1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao hiệu quả các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển thành phố Đà Nẵng

125 593 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 4,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nên các loại mô hình dịch vụ hậu cần của các nghề như trên đã bộc lộ khá nhiều hạn chế như: hiệu quả kinh tế, xã hội của các mô hình chưa cao; số lượng tàu trong một mô hình không phù hợ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn được hoàn thành là do quá trình nghiên cứu tài liệu, thực hiện các chuyến điều tra khảo sát tại Đà Nẵng và các chuyến nghiên cứu thử nghiệm trên tàu thu mua hải sản, các tàu khai thác hải sản tại Đà Nẵng

Số liệu được sử dụng trong luận văn là toàn bộ kết quả, khảo sát và thí nghiệm

ở thành phố Đà Nẵng của đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu xây dựng mô hình dịch vụ hậu cần cho nghề khai thác hải sản xa bờ ở vùng biển Miền Trung” Số liệu trong luận văn

là hoàn toàn trung thực, được xử lý theo phương pháp khoa học và đảm bảo độ tin cậy

Số liệu trong luận văn được Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản, Chủ nhiệm đề tài cấp Bộ nói trên cho phép sử dụng Kết quả nghiên cứu của luận văn là mới, không trùng lặp với bất cứ luận án bảo vệ học vị nào đã có trước đây

Tác giả

Phạm Văn Tuấn

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS Phan Trọng Huyến là người trực tiếp hướng dẫn và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản, chủ nhiệm đề tài:

“Nghiên cứu xây dựng mô hình dịch vụ hậu cần cho nghề khai thác hải sản xa bờ ở vùng biển Miền Trung”, đã cho phép và tạo mọi điều kiện để tôi sử dụng số liệu

Tôi xin chân thành cảm ơn ThS Nguyễn Phi Toàn đã tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành bản luận văn này Xin cảm ơn KS Phan Văn Vải, ThS Phan Đăng Liêm, ThS Lê Văn Bôn đã tận tình giúp đỡ tôi trong các chuyến điều tra khảo sát tại Đà Nẵng Cảm ơn TS Nguyễn Long, ThS Nguyễn Văn Kháng đã góp ý, hướng dẫn để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới: Ban giám Hiệu, Ban chủ nhiệm khoa sau đại học, Quý thầy trong Viện Khoa học và Công nghệ Khai thác Thủy sản đã truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm giúp tôi hoàn thành luận văn này

Tác giả

Phạm Văn Tuấn

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

BẢNG CHÚ GIẢI CÁC CHỮA VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 3

1.1.1 Tổng quan các công trình NCKH liên quan 3

1.1.2 Giới thiệu một số mô hình đã được thực hiện trên thế giới 4

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 5

1.2.1 Tổng quan các công trình NCKH liên quan 5

1.2.2 Giới thiệu một số mô hình đã được thực hiện trong nước 8

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

2.1 Nội dung nghiên cứu 12

2.2 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 12

2.3 Phương pháp nghiên cứu 12

2.3.1 Số liệu sử dụng 12

2.3.2 Phương pháp đánh giá thực trạng hoạt động của các mô hình 13

2.3.3 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả của các mô hình 14

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 14

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 16

3.1 Cơ cấu nghề nghiệp khai thác hải sản ở Đà Nẵng 16

3.2 Khái quát về các dạng mô hình trong nghề cá hiện nay ở Đà Nẵng 17

3.3 Kết quả điều tra thực trạng về các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển ở Đà Nẵng 18

3.3.1 Giới thiệu về các mô hình dịch vụ hậu cần 18

Trang 7

3.3 2 Thực trạng hoạt động trên biển của các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên

biển ở Đà Nẵng 30

3.3.3 Thực trạng về công tác cứu trợ, cứu nạn cho người và tàu trong mô hình khi hoạt động trên biển 67

3.3.4 Thực trạng về công tác an ninh, an toàn hàng hải cho tàu con trong mô hình69 3.4 Phân tích, đánh giá thực trạng các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển ở Đà Nẵng 70

3.4.1 Phân tích, đánh giá thực trạng của mô hình thứ nhất 70

3.4.2 Phân tích, đánh giá thực trạng của mô hình thứ hai 72

3.4.3 Phân tích, đánh giá thực trạng của mô hình thứ ba 73

3.4.4 Phân tích, đánh giá thực trạng của mô hình thứ tư 75

3.4 5 Đánh giá về hiệu quả công tác cứu trợ, cứu nạn cho tàu và người trên biển trong các mô hình 76

3.4 6 Đánh giá về hiệu quả đảm bảo công tác an ninh, bảo vệ chủ quyền biển đảo của các mô hình 76

3.5 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển ở Đà Nẵng 77

3.5.1 Giải pháp về cơ cấu tổ chức của mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển 77 3.5.2 Giải pháp về nghề khai thác của các tàu con trong mô hình 79

3.5.3 Giải pháp về thị trường tiêu thụ sản phẩm 80

3.5.4 Giải pháp về quy chế hoạt động của các tàu trong mô hình 81

3.5.5 Giải pháp về cứu trợ, cựu nạn cho các tàu trong mô hình 84

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86

1 Kết luận 86

2 Kiến nghị 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC 90

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Thông số cơ các của một số tàu cá công nghiệp 3

Bảng 1.2: Số lượng tàu và số ngày trong một chu kỳ khai thác của các mô hình tổ chức sản xuất 7

Bảng 2.1 Số mẫu điều tra mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển ở Đà Nẵng 13

Bảng 3.1: Cơ cấu tàu thuyền TP Đà Nẵng phân theo nghề và nhóm công suất 16

Bảng 3.2: Thông tin về chủ tàu mẹ trong mô hình thứ nhất 19

Bảng 3.3: Thông tin về các chủ tàu con trong mô hình thứ nhất 20

Bảng 3.4: Thông số cơ bản của các tàu con trong mô hình thứ nhất 20

Bảng 3.5: Nguồn vốn đầu tư trang bị tàu thuyền, ngư cụ và đầu tư sản xuất của các tàu con trong mô hình thứ nhất 21

Bảng 3.6: Thông tin về chủ tàu mẹ trong mô hình thứ hai 22

Bảng 3.7: Thông tin về các chủ tàu con trong mô hình thứ hai 22

Bảng 3.8: Thông số cơ bản của các tàu con trong mô hình thứ hai 23

Bảng 3.9: Nguồn vốn đầu tư trang bị tàu thuyền, ngư cụ và đầu tư sản xuất của các tàu con trong mô hình thứ hai 23

Bảng 3.10: Thông tin về chủ tàu tàu mẹ trong mô hình thứ ba 24

Bảng 3.11: Thông tin về các chủ tàu con trong mô hình thứ ba 25

Bảng 3.12: Thông số cơ bản của các tàu con trong mô hình thứ ba 25

Bảng 3.13: Nguồn vốn đầu tư trang bị tàu thuyền, ngư cụ và đầu tư sản xuất của các tàu con trong mô hình thứ ba 26

Bảng 3.14: Thông tin về các chủ tàu tàu mẹ trong mô hình thứ tư 27

Bảng 3.15: Thông tin về các chủ tàu con trong mô hình thứ tư 28

Bảng 3.16: Thông số cơ bản của các tàu con trong mô hình thứ tư 28

Bảng 3.17: Nguồn vốn đầu tư trang bị tàu thuyền, ngư cụ và đầu tư sản xuất của các tàu con trong mô hình thứ tư 28

Bảng 3.18: Thông số cơ bản vàng lưới vây của tàu con trong mô hình thứ nhất 31

Trang 10

Bảng 3.19 : Thông số cơ bản vàng lưới rê của tàu con trong mô hình thứ nhất 31Bảng 3.20: Năng suất khai thác của các tàu con trong mô hình thứ nhất 34Bảng 3.21: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận các tàu trước khi tham gia mô hình thứ nhất36Bảng 3.22: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận tàu con trong khi tham gia mô hình thứ nhất37Bảng 3.23: Sản lượng thu mua chuyến biển của tàu mẹ trong mô hình thứ nhất 38Bảng 3.24: Nguyên vật liệu cung ứng trong chuyến biển cho tàu con mô hình thứ nhất39Bảng 3.25: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận chuyến biển tàu mẹ trong mô hình thứ nhất 41Bảng 3.26: Thông số cơ bản vàng lưới vây của tàu con trong mô hình thứ hai 42Bảng 3.27: Thông số cơ bản vàng lưới rê của tàu con trong mô hình thứ hai 42Bảng 3.28: Năng suất khai thác của các tàu con trong mô hình thứ hai 43Bảng 3.29: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận các tàu trước khi tham gia mô hình thứ hai 44Bảng 3.30: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận tàu con trong khi tham gia mô hình thứ hai 45Bảng 3.31: Sản lượng thu mua chuyến biển của tàu mẹ trong mô hình thứ hai 46Bảng 3.32: Nguyên vật liệu cung ứng trong chuyến biển cho tàu con mô hình thứ hai47Bảng 3.33: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận chuyến biển tàu mẹ trong mô hình thứ hai 49Bảng 3.34: Thông số cơ bản vàng lưới chụp mực của tàu con trong mô hình thứ ba 50Bảng 3.35: Thông số cơ bản vàng lưới vây của tàu con trong mô hình thứ ba 50Bảng 3.36: Năng suất khai thác các tàu con trước khi tham gia mô hình thứ ba 52Bảng 3.37: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận các tàu trước khi tham gia mô hình thứ ba 54Bảng 3.38: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận tàu con trong khi tham gia mô hình thứ ba 55Bảng 3.39: Sản lượng thu mua chuyến biển của tàu mẹ trong mô hình thứ ba 56Bảng 3.40: Nguyên vật liệu cung ứng trong chuyến biển cho tàu con mô hình thứ ba 57Bảng 3.41: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận chuyến biển tàu mẹ trong mô hình thứ ba 59Bảng 3.42: Thông số cơ bản vàng lưới chụp mực của tàu con trong mô hình thứ tư 60Bảng 3.43: Thông số cơ bản vàng lưới vây của tàu con trong mô hình thứ tư 60Bảng 3.44: Năng suất khai thác của các tàu con trong mô hình thứ tư 61

Trang 11

Bảng 3.45: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận các tàu trước khi tham gia mô hình thứ tư 62Bảng 3.46: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận tàu con trong khi tham gia mô hình thứ tư 63Bảng 3.47: Sản lượng thu mua chuyến biển của tàu mẹ trong mô hình thứ tư 64Bảng 3.48: Nguyên vật liệu cung ứng trong chuyến biển cho tàu con mô hình thứ tư 65Bảng 3.49: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận chuyến biển tàu mẹ trong mô hình thứ tư 67Bảng 3.50: Các thông tin về sự cố của các tàu trước khi tham gia mô hình 67Bảng 3.51: Các thông tin về sự cố của các tàu trong khi tham gia mô hình 68Bảng 3.52: Thông tin về thực trạng an ninh, an toàn hàng hải của tàu con trước khi tham gia mô hình 69Bảng 3.53: Thông tin về thực trạng an ninh, an toàn hàng hải của tàu con trong khi tham gia mô hình 70

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 12

Hình 3.1: Sơ đồ qui trình hoạt động của tàu mẹ 29

Hình 3.2: Sơ đồ qui trình sản xuất của tàu con khai thác đơn lẻ 32

Hình 3.3: Sơ đồ qui trình sản xuất của tàu con khi tham gia mô hình 32

Hình 3.4: Năng suất khai thác của các tàu con trong mô hình thứ nhất 34

Hình 3.5: Lợi nhuận chuyến biển của các tàu con trong mô hình thứ nhất 37

Hình 3.6: Năng suất khai thác của các tàu con trong mô hình thứ hai 43

Hình 3.7: Lợi nhuận chuyến biển của các tàu con trong mô hình thứ hai 45

Hình 3.8: Năng suất khai thác của các tàu con trong mô hình thứ ba 52

Hình 3.9: Lợi nhuận chuyến biển của các tàu con trong mô hình thứ ba 55

Hình 3.10: Năng suất khai thác của các tàu con trong mô hình thứ tư 61

Hình 3.11: Lợi nhuận chuyến biển của các tàu con trong mô hình thứ tư 63

Hình 3.12: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của mô hình tàu mẹ - tàu con 78

Trang 13

MỞ ĐẦU

Đà Nẵng là một trong những tỉnh có đội tàu cá phát triển ở khu vực Miền Trung nước ta, tính đến cuối năm 2013 toàn tỉnh có 1329 chiếc, trong đó đội tàu có công suất máy chính trên 90cv khai thác ở vùng biển xa bờ chiếm 11,7% (Chi cục KT & BVNL

Đà Nẵng) Hiện nay nghề khai thác hải sản xa bờ ở Đà Nẵng đang gặp phải nhiều khó khăn về trình độ công nghệ và ngư trường đánh bắt Việc tổ chức khai thác và bao tiêu sảm phẩm chưa gắn kết với nhau trong quá trình hoạt động nên hiệu quả sản xuất chưa cao Đây là vấn đề bức xúc đối với các nhà khoa học, các nhà quản lý và hoạch định chính sách phát triển ngành

Mặt khác, những biến động về thị trường, giá cả nhiên liệu trong thời gian vừa qua đã tác động không nhỏ đến đội tàu, đẩy chi phí đầu vào lên cao, trong khi đó sản phẩm bán ra giá lại không tăng Ngoài ra, an ninh và thời tiết trên các vùng biển trong những năm gần đây có nhiều diễn biến phức tạp, thất thường, tai nạn trên biển xảy ra nhiều gây những thiệt hại khá nặng nề, trong khi trang thiết bị an toàn trên các tàu đánh bắt xa bờ lại lạc hậu, ảnh hưởng nhiều việc đi biển dài ngày [3]

Đứng trước tình hình đó ngư dân ở một số địa phương đã hợp tác với nhau để thành lập các tổ (đội) khai thác, với mục đích là tăng hiệu quả khai thác, giảm thiểu rủi

ro, hỗ trợ nhau trong tìm kiếm ngư trường, giảm chi phí sản xuất khi giá xăng dầu gia tăng, từng bước ổn định tổ chức sản xuất trên biển để phát triển khai thác có hiệu quả, bền vững, an toàn và bảo vệ nguồn lợi Việc thành lập các tổ đội khai thác một cách tự phát là những bước đi đầu tiên cho sự hình thành các mô hình dịch vụ hậu cần trên biển nhằm giải quyết những khó khăn nói trên

Ở Đà nẵng hiện nay có các loại mô hình dịch vụ hậu cần như: mô hình tàu mẹ - tàu con (tàu thu mua hải sản và các tàu khai thác, dịch vụ hậu cần trên biển), mô hình truyền thống (các tàu khai thác đơn lẻ và các tổ/đội, dịch vụ hậu cần tại bờ) với các loại nghề khai thác xa bờ như: chụp mực, lưới rê, lưới vây, Trong thời gian qua các

mô hình dịch vụ hậu cần này đã từng bước thu được những kết quả nhất định Tuy nhiên, hiện nay do nguồn lợi suy giảm, giá trị sản phẩm giảm, chi phí sản xuất tăng, rủi ro khi hoạt động nhiều, nên các loại mô hình dịch vụ hậu cần của các nghề như trên đã bộc lộ khá nhiều hạn chế như: hiệu quả kinh tế, xã hội của các mô hình chưa cao; số lượng tàu trong một mô hình không phù hợp; qui trình hoạt động, phương thức vận chuyển, tiêu thụ sản phẩm sau khai thác chưa đồng bộ và chưa phù hợp; một số

Trang 14

mô hình còn thu mua theo hình thức chọn lọc đối tượng; hình thức liên kết trong các

mô hình hiện nay ở Đà Nẵng chưa bền vững; cơ cấu tổ chức của các mô hình hiện nay chưa chặt chẽ và thiếu tính khoa học; an toàn cho người và tàu khi hoạt động trên biển chưa được quan tâm đúng mức; vấn đề an ninh, trật tự trên biển cũng là thách thức lớn đối với nghề cá biển Đà Nẵng nói riêng và Việt Nam nói chung

Vì vậy, từ những phân tích đánh giá các mặt được và mặt còn tồn tại, hạn chế của các mô hình hiện có để làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả

của các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển ở Đà Nẵng là hết sức cần thiết

Xuất phát từ các vấn đề trên cần thiết phải thực hiện đề tài “Giải pháp nâng

cao hiệu quả các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển thành phố Đà Nẵng”

Mục tiêu của đề tài là đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển tại Đà Nẵng

Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

- Đưa ra những biện pháp khắc phục khó khăn tồn tại cho các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển tại Đà Nẵng

- Tạo điều kiện cho việc quản lý tốt các đội tàu khai thác hải sản xa bờ Nâng cao hiệu quả kinh tế cho nghề khai thác xa bờ

MỤC TIÊU CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI

- Làm rõ những ưu điểm, nhược điểm về mặt hoạt động của các mô hình dịch

vụ hậu cần nghề cá trên biển tại Đà Nẵng

- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển tại Đà Nẵng

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

1.1.1 Tổng quan các công trình NCKH liên quan

Nghiên cứu về các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển hiện nay chưa được các nhà nghiên cứu khoa học quan tâm đúng mức Thực tế cho thấy, chưa có các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về các mô hình dịch vụ hậu cần trên biển Các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển được hình thành xuất phát từ yêu cầu thực tế của hoạt động khai thác thủy sản Cùng với sự phát triển của nghề khai thác thủy sản các mô hình dịch vụ hậu trên biển này cũng phát triển và hoàn thiện về nhiều mặc [15],[16]

Các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá của các nước trong khu vực và trên thế giới đã hình thành và phát triển mạnh ở cả qui mô lẫn phạm vi hoạt động, các tàu này hoạt động dưới nhiều hình thức và qui mô khác nhau Tuy nhiên, hiện nay hình thức tổ chức sản xuất của các đội tàu trên thế giới vẫn tồn tại dưới 2 dạng mô hình chính như sau: Mô hình công nghiệp (tàu lớn) và mô hình hợp tác xã hoặc tổ đội (tàu qui mô nhỏ)

Mô hình công nghiệp được áp dụng cho các tàu cá công nghiệp Các tàu này tự đánh bắt, tự chế biến và bảo quản luôn trên tàu Khi nào đủ sản lượng cần thiết thì mới vận chuyển sản phẩm về bờ và bán cá ở các cảng theo hình thức bán đấu giá Các thông số cơ bản của các tàu cá công nghiệp:

Bảng 1.1: Thông số cơ các của một số tàu cá công nghiệp

Chiều dài lớn nhất (m)

Công suất tàu (CV)

Trọng tải tàu (tấn)

Nghề khai thác

Nguồn: ( FAO, 2004)

Mô hình hợp tác xã/tổ đội được áp dụng cho tàu cá qui mô nhỏ Ngư dân vào Hợp tác xã/Tổ đội nhưng tài sản, tàu thuyền, ngư cụ, thuộc quyền sở riêng Hợp tác xã/tổ đội có nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm và cung cấp các dịch vụ hậu cần cho ngư dân (do ngư dân yêu cầu) Việc tiêu thụ sản phẩm và cung cấp nhiên liệu, lương thực, nước ngọt cho các tàu khai thác có thể do các tàu trong tổ tự đảm nhiệm hoặc do các tàu thu mua cỡ lớn thực hiện.( FAO, 2004)

Trang 16

1.1.2 Giới thiệu một số mô hình đã được thực hiện trên thế giới

Các hình thức tổ chức thu mua, tiêu thụ sản phẩm khai thác tại một số nước trên thế giới và khu vực được hình thành dựa trên nguyên tắc hợp tác Một số mô hình của các nước trong khu vực và trên thế giới

- Philipin: Mô hình dịch vụ hậu cần của nghề câu tay ở đây hoạt động theo hình

thức tàu mẹ - tàu con (mô hình 1 tàu lớn chở theo nhiều tàu nhỏ) Mô hình này phát triển khá mạnh ở thành phố General Santos Số lượng tàu câu tay khoảng 4.000 chiếc, với trọng tải lớn hơn 18 tấn Thời gian chuyến biển khoảng 20 - 25 ngày [1],[2] Ngư trường khai thác của các tàu lớn làm nghề câu tay quanh chà là vùng biển Indonesia, Papua New Guinea, Phương pháp khai thác của mô hình này như sau: Tàu mẹ chở theo 4 - 6 tàu con tới điểm thả chà, sau đó sẽ thả 1 tàu con xuống tiến hành câu thử quanh chà, nếu cá ăn câu thì sẽ tiến hành thả các tàu con còn lại xuống câu và câu trên tàu Trong trường hợp cá không ăn câu thì thuyền trưởng tàu mẹ sẽ thu các tàu con lên tàu mẹ và chạy tới cây chà khác để câu Hình thức ăn chia như sau: 10% tổng lợi nhuận để bảo dưỡng vỏ tàu, máy móc; số còn lại chia làm 4 phần: Ba phần dành cho

chủ tàu và một phần dành cho thuỷ thủ (N Barut & E Garvilles, 2004 Philippines Fishery Report)

- Thái Lan: Các tàu ở đây hoạt động theo mô hình như sau: Đội tàu khai thác

thủy sản sẽ bán sản phẩm cho tàu thu mua và ngược lại tàu thu mua sẽ cung cấp nhiên liệu, lương thực thực phẩm cho các tàu khai thác Tàu thu mua sẽ mua sản phẩm của tất cả các tàu đánh bắt ở gần khu vực mà tàu này hoạt động Tàu thu mua thường có chiều dài từ 30 - 50m và được đầu tư hệ thống bảo quản sản phẩm rất hiện đại, để đảm bảo chất lượng sản phẩm luôn đạt tiêu chuẩn Như vậy, ở Thái Lan các mô hình dịch

vụ hậu cần chủ yếu là do ngư dân tự thành lập, liên kết lại với nhau, Chính Phủ chỉ quản lý bằng cách cấp giấy phép hoạt động [18]

- Đài Loan: Mô hình dịch vụ hậu cần của đội tàu câu vàng cá ngừ của Đài Loan

hoạt động ở vùng biển nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới Các Đội tàu hoạt động ở vùng nhiệt đới được tổ chức dưới hình thức tàu mẹ - tàu con, các tàu khai thác sẽ chuyển sản phẩm cho tàu mẹ và nhận nhiên liệu, vật tư từ tàu mẹ để tiệp tục đánh bắt,

cứ khoảng 10 - 15 ngày thì tàu mẹ vận chuyển sản phẩm về bờ một lần và lấy nhiên liệu, vật tư ra cho các tàu con Đối với đội tàu hoạt động khai thác ở vùng cận nhiệt đới và ôn đới thường đánh bắt theo hình thức đơn lẻ, các tàu này thường tự đánh bắt và

Trang 17

vận chuyển sản phẩm vào các cảng cá gần nhất để bán theo hình thức đấu giá và sau

đó lấy nhiên liệu, vật tư, để tiếp tục chuyến biển khác Những tàu này thường đi vào các cảng cá mỗi năm từ 2 - 3 lần để bán sản phẩm và lấy nhiên liệu, vật tư

- Ở các nước EU, Ghana, Senegal, Nga, đội tàu câu cá ngừ hoạt động theo

mô hình tổ đội (tàu mẹ - tàu con) Tàu mẹ cung cấp lương thực, thực phẩm, nhiên liệu, cho đội tàu con (khoảng 5 - 6 tàu), sau đó tàu mẹ vận chuyển sản phẩm về bờ Đội tàu con thường hoạt động liên tục và rất ít khi về bờ (khoảng 1 năm mới về bờ 1 lần) [17]

- Tại Nhật Bản: Ngoài mô hình dịch vụ hậu cần theo kiểu Công nghiệp, Nhật

Bản đã xây dựng mô hình quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng, với việc xây dựng Hợp tác xã có đặc điểm chính như sau:

+ Tất cả ngư dân, chủ tàu đều có thể tham gia Hợp tác xã

+ Tài sản, tàu thuyền vẫn thuộc sở hữu riêng

+ Hợp tác xã chỉ làm dịch vụ bao tiêu sản phẩm cho xã viên, dịch vụ cầu cảng, kho lạnh, hậu cần, Các xã viên chỉ phải trả một phần chi phí nhất định tuỳ theo các dịch vụ mà họ yêu cầu Hợp tác xã đáp ứng Việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ hậu cần được tổ chức minh bạch, rõ ràng theo hình thức bán đấu giá ở các chợ cá Ở Nhật Bản nếu ngư dân không vào hợp tác xã thì sẽ không bán được cá Vì vậy, 100% ngư dân Nhật là xã viên hợp tác xã (Thanyalak, 2012)

- Malaysia: Chính phủ nước này đã xây dựng mô hình quản lý nghề cá dựa vào

cộng đồng cho các tàu khai thác hải sản (mô hình hợp tác xã) Sản phẩm sau khi khai thác ngư dân sẽ giao cho hợp tác xã để bán Hợp tác xã sẽ bán theo hình thức đấu giá ở các cảng cá

Như vậy, ở các nước trên thế giới và trong khu vực hiện nay tồn tại chủ yếu 2 mô hình chính, mô hình công nghiệp và mô hình hợp tác xã/tổ đội Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện nghề cá của mỗi nước để lựa chọn và đưa ra được mô hình hiệu quả nhất

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.2.1 Tổng quan các công trình NCKH liên quan

- Từ năm 2000-2002, Viện Nghiên cứu Hải sản đã thực hiện đề tài cấp Nhà nước

“Nghiên cứu thăm dò nguồn lợi hải sản và lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp phục vụ phát triển nghề cá xa bờ Việt Nam” Đề tài đã sơ bộ đánh giá được hiệu quả

Trang 18

hoạt động của các mô hình tổ chức khai thác thuộc khối doanh nghiệp Nhà nước, các hợp tác xã và tư nhân Các mô hình này thành lập chủ yếu nhằm mục đích vay được vốn ưu đãi của Nhà nước nên hầu hết các mô hình hoạt động đều không có hiệu quả cao, ngoại trừ một số mô hình tổ khai thác của các hộ tư nhân Tuy nhiên, các tàu này mới chỉ dừng ở việc hỗ trợ nhau trong quá trình sản xuất, tìm kiếm cứu nạn và dò tìm ngư trường,… việc chú trọng đầu tư về mặt con người và đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào áp dụng, chưa xây dựng được cơ chế hoạt động quản lý chung cho các mô hình

- Đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển bền vững nghề khai thác hải sản ven bờ Việt Nam” do Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III tiến hành và

thời gian thực hiện trong 3 năm từ 2007 đến 2009 Nội dung nghiên cứu là: điều tra cơ cấu đội tàu, cơ cấu nghề nghiệp và hiệu quả kinh tế của các loại nghề khai thác hải sản ven bờ và tình hình nuôi trồng thủy sản; xây dựng mô hình quản lý thủy sản đồng quản lý; đề xuất các giải pháp nhằm quản lý bền vững nghề khai thác hải sản ven bờ Như vậy, phạm vi nghiên cứu của đề tài nói trên chỉ thực hiện trong một phạm vi hẹp (vùng biển ven bờ) và các giải pháp được đề xuất dựa trên các kết quả điều tra đội tàu và nghề nghiệp, hiệu quả kinh tế của các nghề khai thác hải sản, tình hình nuôi trồng thủy sản và xây dựng mô hình quản lý thủy sản đồng quản lý

- Đề tài “Nghiên cứu cải tiến và ứng dụng công nghệ mới trong nghề câu cá ngừ đại dương ở vùng biển miền Trung và Đông Nam bộ” do Viện Nghiên cứu Hải sản

thực hiện từ năm 2005 đến 2006 Đề tài đã đề xuất được mô hình tổ chức khai thác nghề câu vàng cá ngừ đại dương Kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy: mỗi mô hình

sẽ gồm 10 tàu công suất máy từ 60 - 150cv hoặc 150 - 350cv Trong khoảng thời gian không quá 7 ngày, các tàu sẽ luân phiên chở cá về bờ tiêu thụ và cung ứng lại nhiên liệu, thực phẩm để các tàu còn lại có thể bám biển dài ngày, giảm chi phí đi lại Ngoài ra đề tài cũng đã đề xuất được mô hình khai thác kiêm nghề câu vàng với lưới chụp mực Tuy nhiên, việc đề xuất này chỉ dừng lại ở mặt lý thuyết, chưa có điều kiện kiểm chứng trong thực tế nên việc nghiên cứu thực nghiệm để kiểm chứng là rất cần thiết

- Năm 2006 - 2007, Trung tâm Khuyến nông - khuyến ngư Quốc gia đã thực

hiện đề tài “Đánh giá trình độ công nghệ khai thác hải sản xa bờ” Đề tài đã đánh giá

được trình độ công nghệ khai thác của một số nghề chính khai thác ở vùng biển xa bờ

Trang 19

Bên cạnh đó, đề tài cũng đã đưa ra kết luận về mô hình tổ đội khai thác như sau: Phương thức tổ chức sản xuất theo tổ hợp tác và liên kết trao đổi thông tin, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình khai thác trên biển đã và đang được ngư dân ở nhiều địa phương

áp dụng Tuy nhiên, do được hình thành tự phát nên hình thức này vẫn chưa thực sự phát huy được hiệu quả cao, cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá còn nhiều thiếu thốn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của thực tế, điều kiện tiếp nhận thông tin khoa học, tiến bộ kỹ thuật, thị trường của ngư dân còn nhiều hạn chế

- Năm 2008 - 2010, Viện Nghiên cứu Hải sản thực hiện Đề tài “Nghiên cứu cơ

sở khoa học phục vụ cho việc điều chỉnh cơ cấu đội tàu và nghề nghiệp khai thác hải sản” Nghiên cứu về nội dung mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá, đề tài đã xác định

được cơ sở khoa học để đề xuất mô hình tổ chức sản xuất cho các đội tàu khai thác hải sản ở vùng biển ven bờ, vùng lộng và vùng khơi, từ đó đề tài đã đề xuất được các mô hình tổ, đội cho từng đội tàu khai thác ở các vùng biển khác nhau Cụ thể như sau:

Đề tài đã xây dựng mô hình tổ chức sản xuất cho nghề lưới kéo đôi, nghề lưới kéo đơn, nghề lưới rê tầng mặt, nghề lưới rê tầng đáy, nghề lưới vây, nghề câu nổi, nghề câu đáy và nghề chụp mực, tập trung ở 3 nhóm công suất sau:

+ Mô hình tổ chức sản xuất và dịch vụ hậu cần cho các đội tàu công suất 50 - 89cv khai thác ở vùng (tuyến) lộng

+ Mô hình tổ chức sản xuất và dịch vụ hậu cần cho các đội tàu công suất 90 - 249cv khai thác ở vùng (tuyến) khơi

+ Mô hình tổ chức sản xuất và dịch vụ hậu cần cho các đội tàu công suất ≥ 250cv khai thác ở vùng (tuyến) khơi

Bảng 1.2: Số lượng tàu và số ngày trong một chu kỳ khai thác của các mô hình tổ chức sản xuất

Trang 20

- Năm 2010, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 3 thực hiện đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất lượng thủy sản sau thu hoạch của tàu khai thác xa bờ” Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy công nghệ bảo quản cá trên

tàu xa bờ của nước ta vẫn còn lạc hậu Mặc dù, trong những năm gần đây đã có nhiều cải tiến trong công nghệ bảo quản sản phẩm sau thu hoạch Nhưng, chở ngại lớn nhất hiện nay là việc phân phối sản phẩm sau thu hoạch phụ thuộc hoàn toàn vào nậu vựa nên dù có đầu tư công nghệ bảo quản mới để có được sản phẩm đảm bảo chất lượng thì giá bán sản phẩm cũng không cao hơn sản phẩm thông thường Chính vì vậy, việc xây dựng được mô hình dịch vụ hậu cần hợp lý cùng với việc hỗ trợ đổi mới công nghệ bảo quản sản phẩm sau thu hoạch sẽ thúc đẩy nghề khai thác hải sản xa bờ nước

ta phát triển bền vững

Như vậy, từ năm 2000 trở lại đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về mô hình

tổ đội sản xuất trên biển, các công trình nghiên cứu đều chủ yếu tập trung nghiên cứu theo 2 hướng: đánh giá hiện trạng hoạt động của các mô hình tổ đội khai thác hải sản; nghiên cứu xây dựng mô hình tổ đội sản xuất trên biển Ở hướng nghiên cứu thứ 2, các công trình nghiên cứu đã tính toán được số lượng tàu và chu kỳ hoạt động của tàu trong tổ đội khai thác, đã xây dựng được dự thảo tổ chức hoạt động cho các mô hình dựa trên các nguyên tắc và tiêu chí cụ thể Ngoài việc hỗ trợ nhau khai thác các tàu còn luân phiên nhau thực hiện nhiệm vụ hậu cần nghề cá trên biển như: thay phiên nhau chở sản phẩm về bờ tiêu thụ, cung cấp nhiên liệu và các trang thiết bị cần thiết phục vụ quá trình khai thác.Tuy nhiên, việc nghiên cứu để xuất xây dựng mô hình tổ đội sản xuất trên biển của hầu hết các đề tài trước đây chủ yếu xây dựng cho mô hình thay phiên nhau vận chuyển sản phẩm và cũng chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu dựa trên cơ

sở lý thuyết Vì vậy, việc xác định các mô hình này có hiệu quả hay không vẫn chưa được kiểm chứng qua thực tế sản xuất

1.2.2 Giới thiệu một số mô hình đã được thực hiện trong nước

+ Mô hình Công ty Lâm Sản Bến Tre: Đội tàu nghề lưới vây (9 tàu) của công ty

hoạt động theo hình thức thay phiên nhau vận chuyển sản phẩm về bờ và sau đó lấy nhiên liệu, lương thực, thực phẩm, ra cho các tàu khác trong đội Thời kỳ đầu, mô hình này hoạt động rất hiệu quả và nổi lên như một mô hình mẫu cho các địa phương tham khảo ứng dụng vào nghề cá Tuy nhiên, sau một thời gian thành công, hiệu quả

Trang 21

từ các hoạt động khai thác ngày một đi xuống dẫn đến công ty phải giải tán do làm ăn thua lỗ

Nguyên nhân chính dẫn đến việc phá sản của công ty gồm:

- Phương thức quản lý không chặt chẽ và phù hợp với thực tế sản xuất, việc quản lý trong thời gian vận chuyển sản phẩm về bờ không tốt đã dẫn đến việc thất thoát sản lượng khai thác và làm giảm hiệu quả kinh tế

- Chưa gắn kết được quyền lợi và trách nhiệm của người lao động với sản phẩm tạo ra dẫn đến tình trạng “mạnh ai người ấy làm” đã làm cho hiệu quả hoạt động của các công ty ngày càng đi xuống và dẫn đến phá sản [3]

+ Hợp tác xã (HTX) Thống Nhất của TP Nha Trang: Hoạt động theo phương

thức sau: nguồn vốn của HTX được huy động từ các cổ đông, với tiêu chí vừa góp vốn

để được chia lợi nhuận vừa có việc làm ổn định trong HTX Hợp tác xã này hoạt động trên nhiều lĩnh vực từ khai thác đến đóng mới và sửa chữa tàu thuyền cũng như cung ứng dịch vụ hậu cần và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm sau khai thác Điểm đặc biệt của HTX

là mọi hoạt động đều được thực hiện theo cơ chế khoán theo định mức, lao động được hưởng lợi khi thực hiện vượt định mức Nhờ đó kích thích lao động tích cực sản xuất Trong HTX có đội tàu nghề lưới đăng, kể từ khi được chuyển sang cơ chế khoán sản phẩm, hiệu quả của đội tàu luôn ổn định ở mức khá cao Tuy nhiên, việc thực hiện cơ chế khoán sản phẩm chỉ áp dụng thích hợp cho các tàu khai thác thuộc các HTX và đối với những loại nghề khai thác có hiệu quả ổn định, ít phụ thuộc các tác động khách quan từ bên ngoài, mà không thể áp dụng được cho tất cả các loại nghề

+ Đội tàu của 2 ngư đội Trường Sa (Đây là mô hình ra đời từ sự liên kết giữa Công ty TNHH một thành viên 128, ngư dân và Công ty TNHH Hải Vương): Mô hình

này hoạt động theo hình thức tàu mẹ - tàu con Quy mô của mô hình này gồm 8 tàu của ngư dân khai thác xa bờ làm tàu con, 2 tàu mẹ Tàu mẹ có nhiệm vụ cung cấp dầu, nước đá, nhu yếu phẩm, chăm sóc y tế, đồng thời tiêu thụ cá cho tàu con với giá bằng giá hiện hành trên đất liền nếu có nhu cầu bán Hai ngư đội đều được

hỗ trợ trang bị đầy đủ các thiết bị hiện đại như máy liên lạc ICOM, máy

dò cá, vàng câu, lưới chuyên dụng để khai thác cá ngừ đại dương, bám biển 9 - 10 tháng/năm Đến nay, 8 tàu con đã bán được chuyến hàng đầu tiên thành công, mỗi tàu thu lãi trên 40 triệu đồng Mô hình “tàu mẹ - tàu con” được xem là giải pháp tốt nhất cho ngư dân khi chi phí hoạt động khai thác ngày càng tăng Ngoài ra, mô

Trang 22

hình cũng có tác dụng tích cực loại trừ nạn sử dụng chloramphenicol trong bảo quản như khi ngư dân hoạt động đơn lẻ, do sản phẩm luôn có thể chuyển nhanh về bờ Tuy nhiên, để mô hình này đạt hiệu quả và bền vững thì cần đưa ra được cơ chế, chính

sách, cơ cấu tổ chức phù hợp rõ ràng, đảm bảo được quyền lợi cho cả 2 bên [10]

+ Các tập đoàn khai thác cá ngừ đại dương ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và TP Hồ Chí Minh: Đặc điểm của nghề khai thác cá ngừ đại dương là thường khai thác ở vùng

khơi xa, di chuyển ngư trường trong phạm vi rộng Do đó, để giảm chi phí nhằm đảm bảo hiệu quả khai thác, các Công ty khai thác cá ngừ ở Bà Rịa - Vũng Tàu và TP Hồ Chí Minh đã đầu tư nhiều tàu để thành lập các tập đoàn khai thác cá ngừ đại dương như Mạnh Hà, Việt Tân, Đại Dương, Tân Biển Đông v.v mỗi đoàn có từ 7 - 14 tàu do Đoàn trưởng chỉ huy điều hành sản xuất Các tàu trong đoàn thường liên hệ chặt chẽ với nhau trong sản xuất Để kích thích sản xuất các Công ty thường khoán chia lương dựa trên sản lượng khai thác, ngoài ra còn trích thưởng thêm cho thuyền viên dựa trên lợi nhuận hàng năm Ngoài việc chia sẻ thông tin ngư trường trên biển, cung cấp nguyên - nhiên liệu và vận chuyển sản phẩm về bờ, các tàu trong tổ còn hỗ trợ đắc lực cho nhau khi có sự cố về tàu thuyền và ngư cụ cũng như việc bảo vệ nhau trên biển trong khai thác xa bờ Tuy nhiên, trong những năm gần đây do sản lượng khai thác giảm, chi phí sản xuất tăng cao, việc quản lý đội tàu chưa phù hợp, đã làm cho một

số công ty làm ăn kém hiệu quả và phải phá sản

+ Mô hình tàu dịch vụ chuyên thu mua hải sản trên biển:

Mô hình này được một số ngư dân, doanh nghiệp tại Phú Quý - Bình Thuận và Phú Yên triển khai thực hiện thành công Hình thức thành lập của ngư dân là tự phát

do yêu cầu từ thực tế sản xuất Tàu thu mua được trang bị hầm cấp đông, thu mua sản phẩm và sơ chế ngay trên biển Hình thức hoạt động của mô hình dịch vụ hậu cần này như sau: Sản phẩm sau khi khai thác được các đội tàu này thu mua, chế biến ngay trên tàu và đưa xuống hầm cấp đông để bảo quản ở nhiệt độ thích hợp và được đưa về bờ trong thời gian ngắn nhất, sau khi tàu thu mua đủ số lượng sản phẩm Các sản phẩm khi đưa về bờ được bán cho các cơ sở thu mua ở tại đảo hoặc các công ty chuyên xuất khẩu thủy sản để tiêu thụ nội địa hoặc xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài Việc mua bán này đều do tự nguyện của hai bên và giá sản phẩm thường được thu mua bằng hoặc thấp hơn không nhiều so với giá trên bờ Ngoài ra, các đội tàu này còn cung cấp nhiên liệu (dầu, nhớt), nước đá, lượng thực, thực phẩm, cho các tàu hoạt động

Trang 23

khi thác trên biển, giúp cho ngư dân bám biển dài ngày, tăng hiệu quả hoạt động cho mỗi chuyến biển [11]

Như vậy, mô hình tàu dịch vụ thu mua sản phẩm và cung cấp nhiên liệu trên biển đã giúp cho ngư dân tăng thời gian bám biển, giảm chi phí, tăng thu nhập, tăng chất lượng sản phẩm Tuy nhiên, mô hình này vẫn còn một số hạn chế đó là: chưa có

cơ chế, chính sách ràng buộc trong quá trình cung ứng dịch vụ hậu cần nên tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ tàu thu mua với nhau vẫn xây ra thường xuyên; ngư dân vẫn bán sản phẩm theo kiểu tàu nào thu mua cao thì bán, tình trạng ép giá thu mua và tăng giá nguyên vật liệu vẫn xẩy ra, dẫn đến mức độ ổn định, bền vững của mô hình là chưa cao Bên cạnh đó, hiện tại các đội tàu thu mua này mới chỉ chú trọng đến các sản phẩm theo đơn đặt hàng cũng như các sản phẩm xuất khẩu mà chưa chú trọng đến các sản phẩm tiêu thụ nội địa Vì vậy nó vẫn chưa phát huy được hết các thế mạnh của mô hình cũng như chưa thể giúp cho ngư dân có thể tăng thời gian bám biển một cách tối đa

Trang 24

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nội dung nghiên cứu

Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

2.2 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu là cách thức tổ chức hoạt động,

hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội của các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển tại

Đà Nẵng

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10/2012 đến tháng 11/2014

- Địa điểm nghiên cứu: các chuyến khảo sát được thực hiện tại Đà Nẵng và

một số địa phương ở miền Trung (các mô hình dịch vụ hậu cần của Đà Nẵng có liên quan khi hoạt động thu mua trên biển)

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Điều tra hiện trạng các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển tại Đà Nẵng

Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả của các mô hình

Đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình dịch vụ

Đánh giá mức

độ an toàn, an ninh của các

mô hình

Trang 25

Số lượng mẫu tàu khảo sát dựa vào số tàu trong các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển ở Đà Nẵng, được ước tính theo phương pháp ước lượng mẫu của FAO [20]

Bảng 2.1 Số mẫu điều tra mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển ở Đà Nẵng

Tàu mẹ (chiếc) Tàu con(chiếc)

2.3.2 Phương pháp đánh giá thực trạng hoạt động của các mô hình

Dựa trên các tài liệu, số liệu thu thập bằng các phương pháp:

- Sử dụng mẫu phiếu điều tra khảo sát các mô hình dịch vụ hậu cần trên biển ở

Đà Nẵng, kết hợp với thông tin quản lý nghề cá của địa phương (phụ lục 1)

- Thu thập những thông tin phục vụ cho nội dung nghiên cứu đặt ra, đề tài sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp các chủ tàu, thuyền trưởng tại các phường/xã, bến cá

- Số lượng mẫu thu thập bao gồm 36 tàu thuyền trong các mô hình, trong đó 04 tàu dịch vụ hậu cần và 32 tàu khai thác Các thông tin thu thập như:

+ Tên mô hình, thời gian thành lập, Cơ cấu tổ chức mô hình, quy chế hoạt động của mô hình

+ Thông tin điều tra về phương thức hoạt động của mô hình gồm: số lượng tàu thuyền trong mỗi mô hình; Các thông số về kích thước vỏ tàu, sức chở, công suất máy, tốc độ, của các tàu trong mô hình, thời gian chuyến biển, vùng biển/độ xa cách bờ, khoảng cách giữa tàu mẹ và tàu con, số ngày chạy từ ngư trường về bờ, cách thức thu mua sản phẩm cung ứng nguyên vật liệu và tiêu thu sản phẩm,

+ Thông tin điều tra hiệu quả kinh tế của các tàu trong mô hình gồm: vốn đầu tư tàu thuyền và trang thiết bị, sản lượng khai thác, sản lượng thu mua, doanh thu, chi phí biến đổi, chi phí cố định,

+ Thông tin điều tra hiệu quả xã hội của mô hình gồm: thông tin về những sự cố

về người, tàu, ngư cụ xảy ra với từng tàu con của từng mô hình như hỏng máy, chìm tàu, gặp giông, bão ; người rơi xuống biển, bị bệnh nặng cần giúp đỡ ; lưới bị

Trang 26

mất, rách, hỏng lưới, lưới vướng chân vịt, ; tàu bị tàu hàng hoặc tàu lưới kéo khác đi vào lưới (câu, rê) làm đứt lưới ; Tàu hết vật tư, nhiên liệu cần giúp đỡ

+ Thông tin về công tác an ninh, an toàn hàng hải cho tàu con trong mô hình

bao gồm: thông tin về những trường hợp tàu con bị tàu lạ gây tai nạn bỏ trốn; tàu đang sản xuất bị tàu cướp biển, tàu nước ngoài đe dọa, bắt cóc; Tàu đang đánh cá bị tàu lạ cắt trộm lưới; tàu bị đâm,

Từ các số liệu thu thập được, tiến hành phân tích đánh giá hiệu quả của mô hình như: hiệu quả về chủ động kế hoạch thu mua sản phẩm; hiệu quả tăng thời gian bám biển của tàu khai thác; hiệu quả nâng cao chất lượng sản phẩm khai thác;hiệu quả kinh

tế của các mô; hiệu quả công tác cứu trợ, cứu nạn cho tàu và người trên biển; hiệu quả đảm bảo công tác an ninh, bảo vệ chủ quyền biển đảo

2.3.3 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả của các mô hình

Sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu, dẫn liệu, kết quả phân tích, đánh giá mô hình về các mặt như:

- Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình thông qua các chỉ tiêu như: vốn đầu tư,

chi phí sản xuất, doanh thu và lợi nhuận

- Đánh giá hiệu quả xã hội của mô hình thông qua các tiêu chí như: mức độ

tham gia của các đối tượng xã hội, mức thu nhập của thuyền viên và chủ tàu, mức độ

an toàn, an ninh trên biển của các mô hình

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu về thực trạng các mô hình dịch vụ hậu cần nghề

cá, kết quả đánh giá thực trạng các mô hình (về phương thức tổ chức hoạt động, hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, ), phân tích các tồn tại và nguyên nhân tồn tại từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục các mặc tồn tại nâng cao hiệu quả của các mô hình

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu

2.3.4.1 Năng suất khai thác trung bình

Năng suất khai thác trung bình của mỗi tàu được tính toán theo hướng dẫn của FAO[18] Cụ thể như sau:

- Tính năng suất khai thác cho một tàu con (1 mẫu phỏng vấn) theo công thức:

CPUE =

E

C

(1) Trong đó:

CPUE: Năng suất khai thác trung bình theo ngày của chuyến biển

Trang 27

C: Tổng sản lượng của chuyến biển (kg)

E: Cường lực khai thác của chuyến biển (số ngày khai thác) (ngày)

- Sản lượng thu mua 1 chuyến biển của tàu mẹ (Gtaume): được xác định bằng công thức:

 

t n

i

ichuyent taucon

G

1 1

)

Trong đó:

Gtaume: Tổng sản lượng thu mua của tàu mẹ (kg)

G(taucon)ichuyent: Sản lượng tàu con thứ i ngày t bán cho tàu mẹ (kg)

2.3.4.2 Tính hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế của các tàu thuyền trong mô hình được xác định thông qua các chỉ số như: tổng doanh thu, tổng thu nhập, chi phí sản xuất (chi phí biến đổi, chi phí cố định) và lợi nhuận ròng của tàu được xác định phù hợp với thực tế nghiên cứu nghề cá tại Việt Nam [9] Các chỉ số được xác định cụ thể như sau:

- Tổng doanh thu của tàu (DT): được xác định bằng doanh thu trung bình

chuyến biển (DTcb) nhân với số chuyến biển (t) thực hiện trong năm

DT= DTcb * t

- Tổng thu nhập của tàu (TN): được xác định bằng tổng doanh thu (DTtb) trừ đi chi phí biến đổi CPbd (không bao gồm chi phí lao động)

TN = DT- CPbd Trong đó: CPbd: Chi phí biến đổi (gồm chi phí dầu nhớt, nước đá, lương thực thực phẩm, chi phí sửa chữa nhỏ, ra vào cảng, )

- Lợi nhuận (LN): được tính bằng tổng thu nhập trừ đi chi phí cố định

LN= TN - CPcd - CPld Trong đó: CPcd: chi phí cố định (gồm khấu hao phương tiện khai thác (vỏ tàu, máy chính, ngư cụ, trang thiết bị hàng hải…), lãi suất vốn vay, bảo hiểm, thuế và chi phí sửa chữa lớn) Khấu hao phương tiện được tính ở đây là 10 năm

CPld: chi phí lương lao động

- Tiến hành phân tích và kiểm tra, loại bỏ những mẫu có sai số quá lớn không

đảm bảo mẫu thống kê ngẫu nhiên

- Số liệu tiến hành xử lý theo phần mềm Excel

- Xử lý các giá trị trung bình, đánh giá kết quả theo phương pháp thống kê

- Xử lý các giá trị trung bình vốn đầu tư, chi phí sản xuất, doanh thu và lợi

nhuận (chưa tính khấu hao)

Trang 28

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Cơ cấu nghề nghiệp khai thác hải sản ở Đà Nẵng

Tính đến tháng 09/2013, thành phố Đà Nẵng có khoảng 1.329 chiếc tàu thuyền lắp máy Chi tiết cơ cấu tàu thuyền thành phố Đà Nẵng phân theo nhóm nghề và nhóm công suất được thể hiện ở bảng 3.1

Bảng 3.1: Cơ cấu tàu thuyền TP Đà Nẵng phân theo nghề và nhóm công suất

Số lượng tàu (chiếc)

Tổng cộng

Nguồn: Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi Thành Phố Đà Nẵng

Qua bảng 3.1 cho thấy, số lượng tàu có công suất lớn hơn 90cv ở Thành phố Đà Nẵng là 156 chiếc, chiếm 11,7%, trong khi đó số lượng tàu công suất nhỏ hơn 90cv chiếm 88,3% Số lượng tàu công suất lớn hơn 90cv tham gia khai thác xa bờ của các nghề rê trôi tầng mặt, lưới vây ngày, vây ánh sáng và nghề câu mực xà khoảng 219 chiếc, chiếm 16,5% tổng số tàu ở Đà Nẵng

Trang 29

Như vậy, tàu thuyền ở Thành Phố Đà Nẵng chủ yếu vẫn là tàu công suất nhỏ hơn 90cv (chiếm 88,3%) so với tàu thuyền của cả nước thì số lượng tàu công suất lớn hơn 90cv ở khu vực này thấp hơn nhiều (tính đến tháng 09/2013 số lượng tàu công suất lớn hơn 90cv của cả nước 23,9%)

3.2 Khái quát về các dạng mô hình trong nghề cá hiện nay ở Đà Nẵng

Các dạng mô hình trong nghề cá hiện nay ở Đà Nẵng gồm có: mô hình tổ/đội khai thác, mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá

* Mô hình tổ/đội khai thác hải sản

Tính đến nay, Thành Phố Đà Nẵng đã có 97 mô hình tổ/đội khai thác hải sản, trong đó, có 45 tổ khai thác xa bờ Hình thức hợp tác của các tàu trong mô hình tổ/đội khai thác hải sản là hỗ trợ tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn, ngư trường khai thác, bảo vệ nguồn lợi và môi trường thủy sản, hỗ trợ vốn để mua ngư cụ, thiết bị phục vụ sản xuất,

hỗ trợ nhau về mặt tinh thần, hỗ trợ kết nối thông tin giữa tàu với tàu, giữa biển với đất liền… Nhờ có sự hỗ trợ lẫn nhau mà các tàu đã mạnh dạn vươn khơi khai thác ở những ngư trường mới, đạt sản lượng cao Ngoài ra các tàu trong tổ hợp tác khai thác hải sản còn tham gia làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển Quốc gia, thường xuyên thông tin với bộ đội Biên phòng diễn biến tình hình trên biển cũng như giúp nhau tìm kiếm lưới bị đứt trôi trên biển, giúp đỡ thiết bị, vật tư và nhân lực sửa chữa máy móc khi bị hỏng hóc trên biển để tàu tiếp tục hoạt động đã làm lợi cho các chủ tàu hàng trăm triệu đồng

- Loại hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển ở Đà Nẵng hiện nay là các mô hình liên kết thu mua sản phẩm khai thác và cung ứng nguyên vật liệu cho một số nghề khai thác nhất định như: nghề lưới rê, nghề lưới vây, chụp mực Đây là dạng mô hình

Trang 30

dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển duy nhất đang tồn tại ở Đà Nẵng [13] Hiện nay ở

Đà Nẵng có 4 mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển (số liệu do Chi cục Khai thác

và Bảo vệ nguồn lợi Thành Phố Đà Nẵng cung tính đến cuối năm 2013)

Mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển bao gồm có tàu thu mua và các tàu khai thác Mô hình này còn được gọi là mô hình tàu mẹ - tàu con Trong đó tàu thu mua được gọi là tàu mẹ, các tàu khai thác được gọi là các tàu con Các tàu con trong

mô hình là các tàu khai thác đơn lẻ và cả các tàu trong các tổ/đội khai thác Mô hình tàu mẹ - tàu con là một qui trình khép kín từ khâu khai thác đến khâu tiêu thụ sản phẩm cuối cùng đến tay người tiêu dùng

- Tàu khai thác thuỷ sản (tàu con): Phương tiện thuỷ cơ giới sử dụng một hoặc nhiều loại ngư cụ để khai thác thuỷ sản

- Tàu thu mua thủy sản (tàu mẹ): Tàu thu mua nguyên liệu thuỷ sản trực tiếp từ các tàu khai thác tại ngư trường và vận chuyển thuỷ sản về nơi chế biến hoặc tiêu thụ Tàu thu mua có thể làm nhiệm vụ cung ứng nhu yếu phẩm cho các tàu khai thác

3.3 Kết quả điều tra thực trạng về các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển

ở Đà Nẵng

3.3.1 Giới thiệu về các mô hình dịch vụ hậu cần

3.3.1.1 Mô hình thứ nhất

* Sự hình thành mô hình: mô hình được thành lập vào tháng 5/2012, do ông

Trần Toàn thành lập Đây là mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển được thành lập một cách tự phát theo nhu cầu thực tế sản xuất của các nghề khai thác hải sản, mà không có quyết định thành lập của cơ quan, tổ chức đoàn thể nào Hình thức thành lập

là liên kết tàu thu mua hải sản (tàu mẹ) với các tàu khai thác sản của nghề lưới rê, lưới vây (tàu con) tạo thành mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển Mô hình không đặt tên gọi mà chỉ thống nhất tần số liên lạc trên biển và hình thức liên lạc trên bờ

* Cơ cấu tổ chức: cơ cấu tổ chức của mô hình, gồm: 07 tàu con (tàu khai thác)

và một tàu mẹ (tàu dịch vụ hậu cần) Trong mô hình chỉ bầu ra một tổ trưởng là thuyền trưởng tàu mẹ, các chủ tàu, thuyền trưởng của các tàu con là các thành viên trong mô hình

* Thông tin về tàu mẹ trong mô hình

- Nhân sự: các đối tượng trực tiếp tham gia điều hành các hoạt động của mô hình và quyết định các công việc liên quan trong mô hình chủ yếu là chủ phương tiện,

Trang 31

thuyền trưởng của các tàu trong mô hình Các thông tin về địa chỉ của chủ tàu, thuyền trưởng tàu mẹ trong mô hình được cho chi tiết trong bảng 3.2

Bảng 3.2: Thông tin về chủ tàu mẹ trong mô hình thứ nhất

1 Trần Toàn Chủ tàu Thuận Phước-Hải Châu-TP Đà Nẵng

2 Lê Văn Hòa Thuyền trưởng Thuận Phước-Hải Châu-TP Đà Nẵng

- Tàu thuyền: Tàu mẹ trong mô hình là tàu vỏ gổ kiểu dáng dân gian thông dụng tại miền Trung, các thông số kỹ thuật chủ yếu như sau:

+ Số đăng ký tàu: ĐNa90366TS

+ Chiều dài tàu (Lmax): 18,5m

+ Chiều rộng tàu (Bmax): từ 4,1m

+ Chiều cao (Hmax): 1,8m

* Thông tin về tàu con trong mô hình thứ nhất

- Nhân sự: chủ tàu và thuyền trưởng các tàu con là người điều hành, tổ chức các hoạt động khai thác cho tàu mình và các hoạt động liên quan đến mô hình mình tham gia Các thông tin về địa chỉ của chủ tàu, thuyền trưởng tàu mẹ trong mô hình được cho chi tiết trong bảng 3.3

Trang 32

Bảng 3.3: Thông tin về các chủ tàu con trong mô hình thứ nhất

Lê Dũng Chủ tàu ĐNa90323TS Xuân Hà-Thanh Khê -TP Đà Nẵng

Nguyễn Văn Dàng Chủ tàu ĐNa90115TS Xuân Hà-Thanh Khê -TP Đà Nẵng

Lê văn Thưởng T.trưởng ĐNa90152TS Xuân Hà-Thanh Khê -TP Đà Nẵng

Trần Văn Thái T.trưởng ĐNa90039TS Xuân Hà-Thanh Khê -TP Đà Nẵng

Hồ Văn Thành T.trưởng ĐNa90043TS Thanh Khê Đông-Thanh Khê -TP Đà Nẵng Nguyễn Văn Hai Chủ tàu ĐNa90255TS Xuân Hà-Thanh Khê -TP Đà Nẵng

Nguyễn Văn Hợi Chủ tàu ĐNa90275TS Xuân Hà-Thanh Khê -TP Đà Nẵng

Các chủ tàu, thuyền trưởng của các tàu con đều là những người thường trú tại

Đà Nẵng Điều này sẽ thuận lợi hơn cho các thành viên trong mô hình trong việc liên lạc, trao đổi các thông tin liên quan đến hoạt động của mô hình

- Tàu thuyền: các tàu thuyền tham gia mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển ở Đà Nẵng chủ yếu là các tàu có công suất lớn hơn 90cv, được trang bị đầy đủ các các máy điện hàng hải, thiết bị khai thác Các thông số cơ bản của tàu con trong

mô hình thứ nhất được thể hiện ở bảng 3.4

Bảng 3.4: Thông số cơ bản của các tàu con trong mô hình thứ nhất

ký tàu

Công suất

TB (cv)

Chiều dài

L (m)

Chiều rộng

B (m)

Chiều cao

T (m)

Trọng tải (tấn)

Tốc độ tàu (hl/h)

Số thủy thủ

Nguồn vốn đầu tư: kết quả điều tra các tàu tham gia mô hình dịch vụ hậu cần trên biển cho thấy, nguồn vốn đầu tư trang bị tàu thuyền (vỏ tàu, máy móc, trang thiết bị), ngư cụ chủ yếu từ các nguồn như: nguồn vốn tự có của ngư dân, vay ngân hàng, vay của chủ nậu/vựa, vay ngoài Thống kê nguồn vốn đầu tư trang bị tàu thuyền, ngư

Trang 33

cụ và nguồn vốn đầu tư sản xuất chuyến biển cho các tàu con trong mô hình được thể hiện qua bảng 3.5

Bảng 3.5: Nguồn vốn đầu tư trang bị tàu thuyền, ngư cụ và đầu tư sản xuất của các

tàu con trong mô hình thứ nhất

ký tàu

Nghề khai thác

VĐT tàu thuyền, thiết

bị (Tr.đ/tàu)

VĐT cho sản xuất (Tr.đ/chuyến)

Năm đóng

Nguồn vốn đầu tư trang bị tàu thuyền (vỏ tàu, máy móc, trang thiết bị), ngư cụ của các tàu con trong mô hình trung bình là 1058,6 Tr.đ/tàu, nguồn vốn đầu tư cho sản xuất chuyến biển bao gồm: dầu, nhớt, nước đá, lương thực, thực phẩm, chi phí nhỏ khác, trung bình là 145,9 Tr.đ/tàu

3.3.1.2 Mô hình thứ hai

* Sự hình thành mô hình: mô hình được thành lập vào tháng 5/2012, do ông

Trần Ny thành lập Tương tự như mô hình thứ nhất đây là mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển được thành lập một cách tự phát theo nhu cầu thực tế sản xuất của các nghề khai thác hải sản, mà không có quyết định thành lập của cơ quan, tổ chức đoàn thể nào Hình thức thành lập là liên kết tàu thu mua hải sản (tàu mẹ) với các tàu khai thác sản của nghề lưới rê, lưới vây (tàu con) tạo thành mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển

* Cơ cấu tổ chức: cơ cấu tổ chức của mô hình, gồm: 08 tàu con (tàu khai thác)

và một tàu mẹ (tàu dịch vụ hậu cần) Trong mô hình chỉ bầu ra một tổ trưởng là thuyền trưởng tàu mẹ, các chủ tàu, thuyền trưởng của các tàu con là các thành viên trong mô hình

* Thông tin về tàu mẹ trong mô hình thứ hai

- Nhân sự: các thành viên chính tham gia trong hoạt động của tàu mẹ gồm có chủ tàu, thuyền trưởng và các thuyền viên Tuy nhiên, các đối tượng trực tiếp tham gia điều hành các hoạt động của mô hình và quyết định các công việc liên quan trong mô

Trang 34

hình chủ yếu là chủ tàu, thuyền trưởng Một số thông tin cơ bản về họ tên, địa chỉ của chủ tàu, thuyền trưởng tàu mẹ trong mô hình được cho chi tiết trong bảng 3.6

Bảng 3.6: Thông tin về chủ tàu mẹ trong mô hình thứ hai

2 Trần Văn Đổng Thuyền trưởng Thuận Phước-Hải Châu-TP Đà Nẵng

- Tàu thuyền: tàu mẹ trong mô hình là tàu vỏ gổ kiểu dáng dân gian thông dụng tại miền Trung, các thông số kỹ thuật chủ yếu như sau:

+ Số đăng ký tàu: ĐNa90511TS

+ Chiều dài tàu (Lmax): 24,1m

+ Chiều rộng tàu (Bmax): từ 5,1m

+ Chiều cao (Hmax): 2,3m

* Thông tin về tàu con trong mô hình thứ hai

- Nhân sự: trong mô hình dịch vụ hậu cần trên biển thứ hai có 5 chủ tàu, thuyền trưởng là ở Bình Định, sở dĩ các tàu này vẫn hoạt động trong mô hình dịch vụ hậu cần trên biển ở Đà Nẵng là do các tàu này thường khai thác ở vùng biển Đà Nẵng và cặp cảng ở đây thường xuyên Các thông tin về địa chỉ của chủ tàu, thuyền trưởng tàu mẹ trong mô hình được cho chi tiết trong bảng 3.7

Bảng 3.7: Thông tin về các chủ tàu con trong mô hình thứ hai

Nguyễn Phi T.trưởng BĐ94135TS Mỹ Thắng-Phù Mỹ-Bình Định

Nguyễn Quốc Trị Chủ tàu BĐ94273TS Mỹ Thắng-Phù Mỹ-Bình Định

Nguyễn Văn Triều Chủ tàu BĐ94256TS Mỹ Thắng-Phù Mỹ-Bình Định

Đào Văn Sinh T.trưởng ĐNa90361TS Thanh Khê Đông-Thanh Khê -TP Đà Nẵng Đinh Văn Lợi Chủ tàu ĐNa90371TS Xuân Hà-Thanh Khê -TP Đà Nẵng

Nguyễn Văn Giáp Chủ tàu ĐNa90036TS Xuân Hà-Thanh Khê -TP Đà Nẵng

Trang 35

- Tàu thuyền: các tàu con trong các mô hình thứ hai có công suất trung bình 308,1 cv kích thước trung bình của các tàu con trong mô hình là (17,1x5,0x2,7) Tải trọng trung bình của các tàu con trong mô hình là 28,0 tấn Chi tiết cho trong bảng 3.8

Bảng 3.8: Thông số cơ bản của các tàu con trong mô hình thứ hai

L (m)

Chiều rộng

B (m)

Chiều cao

T (m)

Trọng tải (tấn)

Tốc

độ tàu (hl/h)

Số thủy thủ

Bảng 3.9: Nguồn vốn đầu tư trang bị tàu thuyền, ngư cụ và đầu tư sản xuất của các

tàu con trong mô hình thứ hai

ký tàu

Nghề khai thác

VĐT tàu thuyền, thiết bị (Tr.đ/tàu)

VĐT cho sản xuất (Tr.đ/chuyến)

Năm đóng

Nguồn vốn đầu tư trang bị tàu thuyền (vỏ tàu, máy móc, trang thiết bị), ngư cụ của các tàu con trong mô hình trung bình là 1188,7 Tr.đ/tàu, nguồn vốn đầu tư cho sản xuất chuyến biển bao gồm: dầu, nhớt, nước đá, lương thực, thực phẩm, chi phí nhỏ khác, trung bình là 144,4 Tr.đ/tàu

Trang 36

3.3.1.3 Mô hình thứ ba

* Sự hình thành mô hình: mô hình được thành lập vào tháng 11/2012, do ông

Lê Văn Sang thành lập Đây là mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển được thành lập một cách tự phát theo nhu cầu thực tế sản xuất của các nghề khai thác hải sản, mà không có quyết định thành lập của cơ quan, tổ chức đoàn thể nào Hình thức thành lập

là liên kết tàu thu mua hải sản (tàu mẹ) với các tàu khai thác sản của nghề lưới vây, nghề chụp mực (tàu con) tạo thành mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển Mô hình không đặt tên gọi mà chỉ thống nhất tần số liên lạc trên biển và hình thức liên lạc trên bờ

* Cơ cấu tổ chức: cơ cấu tổ chức của mô hình, gồm: 10 tàu con (tàu khai thác)

và một tàu mẹ (tàu dịch vụ hậu cần) Trong mô hình chỉ bầu ra một tổ trưởng là thuyền trưởng tàu mẹ, các chủ tàu, thuyền trưởng của các tàu con là các thành viên trong mô hình

* Thông tin về tàu mẹ trong mô hình thứ ba

- Nhân sự: các đối tượng trực tiếp tham gia điều hành các hoạt động của mô hình và quyết định các công việc liên quan trong mô hình chủ yếu là chủ phương tiện, thuyền trưởng của các tàu trong mô hình Các thông tin về địa chỉ của chủ tàu, thuyền trưởng tàu mẹ trong mô hình được cho chi tiết trong bảng 3.10

Bảng 3.10: Thông tin về chủ tàu tàu mẹ trong mô hình thứ ba

1 Lê Văn Sang Chủ tàu Thuận Phước-Hải Châu-TP Đà Nẵng

2 Lê Văn Sang Thuyền trưởng Thuận Phước-Hải Châu-TP Đà Nẵng

- Tàu thuyền: kích thước tàu mẹ có ảnh hưởng lớn đến quá trình hoạt động của

mô hình, tàu mẹ có kích thước lớn, tải trọng lớn thì khả năng chuyên chở sản phẩm được nhiều và số tàu trong mô hình cũng sẽ nhiều hơn Tàu mẹ trong mô hình là tàu vỏ

gổ kiểu dáng dân gian thông dụng tại miền Trung, các thông số kỹ thuật chủ yếu như sau:

+ Số đăng ký tàu: ĐNa90444TS

+ Chiều dài tàu (Lmax): 25,5m

+ Chiều rộng tàu (Bmax): từ 6,52m

+ Chiều cao (Hmax): 2,67m

+ Trọng tải tàu (Pn): 79 tấn

+ Công suất máy chính : 1160cv

Trang 37

+ Tốc độ tàu : 7-8 hl/h

+ Năm đóng: 2012

- Nguồn vốn đầu tư: Vốn đầu tư tàu thuyền, trang thiết bị của tàu mẹ là 2.865Tr.đ/tàu, vốn đầu tư nguyên vật liệu cung ứng cho các tàu con trong một chuyến biển trung bình 38 Tr.đ/chuyến, vốn đầu tư mua sản phẩm từng chuyến biển trung bình 340,0Tr.đ/chuyến

* Thông tin về tàu con trong mô hình thứ ba

- Nhân sự: tương tự như các mô hình trên, các đối tượng trực tiếp tham gia điều hành các hoạt động của mô hình và quyết định các công việc liên quan trong mô hình chủ yếu là chủ phương tiện, thuyền trưởng của các tàu trong mô hình Các thông tin về địa chỉ của chủ tàu, thuyền trưởng tàu mẹ trong mô hình được cho chi tiết trong bảng 3.11

Bảng 3.11: Thông tin về các chủ tàu con trong mô hình thứ ba

Nguyễn Văn Cảm Chủ tàu QB92544TS Đức Trạch - Bố Trạch - Quảng Bình

Lê Văn Hoàng T.trưởng QB92951TS Đức Trạch - Bố Trạch - Quảng Bình Trần Đức Trọng T.trưởng QB92339TS Đức Trạch - Bố Trạch - Quảng Bình Nguyễn Văn Hai Chủ tàu QB92367TS Đức Trạch - Bố Trạch - Quảng Bình

Võ Văn Thành T.trưởng QB92757TS Đức Trạch - Bố Trạch - Quảng Bình Nguyễn Văn Lời Chủ tàu QB92936TS Đức Trạch - Bố Trạch - Quảng Bình Nguyễn Văn Minh T.trưởng QB92495TS Đức Trạch - Bố Trạch - Quảng Bình

Lê Văn Ân T.trưởng QB92359TS Đức Trạch - Bố Trạch - Quảng Bình Huỳnh Thanh Giang T.trưởng BĐ94353TS Mỹ Thắng-Phù Mỹ-Bình Định

Nguyễn Trần Anh Chủ tàu BĐ94259TS Mỹ Thắng-Phù Mỹ-Bình Định

- Tàu thuyền: các tàu con trong các mô hình thứ hai có công suất trung bình 297,8 cv kích thước trung bình của các tàu con trong mô hình là (17,1x5,07x2,54) Tải trọng trung bình của các tàu con trong mô hình là 20,5 tấn Chi tiết cho trong bảng 3.12

Bảng 3.12: Thông số cơ bản của các tàu con trong mô hình thứ ba

ký tàu

Công suất

TB (cv)

Chiều dài

L (m)

Chiều rộng

B (m)

Chiều cao

T (m)

Trọng tải (tấn)

Tốc độ tàu (hl/h)

Số thủy thủ

Trang 38

TT Số đăng

ký tàu

Công suất

TB (cv)

Chiều dài

L (m)

Chiều rộng

B (m)

Chiều cao

T (m)

Trọng tải (tấn)

Tốc độ tàu (hl/h)

Số thủy thủ

Bảng 3.13: Nguồn vốn đầu tư trang bị tàu thuyền, ngư cụ và đầu tư sản xuất của các

tàu con trong mô hình thứ ba

ký tàu

Nghề khai thác

VĐT tàu thuyền, thiết bị (Tr.đ/tàu)

VĐT cho sản xuất (Tr.đ/chuyến)

Năm đóng

3.3.1.4 Mô hình thứ tư

* Sự hình thành mô hình: mô hình được thành lập vào tháng 2/2011, do ông Lê

Mên thành lập Đây là mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển được thành lập một cách tự phát theo nhu cầu thực tế sản xuất của các nghề khai thác hải sản, mà không có quyết định thành lập của cơ quan, tổ chức đoàn thể nào Hình thức thành lập là liên kết tàu thu mua hải sản (tàu mẹ) với các tàu khai thác sản của nghề chụp mực, lưới vây (tàu con) tạo thành mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển Mô hình không đặt tên gọi mà chỉ thống nhất tần số liên lạc trên biển và hình thức liên lạc trên bờ

Trang 39

* Cơ cấu tổ chức: cơ cấu tổ chức của mô hình, gồm: 07 tàu con (tàu khai thác)

và một tàu mẹ (tàu dịch vụ hậu cần) Trong mô hình chỉ bầu ra một tổ trưởng là thuyền trưởng tàu mẹ, các chủ tàu, thuyền trưởng của các tàu con là các thành viên trong mô hình

* Thông tin về tàu mẹ trong mô hình thứ tư

- Nhân sự: các đối tượng trực tiếp tham gia điều hành các hoạt động của mô hình và quyết định các công việc liên quan trong mô hình chủ yếu là chủ phương tiện, thuyền trưởng của các tàu trong mô hình Các thông tin về địa chỉ của chủ tàu, thuyền trưởng tàu mẹ trong mô hình được cho chi tiết trong bảng 3.14

Bảng 3.14: Thông tin về các chủ tàu tàu mẹ trong mô hình thứ tư

2 Lê Khánh Thuyền trưởng Thuận Phước-Hải Châu-TP Đà Nẵng

- Tàu thuyền: tàu mẹ trong mô hình là tàu vỏ gổ kiểu dáng dân gian thông dụng tại miền Trung, các thông số kỹ thuật chủ yếu như sau:

+ Số đăng ký tàu: ĐNa90424TS

+ Chiều dài tàu (Lmax): 19,4m

+ Chiều rộng tàu (Bmax): từ 4,2m

+ Chiều cao (Hmax): 1,9m

* Thông tin về tàu con trong mô hình thứ tư

- Nhân sự: các thông tin về họ tên, địa chỉ của chủ tàu, thuyền trưởng tàu con trong mô hình thứ tư được cho chi tiết trong bảng 3.15

Trang 40

Bảng 3.15: Thông tin về các chủ tàu con trong mô hình thứ tư

Nguyễn Văn Dũng T.trưởng QB92563TS Đức Trạch - Bố Trạch - Quảng Bình Nguyễn Đức Trung Chủ tàu QB92699TS Đức Trạch - Bố Trạch - Quảng Bình Nguyễn Quang Bắc T.trưởng QB92347TS Đức Trạch - Bố Trạch - Quảng Bình Mai Văn Thụ T.trưởng QB91136TS Bảo Ninh - Đồng Hới - Quảng Bình Trần Văn Trọng T.trưởng ĐNa90449TS Xuân Hà-Thanh Khê -TP Đà Nẵng

Lê Văn Thưởng Chủ tàu ĐNa90159TS Xuân Hà-Thanh Khê -TP Đà Nẵng

Hồ Văn Thành Chủ tàu ĐNa90043TS Thanh Khê Đông-Thanh Khê -TP Đà Nẵng

- Tàu thuyền: kết quả điều tra cho thấy, các tàu con trong các mô hình thứ hai

có công suất trung bình 265,7 cv kích thước trung bình của các tàu con trong mô hình

là (18,1x5,5x2,7) Tải trọng trung bình của các tàu con trong mô hình là 23,7 tấn Chi tiết cho trong bảng 3.16

Bảng 3.16: Thông số cơ bản của các tàu con trong mô hình thứ tư

ký tàu

Công suất

TB (cv)

Chiều dài

L (m)

Chiều rộng

B (m)

Chiều cao

T (m)

Trọng tải (tấn)

Tốc độ tàu (hl/h)

Số thủy thủ

Bảng 3.17: Nguồn vốn đầu tư trang bị tàu thuyền, ngư cụ và đầu tư sản xuất của các

tàu con trong mô hình thứ tư

ký tàu

Nghề khai thác

VĐT tàu thuyền, thiết

bị (Tr.đ/tàu)

VĐT cho sản xuất (Tr.đ/chuyến)

Năm đóng

Ngày đăng: 26/03/2015, 09:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn Bôn và Nguyễn Phi Toàn (2005), Các mô hình tổ chức sản xuất đạt hiệu quả cao đang được sử dụng trong nghề câu tay tại Philippine, Báo cáo chuyên đề, Viện Nghiên cứu Hải sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mô hình tổ chức sản xuất đạt hiệu quả cao đang được sử dụng trong nghề câu tay tại Philippine
Tác giả: Lê Văn Bôn và Nguyễn Phi Toàn
Năm: 2005
2. Nguyễn Duy Chỉnh (2009), Củng cố phát triển tổ, đội khai thác thuỷ sản giai đoạn 2010 – 2015, Dự án hợp phần tăng cường năng lực quản lý trong khai thác thuỷ sản (SCAFI) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Củng cố phát triển tổ, đội khai thác thuỷ sản giai đoạn 2010 – 2015
Tác giả: Nguyễn Duy Chỉnh
Năm: 2009
3. Nguyễn Văn Kháng (2011), Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho việc điều chỉnh cơ cấu đội tàu và nghề nghiệp khai thác hải sản, Báo cáo tổng kết đề tài, Viện Nghiên cứu Hải sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho việc điều chỉnh cơ cấu đội tàu và nghề nghiệp khai thác hải sản
Tác giả: Nguyễn Văn Kháng
Năm: 2011
4. Lê Văn Khẩn (2010), Bảo quản sản phẩm thủy sản sau thu hoạch, Bài giảng, Trường Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo quản sản phẩm thủy sản sau thu hoạch
Tác giả: Lê Văn Khẩn
Năm: 2010
5. Nguyễn Công Khích (2009), Phát triển mô hình hợp tác xã thủy sản - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Viện Qui hoạch và Kinh tế Thủy sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển mô hình hợp tác xã thủy sản - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Công Khích
Năm: 2009
6. Nguyễn long (2006), Mô hình tổ chức các đội tàu sản xuất của nghề câu cá ngừ đại dương bằng câu vàng và câu tay quanh chà, Báo cáo chuyên đề, Viện Nghiên cứu Hải sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tổ chức các đội tàu sản xuất của nghề câu cá ngừ đại dương bằng câu vàng và câu tay quanh chà
Tác giả: Nguyễn long
Năm: 2006
7. Đỗ Văn Khương (2008), Đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô ở một số vùng dự kiến thiết lập khu bảo tồn biển và một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao ở dốc thềm lục địa Việt Nam, đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững nguồn lợi, Báo cáo tổng kết đề tài, Viện Nghiên cứu Hải sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô ở một số vùng dự kiến thiết lập khu bảo tồn biển và một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao ở dốc thềm lục địa Việt Nam, đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững nguồn lợi
Tác giả: Đỗ Văn Khương
Năm: 2008
8. Lê Tiêu La (2008), Nghiên cứu đề xuất mô hình phát triển hợp tác xã trong ngành thủy sản Việt Nam, Viện Qui hoạch và Kinh tế Thủy sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đề xuất mô hình phát triển hợp tác xã trong ngành thủy sản Việt Nam
Tác giả: Lê Tiêu La
Năm: 2008
9. Nguyễn Hữu Lộc (2007), Báo cáo kế hoạch phát triển và đưa vào sử dụng trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá tại đảo Đá Tây – Trường Sa, Tổng Cty Hải sản Biển Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kế hoạch phát triển và đưa vào sử dụng trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá tại đảo Đá Tây – Trường Sa
Tác giả: Nguyễn Hữu Lộc
Năm: 2007
10. Đỗ Văn Thành (2012), Báo cáo chuyến đi trên tàu dịch vụ hậu cần nghề cá BTh98794TS tại Phú Quý – Bình Thuận, Báo cáo chuyên đề, Viện Nghiên cứu Hải sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chuyến đi trên tàu dịch vụ hậu cần nghề cá BTh98794TS tại Phú Quý – Bình Thuận
Tác giả: Đỗ Văn Thành
Năm: 2012
11. Huỳnh Văn Thảo (2008), Nghiên cứu đánh giá mô hình tổ hợp tác sản xuất nghề khai thác hải sản xa bờ tỉnh Tiền Giang, đề xuất mô hình hợp tác sản xuất phù hợp, Đề tài luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá mô hình tổ hợp tác sản xuất nghề khai thác hải sản xa bờ tỉnh Tiền Giang, đề xuất mô hình hợp tác sản xuất phù hợp
Tác giả: Huỳnh Văn Thảo
Năm: 2008
12. Phạm Văn Tuấn, Phan Đăng Liêm (2012), Nghiên cứu xây dựng mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá dạng tàu mẹ - tàu con, Báo cáo chuyên đề, Viện Nghiên cứu Hải sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá dạng tàu mẹ - tàu con
Tác giả: Phạm Văn Tuấn, Phan Đăng Liêm
Năm: 2012
13. Chu Tiến Vĩnh (2008), Định hướng phát triển khai thác hải sản đến năm 2020, Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi Hải sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển khai thác hải sản đến năm 2020
Tác giả: Chu Tiến Vĩnh
Năm: 2008
15. S. Constantine (2002), Sample-Based Fishery Surveys, A Technical Handbook. Food and Agriculture Organization of the United Nations, Rome Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sample-Based Fishery Surveys
Tác giả: S. Constantine
Năm: 2002
16. Fisheries Agency, Council of Agriculture, Chinese Taipei and Overseas Fisheries Development Council, Chinese Taipei, August, (2011). Tuna Fisheries Status Report of Chinese Taipei in the Western and Central Pacific Region, Report Courtry, Chinese Tapei Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuna Fisheries Status Report of Chinese Taipei in the Western and Central Pacific Region
Tác giả: Fisheries Agency, Council of Agriculture, Chinese Taipei and Overseas Fisheries Development Council, Chinese Taipei, August
Năm: 2011
17. Sean Pascoe and Simon Mardle (2003), Efficiency analysis in EU fisheries Stochastic Production Frontiners and Data Envelopment Analysis, Springer Sách, tạp chí
Tiêu đề: Efficiency analysis in EU fisheries Stochastic Production Frontiners and Data Envelopment Analysis
Tác giả: Sean Pascoe and Simon Mardle
Năm: 2003
18. N. Barut & E. Garvilles, (2004). Philippines Fishery Report, National Fisheries Research and Development Institute (NFRDI); Bureau of Fisheries and Aquatic Resources.Philippines Sách, tạp chí
Tiêu đề: Philippines Fishery Report
Tác giả: N. Barut & E. Garvilles
Năm: 2004
19. Thanyalak Suasi (2012), Observations on the Hakodate Fish Market and Morning Market 31 October 2012, Hakodate Sách, tạp chí
Tiêu đề: Observations on the Hakodate Fish Market and Morning Market 31 October 2012
Tác giả: Thanyalak Suasi
Năm: 2012
20. FAO (2004) The state of the worlds fisheries and aquaculture 2003, Electronic Publishing Policy and Support Branch, Roma, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The state of the worlds fisheries and aquaculture 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu - Giải pháp nâng cao hiệu quả các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển thành phố Đà Nẵng
Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu (Trang 24)
Bảng 3.12: Thông số cơ bản của các tàu con trong mô hình thứ ba - Giải pháp nâng cao hiệu quả các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển thành phố Đà Nẵng
Bảng 3.12 Thông số cơ bản của các tàu con trong mô hình thứ ba (Trang 37)
Bảng 3.13: Nguồn vốn đầu tư trang bị tàu thuyền, ngư cụ và đầu tư sản xuất của các - Giải pháp nâng cao hiệu quả các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển thành phố Đà Nẵng
Bảng 3.13 Nguồn vốn đầu tư trang bị tàu thuyền, ngư cụ và đầu tư sản xuất của các (Trang 38)
Bảng 3.16: Thông số cơ bản của các tàu con trong mô hình thứ tư - Giải pháp nâng cao hiệu quả các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển thành phố Đà Nẵng
Bảng 3.16 Thông số cơ bản của các tàu con trong mô hình thứ tư (Trang 40)
Bảng 3.22: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận tàu con trong khi tham gia mô hình thứ nhất - Giải pháp nâng cao hiệu quả các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển thành phố Đà Nẵng
Bảng 3.22 Doanh thu, chi phí, lợi nhuận tàu con trong khi tham gia mô hình thứ nhất (Trang 49)
Bảng 3.23: Sản lượng thu mua chuyến biển của tàu mẹ trong mô hình thứ nhất - Giải pháp nâng cao hiệu quả các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển thành phố Đà Nẵng
Bảng 3.23 Sản lượng thu mua chuyến biển của tàu mẹ trong mô hình thứ nhất (Trang 50)
Bảng 3.30: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận tàu con trong khi tham gia mô hình thứ hai - Giải pháp nâng cao hiệu quả các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển thành phố Đà Nẵng
Bảng 3.30 Doanh thu, chi phí, lợi nhuận tàu con trong khi tham gia mô hình thứ hai (Trang 57)
Bảng 3.38: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận tàu con trong khi tham gia mô hình thứ ba - Giải pháp nâng cao hiệu quả các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển thành phố Đà Nẵng
Bảng 3.38 Doanh thu, chi phí, lợi nhuận tàu con trong khi tham gia mô hình thứ ba (Trang 67)
Bảng 3.39: Sản lượng thu mua chuyến biển của tàu mẹ trong mô hình thứ ba - Giải pháp nâng cao hiệu quả các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển thành phố Đà Nẵng
Bảng 3.39 Sản lượng thu mua chuyến biển của tàu mẹ trong mô hình thứ ba (Trang 68)
Hình 3.10: Năng suất khai thác của các tàu con trong mô hình thứ tư - Giải pháp nâng cao hiệu quả các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển thành phố Đà Nẵng
Hình 3.10 Năng suất khai thác của các tàu con trong mô hình thứ tư (Trang 73)
Bảng 3.44: Năng suất khai thác của các tàu con trong mô hình thứ tư - Giải pháp nâng cao hiệu quả các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển thành phố Đà Nẵng
Bảng 3.44 Năng suất khai thác của các tàu con trong mô hình thứ tư (Trang 73)
Bảng 3.46: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận tàu con trong khi tham gia mô hình thứ tư - Giải pháp nâng cao hiệu quả các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển thành phố Đà Nẵng
Bảng 3.46 Doanh thu, chi phí, lợi nhuận tàu con trong khi tham gia mô hình thứ tư (Trang 75)
Hình 3.12: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của mô hình tàu mẹ - tàu con - Giải pháp nâng cao hiệu quả các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển thành phố Đà Nẵng
Hình 3.12 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của mô hình tàu mẹ - tàu con (Trang 90)
Hình thức tiêu thụ sản phẩm - Giải pháp nâng cao hiệu quả các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển thành phố Đà Nẵng
Hình th ức tiêu thụ sản phẩm (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w