gia vào quá trình hình thành nên sản phẩm xây dựng bao gồm: Cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng; Chủ đầu tư; các Nhà thầu, các tổ chức và cá nhân liên quan trong công tác khảo sát, thiế
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
-
KHÁNH HÒA – 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
- -
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài Luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của riêng cá nhân tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn là hoàn toàn đúng với thực
tế và chưa được ai công bố trong tất cả các công trình nào trước đây. Tất cả các trích dẫn đã được ghi rõ nguồn gốc.
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình tham gia Lớp cao học Quản trị Kinh doanh khoá năm 2012 tại Trường Đại học Nha Trang (NTU), học viên đã được học tập, nghiên cứu các môn học
về quản trị Marketing, quản trị kinh doanh quốc tế, quản trị nguồn nhân lực, quản trị tài chính, phân tích đánh giá dự án do các giảng viên Khoa Kinh tế của Trường Đại học Nha Trang (NTU) giảng dạy.
Học viên xin gửi lời cám ơn chân thành đến lãnh đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hoà; Lãnh đạo các Sở: Kế hoạch và Đầu tư, Xây dựng, Y tế, Giao thông vận tải, Ban Quản lý dự án Cải thiện Vệ sinh môi trường thành phố Nha Trang, Ban Quản
lý dự án các công trình Trọng Điểm, Ban Quản lý dự án các công trình Giao thông và Thuỷ lợi, Ban Quản lý dự án các công trình Xây dựng dân dụng đã hết lòng hỗ trợ, giúp đỡ cho học viên hoàn thành Luận văn này.
Đặc biệt, học viên xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Cô giáo TS. Nguyễn Thị Hiển
đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tận tình cho học viên trong quá trình thực hiện Luận văn.
Khánh Hoà, tháng 10 năm 2014
Tác giả
Cao Thanh Vũ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 5
1.1. Chất lượng và quản lý chất lượng 5
1.1.1. Chất lượng 5
1.1.2. Quản lý chất lượng 6
1.2. Chất lượng công trình xây dựng và quản lý chất lượng công trình xây dựng 7
1.2.1. Chất lượng công trình xây dựng 7
1.2.2. Tổng quan về quản lý chất lượng công trình xây dựng 9
1.3. Nội dung hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng 10
1.3.1. Giai đoạn khảo sát xây dựng 10
1.3.2. Giai đoạn thiết kế xây dựng công trình 11
1.3.3. Giai đoạn thi công xây dựng công trình 12
1.3.4. Giai đoạn nghiệm thu đưa vào quản lý sử dụng công trình xây dựng 15
1.4. Các tiêu chuẩn cần phải có trong quản lý chất lượng công trình xây dựng 17
1.5. Đặc điểm Quản lý chất lượng các công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách 20
1.6. Vai trò và ý nghĩa của quản lý chất lượng công trình xây dựng 20
1.6.1. Vai trò của việc quản lý chất lượng công trình xây dựng 21
1.6.2. Ý nghĩa của công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng 21
1.7. Bài học kinh nghiệm của quản lý chất lượng công trình xây dựng 25
Tóm tắt chương 1 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI TỈNH KHÁNH HÒA 28
2.1. Đặc điểm tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa 28
2.2. Thực trạng công tác đầu tư xây dựng và quản lý chất lượng các công trình xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách tại tỉnh Khánh Hòa 29
Trang 62.2.1. Công tác đầu tư xây dựng công trình sử dụng nguồn vốn ngân sách tại tỉnh
Khánh Hòa 29
2.2.2. Tổ chức bộ máy quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Khánh Hòa 39
2.2.3. Quản lý chất lượng các công trình xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Khánh Hòa 43
2.2.4. Kết quả khảo sát công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách tại tỉnh Khánh Hòa 64
2.3. Đánh giá chung về công tác quản lý chất lượng các công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Khánh Hòa 70
2.3.1. Kết quả đạt được 70
2.3.2. Hạn chế nguyên nhân 71
Tóm tắt chương 2 71
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỤNG SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI TỈNH KHÁNH HÒA 72
3.1. Rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn quy phạm pháp luật nhằm tăng cường công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Khánh Hòa 72
3.1.1. Căn cứ của giải pháp 72
3.1.2. Nội dung của giải pháp 72
3.1.3. Hiệu quả do giải pháp mang lại 73
3.2. Cải thiện các yếu tố liên quan đến kết quả khảo sát về công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Khánh Hòa 74
3.2.1. Căn cứ của giải pháp 74
3.2.2. Nội dung của giải pháp 74
3.2.3. Hiệu quả do giải pháp mang lại 77
3.3. Hoàn thiện quá trình quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng tại tỉnh Khánh Hòa 78
3.3.1. Căn cứ của giải pháp 78
3.3.2. Nội dung của giải pháp 78
3.3.3. Hiệu quả do giải pháp mang lại 79
3.4. Hoàn thiện quá trình quản lý của chủ đầu tư về công tác quản lý chất lượng các công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Khánh Hòa 79
Trang 73.4.1. Căn cứ của giải pháp 79
3.4.2. Nội dung của giải pháp 80
3.4.3. Hiệu quả do giải pháp mang lại 81
3.5. Hoàn thiện quá trình quản lý của các Nhà thầu về công tác quản lý chất lượng các công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Khánh Hòa 81
3.5.1. Căn cứ của giải pháp 81
3.5.2. Nội dung của giải pháp 81
3.5.3. Hiệu quả do giải pháp mang lại 83
3.6. Hoàn thiện quá trình giám sát, phản biện xã hội về công tác quản lý chất lượng các công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Khánh Hòa 83
3.6.1. Căn cứ của giải pháp 83
3.6.2. Nội dung của giải pháp 83
3.6.3. Hiệu quả do giải pháp mang lại 84
3.7. Kiến nghị 84
Tóm tắt chương 3 85
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC
Trang 8
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch vốn đầu tư phát triển 5 năm 2009 - 2013 33 Bảng 2.2: Thống kê số liệu giảm chi trong kiểm soát vốn đầu tư xây dựng cơ bản qua kho bạc nhà nước từ 2009 -2013 34 Bảng 2.3: Phân tích nguyên nhân giảm chi trong kiểm soát chi vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Khánh Hòa, năm 2009 -2013 34 Bảng 2.4: Thống kê số liệu giảm chi trong kiểm soát vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Khánh Hòa qua kho bạc nhà nước, năm 2009 -2013 theo lĩnh vực 35 Bảng 2.5: Giá trị trúng thầu một số dự án so với giá gói thầu được duyệt 53 Bảng 2.6: Danh mục các công trình có nhu cầu bảo trì tại Khánh Hòa năm 2014 62 Bảng 2.7: Thống kê mô tả kết quả khảo sát công tác quản lý chất lượng công trình xây
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Quản lý chất lượng sản phẩm 7
Sơ đồ 1.2: Quản lý chất lượng công trình xây dựng 10
Sơ đồ 1.3: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng tại Việt Nam 24
Sơ đồ 1.4: Tạo ra sản phẩm xây dựng tại Việt Nam 24
Trang 10
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực tế chứng minh rằng, sự phát triển của nhiều quốc gia đã cho thấy không một nền kinh tế nào có thể phát triển toàn diện khi không có một nền tảng cơ sở hạ tầng vững chắc. Bên cạnh đó cũng không ai phủ nhận đầu tư xây dựng cơ bản là tác nhân chính quyết định đến chất lượng của hệ thống cơ sở hạ tầng cho một nền kinh tế. Chính bởi lý do đó mà việc nghiên cứu và phân tích công tác thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản nhằm đề ra giải pháp nâng cao chất lượng công trình xây dựng và kết quả đầu tư luôn là vấn đề đáng được quan tâm đối với mọi quốc gia.
Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chất lượng các công trình xây dựng, cần tăng cường kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước đối với chủ thể tham gia hoạt động xây dựng, quy trình, quy phạm trong thiết kế, thi công xây dựng
và nghiệm thu. Phân cấp, uỷ quyền, giao quyền và trách nhiệm đầy đủ, cụ thể, rõ ràng cho các cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng từ cấp trung ương đến địa phương. Làm rõ trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng trong công tác quản lý dự án, quản lý chất lượng và an toàn xây dựng. Cơ quan quản
lý nhà nước không thể làm thay toàn bộ Chủ đầu tư hay các Nhà thầu để kiểm soát chất lượng công trình xây dựng. Tuy nhiên cần phải tăng cường kiểm soát chất lượng công trình thông qua hoạt động kiểm tra thường xuyên hơn nữa đối với các công trình xây dựng, chứ không chỉ kiểm tra vào các thời điểm, giai đoạn nhất định hay khi có sự cố đặc biệt hoặc dư luận lên tiếng, nhằm phát hiện, ngăn ngừa kịp thời những sự cố ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng.
Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất,
có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo hồ sơ thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm Công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, năng lượng và các loại công trình khác [8].
Công trình xây dựng là yếu tố quyết định đảm bảo công năng, an toàn công trình khi đưa vào sử dụng và hiệu quả đầu tư của dự án. Quản lý chất lượng công trình xây dựng là khâu then chốt, được thực hiện xuyên suốt trong quá trình triển khai dự án đầu tư xây dựng công trình đến khi dự án hoàn thành bàn giao và đưa vào sử dụng.
