng nước trồi mạnh Nam Trung Bộ”, Các công trình nghiên cứu vùng nước trồi mạnh Nam Trung Bộ, Nxb Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đặc điểm phân bố và cấu trúc nhiệt - muối vùng nước trồi mạnh Nam Trung Bộ”
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
6. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008. Quyết định ban hành quy chuẩn Quốc gia về môi trường. Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định ban hành quy chuẩn Quốc gia về môi trường
7. Nguyễn Tiến Cảnh. 1993. Sinh vật phù du biển gần bờ đông, tây nam bộ.Hội thảo khoa học quốc gia “nghiên cứu và quản lý vùng ven biển Việt Nam”. Viện khoa học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh vật phù du biển gần bờ đông, tây nam bộ.Hội thảo khoa học quốc gia “nghiên cứu và quản lý vùng ven biển Việt Nam”
11. Cục Môi trường - Bộ KHCN&MT, 1999. Quy định phương pháp quan trắc - phân tích môi trường và quản lý số liệu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định phương pháp quan trắc - phân tích môi trường và quản lý số liệu
12. Cục môi trường, 2002. Đề tài ″ Xây dựng triển khai chương trình bảo đảm chất lượng, kiểm soát chất lượng (QA/QC) trong quan trắc và phân tích môi trường”.Phần 1: Quan trắc và phân tích chất lượng nước biển. Phần 3: Quan trắc và phân tích sinh vật phù du và động vật đáy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài "″"Xây dựng triển khai chương trình bảo đảm chất lượng, kiểm soát chất lượng (QA/QC) trong quan trắc và phân tích môi trường”
13. Nguyễn Xuân Dục và cs, 1999. “Bước đầu nghiên cứu đánh giá tác động sinh thái của các chất ô nhiễm do sông tải ra ở các vùng cửa sông ven biển Việt Nam”, Tuyển tập báo cáo khoa học, Hội nghị KHCN Biển toàn quốc lần thứ IV, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bước đầu nghiên cứu đánh giá tác động sinh thái của các chất ô nhiễm do sông tải ra ở các vùng cửa sông ven biển Việt Nam”, Tuyển tập báo cáo khoa học
Nhà XB: Nxb Thống kê
16. Nguyễn Chu Hồi và ctv, 1999. Cơ sở khoa học Quy hoạch các khu bảo tồn biển Việt Nam. Cục Môi trường, Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học Quy hoạch các khu bảo tồn biển Việt Nam
18. Đỗ Văn Khương, 2008. Báo cáo tổng kết đề tài “Đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô ở một số vùng dự kiến thiết lập khu bảo tồn biển và một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao ở dốc thềm lục địa việt nam, đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững nguồn lợi”. Viện Nghiên cứu Hải sản, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô ở một số vùng dự kiến thiết lập khu bảo tồn biển và một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao ở dốc thềm lục địa việt nam, đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững nguồn lợi”
23. Tài nguyên và môi trường biển, tập 8 - Tuyển tập các công trình nghiên cứu. Nxb Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập các công trình nghiên cứu
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
24. Dương Đức Tiến – Võ Hành, (1997), Tảo nước ngọt Việt Nam – Phân loại Bộ tảo Lục (Chlorococcales), NXB Nông Nghiệp, Hà Nội 1997, 504 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tảo nước ngọt Việt Nam – Phân loại Bộ tảo Lục (Chlorococcales)
Tác giả: Dương Đức Tiến – Võ Hành
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1997
25. Dương Đức Tiến, (1996), Phân loại vi khuẩn lam ở Việt Nam (Cyanobacteria), NXB Nông Nghiệp, Hà Nội 1996, 220 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại vi khuẩn lam ở Việt Nam (Cyanobacteria)
