Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu áp dụng hệ thống kế toán quản trị tại Công ty cổ phần Điện lực Khánh Hòa” làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn sẽ đưa ra được các thông t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
PHAN THỊ HUỆ
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG HỆ THỐNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
ĐIỆN LỰC KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
PHAN THỊ HUỆ NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG HỆ THỐNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
ĐIỆN LỰC KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ Người hướng dẫn khoa học :
PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM ANH
TS ĐỖ THỊ THANH VINH
Khánh Hòa - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào
Tác giả
PHAN THỊ HUỆ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ về mặt chuyên môn của các Thầy cô giáo khoa Kinh tế, khoa Sau Đại học – Trường Đại học Nha Trang
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Kim Anh,
người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn
Xin được trân trọng cảm ơn đến ban lãnh đạo Công ty Cổ phần Điện lực Khánh Hòa, các phòng ban, tập thể cán bộ công nhân viên và các đơn vị trực thuộc của Công
ty Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè và gia đình giúp đỡ cũng như hỗ trợ tạo điều kiện để tôi thực hiện luận văn này
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu trên
Tác giả
PHAN THỊ HUỆ
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, LƯU ĐỒ, SƠ ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
6 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài 3
7 Kết cấu của đề tài 4
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 5
1.1 Tổng quan về kế toán quản trị và tổ chức kế toán quản trị 5
1.1.1 Khái niệm, bản chất kế toán quản trị 5
1.1.2 Đối tượng, mục tiêu của kế toán quản trị 6
1.1.3 Vai trò, chức năng và nhiệm vụ của kế toán quản trị 7
1.1.3.1 Vai trò của kế toán quản trị trong quản lý Doanh nghiệp 7
1.1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của kế toán quản trị 8
1.1.4 Phân biệt kế toán quản trị với kế toán tài chính 9
1.1.4.1 Quan hệ giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính 9
1.1.4.2 Khác nhau giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính 9
1.1.5 Sự cần thiết để vận dụng kế toán quản trị tại Doanh nghiệp 11
1.1.6 Tổ chức kế toán quản trị 11
1.2 Nội dung kế toán quản trị tại các doanh nghiệp 12
Trang 61.2.1 Phân loại chi phí trong kế toán quản trị 12
1.2.2 Nội dung kế toán quản trị trong việc lập dự toán 13
1.2.2.1 Sự cần thiết lập dự toán của Doanh nghiệp 13
1.2.2.2 Cơ sở để xây dựng dự toán của Doanh nghiệp 14
1.2.2.3 Nội dung xây dựng dự toán tổng thể của Doanh nghiệp 14
1.2.3 Nội dung kế toán quản trị trong việc kiểm tra, kiểm soát, đánh giá tình hình thực hiện dự toán 16
1.2.3.1 Thiết lập các trung tâm trách nhiệm 16
1.2.3.2 Nội dung kiểm tra, kiểm soát 17
1.2.4 Nội dung kế toán quản trị trong việc cung cấp thông tin thích hợp cho ra quyết định 22
1.2.4.1 Thiết lập hệ thống báo cáo kế toán quản trị 22
1.2.4.2 Nội dụng kế toán quản trị trong việc cung cấp thông tin 22
1.2.4.3 Nội dung kế toán quản trị trong phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận 22
1.2.5 Những điều kiện để vận dụng kế toán quản trị 23
1.3 Kinh nghiệm vận dụng kế toán quản trị trong các Doanh nghiệp sản xuất của các nước trên thế giới đến áp dụng vào Việt Nam [9] 24
1.3.1 Kế toán quản trị trong Doanh nghiệp sản xuất ở Anh, Mỹ 24
1.3.2 Kế toán quản trị trong Doanh nghiệp ở các nước Châu Âu 25
1.3.3 Kế toán quản trị ở Nhật 25
1.3.4 Kế toán quản trị ở Trung Quốc 26
1.3.5 Kế toán quản trị ở một số nước khu vực Đông Nam Á 26
1.3.6 Áp dụng kinh nghiệm xây dựng kế toán quản trị vào Việt Nam 27
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐIỆN LỰC KHÁNH HÒA 29
2.1 Tổng quan về Công ty CP Điện lực Khánh Hòa 29
2.1.1 Giới thiệu 29
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 30
2.1.3 Các lĩnh vực hoạt động 31
Trang 72.1.4 Tình hình sản xuất kinh doanh 31
2.1.5 Đặc thù quản lý 33
2.1.6 Tổ chức bộ máy quản lý 33
2.2 Thực trạng tổ chức công tác kế toán 41
2.2.1 Chính sách chế độ kế toán 41
2.2.2 Bộ máy kế toán 41
2.2.3 Hệ thống chứng từ kế toán 43
2.2.4 Trình tự luân chuyển và kiểm tra chứng từ kế toán 43
2.2.5 Hệ thống tài khoản kế toán 44
2.2.6 Hệ thống sổ kế toán 45
2.2.7 Hệ thống báo cáo kế toán 45
2.2.8 Trình tự ghi sổ kế toán theo Hình thức kế toán máy 46
2.3 Thực trạng vận dụng kế toán quản trị 47
2.3.1 Phân loại chi phí 47
2.3.2 Lập kế hoạch 48
2.3.2.1 Cơ sở lập kế hoạch 49
2.3.2.2 Qui trình lập kế hoạch 49
2.3.3 Công tác kiểm tra, kiểm soát, đánh giá phân tích tình hình thực hiện kế hoạch 56
2.3.3.1 Tổ chức các trung tâm trách nhiệm 56
2.3.3.2 Hệ thống báo cáo kiểm tra, kiểm soát đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch .56
2.3.4 Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, sản lượng, lợi nhuận để ra quyết định 60
2.4 Đánh giá chung và phân tích các nguyên nhân hạn chế vận dụng kế toán quản trị .60
2.4.1 Đánh giá chung tình hình vận dụng kế toán quản trị 60
2.4.2 Các nguyên nhân khách quan và chủ quan mà Công ty chưa vận dụng được công tác kế toán quản trị 63
2.4.4.1 Nguyên nhân khách quan 63
2.4.4.2 Nguyên nhân chủ quan 63
Trang 8Kết luận Chương 2: 63
Chương 3 VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐIỆN LỰC KHÁNH HÒA 65
3.1 Sự cần thiết và yêu cầu cần tổ chức kế toán quản trị 65
3.2 Định hướng và hoàn thiện một số nội dung kế toán quản trị 66
3.2.1 Định hướng, hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh 66
3.2.1.1 Xây dựng mô hình lập kế hoạch sản xuất kinh doanh 66
3.2.1.2 Xây dựng kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh 67
3.2.1.3 Xây dựng Kế hoạch lợi nhuận SXKD 77
3.2.2 Định hướng, hoàn thiện công tác kiểm tra, kiểm soát đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch 78
3.2.2.1 Thiết lập các trung tâm trách nhiệm 78
3.2.2.2 Xây dựng các hệ số đánh giá thực hiện kế hoạch tài chính 80
3.2.2.3 Thiết lập hệ thống báo cáo phục vụ kiểm soát, đánh giá, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch 82
3.3 Phân tích mối quan hệ giữa chi phí – khối lượng – lợi nhuận để phục vụ cho việc ra quyết định 90
3.4 Tổ chức vận dụng kế toán quản trị 92
3.4.1 Xây dựng mô hình tổ chức kế toán quản trị kết hợp kế toán tài chính 92
3.4.2 Tổ chức vận dụng chứng từ và sổ sách kế toán 94
3.4.3 Tổ chức vận dụng tài khoản kế toán để tập hợp chi phí, phản ảnh Doanh thu 94 3.5 Các kiến nghị hỗ trợ thực hiện kế toán quản trị 95
3.5.1 Đối với nhà nước, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tổng Công ty Điện lực miền Trung 95
3.5.2 Đối với các tổ chức đào tạo, tư vấn về quản lý kinh tế, kế toán 95
3.5.3 Đối với Công ty Cổ phần Điện lực Khánh Hòa và các đơn vị phụ thuộc 95
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
C-V-P : Chi phí – Sản lượng – Lợi nhuận
EVNCPC : Tổng Công ty Điện lực miền Trung
KHP : Công ty cổ phần Điện lực Khánh Hòa
NVLTT : Nguyên vật liệu trực tiếp
: Hướng đi : Lưu đồ : Thao tác thủ công : Thao tác trên máy tính : Ra quyết định
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu của Công ty năm 2011, 2012, 2013 32
Bảng 2.2: Kế hoạch SXKD điện năm 2013, 2014 53
Bảng 2.3: Bảng xây dựng kế hoạch tài chính của Công ty năm 2013, 2014 54
Bảng 2.4: Kế hoạch lợi nhuận và phân phối lợi nhuận của KHP năm 2013, 2014 55
Bảng 2.5: Báo cáo tình hình thực hiện các chỉ tiêu SXKD điện năm 2013 57
Bảng 2.6: Báo cáo tình hình thực hiện các chỉ tiêu SXKD điện 6 tháng đầu năm 2014 57
Bảng 2.7: Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch tài chính năm 2013 59
Bảng 3.1: Xây dựng chỉ tiêu định mức chi phí Công ty 68
Bảng 3.2: Kế hoạch mua điện nội bộ EVNCPC năm 2014 71
Bảng 3.3: Kế hoạch khấu hao tài sản năm 2014 73
Bảng 3.4: Kế hoạch chi phí tiền lương, BHXH, BHYT, BHTN, KHCĐ năm 2014 74 Bảng 3.5: Kế hoạch tài chính SXKD điện 2014 75
Bảng 3.6: Kế hoạch tài chính SXKD khác năm 2014 77
Bảng 3.7: Kế hoạch lợi nhuận toàn Công ty năm 2014 78
Bảng 3.8: Xây dựng các chỉ tiêu hoàn thành kế hoạch lợi nhuận 81
Bảng 3.9: Xây dựng các chỉ tiêu hoàn thành nhiệm vụ 82
Bảng 3.10: Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tài chính SXKD điện 6 tháng đầu năm 2014 83
Bảng 3.11: Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch SXKD khác 6 tháng đầu năm 2014 88
Bảng 3.12: Phân tích thực hiện kế hoạch lợi nhuận 6 tháng đầu năm 2014 89
Bảng 3.13: Sản lượng và doanh thu hòa vốn kế hoạch SXKD điện năm 2014 91
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ, LƯU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Chức năng quản lý cơ bản 12
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức KHP 34
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu Phòng Tài chính Kế toán Công ty 42
Sơ đồ 2.3: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán máy 46
Lưu đồ 2.1 – Quy trình lập kế hoạch SXKD 51
Sơ đồ 3.1: Lập mô hình kế hoạch sản xuất kinh doanh 66
Sơ đồ 3.2: Tổ chức hệ thống trung tâm trách nhiệm tại Công ty 80
Sơ đồ 3.3: Tổ chức kế toán quản trị kết hợp kế toán tài chính tại Công ty 93
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tận dụng mọi cơ hội, huy động và sử dụng tối ưu các nguồn lực bên trong cũng như bên ngoài để đứng vững, chiến thắng trong cạnh tranh và không ngừng phát triển nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận Mọi doanh nghiệp luôn phải tối ưu hoá hoạt động, không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh trên cơ sở chiến lược, sách lược quản trị doanh
Để ra các quyết định nhà quản trị phải có các thông tin liên quan, một trong các thông tin quan trọng đó là các thông tin kế toán Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay nói chung và tại Công ty Cổ phần Điện lực Khánh Hòa nói riêng, kế toán quản trị còn chưa được quan tâm đúng mức Đối với Công ty Cổ phần Điện lực Khánh Hòa, kế toán quản trị chưa thực sự hoàn thiện và chưa lập kế hoạch hoàn chỉnh, chưa có các báo cáo kiểm soát tình hình thực hiện so với kế hoạch làm Công ty bị động trong việc
ra các quyết định quản lý Đặc biệt, Công ty có 8 đơn vị Điện lực, 3 Xí nghiệp và 1 Trung tâm Tư vấn Thiết kế trực thuộc Công ty nằm rải rác toàn tỉnh Khánh Hòa nên việc quản lý các đơn vị trực thuộc này còn khá lỏng lẻo, chủ yếu chú trọng kiểm tra công tác
kế toán tài chính và các quyết định quản lý đưa ra, cũng dựa trên các báo cáo tài chính của các
đơn vị gửi về Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu áp dụng hệ thống kế toán
quản trị tại Công ty cổ phần Điện lực Khánh Hòa” làm luận văn tốt nghiệp với mong
muốn sẽ đưa ra được các thông tin kế toán có độ tin cậy cao, chính xác, kịp thời, dễ hiểu, dễ
sử dụng cho nhà quản trị Công ty, quản lý tốt các đơn vị trực thuộc của mình nhằm nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường và thực hiện được các mục tiêu đề ra một cách chắc chắn
Trang 132 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về vận dụng hệ thống kế toán quản trị
- Phân tích thực trạng vận dụng kế toán quản trị tại Công ty cổ phần Điện lực Khánh Hòa và đánh giá nguyên nhân hạn chế vận dụng kế toán quản trị tại Công ty
- Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kế toán quản trị tại Công ty
cổ phần Điện lực Khánh Hòa
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề liên quan đến lý luận và thực tiễn về công tác kế toán quản trị tại Công ty cổ phần Điện lực Khánh Hòa
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đọc, nghiên cứu các quy định, quy trình
về kế toán, tài chính, kế toán quản trị áp dụng trong Công ty;
- Phương pháp so sánh: So sánh số liệu kết quả sản xuất kinh doanh các năm của Công ty để đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty; so sánh kết quả thực hiện so với kế hoạch để đánh giá việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty
- Phương pháp phân tích, đánh giá: Phân tích, đánh giá thực trạng về việc vận dụng kế toán quản trị tại Công ty nhằm đưa ra các chính sách, quyết định để quản lý Công ty đạt hiệu quả cao nhất
- Phương pháp quy nạp: Từ việc phân tích cụ thể các vấn đề tồn tại việc vận dụng kế toán quản trị của Công ty cổ phần Điện lực Khánh Hòa, ta có thể kết luận được vấn đề chính, nổi cộm ảnh hưởng tới hoạt động ra quyết định điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Về lý luận: Luận văn đã góp phần làm rõ bản chất của kế toán quản trị, khẳng định vai trò và vị trí của kế toán quản trị trong Công ty cổ phần Điện lực Khánh Hòa
Về thực tiễn: Thông qua việc lập dự toán, phân tích đánh giá, kiểm tra, giám sát
Trang 14việc lập dự toán và các thông tin chi phí để lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định kinh doanh của Công ty cổ phần Điện lực Khánh Hòa, đề tài đưa ra các giải pháp
để áp dụng cho phù hợp thực tế việc tổ chức kế toán quản trị trong Công ty, nhằm mục đích tăng cường hiệu quả quản trị Công ty
6 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Kế toán quản trị (KTQT) không còn là một vấn đề mới trong khoa học kế toán
ở nước ta Đã có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu đề cập các ứng dụng của KTQT ở các loại hình doanh nghiệp (DN) khác nhau trong môi trường kinh tế cạnh tranh Đó là các vấn đề về lập dự toán, tính giá sản phẩm - dịch vụ, kiểm soát, đo lường và đánh giá trách nhiệm bộ phận, phân tích thông tin để ra quyết định Hiện nay
có nhiều tài liệu, đề án trong và ngoài nước nghiên cứu về kế toán quản trị Điển hình
có thể kể tới các học thuyết về nội dung như:
KTQT là một tập hợp các kỹ thuật hỗ trợ các chức năng quản lý với mục tiêu tăng cường giá trị tổ chức (Chenhall, 2007; Răc và Williamson, 2007) KTQT được thúc đẩy bởi nhu cầu của quản lý chứ không phải bởi các bên liên quan.Thông qua việc sử dụng các kỹ thuật, KTQT bị ảnh hưởng bởi các tổ chức khác nhau, các yếu tố hành vi, kinh tế và xã hội Chính vì vậy các lý thuyết: Lý thuyết dự phòng, lý thuyết đại diện, lý thuyết xã hội học và lý thuyết tâm lý thường xuyên được áp dụng trong các nghiên cứu KTQT Áp dụng các lý thuyết khác nhau trong nghiên cứu KTQT cho phép các nhà nghiên cứu hiểu KTQT từ những quan điểm khác nhau, để đánh giá hiệu
quả của các kỹ thuật khác nhau của KTQT (Maleen&Michael,2009)
Trong nước có nhiều nghiên cứu liên quan vấn đề vận dụng kế toán quản trị để cung cấp thông tin hữu ích, nhanh kịp thời cho nhà quản lý như: Vận dụng kế toán quản trị tại Công ty CP Than miền Trung của Phan Thị Mai Phương; Vận dụng kế toán quản trị theo hướng tinh gọn tại Công ty TNHH QMI INDUSTRIAL Việt Nam của Lê Trương Hà Phần thứ nhất của luận văn đã trình bày hệ thống lý luận cơ bản về kế toán quản trị, vai trò kế toán quản trị trong doanh nghiệp Phần thứ hai đã đi vào phân tích
và đánh giá thực trạng công tác kế toán quản trị tại doanh nghiệp,… từ đó tìm ra nguyên nhân của các hạn chế trên Phần cuối cùng của luận văn, tác giả đã trình bày,
đề xuất những quan điểm và giải pháp vận dụng kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin để ra quyết định
Trang 15Ngoài ra còn nhiều tác giả khác với những đề tài nghiên cứu về kế toán quản trị trên những góc nhìn, khu vực, doanh nghiệp khác nhau như đề tài Vận dụng kế toán quản trị tại Đại học Đà Nẵng của Nguyễn Thị Hạnh …, và các bài viết trên các trang mạng internet
7 Kết cấu của đề tài
Về bố cục, ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm ba phần chính:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán quản trị trong các doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng công tác kế toán quản trị tại Công ty cổ phần Điện lực Khánh Hòa
Chương 3: Vận dụng kế toán quản trị tại Công ty cổ phần Điện lực Khánh Hòa
Do thời gian nghiên cứu có giới hạn nên đề tài nghiên cứu này chắc hẳn có nhiều thiếu sót và hạn chế Để đề tài được hoàn thiện hơn và có tính thực tế cao hơn, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của quý Thầy Cô
Trang 16Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan về kế toán quản trị và tổ chức kế toán quản trị
1.1.1 Khái niệm, bản chất kế toán quản trị
Việc nghiên cứu kế toán quản trị được xem từ quan điểm hệ thống thông tin kế toán trong DN Nghiên cứu các thông tin cung cấp cho việc ra quyết định trong nội bộ
DN cho phép làm rõ được chức năng, vai trò của kế toán quản trị nhằm thể hiện bản chất của kế toán quản trị trong DN Hệ thống thông tin trong DN được phân thành các phân hệ thông tin theo từng lĩnh vực, từng chức năng quản lý nhằm cung cấp thông tin trợ giúp cho quá trình ra quyết định ở mỗi lĩnh vực, mỗi bộ phận Trong mỗi DN, hệ thống thông tin thường được tổ chức thành các hệ thống con đó là: Hệ thống thông tin thị trường, hệ thống thông tin sản xuất, hệ thống thông tin tài chính, hệ thống thông tin nhân sự, hệ thống thông tin kế toán
Các hệ thống con này không hoàn toàn độc lập với nhau mà thường hổ trợ và chia sẻ thông tin với nhau và cũng chia sẻ các nguồn lực chủ yếu của hệ thống Đặc biệt các hệ thống thông tin con ở trên đều có mối quan hệ qua lại với hệ thống thông tin kế toán Các hệ thống thông tin đều phải huy động và sử dụng nhiều loại tài sản khác nhau trong quá trình hoạt động của mình Trong khi kế toán là quá trình theo dõi, thu thập, xử lý nằm cung cấp thông tin về sự biến động của toàn bộ tài sản trong DN Các hệ thống thông tin ở trên sẽ tham gia cung cấp dữ liệu đầu vào cho hệ thống thông tin kế toán Hệ thống thông tin kế toán có trách nhiệm xử lý thành các thông tin phục
vụ cho công tác quản lý Hệ thống thông tin kế toán không chỉ cung cấp hình ảnh của
DN cho bên ngoài mà còn phải sử dụng như một công cụ quản trị nội bộ Thông tin kế toán được sử dụng để thành lập các bảng báo cáo theo yêu cầu quản lý và được hình thành từ các phương pháp khác nhau Trong mọi trường hợp, phải phân biệt báo cáo bên ngoài và báo cáo nội bộ vì chỉ như vậy các thông tin mới có thể sử dụng hiệu quả Tính tất yếu trong việc quản lý công khai và bí mật của các báo cáo này nên hình thành hai loại kế toán đó là kế toán quản trị và kế toán tài chính [18]
- Kế toán tài chính là bộ phận kế toán cung cấp thông tin chủ yếu cho những người ngoài DN bao gồm chủ sở hữu, ngân hàng, nhà đầu tư, chủ nợ, khách hàng và những ai quan tâm dến DN Những người này tiếp cận thông tin qua báo cáo tài chính [18]
- Vậy kế toán quản trị là gì? KTQT là bộ phận kế toán cung cấp thông tin cho
Trang 17những nhà quản lý tại DN thông qua các báo cáo kế toán nội bộ [18]
Về định nghĩa kế toán quản trị, có nhiều nhà nghiên cứu, chuyên môn đã có khái niệm:
- Hiệp hội kế toán Mỹ định nghĩa “Là quá trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập bảng biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban quản trị để lập kế hoạch theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một DN, đảm bảo việc sử dụng hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này”
- Tại điều 4: Luật kế toán Việt Nam quy định rõ "kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán"
Tuy có những diễn đạt khác nhau Song, kế toán quản trị đều có chung các đặc trưng cơ bản sau đây:
- KTQT là công cụ hữu hiệu được sử dụng cho các nhà quản trị để quản lý DN, không phụ thuộc vào hệ thống chuẩn mực, nguyên tắc kế toán được thừa nhận
- KTQT cung cấp thông tin phục vụ cho việc điều hành quá trình SXKD một cách chi tiết, cụ thể trong nội bộ DN
- KTQT là hệ thống thông tin định lượng được sử dụng cho các nhà quản trị DN làm căn cứ quyết định phương án kinh doanh tối ưu
Ngoài các đặc trưng trên đây, kế toán quản trị còn được thể hiện rõ hơn thông qua việc phân biệt nó với kế toán tài chính cũng như thông qua nội dung, nhiệm vụ và
phương pháp kế toán quản trị
1.1.2 Đối tượng, mục tiêu của kế toán quản trị
Kế toán quản trị với mục tiêu xây dựng một hệ thống quản lý “mở” trong đó các nguyên tắt vận hành DN không quá chặt chẽ khuôn phép như đối với kế toán tài chính
Do vậy mục tiêu chính của kế toán quản trị là:
Trang 181.1.3 Vai trò, chức năng và nhiệm vụ của kế toán quản trị
1.1.3.1 Vai trò của kế toán quản trị trong quản lý Doanh nghiệp
Một là: Tổ chức thu nhận thông tin qúa khứ, phân tích và cung cấp các thông tin này phục vụ cho việc lập dự toán
Thông tin quá khứ giúp nhà quản trị DN đánh giá hiệu quả kinh doanh cuả việc thực hiện các quyết định, đánh giá trình độ tổ chức thực hiện dự toán về các chỉ tiêu trong quá trình hoạt động cuả DN Từ các sự kiện, hiện tượng kinh tế, các thông tin được KTQT thu nhận, phân tích ảnh hưởng, phân loại theo từng loại thông tin và tổng hợp để báo cáo theo yêu cầu quản lý Quá trình này giúp nhà quản trị nắm bắt được những thế mạnh cũng như những vấn đề còn tồn tại nhằm thiết lập các dự toán mới
phù hợp hơn
Hai là: Tổ chức thu nhận thông tin hiện tại
Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ở từng bộ phận cuả DN được thể hiện trên các chứng từ kế toán hợp lệ, hợp pháp là cơ sở ghi chép trên các tài khoản kế toán và báo cáo tài chính Kế toán quản trị sử dụng các phương pháp khoa học để chi tiết hóa, cụ thể hóa, tính toán, phân bổ các chi phí theo tiêu chuẩn thích hợp nhằm cung cấp những thông tin theo các yêu cầu quản lý cụ thể trên các báo cáo quản trị Từ các số liệu thực
tế thu nhận được, tiến hành so sánh giữa thực tế với dự toán để xác định mức độ thực hiện, xem xét nguyên nhân tồn tại và đưa ra biện pháp quản lý tốt hơn
Ba là: Tổ chức thu nhận thông tin tương lai
Thông tin tương lai có ý nghĩa quan trọng trong tổ chức điều hành của nhà quản trị DN Đó là những dự đoán trên cơ sở phân tích khoa học các thông tin trong quá trình hoạt động SXKD; những nhân tố ảnh hưởng cuả thị trường và cuả bản thân DN
để dự đoán những chỉ tiêu cần thiết theo yêu cầu quản trị DN
Bốn là: Xử lý, phân tích và cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu quản trị
Trên cơ sở các thông tin thu nhận được bởi hệ thống phương pháp KTQT, kế toán tiến hành xử lý, phân tích các thông tin theo yêu cầu quản lý một cách chi tiết cụ thể Đánh giá những kết quả đạt được và những vấn đề còn tồn tại, tìm nguyên nhân và kiến nghị các giải pháp quản lý
Để thực hiện tốt vai trò của mình đối với quản trị DN, kế toán quản trị cần thực hiện tốt các công việc sau đây:
- Xác định chỉ tiêu cần quản lý ở từng bộ phận của DN
- Thu nhận thông tin theo các chỉ tiêu đã lựa chọn
Trang 19- Xử lý thông tin
- Cung cấp thông tin
1.1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của kế toán quản trị
- Trong khâu lập dự toán, kế hoạch:
Lập dự toán, kế hoạch là việc xây dựng các mục tiêu và đưa ra các bước công việc, các phương pháp cụ thể để thực hiện các chỉ tiêu quản trị đã được lựa chọn
Vai trò chủ yếu của khâu này là:
+ Xác định các chỉ tiêu chủ yếu, đó là các chỉ tiêu có tính quyết định toàn bộ các chỉ tiêu thuộc hệ thống chỉ tiêu quản trị trong DN
+ Xác định căn cứ khoa học để lập dự toán, kế hoạch Trước hết là đối với các chỉ tiêu chủ yếu đã được lựa chọn
+ Căn cứ vào tiêu chuẩn, định mức kinh tế, kỹ thuật và các số liệu, tài liệu thu thập được liên quan đến chỉ tiêu dự tóan, kế hoạch để lập đối với các chỉ tiêu cụ thể
+ Tính toán các nhân tố ảnh hưởng đối với từng chỉ tiêu dự toán để đảm bảo tính khả thi của các chỉ tiêu quản trị
- Trong khâu tổ chức thực hiện:
+ Lập dự toán, kế họach mới chỉ thể hiện khả năng của DN Để khả năng biến thành hiện thực thì khâu tổ chức thực hiện đóng vai trò quan trọng Vì vậy, các nhà quản trị phải có phương pháp huy động mọi yếu tố, các nguồn nhân tài, vật lực để hoàn thành và hoàn thành xuất sắc dự toán, kế họach đã đề ra
+ Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán phù hợp để phản ánh các nghiệp vụ nội sinh + Tổ chức mở tài khoản kế toán và sổ kế toán chi tiết phù hợp với từng chỉ tiêu quản trị để thu nhận các thông tin và xử lý các thông tin theo yêu cầu quản trị
+ Cung cấp thông tin một cách chi tiết, cụ thể theo từng chỉ tiêu dự toán, kế hoạch trên cơ sở các số liệu đã được thu nhận từ các chứng từ, sổ kế toán có liên quan
và trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán theo từng chỉ tiêu quản trị
- Trong khâu kiểm tra và đánh giá:
+ Kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu quản trị là yêu cầu quan trọng đảm bảo cho các chỉ tiêu phản ánh trung thực, khách quan quá trình hoạt động của DN
+ Quá trình kiểm tra và đánh giá là quá trình so sánh, tính toán, phân tích, xác định tình hình thực hiện các dự toán, kế hoạch, đồng thời xác định các nguyên nhân chủ yếu có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình đó
Trang 20+ Để đảm bảo khâu kiểm tra, đánh giá đạt hiệu quả cao, cần phải tổ chức tốt từ khâu lập kế hoạch kiểm tra đến khâu thực hiện kiểm tra và báo cáo kết quả kiểm tra, đánh giá
+ Với chức năng của mình, kế toán quản trị phải cung cấp thông tin trung thực, khách quan phục vụ công tác kiểm tra, đánh giá
- Trong khâu ra quyết định:
+ Các thông tin do kế toán quản trị cung cấp là những thông tin thích hợp đã được xử lý, phân tích và đánh giá cụ thể phục vụ cho nhà quản trị có căn cứ đề ra các quyết định kinh doanh tối ưu
+ Các quyết định này thường bao gồm:
Quyết định phục vụ điều hành thường xuyên, định kỳ ngắn
Quyết định phục vụ công tác quản lý
Quyết định phục vụ công tác đầu tư, quản lý đầu tư ngắn hạn và dài hạn Nếu không có thông tin do KTQT cung cấp hoặc các thông tin này không đáng tin cậy thì nhà quản trị không thể có các quyết định kinh doanh tối ưu
1.1.4 Phân biệt kế toán quản trị với kế toán tài chính
1.1.4.1 Quan hệ giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính
- Cùng là công cụ quản lý quá trình SXKD của DN nhưng trên giác độ khác nhau; đều là các bộ phận của hệ thống cung cấp thông tin
- KTTC cung cấp thông tin tổng quát phục vụ cho công tác lập và phân tích báo cáo tài chính nhằm đảm bảo cho các đối tượng sử dụng thông tin (chủ yếu là các đối tượng bên ngoài DN) có căn cứ tin cậy trong việc đánh giá tình hình tài chính của DN
- KTQT sử dụng các số liệu ghi chép hàng ngày của KTTC để cụ thể hóa, xử
lý, phân tích một cách chi tiết theo yêu cầu cụ thể của việc quản lý từng chỉ tiêu, giúp nhà quản trị có căn cứ tin cậy trong việc ra các quyết định quản lý nội bộ DN
- KTQT và KTTC đều gắn với trách nhiệm quản lý trên các góc độ khác nhau KTQT liên quan đến trách nhiệm quản lý ở từng bộ phận, từng hoạt động, từng loại chi phí, thu nhập và kết quả cụ thể KTTC liên quan đến trách nhiệm quản lý chung trong toàn DN Song, chúng có sự bổ sung cho nhau cùng phục vụ công tác quản lý và phát triển DN
1.1.4.2 Khác nhau giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính
- Khác nhau về đối tượng sử dụng thông tin:
Đối tượng sử dụng thông tin kế toán quản trị là các thành viên nội bộ DN như chủ DN, hội đồng quản trị, các nhà quản lý trực tiếp còn đối tượng sử dụng thông tin
Trang 21kế toán tài chính chủ yếu là bên ngoài như các nhà đầu tư, nhà cho vay, người bán, các
cơ quan hữu trách của nhà nước
- Khác nhau về nguyên tắc trình bày và cung cấp thông tin:
Kế toán quản trị trình bày và cung cấp thông tin một cách chi tiết theo yêu cầu của nhà quản trị, không phụ thuộc vào các nguyên tắc, chuẩn mực chung của kế toán Ngược lại, kế toán tài chính trình bày và cung cấp các thông tin tổng quát và phải tuân thủ theo các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán của mỗi quốc gia, thậm chí cả các thông lệ
kế toán quốc tế đã được thừa nhận
- Khác nhau về tính pháp lý:
Kế toán quản trị phải đáp ứng yêu cầu quản lý nội bộ, phù hợp với đặc điểm và nhiệm vụ kinh doanh của từng DN, do đó việc tổ chức sử dụng tài khoản kế toán chi tiết, sổ kế toán chi tiết, phương pháp thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin phải thực hiện theo yêu cầu của nhà quản lý Ngược lại, kế toán tài chính phải đảm bảo tính pháp lý, tuân thủ chuẩn mực và hệ thống kế toán đã được nhà nước ban hành
- Khác nhau về đặc điểm của thông tin:
+ Thông tin của kế toán quản trị được trình bày và cung cấp biểu hiện cả hình thái giá trị và hiện vật còn thông tin của kế toán tài chính được trình bày và cung cấp chủ yếu dưới hình thái giá trị
+ Thông tin của kế toán quản trị về cơ bản là những thông tin vừa mang tính thực tế, vừa mang tính điều chỉnh, phục vụ cho việc lập dự toán và dự báo tương lai để các nhà quản trị có căn cứ quyết định phương án kinh doanh tối ưu Trong khi đó, thông tin kế toán tài chính là thông tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính đã xảy ra trong quá khứ và đã hoàn thành là cơ sở cho việc lập báo cáo tài chính
+ Thông tin KTQT mang tính cụ thể, tỷ mỷ, được thu nhận, xử lý trên cơ sở số liệu KTTC và các ngành khoa học khác như thống kê, phân tích kinh doanh, kế hoạch Thông tin KTQT mang tính tổng quát và được cung cấp bởi KTTC, được thu nhận bởi
hệ thống phương pháp kế toán khoa học
- Khác nhau về hệ thống báo cáo:
Báo cáo quản trị được lập theo yêu cầu quản lý cụ thể của từng DN và đi sâu vào các bộ phận, các khâu, các hoạt động kinh doanh nhằm cung cấp các chỉ tiêu chi tiết phù hợp với đặc điểm hoạt động của DN Báo cáo KTQT được lập thường xuyên, theo định kỳ ngắn Báo cáo tài chính được lập theo quy định thống nhất của hệ thống
Trang 22kế toán Nhà nước đã ban hành (thống nhất về mẫu biểu, về phương pháp và nội dung các chỉ tiêu phản ánh trong báo cáo)
1.1.5 Sự cần thiết để vận dụng kế toán quản trị tại Doanh nghiệp
Kế toán quản trị là một chuyên ngành được vận dụng rộng rãi ở các nước phát triển Xuất phát từ nhận thức về lợi ích của KTQT đối với kế hoạch phát triển kinh doanh của DN, hầu hết các quốc gia đều có kết luận chung là KTQT đóng vai trò quan trọng việc xác định chi phí, tính giá thành sản phẩm, cung cấp thông tin cho việc ra các quyết định SXKD
Đối với các DN Việt Nam từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường và thực hiện chủ trương cổ phần hóa một số DN chuyển sang hình thức cổ phần đòi hỏi mỗi
DN phải luôn phấn đấu và tìm cho mình con đường phát triển đúng đắn nhất thì mới
có thể tồn tại trên thị trường Đây là bài toán luôn làm đau đầu các nhà quản trị
Vậy chỉ có vận dụng KTQT sẽ là công cụ giúp cho các nhà quản lý có thể thực hiện giải được bài toán trên Lợi ích thiết thực của việc vận dụng KTQT đó là:
- Thiết lập các công việc cần làm theo một hệ thống và tìm ra các phương thức để thực hiện công việc một cách có hiệu quả
- Tổ chức điều hành để thực hiện kế hoạch đạt hiệu quả cao nhất hướng đến mục tiêu đã đề ra
- Tăng cường khả năng kiểm tra, kiểm soát nhằm đảm bảo công việc của tổ chức đi đúng mục tiêu
- Lựa chọn những phương án và giải pháp tối ưu dựa trên những thông tin thích hợp đã nhận được Từ đó tăng cường khả năng cạnh tranh, quyết định sự tồn tại
và phát triển của DN
1.1.6 Tổ chức kế toán quản trị
+ Sự cần thiết phải tổ chức kế toán quản trị
Xuất phát từ yêu cầu quản lý nội bộ DN theo các chỉ tiêu cụ thể ở từng bộ phận, từng khâu kinh doanh của DN
Xuất phát từ yêu cầu cung cấp thông tin phục vụ cho công tác điều hành và ra quyết định quản lý tài chính trong nội bộ DN
+ Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức kế toán quản trị
Các nhân tố khách quan như môi trường pháp lý liên quan đến tổ chức công tác
kế toán của DN, cơ chế quản lý kinh tế tài chính của nhà nước, lĩnh vực hoạt động
Trang 23kinh doanh,
Các nhân tố chủ quan như nhận thức của lãnh đạo DN, trình độ tay nghề của kế toán trưởng và những người làm kế toán trong DN
+ Nội dung tổ chức kế toán quản trị
Xác định nội dung tổ chức KTQT trong DN nhằm đảm bảo cho việc tổ chức hợp lý và khoa học, phù hợp với đặc điểm kinh doanh của từng DN Mỗi DN có đặc điểm SXKD và đặc điểm tổ chức quản lý khác nhau, do đó không có một khuôn mẫu chung cho tất cả các DN
1.2 Nội dung kế toán quản trị tại các doanh nghiệp
Bất cứ một DN nào muốn quản lý được DN mình đều phải thực hiện được các chức năng cơ bản đó là hoạch định, tổ chức, kiểm tra, đánh giá và ra quyết định Mối quan hệ giữa các chức năng thể hiện như sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Chức năng quản lý cơ bản
Hoạch định là các DN xây dựng các mục tiêu đạt được và vạch ra các bước, các phương pháp thực hiện để đạt mục tiêu đó Chức năng tổ chức trong DN bao gồm việc thiết lập cơ cấu tổ chức và truyền đạt thông tin các dự toán đến những cá nhân có trách nhiệm trong tuyến quản lý để thực hiện dự toán đó Với chức năng kiểm tra, kiểm soát
và đánh giá của quản trị KTQT cung cấp các báo cáo hoạt động xem xét giữa kế hoạch thực hiện với kế hoạch đặt ra và chỉ ra những vấn đề còn tồn tại cần giải quyết hoặc các cơ hội cần khai thác Cung cấp thông tin cho việc ra quyết định đòi hỏi nhà quản trị phải có phương pháp lựa chọn hợp lý trong nhiều phương án đặt ra
1.2.1 Phân loại chi phí trong kế toán quản trị
Chi phí là giá trị tiền tệ của các khoản hao phí bỏ ra nhằm tạo ra các loại tài sản hàng hóa dịch vụ Chi phí phát sinh thường xuyên trong quá trình hoạt động Đối với
DN sản xuất, chi phí phát sinh từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ Với DN thương mại thì chi phí phát sinh từ khâu mua hàng đến khâu tiêu thụ Để đo lường và phản ánh chi
Hoạch định
Ra quyết định
Kiểm tra
Tổ chức Đánh giá
Trang 24phí chính xác, chi phí được xem xét trên nhiều góc độ sau:
- Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động:
+ Chi phí sản xuất: Bao gồm chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SXC + Chi phí ngoài sản xuất: Bao gồm hai khoản mục chi phí đó là chi phí bán hàng và chi phí quản lý DN
- Phân loại chi phí trong mối quan hệ với lợi nhuận xác định thời kỳ:
+ Chi phí sản phẩm: Là các chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất sản phẩm, do vậy các chi phí này tạo nên giá trị sản phẩm hình thành qua giai đoạn sản xuất
+ Chi phí thời kỳ: Là các chi phí còn lại sau khi đã xác định các khoản mục chi phí thuộc chi phí sản phẩm
- Phân loại chi phí theo cách ứng xử chi phí:
+ Chi phí khả biến còn gọi là chi phí biến đổi hay biến phí: Là chi phí tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động Khi tăng mức độ hoạt động thì chi phí này tăng, khi mức
độ hoạt động giảm thì chi phí giảm, nhưng biến phí trên một đơn vị vẫn không thay đổi và khi hoạt động bằng không thì chi phí này bằng không
+ Chi phí bất biến còn gọi là định phí là khoản mục chi phí ít thay đổi hoạt không thay đổi theo mức độ hoạt động của đơn vị
+ Chi phí hỗn hợp là những khoản mục chi phí bao gồm yếu tố biến phí và định phí pha trộn lẫn nhau
- Phân loại chi phí sử dụng trong kiểm tra và ra quyết định:
+ Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được
+ Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
+ Chi phí lặn
+ Chi phí thích hợp
+ Chi phí chênh lệch
+ Chi phí cơ hội
1.2.2 Nội dung kế toán quản trị trong việc lập dự toán
1.2.2.1 Sự cần thiết lập dự toán của Doanh nghiệp
Dự toán của một DN là chức năng không thể thiếu được đối với các nhà quản lý hoạt động trong môi trường cạnh tranh ngày nay Trong KTQT dự toán là nội dung trung tâm quan trọng nhất nó thể hiện mục tiêu, nhiệm vụ toàn DN, đồng thời nó là cơ
sở để kiểm tra, kiểm soát cũng như ra quyết định trong DN Vậy dự toán là gì? Và nó
Trang 25có ý nghĩa như thế nào đối với DN?
Dự toán là quá trình tính toán chi tiết cho kỳ tới, nhằm huy động và sử dụng các nguồn lực theo các mục tiêu kế hoạch đề ra từng thời kỳ cụ thể
Do vậy dự toán phải xây dựng cho toàn DN và từng bộ phận trong DN Dự toán tổng thể thể hiện mục tiêu tất cả các bộ phận trong DN như bán hàng, sản xuất, nghiên cứu, marketing, dịch vụ khách hàng, tài chính… Kế hoạch tổng thể định lượng kỳ vọng của nhà quản lý về thu nhập, các luồng tiền và vị trí tài chính trong tương lai
1.2.2.2 Cơ sở để xây dựng dự toán của Doanh nghiệp
Dự toán được lập phù hợp với hoạt động SXKD của DN dựa trên các cơ sở sau:
- Định hướng, kế hoạch SXKD của DN trong năm kế hoạch
- Tình hình phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, khu vực trong năm kế hoạch và các năm sau đó
- Tình hình thực hiện các chỉ tiêu về tài chính năm trước
- Các chế độ, quy định, định mức tài chính do Bộ Tài chính, DN ban hành
- Quy định quản lý tài chính của DN
1.2.2.3 Nội dung xây dựng dự toán tổng thể của Doanh nghiệp
Dự toán tổng thể là tổ hợp của nhiều dự toán của mọi hoạt động của DN, có liên
hệ với nhau trong một thời kỳ nào đó Dự toán tổng thể có thể lập cho nhiều chu kỳ như tháng, quý, năm Hình thức và số lượng các dự toán thuộc dự toán tổng thể tùy thuộc vào từng loại hình DN
Dự toán tổng thể bao gồm hai phần chính: Dự toán hoạt động và dự toán tài chính Dự toán hoạt động là dự toán phản ánh mức độ thu nhập và chi phí đòi hỏi mục tiêu lợi nhuận Dự toán tài chính là dự toán phản ánh tình hình tài chính theo dự kiến
và cách thức tài trợ cần thiết cho các hoạt động đã lập dự toán Mỗi loại dự toán bao gồm nhiều dự toán bộ phận có liên quan chặt chẽ với nhau
Dự toán hoạt động bao gồm:
- Dự toán tiêu thụ: Là dự toán được lập đầu tiên và là căn cứ để xây dựng các
dự toán còn lại Tiêu thụ được đánh giá là khâu thể hiện chất lượng hoạt động của DN
Dự toán
Doanh thu =
Dự toán sản phẩm tiêu thụ × Đơn giá bán theo dự toán
- Dự toán sản xuất: Căn cứ vào dự toán tiêu thụ, lập dự toán sản xuất
- Dự toán chi phí sản xuất: Là toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến hoạt
Trang 26động SXKD của DN
- Dự toán chi phí NVLTT: Là toàn bộ chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, công cụ, … (gọi chung là chi phí vật tư) sử dụng thực tế cho hoạt động SXKD của DN Chi phí vật tư được xác đinh trên cơ sở mức tiêu hao vật tư và giá vật tư Để lập dự toán nguyên vật liệu trực tiếp cần xác định:
+ Mức tiêu hao vật tư
+ Giá vật tư: Giá vật tư dùng để hạch toán và xác định chi phí vật tư là giá thực tế bao gồm chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có vật tư ở địa điểm và trạng thái sẳn sàng sử dụng
- Dự toán chi phí NCTT: Căn cứ trên dự toán sản xuất Nhu cầu lao động trực tiếp phải được tính đúng và đủ đối với nhu cầu sản xuất Mục tiêu cơ bản của dự toán chi phí NCTT là duy trì lực lượng lao động vừa đủ để đáp ứng yêu cầu sản xuất tránh lãng phí sử dụng lao động Dự toán lao động còn là cơ sở DN lập dự toán về đào tạo, tuyển dụng trong quá trình hoạt động sản xuất
Để lập dự toán này DN phải dựa vào số lượng công nhân, quỹ lương, cách phân phối lương và nhiệm vụ của DN Khi lập dự toán chi phí NCTT DN cần xây dựng: Đơn giá tiền lương cho từng sản phẩm, dịch vụ trên cơ sở bảo đảm các khoản chi phí, các khoản nộp ngân sách và có lợi nhuận Định mức lao động để sản xuất sản phẩm, tiền công cho từng giờ lao động hoặc từng sản phẩm nếu DN trả lương cho từng sản phẩm
- Dự toán chi phí SXC: Chi phí SXC là chi phí sản xuất liên quan đến phục vụ
và quản lý hoạt động sản xuất, phát sinh trong DN, chi phí này bao gồm cả yếu tố chi phí biến đổi và chi phí cố định Do vậy khi xây dựng dự toán phải dựa trên hai yếu tố biến phí và định phí SXC, căn cứ trên đơn giá phân bổ kế hoạch chi phí SXC và mức hoạt động kế hoạch
Dự toán chi phí SXC = Dự toán định phí SXC + Dự toán biến phí SXC
- Dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý DN: Bao gồm những khoản chi phí ước tính sẽ phát sinh trong kỳ dự toán ở khâu bán hàng và quản lý DN
Dự toán chi phí bán
Dự toán định phí bán hàng +
Dự toán biến phí bán
hàng
Trang 27Dự toán chi phí QLDN = Dự toán định phí
Dự toán biến phí QLDN
- Dự toán tài chính bao gồm:
+ Dự toán tiền mặt: Là bản dự toán chi tiết các dòng thu và dòng chi trong mối quan hệ doanh thu và khoản mục vốn
+ Dự toán báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trình bày các khoản doanh thu và chi phí dự kiến trong kỳ dự toán
+ Dự toán báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Cung cấp các thông tin các nguồn tạo ra tiền và nguồn sử dụng tiền dự kiến của hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính trong kỳ dự toán
+ Dự toán bảng cân đối kế toán: Trình bày các số dư cuối kỳ của tài sản, công
Trọng tâm của nội dung này là chuyển việc lập dự toán sang việc kiểm tra đánh giá các kết quả thực tế trong mối quan hệ với kết quả kế hoạch hoặc dự toán đã xây dựng thông qua việc lập và sử dụng các báo cáo kế toán nội bộ Các báo cáo phải đảm bảo phục vụ tốt cho quản lý đơn vị theo mức độ phân cấp nhằm sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguồn lực, đem lại hiệu quả cao nhất
Nhiệm vụ kiểm tra phải đo được độ chênh lệch giữa giá trị dự toán và giá trị thực hiện Mục tiêu của kiểm tra trả lời được các câu hỏi sau:
- Mục tiêu của đơn vị hoạt động đã được chưa?
- Các phương tiện dự toán để đạt được mục tiêu này đã thực hiện chưa?
- Các chuẩn mực đề ra có phù hợp với đặc điểm của đơn vị không?
- Dự toán có thực hiện được không?
1.2.3.1 Thiết lập các trung tâm trách nhiệm
Trung tâm trách nhiệm là một bộ phận (phân xưởng, dây chuyền sản xuất, một phòng ban, một Công ty hoặc toàn bộ Công ty) trong một tổ chức mà người quản lý của bộ phận đó có quyền điều hành và có trách nhiệm đối với số chi phí, thu nhập phát
Trang 28sinh hoặc số vốn đầu tư sử dụng vào hoạt động kinh doanh Tùy thuộc vào mức độ phân cấp quản lý và trách nhiệm quản lý đối với chi phí phát sinh ở đơn vị trở thành trung tâm chi phí hoặc có trách nhiệm quản lý kết quả SXKD thì đơn vị trở thành trung tâm lợi nhuận, tại trung tâm mà nhà quản lý ngoài việc phải chịu trách nhiệm với chi phí, doanh thu, lợi nhuận trung tâm phải chịu trách nhiệm với vốn đầu tư và khả năng huy động các nguồn tài trợ ở đó là trung tâm đầu tư
1.2.3.2 Nội dung kiểm tra, kiểm soát
Để thực hiện nội dung này, nội dung của kiểm tra quản trị bao gồm kiểm soát doanh thu tiêu thụ, kiểm soát tất cả các chi phí sản xuất, kiểm soát lợi nhuận của DN
Thực hiện tốt việc kiểm tra này, ta cần xem xét các ảnh hưởng của nhân tố lượng và nhân tố giá là các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến kiểm soát doanh thu và chi phí của DN, ảnh hưởng đến kết quả thực hiện dự toán
Sau khi lập dự toán SXKD, định kỳ nhân viên KTQT phải đánh giá kết quả thực hiện so với dự toán, để kịp thời phát hiện những hoạt động không đúng như dự toán xác định nguyên nhân nhằm kiến nghị cho quản lý biện pháp điều chỉnh thích hợp Quá trình phân tích biến động chính là quá trình cung cấp thông tin phản hồi nhằm giúp quản lý kiểm soát hoạt động kinh doanh, kịp thời chấn chỉnh những hoạt động chưa tốt, kịp thời điều chỉnh những tiêu chuẩn xa rời thực tế
a Kiểm soát doanh thu:
- Khi kiểm soát doanh thu cần phải tách biệt các khoản chênh lệch giữa doanh thu thực hiện với doanh thu dự toán thành ảnh hưởng của hai nhân tố:
- Ảnh hưởng của sự thay đổi sản lượng tiêu thụ
- Ảnh hưởng của sự khác nhau của giá bán sản phẩm
Biến động
doanh thu =
Ảnh hưởng về lượng đến biến động doanh thu +
Ảnh hưởng về giá đến biến động doanh thu
-
Số lượng sản phẩm tiêu thụ dự toán
×
Đơn giá bán sản phẩm theo dự toán
Ảnh hưởng về lượng âm là biểu hiện không tốt, có thể nhiều nguyên nhân như
Trang 29DN không bán được sản phẩm hoặc thị trường DN đã bắt đầu giảm Ngược lại, nếu ảnh hưởng về lượng dương chứng tỏ DN có số lượng sản phẩm bán vượt trên dự toán Ảnh hưởng có thể có nhiều nguyên nhân nên khi kiểm tra cần động viên, cổ động cho
Tương tự như ảnh hưởng về lượng, khi kiểm tra biến động về giá cũng cần phải nghiên cứu cụ thể nhằm xác định chính xác các nguyên nhân để có những giải pháp khắc phục
b Kiểm soát chi phí sản xuất:
Kiểm soát Chi phí NVLTT: chi phí NVLTT bao gồm chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, công cụ… hao phí trong quá trình sản xuất Biến động chi phí NVLTT
có thể kiểm soát gắn liền với nhân tố giá và lượng có liên quan
Biến động giá: Là chênh lệch giá nguyên vật liệu trực tiếp thực tế với giá nguyên vật liệu trực tiếp theo dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Nếu tính trên một đơn vị sản phẩm thì nó phản ánh giá cả của một đơn vị nguyên vật liệu
để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm đã thay đổi như thế nào so với dự toán
Ảnh hưởng về giá đến
biến động NVLTT =
Đơn giá NVLTT thực
tế
-
Đơn giá NVLTT
Biến động về lượng: Là chênh lệch giữa nguyên vật liệu thực tế với nguyên vật liệu trực tiếp theo dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Biến động về lượng phản ánh tiêu hao vật chất thay đổi như thế nào và ảnh hưởng đến tổng chi phí
Trang 30NVLTT ra sao Biến động về lượng xác định:
×
Đơn giá NVLTT
dự toán
Nếu biến động về lượng kết quả là dương thể hiện lượng vật liệu thực tế sử dụng thực tế nhiều hơn so với dự toán, còn nếu kết quả là âm thể hiện lượng vật liệu sử dụng tiết kiệm so với dự toán Nhân tố lượng sử dụng thường do nhiều nguyên nhân, gắn liền trách nhiệm với bộ phận sử dụng vật liệu (phân xưởng, tổ đội) Đó có thể là
do khâu tổ chức sản xuất, mức độ hiện đại của công nghệ, trình độ công nhân trong sản xuất… Ngay cả chất lượng nguyên vật liệu mua vào không tốt cũng dẫn đến phế liệu hoặc sản phẩm hỏng nhiều làm cho lượng tiêu hao nhiều Khi tìm hiểu nguyên nhân biến động về lượng cũng cần xem đến các nguyên nhân khách quan, như thiên tai, hỏa hoạn, mất điện
c Kiểm soát chi phí NCTT
Chi phí NCTT bao gồm chi phí lương và các khoản trích theo lương tính vào chi phí, như KPCĐ, BHXH, BHYT, BHTN của công nhân trực tiếp trong quá trình sản xuất Biến động của chi phí nhân công gắn liền với các nhân tố lượng và giá liên quan
Biến động giá: Là chênh lệch giá giờ công lao động trực tiếp thực tế với dự toán
để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Nhân tố này phản ánh sự thay đổi về giá của giờ công lao động để sản xuất sản phẩm ảnh hưởng đến chí phí NCTT
Ảnh hưởng về
giá đến biến động
giá công nhân =
Đơn giá nhân công trực tiếp thực tế
Biến động do giá thường do các nguyên nhân gắn liền với việc trả công lao động như chế độ tiền lương, tình hình thị trường cung cầu lao động, chính sách của nhà nước…Nếu biến động giá công nhân dương (âm) thể hiện sự lãng phí hoặc tiết kiệm chí phí NCTT, thì việc kiểm soát chi phí NCTT còn cho phép ta làm rõ bộ phận chịu trách nhiệm Nhân tố tăng hay giảm đều được đánh giá là tốt hay không tốt phải căn cứ vào chất lượng công nhân tức trình độ năng lực làm việc của công nhân Nếu giá giảm so với dự toán nhưng chất lượng vẫn đảm bảo thì sự biến động đó là tốt và ngược lại
Trang 31Biến động lượng: Là chênh lệch giữa số giờ lao động trực tiếp thực tế với dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Nhân tố này phản ánh sự thay đổi về số giờ công để sản xuất sản phẩm ảnh hưởng đến chi phí NCTT hay gọi là nhân tố năng suất thể hiện như sau:
Ảnh hưởng của thời
gian lao động đến biến
Ảnh hưởng của nhân tố thời gian lao động do nhiều nguyên nhân có thể là trình
độ và năng lực của người lao động thay đổi, do điều kiện trang bị máy móc thiết bị, chính sách lương của DN Biến động do nhiều nguyên nhân khác nhau tác động đến chi phí sản xuất có thể do quá trình sản xuất của DN hoặc vì biến động của các yếu tố ngoài DN Việc phân tích biến động chi phí sản xuất theo các khoản mục và theo nhân
tố giá, nhân tố lượng giúp nhà quản lý phát hiện, xem xét các yếu tố đã gây ra biến động nhằm đưa ra biện pháp đúng đắn và kịp thời để chấn chỉnh hoặc phát huy các nhân tố đó theo hướng có lợi nhất cho DN
d Kiểm soát chi phí SXC:
Chi phí SXC biến động là do sự biến động biến phí SXC và biến động của định phí SXC:
e Kiểm soát biến động biến phí chung:
Biến phí SXC bao gồm những chi phí gián tiếp liên quan đến phục vụ và quản
lý hoạt động sản xuất Chi phí này thường thay đổi theo sự biến thiên của mức độ hoạt động sản xuất của DN Biến động của biến phí SXC do nhiều nguyên nhân, nhưng về phương pháp phân tích trong kiểm tra, nó cũng được phân tích thành ảnh hưởng nhân
tố giá và nhân tố lượng như đối với chi phí NVLTT và CHI PHÍ NCTT
Nếu biến động giá là dương ảnh hưởng không tốt, do vậy phải kiểm tra các bộ phận liên quan như bộ phận thu mua, cung ứng…và nếu biến động giá âm thể hiện mức độ tiết kiệm trong công tác quản lý và giảm giá thành tại DN
Trang 32Biến động lượng đến
biến phí SXC =
Mức độ hoạt động thực tế -
Mức độ họat động
dự toán
×
Đơn giá biến phí SXC dự toán
Nếu biến động lượng dương thể hiện mức độ lãng phí, ngược lại thì thể hiện mức độ tiết kiệm trong việc sử dụng các nguồn lực phục vụ quá trình sản xuất
f Kiểm soát định phí SXC:
Định phí SXC là các khoản phục vụ và quản lý sản xuất, thường không thay đổi theo sự biến thiên của mức độ hoạt động trong phạm vi phù hợp Chẳng hạn như tiền lương của bộ phận quản lý phân xưởng trả theo thời gian, chi phí bảo hiểm, tiền thuê mặt bằng, khấu hao tài sản cố định…là những chi phí không thay đổi theo quy mô sản xuất trong phạm vi hoạt động
Biến động định phí SXC là chênh lệch giữa định phí SXC thực tế và SXC dự toán Khi phân tích định phí SXC cần xem xét định phí tùy ý, định phí bắt buộc cũng như định phí kiểm soát được với định phí không kiểm soát được để xác định nguyên nhân, trách nhiệm cụ thể của các bộ phận
Việc sử dụng kém năng lực hiệu quả sản xuất khi DN sản xuất thấp hơn dự toán hoặc thấp hơn năng lực bình thường dẫn đến biến động không tốt Ngược lại, việc sử dụng hiệu quả năng lực sản xuất khi DN sản xuất vượt trội mức sản xuất dự toán (các điều kiện khác không thay đổi)
g Kiểm soát chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp
Tương tự như kiểm soát chi phí SXC, khi kiểm soát hai loại chi phí này cũng phải phân thành định phí và biến phí
Đối với biến phí bán hàng và biến phí quản lý DN:
Để công tác kiểm soát thực sự có ý nghĩa thì việc kiểm soát lại chi phí này cần tiến hành theo từng khoản mục cụ thể, theo từng nơi phát sinh chi phí Đối với biến phí bán hàng và biến phí quản lý DN cũng được phân tích thành nhân tố giá và nhân tố lượng như các chi phí khác
Đối với định phí bán hàng và định phí quản lý DN:
Kiểm soát định phí bán hàng và định phí quản lý DN nhằm đánh giá năng lực
sử dụng tài sản cố định và năng lực quản lý trong quá trình bán hàng và hoạt động quản lý nói chung Kỹ thuật phân tích định phí bán hàng và định phí quản lý DN cũng tương tự như kỹ thuật áp dụng đối với định phí SXC
Trang 33h Kiểm soát lợi nhuận
Kiểm soát doanh thu, chi phí là cơ sở để kiểm soát lợi nhuận trong DN Tùy theo thực tiễn về phân cấp quản lý ở từng DN mà báo cáo kiểm soát được thiết kế theo nhiều tầng, qua đó làm rõ trách nhiệm của từng người quản lý trong phạm vi công việc được giao Người quản lý thông qua các báo cáo đó để định hướng, tập trung nỗ lực để nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ phận mình quản lý
1.2.4 Nội dung kế toán quản trị trong việc cung cấp thông tin thích hợp cho ra quyết định
1.2.4.1 Thiết lập hệ thống báo cáo kế toán quản trị
Để phục vụ công tác quản trị trong Công ty có hiệu quả, việc thiết lập các báo cáo quản trị là hết sức cần thiết
Xuất phát từ đặc thù hoạt động của Công ty kinh doanh điện năng nên các báo cáo quản trị có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức như: Báo cáo kế hoạch lợi nhuận SXKD điện; kế hoạch tài chính kinh doanh điện, sản xuất khác; kế hoạch điện thương phẩm và giá bán điện; báo cáo so sánh kế hoạch và kết quả thực hiện, phân tích nguyên nhân chênh lệch, báo cáo hiệu quả thực hiện và đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả SXKD của Công ty
1.2.4.2 Nội dụng kế toán quản trị trong việc cung cấp thông tin
Việc ra quyết định là một trong các chức năng cơ bản của nhà quản lý, nhà quản
lý nào có được thông tin nhanh và khoa học thì sẽ chiếm được lợi thế
Sau khi đã xử lý và phân tích, tổng hợp các thông tin liên quan đến các chỉ tiêu quản lý, KTQT phải đảm bảo cung cấp thông tin cho nhà quản lý theo từng tình huống
cụ thể, nhận xét, đánh giá nguyên nhân và trình bày kiến nghị cho từng phương án giúp nhà quản lý có cơ sở tin cậy cho việc ra các quyết định kinh tế
Việc quyết định phương án tối ưu thuộc thẩm quyền của người lãnh đạo cao nhất trong DN Tuy nhiên, họ phải tham khảo các ý kiến khác nhau đã được trình bày trong báo cáo KTQT và các tờ trình phương án kinh doanh của các bộ phận quản lý, tư vấn Công ty Vì vậy, lựa chọn phương án đúng hay sai phụ thuộc nhiều vào quá trình thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin của KTQT
1.2.4.3 Nội dung kế toán quản trị trong phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận
Trang 34Phân tích mối quan hệ giữa chi phí - khối lượng - lợi nhuận (C-V-P) là xem xét mối quan hệ nội tại của các nhân tố: giá bán, sản lượng tiêu thụ, chi phí khả biến và chi phí bất biến và kết cấu sản phẩm, đồng thời xem xét sự ảnh hưởng của các nhân tố đó tới lợi nhuận của Công ty, là cơ sở đưa ra các quyết định như: thay đổi mức sản lượng tiêu thụ để đạt mức lãi như mong muốn, giảm tổn thất, tiết kiệm chi phí …
Nội dung phân tích C-V-P gồm:
- Phân tích điểm hòa vốn
- Phân tích mức sản lượng cần thiết để đạt mức lợi nhuận mong muốn
- Xác định giá bán sản phẩm với mức sản lượng, chi phí và lợi nhuận mong muốn
- Phân tích ảnh hưởng của giá bán đối với lợi nhuận theo các thay đổi dự tính
dư đảm phí trước hết dùng để trang trải định phí phần còn lại là lợi nhuận thuần của
DN Nó thể hiện phần đóng góp của bộ phận sản phẩm tạo nên lợi nhuận Bộ phận nào
có số dư đảm phí lớn sẽ có khả năng đóng góp nhiều hơn vào việc gia tăng lợi nhuận
- Tỉ số dư đảm phí: là chỉ tiêu biểu hiện mối quan hệ bằng số tương đối quan
hệ tỷ lệ số dư đảm phí với doanh thu hoặc giữa phần đóng góp với đơn giá bán Khi đạt mức sản lượng trên điểm hòa vốn, doanh thu tăng lên, lợi nhuận sẽ tăng lên một mức bằng tỷ lệ số dư đảm phí với doanh thu
1.2.5 Những điều kiện để vận dụng kế toán quản trị
Kế toán quản trị được hình thành song song với KTTC nhằm cung cấp thông tin một cách đầy đủ cho nhà quản lý Để sử dụng hiệu quả công cụ này, DN cần chú ý một
Trang 35lượng sản phẩm, dịch vụ Điều này không những giúp DN chuẩn hoá hoạt động mà còn là cơ sở để cung cấp nguồn số liệu chính xác cho KTQT trong quá trình lập báo cáo Chính sự thống nhất về bản chất số liệu sẽ giúp việc so sánh các chỉ tiêu hiệu quả hơn
Cần xây dựng một đội ngũ nhân sự làm công tác kế toán không những có chuyên môn nghiệp vụ mà còn có sự hiểu biết về hoạt động SXKD của DN, từ đó mới
có thể đưa ra các phân tích, đánh giá chính xác trên cơ sở số liệu thu thập được
Báo cáo của KTQT đựơc sử dụng kết hợp với các báo cáo khác của DN như báo cáo tài chính, báo cáo về thị trường, đối thủ cạnh tranh, công nghệ sản xuất… để
có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố đang tác động đến hoạt động của DN
Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc xử lý số liệu Hiện nhiều DN vẫn chưa
sử dụng một hệ thống phần mềm quản trị thống nhất, mà chỉ mới áp dụng phần mềm
kế toán, nên việc lấy số liệu chỉ dừng ở việc tận dụng nguồn thông tin từ KTTC, trong khi chưa có sự liên kết giữa các bộ phận khác nhau Đây là một nguyên nhân khiến quá trình lấy số liệu bị sai sót và không kịp thời
1.3 Kinh nghiệm vận dụng kế toán quản trị trong các Doanh nghiệp sản xuất của các nước trên thế giới đến áp dụng vào Việt Nam [9]
Kế toán quản trị đã hình thành, phát triển vô cùng nhanh chóng về lý luận, thực tiễn trong các DN trên thế giới Quá trình đó vừa tạo nên những điểm chung và khuynh hướng riêng của mỗi DN và ở từng nước
1.3.1 Kế toán quản trị trong Doanh nghiệp sản xuất ở Anh, Mỹ
Kế toán quản trị trong DN sản xuất ở Anh, Mỹ là nền KTQT tiên phong trên thế giới với khuynh hướng cung cấp thông tin hữu ích, thiết lập các quyết định quản lý bằng những mô hình, kỹ thuật định lượng thông tin
Nền kinh tế thị trường đã xuất hiện từ lâu ở Anh, Mỹ nên KTQT cũng xuất hiện rất lâu trong DN sản xuất có quy mô nhỏ dưới hình thức kế toán chi phí; sau đó, để đáp ứng nhu cầu thông tin quản lý, sự chuyển biến DN sản xuất, KTQT tiếp tục phát triển với những nội dung khác nhau
Với sự đề cao vai trò cá nhân, vai trò của những nhà quản lý cao cấp, KTQT được xem như một công cụ bổ khuyết thông tin quản lý nên KTQT trong DN sản xuất
ở Anh, Mỹ được thiết kế tập trung vào chủ đề phân tích thông tin phục vụ cho các quyết định quản lý, đề cao tính hữu ích của thông tin cho các quyết định quản lý hơn là xác lập một hệ thống thông tin toàn diện cho yêu cầu quản lý
Do đó, KTQT nổi lên hàng đầu với các mô hình, phương pháp kỹ thuật định
Trang 36lượng thông tin Đồng thời, ở những nước này, KTQT là công việc riêng của DN nên Nhà nước không can thiệp sâu vào chuyên môn, nghiệp vụ
Những năm gần đây, mặc dù vẫn duy trì khuynh hướng đặc trưng như trước nhưng KTQT trong DN ở Anh, Mỹ đã xuất hiện một vài thay đổi về cấu trúc thông tin, nâng cao tính định tính của thông tin, tính kiểm soát để bổ sung cho những thiếu sót, lạc hậu, không hữu hiệu so với thế giới Trong suốt quá trình đó, KTQT luôn được nhận thức là một bộ phận chuyên môn; tuy nhiên, tổ chức vận hành KTQT có những chuyển biến khác nhau Từ một bộ phận thuộc kế toán đến bộ phận thuộc Ban giám đốc
1.3.2 Kế toán quản trị trong Doanh nghiệp ở các nước Châu Âu
Kế toán quản trị trong DN sản xuất ở các nước châu Âu như Pháp, Đức, Tây Ban Nha có đặc trưng gắn kết chặt chẽ với KTQT, đề cao thông tin kiểm soát nội bộ
và có sự ảnh hưởng đáng kể của Nhà nước
Nền kinh tế thị trường đã xuất hiện khá lâu ở những nước Đông Âu nhưng KTQT trong DN hình thành, phát triển chậm hơn KTQT trong DN sản xuất ở các nước Anh, Mỹ
Những năm gần đây, KTQT ở những nước này bắt đầu bắt nhịp phát triển với KTQT của Anh, Mỹ, Nhật, cập nhật một số nội dung mới như: đưa ra bằng chứng giúp nhà quản lý tìm được phương thức tốt nhất khai thác tiềm năng kinh tế phát triển DN trong tương lai, nhận định tình hình tiến hành ở các trung tâm trách nhiệm quản lý để
dự báo, điều chỉnh hành động phù hợp với kế hoạch, giám sát tình hình hiện tại và tương lai của những nhà quản lý ở từng bộ phận nhằm đảm bảo chiến lược, kế hoạch,
và khai thác tốt nhất năng lực các nhà quản lý, tiềm năng từng bộ phận trong cấu trúc
tổ chức hoạt động SXKD Với quan điểm là một công cụ cung cấp thông tin kiểm soát, KTQT ở các nước châu Âu luôn được tổ chức thành một bộ phận thuộc kế toán, do kế toán đảm trách
Kế toán quản trị ở Nhật duy trì những tiến bộ của phương pháp kỹ thuật định
Trang 37lượng thông tin theo khuynh hướng riêng tạo nên nội dung KTQT thịnh hành ngày nay chủ yếu như: xây dựng tiêu chuẩn và phân loại chi phí, thu nhập, lợi nhuận, xây dựng
hệ thống dự toán ngân sách hoạt động hằng năm, xây dựng kế toán chi phí theo phương pháp toàn bộ và trực tiếp, kế toán chi phí theo mục tiêu, kế toán chi phí theo
cơ sở hoạt động, xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá vốn đầu tư, kế toán các trung tâm trách nhiệm, xây dựng tiêu chuẩn đánh giá các bộ phận, phân tích biến động chi phí, xây dựng hệ thống điều hành và đánh giá chi phí, bảng cân đối thành quả, phân tích tính cân đối chi chí- lợi ích, phân tích báo cáo tài chính…
Xuất phát từ đề cao tính an toàn, tính tập thể, tính kiểm soát, kiểm soát định hướng hoạt động, KTQT ở Nhật có nhiều mối liên hệ với KTQT, gắn kết với hệ thống
kế toán chung, một bộ phận trong tổ chức bộ máy kế toán
1.3.4 Kế toán quản trị ở Trung Quốc
KTQT ở Trung Quốc còn non trẻ và chưa có khuynh hướng riêng gắn liền quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường
Năm 1980, KTQT xuất hiện với nội dung cơ bản như KTQT ở Anh, Mỹ những năm 1965 Sau đó, KTQT được cải tiến, nâng cao nhưng với mức độ không đồng đều, thường tập trung vào những chủ đề sau: xây dựng hệ thống dự toán ngân sách, dự toán vốn đầu tư dài hạn, nhận diện và phân tích chi phí sản xuất, bán hàng, quản lý, phân tích doanh thu, phân tích triển vọng thị trường, phân tích nợ phải thu, phân tích lợi nhuận, hệ thống khoán chi phí bộ phận, phân tích điểm hoà vốn, phân tích báo cáo tài chính
Tuy mới bước ra từ tư duy quản lý kinh tế tập trung, bao cấp; tuy nhiên, KTQT
đã nhanh chóng giữ vai trò quan trọng trong hệ thống kế toán, trong DN KTQT luôn được xem là một bộ phận chuyên môn, phân hệ của kế toán nhưng khuynh hướng, tổ chức thực hiện rất đa dạng Đây cũng chính là đặc điểm chung tổ chức KTQT trong những nước mới phát triển ở Châu Á
1.3.5 Kế toán quản trị ở một số nước khu vực Đông Nam Á
Kế toán quản trị ở một số nước khu vực Đông Nam Á còn non trẻ, manh mún,
lệ thuộc và hỗn hợp các khuynh hướng khác nhau
Các nước khu vực Đông Nam Á hầu như có nền kinh tế thị trường mới phát triển DN ở các nước này có thể chia làm hai loại: một là những DN nhỏ bé, manh mún trong nước; hai là những chi nhánh của các tập đoàn kinh tế đa quốc gia từ nước ngoài
Từ đó, hoạt động và tổ chức, quản lý hoạt động SXKD cũng đa sắc thái nên KTQT rất
đa dạng; một phần được chuyển giao, chịu ảnh hưởng từ mô hình KTQT của các Công
Trang 38ty mẹ ở nước ngoài rất hiện đại; một phần được các DN trong nước xây dựng, cập nhật theo nền tảng hoạt động quản lý của họ như khá lạc hậu và có những DN hoàn toàn không quan tâm đến KTQT Thực trạng đó dẫn đến KTQT trong DN sản xuất ở các nước khu vực Đông Nam Á tồn tại đa dạng về khuynh hướng, nội dung, trình độ
1.3.6 Áp dụng kinh nghiệm xây dựng kế toán quản trị vào Việt Nam
Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống kế toán DN phải bao gồm KTQT và KTTC Sự tồn tại hai bộ phận chuyên môn kế toán này hoàn toàn không mâu thuẫn mà tạo nên sự hỗ trợ cần thiết để đảm bảo cho chức năng phản ảnh và cung cấp thông tin
kế toán Sự cạnh tranh càng gia tăng, KTQT càng bức thiết, càng nổi bật vai trò
KTQT trên thế giới nổi lên hai khuynh hướng đặc trưng:
- Khuynh hướng cung cấp thông tin hữu ích cho quyết định quản lý ở những nước đề cao đến vai trò cá nhân và ít có sự can thiệp gián tiếp của nhà nước
- Khuynh hướng cung cấp thông tin tăng cường kiểm tra, kiểm soát nội bộ, kiểm soát định hướng ở những nước đề cao tính an toàn, tính tập thể và thường có sự can thiệp trực tiếp của nhà nước bằng luật pháp Tuy hai khuynh hướng khác nhau nhưng nhận thức, chức năng, đặc điểm, nội dung, phương pháp kỹ thuật của KTQT không khác biệt đáng kể
Ngày nay, nội dung KTQT được ứng dụng rộng rãi trong các DN nhất là ở các nước mới phát triển kinh tế thị trường, là hệ thống KTQT hỗn hợp với nhiều nội dung, trình độ khác nhau Trong đó, nổi bật nhất là những nội dung KTQT liên quan đến thiết lập thông tin để hoạch định, kiểm soát tài chính, thông tin để giảm những tổn thất nguồn lực kinh tế trong hoạt động SXKD và thông tin để sử dụng hiệu quả nguồn lực kinh tế trong quy trình tạo ra giá trị
Với các nước đề cao vai trò nhà quản lý DN, ít có sự can thiệp hoặc can thiệp gián tiếp bằng luật pháp của nhà nước vào chính sách kế toán như Anh, Mỹ, KTQT có
xu hướng được xây dựng thành bộ phận thuộc Ban giám đốc, là công cụ riêng của nhà quản lý; ngược lại, với những DN sản xuất ở các nước đề cao tính an toàn, tính tập thể,
có sự can thiệp của Nhà nước trực tiếp bằng luật pháp vào chính sách kế toán như các nước Đông Âu, Nhật, KTQT có xu hướng được xây dựng thành bộ phận kế toán, là một chuyên ngành khoa học kinh tế độc lập
KTQT có hệ thống và định hướng phát triển tốt khi định hình mô hình KTQT, nghĩa là định hình khái niệm, giả thiết, nguyên lý, phương pháp của tiến trình thiết lập
Trang 39nền tảng kế toán, từ đó quyết định ghi chép, tính toán, báo cáo một thực thể hoạt động Xây dựng KTQT là công việc riêng của mỗi DN, được quyết định bởi chính DN
và Nhà nước chỉ đóng vai trò hỗ trợ cho DN
Thực tiễn KTQT một số nước trên thế giới phản ánh những nguyên tắc chung cần tuân thủ và đặc thù riêng cần được xem xét lựa chọn thích hợp khi xây dựng KTQT
Kết luận chương 1:
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt hiện nay, các DN không ngừng thay đổi cách quản lý của mình để DN có thể đứng vững trên thị trường Để đáp ứng tốt yêu cầu trên, các DN phải vận dụng KTQT tại DN của mình Chính vì vậy KTQT
sẽ là công cụ giúp cho các nhà quản trị có những quyết định quản lý đúng đắn nhất
Ở chương này, tác giả đã nêu lên những khái niệm, bản chất KTQT, vai trò và chức năng của KTQT Tác giả đã nêu lên sự cần thiết của KTQT, nêu rõ các nội dung của KTQT như phân loại chi phí, lập dự toán, kiểm tra, kiểm soát đánh giá tình hình thực hiện dự toán, ứng dụng phân tích mối quan hệ C-V-P để ra các quyết định quản lý
có thể vận dụng vào DN, từ các kinh nghiệm vận dụng KTQT của các DN sản xuất trên thế giới đến áp dụng vào Việt Nam là cơ sở cho việc xem xét thực trạng của KHP
ở chương 2
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN ĐIỆN LỰC KHÁNH HÒA
2.1 Tổng quan về Công ty CP Điện lực Khánh Hòa
2.1.1 Giới thiệu
Tên gọi: Công ty Cổ phần Điện lực Khánh Hòa
Tên giao dịch quốc tế: Khanh Hoa Power Joint Stock Company
Tầm nhìn, sứ mệnh, giá trị cốt lõi được KHP xác định như sau:
- Về tầm nhìn: Trở thành một Công ty hàng đầu trong lĩnh vực năng lượng tại Việt Nam và tỉnh Khánh Hòa, đóng vai trò chủ đạo trong nhiệm vụ đảm bảo an ninh năng lượng của tỉnh và quốc gia