Xin gửi lời cảm ơn đến Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phòng Kinh tế -NN&PTNT của các huyện thị và các cơ sở sản xuất giống tỉnh An Giang đã cung cấp thông tin để tôi hoàn thành
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VÕ HỒNG THANH TRÚC
HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT SẢN XUẤT GIỐNG CÁ TRA
PANGASIANODON HYPOPTHALMUS (SAUVAGE,1878)
TẠI TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa – 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VÕ HỒNG THANH TRÚC
HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT SẢN XUẤT GIỐNG CÁ TRA
PANGASIANODON HYPOPTHALMUS (SAUVAGE,1878)
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Tôi xin chịu trách nhiệm trước nhà trường và pháp luật về lời cam đoan này
Học viên thực hiện
Võ Hồng Thanh Trúc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Viện Nuôi trồng Thủy sản, Ban giám hiệu Trường Đại học Nha Trang đã quan tâm và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Phạm Quốc Hùng đã tận tình giúp
đỡ, hướng dẫn, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức
và kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian tôi theo học ở trường Đại học Nha Trang Xin gửi lời cảm ơn đến Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phòng Kinh tế -NN&PTNT của các huyện thị và các cơ sở sản xuất giống tỉnh An Giang đã cung cấp thông tin để tôi hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin được cảm ơn sâu sắc nhất đến ba, mẹ cùng những người thân trong gia đình đã luôn bên cạnh giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi có thể học tập cũng như hoàn thành luận văn này
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh An Giang 3
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
1.1.1.1 Vị trí địa lý 3
1.1.1.2 Địa hình 4
1.1.1.3 Đặc điểm khí hậu 5
1.1.1.4 Chế độ thủy văn 7
1.1.1.5 Tài nguyên nước 7
1.1.1.6 Đất đai và thổ nhưỡng 8
1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh An Giang 9
1.1.2.1 Cơ cấu kinh tế và tăng trưởng GDP 9
1.1.2.2 Khái quát tình hình phát triển ngành thủy sản An Giang 11
1.1.2.3 Cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn của tỉnh 13
1.1.2.4 Dân số và lao động 13
1.2 Hệ thống phân loại và một số đặc điểm sinh học của cá tra 14
1.2.1 Hệ thống phân loại 14
1.2.2 Đặc điểm sinh học của cá tra 15
1.2.2.1 Phân bố 15
1.2.2.2 Hình thái 16
1.1.2.3 Môi trường sống và khả năng thích nghi 16
1.1.2.4 Đặc điểm về dinh dưỡng 16
1.1.2.5 Đặc điểm sinh trưởng 17
1.1.2.6 Đặc điểm sinh sản và nghiên cứu sản xuất giống 17
1.3 Tình hình nuôi cá tra trên thế giới và ở Việt Nam 18
1.3.1 Tình hình nuôi cá da trơn trên thế giới 18
1.3.2 Tình hình nghiên cứu và nuôi cá tra ở Việt Nam 19
Trang 61.3.2.1 Một số công trình nghiên cứu 19
1.3.2.2 Tình hình nuôi cá tra thương phẩm 19
1.3.2.3 Tình hình dịch bệnh ở cá tra 21
1.4 Tình hình sản xuất giống cá tra ở Việt Nam 21
1.4.1 Hiện trạng sản xuất giống cá tra 1999-2012 21
1.4.2 Quản lý sản xuất giống cá tra tại Việt Nam 23
1.4.3 Thực trạng sản xuất giống thủy sản tại An Giang 24
1.4.4 Thực trạng sản xuất giống cá tra tại An Giang 26
1.4.5 Công tác quản lý sản xuất giống cá tra tại An Giang 28
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Thời gian và địa điểm 31
2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 32
2.3 Thu thập và xử lý số liệu 32
2.3.1 Thu thập số liệu 32
2.3.1.1 Số liệu sơ cấp 32
2.3.1.2 Số liệu thứ cấp 33
2.3.2 Xử lý và phân tích số liệu 33
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Một số thông tin về cơ sở sản xuất giống cá tra 35
3.1.1 Thông tin chung về cơ sở sản xuất giống cá tra 35
3.1.2 Giới tính và tuổi của chủ cơ sở sản xuất giống cá tra 35
3.1.3 Trình độ văn hóa của chủ cơ sở sản xuất giống cá tra 36
3.1.4 Trình độ chuyên môn 37
3.1.5 Số năm kinh nghiệm của chủ cơ sở sản xuất 38
3.1.6 Đất đai của cơ sở sản xuất giống cá tra 39
3.1.7 Mô hình hoạt động 40
3.2 Hiện trạng kỹ thuật sản xuất giống cá tra tỉnh An Giang 41
3.2.1 Đặc điểm hệ thống công trình sản xuất giống cá tra 41
3.2.1.1 Hệ thống xử lý nước 41
3.2.1.2 Hệ thống ao nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ 42
3.2.1.3 Hệ thống bể cho cá sinh sản và bể/bình ấp trứng 43
3.2.1.4 Hệ thống xử lý nước thải 44
3.2.2 Kỹ thuật sản xuất giống cá tra tại An Giang 45
3.2.2.1 Vệ sinh khử trùng 45
Trang 73.2.2.2 Nguồn gốc cá bố mẹ và hậu bị 46
3.2.3 Kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ 47
3.2.4 Kỹ thuật cho sinh sản cá tra nhân tạo 49
3.2.5 Hoạt động mua bán cá bột 53
3.2.6 Quy trình kỹ thuật ương giống cá tra tại tỉnh An Giang 54
3.2.7 Thông tin chung về ương giống 54
3.2.7.1 Diện tích ao ương 55
3.2.7.2 Độ sâu 55
3.2.7.3 Nguồn nước 55
3.2.7.4 Số vụ ương và thời gian ương 55
3.2.8 Kỹ thuật ương nuôi cá tra giống 55
3.2.8.1 Kỹ thuật cải tạo ao trước mỗi vụ ương 55
3.2.8.2 Kỹ thuật thả giống 56
3.2.8.3 Thức ăn và cách cho cá ăn 57
3.2.8.4 Quản lý các yếu tố môi trường ao ương 59
3.2.9 Kích cỡ và giá cá giống 61
3.3 Hiệu quả kinh tế nghề sản xuất giống cá tra tại An Giang 62
3.3.1 Cơ cấu chi phí sản xuất giống và ương cá tra 62
3.3.1.1 Chi phí sản xuất giống cá tra 62
3.3.1.2 Chi phí ương giống cá tra 63
3.3.2 Hiệu quả kinh tế sản xuất giống 63
3.3.3 Hiệu quả kinh tế trong ương nuôi giống cá tra 64
3.4 Những khó khăn, định hướng phát triển và kiến nghị của cơ sở và hộ ương giống cá tra tại An Giang 65
3.4.1 Khó khăn 65
3.4.2 Định hướng phát triển 65
3.4.3 Kiến nghị của cơ sở sản xuất 65
3.5 Đề nghị các giải pháp cải tiến kỹ thuật và quản lý 66
3.5.1 Giải pháp cải tiến kỹ thuật 66
3.5.2 Giải pháp về nghiên cứu khoa học 66
3.5.3 Giải pháp về công tác quản lý 67
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
AFA Hiệp hội Thủy sản An Giang (An Giang Fisheries Association)
DT SX Diện tích sản xuất
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
ĐVT Đơn vị tính
FAO Tổ chức Nông, lương thực Liên Hiệp Quốc
FCR Hệ số tiêu hóa thức ăn
NGTK Niên giám thống kê
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Các yếu tố thủy lý, thủy hóa vùng sông Cửu Long - An Giang 8
Bảng 1.2: Kinh tế nông thôn An Giang 10
Bảng 1.3: Thu nhập – Chi tiêu bình quân 1 người 1 tháng năm 2012 10
Bảng 1.4: Cơ cấu giá trị ngành thủy sản 11
Bảng 1.5: Tăng trưởng của ngành thủy sản 11
Bảng 1.6: Thành phần thức ăn trong ruột cá tra trong tự nhiên 17
Bảng 1.7: Tình hình nuôi cá tra thương phẩm ở ĐBSCL 20
Bảng 1.8: Diện tích nuôi và sản lượng của tỉnh An Giang giai đoạn 2011 - 2015 25
Bảng 1.9: Tình hình sản xuất và sản lượng cá tra bột tỉnh An Giang giai đoạn (2011 – 2013) 28
Bảng 1.10: Diện tích và sản lượng giống cá tra qua các năm ở An Giang 30
Bảng 3.1: Hệ thống công trình phục vụ cho sinh sản nhân tạo 41
Bảng 3.2: Ưu tiên sử dụng nguồn nước cho nuôi vỗ cá bố mẹ và sản xuất giống 42
Bảng 3.3: Nguồn gốc cá hậu bị và cá bố mẹ 46
Bảng 3.4: Sử dụng và thay thế đàn cá bố mẹ của các cơ sở sản xuất giống cá tra 46
Bảng 3.5: Khối lượng và tuổi của cá bố mẹ khi cho sinh sản 49
Bảng 3.6: Kỹ thuật cho sinh sản 50
Bảng 3.7: Kết quả kích thích cá tra sinh sản 51
Bảng 3.8: Các chỉ tiêu môi trường trong quá trình ấp trứng 52
Bảng 3.9: Kết quả sinh sản nhân tạo 53
Bảng 3.10: Thông tin về công trình nuôi 54
Bảng 3.11: Mật độ ương giống cá tra tại An Giang 57
Bảng 3.12: Hoạt động quản lý môi trường của các hộ ương 60
Bảng 3.13: Tỷ lệ sống và sản lượng cá tra giống trong năm 2013 61
Bảng 3.14: Kích cỡ cá tra giống theo thời gian nuôi tại tỉnh An Giang 62
Bảng 3.15: Cơ cấu chi phí sản xuất giống cá tra ở An Giang 62
Bảng 3.16: Cơ cấu chi phí ương giống cá tra ở An Giang 63
Bảng 3.17: Tỷ suất lợi nhuận trong sản xuất và ương giống cá tra tại An Giang 63
Bảng 3.18: Chi phí sản xuất và hiệu quả kinh tế của nghề ương nuôi giống cá tra tại An Giang năm 2013 64
Bảng 3.19: Những khó khăn đối với nghề sản xuất giống cá tra (n=19) 65
Bảng 3.20: Kiến nghị của các cơ sở sản xuất giống cá tra 65
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Bản đồ hành chính tỉnh An Giang 4
Hình 1.2: Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trong năm 2012 9
Hình 1.3: Giá trị sản xuất thủy sản 12
Hình 1.4: Cơ cấu giá trị sản xuất ngành thủy sản 13
Hình 1.5: Hình cá tra 15
Hình 1.6: Thực trạng sản xuất giống cá tra tại An Giang 26
Hình 2.1: Bản đồ vùng sản xuất và ương nuôi giống cá tra tỉnh An Giang 31
Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 32
Hình 3.1: Giới tính của chủ cơ sở sản xuất 35
Hình 3.2: Độ tuổi của chủ cơ sở sản xuất giống cá tra ở An Giang 36
Hình 3.3: Trình độ văn hóa của chủ cơ sở sản xuất giống cá tra 37
Hình 3.4: Trình độ chuyên môn chủ cơ sở 38
Hình 3.5: Số năm kinh nghiệm của chủ cơ sở sản xuất giống cá tra 39
Hình 3.6: Đất đai của cơ sở sản xuất giống cá tra 40
Hình 3.7: Mô hình hoạt động sản xuất giống cá tra ở An Giang 40
Hình 3.8: Các loại bể cho cá đẻ 43
Hình 3.9: Các loại bể/bình ấp trứng cá tra ở An Giang 43
Hình 3.10: Quy trình sinh sản nhân tạo cá Tra tại tỉnh An Giang 45
Hình 3.11: Quy trình ương nuôi cá Tra giống tại tỉnh An Giang 54
Trang 11MỞ ĐẦU
Trong hoạt động nuôi trồng thủy sản, sản xuất giống nhân tạo đóng vai trò hết sức quan trọng Nhiều loài thủy sản có giá trị kinh tế đã được sản xuất giống nhân tạo thành công, đưa vào nuôi thương phẩm, việc này góp phần giải quyết việc làm, cải thiện đời sống kinh tế gia đình và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Một số loài
đã được sản xuất giống nhân tạo thành công và ngày càng đạt đến trình độ cao, thu hút một lượng lớn các nhà đầu tư, các nhà nghiên cứu và hiện đang mang lại lợi ích cho nhiều quốc gia trên thế giới
Cá tra Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878) là đối tượng được nuôi ở
nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Châu Á và ngày càng phát triển [16] Nguồn lợi, sản phẩm, lợi ích kinh tế do nghề nuôi cá Tra mang lại chiếm một phần quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Ngày nay, nghề nuôi cá tra phát triển rất mạnh do được đầu tư đúng mức và áp dụng công nghệ khoa học kỹ thuật tiên tiến Nghề nuôi cá tra chiếm tỷ lệ cao trong nghề nuôi thủy sản và đã tạo ra một lượng sản phẩm lớn phục vụ cho nhu cầu trong nước và đáp ứng cho xuất khẩu thu ngoại tệ cho đất nước [18]
Ở Việt Nam, trong những năm vừa qua, nghề nuôi cá tra đã đạt nhiều thành tựu
to lớn về mặt kinh tế cũng như sự phát triển của công nghệ nuôi mới, đồng thời cũng góp phần quan trọng vào giá trị xuất khẩu của cả nước cũng như đã giải quyết việc làm
và tăng thu nhập cho người dân, góp phần cải thiện đáng kể cuộc sống của một bộ phận người dân Đồng bằng sông Cửu Long là trung tâm kinh tế thủy sản của cả nước, nghề nuôi cá Tra đã trở thành một bộ phận kinh tế chủ lực của vùng vì thế nó có tác động rất lớn đối với kinh tế xã hội của toàn vùng [18] Không chỉ mang về ngoại tệ mà
nó còn có vai trò rất quan trong việc xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm cho người dân
An Giang là một tỉnh Tây Nam của Tổ quốc, nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nằm giữa hai dòng sông Tiền và sông Hậu nên có nguồn nước ngọt phong phú và có hệ thống kênh rạch chằng chịt, với gần sáu tháng của mùa nước nổi hàng năm là điều kiện thuận lợi cho nghề thủy sản phát triển mạnh Do biết tận dụng ưu thế và tiềm năng nguồn nước và điều kiện tự nhiên, ngư dân An Giang đã tích cực đầu tư mọi nguồn lực để nuôi trồng thủy sản, nên thời gian qua phát triển thủy sản
đã là một trong nhiều thế mạnh về sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp của tỉnh, trong đó
cá tra là loại thủy sản thích hợp với môi trường nguồn nước tỉnh An Giang và có giá trị
Trang 12kinh tế cao, nên đã thu hút ngư dân tập trung đầu tư sản xuất và đã mang lại hiệu quả đáng kể, đã trực tiếp góp phần rất quan trọng trong việc tạo ra lượng hàng hóa xuất khẩu thu ngoại tệ cao và ngày càng khẳng định là một trong những ngành hàng phát triển mạnh, có hiệu quả trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh Sự phát triển mạnh mẽ của nghề nuôi cá Tra đã đặt ra một đòi hỏi rất cao về con giống, cả
về số lượng cũng như chất lượng [11] Do vậy, thị trường cá tra giống có tiềm năng rất lớn và sự thành công của nghề sản xuất cá tra ngày nay gần như đặt vào trọng tâm kỹ thuật sản xuất để có con giống tốt Tuy nhiên, hiện nay do chất lượng cá tra giống quá thấp, kỹ thuật sản xuất giống còn hạn chế, nên tỷ lệ cá giống bị hao hụt rất lớn
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn ở trên, việc điều tra đánh giá của kỹ thuật sản xuất giống cá tra tại tỉnh An Giang là rất cần thiết Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm góp phần phát triển bền vững nghề này cho địa phương Được sự phân công của Viện Nuôi trồng Thủy sản, tôi đã được phép thực hiện đề tài "Hiện trạng kỹ thuật sản
xuất giống cá tra Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878) tại An Giang”
Mục tiêu của đề tài:
Đánh giá thực trạng phát triển của kỹ thuật sản xuất giống cá tra tại tỉnh An Giang, đi sâu phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế, ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đến kết quả sản xuất giống cá tra
Đề xuất một số giải pháp để cải tiến kỹ thuật sản xuất giống cá tra tại An Giang theo hướng bền vững
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
Cung cấp số liệu về thực trạng sản xuất giống cá tra tại An Giang, làm cơ sở phục vụ cho công tác quản lý, định hướng phát triển bền vững kỹ thuật sản xuất giống
cá tra tại tỉnh An Giang
Làm cơ sở khoa học cho việc định hướng phát triển nghề sản xuất giống cá tra tại
An Giang; tận dụng điều kiện hiện có của tỉnh để phát triển nghề sản xuất giống cá tra tại một số khu vực trong tỉnh, góp phần phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, tạo việc làm cho nhân dân
Nội dung nghiên cứu:
Hiện trạng kinh tế-xã hội tỉnh An Giang
Hiện trạng kỹ thuật sản xuất giống cá tra tại tỉnh An Giang
Hiệu quả kinh tế nghề sản xuất giống cá tra tại An Giang
Đề xuất các giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý nghề sản xuất giống cá tra tại
An Giang phát triển theo hướng bền vững
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh An Giang
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
An Giang là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nằm về phía Tây Nam
Tổ Quốc; có tọa độ địa lý từ 10o20’07” đến 10o34’23” vĩ độ Bắc và 104o47’20” đến
105o 35’10” kinh độ Đông Phía Tây Bắc giáp Vương quốc Campuchia; Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp; Phía Đông Nam giáp thành phố Cần Thơ; Phía Nam
và Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh 353.666,85 ha, với 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm thành phố Long Xuyên, thành phố Châu Đốc, thị xã Tân Châu và 8 huyện là An Phú, Phú Tân, Chợ Mới, Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn, Tịnh Biên và Tri Tôn Đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn có 156 đơn vị gồm 120 xã, 20 phường và
16 thị trấn
Tỉnh An Giang có vị trí địa lý kinh tế cực kỳ quan trọng đối với phát triển kinh tế
- xã hội nói chung và phát triển sản xuất nông nghiệp nói riêng, thành phố Long Xuyên
là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hoá của tỉnh, thành phố Châu Đốc và thị xã Tân Châu là 2 cực phát triển của tỉnh về phía Bắc Bên cạnh đó, tỉnh còn có lợi thế về ngoại thương với hệ thống cửa khẩu cấp quốc gia và cấp quốc tế như Vĩnh Xương (Tân Châu), Tịnh Biên, Khánh Bình (An Phú) và Vĩnh Hội Đông (An Phú), đây là một trong những điều kiện thuận lợi để hàng hóa nông sản của tỉnh (lúa, cá, rau màu) xuất khẩu sang Campuchia và các quốc gia Đông Nam Á khác như Lào, Thái Lan, Myanmar,
Ngoài ra, tỉnh còn có hệ thống giao thông thủy bộ (QL 91, QL N1, QL N2, tuyến sông Tiền, tuyến sông Hậu) đóng vai trò quan trọng trong việc thông thương hàng hóa lúa, cá và rau màu với các trung tâm đô thị lớn như Tp Phnôm Pênh, Tp Cần Thơ, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long [8]
Trang 14Hình 1.1: Bản đồ hành chính tỉnh An Giang 1.1.1.2 Địa hình
Địa hình tỉnh An Giang có nét đặc trưng riêng so với các tỉnh thành khác trong vùng đồng bằng sông Cửu Long với 1/3 diện tích là vùng đồi núi ở phía Tây, 2/3 diện tích còn lại là vùng đồng bằng châu thổ, với độ cao dưới 5m so với mặt nước biển, nghiêng đều từ Đông sang Tây và từ Bắc xuống Nam với độ chênh lệch cao từ 0,5 - 1 cm/km theo mỗi chiều
Tỉnh có hai dạng địa hình chính:
- Địa hình đồng bằng: Có cao độ thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam với độ chênh cao 0,5 - 1 cm/km Cao trình của toàn đồng bằng biến thiên từ 0,8 m đến 3 m và được chia thành 2 vùng:
Trang 15+ Vùng cù lao gồm 4 huyện: An Phú, Tân Châu, Phú Tân và Chợ Mới có cao trình biến thiên từ 1,3 - 3 m và thấp dần từ ven sông vào nội đồng Dọc theo ven đê về phía nội đồng thường có khu trũng cục bộ
+ Vùng hữu ngạn sông Hậu thuộc tứ giác Long Xuyên gồm thành phố Long Xuyên, thành phố Châu Đốc, các huyện Châu Phú, Châu Thành và Thoại Sơn có cao trình biến thiên từ 0,8 - 3 m và thấp dần về phía Tây
- Địa hình đồi núi: Tập trung và chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên với nhiều núi có độ cao từ 300 - 700 m, cao nhất là núi Cấm 710
m Có ba khu vực núi tập trung là núi Cấm, núi Dài và núi Tô Bao bọc chung quanh núi là đồng bằng chân núi, dạng địa hình chuyển tiếp giữa núi và đồng bằng, có cao trình từ 4 - 40 m và độ dốc từ 30 – 80
Các dạng địa hình của tỉnh có ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất nông nghiệp của tỉnh và đặc biệt là đối với ngành trồng trọt, địa hình đồng bằng khá bằng phẳng (đầu tư
hệ thống thủy lợi ít tốn kém) thích hợp đối với canh tác lúa, nuôi cá và trồng cây màu, địa hình đồi núi khí hậu thay đổi khi càng lên cao, thích hợp với trồng cây dược liệu, trồng rừng, trồng hoa Tuy nhiên, xét về mặt lâu dài, vùng đồng bằng của tỉnh chịu tác động của biến đổi khí hậu nước biển dân, do cao trình quá thấp, thấp hơn 5 m so với mặt nước biển, ảnh hưởng tiêu cực đối với phát triển và sản xuất nông nghiệp của tỉnh [8] 1.1.1.3 Đặc điểm khí hậu
* Nhiệt độ
An Giang có đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11) và mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau), có nền nhiệt cao và ổn định với nhiệt độ trung bình năm là 27oC, khu vực đồi núi thường có nhiệt
độ bình quân thấp hơn so với khu vực đồng bằng 2oC, tổng tích ôn trên 10.000oC Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm (từ năm 2008 - 2012) dao động từ 26,0oC – 30,4oC, nhiệt độ trung bình cao nhất vào tháng 4 là 30,0oC, tháng 5 là 30,4oC Nhiệt
độ thay đổi trong năm gần như theo quy luật tháng 2 đến tháng 5, tháng 8 – 11 là các tháng có nhiệt độ cao trong năm Nhiệt độ thấp nhất là vào các tháng 12 đến tháng 2 (24,6oC – 27,7oC) Địa bàn An Giang không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão, các hiện tượng lốc xoáy có xảy ra trong mùa mưa nhưng tần suất thấp nên mức độ ảnh hưởng không lớn Tóm lại, với nền nhiệt cao đều trong năm, giàu nắng, mưa theo mùa
và không có bão, điều kiện khí hậu ở An Giang khá thuận lợi cho phát triển sản xuất
Trang 16nông nghiệp như thâm canh, tăng vụ và đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi Nhìn chung, nhiệt độ ở An Giang ổn định quanh năm, tương đối đồng nhất theo không gian Đây là điều kiện rất thuận lợi cho quần thể sinh trưởng, trong đó quá trình quang hợp của phiêu sinh vật nhận năng lượng từ ánh sáng mặt trời tạo ra sinh khối thức ăn, dưỡng khí cho nguồn nước, tạo điều kiện thuận lợi cho nguồn lợi thủy sinh phát triển quanh năm [15]
* Giờ nắng
Số giờ nắng tăng dần từ tháng 8 đến tháng 12 năm sau, cao nhất vào tháng 2 (trung bình từ năm 2008 – 2012 là 218,5 giờ), giảm dần từ tháng 3 đến tháng 7 hàng năm, thấp nhất là vào tháng 7 hàng năm 167,6 giờ [15]
* Chế độ mưa:
Lượng mưa nhiều và phân bổ theo mùa, lượng mưa hàng năm bình quân từ 1.500 mm - 1.600 mm/năm, cao nhất đạt 2.100 mm/năm và thấp nhất là 900 mm/năm Lượng mưa cũng thay đổi theo quy luật tăng từ tháng 4 đến tháng 10, giảm dần từ tháng 11 đến tháng 2 (146,7 – 8,3 mm), lượng mưa cao nhất vào tháng 7 (220,0 mm) Chế độ mưa phân hóa theo mùa khá rõ rệt Tổng lượng mưa ở An Giang ít biến động qua các năm Mùa mưa trùng với gió mùa Tây Nam, mùa khô trùng với gió mùa Đông Bắc Mưa góp phần vào dòng chảy trên các tuyến sông và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nghề nuôi trồng thủy sản về các mặt như mang lại nguồn đạm, nguồn oxy khuyếch tán vào thủy vực Cường độ mưa cao giúp quá trình sinh sản của cá xảy ra nhanh hơn Mưa góp một lượng nước lớn làm chảy tràn các vùng trũng nội địa, làm tăng diện tích mặt nước, tạo vi khí hậu Đồng thời tạo nguồn nước mát trong các thủy vực, đó là môi trường thuận lợi để cá tôm và các vi sinh vật có điều kiện sinh sôi, phát triển [15]
* Độ ẩm:
Độ ẩm của tỉnh An Giang tương đối ổn định Từ năm 2008 – 2012, độ ẩm tăng dần từ tháng 5 đến tháng 10, giảm dần từ tháng 11 đến tháng 4, độ ẩm cao nhất là vào tháng 9 (86,0 %), thấp nhất là vào tháng 4 (78,0%), độ ẩm trung bình khoảng 75 – 80%, là khí hậu cơ bản thuận lợi cho phát triển nông nghiệp [8]
* Chế độ gió
An Giang có chế độ gió khá thuần nhất do địa hình bằng phẳng và xa biển, từ tháng 11÷ 4 hướng gió có tần suất cao nhất là Đông Bắc, từ tháng 5 ÷ 10 hướng gió có
Trang 17tần suất cao nhất là Tây Nam Gió là một trong những yếu tố gây bất lợi cho nghề thủy sản, nhất là gió mùa Đông Bắc, nó tác động đến tốc độ sinh trưởng của thủy sản bị chậm lại [15]
1.1.1.4 Chế độ thủy văn
Mang đặc trưng thủy văn của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh An Giang có
hệ thống sông và kênh rạch chằng chịt, với 2 con sông chính: sông Tiền và sông Hậu
là phần hạ lưu của sông Mê Kông, chi phối nguồn nước và các đặc điểm thủy văn của tỉnh, đây là nguồn nước mặt dồi dào đóng vai trò là nguồn nước tưới dồi dào cho sản xuất nông nghiệp; ngoài ra có sông Vàm Nao nối liền từ sông Tiền sang sông Hậu có điều kiện tự nhiên nuôi được cá bông lau mà ở những đoạn sông khác không nuôi được Chế độ thuỷ văn ở An Giang phụ thuộc chủ yếu vào chế độ bán nhật triều biển Đông và chịu ảnh hưởng của các yếu tố dòng chảy của sông Tiền, sông Hậu, chế độ mưa, đặc điểm địa hình và hình thái kênh rạch
Bên cạnh việc mang lại nguồn nước dồi dào cho sản xuất nông nghiệp, chế độ thủy văn cũng tạo điều kiện phân mùa với 2 mùa rõ rệt: mùa lũ (từ tháng 9 đến tháng
11 hàng năm) và mùa cạn (từ tháng 2 đến tháng 5 hàng năm) Lưu lượng đỉnh lũ trước khi tràn vào Đồng bằng sông Cửu Long thường từ 50.000 đến 60.000 m3/ngày, có năm đến 70.000 m3/ngày Lợi ích của lũ đối với sản xuất nông nghiệp trong những năm qua
đã thể hiện rất rõ qua các mặt: mang lại nguồn phù sa màu mỡ; vệ sinh đồng ruộng; cải thiện chất lượng đất, chất lượng nước, bổ sung nguồn nước ngầm, mang lại nguồn lợi thuỷ sản và tạo công ăn việc làm cho một bộ phận nông dân trong mùa nước nổi; tuy nhiên lũ về cũng ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế - xã hội như tốn kém chi phí đầu tư và bảo dưỡng cơ sở hạ tầng, gây ảnh hưởng đến thời vụ gieo trồng, thu hoạch
và sản lượng nông - thuỷ sản và gây thiệt hại đến tính mạng và tài sản của nhân dân Đối với mùa cạn, cũng có tác động 2 mặt rất rõ đối với sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho cây màu và cây trồng cạn (cây không chuộng nước) phát triển Tuy nhiên, đối với cây lúa thì cho năng suất không cao, chi phí chăm sóc tăng cao do phải bơm nước từ hệ thống kênh rạch và chịu ảnh hưởng bởi sự xâm nhập mặn [15]
1.1.1.5 Tài nguyên nước
Nguồn cung cấp chủ yếu từ Sông Tiền và sông Hậu và hơn 280 tuyến sông rạch lớn khác, lưu lượng của các sông khá lớn nên đủ cung cấp nước cho các hoạt động sản xuất và sinh hoạt kể cả trong mùa khô Đây là nguồn cung cấp nước tưới cho hầu hết diện tích gieo trồng canh tác trong tỉnh
Trang 18Nguồn nước mặt của tỉnh khá dồi dào, có khả năng khai thác đa mục tiêu trong
đó quan trọng nhất là mục tiêu sản xuất nông nghiệp với năng suất cao và chất lượng tốt Tuy nhiên, trong những năm gần đây, dưới tác động của nhiều yếu tố như: xâm nhập mặn, xây dựng các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong, ô nhiễm môi trường nước cũng gây ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp của tỉnh [15]
Bảng 1.1: Các yếu tố thủy lý, thủy hóa vùng sông Cửu Long - An Giang
Trong giai đoạn 2000 – 2012, tỉnh đã cải tạo và đưa vào khai thác (chủ yếu cho các mục đích sản xuất nông nghiệp, phát triển lâm nghiệp) khoảng 11,6 ngàn ha đất chưa sử dụng Diện tích đất chưa sử dụng giảm gần 87% trong hơn 10 năm qua, cho thấy tỉnh An Giang tận dụng khá tốt tiềm năng đất đai thông qua quá trình khai hoang, cải tạo nguồn lực tự nhiên này Cũng theo số liệu kiểm kê, quỹ đất nông nghiệp toàn tỉnh tăng gần 29,5 ngàn ha, trong khi đất phi nông nghiệp lại giảm gần 4,8 ngàn ha (giai đoạn 2000 – 2012)
Đến năm 2012, diện tích đất nông nghiệp là 297,4 ngàn ha, trong đó: đất dành cho sản xuất nông nghiệp chiếm 93,9% (chủ yếu là đất trồng lúa), đất lâm nghiệp có rừng 4,7%, đất nuôi trồng thủy sản 1,4% và đất nông nghiệp khác 0,1% (Hình 1.2a)
Trang 19(a) (b)
(Nguồn: NGTK tỉnh An Giang, 2012)
Hình 1.2: Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trong năm 2012
Đất nuôi trồng thủy sản tập trung: An Giang có 4.146,83 ha, chiếm 1,49% diện tích đất nông nghiệp của tỉnh; phân bố ở tất cả các địa phương, trong đó tập trung nhiều ở các huyện Thoại Sơn 821,14 ha, Châu Phú 720,51 ha và Chợ Mới 538,77 ha NTTS luôn là thế mạnh trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh An Giang trong nhiều năm qua Nhưng hiện nay ngành NTTS đang còn gặp rất nhiều khó khăn [15]
1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh An Giang
1.1.2.1 Cơ cấu kinh tế và tăng trưởng GDP
Tổng GDP khu vực nông thôn năm 2012 là 32.105 tỷ đồng, chỉ chiếm 49% tổng GDP trên địa bàn tỉnh GDP bình quân đầu người khu vực nông thôn năm 2012 là 21,3 triệu đồng/người, chỉ bằng 41% GDP/người khu vực thành thị
Theo kết quả điều tra mức sống hộ gia đình tỉnh An Giang năm 2010 (số liệu mới nhất hiện có về Điều tra mức sống dân cư, do Tổng Cục thống kê Việt Nam thực hiện), thu nhập bình quân đầu người 1 tháng của tỉnh năm 2010 là 1.319 ngàn đồng (tương đương 15,8 triệu đồng/năm), trong đó: khu vực thành thị là 1.667 ngàn đồng(tương đương 20,0 triệu đồng/năm), khu vực nông thôn là 1.177 triệu đồng (tương đương 14,1 triệu đồng/năm); như vậy, thu nhập người dân nông thôn chỉ bằng 70,6% thu nhập của người thành thị
Trang 20Bảng 1.2: Kinh tế nông thôn An Giang
Về chi tiêu: Chi tiêu cho đời sống bình quân một nhân khẩu / tháng ở khu vực nông thôn năm 2012 là 1.112 ngàn đồng (tương đương 13,3 triệu đồng/năm), chỉ bằng 67% mức chi tiêu của khu vực thành thị Trong đó, chi tiêu đời sống bình quân là 1.036 ngàn đồng/người/tháng (tương đương 12,4 triệu đồng/năm), chiếm đến 93% tổng chi tiêu
Bảng 1.3: Thu nhập – Chi tiêu bình quân 1 người 1 tháng năm 2012
Gồm
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh An Giang, 2012)
Đến năm 2012, ngành nông lâm thủy sản của An Giang vẫn là nền tảng, là cơ sở
để phát triển công nghiệp và dịch vụ, tạo ra nhiều việc làm cho người lao động quá trình chuyển dịch cơ cấu phải phát huy cao lợi thế của từng vùng và từng khu vực
Cơ cấu lao động nông nghiệp chuyển dịch chậm so với cơ cấu kinh tế Đây là những bất cập thách thức gay gắt về nguồn nhân lực của tỉnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới hiện nay [15]
Trang 211.1.2.2 Khái quát tình hình phát triển ngành thủy sản An Giang
Bảng 1.4 cho thấy tỷ trọng GDP ngành thủy sản liên tục giảm dần từ 6,2% năm
2000 xuống còn 3,2% năm 2012 Trung bình trong giai đoạn 2010-2012 ngành thủy sản chiếm 3,5% tổng GDP, giảm 1,2 điểm phần trăm đóng góp so với giai đoạn 2005-
2010 Trong Khu vực I, GDP thủy sản hiện chiếm trên 10%
Trong nội bộ ngành thủy sản: nuôi trồng hiện chiếm trung bình khoảng 80%, khai thác 15% và dịch vụ 5% Do khó khăn về giá cả, thị trường nên vài năm gần đây,
tỷ trọng nuôi trồng có xu hướng giảm nhẹ so với giai đoạn 2005-2010
Bảng 1.4: Cơ cấu giá trị ngành thủy sản
Trung bình theo từng giai đoạn Năm 2000 2005 2010 2011 2012
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh An Giang ,2012)
Bảng 1.5: Tăng trưởng của ngành thủy sản
(gss 1994, %) - 5,9 -1,0 0,6 -2,6 4,3 2,7 3,5 GTSX toàn ngành
(gss 1994, %) - 11,8 7,2 1,2 -1,6 10,2 10,7 10,4 Trong đó:
Trang 22Về tăng trưởng: GTSX tăng bình quân 10,4%/năm, GDP tăng bình quân 3,5%/năm thời kỳ 2001-2010 Các năm 2011, 2012 tốc độ tăng giảm rất nhanh, thậm chí tăng trưởng âm vào năm 2012 Hiệu quả sản xuất của ngành cũng suy giảm, khi khoảng cách tăng trưởng giữa GDP (hay VA) và GTSX ngày càng cách xa ra, làm cho
tỷ lệ VA giảm nhanh từ 47,8% năm 2000 xuống còn 36,5% năm 2005 và 26% giai đoạn từ 2010 đến nay
Ngành dịch vụ thủy sản có tốc độ tăng trưởng khá cao (bình quân đạt 20,4%/năm thời kỳ 2001 – 2010), nhưng do có quy mô còn nhỏ so với hai ngành NTTS và KTTS nên không ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng chung của toàn ngành thủy sản (10,4%/năm) Đối với nuôi trồng thủy sản, tăng bình quân 17,5%/năm, trong khi giá trị khai thác giảm 6%/năm; hai chiều hướng ngược nhau này đã làm thay đổi đáng kể về
cơ cấu nội bộ ngành thủy sản của tỉnh An Giang Nếu năm 2000 tỷ lệ nuôi trồng – khai thác – dịch vụ trong cơ cấu GTSX là 68% – 29% – 3% thì đến năm 2011 tỷ lệ này là 79% – 16% – 5%
Xu hướng tăng trưởng và thay đổi cơ cấu nội bộ ngành thủy sản trong thời gian gần đây cho thấy tỉnh An Giang đã và đang phát huy khá tốt tiềm năng, lợi thế về vị trí địa lý, tự nhiên để phát triển thủy sản, đặc biệt là ngành nuôi trồng; đồng thời phản ánh những thách thức mới liên quan đến khai thác nguồn lợi thủy sản từ thiên nhiên, hoạt động dịch vụ thủy sản nhằm phục vụ cho việc nuôi trồng thủy sản theo hướng háng hóa, có giá trị gia tăng cao và theo hướng bền vững [15]
Hình 1.3: Giá trị sản xuất thủy sản
Trang 23Hình 1.4: Cơ cấu giá trị sản xuất ngành thủy sản 1.1.2.3 Cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn của tỉnh
Kết cấu hạ tầng NT tiếp tục được xây dựng mới và nâng cấp cả về chiều rộng và chiều sâu, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển; bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới
An Giang cũng là một trong những tỉnh có hệ thống đường giao thông thôn khá phát triển phục vụ cho hoạt động đi lại Bên cạnh đó, hệ thống sông rạch chằng chịt từ bao đời nay được người dân An Giang sử dụng trở thành mạng lưới giao thông đường thủy rộng khắp có thể đi đến mọi miền quê hẻo lánh trong đó có những nơi hệ thống giao thông đường bộ không thể đến được và đi qua các tỉnh khác và một số nước bạn trong khu vực dễ dàng là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong đó
có hoạt động thủy sản Hiện nay, tỉnh chủ trương đầu tư thủy lợi để phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững và bảo đảm an sinh xã hội; chương trình giao thông nông thôn được tiếp tục quan tâm đầu tư, tổ chức đồng bộ, đến nay đã có 100% xã có đường
ô tô đến trung tâm xã thông suốt quanh năm Hạ tầng nghề cá được tiếp tục đầu tư để từng bước hình thành trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá của khu vực, đầu tư cơ sở hạ tầng các vùng nuôi thủy sản, khu sản xuất giống thủy sản tập trung của tỉnh
Trang 24nhưng bao đời nay vẫn sống hoà thuận, đoàn kết, hội nhập vào cộng đồng chung và đã cùng nhau tạo nên một bản sắc văn hoá độc đáo Đặc biệt, nhân dân An Giang có truyền thống và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp lâu đời có thể canh tác trồng trọt thích nghi với điều kiện thời tiết khắc nghiệt, sống hòa quyện với thiên nhiên (sống chung với lũ), tiếp thu và ứng dụng rất nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ cao vào sản xuất canh tác và nuôi trồng thủy sản Đây là một lợi thế rất lớn đối với tỉnh
An Giang nhằm hướng đến một nền sản xuất nông nghiệp sạch với hàm lượng công nghệ cao và năng suất cao đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của thị trường nông sản trong và ngoài nước Là tỉnh có dân số khá đông và phân bố không đều, theo số liệu thống kê năm 2012 dân số cả tỉnh là 2.153.716 người (mật độ dân số 609 người/km2) Ở các đô thị, mật độ dân số cao, phần đông dân cư sống dọc theo đường giao thông thủy, bộ, kênh rạch; các vùng còn lại có mật độ chênh lệch đáng kể Trong
đó, dân tộc Kinh là đông nhất chiếm tỷ lệ 94% dân số, Khơme chiếm 4%, Hoa chiếm 1,3%, Chăm chiếm 0,7 % Là tỉnh đa tôn giáo, trong đó tôn giáo bản địa là Phật giáo Hòa Hảo chiếm 42,7 % dân số, Phật giáo chiếm 44,7%, còn lại là Công giáo, Cao đài, Hồi giáo, Tứ ân hiếu nghĩa
Số người trong độ tuổi lao động ngày càng tăng, tổng lao động trong độ tuổi 1.300,4 nghìn người, chiếm 59,2% dân số, lao động đang làm việc 1.311.297 người, chiếm 60,9% dân số Cơ cấu dân số chuyển dịch theo hướng tăng, thành thị từ 51,2% năm 2009; 63,7% năm 2012 và nông thôn từ 57,1% năm 2009; 59,7% năm 2012 [8] Đây là tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tuy nhiên, phần lớn lao động tập trung ở khu vực nông thôn, trình độ thấp, lực lượng lao động chủ yếu vẫn tập trung vào ngành nông - lâm - thủy sản với khoảng 73%, còn lại ở ngành công nghiệp xây dựng (hơn 7,6%) và ngành dịch vụ (khoảng 19,4%) Lao động trong ngành thủy sản khoảng trên 80 nghìn người bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau
1.2 Hệ thống phân loại và một số đặc điểm sinh học của cá tra
Trang 25Cá tra có tên khoa học là Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878), được
mô tả lần đầu bởi Sauvage 1878 Ở Việt Nam đã được một số tác giả đề cập đến và các tác giả đều thống nhất có 9 loài cá tra trong giống cá tra có mặt ở miền nam Việt Nam,
trong đó cá tra có tên khoa học theo khóa phân loại của Smith (1945) là Pangasius
micronemus beeker Tuy nhiên, theo Tyson R Roberts và Chavalilit Vidthayanon
(1991) thì cá tra Việt Nam có tên khoa học là Pangasianodon hypophthalmus
(Sauvage, 1878) [7]
Hình 1.5: Hình cá tra Tên địa phương của cá tra Việt Nam và một sô nước khác như sau: Tên Việt Nam: cá Tra; Tên tiếng Anh: Mekong Giant Catfish hoặc Pangasius catfis; Campuchia: Trey Pra; Thái Lan: Plasawai, Pla Sangkawart tong; Indonesia: Wagal, Wakal, Juaru, Djuata, Lawang, Rio, Rios [16]
1.2.2 Đặc điểm sinh học của cá tra
1.2.2.1 Phân bố
Cá tra phân bố ở lưu vực sông Mê Kông, có mặt ở cả 4 nước Lào, Thái Lan,
Campuchia, Việt Nam Ở nước ta những năm trước đây khi chưa có cá sinh sản nhân tạo, thì cá bột và cá giống được vớt chủ yếu trên sông Tiền và sông Hậu Cá trưởng thành chỉ thấy trong ao nuôi, rất ít gặp trong tự nhiên địa phận Việt Nam, do cá có tập tính tính di cư ngược dòng sông Mê Kông để sinh sống và tìm nơi sinh sản tự nhiên Khảo sát chu kỳ di cư của cá tra ở địa phận Campuchia cho thấy cá ngược dòng từ tháng 10 đến tháng 5 và di cư về hạ lưu từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm [5]
Trang 261.2.2.2 Hình thái
Cá Tra là loài cá da trơn; có cơ quan hô hấp phụ; dài thân đến 130 SL (thân thon dài dẹt về phía đuôi); có 2 đôi râu ngắn; miệng rộng và có răng hàm ngay cả trên cá rất to; vây lưng cao, vây mở nhỏ, vây bụng có 8 - 9 tia, vây hậu môn dài; lưng có màu tro nhạt; bụng hơi bạc, có sọc đen ngắt quảng và kéo dài đến đuôi [5], [7]
1.1.2.3 Môi trường sống và khả năng thích nghi
Cá tra sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể sống được ở vùng nước hơi lợ (nồng
độ muối 7 - 10%), có thể chịu đựng được nước phèn với pH>5, dễ chết ở nhiệt độ thấp dưới 150C, nhưng chịu nóng tới 39oC [7]
Cá tra có số lượng hồng cầu trong máu nhiều hơn các loài cá khác Cá có cơ quan
hô hấp phụ và còn có thể hô hấp bằng bóng khí và da, nên cá chịu đựng được trong môi trường nước mà thiếu oxy hòa tan Tiêu hao oxy và ngưỡng oxy của cá tra thấp hơn 3 lần so với cá mè trắng [5]
1.1.2.4 Đặc điểm về dinh dưỡng
Cá tra khi hết noãn hoàn thì thích ăn mồi tươi sống, vì vậy chúng ăn thịt lẫn
nhau ngay trong bể ấp và chúng vẫn tiếp tục ăn nhau nếu cá ương không được cho ăn đấy đủ, thậm chí cá vớt trên sông vẫn thấy chúng ăn nhau trong đáy vớt cá bột Ngoài
ra, khi khảo sát cá bột vớt trên sông, còn thấy trong dạ dày của chúng có rất nhiều phần cơ thể và mắt cá con của các loài cá khác Dạ dày của cá phình to hình chữ U và
co giãn được, ruột cá tra ngắn, không gấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dưới bóng khí và tuyến sinh dục Dạ dày to và ruột ngắn là đặc điểm của cá thiên
về ăn thịt Ngay khi vừa hết noãn hoàng cá thể hiện rõ tính ăn thịt và ăn lẫn nhau, do
đó để tránh hao hụt do ăn nhau trong bể ấp, cần nhanh chóng chuyển cá đến ao ương Trong quá trình ương nuôi thành cá giống trong ao, chúng ăn các loại phù du động vật có kích thước vừa cỡ miệng của chúng và các thức ăn nhân tạo Khi cá trưởng thành thể hiện rõ tính ăn rộng, ăn đáy và ăn tạp thiên về động vật nhưng dễ chuyển đổi loại thức ăn Trong điều kiện thiếu thức ăn, cá có thể sử dụng các loại thức
ăn khác như mùn bã hữu cơ, thức ăn có nguồn gốc động vật Trong ao nuôi, cá tra có khả năng thích nghi với nhiều loại thức ăn khác nhau thức ăn bắt buộc như cám, rau, động vật đáy [5]
Khi phân tích thức ăn trong ruột cá đánh bắt ngoài tự nhiên, cho thấy thành phần thức ăn khá đa dạng, trong đó cá tra ăn tạp thiên về động vật Thành phần thức
ăn trong ruột cá tra ngoài tự nhiên (Theo D.Menon và P.I.Cheko, 1955)
Trang 27Bảng 1.6: Thành phần thức ăn trong ruột cá tra trong tự nhiên
(Nguồn: Theo D.Menon và P.I.Cheko, 1955)
1.1.2.5 Đặc điểm sinh trưởng
Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, còn nhỏ cá tăng nhanh về chiều dài Cá ương trong ao sau 2 tháng đã đạt chiều dài 10 - 12 cm (14 - 15 gram) Nuôi trong ao 1 năm cá đạt 1 - 1,5 kg/con (năm đầu tiên), những năm về sau cá tăng trọng nhanh hơn, có khi đạt 5 - 6 kg/năm tùy thuộc môi trường sống và sự cung cấp thức ăn cũng như loại thức ăn có hàm lượng đạm nhiều hay ít Từ khoảng 2,5 kg trở đi, mức tăng khối lượng nhanh hơn so với tăng chiều dài cơ thể Cá đực có tốc độ sinh trưởng tăng nhanh hơn cá cái Cá trong tự nhiên, có thể sống trên 20 năm Đã gặp cỡ cá trong
tự nhiên 18 kg hoặc có mẫu cá dài tới 1,8m Trong ao nuôi, cá bố mẹ cho đẻ đạt tới 25
kg ở cá 10 năm tuổi [12]
1.1.2.6 Đặc điểm sinh sản và nghiên cứu sản xuất giống
Cá tra không có cơ quan sinh dục phụ (sinh dục thứ cấp), nên nếu nhìn hình dáng bên ngoài khó phân biệt được cá đực, cá cái Ở thời kỳ thành thục, tuyến sinh dục
ở cá đực phát triển lớn gọi là buồng tinh hay tinh sào, ở cá cái gọi là buồng trứng hay noãn sào Tuyến sinh dục của cá tra bắt đầu phân biệt được đực cái từ giai đoạn II, tuy màu sắc khác nhau nhiều Các giai đoạn sau, buồng trứng tăng về kích thước, hạt trứng màu vàng; tinh sào có hình dạng phân nhánh, màu hồng chuyển sang màu trắng sữa
Hệ số thành thục của cá tra khảo sát được trong tự nhiên từ 1,76 - 12,94 (cá cái) và từ 0,83 – 2,1 (cá đực) ở cá đánh bắt tự nhiên trên sông cỡ từ 8 – 11 kg Trong ao nuôi vỗ,
hệ số thành thục cá tra cái có thể đạt tới 19,5% Trong tự nhiên, tuổi thành thục của cá tra đực ở tuổi thứ 2 và cá cái ở tuổi thứ 3 trở lên, khối lượng cá thành thục lần đầu từ 2,5 – 3 kg Mùa vụ thành thục của cá bắt đầu từ tháng 5 - 6 dương lịch trở đi, cá có tập tính di cư đẻ tự nhiên trên những khúc sông, nơi có điều kiện sinh thái phù hợp thuộc địa phận Campuchia và Thái Lan Cá tra không đẻ tự nhiên ở phần sông của Việt Nam, bãi đẻ của cá nằm từ khu vực ngã tư giao tiếp 2 con sông Mêkông và Tonlesap, từ thị
Trang 28xã Kratie (Campuchia) trở lên đến thác Khone, nơi giáp biên giới Campuchia và Lào Nhưng tập trung nhất từ Kampi đến hết Koh Rongiev thuộc địa giới 2 tỉnh Kratie và Stung Treng Tại bãi đẻ, cá bố mẹ đẻ trứng và thụ tinh tự nhiên, trứng dính vào cây cỏ thủy sinh ven bờ, thường là rễ của loài cây sống ven sông Gimenila asiatica Sau 24 giờ, trứng nở thành cá bột trôi theo dòng nước lũ về hạ lưu đến các vùng ngập nước ở Campuchia và Việt Nam Tại vùng biên giới Campuchia và Việt Nam người dân có truyền thống vớt cá tra bằng đáy (mùng), cá bột được chuyển về ao ương lên thành cá giống, sau đó đưa đi bán cho người nuôi cá Tra ở khắp Nam Bộ [7]
Trong sinh sản nhân tạo, có thể nuôi thành thục sớm và cho đẻ sớm hơn trong
tự nhiên (từ tháng 3 dương lịch hàng năm) Chỉ có trong điều kiện nuôi nhân tạo, cá Tra mới có thể tái phát dục 1 - 2 lần trong năm Sức sinh sản tuyệt đối của cá tra từ
200 ngàn đến vài triệu trứng Sức sinh sản tương đối có thể tới 135 ngàn trứng/kg cá cái Kích thước của trứng cá tra tương đối nhỏ, có tính dính (đường kính trứng sắp đẻ
TB 1mm, trương nước có thể đạt tới 1,5 - 1,6 mm) Ngay từ năm 1966, Thái Lan đã bắt cá tra thành thục trên sông (trong đầm Bung Borapet) và kích thích sinh sản nhân tạo thành công Sau đó, nghiên cứu nuôi vố cá tra trong ao Đến năm 1972, Thái Lan công bố quy trình sinh sản nhân tạo cá tra với phương pháp nuôi vỗ cá bố mẹ thành thục trong ao đất [1]
1.3 Tình hình nuôi cá tra trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Tình hình nuôi cá da trơn trên thế giới
Trong số các loài cá nước ngọt và nước lợ trên thế giới, các loài cá da trơn đứng thứ 5 về sản lượng Hàng năm có khoảng 350.000 tấn cá da trơn được nuôi với nhiều hình thức khác: nuôi đơn, nuôi ghép, nuôi xen canh… mặc dù có hơn 2.600 loài nhưng chỉ có 3 họ được nuôi phổ biến đó là họ cá nheo Mỹ Ictaluridae, họ cá trê Clariidae và
họ cá tra Pangasiidae Cá tra là loài có giá trị kinh tế cao và được nuôi phổ biến ở hầu hết các nước Đông Nam Á và là một trong những loài cá nuôi quan trọng nhất trong khu vực này Ba nước trong khu vực hạ lưu sông Mekong có nghề nuôi cá tra truyền thống là Campuchia, Thái Lan và Việt Nam do có nguồn cá tự nhiên phong phú Một
số nước trong khu vực như Malaysia, Indonesia cũng đã nuôi cá tra có hiệu quả từ thập niên 70 - 80 của thế kỷ XX Ở Campuchia, tỷ lệ cá tra thả nuôi chiếm 98% trong 3 loài
họ cá tra, chỉ có 2% là cá Basa và cá vồ đém Trong đó, sản lượng cá tra chiếm một nữa tổng sản lượng các loài cá thả nuôi Và tại Thái Lan, trong số 8 tỉnh nuôi cá nhiều
Trang 29nhất, có 50% số trại nuôi cá tra Ở Lào, có 11 loài trong giống cá tra được nuôi và cá tra nuôi cùng với cá trê lai nhập từ Việt Nam Tại Thái Lan, cá tra là loài rất quan trọng, trong số 8 tỉnh nuôi cá nhiều nhất thì có 50% số trại nuôi cá tra Vào năm 1966, Thái Lan là nước thành công đầu tiên trong sinh sản nhân tạo cá tra, đến năm 1970 đã chủ động cung cấp giống cho nghề nuôi Một số nước đã nhập cá tra để thuần hóa như Trung Quốc nhập từ Thái Lan 1978 về tỉnh Quảng Đông, Đài Loan nhập từ Thái Lan vào năm 1969, Philipine năm 1978, kết quả nuôi còn hạn chế Hệ thống nuôi thâm canh cá tra trong ao và bè được áp dụng rộng rãi ở Thái Lan, Campuchia, Indonesia, Malaysia và Philipine Nuôi cá tra trong lồng bè cũng rất phổ biến với năng suất dao động 100 - 300 kg/m3, tùy theo kích cỡ bè và mức độ thâm canh Từ xưa, nhóm cá Pangasius được nuôi trong những bè nổi bằng tre ở Thái Lan và Campuchia Hệ thống nuôi này được áp dụng nuôi ở Châu Âu và Mỹ (Pillay, 1990) Nếu như năm 1970 các nhà nuôi cá ở Mỹ chỉ sản xuất 2.580 tấn thì đến năm 2001 đã lên tới 271.000 tấn Các trại nuôi cá da trơn chủ yếu tập trung ở các đồng bằng sông Missisipi, Alabama, Arkansas và Louisiana [9]
1.3.2 Tình hình nghiên cứu và nuôi cá tra ở Việt Nam
1.3.2.1 Một số công trình nghiên cứu
Từ năm 1980, Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II cũng bắt đầu nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá tra, trong suốt những năm 1980 - 1990 quy trình nuôi vỗ thành thục cá tra bố mẹ trong ao đã tương đối hoàn chỉnh
Năm 1997, công nghệ sản suất giống và ương cá tra đã đạt được kết quả tốt Đến năm 2000, cá tra sinh sản nhân tạo đã cơ bản cung cấp đủ giống cho người nuôi và từ đó đến nay diện tích nuôi cũng như sản lượng đã không ngừng tăng lên Năm 2009, Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II đã đánh giá hiện trạng sản xuất giống và xây dựng các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giống cá tra ở Đồng bằng sông Cửu Long
1.3.2.2 Tình hình nuôi cá tra thương phẩm
Từ nửa đầu thế kỷ 20, nuôi cá trong ao mới bắt đầu xuất hiện ở đồng bằng Nam
bộ và được xem là nghề nuôi truyền thống Tài liệu của Ủy Hội sông Mê kông cũng đề cập về hiện trạng nuôi cá tra ở miền Nam Việt nam những thập niên 50-70 Từ trước những năm 1970, kỹ thuật nuôi còn hạn chế, thì nghề nuôi cá còn mang tính chất đơn điệu với đối tượng nuôi chủ yếu là cá tra, các đối tượng khác rất ít Hiện nay nuôi cá
Trang 30tra đã phát triển ở nhiều địa phương, không chỉ ở Nam bộ mà một số nơi ở miền Trung
và miền Bắc cũng bắt đầu quan tâm nuôi các đối tượng này Nuôi thương phẩm thâm canh cho năng suất rất cao, cá tra nuôi trong ao đạt tới 200 - 300 tấn/ ha, cá tra nuôi trong bè có thể đạt tới 100 - 300kg/ m3 bè Sông Cửu Long rất đa dạng về giống loài nuôi nhưng loài nuôi chiếm sản lượng nhiều nhất chủ yếu là cá tra [14]
Kỹ thuật nuôi (phương pháp nuôi) rất đa dạng, từ dạng nuôi ao qui mô nhỏ đến các qui mô lớn (qui mô công nghiệp) Các hệ thống nuôi cá tra chính ở ĐBSCL là: ao đất, bè nổi và nuôi đăng quầng ở vùng nước tự nhiên Sự phát triển của hệ thống nuôi
bè và nuôi đăng quầng đã giảm dần theo thời gian dựa trên sự kém hiệu quả kinh tế của mô hình này như cá nuôi chậm lớn, tỉ lệ sống thấp, sự bùng phát dịch bệnh thường xuyên và sự ô nhiễm nước Vì vậy, nuôi cá tra trong bè và đăng quầng phát triển chỉ trong khoảng thời gian ngắn từ năm 2000 đến 2004 khi so với nuôi trong ao Các phương pháp nuôi này đã giảm đáng kể và không còn quan trọng trong việc nuôi cá tra
và cá tra được thay thế bởi các loài cá khác như cá rô phi (Oreochromis), cá chim trắng (Colossoma macropomum) và cá chình (Anguilidae) Cho đến nay, phương pháp nuôi
cá tra trong ao đang được xem là thành công trong hệ thống nuôi thủy sản ở Việt Nam
Bảng 1.7: Tình hình nuôi cá tra thương phẩm ở ĐBSCL
STT Địa phương
Tổng lượng giống thả (tr.con)
Diện tích hiện thả nuôi (ha)
Diện tích
đã thu hoạch (ha)
Sản lượng thu (tấn)
Năng suất bình quân
Trang 31trong việc vay vốn tái sản xuất…Từ đó, nhiều nông dân đã treo ao, không sản xuất vụ
2, hoặc chuyển sang nuôi đối tượng khác
1.3.2.3 Tình hình dịch bệnh ở cá tra
Theo kết quả khảo sát gần đây, tỷ lệ cá tra nuôi ở ĐBSCL bị nhiễm bệnh là khá cao Hầu như tất cả các vùng nuôi đều xuất hiện những loại bệnh phổ biến trên cá tra như xuất huyết, trắng mang, trắng gan, và nhất là căn bệnh nguy hiểm gan thận mủ Có những vùng nuôi, tỷ lệ cá tra nhiễm bệnh gần như tới 100% Cá tra ở ĐBSCL bị bệnh
từ nhiều nguyên nhân Trước hết, là do cá bị nhiễm khuẩn gây các bệnh xuất huyết, đốm trắng…, hoặc bị các loài ký sinh trùng (trùng mặt trời, trùng bánh xe), giáp xác
ký sinh và nấm gây hại Bên cạnh đó, chế độ dinh dưỡng cho cá không cân đối đã gây
ra hội chứng thiếu vitamin, thiếu canxi; môi trường vùng nuôi bị ô nhiễm Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất chính là chất lượng cá tra giống đã xuống cấp đến mức đáng báo động Chất lượng đàn cá bố mẹ bị thoái hóa, lai cận huyết, sự cạnh tranh thiếu lành mạnh giữa các cơ sở sản xuất cá bột, cho cá đẻ ép, đẻ non và đẻ nhiều lần trong năm Đối với cơ sở ương cá giống, nhiều nơi có quy mô nhỏ, nguồn nước cho ao ương bị động, sử dụng thức ăn tự chế với cả những loại tươi sống làm nước nhanh bẩn,
ô nhiễm tiềm ẩn các loại bệnh và ký sinh trùng Trong khi nguồn cá bột chất lượng thấp, lại được ương trong điều kiện môi trường không đảm bảo, tỷ lệ hao hụt rất lớn,
từ cá bột lên cá hương hao tới 70 - 80%, từ cá hương lên giống hao tới 40-50%
Việc sử dụng con giống chất lượng thấp dẫn đến kết quả cá nuôi phát triển không đồng đều, tỷ lệ cá thịt vàng cao, tỷ lệ thịt phi-lê thấp, khả năng kháng bệnh rất kém trong quá trình nuôi phải sử dụng nhiều thuốc trị bệnh, tiêu tốn thức ăn nhiều, cá phân đàn, hao hụt lớn, giá thành cá nguyên liệu cao ảnh hưởng tới tiêu thụ và còn tác động xấu tới môi trường Theo phản ánh của người nuôi cá tra cho biết, tỷ lệ hao hụt
cá nuôi tới 30%, nhiều hộ mới thả giống được 20 - 30 ngày mà lượng cá bị chết đến gần 15% Mức độ tiêu tốn giống bình quân tới 2000 con giống/tấn cá nguyên liệu Hầu hết các bệnh thường xuất hiện quanh năm Do đó, việc nâng cao chất lượng con giống
để có con giống sạch bệnh, có sức đề kháng tốt, tốc độ tăng trưởng nhanh nhằm tạo điều kiện cho quá trình nuôi thương phẩm gặp nhiều thuận lợi hơn là điều rất cần thiết 1.4 Tình hình sản xuất giống cá tra ở Việt Nam
1.4.1 Hiện trạng sản xuất giống cá tra 1999-2012
Cá tra được xem như là con cá chủ lực trong xuất khẩu thủy sản của Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh sự tăng trưởng hết sức ấn tượng và ngoạn mục, người nuôi cá tra
Trang 32ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) cũng đã phải trải qua biết bao thăng trầm Không ít người phải ôm nợ, buộc phải bỏ ao, bỏ hầm, giã từ nghề nuôi Sự thật không mấy lạc quan đó cũng đã phản ảnh phần nào sự thiếu bền vững của nghề nuôi, cũng như tính đỏng đảnh của thị trường tiêu thụ Trong nghề nuôi cá tra, con giống có vai trò rất quan trọng và có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng cá nguyên liệu Giống khỏe, giống tốt không chỉ làm giảm tỷ lệ hao hụt, mà còn giúp cá sử dụng thức
ăn có hiệu quả Cá lớn nhanh, kháng bệnh tốt Người nuôi tiết giảm được nhiều chi phí trong khâu chăm sóc Nhờ vậy, giá cá thành phẩm sẽ hạ Giống tốt cũng sẽ cải thiện chất lượng thịt cá Cá sẽ có giá bán cao và dễ tiêu thụ hơn Nghề làm giống cá tra ở ĐBSCL hiện nay khá tự phát Nhiều cơ sở, do chỉ chạy theo lợi nhuận trước mắt, nên đang đưa vào sử dụng một số “công nghệ” nguy hiểm nhằm làm tăng sản lượng cá giống bằng mọi giá Trong đó, việc lạm dụng thuốc kích dục tố trở nên khá phổ biến Với loại thuốc này, người ta có thể ép cá đẻ tới 2-3 lứa/năm Vì cá phải đẻ quá nhiều, năm này qua năm khác, dẫn tới chất lượng cá tra giống ngày càng xuống thấp Mặt khác, do hiện nay hầu hết cá tra giống đều có nguồn gốc từ sinh sản nhân tạo, nên giống nhanh chóng bị thoái hoá Trước đây, cá giống lấy từ môi trường tự nhiên, phải từ 2,5 đến 3 năm tuổi mới bắt đầu thành thục (sinh sản được) Còn bây giờ, cá mới khoảng 1 năm tuổi đã thành thục rồi Điều đáng nói là nhiều trại cá giống vẫn cho những con cá thành thục quá sớm này sinh sản, vì thế, chất lượng cá giống lại càng khó đảm bảo Hiện nay, toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 200 trại sinh sản cá bột với lượng cá bố mẹ khoảng 150.000 tấn (với tỷ lệ đực/cái=1/3), nhu cầu về giống cá tra của cả nước khoảng 1,8 đến 2,4 tỷ con mỗi năm Việc sản xuất cá giống tập trung nhiều nhất ở An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Tiền Giang Chất lượng cá bố
mẹ hiện nay được sử dụng tại các trại sản xuất giống suy giảm nghiêm trọng, cá bố mẹ thường có nguồn gốc không rõ ràng, đa số được lựa từ các ao nuôi thương phẩm; Kích
cỡ cá bố mẹ không đồng đều nhưng đa số có thể trọng nhỏ Quy trình nuôi vỗ không đảm bảo, thậm chí cá bị bỏ đói hoặc cho ăn cầm chừng, khi cá bột tăng giá cá bố mẹ ở các cơ sở thường bị ép sinh sản nhân tạo hoặc khai thác quá mức cho cá đẻ nhiều lần trong năm Một số ít cơ sở có chọn cá hậu bị từ tự nhiên nhưng chưa có phương pháp phối giống thích hợp Ở một số hộ nuôi cá thương phẩm hiện nay, cá đực 7 - 8 tháng tuổi khối lượng 500 - 600g/con khi vuốt xoang bụng có sẹ trắng đục chảy ra và cá cái
có khối lượng 1kg đang mang trứng ở giai đoạn III; xuất hiện sự biến dạng về hình
Trang 33thái cá như: cá không có vây lưng, teo đuôi, mù mắt, cơ thể cá màu trắng hồng… Hiện tại, chưa có công bố nào so sánh về tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá tra bột có kích thước khác nhau, nhưng chắc chắn rằng cá bột có kích thước nhỏ nên rất có thể sẽ khó
ăn được thức ăn tự nhiên để tăng trưởng và sống sót [11]
Bên cạnh chất lượng cá bột kém thì nhận thức của hầu hết các hộ ương nuôi cá tra cùng góp phần làm giảm tỷ lệ sống trong quá trình ương nuôi đó là có hơn 40% số
hộ trả lời không quan tâm đến chất lượng cá bố mẹ sản xuất ra cá bột mà họ mua và có đến gần 35% số hộ mua cá bột từ những hộ sản xuất nhỏ lẻ hoặc không rõ nguồn gốc Mật độ ương trung bình cao 870 - 1.000 con cá bột/m2, có hộ còn ương mật độ rất cao 3.000 con/m2 Mật độ quá cao có thể làm cho thiếu thức ăn ở giai đoạn đầu khi cá chỉ
ăn thức ăn tự nhiên, thiếu oxy giai đoạn đầu và có thể ô nhiễm nguồn nước giai đoạn ương sau làm giảm tỷ lệ sống của cá hương và tăng trưởng của cá giống Tần suất nhiễm bệnh ở các hộ ương nuôi nhiều hơn những năm trước và xuất hiện một số bệnh nguy hiểm như Gan thận mủ, bệnh trắng gan trắng mang… Do thiếu hiểu biết nên người ương đã lạm dụng thuốc kháng sinh liều cao để chữa trị cho cá, nguy hiểm là nguy cơ dùng nguyên liệu và thuốc dùng cho người Sự thiếu hiểu biết trong quá trình thu hoạch và vận chuyển giống từ nơi sản xuất đến ao nuôi ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ
lệ sống của cá
1.4.2 Quản lý sản xuất giống cá tra tại Việt Nam
Công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh giống tại Việt Nam đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành quy chế quản lý sản xuất, kinh doanh giống thủy sản nhưng việc quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh giống cá tra thời gian qua ở nhiều địa phương vẫn còn đang bị thả lỏng, chưa được các ngành chuyên môn kiểm soát chặt chẽ Theo báo cáo của các địa phương, trong số hơn 116 cơ sở sản xuất giống, chỉ có khoảng 1/4 số cơ sở có đăng ký kinh doanh và có tổ chức sản xuất thường xuyên với diện tích lớn, sản lượng nhiều, thực hiện sản xuất theo quy trình kỹ thuật, cá bố mẹ có nguồn gốc rõ ràng, có nhật ký ghi chép quá trình sản xuất đầy đủ,
có công bố chất lượng và thực hiện kiểm dịch giống trước khi xuất trại Các cơ sở còn lại quy mô nhỏ, sản xuất không ổn định, khi giá cá giống cao thì hoạt động, khi giá thấp thì dừng hoạt động, dịch vụ bán giống vận chuyển bằng phương tiện thủy, địa điểm và thời gian giao giống lưu động rất khó quản lý Việc quản lý chưa chặt chẽ một mặt là do một số địa phương chưa quy hoạch chi tiết vùng sản xuất giống để làm cơ sở
Trang 34cho quản lý Mặt khác, do sự sắp xếp lại bộ máy quản lý ngành nông nghiệp, trong đó
sự hình thành tổ chức bộ máy quản lý chuyên ngành nuôi trồng thủy sản ở địa phương chậm chễ Khi đã hình thành rồi thì việc phân định chức năng nhiệm vụ quản lý giữa những cơ quan chức năng chuyên môn về nuôi trồng thủy sản, về thú y thủy sản, về quản lý chất lượng giống thủy sản chưa được hướng dẫn rõ ràng nên các địa phương rất khó thực hiện Ngoài ra, hiện nay ở khu vực trọng điểm sản xuất cá tra chưa có sự đầu tư của nhà nước để hình thành những phòng khảo nghiệm, kiểm nghiệm, kiểm định giống và môi trường [14]
1.4.3 Thực trạng sản xuất giống thủy sản tại An Giang
Tỉnh An Giang nằm dọc theo 2 nhánh sông MeKong, vị trí rất thuận lợi về canh tác nông nghiệp Cây lúa được xác định là cây lương thực chủ lực tại địa phương, với sản lượng hàng năm trên 3 triệu tấn, đứng đầu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, hoạt động thủy sản cũng là thế mạnh của An Giang Qua hệ thống sông Tiền, sông Hậu và những kênh rạch thủy lợi địa phương, người dân
đã khai thác thủy sản tự nhiên có hiệu quả từ nhiều năm trước đây Nhưng nguồn lợi này càng ngày càng giảm sút đáng kể với nhiều nguyên nhân, đặc biệt là do hoạt động khai thác quá mức, không ý thức bảo tồn nguồn lợi của ngư dân, cùng với việc sử dụng nông dược và phương thức canh tác nông nghiệp, đã góp phần làm cho tài nguyên trở nên mất dần tính đa dạng về chủng loài Song song với sự giảm sút nguồn lợi này, nuôi thủy sản lại phát triển với tỷ lệ ngày càng tăng
Nghề nuôi cá An Giang phát triển do nhiều nguyên nhân:
-Điều kiện thiên nhiên: nguồn nước tốt và thời tiết thuận lợi cho NTTS
-Giống cá nuôi hầu hết được cung ứng từ nguồn sản xuất nhân tạo
-Nguồn cá tạp tự nhiên nước ngọt và nước lợ vẫn cung cấp làm thức ăn cho cá nuôi dồi dào Nguồn phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho cá ổn định Ngoài thức ăn
tự chế, người nuôi cá đã biết sử dụng thức ăn công nghiệp, các thành phần bổ sung cho
cá như các chất khoáng vi lượng và các loại vitamin
-Người nuôi cá trải qua nhiều kinh nghiệm, nguồn lao động địa phương dồi dào -Người nuôi cá được tiếp cận thông tin khoa học - kỹ thuật qua các chuyển giao công nghệ, đề tài nghiên cứu khoa học, phương tiện truyền thông và các cơ quan chức năng của ngành thủy sản
-Hiệu quả kinh tế của nuôi trồng thủy sản An Giang cao: tỷ suất lợi nhuận từ
0,10-0,13 nếu tính theo mô hình nuôi ao cá tra với năng suất bình quân đạt 150 tấn/ha
Trang 35Từ đó khẳng định rõ vị trí quan trọng của ngành nuôi trồng thủy sản trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Dẫn đầu sản lượng cá nuôi, bình quân từ 80% là con cá tra; Theo định hướng phát triển nghề nuôi cá tra giai đoạn 2010 - 2015 của tỉnh An Giang các chỉ tiêu
về diện tích và sản lượng đều tăng dần trong thời gian tới, cụ thể như sau:
Bảng 1.8: Diện tích nuôi và sản lượng của tỉnh An Giang giai đoạn 2011 - 2015
Sản lượng Tấn 388.589 411.449 435.653 461.280 488.416
(Nguồn: Sở Khoa học công nghệ, 2010)
Tuy nhiên, diện tích nuôi hiện đã giảm sút chỉ còn 1.200 ha (giảm khoảng 200 ha
so năm 2008, do nông dân nuôi bị thua lỗ thiếu vốn để tái đầu tư), sản lượng đạt 260.000 tấn thì có thể nói quả là thách thức lớn Thách thức, khó khăn thường đi liền với thời cơ, đây chính là cơ hội mới để ngành nghề nuôi - xuất khẩu cá tra nhìn nhận lại mình và nghiên cứu, cơ cấu lại sản xuất, xuất khẩu Do đó, để đảm bảo cho con cá tra phát triển bền vững và xứng tầm đòi hỏi có sự nổ lực rất lớn của cả cộng đồng Cần phải hiện thực hóa, nhanh chóng đưa qui hoạch vào thực tiễn, đưa doanh nghiệp vào cuộc, các công ty, nhà máy chế biến thủy sản phải xây dựng vùng nguyên liệu Các cơ
sở nuôi cá tra cần liên kết để tránh tình trạng nuôi cá tra manh mún, nhỏ lẻ rất khó kiểm soát dịch bệnh, sản phẩm dễ khủng hoảng thừa
Về phía ngành Khoa học Công nghệ, ngoài việc hỗ trợ việc tập huấn cho ngư dân trong và ngoài hiệp hội AFA nuôi cá tra theo tiêu chuẩn SQF Đối với người nuôi nhỏ
lẻ (tại An Giang theo thống kê còn khoảng 30 - 40%) sở cũng đã hỗ trợ tập huấn nhiều
mô hình nuôi mới trên các đối tượng thủy sản khác như: cá rô phi cải thiện di truyền
về tốc độ tăng trưởng, cá lóc, cá bống tượng, cá sặc rằn, cá lăng nha, cá leo Đây là những đối tượng nuôi có khả năng giúp thay thế cho cá tra ở những vùng ngoài tầm quy hoạch
Mặt khác, để khắc phục hiện tượng giảm sút nguồn lợi thuỷ sản do tình trạng khai thác quá mức và phương thức canh tác nông nghiệp dẫn đến việc mất dần tính đa dạng sinh học, có nguy cơ mất cân bằng sinh thái, làm phát triển không bền vững; Sở KH&CN đã tiến hành nghiên cứu xây dựng - chuyển giao nhiều quy trình kỹ thuật sinh sản nhân tạo các đối tượng nuôi mới như: cá lăng nha, cá leo, lươn, cá chạch lấu Theo nhận định chung của các đơn vị thuộc ngành thủy sản, cũng như ngư dân, địa phương có tham gia phối hợp thực hiện nhận chuyển giao - ứng dụng, thì hiệu quả
Trang 36từ đề tài/dự án mang lại đã góp phần làm chuyển biến nhận thức ngư dân qua các mô hình hợp tác và thực sự có đóng góp làm tăng hiệu quả kinh tế – xã hội chung của tỉnh Bên cạnh đó, sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh An Giang đang phát triển mạnh mẽ nghề nuôi trồng thủy sản Trong những năm qua, ngành thủy sản An Giang đạt được những thành tựu đáng phấn khởi Tỉnh tiếp tục quy hoạch lại các vùng sản xuất nguyên liệu, chủ động trong khâu sản xuất con giống, mở rộng thị trường xuất khẩu, sản phẩm chế biến đa dạng và được khách hàng nhiều nước ưa chuộng Sản xuất ngày càng đi vào chiều sâu, chất lượng nguồn nguyên liệu cung cấp cho chế biến xuất khẩu được cải thiện đáng kể Việc ứng dụng các thành tựu kỹ thuật vào sản xuất, quan tâm đầu tư con giống, thức ăn, phòng trừ dịch bệnh và bảo vệ môi trường đã phần nào tạo được nguồn nguyên liệu sạch, không sử dụng hóa chất và kháng sinh thuộc danh mục cấm Ngoài
ra, các mô hình nuôi cá tra, rô phi, điêu hồng trong bè và nuôi tôm càng xanh luân canh trên nền đất ruộng, mô hình nuôi sinh thái cũng đang được chú ý và nhân rộng rất thích nghi với điều kiện ở An Giang nên mang lại hiệu quả kinh tế cao [10]
1.4.4 Thực trạng sản xuất giống cá tra tại An Giang
Nghề sản xuất cá tra bột ở An Giang được hình thành vào khoảng năm 1998 Quy mô trung bình của các trại là 14.984 m2, tổng diện tích ao nuôi cá bố mẹ khoảng 4.177,3 m2 với trữ lượng cá bố mẹ là 10,8 tấn và có khoảng 70% cơ sở sản xuất giống
có ao ương với diện tích 3.718,9 m2 [17]
(Nguồn: NGTK tỉnh An Giang, 2012 )
Hình 1.6: Thực trạng sản xuất giống cá tra tại An Giang
Trang 37Theo điều tra năm 2013, toàn tỉnh hiện có khoảng 19 cơ sở sản xuất cá tra bột
và hơn 1.650 hộ sản xuất giống thủy sản các loại, với diện tích ương nuôi là 691 ha, trong đó có 1.356 hộ sản xuất giống cá tra (611 ha) Mỗi năm có thể sản xuất 4,5 - 5 tỷ
cá tra bột, hơn 830 triệu con giống các loại (riêng giống cá tra là 452 triệu con) So với các tỉnh trong vùng ĐBSCL, con giống sản xuất tại An Giang có chất lượng tốt, đặc biệt là cá tra và đã có “thương hiệu” nhất định nên con giống sản xuất ra được tiêu thụ
mạnh với số lượng lớn Trước năm 1999, do trình độ sản xuất giống cá tra còn thấp,
hiệu quả sản xuất không cao nên phần nhiều phải sử dụng nguồn giống vớt từ ngoài tự nhiên để nuôi thương phẩm, đến trước năm 2004 tình hình có cải thiện song lượng giống ngoài tự nhiên vẫn còn chiếm trên 50% Từ năm 2004, lượng giống cung cấp cho nuôi thương phẩm mới chủ động được từ nguồn sản xuất nhân tạo Hiện nay, sản xuất giống cá tra đang phát triển theo quy luật cung - cầu và quy luật giá trị, nhưng chưa được quản lý chặt chẽ mà mang tính tự phát, vì lợi nhuận trước mắt Khi cá nguyên liệu tiêu thụ được giá, diện tích nuôi tăng lên, giống trở nên khan hiếm sẽ bị đẩy giá lên cao Khi đó xảy ra tình trạng sản xuất giống chạy theo số lượng mà không chú ý đến chất lượng Hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh như tăng giá giống, xuất bán giống cỡ nhỏ, buôn bán dịch vụ giống lòng vòng làm cho con giống yếu đi không đảm bảo chất lượng Nhiều cơ sở ương dưỡng, dịch vụ giống mới được hình thành một cách vội vàng không đảm bảo điều kiện sản xuất, kinh doanh theo quy định Khi cá nguyên liệu bị hạ giá, khó tiêu thụ thì các trại sinh sản cá bột thường không chú
ý tới nuôi dưỡng đàn cá bố mẹ, cho ăn cầm chừng, thậm chí cắt giảm lượng thức ăn, cá phát dục kém Nhưng nếu ngay sau đó cá nguyên liệu tiêu thụ được giá cao, nhu cầu giống tăng lên thì đàn cá bố mẹ bị bỏ đói đó lại được sử dụng ngay để sinh sản, lạm dụng thuốc kích dục tố liều cao để ép cho cá đẻ nhiều lần trong năm, trứng non, nhỏ,
phát triển không đều nên cá bột rất yếu, tỷ lệ ương lên giống đạt rất thấp [4]
Đối với các trại sinh sản cá bột, phần lớn sử dụng đàn bố mẹ tuyển chọn từ cá thịt, phẩm giống đã thoái hoá, cỡ cá nhỏ Trước đây, cá giống lấy từ môi trường tự nhiên nuôi từ 2,5 đến 3 năm tuổi, khối lượng 4 - 5 kg mới bắt đầu thành thục Hiện nay
cá nuôi mới 5 - 6 tháng tuổi, khối lượng 0,5 - 1,0 kg đã thành thục nên chất lượng cá bột thấp Để giảm chi phí mà vẫn thu được sản lượng cá bột cao, nhiều trại giống đã giảm khối lượng đàn cá bố mẹ, giảm lượng thức ăn nuôi dưỡng nhưng tăng cường độ sinh sản 5 - 6 lứa/năm
Trang 38Khảo sát về tình hình sản xuất giống cá tra tại tỉnh An Giang, hiện nay cho thấy
có 03 mô hình sản xuất giống chủ yếu như sau:
(1) Trại sinh sản cá bột cung cấp cho các cơ sở ương giống là chính; (2) Trại sinh sản cá bột sau đó ương thành cá giống bán cho người nuôi và (3) Cơ sở ương chỉ mua
cá bột ương thành cá giống và dịch vụ giống
Nghề sản xuất cá tra giống đã có tại An Giang từ năm 1985 và không ngừng phát triển do hội đủ các lợi thế về khí hậu, đất đai, nguồn nước, môi trường Sản xuất cá tra
ở An Giang với tổng số cơ sở sản xuất giống là 19 cơ sở Trong đó, Trung tâm giống Thủy sản An Giang là được nhà nước đầu tư đồng bộ về hạ tầng cơ sở (hệ thống điện, đường giao thông, hệ thống thoát nước thải) do đó cơ sở này rất thuận tiện trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Còn lại là phát triển tự do; các cơ sở xây dựng không theo quy hoạch, không có hạ tầng cơ sở, nhà nước không đầu tư một hạng mục công trình;
cơ sở sản xuất giống còn nằm xen kẽ lẫn trong nhà dân; sản xuất và tiêu thụ gặp nhiều khó khăn
Bảng 1.9: Tình hình sản xuất và sản lượng cá tra bột tỉnh An Giang
giai đoạn (2011 – 2013)
(Nguồn: Báo cáo Chi cục Thủy sản An Giang, 2013)
Số liệu ở bảng 1.9 thể hiện, trong năm 2011 toàn tỉnh có 30 cơ sở sản xuất; đến năm 2013, chỉ còn 19 cơ sở sản xuất, sản lượng đạt 2,4 tỷ cá bột Như vậy, so với các năm trước đó số lượng cơ sở sản xuất và sản lượng cá bột tại An Giang trong năm
2013 đang giảm Theo tổng hợp của Chi cục Thủy sản tỉnh An Giang, hàng năm cần khoảng từ 1,5 - 2 tỷ cá bột, nhưng trong tỉnh đã sản xuất hơn nhu cầu thực tế và đã cung cấp cho các tỉnh lân cận Việc chủ động về con giống cung cấp trong tỉnh cũng là yếu tố ảnh hưởng tới số lượng mà còn ảnh hưởng tới chất lượng giống do công tác quản lý gặp khó khăn
1.4.5 Công tác quản lý sản xuất giống cá tra tại An Giang
Theo chủ trương của tỉnh An Giang trong dự thảo tái cơ cấu ngành nông nghiệp, lãnh đạo tỉnh An Giang đã chọn cá tra là một trong những đối tượng chủ lực của tỉnh
để thực hiện tái cơ cấu và xu hướng sắp tới sẽ tập trung từng bước giải quyết những khó khăn cho nghề nuôi cá tra của tỉnh Theo góc độ quản lý nhà nước, thì nguyên
Trang 39nhân cơ bản là do: hiện nay chất lượng cá giống thấp do sức ép từ nhu cầu giống nên nhiều cơ sở chọn đàn cá bố mẹ có chất lượng thấp và điều kiện ương dưỡng không đảm bảo kỹ thuật Trước đây, cá giống được bắt từ tự nhiên về nuôi đến 2,5 - 3 năm tuổi mới thành thục sinh dục; còn cá giống hiện nay được sinh sản nhân tạo và chỉ cần nuôi từ 10 - 12 tháng tuổi là đã thành thục Nhằm giảm chi phí, nhiều cơ sở sản xuất giống đã sử dụng đàn cá bố mẹ này, đồng thời giảm dinh dưỡng trong quá trình nuôi
vỗ và lạm dụng kích dục tố để tăng cường độ sinh sản (5 - 6 lứa/năm) nên chất lượng đàn cá bột rất thấp.Trong ương nuôi cá giống, chỉ có khỏang ¼ cơ sở có đăng ký kinh doanh và sản xuất thường xuyên với diện tích lớn; còn lại hầu hết là các cơ sở có quy
mô nhỏ, sản xuất không ổn định (họat động khi giá cá giống cao và ngưng khi giá giảm) Những cơ sở này không bảo đảm điều kiện kỹ thuật và an toàn vệ sinh, nguồn nước bị động không thể thay nước thường xuyên, sử dụng thức ăn tự chế với những lọai tươi sống làm nước nhanh bẩn gây ô nhiễm và tiềm ẩn các loại bệnh và ký sinh trùng; từ đó cho ra đàn giống chất lượng rất thấp Việc này đã dẫn đến tình trạng hoạt động sản xuất giống cá tra ở An Giang có biểu hiện thiếu ổn định, bền vững
*Về quản lý giống
Định kỳ hàng năm các cơ quan chuyên môn thuộc sở NN&PTNT tiến hành kiểm tra điều kiện kinh doanh, điều kiện vệ sinh thú y đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống thủy sản trên địa bàn tỉnh; thực hiện việc kiểm dịch và giám sát cách ly kiểm dịch cá bố mẹ và cá giống trước khi đưa vào sản xuất và lưu thông; hướng dẫn cơ sở lập hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng và ghi nhãn hàng hóa theo đúng quy định; đồng thời khuyến cáo người dân chỉ mua giống ở những cơ sở có uy tín; không mua giống trôi nổi, không rõ nguồn gốc xuất xứ trên thị trường
Tuy nhiên, việc cung cấp con giống từ bên ngoài tỉnh bằng nhiều nguồn, nhiều đơn vị sản xuất cung ứng khác nhau, trong khi lực lượng cán bộ quản lý mỏng và ý thức trách nhiệm của người cung cấp và người mua cũng không cao do không thông báo cho cán bộ địa phương, nên số lượng giống được kiểm dịch trước khi nhập vào tỉnh và thả xuống ao ương nuôi đạt tỷ lệ rất ít (không tới 1%) Ngoài ra, hiện tượng giống ngoài tỉnh vận chuyển thả nuôi trực tiếp không thông qua lưu trữ tại cơ sở sản xuất rất phổ biến, nhưng hiện nay tỉnh An Giang vẫn chưa chưa có biện pháp kiểm soát hiệu quả [3]
Trang 40Bảng 1.10: Diện tích và sản lượng giống cá tra qua các năm ở An Giang
Sản lượng (triệu con) 625 7.750,7 269 590,25 0,68
(Nguồn: Báo cáo Chi cục Thủy sản An Giang, 2013)
Bảng 1.10 đã thể hiện có sự biến động lớn về diện tích ương nuôi giống cá tra trong từ khoảng 2009 đến 2013, việc giảm diện tích nuôi phần nào ảnh hưởng đến quy
mô sản xuất giống Nguyên nhân sản xuất cá tra giống giảm so với năm 2012 là do trong năm 2013 tình hình sản xuất nuôi thương phẩm gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ con giống ương đạt thấp, giá cá tra nguyên liệu giảm xuống thấp dưới giá thành sản xuất, sản xuất thua lỗ dẫn đến số hộ sản xuất ương giống cũng giảm nên nhu cầu cá tra giống cung cấp cho nuôi thương phẩm cũng giảm Cho nên, sản xuất giống cá tra đã chuyển sang nuôi đối tượng khác hoặc treo ao nguyên nhân chủ yếu là do thiếu nguồn vốn sản xuất; giá cá tra giống giảm xuống thấp sản xuất không hiệu quả, không nơi tiêu thụ Một số ít nông dân chuyển sang sản xuất giống khác, số còn lại treo ao để chờ giá nếu giá giống tăng trở lại thì các hộ này sẽ tiếp tục sản xuất