1.1.2 Tình hình nghiên cứu mô hình khai thác - dịch vụ hậu cần trên thế giới Mô hình khai thác - dịch vụ hậu cần nghề cá của các nước trong khu vực và trên thế giới đã phát triển mạnh ở
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LẠI HUY TOẢN
ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH DỊCH VỤ HẬU CẦN TRÊN BIỂN CỦA NGHỀ CÂU KIÊM NGHỀ MÀNH KHAI THÁC MỰC Ở ĐẢO
PHÚ QUÝ, TỈNH BÌNH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa – 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LẠI HUY TOẢN
ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH DỊCH VỤ HẬU CẦN TRÊN BIỂN CỦA NGHỀ CÂU KIÊM NGHỀ MÀNH KHAI THÁC MỰC Ở ĐẢO
PHÚ QUÝ, TỈNH BÌNH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Ngành đào tạo: Kỹ thuật khai thác thủy sản
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn được hoàn thành là kết quả của quá trình nghiên cứu tài liệu, thực hiện các chuyến điều tra khảo sát thực tế ở Phú Quý, tỉnh Bình Thuận
Kết hợp với nguồn số liệu của đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu xây dựng mô hình dịch vụ hậu cần cho nghề khai thác hải sản xa bờ ở vùng biển miền Trung” và số liệu điều tra
hiện trạng nghề cá của các đề tài, dự án khác hiện được lưu trữ ở Phòng Nghiên cứu Công nghệ Khai thác, Viện Nghiên cứu Hải sản Tất cả số liệu sử dụng trong luận văn đều do tác giả và đồng nghiệp trực tiếp thu thập trong các chuyến điều tra thực địa ở địa phương, giai đoạn 2012 - 2014 Số liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, được xử lý theo phương pháp khoa học và đảm bảo độ tin cậy
Số liệu trong luận văn đã được Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản, Lãnh đạo Phòng Nghiên cứu Công nghệ Khai thác và Chủ nhiệm đề tài cấp Bộ nói trên cho phép
sử dụng Kết quả nghiên cứu của luận văn là mới, không trùng lặp với bất cứ luận án bảo vệ học vị nào đã có trước đây
Người cam đoan
Lại Huy Toản
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tôi xin cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Đức Sĩ, TS Nguyễn Long, ThS Nguyễn Phi Toàn là những người trực tiếp hướng dẫn và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản, Lãnh đạo Phòng
Nghiên cứu Công Nghệ Khai thác, Ban Chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình dịch vụ hậu cần cho nghề khai thác hải sản xa bờ ở vùng biển miền Trung”, đã
cho phép và tạo mọi điều kiện để tôi sử dụng số liệu thực hiện luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới ThS Phan Đăng Liêm, ThS Phạm Văn Tuyển, KS Phạm Văn Tuấn, KS Đỗ Văn Thành, KS Nguyễn Ngọc Sửa là những người đã cùng tôi tham gia các đợt điều tra hiện trạng hoạt động của các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá tại huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận trong giai đoạn 2012 - 2014
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Lãnh đạo Viện Khoa học và Công nghệ Khai thác Thủy sản, Quý thầy trong Viện đã truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm giúp tôi hoàn thành luận văn này
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Nghiên cứu ngoài nước 4
1.1.1 Tình hình nghiên cứu và khai thác mực trên thế giới 4
1.1.2 Tình hình nghiên cứu mô hình khai thác - dịch vụ hậu cần trên thế giới 6
1.2 Nghiên cứu trong nước 9
1.2.1 Nghiên cứu tập tính sinh học và khai thác mực 9