Trang 11Trên thực tế hiện nay, đã xảy ra không ít sự cố liên quan tới chất lượng công trình xây dựng mà hậu quả để lại của chúng là rất năng nề, không thể lường hết được, chẳng hạn như vụ sập vữa trần khu Trung Hòa - Nhân Chính (Hà Nội), vụ sập tường công viên Hoàng Quốc Việt (tỉnh Bắc Ninh), vụ sập cầu Cần Thơ với hàng chục người thiệt mạng và bị thương, gây thiệt hại không nhỏ cho Nhà nước và xã hội. Vì vậy, làm thế nào để nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng đang là câu hỏi mang tính cấp bách, là yêu cầu hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay.
Khánh Hòa là một đô thị trọng điểm và là trung tâm phát triển kinh tế - xã hội của khu vực Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên. Qua đó góp phần tích cực để thúc đẩy cho sự phát triển chung của các tỉnh trong khu vực và cả nước. Với nguồn thu ngân sách bình quân hàng năm trên 10.000 tỷ đồng; trong đó nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho các công trình xây dựng là rất lớn (chiếm 25 - 30% tổng đầu tư phát triển toàn
xã hội) [17]. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa có khoảng gần 1.000 doanh nghiệp có tham gia vào lĩnh vực hoạt động xây dựng, do đó công tác quản lý đầu tư xây dựng, quản
lý chất lượng trong lĩnh vực xây dựng cần phải được quan tâm giám sát chặt chẽ liên tục
và thường xuyên. Vì vậy trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc quản lý chất lượng công trình xây dựng là vấn đề quan trọng và cốt lỏi để đầu tư xây dựng công trình đạt hiệu quả cao đáp ứng nhu cầu ngày càng tốt hơn cho xã hội. Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý chất lượng các công trình xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Khánh Hòa” là cần thiết.
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Khảo sát đánh giá của chuyên gia về công tác quản lý chất lượng các công trình xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Khánh Hòa.
trình xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Khánh Hòa.
Trang 123 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý chất lượng các công trình xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Khánh Hòa.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Công tác quản lý chất lượng các công trình xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2009 -2013.
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được áp dụng trong nghiên cứu này là: thống kê, mô tả, tổng hợp, phân tích, so sánh. Bên cạnh đó, phương pháp chuyên gia được thực hiện nhằm đánh giá ưu điểm, nhược điểm của công tác quản lý chất lượng. Các chuyên gia được mời phỏng vấn bao gồm các Sở: Kế hoạch và Đầu tư, Xây dựng, Y tế, Giao thông vận tải, Ban Quản lý dự án Cải thiện vệ sinh môi trường thành phố Nha Trang, Ban Quản
lý dự án các công trình Trọng Điểm, Ban Quản lý dự án các công trình Giao thông và Thuỷ lợi, Ban Quản lý dự án các công trình Xây dựng dân dụng.
5 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
5.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Anne Landin (2010) [18] với đề tài: “Tác động của quản lý chất lượng trong quá trình xây dựng tại Thụy Điển” với mục tiêu thiết lập hệ thống kiểm soát chất lượng TQM vào quy trình xây dựng. Kết quả chỉ ra rằng không có ý nghĩa thống kê về các tác động của TQM nhưng cũng giúp cung cấp thông tin cũng như các kinh nghiệm
về các hoạt động của TQM.
công ty Third Chemical Engineering Construction Co. LTD” với mục tiêu cải thiện chất lượng sản phẩm, công việc, dịch vụ nhằm nâng cao sức cạnh tranh của công ty. 5.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nguyễn Thị Bích Ngọc (2008) [7] với đề tài ‘’Một số giải pháp về quản lý nhằm nâng cao chất lượng công trình tại công ty Tây Hồ’’ đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng cho công ty Tây Hồ: nâng cao nhận thức, trình độ và phẩm chất của cán bộ công nhân viên trong công ty; Xiết chặt công tác quản lý vật liệu xây dựng; Đầu tư có chiều sâu cho máy móc thiết bị phục vụ cho công trình; Nâng cao, bồi dưỡng trình độ cho đội ngũ cán bộ làm kế hoạch; Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng của công ty theo ISO 9000.
Trang 13Trịnh Ngọc Chuân (2002) [6] với đề tài ‘’Một số vấn đề về công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng ở xí nghiệp xây dựng số 2 thuộc công ty xây dựng 4’’ đưa ra một số giải pháp nâng cao công tác quản lý chất lượng: khuyến khích; đào tạo - huấn luyện; hợp tác nhóm; phối hợp chức năng – quản lý chéo.
6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Về mặt lý luận, nghiên cứu được thực hiện với hy vọng sẽ đóng góp một phần vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý chất lượng các công trình xây dựng (một lĩnh vực khá đặc thù trong quản lý chất lượng).
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu (giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu), kết luận và kiến
nghị, luận văn được chia thành 03 chương. Trong đó:
Chương 1: Lý thuyết về chất lượng và quản lý chất lượng công trình xây dựng. Chương này trình bày các khái niệm về chất lượng và quản lý chất lượng công trình xây dựng, nội dung, đặc điểm quản lý công trình xây dựng vốn ngân sách nhà nước, các bài học kinh nghiệm về quản lý chất lượng công trình xây dựng.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chất lượng các công trình xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Khánh Hòa. Chương này trình bày thực trạng, đánh giá chung, phân tích nguyên nhân để làm cơ sở cho giải pháp.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chất lượng các công trình xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Khánh Hòa. Chương ngày trình bày cơ sở của giải pháp, nội dung và hiệu quả do giải pháp mang lại để góp phần cải thiện công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước.
Trang 14- Nhóm yếu tố bên ngoài:
+ Ảnh hưởng của nhu cầu nền kinh tế. Ở bất cứ trình độ nào và mục đích sử dụng khác nhau, chất lượng sản phẩm luôn bị chi phối, ràng buộc bởi hoàn cảnh, điều kiện nhất định của nền kinh tế và được thể hiện ở các mặt: Nhu cầu thị trường là xuất phát điểm của quá trình quản lý chất lượng; Trình độ kinh tế, trình độ sản xuất; Chính sách kinh tế.
+ Ảnh hưởng của sự phát triển của khoa học - kỹ thuật. Xu hướng chính của việc áp dụng các tiến bộ về khoa học công nghệ hiện nay: Sáng tạo ra vật liệu mới hay vật liệu thay thế; Cải tiến hay đổi mới công nghệ; Cải tiến sản phẩm cũ và sản xuất thử nghiệm sản phẩm mới.
+ Ảnh hưởng của hiệu lực của cơ chế quản lý: có thể nói khả năng cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế quản
lý. Hiệu lực quản lý nhà nước là đòn bẩy quan trọng trong việc quản lý chất lượng sản phẩm, đảm bảo cho sự phát triển ổn định của sản xuất, đảm bảo uy tín và quyền lợi của
Trang 15nhà sản xuất và người tiêu dùng. Mặt khác, nó còn góp phần tạo tính tự chủ, độc lập, sáng tạo trong cải tiến chất lượng sản phẩm của các tổ chức, hình thành môi trường thuận lợi cho việc huy động các nguồn lực, các công nghệ mới, tiếp thu ứng dụng những phương pháp quản lý chất lượng hiện đại.
Phương pháp (methods): Phương pháp công nghệ, trình độ tổ chức quản lý và
tổ chức sản xuất của tổ chức. Với phương pháp công nghệ thích hợp, trình độ quản lý
và tổ chức sản xuất tốt sẽ tạo điều kiện cho tổ chức có thể khai thác cao nhất khả năng nguồn lực hiện có, góp phân nâng cao chất lượng sản phẩm.
Máy móc thiết bị (machines): Đó là khả năng về công nghệ, máy móc thiết bị của tổ chức. Trình độ công nghệ, máy móc thiết bị có tác động rất lớn trong việc nâng cao những tính năng kỹ thuật của sản phẩm và nâng cao năng suất lao động.
Nguyên vật liệu (materials): Vật tư, nguyên nhiên liệu và hệ thống tổ chức đảm bảo vật tư, nguyên nhiên liệu của tổ chức. Nguồn vật tư, nguyên nhiên liệu được đảm bảo những yêu cầu chất lượng và được cung cấp đúng số lượng, đúng thời hạn sẽ tạo điều kiện đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm [18].
1.1.2 Quản lý chất lượng
Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) 8402-1994 "Quản lý chất lượng là tập hợp những hoạt động chức năng quản lý chung nhằm xác định chính sách chất lượng, mục đích chất lượng và thực hiện chúng bằng những phương tiện như lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống".
Theo định nghĩa của tiêu chuẩn quốc tế (ISO): “Quản lý chất lượng là hoạt động tương tác và phối hợp lẫn nhau nhằm định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng”.
Trang 16
- Quản lý chất lượng toàn diện được định nghĩa là phương pháp quản lý của một tổ chức, định hướng vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của mọi thành viên và nhằm đem lại sự thành công dài hạn thông qua sự thỏa mãn khách hàng và lợi ích của các thành viên của đơn vị và của xã hội.
- Mục tiêu của quản lý chất lượng toàn diện là cải tiến chất lượng sản phẩm và thỏa mãn khách hàng ở mức tốt nhất cho phép [19].