Tác giả: Dương Đức Tiến
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1996
26. Lê Đức Tố và ctv, 2003. Biển Đông - Phần I: Khái quát về biển Đông. Chương trình điều tra nghiên cứu biển KC-06 (1996-2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biển Đông - Phần I: Khái quát về biển Đông
27. Kim Đức Tường, (1965), Phân loại tảo phù du biển Trung Quốc, NXB Khoa học và Kỹ Thuật, Thượng Hải 1965, 228 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại tảo phù du biển Trung Quốc
Tác giả: Kim Đức Tường
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ Thuật
Năm: 1965
30. Phạm Thược, 1997. Báo cáo tổng kết đề tài “Điều tra bổ sung nguồn lợi hải sản một số vùng nước trọng điểm gần bờ Việt Nam và đề xuất phương hướng bảo vệ”.Viện Nghiên cứu Hải sản - Bộ Thuỷ sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra bổ sung nguồn lợi hải sản một số vùng nước trọng điểm gần bờ Việt Nam và đề xuất phương hướng bảo vệ
34. ASEAN - Canada - Marine Environmen Quality, Perspectives on ASEAN Critera and Monitoring, Vol I, EVS Environment Consultants Ltd and Indonesian Institute of Science Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marine Environmen Quality, Perspectives on ASEAN Critera and Monitoring
35. Barbara G.Moir, 1985. A review of Tridacnid ecology and some possible implications for archaeological research. Asian Perspectives 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A review of Tridacnid ecology and some possible implications for archaeological research
36. Beckvar, N. 1981. Cultivation, spawning and growth of the giant clams Tridacna gigas, Tridacna derasa and Tridacna squamosa in Palau, Caroline Islands.Aquacult. 24:21-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tridacna gigas, Tridacna derasa " and" Tridacna squamosa
2. Thái Trần Bái, 2004. Ngành thân mềm, Động vật học không xương sống, chương X, Nhà xuất bản giáo dục, Hà nội, tr. 188-196 Khác
8. Nguyễn Chính, 1996. Một số loài động vật nhuyễn thể (Mollucs) có giá trị kinh tế lớn ở biển Việt Nam, Nhà Xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà nội, tr. 65 – 80 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Loài trai tai tượng T. squamosa - Nghiên cứu nguồn lợi và một số đặc điểm sinh học của loài trai tai tượng vẩy (Tridacna squamosa lamarck, 1819) tại Cù Lao Chàm, Vịnh Nha Trang, Nam Yết, Phú Quốc ở biển Việt Nam
Hình 1.1. Loài trai tai tượng T. squamosa (Trang 18)
Hình 2.1. Vị  trí địa lý tự nhiên tại 4 khu vực nghiên cứu Trai tai tượng vẩy - Nghiên cứu nguồn lợi và một số đặc điểm sinh học của loài trai tai tượng vẩy (Tridacna squamosa lamarck, 1819) tại Cù Lao Chàm, Vịnh Nha Trang, Nam Yết, Phú Quốc ở biển Việt Nam
Hình 2.1. Vị trí địa lý tự nhiên tại 4 khu vực nghiên cứu Trai tai tượng vẩy (Trang 40)
Hình 2.2. Khảo sát tổng quan bằng phương pháp Manta tow - Nghiên cứu nguồn lợi và một số đặc điểm sinh học của loài trai tai tượng vẩy (Tridacna squamosa lamarck, 1819) tại Cù Lao Chàm, Vịnh Nha Trang, Nam Yết, Phú Quốc ở biển Việt Nam
Hình 2.2. Khảo sát tổng quan bằng phương pháp Manta tow (Trang 41)
Hình 2.3. Phương pháp lặn SCUBA điều tra, nghiên cứu Trai tai tượng vẩy. - Nghiên cứu nguồn lợi và một số đặc điểm sinh học của loài trai tai tượng vẩy (Tridacna squamosa lamarck, 1819) tại Cù Lao Chàm, Vịnh Nha Trang, Nam Yết, Phú Quốc ở biển Việt Nam
Hình 2.3. Phương pháp lặn SCUBA điều tra, nghiên cứu Trai tai tượng vẩy (Trang 43)