1.2.1.1 Nghiên cứu tập tính hấp thụ nguồn sáng của mực 9
1.2.1.2 Nghiên cứu khai thác mực ở nước ta 11
1.2.2 Nghiên cứu các mô hình khai thác – dịch vụ hậu cần 12
1.2.3 Một số tồn tại của mô hình khai thác – dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển 18
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG, TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Nội dung nghiên cứu 19
2.2 Tài liệu nghiên cứu 20
2.3 Phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 21
2.3.1.1 Phạm vi và thời gian nghiên cứu 21
2.3.1.2 Đối tượng nghiên cứu 22
2.3.2 Phương pháp điều tra thu mẫu 22
2.3.2.1 Phương pháp điều tra thứ cấp 22
2.3.2.2 Phương pháp điều tra sơ cấp 22
2.3.3 Phương pháp đánh giá, phân tích 22
2.3.4 Phương pháp xác định số lượng tàu cho một mô hình 24
2.3.4.1 Cơ sở để xây dựng mô hình 24
2.3.4.2 Phương pháp xác định số lượng tàu trong mô hình 24
2.3.4.3 Phương pháp xây dựng quy chế và tổ chức hoạt động mô hình 25
2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 25
2.3.5.1 Xử lý số liệu về hiện trạng nghề cá ở Phú Quý – Bình Thuận 25
2.3.5.2 Xác định số lượng tàu trong một mô hình 27
Trang 7CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Thực trạng khai thác – dịch vụ hậu cần Phú Quý, tỉnh Bình Thuận 30
3.1.1 Cơ cấu đội tàu khai thác – dịch vụ hậu cần 30
3.1.2 Thực trạng kinh tế - xã hội và dịch vụ hậu cần nghề cá 31
3.1.3 Cơ cấu đội tàu dịch vụ hậu cần 33
3.2 Thực trạng trang thiết bị và kỹ thuật khai thác 35
3.2.1 Thực trạng vỏ tàu và trang thiết bị 35
3.2.1.1 Thực trạng trang bị vỏ, máy tàu 35
3.2.1.2 Thực trạng trang thiết bị hàng hải 36
3.2.1.3 Thực trạng trang bị an toàn hàng hải 36
3.2.1.4 Thực trạng trang bị nguồn sáng nghề câu kiêm mành 38
3.2.1.5 Thực trạng trang bị hầm bảo quản trên tàu dịch vụ hậu cần 39
3.2.2 Đánh giá tình hình trang thiết bị 41
3.2.2.1 Đánh giá tình hình trang thiết bị tham gia vào sản xuất 41
3.2.2.2 Đánh giá mức độ trang bị các loại máy phục vụ sản xuất 41
3.2.2.3 Mức độ trang bị động lực của các đội tàu 42
3.2.2.4 Giá trị đầu tư vỏ, máy tàu và các trang thiết bị cho sản xuất 43
3.2.3 Thực trạng trang bị ngư cụ 43
3.2.3.1 Thực trạng nghề lưới mành 44
3.2.3.2 Thực trạng nghề câu tay 44
3.2.4 Kỹ thuật khai thác, phương pháp xếp dỡ và bảo quản sản phẩm 45
3.2.5 Đánh giá chất lượng sản phẩm của các tàu 50
3.3 Đánh giá hiệu quả sản xuất 51
3.3.1 Năng suất khai thác của các tàu sản xuất 51
3.3.2 Hiệu quả sản xuất trong một chuyến biển 52
3.3.3 Hiệu quả của tàu dịch vụ hậu cần trên đảo trong một chuyến biển 53
3.3.4 Chỉ số kinh tế của các mô hình trong một năm 54
3.3.4.1 Doanh thu của chuyến biển 54
3.3.4.2 Chi phí biến đổi trong năm 55
3.3.4.3 Lợi nhuận 56
3.3.4.4 Thu nhập trung bình của thuyền viên trong năm 57
3.3.4.5 Doanh lợi 58
Trang 83.3.5 Phân tích SWOT các tàu tham gia dịch vụ hậu cần trên biển 59
3.4 Xây dựng mô hình dịch vụ hậu cần nghề câu kiêm mành 63
3.4.1 Xác lập cơ sở khoa học để xây dựng mô hình 63
3.4.2 Xác định số lượng tàu cho một mô hình 66
3.4.3 Quy mô hoạt động của dạng mô hình tàu mẹ - tàu con 67
3.4.4 Quy chế hoạt động của dạng mô hình tàu mẹ - tàu con 68
3.4.5 Phương thức hoạt động của dạng mô hình tàu mẹ - tàu con 70
3.4.5.1 Tổ chức sản xuất 70
3.4.5.2 Phương thức xếp dỡ và vận chuyển sản phẩm 70
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
4.1 Kết luận 73
4.2 Kiến nghị 74
PHỤ LỤC 78
Phụ lục I: Một số hoạt động khảo sát thực tế 78
Phụ lục II: Bản vẽ trang bị ngư cụ trên tàu câu kiêm mành 79
Phụ lục III: Điều kiện cơ sở hạ tầng nghề cá ở khu vực miền Trung 81
Phụ lục V: Các chỉ số về đánh giá trình độ công nghệ và hiệu quả kinh tế 93
Phụ lục VII: Phiếu điều tra trên biển 97
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bmax : Chiều rộng vỏ tàu lớn nhất
BPPĐ : Bảng phân phối điện (bảng điều khiển hệ thống điện trên tàu)
FAO : Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc
FL : Flourescent Light - bóng huỳnh quang
GT : Gross Tonnage - Tấn dung tải (1 GT = 2,83m3)
h : Chỉ số đánh giá trang thiết bị tham gia sản xuất
Hnl : Chỉ số đánh giá năng lực trang bị động lực
Ihd : Chỉ số đánh giá mức độ hiện đại của trang thiết bị
KTGMH : Không tham gia mô hình
kVA : Đơn vị tính công suất máy phát điện (Dynamo)
Lmax : Chiều dài toàn bộ
Trang 10TTTG : Máy thông tin liên lạc tầm gần
TTTX : Máy thông tin liên lạc tầm xa
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Số lượng tàu và số ngày trong một chu kỳ khai thác của một mô hình 17
Bảng 2.1 Tổng hợp số lượng tàu khảo sát theo các nhóm tàu 21
Bảng 3.1 Phân loại theo công suất và nghề ở Phú Quý 30
Bảng 3.2 Cơ cấu lao động trong ngành thủy sản của Phú Quý 31
Bảng 3.3 Độ tuổi lao động trong khai thác hải sản 31
Bảng 3.4 Trình độ học vấn của lao động khai thác hải sản 32
Bảng 3.5 Khả năng làm dịch vụ hậu cần nghề cá trên đảo Phú Quý 32
Bảng 3.6 Số lượng tàu thuyền làm dịch vụ hậu cần ở đảo Phú Quý 34
Bảng 3.7 Kích thước và thông số cơ bản vỏ, máy 35
Bảng 3.8 Hiện trạng trang bị máy hàng hải 36
Bảng 3.9 Tỷ lệ trang thiết bị phòng nạn 37
Bảng 3.10 Trang bị hệ thống điện trên 1 đơn vị tàu 39
Bảng 3.11 Thông số về vật liệu cách nhiệt, vách hầm 40
Bảng 3.12 Thông số cơ bản của lưới mành 44
Bảng 3.13 Thông số cơ bản của câu tay 44
Bảng 3.14 Chất lượng và giá trị sản phẩm của các mô hình 51
Bảng 3.15 Năng suất khai thác trung bình các nghề 51
Bảng 3.16 Hiệu quả sản xuất của các tàu trong năm 52
Bảng 3.17 Hiệu quả sản xuất của các tàu dịch vụ hậu cần trong năm 54
Bảng 3.18 So sánh những lợi ích khi hoạt động trên biển của các tàu 59
Bảng 3.19 So sánh những khó khăn gặp phải trên biển của các tàu 60
Bảng 3.20 So sánh hiệu quả kinh tế giữa các tàu khai thác hải sản 63
Bảng 3.21 So sánh kết quả hoạt động của tàu dịch vụ hậu cần 64
Bảng 3.22 So sánh kết quả hoạt động của các tàu khai thác 65
Bảng 3.23 Năng lực khai thác của dạng mô hình tàu mẹ - tàu con 66
Bảng 3.24 Tổng hợp đề xuất hoạt động dạng mô hình tàu mẹ - tàu con 67
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Sự phân bố một số loài mực ống trên thế giới 4
Hình 1.2 Sơ đồ bố trí nguồn sáng khai thác mực bằng nghề câu tay 5
Hình 2.1 Phạm vi ngư trường nghiên cứu 21
Hình 2.2 Sơ đồ phương pháp nghiên cứu 29
Hình 3.1 Sơ đồ hệ thống điện và nguồn sáng 38
Hình 3.2 Liên kết máy chính và máy Dinamo 39
Hình 3.3 Sơ đồ bố trí đặt hầm cấp đông 39
Hình 3.4 Mức độ huy động các trang thiết bị vào sản xuất 41
Hình 3.5 Mức độ trang thiết bị hiện đại phục vụ sản xuất 42
Hình 3.6 Mức độ trang bị động lực trên mỗi tàu 42
Hình 3.7 Mức độ trang bị vốn sản xuất 43
Hình 3.8 Sơ đồ kỹ thuật khai thác nghề câu kiêm mành 45
Hình 3.9 Sơ đồ bố trí nguồn sáng 46
Hình 3.10 Sơ đồ thả câu mực 46
Hình 3.11 Sơ đồ qui trình kỹ thuật khai thác lưới mành 47
Hình 3.12 Sơ đồ bố trí nhận lực khi thả lưới 48
Hình 3.13 Sơ đồ bố trí nhân lực thu lưới 49
Hình 3.14 Sản phẩm của mẻ lưới được phân loại theo đối tượng và kích thước 49
Hình 3.15 Phương pháp xếp dỡ sản phẩm sang tàu dịch vụ hậu cần 50
Hình 3.16 Doanh thu trung bình trong năm của các loại mô hình 55
Hình 3.17 Chi phí biến đổi trung bình của các tàu trong một năm 56
Hình 3.18 Lợi nhuận ròng theo năm 56
Hình 3.19 Thu nhập trung bình của thuyền viên trong năm 57
Hình 3.20 Doanh lợi của các đội tàu 58
Hình 3.21 Cơ cấu tổ chức của dạng mô hình tàu mẹ - tàu con 68
Hình 3.22 Tổ chức sản xuất của tàu mẹ 70
Hình 3.23 Tổ chức sản xuất của tàu con 70
Hình 3.24 Qui trình tàu mẹ chạy đến tàu con thu sản phẩm và cung ứng nguyên vật liệu 72
Trang 13MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, ngành Thủy sản nước ta có tầm quan trọng lớn đối với nền kinh tế quốc dân Ngành Thủy sản được xếp vào một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Các chỉ tiêu của ngành đã có sự tăng trưởng rất mạnh: Sản lượng khai thác hải sản không ngừng tăng lên, giá trị xuất khẩu mặt hàng thủy sản năm
2013 đạt 7 tỷ đô la Tuy nhiên, do đặc điểm nghề cá nước ta là nghề cá quy mô nhỏ và hoạt động đơn lẻ, năng suất đánh bắt trên một đơn vị cường lực tàu đang suy giảm từ 0,39 tấn/cv/năm (năm 2005) xuống 0,24 tấn/cv/năm (năm 2012), chất lượng sản phẩm giảm tới 40-70%[12], chi phí sản xuất ngày càng tăng dẫn đến hiệu quả kinh tế chuyến biển ngày càng giảm Ngoài ra, tính an toàn hàng hải trên biển chưa cao tỷ lệ trang bị trên các tàu như: tránh va 35,37%, cứu sinh 41,1%, cứu thủng 43,33%, cứu hỏa 39,2%, máy điện hàng hải 31,43% (Phan Trọng Huyến, 2000)
Đứng trước tình hình đó ngư dân ở một số địa phương đã hợp tác với nhau để thành lập các tổ (đội) khai thác, với mục đích là tăng hiệu quả khai thác, giảm thiểu rủi
ro, hỗ trợ nhau trong tìm kiếm ngư trường và tăng chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất khi giá xăng dầu gia tăng Điển hình các mô hình tổ chức khai thác, dịch vụ
hậu cần như: Mô hình luân phiên là mô hình một chủ nhiều tàu (khoảng 3 – 5 chiếc)
hoặc các chủ tàu có quan hệ họ hàng với nhau thành lập nhiều tàu trong cùng một khu vực (khoảng 5 – 10 chiếc) Khi tổ chức khai thác trên biển các tàu trong 1 mô hình sẽ phân ra các ngư trường và phát hiện ngư trường nào tốt sẽ báo cho các tàu trong mô hình biết Khi đủ sản phẩm thì luân phiên vận chuyển sản phẩm về bờ và mang nguyên vật liệu để cung ứng lại các tàu đang hoạt động Khi về bờ chủ tàu có trách nhiệm tiêu thụ sản phẩm và lấy nguyên vật liệu đầy đủ cho các tàu đang hoạt động trên biển (nếu thiếu) Các tàu dạng này ăn chia chung (chủ 40%, bạn 60%) sau khi trừ chi phí (03 tháng ăn chia 1 lần) Tuy nhiên, dạng mô hình này ăn chia chung nên hay nảy sinh mâu thuẫn giữa các thành viên (do các tàu trong mô hình khai thác sản lượng không đồng đều nhau), vốn đầu tư lớn (khoảng 5 – 10 tỷ đồng/01 mô hình) Vì vậy, tồn tại được dạng mô hình này cần phải đầu tư đồng bộ, trình độ thuyền trưởng và các thuyền
viên phải ngang nhau; Mô hình tổ chức thành tổ/đội khai thác trên biển các tàu này
hoạt động độc lập, hạch toán kinh tế riêng lẻ Khi ra biển các tàu này thường xuyên liên lạc với nhau để trao đổi thông tin về ngư trường và hỗ trợ nhau khi gặp khó khăn Tuy nhiên, các tàu hoạt động theo mô hình này chi phí sản xuất cao hơn so với các tàu
Trang 14tham gia mô hình khác (do phải di chuyển ra vào bờ nhiều lần); chất lượng sản phẩm giảm; thời gian khai thác trên biển ít ngày; khi xảy ra tai nạn trên biển việc cứu hộ, cứu nạn không kịp thời do hoạt động đơn lẻ và không có việc hỗ trợ tìm kiếm ngư cụ Như vậy, các mô hình trên hoạt động hiệu quả không cao và chưa xác định dạng
mô hình nào là phù hợp? Số lượng tàu trong mô hình bao nhiêu chiếc là phù hợp? Cơ cấu tổ chức như thế nào thì chặt chẽ và có tính khoa học? Phương thức hoạt động như thế nào là tốt? Bên cạnh đó, việc xây dựng mô hình dịch vụ hậu cần cho các tàu khai thác xa bờ đang được Chính phủ và Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn quan tâm, điều này đã được thể hiện rõ trong mục tiêu của Chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2020, tầm nhìn 2030 (Quyết định số 1445/QĐ-TTg) Xuất phát từ những vấn
đề trên chúng tôi thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ "Đề xuất mô hình dịch vụ hậu cần trên biển của nghề câu kiêm nghề mành khai thác mực ở đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận" Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn sẽ giúp cho ngư dân và cơ quan quản
lý nghề cá địa phương có được định hướng phát triển ngành
Mục tiêu của đề tài
Đề xuất được mô hình dịch vụ hậu cần trên biển của nghề câu kiêm nghề mành khai thác mực ở huyện đảo Phú Quý – Bình Thuận
Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Kết quả của đề tài sẽ đóng góp cho hướng nghiên cứu quản lý bền vững nghề cá nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao, tăng cường sự hiện diện của ngư dân trên các đảo
và quần đảo nước ta
- Gắn kết được nghiên cứu khoa học với thực tiễn sản xuất
Ý nghĩa thực tiễn
- Kéo dài thời gian bám biển của các loại nghề, giảm được chi phí sản xuất, tăng chất lượng sản phẩm sau khai thác, nâng cao hiệu quả sản xuất cho các tàu khai thác hải sản
- Có khả năng hỗ trợ cho nhau khi gặp sự cố, tai nạn trên biển
- Xây dựng mô hình dịch vụ hậu cần dạng “tàu mẹ - tàu con” tiếp cận được nghề
cá hiện đại trên thế giới
Nội dung của luận văn
Nội dung 1: Điều tra thực trạng tàu thuyền và các mô hình dịch vụ hậu cần ở huyện đảo Phú Quý
Trang 15Nội dung 2: Đánh giá hiệu quả sản xuất của nghề câu kiêm nghề mành khai thác mực tham gia dịch vụ hậu cần trên biển
Nội dung 3: Đề xuất mô hình dịch vụ hậu cần trên biển của nghề câu kiêm nghề mành khai thác mực phù hợp với điều kiện nghề cá Phú Quý
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu ngoài nước
1.1.1 Tình hình nghiên cứu và khai thác mực trên thế giới
Mực và động vật chân đầu khác là nguồn thực phẩm quý đối với đời sống con người và là mối quan tâm lớn của giới khoa học Các nghiên cứu về nguồn lợi, quy luật phân bố, biến động sản lượng, …của động vật chân đầu ngày càng được quan tâm nhằm có được những cơ sở dữ liệu cần thiết cho việc nâng cao năng suất đánh bắt và bảo vệ lâu dài nguồn lợi này [21]
Theo kết quả nghiên cứu của Roper (1984) đã phát hiện được 7 giống và 31 loài mực ống Mực ống phân bố ở vùng nước thềm lục địa của tất cả các vùng biển trên thế giới từ Bắc cực đến Nam cực Mật độ phân bố của mực ống không lớn và không phụ thuộc vào dòng chảy Năng suất khai thác cao thường ở vùng nước ven bờ Ngư trường khai thác mực ống bao gồm: vùng dốc thềm lục địa của California, vùng nước mát ở dốc thềm lục địa xung quanh đảo Falkland của Manivơ và dốc thềm lục địa của Đông Nam Á [21] Sự phân bố của một số loài mực ống trên thế giới được thể hiện ở hình 1.1:
Hình 1.1 Sự phân bố một số loài mực ống trên thế giới
Sản lượng quan trọng nhất của mực ống trên thế giới là loài Loligo gahi, loài này
phân bố ở vùng nước ven bờ và những vùng dốc thềm lục địa xung quanh bờ biển Nam Châu Mỹ, từ phía Nam Pêru đến phía Bắc Achentina Hầu hết sản lượng khai thác được bằng lưới kéo ở các vùng nước phía Nam và Bắc đảo Falkland của Manivơ
Loài Loligo pealei phân bố trong vùng nước ven bờ và dốc thềm lục địa ở phía Tây
Đại Tây Dương, kéo dài đến phía Đông và Tây Châu Mỹ (từ 500N – 50N), loài này
cũng bị đánh bắt bởi lưới kéo Loài Loligo reynaudi có ở phía Nam Châu Phi nhưng
Trang 17mật độ phân bố thưa Augustyn và Grant (1988) đã tìm thấy đặc điểm cơ bản về hình
thái và số lượng của loài Loligo reynaudi và Loligo vulgaris [21]
Theo số liệu thống kê của FAO trong giai đoạn từ năm 1990 – 2005, sản lượng khai thác mực trung bình hàng năm trên thế giới khoảng 364.000 tấn, hầu hết sản lượng là từ biển phía Đông Châu Á và phía Tây Châu Mỹ Những loài đánh bắt được
gồm Loligo opalescens phân bố ở vùng biển California, loài này bị đánh bắt ở xung quanh eo đảo và vịnh Monterey; loài mực Loligo chinensis bị đánh bắt bằng các tàu sử
dụng ánh sáng ở vùng dốc thềm lục địa của biển Trung Quốc [21]
Các nước Châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, … có tập quán lâu đời trong việc sử dụng mực làm thực phẩm, do vậy nghề khai thác mực tại các nước này rất phát triển, chúng là đối tượng khai thác chính của các nghề: như nghề câu mực, nghề mành, chụp mực, lưới vây, lưới kéo, … Lợi dụng tính hướng quang của mực, người ta sử dụng một số thiết bị kết hợp với ngư cụ làm cho tăng năng suất đánh bắt mực [25]
Nhật Bản là nước đã sớm sử dụng rộng rãi ánh sáng điện vào thực tế đánh bắt nhiều loài cá, mực từ năm 1900 Những năm 1975, 1976 ở Nhật Bản trang bị công suất nguồn sáng khai thác mực trên một đơn vị tàu từ 100 – 8.000 W, công suất nguồn sáng trên một bóng đèn khai thác mực từ 100 – 1.000 W Sản lượng các nghề có sử dụng ánh sáng ở Nhật Bản chiếm khoảng 25% tổng sản lượng khai thác hàng năm [17]
Hình ảnh trang bị nguồn sáng trên tàu câu mực của Nhật Bản trong những năm của thập niên 80 qua tài liệu [17]
Hình 1.2 Sơ đồ bố trí nguồn sáng khai thác mực bằng nghề câu tay
Ở Philippin, Indonesia nghề đánh cá kết hợp ánh sáng phát triển mạnh vào
Trang 18những năm 1960-1965 Ở các nước Nam Tư (cũ), Ý, Pháp cũng đã có nhiều thành công trong sử dụng nguồn ánh sáng điện để đánh cá, mực Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn sáng và kỹ thuật lắp đặt nguồn sáng trên tàu ở các nước là khác nhau [23]
Theo kết quả nghiên cứu của đề tài: “Bước đầu đánh giá hiệu quả cường độ chiếu sáng cho nghề lưới vây ở Thái Lan” [24] đã đưa ra kết luận:
+ Việc nâng cao công suất nguồn sáng có thể làm tăng hiệu quả tập trung đàn
cá trên diện rộng, nhưng không có hiệu quả để giữ đàn cá quanh nguồn sáng