1.2 Chất lượng công trình xây dựng và quản lý chất lượng công trình xây dựng 1.2.1 Chất lượng công trình xây dựng
Chất lượng công trình xây dựng không những có liên quan trực tiếp đến an toàn sinh mạng, an toàn cộng đồng, hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình, mà còn
là yếu tố quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Do có vai trò quan trọng như vậy nên luật pháp về xây dựng của các nước trên thế giới đều coi đó là mục đích hướng tới. Ở Việt Nam, Luật Xây dựng 2003 [8] được Quốc hội Khóa XI thông qua năm 2003, trong đó chất lượng công trình xây dựng cũng là nội dung trọng tâm, xuyên suốt. Luật Xây dựng 2003 và các văn bản hướng dẫn Luật về quản lý chất
Trang 171.2.1.1 Một số khái niệm liên quan
Công trình xây dựng: Là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người,
vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với nền đất, bao gồm phần trên và dưới mặt đất, phần trên và dưới mặt nước và được xây dựng theo thiết
kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng dân dụng, công trình công nghiệp, công trình giao thông, thuỷ lợi, công trình năng lượng, công trình hạ tầng kỹ thuật và các công trình khác [8].
Chất lượng công trình xây dựng: Theo quan niệm hiện đại, chất lượng công trình xây
dựng, xét từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng, chất lượng công trình xây dựng được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản như: công năng, tuân thủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, độ bền vững, tính thẩm mỹ, độ an toàn trong khai thác sử dụng, tính kinh tế và đảm bảo về thời gian phục vụ của công trình.
Theo cách nhìn rộng hơn, chất lượng công trình xây dựng được hiểu không chỉ từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng và người hưởng thụ sản phẩm xây dựng mà bao gồm cả quá trình hình thành sản phẩm xây dựng cùng với các vấn đề liên quan khác [6]. 1.2.1.2 Một số vấn đề cơ bản liên quan đến chất lượng công trình xây dựng
- Chất lượng công trình xây dựng cần được quan tâm ngay từ khi hình thành ý tưởng về xây dựng công trình, từ khâu quy hoạch, lập dự án đầu tư, đến khảo sát thiết
kế, thi công… cho đến giai đoạn khai thác, sử dụng và dỡ bỏ công trình sau khi đã hết thời hạn sử dụng. Chất lượng công trình xây dựng thể hiện ở chất lượng quy hoạch xây dựng, chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình, chất lượng khảo sát, chất lượng các
hồ sơ thiết kế bản vẽ kỹ thuật
- Chất lượng công trình tổng thể phải được hình thành từ chất lượng của nguyên vật liệu, cấu kiện, chất lượng của công việc xây dựng riêng lẻ, của các bộ phận, hạng mục công trình.
- Các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ thể hiện ở các kết quả thí nghiệm, kiểm định nguyên vật liệu, cấu kiện, máy móc thiết bị đưa vào công trình mà còn ở quá trình hình thành và thực hiện các bước công nghệ thi công, chất lượng các công việc của đội ngũ công nhân, kỹ sư, kiến trúc sư trong quá trình thực hiện các hoạt động xây dựng.
Trang 18- Tính thời gian trong xây dựng không chỉ thể hiện ở thời hạn hoàn thành toàn
bộ công trình để đưa vào khai thác sử dụng mà còn thể hiện ở việc đáp ứng theo tiến độ quy định đối với từng hạng mục công trình.
- Tính kinh tế không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình Chủ đầu tư phải chi trả, mà còn thể hiện ở góc độ đảm bảo lợi nhuận cho các Nhà đầu tư thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực xây dựng.
Ngoài ra, chất lượng công trình xây dựng cần chú ý vấn đề môi trường không chỉ từ góc độ tác động của dự án tới các yếu tố môi trường mà cả tác động theo chiều ngược lại của các yếu tố môi trường tới quá trình hình thành dự án.
Tóm lại: Chất lượng công trình xây dựng là đáp ứng các yêu cầu đặt ra trong những điều kiện nhất định. Nó thể hiện sự phù hợp về quy hoạch, đạt được độ tin cậy trong khâu thiết kế, thi công, vận hành theo tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định có tính xã hội, thẩm mỹ và hiệu quả đầu tư cao, thể hiện tính đồng bộ trong công trình, thời gian xây dựng đúng tiến độ [7].
1.2.2 Tổng quan về quản lý chất lượng công trình xây dựng
Quản lý chất lượng công trình xây dựng là tập hợp các hoạt động từ đó đề ra các yêu cầu, quy định và thực hiện các yêu cầu, quy định đó bằng các biện pháp như kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng, cải tiến chất lượng. Hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng chủ yếu là công tác giám sát và tự giám sát của Chủ đầu tư
và các chủ thể khác.
Nói cách khác: Quản lý chất lượng công trình xây dựng là tập hợp các hoạt động của cơ quan, đơn vị có chức năng quản lý thông qua kiểm tra, đảm bảo chất lượng, cải tiến chất lượng trong các giai đoạn từ chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, kết thúc đầu tư xây dựng và đưa vào khai thác, sử dụng [18].
Trang 19
Sơ đồ 1.2: Quản lý chất lượng công trình xây dựng
(Nguồn: [6]) 1.3 Nội dung hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng
Khảo sát xây dựng; Thiết kế xây dựng công trình; Thi công xây dựng công trình; Nghiệm thu đưa vào quản lý sử dụng công trình xây dựng [5].
gia vào quá trình hình thành nên sản phẩm xây dựng bao gồm: Cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng; Chủ đầu tư; các Nhà thầu, các tổ chức và cá nhân liên quan trong công tác khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, bảo hành và bảo trì, khai thác và sử dụng công trình.
1.3.1 Giai đoạn khảo sát xây dựng
1.3.1.1 Trách nhiệm của chủ đầu tư
Trang 201.3.1.2 Trách nhiệm của nhà thầu khảo sát xây dựng
- Bảo đảm an toàn cho người, thiết bị, các công trình hạ tầng kỹ thuật và các công trình xây dựng khác trong khu vực khảo sát.
- Bảo vệ môi trường, giữ gìn cảnh quan trong khu vực khảo sát; phục hồi hiện trường sau khi kết thúc khảo sát.
- Lập báo cáo kết quả khảo sát xây dựng đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ khảo sát xây dựng và hợp đồng [5].
1.3.1.3 Trách nhiệm của nhà thầu thiết kế
- Lập nhiệm vụ khảo sát xây dựng phù hợp với yêu cầu của từng bước thiết kế khi có yêu cầu của Chủ đầu tư.
- Kiểm tra sự phù hợp của số liệu khảo sát với yêu cầu của bước thiết kế, tham gia nghiệm thu báo cáo kết quả khảo sát xây dựng khi được Chủ đầu tư yêu cầu.
- Kiến nghị Chủ đầu tư thực hiện khảo sát xây dựng bổ sung khi phát hiện kết quả khảo sát không đáp ứng yêu cầu khi thực hiện thiết kế hoặc phát hiện những yếu tố khác thường ảnh hưởng đến thiết kế [3].
1.3.1.4 Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân giám sát khảo sát xây dựng
- Cử người có chuyên môn phù hợp với loại hình khảo sát để thực hiện giám sát khảo sát xây dựng theo nội dung của Hợp đồng xây dựng.
- Đề xuất bổ sung nhiệm vụ khảo sát xây dựng nếu trong quá trình giám sát khảo sát phát hiện các yếu tố khác thường ảnh hưởng trực tiếp đến giải pháp thiết kế.
- Giúp Chủ đầu tư nghiệm thu báo cáo kết quả khảo sát xây dựng [5].
1.3.2 Giai đoạn thiết kế xây dựng công trình
1.3.2.1 Trách nhiệm của Chủ đầu tư
- Tổ chức lập nhiệm vụ thiết kế xây dựng công trình trên cơ sở báo cáo đầu tư xây dựng công trình đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Lựa chọn tổ chức, cá nhân đảm bảo điều kiện năng lực để lập thiết kế và thẩm tra thiết kế xây dựng công trình khi cần thiết.
Trang 21- Kiểm tra việc tuân thủ các quy định trong hợp đồng xây dựng của nhà thầu thiết kế trong quá trình thực hiện hợp đồng.
- Kiểm tra và trình thiết kế cơ sở cho người quyết định đầu tư thẩm định, phê duyệt theo quy định của pháp luật đối với công trình sử dụng nguồn vốn Nhà nước.
- Tổ chức thẩm định, phê duyệt thiết kế - dự toán theo quy định của pháp luật
có liên quan.
- Tổ chức nghiệm thu hồ sơ thiết kế xây dựng công trình [3].
1.3.2.2 Trách nhiệm của nhà thầu thiết kế xây dựng công trình
- Bố trí đủ và cử người có đủ điều kiện năng lực kinh nghiệm và chuyên môn phù hợp để thực hiện thiết kế.
- Sử dụng kết quả khảo sát đáp ứng được yêu cầu của bước thiết kế và phù hợp với tiêu chuẩn được áp dụng cho công trình.
- Tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn được áp dụng cho công trình; lập hồ sơ thiết kế đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ thiết kế, nội dung của từng bước thiết kế, quy định của hợp đồng [5].
1.3.2.3 Tổ chức thẩm định và phê duyệt các bước thiết kế xây dựng công trình
- Chủ đầu tư tổ chức thẩm định thiết kế bản vẽ thi công đối với công trình.
- Người tổ chức thẩm định, thẩm tra và phê duyệt thiết kế phải chịu trách nhiệm
về kết quả thẩm định, thẩm tra, phê duyệt thiết kế của mình.
- Người quyết định đầu tư phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công cùng với Báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình.
- Thiết kế bản vẽ thi công phải được chủ đầu tư hoặc đại diện được ủy quyền của chủ đầu tư xác nhận trước khi đưa ra thi công [2].
1.3.2.4 Thẩm tra thiết kế của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng
1.3.3 Giai đoạn thi công xây dựng công trình
1.3.3.1 Trách nhiệm của Chủ đầu tư
- Lựa chọn các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực theo quy định để thực hiện thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình (nếu có), thí nghiệm, kiểm định chất lượng công trình (nếu có) và các công việc tư vấn xây dựng khác.
Trang 22- Thông báo về nhiệm vụ, quyền hạn của các cá nhân trong hệ thống quản lý chất lượng của Chủ đầu tư, Nhà thầu giám sát thi công xây dựng công trình cho các Nhà thầu có liên quan biết để phối hợp thực hiện.
- Kiểm tra các điều kiện khởi công công trình xây dựng theo quy định.
- Kiểm tra sự phù hợp năng lực của Nhà thầu thi công xây dựng công trình so với hồ sơ dự thầu và hợp đồng xây dựng.
- Kiểm tra việc huy động và bố trí nhân lực của Nhà thầu giám sát thi công xây dựng công trình so với yêu cầu của hợp đồng xây dựng.
- Kiểm tra và giám sát trong quá trình thi công xây dựng công trình.
- Thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường đối với các công trình xây dựng theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
- Tổ chức kiểm định chất lượng bộ phận công trình, hạng mục công trình và toàn bộ công trình xây dựng khi có nghi ngờ về chất lượng hoặc khi được cơ quan quản lý nhà nước yêu cầu.
- Tổ chức nghiệm thu công trình xây dựng.
- Tổ chức lập hồ sơ hoàn thành công trình xây dựng.
- Tạm dừng hoặc đình chỉ thi công đối với Nhà thầu thi công xây dựng khi xét thấy chất lượng thi công xây dựng không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, biện pháp thi công không đảm bảo an toàn.
- Chủ trì, phối hợp với các bên liên quan giải quyết những vướng mắc, phát sinh trong thi công xây dựng công trình và xử lý, khắc phục sự cố theo quy định.
- Báo cáo hoàn thành đưa công trình xây dựng vào sử dụng hoặc báo cáo đột xuất khi có yêu cầu và gửi cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng theo quy định [5]. 1.3.3.2 Trách nhiệm của Nhà thầu thi công xây dựng
- Lập hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với quy mô công trình, trong đó quy định trách nhiệm của từng cá nhân, từng bộ phận đối với việc quản lý chất lượng công trình xây dựng.
- Phân định trách nhiệm quản lý chất lượng công trình xây dựng giữa các bên trong trường hợp áp dụng hình thức tổng thầu thi công xây dựng công trình.
- Bố trí nhân lực, cung cấp vật tư, thiết bị thi công theo yêu cầu của hợp đồng
và quy định của pháp luật có liên quan.
- Tiếp nhận và quản lý mặt bằng xây dựng, bảo quản mốc định vị và mốc giới công trình.
Trang 23- Thực hiện các công tác kiểm tra, thí nghiệm vật liệu, cấu kiện, vật tư, thiết bị công trình, thiết bị công nghệ trước khi xây dựng và lắp đặt vào công trình xây dựng theo quy định của tiêu chuẩn, yêu cầu của thiết kế và yêu cầu của hợp đồng xây dựng.
- Thi công xây dựng theo đúng hợp đồng xây dựng, giấy phép xây dựng, thiết kế xây dựng công trình; đảm bảo chất lượng công trình và an toàn trong thi công xây dựng.
- Thông báo kịp thời cho Chủ đầu tư nếu phát hiện bất kỳ sai khác nào giữa thiết kế, hồ sơ hợp đồng và điều kiện hiện trường.
- Sửa chữa sai sót, khiếm khuyết chất lượng đối với những công việc do mình thực hiện.
- Lập nhật ký thi công xây dựng công trình theo quy định.
- Lập bản vẽ hoàn công theo quy định.
- Báo cáo Chủ đầu tư về tiến độ, chất lượng, khối lượng, an toàn lao động và vệ sinh môi trường thi công xây dựng theo yêu cầu của Chủ đầu tư.
- Hoàn trả mặt bằng, di chuyển vật tư, máy móc, thiết bị và những tài sản khác của mình ra khỏi công trường sau khi công trình đã được nghiệm thu, bàn giao đưa vào
sử dụng [5].
1.3.3.3 Trách nhiệm của Nhà thầu chế tạo, sản xuất, cung cấp vât liệu, sản phẩm, thiết bị, cấu kiện sử dụng cho công trình xây dựng
- Đảm bảo chất lượng vật liệu, sản phẩm, thiết bị, cấu kiện xây dựng theo tiêu chuẩn được công bố áp dụng và các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng, đáp ứng được yêu cầu của thiết kế.
- Cung cấp cho bên giao thầu đầy đủ thông tin, tài liệu liên quan tới sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; đảm bảo quy định về nhãn mác sản phẩm, hàng hóa.
- Thực hiện việc chứng nhận hợp quy, hợp chuẩn theo quy định của pháp luật
và thực hiện thí nghiệm kiểm tra chất lượng theo yêu cầu của hợp đồng.
- Thực hiện các thỏa thuận với bên giao thầu về quy trình và phương pháp kiểm tra chất lượng vật liệu, sản phẩm, thiết bị, cấu kiện xây dựng trước và trong quá trình sản xuất cũng như trong quá trình cung ứng, sử dụng, lắp đặt trong công trình [3].
Trang 241.3.3.4 Trách nhiệm của Nhà thầu giám sát thi công xây dựng công trình
- Cử người có đủ năng lực theo quy định để thực hiện nhiệm vụ của giám sát trưởng và các chức danh giám sát khác.
- Lập sơ đồ tổ chức và đề cương giám sát bao gồm nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa
vụ của các chức danh giám sát, lập kế hoạch và quy trình kiểm soát chất lượng, quy trình kiểm tra và nghiệm thu, phương pháp quản lý các hồ sơ, tài liệu có liên quan trong quá trình giám sát thi công xây dựng.
- Thực hiện giám sát thi công xây dựng theo yêu cầu của hợp đồng xây dựng,
đề cương đã được Chủ đầu tư chấp thuận và quy định của pháp luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng.
- Nghiệm thu các công việc do Nhà thầu thi công xây dựng thực hiện theo yêu cầu của hợp đồng xây dựng [3].
1.3.3.5 Trách nhiệm giám sát tác giả của Nhà thầu thiết kế xây dựng công trình
- Nhà thầu lập thiết kế bản vẽ thi công cử người đủ năng lực để thực hiện giám sát tác giả trong quá trình thi công xây dựng theo chế độ giám sát không thường xuyên hoặc giám sát thường xuyên.
- Giải thích và làm rõ các tài liệu thiết kế công trình khi có yêu cầu của Chủ đầu
tư, Nhà thầu thi công xây dựng và Nhà thầu giám sát thi công xây dựng.
- Phối hợp với chủ đầu tư khi được yêu cầu để giải quyết các vướng mắc, phát sinh về thiết kế trong quá trình thi công xây dựng, điều chỉnh thiết kế phù hợp với thực
tế thi công xây dựng công trình, xử lý những bất hợp lý trong thiết kế theo yêu cầu của Chủ đầu tư.
- Thông báo kịp thời cho Chủ đầu tư và kiến nghị biện pháp xử lý khi phát hiện việc thi công sai với thiết kế được duyệt của Nhà thầu thi công xây dựng.
- Tham gia nghiệm thu công trình xây dựng khi có yêu cầu của Chủ đầu tư, nếu phát hiện hạng mục công trình, công trình xây dựng không đủ điều kiện nghiệm thu phải có ý kiến kịp thời bằng văn bản gửi Chủ đầu tư [5].
1.3.4 Giai đoạn nghiệm thu đưa vào quản lý sử dụng công trình xây dựng
1.3.4.1 Trách nhiệm của Chủ đầu tư
- Lập và lưu trữ hồ sơ hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng.
- Tổ chức nghiệm thu công trình xây dựng.
Trang 251.3.4.2 Trách nhiệm của Cơ quan quản lý nhà nước
Sở Xây dựng có trách nhiệm:
- Kiểm tra công tác nghiệm thu đưa công trình vào sử dụng.
- Kiểm tra công trình, hạng mục công trình hoàn thành, kiểm tra sự tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng khi nhận được báo cáo của Chủ đầu tư; kiểm tra công tác nghiệm thu các giai đoạn chuyển bước thi công xây dựng quan trọng của công trình khi cần thiết.
- Yêu cầu Chủ đầu tư và các bên có liên quan giải trình và khắc phục các tồn tại (nếu có).
- Yêu cầu Chủ đầu tư và các bên có liên quan kiểm định chất lượng bộ phận, hạng mục hoặc toàn bộ công trình khi cần thiết.
- Kết luận bằng văn bản về các nội dung kiểm tra kể từ khi nhận được hồ sơ theo quy định [5].
1.3.4.3 Trách nhiệm của các bên trong quản lý sử dụng công trình xây dựng
- Chủ đầu tư, Chủ sở hữu hoặc Chủ quản lý sử dụng công trình có trách nhiệm sau đây:
+ Vận hành, bảo trì công trình theo đúng quy định của quy trình vận hành, bảo trì công trình;
+ Kiểm tra, phát hiện hư hỏng của công trình để yêu cầu Nhà thầu thi công xây dựng công trình, Nhà thầu cung ứng thiết bị công trình sửa chữa, thay thế;
+ Giám sát và nghiệm thu công việc khắc phục, sửa chữa của Nhà thầu thi công xây dựng và Nhà thầu cung ứng thiết bị công trình xây dựng;
+ Xác nhận hoàn thành bảo hành công trình xây dựng cho Nhà thầu thi công xây dựng công trình và Nhà thầu cung ứng thiết bị công trình.
- Nhà thầu thi công xây dựng công trình và Nhà thầu cung ứng thiết bị công trình có trách nhiệm sau đây:
+ Tổ chức khắc phục ngay sau khi có yêu cầu của Chủ đầu tư, Chủ sở hữu hoặc chủ quản lý sử dụng công trình và phải chịu mọi chi phí khắc phục;
+ Từ chối bảo hành trong các trường hợp hư hỏng phát sinh không phải do lỗi của Nhà thầu gây ra hoặc do nguyên nhân bất khả kháng.
- Nhà thầu khảo sát xây dựng, Nhà thầu thiết kế xây dựng công trình, Nhà thầu thi công xây dựng công trình, Nhà thầu cung ứng thiết bị công trình và các Nhà thầu khác có liên quan chịu trách nhiệm về chất lượng công trình tương ứng với phần công việc do mình thực hiện kể cả sau thời gian bảo hành [5].
Trang 261.4 Các tiêu chuẩn cần phải có trong quản lý chất lượng công trình xây dựng Việc đánh giá công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng còn nhiều ý kiến khác nhau. Cho đến nay, vẫn chưa có tổ chức nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về các hệ thống đánh giá cũng như các tiêu chí đánh giá công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng. Tuy nhiên, xuất phát từ các cơ sở lý luận, thực tiễn xây dựng và hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam, bước đầu có thể đánh giá công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng như sau:
Thứ nhất, cần xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng
Hệ thống này cần quy định rõ phương pháp đo lường và đánh giá chất lượng của một công trình xây dựng dựa trên các tiêu chuẩn được chấp thuận có liên quan. Nó cho phép đánh giá chất lượng và so sánh khách quan chất lượng của công trình này so với công trình khác thông qua một hệ thống tính điểm.
Hệ thống đánh giá chất lượng đánh giá được thực hiện thông qua kiểm tra hiện trường và
sử dụng các kết quả kiểm tra. Việc đánh giá năng lực Nhà thầu theo cách này nhằm khuyến khích các Nhà thầu thi công xây dựng làm tốt mọi công việc ngay từ khâu chuẩn
bị và trong cả quá trình thực hiện.
Trang 27Việc đánh giá của hệ thống đánh giá chất lượng một dự án xây dựng được thực hiện dựa trên kết quả kiểm tra – đánh giá độc lập các giai đoạn khảo sát, thiết kế, thi công, giám sát, kiểm định, quản lý dự án… Mọi công tác đánh giá phải thực hiện theo yêu cầu của tổ chức đánh giá, tổ chức này được cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng đào tạo. Tổ chức thực hiện đánh giá phải đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng mới đủ điều kiện để đánh giá chất lượng công trình xây dựng theo hệ thống đánh giá chất lượng.
Phương pháp đánh giá và quy trình chọn mẫu để đánh giá: Trước khi tiến hành đánh giá bộ phận công trình hay dự án cần xác định phương pháp đánh giá thông qua việc lấy mẫu và sử dụng phương pháp thống kê. Những mẫu được lấy đảm bảo tính khách quan trong suốt quá trình thực hiện dự án hay các giai đoạn xây dựng khác nhau. Tất cả các vị trí kiểm tra phái thuận tiện cho việc đánh giá và các mẫu được lựa chọn phải bảo đảm mang tính đại diện cho toàn bộ công trình và phải được phân tích đánh giá theo các tiêu chuẩn quy định hiện hành.
Việc đánh giá phải thực hiện theo quy trình và dựa vào tiêu chuẩn của hệ thống đánh giá chất lượng. Tiêu chuẩn này xác định các yêu cầu về năng lực và thủ tục đánh giá chất lượng các công trình xây dựng [18].
Ở nước ta nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, Doanh nghiệp và Nhân dân chiếm tỷ trọng rất lớn trong thu nhập quốc dân, cả nước là một công trình xây dựng.
Vì vậy, để tăng cường công tác quản lý dự án, quản lý chất lượng công trình xây dựng, các Cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương đã:
- Ban hành các văn bản pháp quy như Luật, Nghị định, Thông tư, các tiêu chuẩn, quy phạm xây dựng nhằm tạo ra môi trường pháp lý cho việc tổ chức thực hiện quản lý chất lượng công trình xây dựng.
- Đề ra các chủ trương, chính sách khuyến khích đầu tư trang thiết bị hiện đại, sản xuất vật liệu mới, nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học trong xây dựng, đào tạo cán bộ, công nhân nhằm nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu quản lý đầu tư xây dựng nói chung và quản lý chất lượng công trình xây dựng nói riêng.
- Tăng cường quản lý chất lượng thông qua các tổ chức chuyên lo về chất lượng tại các hội đồng nghiệm thu các cấp, các Cục Giám định Chất lượng, Phòng Giám định Chất lượng.
- Có chính sách khuyến khích các đơn vị, tổ chức thực hiện quản lý chất lượng công trình xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế (ISO) 9001:2000, tuyên dương các đơn vị
Trang 28Phải thấy rằng với những văn bản pháp quy, các chủ trương chính sách, biện pháp quản lý đó về cơ bản đã đủ điều kiện để quản lý chất lượng công trình xây dựng. Chỉ cần các tổ chức từ cơ quan cấp trên chủ đầu tư, chủ đầu tư, ban quản lý dự án, các nhà thầu (khảo sát, tư vấn lập dự án đầu tư, thiết kế, tư vấn giám sát, thi công xây lắp) thực hiện đầy đủ chức năng của mình một cách có trách nhiệm theo đúng trình tự quản
lý, thực hiện nghiêm các tiêu chuẩn, quy phạm nghiệm thu công trình xây dựng.
Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng các văn bản pháp quy vào thực tế còn nhiều vấn đề cần thiết phải sửa đổi, bổ sung nhằm tăng cường công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng, đó là:
- Những quy định về việc đảm bảo chất lượng công trình xây dựng trong Luật Đấu thầu năm 2005 [9] còn thiếu cụ thể và chưa cân đối giữa chất lượng và giá dự thầu. Đó là những quy định có liên quan đến đánh giá năng lực nhà thầu, quy định về chất lượng công trình xây dựng trong hồ sơ mời thầu. Đặc biệt là quy định lựa chọn đơn vị trúng thầu chủ yếu lại căn cứ vào giá dự thầu thấp nhất mà chưa tính một cách đầy đủ đến yếu tố đảm bảo chất lượng, đến hiệu quả đầu tư cả vòng đời dự án.
- Các hoạt động về xây dựng có ảnh hưởng trực tiếp đến con người, môi trường, tài sản. Các Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng phải là các Doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện. Vì vậy cần phải ban hành các quy định về năng lực của tổ chức này với các quy định trong giấy phép kinh doanh phù hợp với từng cấp công trình.
- Về công tác đào tạo còn mất cân đối giữa thầy và thợ, đặc biệt đội ngũ đốc công, thợ có tay nghề cao. Công tác đào tạo cán bộ quản lý dự án, Chủ đầu tư chưa được coi trọng, nhiều Chủ đầu tư, Ban quản lý dự án làm trái ngành, trái nghề, không
đủ trình độ năng lực lại không được đào tạo kiến thức về quản lý dự án.
- Công tác thanh tra, kiểm tra xây dựng, quản lý chất lượng xây dựng còn chưa được coi trọng đúng mức và hoạt động còn hạn chế, thiếu một mạng lưới kiểm định chất lượng xây dựng trong quy phạm cả nước, đặc biệt là nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức này còn hạn chế.
- Còn lẫn lộn chức năng quản lý nhà nước và quản lý sản xuất kinh doanh (Bộ chủ quản, Sở chủ quản), còn thiếu tập trung kinh phí và kế hoạch cho việc xây dựng đầy đủ các tiêu chuẩn thiết kế, thi công, nghiệm thu cho việc thi công công nghệ mới.
Trang 291.5 Đặc điểm Quản lý chất lượng các công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách
"Ngân sách nhà nước" bao gồm: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung, vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn Chính phủ vay nước ngoài, vốn khấu hao cơ bản của các đơn vị sự nghiệp có sản xuất kinh doanh.
- Việc quản lý sử dụng ngân sách phải tuân theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước.
1.6 Vai trò và ý nghĩa của quản lý chất lượng công trình xây dựng
Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới đó là xoá bỏ nền kinh tế từ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước đã thay đổi, buộc bộ máy Nhà nước phải thay đổi cho phù hợp. Nhà nước Việt Nam chủ yếu tập trung vào nhiệm vụ quản lý vĩ mô, quản lý theo pháp luật và các cơ chế, chính sách, thực hiện kiểm tra, kiểm soát, đẩy mạnh việc phân quyền
và xã hội hóa các dịch vụ công.
Luật Xây dựng 2003 [8] đã tạo bước đột phá quan trọng của hệ thống pháp luật
về đầu tư và xây dựng ở nước ta. Luật Xây dựng 2003 đã đề cập đầy đủ các nội dung liên quan đến hoạt động xây dựng, pháp chế hóa quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia đầu tư xây dựng công trình. Luật cũng xác định rõ vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng. Nội dung đổi mới trong quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng của Việt Nam đó là: Nhà nước không can thiệp trực tiếp, mà gián tiếp thông qua công cụ pháp luật tác động vào công tác quản lý sản xuất hàng ngày của người mua (Chủ đầu tư) và người bán (các Nhà thầu) để làm ra sản phẩm xây dựng - một loại sản phẩm đặc thù có tính đơn chiếc. Nhà nước tập trung xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm kỹ thuật,
hệ thống tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra để tạo pháp lý cho mối quan hệ của các chủ thể
Trang 30tham gia hoạt động xây dựng hướng tới việc hình thành công trình có chất lượng cao làm thỏa mãn yêu cầu của khách hàng. Nghĩa là: Nhà nước kiểm soát các điều kiện “phù hợp” vì lợi ích cộng đồng, và lợi ích của toàn xã hội.
1.6.1 Vai trò của việc quản lý chất lượng công trình xây dựng
Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng có vai trò to lớn đối với Nhà nước, Chủ đầu tư, Nhà thầu và các Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng nói chung,
cụ thể như:
a. Đối với Nhà nước: Công tác quản lý chất lượng tại các công trình xây dựng được đảm bảo sẽ tạo được sự ổn định trong xã hội, tạo được niềm tin đối với các Nhà đầu tư trong và nước ngoài tham gia vào lĩnh vực xây dựng, hạn chế được những rủi ro, thiệt hại cho những người sử dụng công trình xây dựng nói riêng và cộng đồng nói chung.
b. Đối với Chủ đầu tư: Đảm bảo và tăng cường công tác quản lý chất lượng công trình sẽ thoả mãn được các yêu cầu của Chủ đầu tư, tiết kiệm được vốn cho ngân sách nhà nước hay Nhà đầu tư và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội. Ngoài ra, đảm bảo và nâng cao chất lượng tạo lòng tin, sự ủng hộ của các tổ chức xã hội và người hưởng lợi đối với Chủ đầu tư, góp phần phát triển mối quan hệ hợp tác lâu dài.
c. Đối với Nhà thầu: Việc đảm bảo và tăng cường công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng sẽ tiết kiệm nguyên vật liệu, nhân công, máy móc thiết bị, tăng năng suất lao động. Tăng cường công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng có ý nghĩa quan trọng tới nâng cao đời sống người lao động, thuận lợi cho việc áp dụng tiến
bộ khoa học công nghệ đối với Nhà thầu. chất lượng công trình xây dựng gắn với an toàn của thiết bị và nhân công, Nhà thầu trong quá trình xây dựng. Ngoài ra, quản lý chất lượng công trình đảm bảo cho việc duy trì và nâng cao thương hiệu cũng như phát triển bền vững của Nhà thầu.
1.6.2 Ý nghĩa của công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng
và cộng đồng hết sức quan tâm. Nếu công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng thực hiện tốt, thì sẽ không xảy ra sự cố, tuổi thọ công trình đáp ứng thời gian quy định trong hồ sơ thiết kế, phát huy hiệu quả dự án, đáp ứng đầy đủ nhiệm vụ theo quyết định phê duyệt. Do vậy, việc tăng cường công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng không chỉ là nâng cao chất lượng công trình mà còn góp phần chủ động phòng chống tham nhũng, ngăn ngừa thất thoát trong xây dựng. Trên thực tế, ở đâu tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của Nhà nước về quản lý chất lượng công trình xây dựng thì ở đó
Trang 31chất lượng công trình tốt và hạn chế được tiêu cực trong xây dựng. Công trình xây dựng khác với sản phẩm hàng hoá thông thường khác vì công trình xây dựng có phạm vi ảnh hưởng tương đối rộng, được thực hiện trong một thời gian dài, do nhiều người tham gia, gồm nhiều vật liệu tạo nên, thường xuyên chịu tác động bất lợi của thời tiết và điều kiện tự nhiên. Cũng vì đặc điểm đó, việc tăng cường công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng là rất cần thiết, bởi nếu xảy ra sự cố thì sẽ gây ra tổn thất rất lớn về người
và của, tác động xấu đến môi trường vùng hưởng lợi, đồng thời cũng rất khó khăn trong công tác khắc phục hậu quả.
Tăng cường công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng là góp phần nâng cao chất lượng sống cho con người. Mỗi công trình được xây dựng có chất lượng công trình bảo đảm, tránh được xảy ra những sự cố đáng tiếc thì sẽ tiết kiệm được đáng kể cho ngân sách nhà nước. Số tiền đó sẽ được dùng vào công tác đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng, đảm bảo an sinh xã hội góp phần nâng cao đời sống Nhân dân, hoặc dùng cho công tác xóa đói giảm nghèo.
Quản lý chất lượng công trình xây dựng được thực hiện bằng các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Trong thời gian qua, các văn bản quy phạm này đã đổi mới theo sự phát triển của nền kinh tế đất nước, hướng tới tiệm cận với thông lệ, tập quán khu vực và quốc tế. Nội dung đó đã được thể hiện tính pháp lý ngày càng rõ hơn, trách nhiệm của chủ thể các ngành, các cấp đã phân tích rõ hơn; đặc biệt đã tách dần chức năng quản lý sản xuất, kinh doanh ra khỏi chức năng quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng. Nhà nước không can thiệp trực tiếp mà gián tiếp thông qua công cụ pháp luật tác động vào công tác quản lý sản xuất hàng ngày giữa người đặt hàng (Chủ đầu tư) và người bán hàng (Nhà thầu) để làm ra sản phẩm xây dựng - một loại sản phẩm đặc thù có tính đơn chiếc.
Các văn bản nêu trên đã quy định các nguyên tắc cơ bản, quy định chi tiết việc quản lý, tổ chức thực hiện quản lý chất lượng công trình xây dựng của các tổ chức, cá nhân tham gia, đồng thời xác định và phân định rõ trách nhiệm của chủ thể tham gia hoạt động liên quan đến quản lý chất lượng công trình xây dựng gồm: Cơ quan quản lý nhà nước, Chủ đầu tư và Nhà thầu trong hoạt động xây dựng.
Cơ quan quản lý nhà nước: Thông qua các công cụ pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của Quốc gia, lợi ích của cộng đồng và thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng, giám sát sự tuân thủ pháp luật của các chủ thể; trong đó chức năng quản lý nhà nước được Thủ tướng chính phủ quy định rõ “Bộ Xây dựng
Trang 32thống nhất quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng trong phạm vi toàn quốc, các Bộ có quản lý xây dựng chuyên ngành phối hợp với Bộ Xây dựng trong việc quản lý chất lượng các công trình xây dựng chuyên ngành; Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh theo phân cấp có trách nhiệm quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng trong phạm vi địa giới hành chính do mình quản lý”. Bản chất của quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng là mang tính vĩ mô, định hướng, hỗ trợ và cưỡng chế của cơ quan công quyền. Các Cơ quan quản lý nhà nước chịu trách nhiệm
về tình hình chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn được phân cấp quản lý chứ không phải là chất lượng cụ thể của từng công trình.
Đối với Chủ đầu tư: với tư cách là người quản lý khách hàng, nên phải có bộ phận có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với loại và cấp công trình, tiến hành giám sát quá trình làm ra sản phẩm của các Nhà thầu, đánh giá chất lượng sản phẩm do các Nhà thầu cung cấp, thử nghiệm sản phẩm đảm bảo chất lượng, an toàn và hiệu quả.
Đối với các Nhà thầu trong hoạt động xây dựng: là người làm ra các sản phẩm như khảo sát, thiết kế, thi công, cung ứng…phải tự tổ chức kiểm tra chất lượng sản phẩm do mình làm ra và cam kết chất lượng trước khi bàn giao cho khách hàng. Nội dung quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng là tổ chức xây dựng để tạo hành lang pháp lý, điều chỉnh hành vi và mối quan hệ của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng, nghiên cứu, soạn thảo và ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm đưa ra các tiêu chí chuẩn mực để làm ra sản phẩm xây dựng và đánh giá chất lượng sản phẩm cần đạt được, từ đó hướng tới việc hoàn thành công trình có chất lượng cao thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Sau khi đã tạo được môi trường pháp lý và kỹ thuật, Nhà nước phải tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, cưỡng chế các chủ thể thực hiện theo quy định của pháp luật về công tác đảm bảo chất lượng công trình xây dựng, nhằm không chỉ bảo
vệ lợi ích của Chủ đầu tư mà còn bảo vệ lợi ích của cả cộng đồng.