Hình 2.4. Một số đặc điểm hình thái ngoài để nhận dạng các loài  trai tai tượng vẩy - Nghiên cứu nguồn lợi và một số đặc điểm sinh học của loài trai tai tượng vẩy (Tridacna squamosa lamarck, 1819) tại Cù Lao Chàm, Vịnh Nha Trang, Nam Yết, Phú Quốc ở biển Việt Nam
Hình 2.4. Một số đặc điểm hình thái ngoài để nhận dạng các loài trai tai tượng vẩy (Trang 46)
Hình 2.5. Phương pháp đo và xác định các chỉ tiêu hình thái ngoài - Nghiên cứu nguồn lợi và một số đặc điểm sinh học của loài trai tai tượng vẩy (Tridacna squamosa lamarck, 1819) tại Cù Lao Chàm, Vịnh Nha Trang, Nam Yết, Phú Quốc ở biển Việt Nam
Hình 2.5. Phương pháp đo và xác định các chỉ tiêu hình thái ngoài (Trang 46)
Hình 2.6. Một số đặc điểm cấu tạo trong của trai tai tượng - Nghiên cứu nguồn lợi và một số đặc điểm sinh học của loài trai tai tượng vẩy (Tridacna squamosa lamarck, 1819) tại Cù Lao Chàm, Vịnh Nha Trang, Nam Yết, Phú Quốc ở biển Việt Nam
Hình 2.6. Một số đặc điểm cấu tạo trong của trai tai tượng (Trang 47)
Hình 2.9: Quy trình cắt lát, làm nhãn và - Nghiên cứu nguồn lợi và một số đặc điểm sinh học của loài trai tai tượng vẩy (Tridacna squamosa lamarck, 1819) tại Cù Lao Chàm, Vịnh Nha Trang, Nam Yết, Phú Quốc ở biển Việt Nam
Hình 2.9 Quy trình cắt lát, làm nhãn và (Trang 51)
3.1.1. Hình thái cấu tạo của trai tai tượng (Tridacna squamosa) - Nghiên cứu nguồn lợi và một số đặc điểm sinh học của loài trai tai tượng vẩy (Tridacna squamosa lamarck, 1819) tại Cù Lao Chàm, Vịnh Nha Trang, Nam Yết, Phú Quốc ở biển Việt Nam
3.1.1. Hình thái cấu tạo của trai tai tượng (Tridacna squamosa) (Trang 52)
Hình 3.2: Cơ thể trai tai tượng nhìn từ bên ngoài - Nghiên cứu nguồn lợi và một số đặc điểm sinh học của loài trai tai tượng vẩy (Tridacna squamosa lamarck, 1819) tại Cù Lao Chàm, Vịnh Nha Trang, Nam Yết, Phú Quốc ở biển Việt Nam
Hình 3.2 Cơ thể trai tai tượng nhìn từ bên ngoài (Trang 54)
Hình 3.3:  Các giai đoạn phát triển của buồng trứng ( Độ phóng đại 40X ) - Nghiên cứu nguồn lợi và một số đặc điểm sinh học của loài trai tai tượng vẩy (Tridacna squamosa lamarck, 1819) tại Cù Lao Chàm, Vịnh Nha Trang, Nam Yết, Phú Quốc ở biển Việt Nam
Hình 3.3 Các giai đoạn phát triển của buồng trứng ( Độ phóng đại 40X ) (Trang 58)
Hình 3.4: Phân bố mật độ cá thể loài Tridacna squamosa tại 4 đảo nghiên cứu - Nghiên cứu nguồn lợi và một số đặc điểm sinh học của loài trai tai tượng vẩy (Tridacna squamosa lamarck, 1819) tại Cù Lao Chàm, Vịnh Nha Trang, Nam Yết, Phú Quốc ở biển Việt Nam
Hình 3.4 Phân bố mật độ cá thể loài Tridacna squamosa tại 4 đảo nghiên cứu (Trang 63)
Hình 3.6: Phân bố loài T. squamosa - Nghiên cứu nguồn lợi và một số đặc điểm sinh học của loài trai tai tượng vẩy (Tridacna squamosa lamarck, 1819) tại Cù Lao Chàm, Vịnh Nha Trang, Nam Yết, Phú Quốc ở biển Việt Nam
Hình 3.6 Phân bố loài T. squamosa (Trang 65)
Hình 3.7 : Dải độ sâu phân bố của  loài trai tai tượng vẩy trên 4 đảo nghiên cứu - Nghiên cứu nguồn lợi và một số đặc điểm sinh học của loài trai tai tượng vẩy (Tridacna squamosa lamarck, 1819) tại Cù Lao Chàm, Vịnh Nha Trang, Nam Yết, Phú Quốc ở biển Việt Nam
Hình 3.7 Dải độ sâu phân bố của loài trai tai tượng vẩy trên 4 đảo nghiên cứu (Trang 66)
Hình 3.8 : Sinh khối trung bình (kg/500m 2 ) trai tai tượng Tridacna squamosa - Nghiên cứu nguồn lợi và một số đặc điểm sinh học của loài trai tai tượng vẩy (Tridacna squamosa lamarck, 1819) tại Cù Lao Chàm, Vịnh Nha Trang, Nam Yết, Phú Quốc ở biển Việt Nam
Hình 3.8 Sinh khối trung bình (kg/500m 2 ) trai tai tượng Tridacna squamosa (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm