hải sản càng cạn kiệt thêm nên việc nghiên cứu áp dụng ngư cụ chọn lọc cho nghề lưới kéo là rất quan trọng Được sự đồng ý của hiệu trưởng trường Đại học Nha Trang tôi thực hiện luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn được hoàn thành là kết quả của quá trình nghiên cứu tài liệu, thực hiện các chuyến điều tra khảo sát thực tế tại vùng biển Hải Phòng và số liệu thống kê hiện trạng nghề cá của Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Hải Phòngi sản Số liệu sử dụng trong luận văn đều do tác giả và đồng nghiệp trực tiếp thu thập trong các chuyến điều tra thực địa ở địa phương Số liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, được xử lý theo phương pháp khoa học và đảm bảo độ tin cậy
Số liệu trong luận văn đã được Lãnh đạo Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Hải Phòng cho phép sử dụng Kết quả nghiên cứu của luận văn là mới, không trùng lặp với bất cứ luận án bảo vệ học vị nào đã có trước đây
Tác giả
Phạm Văn Vĩnh
Trang 4Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Lãnh đạo Viện Khoa học và Công nghệ Khai thác Thủy sản, Quý thầy trong Viện đã truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm giúp tôi hoàn thành luận văn này
Hải Phòng, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Phạm Văn Vĩnh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Nghiên cứu ngoài nước 3
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 9
1.2.1 Một số văn bản pháp qui và cơ chế chính sách liên quan 9
1.2.2 Một số công trình nghiên cứu có liên quan 10
1.2.3 Tình hình khai thác hải sản Hải Phòng 12
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG, TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Nội dung nghiên cứu 14
2.2 Tài liệu nghiên cứu 14
2.3 Phương pháp nghiên cứu 15
2.3.1 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 15
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 16
2.3.3 Phương pháp thiết kế và lắp ráp thiết bị thoát cá con 17
2.3.4 Phương pháp thử nghiệm 18
CHƯƠNG 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21
3.1 HIỆN TRẠNG KHAI THÁC CỦA NGHỀ LƯỚI KÉO HẢI PHÒNG 21
3.1.1 Cơ cấu tàu thuyền ở Hải Phòng 21
3.1.2 Hiện trạng tàu thuyền 22
3.2 TÍNH TOÁN THIẾT KẾ THIẾT BỊ THOÁT CÁ CON KIỂU ĐỤT LƯỚI MẮT VUÔNG CHO NGHỀ LƯỚI KÉO 29
3.2.1 Thiết kế thiết bị thoát cá con 29
3.2.2 Qui trình sử dụng thiết bị thoát cá con cho lưới kéo đáy 32
3.3.1.Năng suất khai thác trung bình 35
Trang 63.3.2 Thành phần sản lượng khai thác 35
3.3.3 Tỷ lệ thoát cá con qua các thiết bị 36
3.4 Lựa chọn và đề xuất giải pháp 43
3.4.1 Lựa chọn thiết bị 43
3.4.2 Đề xuất một số giải pháp áp dụng thiết bị thoát cá con kiểu đụt lưới mắt vuông vào thực tế sản xuất 44
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
1.Kết luận 46
2 Kiến nghị 46
2.1 Về khoa học và công nghệ 46
2.2 Về đầu tư 47
2.3 Về cơ chế, chính sách 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
PHỤ LỤC 50
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 Bmax Chiều rộng vỏ tàu lớn nhất
2 CPUE Sản lượng tính trên một đơn vị cường lực (Catch Per Unit of
3 CSW JTED dạng cửa sổ hình tròn (Circular Shape Window)
6 FAO Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc
7 JTED Thiết bị thoát cá con và cá tạp (Juvenile and Trash Excluder
10 RRG JTED dạng vỉ cứng hình chữ nhật (Rectangular Rigid Grid)
11 RSW JTED dạng cửa sổ hình chữ nhật (Rectangular Shape
12 SCRG JTED dạng nửa đường tròn (Semi-Curved Rigid Grid)
13 SEAFDEC Trung tâm phát triển Nghề cá Đông Nam á
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Cơ cấu nghề khai thác ở Hải Phòng 12
Bảng 3.1 Cơ cấu tàu thuyền 21
Bảng 3.2 Kích thước vỏ tàu phân theo nhóm công suất 23
Bảng 3.3 Một số thông số kỹ thuật và giá thành của vàng lưới kéo 24
Bảng 3.4 Sản phẩm khai thác nghề lưới kéo 25
Bảng 3.5 Kích thước các loài cá kinh tế 26
Bảng 3.6 Hiệu quả kinh tế của tàu lưới kéo 28
Bảng 3.7 Tổng hợp vật liệu chế tạo thiết bị kiểu đụt lưới mắt vuông 29
Bảng 3.8 Số lượng mẻ lưới thử nghiệm và CPUE của thiết bị 33
Bảng 3.9 Sản lượng và tỷ lệ thoát của các nhóm đối tượng 35
Bảng 3.10 Số lượng cá thể và tỷ lệ thoát của mực ống theo nhóm chiều dài 37
Bảng 3.11 Số lượng cá thể và tỷ lệ thoát của mực nang theo nhóm chiều dài 38
Bảng 3.12 Số lượng cá thể và tỷ lệ thoát của cá mối theo nhóm chiều dài 39
Bảng 3.13 Số lượng cá thể và tỷ lệ thoát của tôm rảo theo nhóm chiều dài 40
Bảng 3.14 Hiệu quả kinh tế của tàu thí nghiệm khi lắp đặt thiết bị 43
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Hình dạng đụt lưới sử dụng mắt lưới hình vuông 4
Hình 1.2 Thiết bị thoát cá con kiểu tấm lưới mắt vuông 5
Hình 1.3 Thiết bị kiểu khung sắt của Malayxia 6
Hình 1.4 Thiết bị JTEDs kiểu khung sắt của Inđônêxia 7
Hình 1.5 Thiết bị JTEDs hình chữ nhật và nửa đường cong của In đônêxia 7
Hình 1.6 Thiết bị JTEDs kiểu hình chữ nhật của Thái Lan 8
Hình 1.7 Thiết bị JTEDs kiểu nửa đường cong của Thái Lan 8
Hình 1.8 Thiết bị JTEDs kiểu khung sắt đã thử nghiệm ở Việt Nam 10
Hình 2.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu thử nghiệm thiết bị thoát cá con 16
Hình 2.2 Hình tàu thử nghiệm 18
Hình 3.1 Cơ cấu tàu thuyền nghề lưới kéo ở Hải Phòng 22
Hình 3.2 Đặc trưng chất lượng của sản phẩm nghề lưới kéo 25
Hình 3.3 Kích thước thiết bị thoát cá con kiểu đụt lưới mắt vuông 29
Hình 3.4 Tấm lưới trước và sau khi cắt 30
Hình 3.5 Chế tạo thiết bị thoát cá con kiểu đụt lưới mắt vuông 30
Hình 3.6 Lắp thiết bị vào đụt lưới 31
Hình 3.7 Thiết bị trong quá trình làm việc 31
Hình 3.8 Thành phần sản lượng đánh bắt được khi thử nghiệm các thiết bị 34
Hình 3.9 Tỷ lệ (%) thành phần sản lượng ở đụt trong và đụt ngoài 35
Hình 3.10 Thành phần sản lượng đánh bắt được khi thử nghiệm các thiết bị 35
Hình 3.11 Tỷ lệ (%) thành phần sản lượng ở đụt trong và đụt ngoài 37
Trang 10MỞ ĐẦU
Nghề lưới kéo ở Việt Nam nói chung và nghề lưới kéo ở Hải Phòng nói riêng là một nghề chiếm ưu thế cao trong các loại nghề khai thác hải sản Sản lượng khai thác đem lại từ nghề lưới kéo chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng sản lượng khai thác hải sản hàng năm Theo số liệu thống kê của Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi Hải Phòng, tính đến tháng 3/2013 tổng số tàu thuyền làm nghề lưới kéo ở Hải Phòng là
559 chiếc, chiếm 13,9% tổng số tàu của toàn thành phố Trong đó, số lượng tàu thuyền
có công suất máy <90cv là 502 chiếc, chiếm 90,0% tổng số lượng tàu thuyền của toàn thành phố Số lượng tàu đội tàu làm nghề lưới kéo đáy của Hải Phòng là đội tàu nhỏ Bên cạnh đó, theo kết quả nghiên cứu về nghề lưới kéo đáy ở Hải Phòng của Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi cho thấy: Hầu hết các ngư cụ được sử dụng trong thực
tế đều vi phạm qui định về kích thước mắt lưới ở đụt cho phép (thông tư BTS) Tỉ lệ cá tạp, cá con so với sản lượng cá của mẻ lưới chiếm 58 - 61,7% tổng sản lượng của nghề lưới kéo
02/2006/TT-Trong những năm qua đã có một số nghiên cứu về thiết bị thoát cá con cho nghề lưới kéo đáy trong và ngoài nước Tuy nhiên, các thiết bị thoát cá con này đều được thử nghiệm và áp dụng ở những nơi có điều kiện hoàn toàn khác ở Hải Phòng như: ngư trường (có độ sâu ngư trường, đáy biển hoàn toàn khác, ); tàu thuyền (có công suất máy lớn hơn 125cv, kết cấu vỏ tàu khác với vỏ tàu của Hải Phòng, máy tàu, trang thiết bị khai thác được trang bị đầy đủ và hiện đại hơn, ); ngư cụ (có chiều dài ngư cụ lớn hơn 30m, kích thước mắt lưới ở đụt 2a = 20 - 40mm, chiều dài đụt lưới lớn hơn 5m, ); yếu tố hải dương và nguồn lợi cũng có sự khác nhau, Bên cạnh đó, thiết
bị thoát cá con kiểu JTEDs lại là dạng thiết bị cồng kềnh khó thao tác, nặng và dễ gây nguy hiểm cho ngư cụ nên rất khó có khả năng ứng dụng vào thực tế sản xuất (chỉ phù hợp cho đội tàu công nghiệp của nước ngoài), đặc biệt là tàu thuyền công suất nhỏ như
ở Hải Phòng thì hoàn toàn không phù hợp Chính vì vậy, việc nghiên cứu thiết bị thoát
cá con (gồm chiều dài thiết bị, kích cỡ lỗ thoát của thiết bị, kích thước mắt lưới của thiết bị, trang thiết bị phụ tùng kèm theo của thiết bị, ) cho phù hợp với ngư trường, ngư cụ, phong tục tập quán khai thác và tàu thuyền lưới kéo Hải Phòng là rất cần thiết
Trong bối cảnh hiện nay, nguồn lợi hải sản vùng biển Hải Phòng nói riêng và cả nước nói chung đang có xu hướng suy giảm và việc các tàu lưới kéo đánh bắt các loài
cá con chưa trưởng thành, cá tạp, đang ngày càng gia tăng, càng làm cho nguồn lợi
Trang 11hải sản càng cạn kiệt thêm nên việc nghiên cứu áp dụng ngư cụ chọn lọc cho nghề lưới kéo là rất quan trọng
Được sự đồng ý của hiệu trưởng trường Đại học Nha Trang tôi thực hiện luận
văn thạc sỹ “Nghiên cứu cải tiến thiết bị thoát cá con kiểu đụt lưới mắt vuông cho nghề lưới kéo đáy ở Hải Phòng” Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần từng
bước bảo vệ và tái tạo nguồn lợi hải sản vùng biển Hải Phòng và các tỉnh lân cận trong khu vực vịnh Bắc Bộ, đồng thời giúp cho cơ quan quản lý nghề cá địa phương có định hướng phát triển
Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu cải tiến thiết bị thoát các con kiểu đụt lưới mắt vuông cho nghề lưới
kéo đáy ở Hải Phòng
Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đưa ra được quy trình công nghệ khai thác hải sản bằng nghề lưới kéo đáy có tính chọn lọc cao phù hợp với xu hướng phát triển của ngành khai thác thủy sản nước ta nói chung và Hải Phòng nói riêng
- Việc thực hiện thành công đề tài sẽ là cơ sở khoa học giúp cho các nhà quản lý trong việc đưa ra những chính sách phát triển nghề cá của địa phương một cách phù hợp và bền vững Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của đề tài khi áp dụng vào thực tế sản xuất sẽ giúp ích rất lớn cho việc bảo vệ và tái tạo nguồn lợi hải sản vùng biển Hải
Phòng và các tỉnh lân cận
Nội dung của luận văn
Nội dung 1: Thực trạng khai thác và sử dụng ngư cụ, các thông tin liên quan
đến nghề khai thác thủy sản ở Hải Phòng
Nội dung 2: Nghiên cứu thiết kế, chế tạo thiết bị thoát cá con kiểu đụt lưới mắt
vuông cho tàu lưới kéo đáy ở Hải Phòng
Nội dung 3: Nghiên cứu thử nghiệm và hiệu chỉnh các thiết bị thoát cá con kiểu
đụt lưới mắt vuông trong thực tế
Nội dung 4: Hoàn thiện, đánh giá kết quả thực nghiệm các thiết bị, xây dựng
qui trình sử dụng và đề xuất các giải pháp áp dụng thiết bị thoát cá con cho nghề lưới kéo đáy ở Hải Phòng
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu ngoài nước
Nghề cá thế giới đang rất quan tâm đến khai thác và bảo vệ bền vững hệ sinh thái biển Trong đó, biện pháp làm giảm sự ảnh hưởng của hoạt động khai thác đối với
cá và các động vật không mong muốn (cá con, cá tạp, rùa biển, mực con, ) chính là yếu tố quan trọng trong hệ sinh thái Nhiều nước đã nghiên cứu thiết kế và ứng dụng thiết bị thoát cá con và cá tạp cho nghề lưới kéo đáy, thiết bị thoát rùa cho nghề lưới kéo tôm nhằm hạn chế đánh bắt những sản phẩm không mong muốn, các thiết bị đã được nghiên cứu và ứng dụng như:
- Từ năm 1982 - 1986, Robertson và các cộng tác viên đã nghiên cứu việc sử dụng đụt lưới kéo có mắt lưới vuông để giải thoát cá nhỏ Sử dụng đụt lưới kéo có kiểu mắt lưới vuông để giải thoát cá con, làm giảm khá nhiều lượng cá con bị đánh bắt so với sử dụng đụt lưới với kiểu mắt lưới thông thường (mắt lưới khi làm việc có dạng hình thoi) Đây là một biện pháp nhằm bảo tồn nguồn lợi cá nhỏ và cá chưa trưởng thành Kiểu mắt lưới hình vuông ở đụt lưới để giải thoát cá nhỏ được sử dụng cho cả lưới kéo đôi, lưới kéo đơn, lưới kéo tôm, lưới kéo cá, lưới kéo ván, lưới kéo sào v.v
- Trong những năm gần đây SEAFDEC đã nghiên cứu sử dụng nhiều loại thiết
bị thoát cá con, các thiết bị này được lắp ở đụt lưới, cá có thể thoát ra ngoài nhờ khe
hở giữa 2 thanh của các thiết bị, thiết bị này được gọi là Juvenile and Trash Excluder Devices (JTEDs) Nhiều nước trong khu vực đã thử nghiệm một số thiết bị thoát cá con cho lưới kéo đáy
- Thiết bị thoát rùa biển Turtle Excluder Device (TED) lần đầu tiên thử nghiệm cho nghề lưới kéo tôm ở Mỹ vào cuối những năm 1980, từ đó đến nay người ta đã tiến hành nghiên cứu và đã đưa ra được nhiều mẫu thiết bị thoát rùa khác nhau ở nhiều nước trên thế giới, như : Mêxicô, Australia, Thái Lan, Indonesia Các thiết bị được ứng dụng cho nghề lưới kéo tôm của các nước này đã giải thoát được rùa biển và các động vật cỡ lớn khác (cá đuối, sam biển )
Việc giảm sản lượng cá tạp trong khai thác hải sản ở Australia có từ lâu Cách nay hơn 40 năm các ngư dân khai thác tôm ở cửa sông New South Wales và Queenland đã sử dụng những tấm lưới dốc nghiêng gọi là “dốc trượt Blubber” để giảm sản lượng cá nhỏ Gần đây họ đã sử dụng của sổ nhỏ kiểu mắt cá hình tam giác, tấm
Trang 13mắt vuông Composite … ở đụt lưới để giải thoát cá cho lưới kéo tôm
Các thiết bị thoát cá con hiện nay của các nước trên thế giới và khu vực Đông Nam Á
Cá con và cá tạp lẫn trong sản phẩm khai thác thủy sản luôn được quan tâm nghiên cứu cả về công nghệ khai thác và cũng như bảo vệ nguồn lợi Tuy nhiên kết quả chưa nhiều vì đây là vấn đề phức tạp cả về kỹ thuật và tình hình kinh tế - xã hội không đồng đều giữa các quốc gia
Về mặt kỹ thuật, để hạn chế đánh bắt cá con người ta sử dụng ngư cụ mà tại phần chứa cá dùng lưới có kích thước mắt lưới lớn (theo quy định); mắt lưới vuông và một số loại thiết bị khác tạo điều kiện thuận lợi cho các động vật không mong muốn đánh bắt, cá con cần bảo vệ thoát ra ngoài ngư cụ
+ Đụt lưới mắt vuông:
Khi hoạt động dưới nước đụt lưới thường có dạng mắt lưới hình thoi, khi có cá
và cá tập trung tại vị trí cuối cùng của đụt thường làm cho đụt căng ra Tải trọng tăng theo số lượng cá vào đụt Nên xảy ra hiện tượng khép mắt lưới, các loại cá nhỏ không thể thoát qua các mắt lưới bị khép lại Dù có sử dụng mắt lưới hình thoi kích thước lớn theo quy định, hiệu quả thoát cá vẫn kém vì hiện tượng khép mắt lưới do chịu tải
Để khắc phục tình trạng khép mắt lưới khi có tải trọng, làm giảm diện tích mắt lưới thoát cá Người ta sử dụng đụt lưới có mắt lưới vuông xếp theo chiều chịu lực dọc theo cạnh mắt lưới dọc, khi chịu lực dọc (chủ yếu là lực ma sát, lực cản) mắt lưới vuông không biến dạng, diện tích thoát cá vẫn giữ nguyên, nghĩa là lỗ chui của cá qua lưới không thay đổi (hình 1.1) Các thí nghiệm để lựa chọn các kiểu đụt mắt lưới vuông đã được Robertson ở Scotlan và nhiều người khác thực hiện từ năm 1982 đến năm 1986 Kết quả thí nghiệm kiểu đụt mắt lưới vuông đã cho cá nhỏ thoát ra ngoài đạt đến 50% tổng số cá thể đánh bắt được của mẻ lưới
Hình 1.1 Hình dạng đụt lưới kéo sử dụng mắt lưới hình vuông
Trang 14+ Tấm lưới mắt vuông (cửa sổ mắt vuông)
Đối với thiết bị kiểu tấm lưới mắt vuông, việc lựa chọn kích thước mắt lưới rất quan trọng và rất cần thiết để xác định được kích thước mắt lưới vừa giải thoát cá ở mức cao nhất vừa hạn chế tối đa lượng tôm bị thất thoát Kích thước và vị trí lắp các tấm lưới mắt vuông cũng phải được quan tâm, đặt ở nơi cao nhất của đụt lưới là vị trí hợp lý nhất để nó giảm được lượng tôm bị thất thoát Cửa sổ không nên đặt quá gần sản phẩm bị khai thác trong đụt lưới, lượng tôm thất thoát sẽ nhiều hơn, đặc biệt trong lúc kéo ngược lại và trong các đợt sóng trào lên
Hình 1.2 Thiết bị thoát cá con kiểu tấm lưới mắt vuông
+ Thiết bị thoát cá con của một số nước trong khu vực Đông Nam Á
Trung tâm phát triển Nghề cá Đông Nam á (SEAFDEC) phối hợp với các nước thành viên ASEAN đã tiến hành hướng dẫn áp dụng Bộ qui tắc ứng xử Nghề cá có trách nhiệm của FAO trong khu vực Vấn đề đặt ra cho công tác nghiên cứu và ứng dụng là phải tiến hành áp dụng các công nghệ khai thác thích hợp có chọn lọc, do đó SEAFDEC đã thực hiện nhiều chuyến nghiên cứu và thử nghiệm các thiết bị JTEDs khác nhau để giải thoát cá con
Trang 15Malaixia: đã tiến hành nghiên cứu thiết bị JTEDs mới kiểu khung sắt
Kết quả thí nghiệm cho thấy, khoảng trống giữa các thanh chắn của 2 thiết bị JTEDs đã thử nghiệm có kích thước là 20mm và 12mm Khoảng trống giữa 2 thanh chắn là 20mm tỉ lệ thoát 73% sản lượng, khoảng trống giữa các thanh chắn là 12mm, giải thoát các loài chỉ đạt 35% sản lượng khai thác Nhóm cá tạp, khả năng giải thoát qua các thiết bị chiếm tới khoảng 87% và 70% sản lượng khai thác đối với trường hợp khoảng trống giữa các thanh chắn tương ứng là 20mm và 12mm
Inđônêxia: Đã ứng dụng khá thành công các loại thiết bị thoát cá con như: thiết
bị hình chữ nhật; thiết bị khung sắt; thiết bị dạng nửa đường cong (hình 1.3và hình 1.4)
Mức độ thoát của cá khi sử dụng thiết bị JTEDs là 79% tổng sản lượng đối với kiểu khung sắt với khoảng cách giữa các song sắt là 40mm, với 25% cá thoát ra của hai thiết bị JTEDs nửa đường cong và hình chữ nhật Các loài cá nổi là 97% cá thoát ra khi sử dụng thiết bị khung sắt, 53% cá thoát ra khi sử dụng thiết bị nửa đường cong, 49% sản lượng thoát ra khi sử dụng thiết bị hình chữ nhật Đối với cá tạp là 68% cá
Hình 1.3 Thiết bị kiểu khung sắt của Malayxia
Trang 16thoát ra khi sử dụng thiết bị khung sắt, 4% cá thoát ra khi sử dụng thiết bị nửa đường cong và 17% cá thoát ra khi dùng thiết bị hình chữ nhật
Thái Lan: các loại thiết bị đã sử dụng gồm: thiết bị hình chữ nhật; thiết bị dạng
a - Thiết bị hình chữ nhật b - Thiết bị nửa đường cong
Hình 1.5 Thiết bị JTEDs hình chữ nhật và nửa đường cong của Inđônêxia
Trang 17Thái Lan: các loại thiết bị đã sử dụng gồm: thiết bị hình chữ nhật; thiết bị dạng
nửa đường cong (hình 1.6 và hình 1.7)
Kết quả thoát của thiết bị hình chữ nhật: Tỉ lệ cá thoát ra của những loài cá kinh
tế trong khoảng 32 - 59% và cá tạp thoát ra trong khoảng 5 - 20% Tỉ lệ thoát ra đối với những loài động vật chân đầu là 78 - 100%
Hình 1.6 Thiết bị JTEDs kiểu hình chữ nhật của Thái Lan
Hình 1.7 Thiết bị JTEDs kiểu nửa đường cong của Thái Lan
20 khe thoát
khoảng c¸ch giữa
14 khe thoát khoảng cách giữa
10 khe thoát khoảng cách giữa các khe 8cm
7 khe thoát khoảng cách giữa
Trang 18Kết quả thoát của thiết bị kiểu nửa đường cong: Tỉ lệ thoát khoảng 29 - 36% đối với các loài cá kinh tế và từ 5 - 12% đối với các loài cá tạp Tỉ lệ phần trăm thoát ra của các loài động vật chân đầu là trong khoảng giữa 19 - 44%
Như vậy, các nước trên thế giới và trong khu vực Đông Nam Á đã có rất nhiều công nghiên cứu để ứng dụng các thiết bị thoát cá con và các loài khai thác không mong muốn khác rất thành công Tuy nhiên, các thiết bị này chủ yếu sử dụng trên các tàu công nghiệp có công suất, ngư cụ, hoàn toàn khác so với tàu thuyền Hải Phòng, cạnh đó thành phần sản lượng, ngư trường (độ sâu, đáy biển, ) cũng hoàn toàn khác Chính vì vậy, để áp dụng được các thiết bị thoát cá con cho phù hợp với tàu thuyền, ngư cụ và ngư trường khai thác ở Hải Phòng thì cần phải có các nghiên cứu cải tiến
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.1 Một số văn bản pháp qui và cơ chế chính sách liên quan
Hiện nay Nhà nước đã thiết lập hệ thống tổ chức khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản từ Trung ương đến địa phương và đã ban hành nhiều chính sách, văn bản để thực thi trong quản lý nghề cá như: luật Thủy sản, các Nghị định, các Thông tư , các văn bản quản lý tàu thuyền như cấp giấy phép khai thác, đăng ký, đăng kiểm tàu cá, các Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Thủy sản (cũ) trong vấn đề bảo
vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản như sau:
Thông tư số 02/2006/TT-BTS ngày 20/3/2006 của Bộ Thủy sản (nay là Bộ NN&PTNT) về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định của Chính phủ số 59/2005/NĐ-CP ngày 04 tháng 5 năm 2005 về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thuỷ sản Thông tư này Quy định kích thước mắt lưới nhỏ nhất tại bộ phận tập trung cá của các ngư cụ khai thác thuỷ sản biển
Nghị định 123/2006/NĐ-CP ngày 27/10/2006 nay là Nghị định số
33/2010/NĐ-CP ngày 31/3/2010 của Chính phủ và Thông tư 48/2010/TT-BNNPTNT ngày 11/08/2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về quản lý hoạt động khai thác thuỷ sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển
Quyết định 48/2010/QĐ-TTg, ngày 13/7/2010 về một số chính sách khuyến khích,
hỗ trợ khai thác, nuôi trồng hải sản và dịch vụ khai thác hải sản trên các vùng biển xa bờ Đây là một trong những chính sách quan trọng trong việc định hướng phát triển khai thác
xa bờ của Chính phủ với mục tiêu phát triển nghề khai thác hải sản cũng như đảm bảo điều kiện kinh tế - xã hội tại các vùng đảo, biển xa bờ
Trang 19Trong thời gian tới Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ ban hành thông tư
về việc phát triển ngành thủy sản đến năm 2020 Trong đó, có việc qui định việc lắp ráp thiết bị thoát cá con ở đụt lưới kéo
1.2.2 Một số công trình nghiên cứu có liên quan
- Năm 2001, Viện Nghiên cứu Hải sản đã hợp tác với SEAFDEC tiến hành thử nghiệm thiết bị JTEDs dạng khung sắt cho lưới kéo đáy Thiết bị được cấu tạo từ 3 khung sắt, kích thước mỗi khung 500x800mm (2 khung thanh sắt và 1 khung lưới)
Hình 1.8 Thiết bị JTEDs kiểu khung sắt đã thử nghiệm ở Việt Nam
Khung sắt A và B (hình 1 8) được hàn các thanh sắt song song có khoảng cách giữa hai thanh là 20mm (JTED20); 30mm (JTED30) và 40mm (JTED40); khung sắt C được bao kín bằng lưới Các khung sắt được liên kết với nhau bằng bản lề tạo thành thiết bị thoát cá con Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ thoát của các thiết bị trên đạt từ 11,9 - 14,2% Tuy nhiên, hạn chế của chuyến nghiên cứu này là thử nghiệm còn quá ít
mẻ lưới nên khả năng đánh giá được thiết bị này thoát tốt hay không còn phải tiến hành nghiên cứu thêm Bên cạnh đó, các nghiên cứu này cũng chưa tiến hành thử nghiệm đối với thiết bị thoát cá con bằng đụt lưới mắt vuông và tấm lưới mắt vuông
- Năm 2004, Nguyễn Phong Hải đã tiến hành nghiên cứu thiết bị JTEDs có khe
hở 20mm ở lưới kéo tôm cỡ tàu có công suất 45 cv tại tỉnh Kiên Giang Kết quả cho thấy: Tỷ lệ cá phân (cá con, cá tạp) thoát ra ngoài qua thiết bị là 72,3% tính theo khối lượng, cá bị giữ lại ở đụt lưới lớn hơn cá thoát ra ngoài Lượng tôm và cá thương phẩm (cá chợ) thoát ra khỏi lưới lần lượt là 7,9% và 16,1% Tuy nhiên, đề tài còn một số hạn chế đó là chỉ tiến hành thử nghiệm được đối với một loại thiết bị và chỉ thực hiện được
C
Trang 20cho vùng biển Kiên Giang và các mẻ thử nghiệm còn ít và chưa tiến hành thử nghiệm được với các thiết bị đụt lưới mắt vuông và tấm lưới mắt vuông
- Từ năm 2003 - 2006, Viện nghiên cứu Hải sản đã tiến hành nghiên cứu đề tài
“Nghiên cứu thiết kế và áp dụng ngư cụ chọn lọc cho một số loại nghề khai thác hải sản” Đề tài đã nghiên cứu ứng dụng thiết bị thoát cá con kiểu khung sắt và các thiết bị thoát cá con kiểu tấm lưới mắt vuông (TLV) cho lưới kéo đáy Kết quả nghiên cứu cho
thấy, đối với thiết bị dạng tấm lưới mắt vuông (TLV) ở đụt lưới tỉ lệ thoát khoảng 53,6
- 66,7% sản lượng cá trong các mẻ lưới và khả năng thoát tính theo số lượng cá thể đạt
từ 69,5 - 83,9% số lượng cá thể của cá trong các mẻ lưới Đối với thiết bị dạng khung sắt lắp ở đụt lưới tỉ lệ thoát khoảng từ 63,9 - 86,3% sản lượng cá có trong các mẻ lưới
và khả năng thoát theo số lượng cá thể của cá qua các thiết bị khung sắt từ 79,5 - 95,8% số lượng cá thể của cá có trong các mẻ lưới Tuy nhiên, hạn chế của đề tài này
là các thiết bị trên chỉ được thử nghiệm ở khu vực Đông Nam Bộ, nơi có tàu thuyền, ngư cụ và ngư trường khai thác khác với các khu vực khác (miền Trung, Tây Nam Bộ
và vịnh Bắc Bộ) trong cả nước, trong đó có vùng biển Hải Phòng Bên cạnh đó, đề tài cũng chưa tiến hành ứng dụng và thử nghiệm thiết bị thoát cá con bằng đụt lưới mắt vuông, đây là thiết bị được các nước trên thế giới ứng dụng rất thành công và rất phù hợp với tàu thuyền nghề lưới kéo công suất nhỏ ở nước ta
- Năm 2011, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi Hải Phòng đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiện trạng các nghề khai thác hải sản có hại ở vùng nước
ven bờ của Hải Phòng Đề xuất các giải pháp quản lý nguồn lợi hải sản ven bờ” Kết
quả của đề tài đã cho thấy tỉ lệ cá tạp trong các mẻ lưới của nghề lưới kéo cá chiếm từ 58,0 - 61,7% Điều đó cho thấy nếu ứng dụng thành công thiết bị thoát cá con này sẽ giúp cho việc bảo vệ và tái tạo nguồn lợi hải sản là rất tốt
Như vậy, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về thiết bị thoát cá con nhằm bảo vệ nguồn lợi thủy sản, tuy nhiên các thiết bị này chủ yếu được thử nghiệm ở khu vực Đông Nam Bộ (nơi có tàu thuyền, ngư trường, ngư cụ, ) hoàn toàn khác so với ở Hải Phòng và cũng chủ yếu tập trung vào thử nghiệm thiết bị thoát cá con kiểu JTEDs, trong khi đó các thiết bị thoát cá con vốn được cho là phù hợp với tàu thuyền lưới kéo Việt Nam như đụt lưới mắt vuông và tấm lưới mắt vuông lại chưa được nghiên cứu nhiều, đặc biệt là thiết bị thoát cá con đụt lưới mắt vuông thì chưa có công trình nghiên cứu nào Chính vì vậy, việc nghiên cứu thiết bị thoát cá con bằng đụt
Trang 21lưới mắt vuông và tấm lưới mắt vuông để áp dụng vào thực tế nhằm bảo vệ nguồn lợi
ở Hải Phòng và các tỉnh lân cận là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay
1.2.3 Tình hình khai thác hải sản Hải Phòng
Vùng biển Hải Phòng, thành phần loài là rất đa dạng và phong phú, số lượng loài có sản lượng chiếm ưu thế tuyệt đối trong tổng sản lượng là hầu như không có Nhìn chung, nguồn lợi hải sản ở vùng biển Hải Phòng có đặc trưng tương tự như nguồn lợi hải sản vịnh Bắc Bộ (Vũ Việt Hà, 2008) Vùng biển Vịnh Bắc Bộ nói chung
và vùng biển Hải Phòng nói riêng là vùng biển có tính đa dạng sinh học cao, riêng chỉ tính khu vực quanh đảo Cát Bà có đến 124 loài cá biển thuộc 89 giống nằm trong 56
họ (Vũ Việt Hà, 2008)
Ngư trường của vùng biển Hải Phòng, gồm: Ngư trường Bạch Long Vĩ, ngư trường Cát Bà - Bắc Long Châu, ngư trường Nam Long Châu kéo dài đến cửa Ba Lạt Ngư trường Bạch Long Vĩ và ngư trường Cát Bà – Bắc Long Châu là ngư trường khai thác nghề lưới kéo
Tính đến 3/2013, tổng số tàu thuyền của Hải Phòng là 4.009 chiếc (chi tiết bảng 1.1)
Bảng 1.1 Cơ cấu nghề khai thác hải sản của Hải Phòng, tính đến tháng 3/2013
Trang 22Qua trên cho thấy, lưới kéo chiếm 13,9%, lưới rê tầng mặt chiếm 10,1%, lưới rê tầng đáy chiếm 8,6%, lưới rê 3 lớp chiếm 3,4%, nghề câu tay chiếm 3,1%, câu vàng chiếm 1,4%, chụp mực chiếm 8%, lồng bẫy chiếm 16,7%, đáy, xăm chiếm 20,9%, dịch vụ chiếm 3%, nghề khác chiếm 10,9% Số lượng tàu thuyền trên 90cv là 449 chiếc, chiếm 11,2% tổng số tàu thuyền của Hải Phòng Điều này cho thấy tàu thuyền của Hải Phòng chủ yếu là đội tàu công suất nhỏ, khai thác ở ven bờ và vùng lộng
Trang 23CHƯƠNG 2 NỘI DUNG, TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
- Thu thập, phân tích tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước về lĩnh vực nghiên cứu của đề tài gồm: tàu thuyền, ngư cụ, các thiết bị thoát cá con,
- Điều tra hiện trạng khai thác của nghề lưới kéo đáy ở Hải Phòng, gồm: kích thước tàu thuyền, ngư cụ, thành phần sản lượng khai thác, tỷ lệ phần trăm cá tạp, hiệu quả kinh tế,
- Điều tra thu mẫu về thành phần loài, kích cỡ đối tượng khai thác của nghề lưới kéo đáy ở Hải Phòng
Nội dung 2: Nghiên cứu thiết kế, chế tạo thiết bị thoát cá con kiểu đụt lưới mắt vuông
cho tàu lưới kéo đáy ở Hải Phòng
- Tính toán thiết kế cải tiến thiết bị thoát cá con kiểu đụt lưới mắt vuông gồm: chiều dài thiết bị, kích thước mắt lưới, kích thước lỗ thoát, các trang phụ tùng kèm theo, phù hợp
- Xây dựng qui trình kỹ thuật lắp ráp và sử dụng thiết bị thoát cá con kiểu đụt lưới mắt vuông phù hợp với tàu lưới kéo đáy ở Hải Phòng, gồm: lắp ráp thiết bị, lắp ráp phụ tùng, kỹ thuật thả lưới, thu lưới,
Nội dung 3: Nghiên cứu thử nghiệm và hiệu chỉnh các thiết bị thoát cá con kiểu đụt
lưới mắt vuông trong thực tế
- Tiến hành các nghiên cứu thử nghiệm thiết bị thoát cá con kiểu đụt lưới mắt vuông cho nghề lưới kéo đáy
- Đánh giá tính chọn lọc của các thiết bị thoát cá con trong quá trình hoạt động thử nghiệm ngư cụ
Nội dung 4: Hoàn thiện, đánh giá kết quả thực nghiệm các thiết bị, xây dựng qui trình
sử dụng và đề xuất các giải pháp áp dụng thiết bị thoát cá con cho nghề lưới kéo đáy ở Hải Phòng
- Hoàn thiện thiết kế, chế tạo và qui trình sử dụng thiết bị thoát cá con kiểu đụt lưới mắt vuông cho nghề lưới kéo đáy
- Đề xuất các giải pháp áp dụng thiết bị thoát cá con vào thực tế sản xuất
2.2 Tài liệu nghiên cứu
Các tài liệu pháp lý và tài liệu khoa học liên quan đến bảo vệ nguồn lợi hải sản
Trang 24đã được tập hợp gồm có:
- Các văn bản về bảo vệ và phát triển nguồn lợi hải sản
- Tài liệu về thiết kế và hướng dẫn sử dụng các loại thiết bị thoát cá con của Australia, SEAFDEC, FAO
- Các báo cáo về thử nghiệm các loại thiết bị thoát cá con của SEAFDEC tại Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Thailand, Brunei, Philippins
- Báo cáo thử nghiệm thiết bị cá con kiểu đụt lưới mắt vuông và tấm lưới mắt vuông trên tàu lưới kéo đáy
- Các số liệu về kết quả thử nghiệm thiết bị thoát cá con kiểu đụt lưới mắt
vuông và tấm lưới mắt vuông
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
2.3.1.1 Phạm vi và thời gian nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thiết bị thoát cá con kiểu đụt lưới mắt vuông cho nghề lưới kéo đáy tại Hải Phòng được thực hiện trên tàu HP- 09368 –TS do Phạm Văn Dương làm chủ tàu kiêm thuyền trưởng, địa chỉ: xã Phả Lễ - Thủy Nguyên – Hải Phòng Phạm vi nghiên cứu của đề tài là vùng biển Hải Phòng, phạm vi này căn cứ vào kết quả điều tra về ngư trương hoạt động của nghề lưới kéo đáy Trong đó, đề tài đặc biệt chú ý vào các khu vực có tàu lưới kéo đáy của Hải Phòng hoạt động nhiều là khu vực xung quanh đảo Bạch Long Vĩ, Cát Bà - Bắc Long Châu, ngư trường Nam Long Châu kéo dài đến cửa Ba Lạt để tiến hành thử nghiệm
Trang 25Hình 2.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu thử nghiệm thiết bị thoát cá con
2.3.1.2 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm các yếu tố sau:
- Tàu thuyền, ngư cụ, ngư trường, các thiết bị thoát cá con,
- Tàu thuyền nghề lưới kéo đáy: công suất máy tàu, trang thiết bị khai thác,
- Ngư trường, nguồn lợi: Một số đối tượng khai thác chính của nghề lưới kéo đáy tại ngư trường Hải Phòng
- Ngư cụ khai thác: Thông số kỹ thuật, kích thước của vàng lưới kéo đáy,
- Các thiết bị thoát cá con kiểu đụt lưới mắt vuông : kích thước, cấu tạo, kỹ thuật lắp ráp, cho nghề lưới kéo đáy
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp chuyên gia: Tổng hợp các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, tổ chức hội thảo để xin ý kiến, tư vấn nhằm đưa ra phương án thiết
kế, thi công và thử nghiệm phù hợp và có tính khoa học cao nhất
- Thu thập số liệu về cơ cấu đội tàu theo nhóm công suất, cơ cấu nghề khai thác hải sản và các vấn đề khác liên quan đến nghề cá của Hải Phòng từ các đề tài, dự án, trong và ngoài nước và tại các cơ quan quản lý
- Thu thập thông tin tại các bến cá, các chủ tàu/thuyền trưởng Số liệu thu thập, gồm: Tàu thuyền, kích thước mắt lưới của ngư cụ, phương thức hoạt động, tốc độ kéo
Trang 26lưới, thời gian kéo lưới, hiệu quả kinh tế, chi phí sản xuất, mùa vụ khai thác, ngư trường khai thác,
- Mua mẫu để phân tích thành phần loài, kích cỡ đối tượng khai thác của nghề lưới kéo đáy tại các bến cá làm cơ sở cho việc tính toán thiết kế thiết bị thoát cá con kiểu đụt lưới mắt vuông
2.3.3 Phương pháp thiết kế và lắp ráp thiết bị thoát cá con
Sau khi nắm được một số đặc điểm sinh học của một số đối tượng cá kinh tế mà lưới kéo khai thác được và khảo sát đặc điểm kết cấu của mẫu lưới kéo ở Hải Phòng trên tàu của ngư dân và dựa vào quy định kích thước mắt lưới nhỏ nhất tại bộ phận tập trung cá của nghề lưới kéo tại Thông tư số 02/2006/TT-BTS ngày 20/3/2006 của Bộ Thuỷ sản nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, đề tài sẽ tiến hành thiết kế thiết bị thoát cá con kiểu đụt lưới mắt vuông cho phù hợp Các công thức tính toán thiết kế kích thước mắt lưới của thiết bị như sau:
+ Xác định kích thước mắt lưới của thiết bị:
Kích thước mắt lưới của thiết bị là một trong những thông số quan trọng khi tính toán thiết kế thiết bị, kích thước mắt lưới phải đảm bảo điều kiện: giải thoát được
cá con, cá tạp chưa trưởng thành, nhưng không làm thất thoát các đối tượng đã trưởng thành, phải phù hợp với qui định của Nhà nước, Áp dụng công thức tính toán, cạnh
mắt lưới a cho lưới rê được xác định theo công thức sau:
a r = K 1 L hoặc 3
K
Trong đó: a r : là kích thước cạnh mắt lưới rê đánh cùng loài cá với lưới kéo
L: là cỡ chiều dài cá mà lưới rê muốn bắt
G: là trọng lượng cá mà lưới rê muốn bắt
K 1 , K 2: tương ứng, là hai hệ số tỉ lệ theo chiều dài và theo trong lượng mà lưới
rê có thể bắt được cá hiệu quả nhất (K1 = 0,2Cmax/L (với Cmax chu vi tiết diện lớn nhất của cá), Cá lớn K2 = 5; Cá trung bình K2 = 6; Cá nhỏ K2 = 7)
Sau khi ta đã tính toán được kích thước cạnh mắt lưới cho lưới rê đánh cùng loại và cỡ cá mà lưới kéo dự định sẽ khai thác thì ta có thể tính kích thước cạnh mắt lưới của đụt lưới kéo theo công thức sau:
a đ = (0,6 ÷ 0,7) a r
Trong đó: a đ: là kích thước cạnh mắt lưới của đụt lưới kéo
Đề tài sẽ căn cứ vào kích thước cạnh mắt lưới của đụt lưới kéo để lựa chọn kích
Trang 27thước cạnh mắt lưới của thiết bị cho phù hợp với đội tàu lưới kéo đáy ở Hải Phòng
Đề tài dự kiến sử dụng 03 loại kích thước mắt lưới cho thiết bị
+ Xác định kích thước của thiết bị: Chiều dài bằng 1/2 chiều dài đụt lưới của ngư dân
đang sử dụng
+ Tính toán lực nổi của phao: Lực nổi trong nước của phao được xác định theo công
thức sau: Q = D - P
Trong đó: D: là lực nổi của phao; và P là trọng lực của phao trong nước
Lực nổi (D) và trọng lượng (P) của phao được xác định như sau:
D = γn V1 và P = γ V2
Trong đó: V1: là thể tích bên ngoài của phao; V2: là thể tích của vật liệu phao;
γn: là trong lượng riêng của nước; γ: là trọng lượng riêng của vật liệu phao
2.3.4 Phương pháp thử nghiệm
+ Tàu thử nghiệm: đề tài sưửụng tàu của ngư dân có công suất máy chính
≤90cv hoạt động khai thác bằng nghề lưới kéo đáy để tiến hành thử nghiệm Các thiết
bị được thử nghiệm trên một tàu, trong cùng điều kiện ngư trường Trong quá trình thử nghiệm, thường xuyên thay đổi các thiết bị để đảm bảo sản phẩm thu được ở các loại thiết bị không sai khác nhiều do sự thay đổi của điều kiện ngoại cảnh
+ Bố trí thử nghiệm: Thời gian hoạt động của mỗi mẻ lưới là 3-5 giờ (theo
thời gian thực tế mà các tàu lưới kéo hiện nay đang hoạt động), tốc độ dắt lưới từ 1,8 - 2,6 hải lý/giờ Các thiết bị được điều chỉnh, để luôn làm việc ở trạng thái ổn định và
để đảm bảo sản phẩm thu được ở các loại thiết bị không sai khác nhiều do sự thay đổi của điều kiện ngoại cảnh
- Tỷ lệ cá con, cá tạp trong tổng sản lượng khai thác (C ct ; %): Đánh giá mức độ
chọn lọc sản phẩm khai thác của các nghề lưới kéo
100
xSL
SL
=C
sp Ct ct
Trang 28Trong đó: Gdt: Sản lượng khai thác của cá tạp
SLsp: Tổng sản lượng khai thác được
n
t At
C C
1
1
x 100%
Trong đó: PA: Tỷ lệ phần trăm của nhóm sản phẩm A
CAt: Sản lượng nhóm sản phẩm A trong sản lượng chuyến t
Ct: Sản lượng chuyến t
n: Tổng số chuyến được phỏng vấn
- Tỷ lệ phần trăm về sản lượng và số lượng cá thể thoát qua các thiết bị :
Được tính toán dựa vào các công thức như sau:
) W + W (
W
= w
N
= w
∑ DN DT
DN CT
Trong đó: - WDN là sản lượng đụt ngoài; WDT là sản lượng đụt trong;
- Tính kinh tế sẽ được đánh giá dựa vào tỷ lệ cá, mực có kích thước lớn thoát qua thiết bị Tỷ lệ thất thoát của cá có kích thước lớn càng ít sẽ chứng minh cho thiết bị có tính kinh tế cao
Trang 29Hình 2.2 Tàu sử dụng thử nghiệm thiết bị
* Tàu được dùng để tiến hành thử nghiệm các thiết bị là tàu lưới kéo đơn, vỏ
gỗ Các thông số cơ bản của tàu như sau:
- Số đăng ký: HP 90468TS - Công suất máy chính: 85 cv
- Loại máy: Yanmar - Chiều dài lớn nhất: 12,3m
- Chiều rộng: 4,2m - Chiều cao mạn: 1,75m Trang thiết bị phục vụ khai thác trên tàu gồm có: Tời ma sát, cẩu, máy định vị vệ tinh, máy thông tin liên lạc
* Ngư cụ được sử dụng là hai mẫu lưới kéo đơn của ngư dân đang dùng để khai thác hải sản ở vùng biển Hải Phòng Một số mẻ lưới của hai loại thiết bị này cũng được thử nghiệm trên cùng một lưới Vật liệu làm lưới là sợi tổng hợp PE, quy cách chỉ lưới được thay đổi theo từng bộ phận của lưới Kích thước mắt lưới lớn nhất tại cánh lưới là 2a= 80mm, nhỏ nhất tại đụt lưới là 2a= 15mm
Trang 30CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 HIỆN TRẠNG KHAI THÁC CỦA NGHỀ LƯỚI KÉO HẢI PHÒNG 3.1.1 Cơ cấu tàu thuyền ở Hải Phòng
Theo thống kê của Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Hải Phòng tính đến tháng 3/2013 số lượng tàu thuyền ở Hải Phòng là 4.009 chiếc Chi tiết số lượng tàu thuyền được thể hiện ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Cơ cấu tàu thuyền phân theo nghề và nhóm công suất ở Hải Phòng
Nguồn: Chi cục KT và BVNL Hải Phòng
Qua bảng trên cho thấy, tàu thuyền ở Hải Phòng chủ yếu là đội tàu công suất nhỏ, điều đó chứng tỏ nghề cá ở Hải Phòng vẫn là nghề cá qui mô nhỏ Đội tàu tàu công suất lớn hơn 90cv khai thác ở vùng biển xa bờ chỉ có 452 chiếc, chiếm 11,25%, trong khi đó, đội tàu công suất nhỏ hơn 90cv khai thác ở vùng ven bờ và vùng lộng là 3.597 chiếc, chiếm 88,75% tổng số tàu của cả thành phố Đặc biệt, số lượng tàu công suất nhỏ hơn 20cv, chiếm tỷ lệ rất lớn khoảng 66,15% trong tổng số tàu hiện có của cả thành phố Hải Phòng Tổng số tàu lưới kéo là 559 chiếc, chiếm 13,9% tổng số tàu thuyền của Thành Phố Đây là nghề chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu nghề khai thác hải sản ở Hải Phòng Như vậy, để nghề khai thác hải sản ở Hải Phòng phát triển với qui
mô lớn hơn và khai thác ở vùng biển xa bờ thì UBND Thành phố cần có các chính sách đầu tư để phát triển đội tàu theo hướng hiện đại
Trang 313.1.2 Hiện trạng tàu thuyền
3.1.2.1 Số lượng tàu thuyền của nghề lưới kéo
Theo thống kê của Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tính đến tháng 3/2013 số lượng tàu thuyền của nghề lưới kéo ở Hải Phòng là 559 chiếc Trong
đó, số lượng tàu công suất nhỏ hơn 20cv là 335 chiếc, chiếm 59,93%; đội tàu nhóm công suất từ 20 - <50 là 101 chiếc, chiếm 18,07%; đội tàu công suất từ 50 - <90cv là
65 chiếc, chiếm 11,63% và đội tàu lớn hơn 90cv là 58 chiếc, chiếm 10,37%
Hình 3.3 Cơ cấu tàu thuyền nghề lưới kéo ở Hải Phòng
3.1.2.2 Vỏ tàu
Kết cấu vỏ tàu
Qua điều tra, khảo sát cho thấy hiện nay vỏ tàu ngư dân đang sử dụng chủ yếu
là vỏ gỗ, khả năng chịu được sóng gió lớn nhất chỉ đạt cấp 4 - 7 Tuỳ vào sự phát triển nghề cá của từng vùng, từng địa phương, khả năng vốn đầu tư, phong tục tập quán mà kết cấu vỏ tàu ở mỗi nơi có sự khác nhau Tuy nhiên, kết cấu vỏ tàu của nghề lưới kéo
ở Hải Phòng chủ yếu là vỏ gỗ, chiều dày gỗ đóng tàu mỏng khoảng 3 - 4,5cm Do đó, khả năng chịu sóng gió của các tàu lưới kéo ở khu vực này tối đa chỉ khoảng cấp 4- 6
Trang 32 Kích thước vỏ tàu
Bảng 3.2 Kích thước vỏ tàu phân theo nhóm công suất máy
Công suất (cv) Chiều dài
có kích thước vỏ tàu nhỏ là rất nhiều Còn muốn hợp tác với các nước khác hoặc là đăng ký vào khai thác ở vùng đánh cá chung thì cần phải đầu tư cải hoán vỏ tàu để đảm bảo đủ tiêu chuẩn cần thiết
3.1.2.3 Máy tàu
Qua điều tra cho thấy hiện nay ngư dân thường lắp máy thủy hoặc máy bộ cải hoán đã qua sử dụng, chất lượng còn lại chỉ khoảng 70 - 80% so với máy mới Những máy này thường có hiệu là: Hino, Daiyar, Misubishi, Isuzu, Yanmar Đặc biệt, các tàu công suất nhỏ hơn 20cv thường lắp máy do Trung Quốc sản xuất
3.1.2.4 Trang thiết bị khai thác khác
- Máy điện hàng hải: Nhóm tàu có công suất nhỏ hơn 20cv thường chỉ trang bị
máy đàm ngắn loại 1 băng và khoảng 37,12% trang bị máy định vị Các tàu công suất lớn thường trang bị khá đầy đủ các trang thiết bị hàng hải cần thiết như máy đàm ngắn, máy định vị, la bàn và một số ít tàu không trang bị bất kỳ một thiết bị máy điện hàng hải nào
- Trang thiết bị khai thác: Trang thiết bị khai thác của các tàu lưới kéo ở Hải
Phòng còn rất nhiều hạn chế, gồm: cẩu, tời thu cáp, tời thu cuốn cáp Đặc biệt, các tàu công suất nhỏ thường chỉ trang bị máy tời để thu dây cáp kéo còn các công đoạn khác thường thực hiện bằng thủ công
Trang 333.1.2.5 Ngư cụ
Thông số kỹ thuật và giá thành của các loại ngư cụ trong cùng một nghề, cùng nhóm công suất và cùng khu vực tương đối khác nhau Mức trang bị ngư cụ cho các tàu phụ thuộc vào tài chính của các chủ tàu nhiều hay ít
- Thông số kỹ thuật và giá thành của nghề lưới kéo thể hiện ở bảng 3.3
Bảng 3.3 Bảng một số thông số kỹ thuật và giá thành của vàng lưới kéo
10 - 20 PPФ14 - 16
14 - 24 PPФ16 - 18
14 - 28 PPФ16 – 20
16 - 30 PPФ16 - 24
Chiều dài giềng
chì (m)
7 - 14 PPФ16-20
13 - 24 PPФ16-20
17 - 27 PPФ16 - 22
17 - 30 PPФ18 – 24
19 - 33 PPФ20 - 26 Chiều dài lưới(m) 8 - 15 10 – 22 15 - 25 20 – 32 25 - 40 Kích thước mắt
lưới ở đụt (mm) 8 - 15 10 – 20 10 - 20 10 – 20 10 - 20 Vật liệu áo lưới PE380
D
/9, 12,15,18
PE380D/9, 12,15,21
PE380D/9, 12,15,21
PE380D/9,12,
15, 21,27
PE380D/9,12, 15,21,27,30 Gía thành
(tr.đ/miệng) 3,5 - 4,1 4,0 - 8,5 5,0 - 10,0 8,0 - 12,5 10,0 - 15,0 Qua điều tra cho thấy ngư cụ hiện nay ngư dân đang sử dụng chủ yếu chế tạo theo kinh nghiệm, các thông số kỹ thuật của lưới giữa các địa phương ở Hải Phòng có
sự khác nhau không nhiều Kích thước mắt lưới ở đụt của đội tàu lưới kéo ở ở Hải Phòng từ 10 - 20mm phần lớn đều vi phạm qui định chung về kích thước mắt lưới ở đụt (thông tư 02/2006/TT-BTS) Gía thành trung bình của một miệng lưới kéo giữa các nhóm công suất chênh lệch nhau không nhiều khoảng 4 - 6 triệu đồng/miệng
3.1.2.6 Mùa vụ, ngư trường và đối tượng khai thác
Các tàu lưới kéo ở Hải Phòng thường khai thác quanh năm, mùa chính từ tháng
1 đến tháng năm và mùa phụ từ tháng 6 đến tháng 12 Ngư trường khai thác thường có
độ sâu từ 5 – 20m Đối tượng khai thác gồm các loài cá đáy, cá nổi, mực, tôm,