Tóm lại, cơ sở để quản lý chất lượng công trình xây dựng là những văn bản của Nhà nước, tiêu chuẩn của ngành, quy chuẩn quốc gia và tiêu chuẩn cho công trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Hồ sơ thiết kế kỹ thuật công trình, với quyết định phê duyệt là những căn cứ để thực hiện quản lý chất lượng công trình xây dựng. Các văn bản
đó luôn luôn được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tiến bộ và phát triển của xã hội, để làm công cụ quản lý của pháp luật trong các hoạt động xây dựng. Mô hình tổng quan về quản lý nhà nước về chất lượng công trình và quá trình tạo ra sản phẩm công trình xây dựng đảm bảo chất lượng theo quy định của Nhà nước, thể hiện theo sơ đồ sau đây:
Trang 33Sơ đồ 1.3: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng tại Việt Nam
(Nguồn: [6])
Quá trình tạo ra sản phẩm
Trang 341.7 Bài học kinh nghiệm của quản lý chất lượng công trình xây dựng
Là một quốc gia “sinh sau đẻ muộn” trong lĩnh vực xây dựng, việc học hỏi, tiếp thu những kinh nghiệm trong quản lý vốn, quản lý đầu tư và quản lý chất lượng công trình là một việc làm cần thiết. Cần căn cứ vào thực tế tình hình xây dựng ở Việt Nam
để lựa chọn từng lĩnh vực cụ thể ở mỗi quốc gia sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu thực tiễn chứ không nên áp dụng một cách máy móc mô hình xây dựng của quốc gia đó.
Có rất nhiều mô hình quản lý mang lại hiệu quả cao, chẳng hạn quy trình quản lý đầu tư xây dựng ở Anh được cho là khá thành công và được không ít quốc gia học hỏi,
áp dụng mang lại hiệu quả cao. Ở nước Anh, tổ chức Chính phủ có tính tập trung hoá cao, mặc dù vậy, các Bộ thường có quyền tự chủ cao. Đối với các dự án quan trọng của Chính phủ, có các tổ chức đóng vai trò Chủ đầu tư của các dự án.
Tại Anh, không có Nhà thầu thuộc nhà nước (chỉ có các cơ quan quản lý công trình công cộng nhưng chủ yếu cho các công việc bảo trì và khẩn cấp), do đó các dự án quan trọng được đấu thầu giữa các công ty tư nhân. Có thể trao thầu dưới hình thức thầu chính, Xây dựng – Vận hành – Chuyển giao hoặc Chìa khoá trao tay hoặc nhà thầu thiết kế và xây dựng được chọn thông qua đấu thầu. Chủ đầu tư sẽ nêu rõ yêu cầu
về công trình xây dựng hoàn thành, những phần việc còn lại sẽ thuộc trách nhiệm của Nhà thầu thiết kế và xây dựng. Chủ đầu tư yêu cầu các Nhà thầu đệ trình đề xuất bao gồm thiết kế và giá trọn gói.
Sau đó sẽ thương thảo hợp đồng để lựa chọn nhà thầu. Chủ đầu tư sẽ lấy ý kiến
từ các nhà tư vấn Kiến trúc, kỹ thuật và tư vấn quản lý chi phí để chọn lựa nhà thầu thiết kế và xây đựng. Tư vấn quản lý chi phí tham gia vào dự án để giúp chủ đầu tư kiểm soát chi phí dự án.
Tư vấn quản lý chi phí (Quantity Surveyor) đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quản lý chi phí xây dựng ở Anh. Bởi vì, tư vấn quản lý chi phí chịu trách nhiệm quản lý chi phí xây dựng từ khởi đầu đến khi dự án được hoàn thành. Tư vấn quản lý chi phí chịu trách nhiệm kiểm soát chi phí từ ngân sách đến thanh toán cuối cùng. Mặc
dù vậy, việc áp dụng ở Việt Nam không dễ vì không có tổ chức chuyên nghiệp nào để phát triển Tư vấn quản lý chi phí, sẽ mất thời gian dài để thay đổi một hệ thống. Quy trình quản lý chi phí bao gồm dự toán, đấu thầu, hợp đồng, thanh toán, thay đổi và khiếu nại rất rõ ràng. Quy trình này được thiết lập bởi tổ chức chuyên nghiệp về quản
lý chi phí (Royal lnstitute of Charteređ Surveyor). Điều này rất quan trọng để Việt Nam học hỏi và xây dựng một hệ thống phù hợp với tình hình hiện tại của Việt Nam.
Trang 35Một quốc gia khác mà Việt Nam cũng có thể học hỏi trong vấn đề quản lý chi phí đầu tư và chất lượng công trình đó là Nhật Bản. Ban đầu Nhật Bản áp dụng “Phương pháp cạnh tranh giá cả”, theo đó hợp đồng xây dựng được ký với công ty thi công công trình đáp ứng được các yêu cầu của bên đặt hàng với giá cả thấp nhất. Tuy nhiên việc cạnh tranh giá khốc liệt làm cho các hiện tượng tiêu cực trong đấu thầu có cơ hội phát sinh, nổi bật như việc thông đồng, dàn xếp giữa các nhà thầu, có thể làm cho các nhà thầu có năng lực cao nhưng “cạnh tranh lành mạnh” mất cơ hội trúng thầu. Việc đảm bảo chất lượng và ứng dụng các đổi mới, tiến bộ kỹ thuật vào công trình càng trở nên khó khăn hơn. Nhật Bản đã thay đổi phương pháp cũ bằng “Phương pháp đánh giá tổng hợp” – nhà thầu được chọn là nhà thầu có khả năng thực hiện công trình tốt nhất với sự đánh giá tổng hợp của yếu tố giá cả và chất lượng. Phương pháp này được Quốc hội Nhật Bản thông qua bằng Luật “Thúc đẩy đảm bảo chất lượng công trình”.
Theo phương pháp đánh giá tổng hợp, giá cả và các tiêu chí kỹ thuật quan trọng trong đó có: độ bền công trình, độ an toàn thi công, mức giảm thiểu tác động môi trường, hiệu suất công việc, chi phí vòng đời của dự án, mức độ tiết kiệm nguyên vật liệu được xem xét đồng thời với giá bỏ thầu. Trong đó, điểm đánh giá kỹ thuật là điểm xác định theo các tiêu chí quy định tại hồ sơ thầu có xét đến điểm được cộng thêm tùy theo nội dung phương án kỹ thuật đề xuất và không cho điểm đối với trường hợp phương án kỹ thuật đề xuất không phù hợp
Sau khi chấm thầu bằng phương pháp đánh giá tổng hợp, chủ đầu tư sẽ chọn được nhà thầu trúng thầu là nhà thầu có “số điểm đánh giá” cao nhất. Đồng thời với việc lựa chọn nhà thầu tốt nhất như đã nêu, các cơ quan xét thầu vẫn chú trọng xem xét nghiêm khắc các nhà thầu vi phạm qui định chống phá giá nhằm ngăn chặn nhà thầu
bỏ giá thấp bất hợp lý chỉ nhằm mục đích thắng thầu. Một trong những giải pháp đang được áp dụng ở Nhật Bản là thực thi và công khai hệ thống khảo sát giá cả đấu thầu thấp và ban bố hệ thống giới hạn giá cả thấp nhất.
Những gì diễn ra thời gian qua trong lĩnh vực đấu thầu và đảm bảo chất lượng công trình xây dựng công cộng ở Nhật Bản, một quốc gia tiên tiến, đi trước chúng ta một khoảng cách khá xa có vẻ như cũng tương tự những vấn đề chúng ta đang gặp phải. Vì vậy việc nghiên cứu phương pháp quản lý chi phí và quản lý chất lượng công trình trình xây dựng của Nhật Bản để áp dụng tại Việt Nam chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả như mong muốn. Quan trọng là chúng ta có quyết tâm làm và vận dụng hay không
mà thôi. Để có những công trình có chất lượng vĩnh cửu, thực sự “sạch” không có việc
Trang 36bôi trơn… không có tham nhũng, tiêu cực, trước hết phải thanh lọc những “quan tham” ra khỏi bộ máy và xử nghiêm những kẻ “rút ruột” công trình.
Tóm tắt chương 1
Chương trình bày các khái niệm về chất lượng và quản lý chất lượng, chất
lượng công trình xây dựng và quản lý chất lượng công trình xây dựng, nội dung hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng, đặc điểm quản lý chất lượng công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách, bài học kinh nghiệm của quản lý chất lượng công
trình xây dựng
Trang 37
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI TỈNH KHÁNH HÒA
2.1 Đặc điểm tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa Khánh Hòa là tỉnh có tốc độ tăng trưởng liên tục phát triển với nhịp độ tương đối cao và đạt được những thành tựu quan trọng, là một trong những địa phương có đóng góp lớn với ngân sách Trung ương; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng tỉnh Khánh Hòa trở thành một trung tâm kinh
tế, du lịch, văn hóa lớn của cả nước [17].
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm 2013 tăng 8,3% so với năm 2012; trong
đó tốc độ tăng trưởng: công nghiệp - xây dựng tăng 5,15%, dịch vụ - du lịch tăng 13,26% và nông - lâm - thủy sản tăng 1,34%. Cơ cấu kinh tế: công nghiệp - xây dựng 41,5%, dịch vụ - du lịch 46,2% và nông - lâm - thủy sản 12,3%. Trong năm 2013, nền kinh tế trong nước phục hồi chậm, nhưng với quyết tâm cao của các cấp, các ngành, sự phối hợp của Mặt trận tổ quốc tỉnh và các đoàn thể, kinh tế - xã hội của tỉnh Khánh Hoà tiếp tục phát triển khá, thể hiện qua các chỉ tiêu sau: GDP tăng 8,3%, tuy không đạt kế hoạch đề ra nhưng có tốc độ tăng trưởng khá (GDP cả nước tăng 5,4%); giá trị dịch vụ tăng 16,9% (kế hoạch đề ra là 14,8%); doanh thu du lịch tăng 30%; thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 16% so với năm 2012 và bằng 108% dự toán năm
2013 (cả nước ước đạt 96,9%); thu từ hoạt động xuất nhập khẩu tăng 31% so với năm
2012, nông nghiệp sản xuất ổn định [12].
An sinh xã hội và phúc lợi xã hội cơ bản được bảo đảm; công tác thông tin, tuyên truyền, văn hóa thể thao, khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo được quan tâm. Công tác cải cách hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí tiếp tục được đẩy mạnh. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được vẫn còn tồn tại một số khó khăn, hạn chế như sau:
- Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp chậm, sản phẩm công nghiệp mới trong năm ít, đặc biệt Công ty Hyundai Vinashin thiếu hợp đồng đóng tàu đã ảnh hưởng đến
Trang 38- Thu tiền sử dụng đất không đạt (thu được 223 tỷ đồng/478 tỷ đồng), vay không đạt kế hoạch (chỉ được 175 tỷ đồng/ kế hoạch vay 350 tỷ đồng) đã ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện kế hoạch xây dựng cơ bản trong năm 2013.
- Vốn thực hiện các dự án đầu tư ngoài ngân sách (bao gồm các dự án có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài FDI) đạt thấp nên ảnh hưởng tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh năm 2013.
- Tổ chức thực hiện các hình thức đầu tư theo các Hợp đồng BT (Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao), BOT (Hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao) còn vướng mắc (hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang đề nghị Thủ tướng Chính phủ giao
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính rà soát và điều chỉnh các Thông tư, văn bản hướng dẫn thực hiện); do đó đã ảnh hưởng đến tiến độ triển khai đầu tư các công trình trọng điểm trên địa bàn tỉnh.
Với những khó khăn, hạn chế trên, trong thời gian tới cần phải có những giải pháp để khắc phục nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội của tỉnh. Trong năm 2014, Các chỉ tiêu chủ yếu: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) tăng 8,55%; GDP bình quân đầu người tương đương 2.500 USD; Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng tăng 8,52%; Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 5,4%; Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản tăng 2,8%; Giá trị dịch vụ - du lịch tăng 15%; Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 1.070 triệu USD; Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 654 triệu USD; Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 22.683 tỷ đồng, tăng 10%; Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 14.491 tỷ đồng, tăng 11,2%; Chi cân đối ngân sách địa phương được 9.109 tỷ đồng [13].
2.2 Thực trạng công tác đầu tư xây dựng và quản lý chất lượng các công trình xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách tại tỉnh Khánh Hòa
2.2.1. Công tác đầu tư xây dựng công trình sử dụng nguồn vốn ngân sách tại tỉnh Khánh Hòa
- Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch vốn đầu tư phát triển 5 năm 2009 –
2013 [12]
Tình hình phân bổ và thực hiện các nguồn vốn đầu tư phát triển trong 5 năm
2009 - 2013 theo các nguồn vốn như sau:
Trang 39Với tổng kế hoạch vốn được giao, tỉnh Khánh Hoà đã phân bổ cho các dự án theo ngành, lĩnh vực trên địa bàn tỉnh, trong đó tập trung phân bổ cho giao thông, nông nghiệp, môi trường, giáo dục, khu dân cư…nhằm hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. Theo tiến độ thực hiện thì đến hết năm 2013, khối lượng thực hiện đạt bằng 100% kế hoạch, giải ngân đạt 91,5% kế hoạch.
+ Nguồn vốn Trung ương
Với tổng kế hoạch vốn được giao, tỉnh đã phân bổ cho các dự án theo từng chương trình mục tiêu quốc gia, hỗ trợ theo mục tiêu được Thủ tướng Chính phủ quy định trên địa bàn tỉnh. Theo tiến độ thực hiện thì đến hết năm 2013, khối lượng thực hiện đạt 135% kế hoạch, giải ngân đạt bằng 100% kế hoạch
Một số dự án có tiến độ thực hiện nhanh và có khối lượng hoàn thành khá lớn nhưng chưa bố trí đủ vốn như Đường Nha Trang đi Đà Lạt (đoạn Diên Khánh – Khánh Vĩnh); Cơ sở hạ tầng Khu du lịch Bắc bán đảo Cam Ranh; Cơ sở hạ tầng Khu trường học, dạy nghề Bắc Hòn Ông (thành phố Nha Trang); Đường cơ động và bến cập tàu xã đảo Cam Bình (thành phố Cam Ranh); Cơ sở hạ tầng Khu kinh tế Vân Phong (huyện Vạn Ninh); Cở sở hạ tầng kỹ thuật và Khu trung tâm chính trị – hành chính huyện Cam Lâm (mới thành lập) để sớm hoàn thành đưa vào sử dụng.
+ Nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ
Với tổng kế hoạch vốn được giao, tỉnh đã phân bổ cho các dự án theo từng chương trình, đề án được Thủ tướng Chính phủ quy định trên địa bàn tỉnh. Theo tiến độ thực hiện thì đến hết năm 2013, khối lượng thực hiện đạt 150% kế hoạch, giải ngân đạt 99,9% kế hoạch. Trong đó, một số đề án, dự án có tiến độ thực hiện nhanh và có khối lượng hoàn thành khá lớn nhưng chưa bố trí đủ vốn như Đề án bệnh viện tuyến huyện; Đề án kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên; Đường Nha Trang đi Đà Lạt (đoạn Diên Khánh - Khánh Vĩnh) để hoàn thành sớm đưa vào sử dụng.
+ Nguồn vốn khác
Nguồn vốn xổ số kiến thiết được Trung ương để lại cho tỉnh đầu tư các dự án thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục và phúc lợi xã hội khác trên địa bàn tỉnh; theo đó trong 5 năm 2009 - 2013, đến hết năm 2013, giải ngân được 100% kế hoạch. Trong nguồn vốn này thì tập trung vốn đối ứng cho Đề án các bệnh viện tuyến huyện, đề án kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên được sử dụng nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ nhằm hoàn thành theo tiến độ được duyệt.
Trang 40và được ưu tiên đầu tư cho giáo dục, y tế, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật khác trên địa bàn tỉnh. Đến hết năm 2012, giải ngân được 40,1 tỷ đồng và phần còn lại đưa vào nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương năm 2013.
Ngoài ra, để thực hiện chương trình kiên cố hóa kênh mương và giao thông nông thôn trên địa bàn tỉnh, trong thời gian qua tỉnh cũng đã vay Trung ương để đầu tư
+ Nguồn vốn đầu tư cho lĩnh vực giáo dục đào tạo và dạy nghề đã đạt mục tiêu bằng 20% tổng vốn đầu tư phát triển, trong đó một số dự án lĩnh vực dạy nghề như Trường Trung cấp nghề Ninh Hòa, Trường Cao đẳng Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch Nha Trang giải ngân bằng 100% kế hoạch. đề án xây dựng phòng học 2 buổi/ngày bậc tiểu học đạt 97,5%.
+ Nguồn vốn đầu tư cho Đề án các bệnh viện tuyến huyện, các dự án phát triển nhà ở xã hội và thu nhập thấp, hạ tầng kỹ thuật các khu tái định cư đã triển khai thực hiện có khối lượng lớn và giải ngân khá cao, đảm bảo theo tiến độ và dự kiến hoàn thành trong năm 2014 góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
+ Nguồn vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng Khu du lịch Bắc bán đảo Cam Ranh đã được triển khai tích cực, giải ngân hơn 95% kế hoạch, dự kiến hoàn thành trong năm
2014 giai đoạn 1 nhằm đảm bảo cơ sở hạ tầng để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư triển khai dự án phát triển du lịch.
+ Công tác giải phóng mặt bằng các dự án quan trọng như Chỉnh trang đô thị,
kè và đường dọc bờ sông Cái (thành phố Nha Trang), Đường Phong Châu, Đường Nha Trang đi Đà Lạt (đoạn Nha Trang - Diên Khánh); Khu trung tâm hành chính mới tỉnh Khánh Hoà, Hồ chứa nước Tà Rục (huyện Cam Lâm), Hồ chứa nước Hoa Sơn (huyện Vạn Ninh), Khu dân cư Đường Đệ, các Khu tái định cư trên địa bàn tỉnh…để sớm khởi công xây dựng nhằm phát triển kinh tế.