+ Khi dùng đèn chiếu sáng trên mặt nước, thay vì nâng công suất nguồn sáng thì nên nâng độ cao treo đèn sẽ có lợi hơn
+ Một đèn chiếu sáng trong nước có lợi hơn trong việc tăng độ sáng theo chiều thẳng đứng Khi đặt một đèn có công suất 3kW hoặc 5kW ở độ sâu lớn hơn 5m ở ngư trường xa bờ sẽ bảo vệ được ấu trùng của nguồn lợi thuỷ sản
Nghiên cứu cho rằng ở Thái Lan vào năm 1980 chỉ có 115 tàu nghề mành khai thác mực đạt sản lượng là 3.013 tấn đến năm đến năm 1982 đã có 637 chiếc làm nghề mành, sản lượng khai thác đạt 23.763 tấn Trong đó, mực ống đạt 22.000 tấn, mực nang đạt 1.467 tấn và cá các loại đạt 289 tấn Nghề mành khai thác được ở độ sâu từ 6 – 8 m nước và độ sâu 15 – 20 m Nó được làm thủ công bởi loại vật liệu nylon 210D/4 – 6, với kích thước mắt lưới 25 – 30 mm, được trang bị chì Kích thước mắt lưới ở giềng chì là từ 30 – 40 mm, ở đụt từ 15 – 20 mm Phương pháp khai thác có thể 2 người cho một tàu nhỏ có gắn 2 tăng gông ở mũi và lái của tàu, đánh bắt vào ban đêm,
sử dụng đèn dầu hoặc ánh sáng điện [24]
Nhìn chung, trên thế giới nghề khai thác mực kết hợp ánh sáng chỉ phát triển mạnh ở 3 nước là Nhật Bản, Trung Quốc và Thái Lan Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về công nghệ khai thác đối tượng mực không nhiều mà chủ yếu nói về hiện trạng khai thác
1.1.2 Tình hình nghiên cứu mô hình khai thác - dịch vụ hậu cần trên thế giới
Mô hình khai thác - dịch vụ hậu cần nghề cá của các nước trong khu vực và trên thế giới đã phát triển mạnh ở cả qui mô lẫn phạm vi hoạt động, các tàu này hoạt động dưới nhiều hình thức và qui mô khác nhau Hiện nay hình thức tổ chức sản xuất của các đội tàu trên thế giới tồn tại dưới các dạng mô hình chính như sau: mô hình khai thác đơn lẻ của đội tàu công nghiệp, mô hình tàu mẹ - tàu con và mô hình hợp tác xã (tàu qui mô nhỏ) Một số mô hình của các nước trong khu vực và trên thế giới:
Trang 19* Mô hình khai thác đơn lẻ của đội tàu công nghiệp: mô hình này áp dụng cho
các tàu cá có công suất, trọng tải lớn và trang bị hiện đại đi biển từ 6 tháng đến 1 năm mới về bờ Các tàu này tự đánh bắt, tự chế biến và bảo quản luôn trên tàu Khi nào đủ sản lượng cần thiết thì mới vận chuyển sản phẩm về bờ và bán cá ở các cảng theo hình thức bán đấu giá
Qua kết quả Cheng – Hsin Liao năm 2001 nghiên cứu rằng đội tàu câu vàng cá ngừ của Đài Loan hoạt động theo dạng mô hình này đánh bắt ở vùng biển cận nhiệt đới và ôn đới Các tàu này có trọng tài từ 150 – 500 (tấn) thường tự đánh bắt và vận chuyển sản phẩm vào các cảng cá gần nhất để bán theo hình thức đấu giá và sau đó lấy nhiên liệu, vật tư, để tiếp tục chuyến biển khác Những tàu này thường đi vào các cảng cá mỗi năm từ 2 - 3 lần để bán sản phẩm và lấy nhiên liệu, vật tư [18]
Kết quả nghiên cứu của Naozumi Miyabe năm 2004 cho rằng nghề cá ở Hàn Quốc có nghề cá công nghiệp phát triển mạnh Các tàu hoạt động theo mô hình khai thác đơn lẻ kiểu này phát triển ở các đội tàu như: nghề lưới kéo, nghề vó mạn tàu, nghề lưới vây kết hợp ánh sáng Các đội tàu có trọng tải từ 200 - 400 (tấn), các tàu này thuộc những công ty tư nhân lớn quản lý, khi đi khai thác ở những ngư trường ngoài Hàn Quốc, như ngư trường ở Mỹ, Canada, Anh, Uruguay, Peru, Achentina, là sẽ ký kết khai thác trong một thời gian nhất định theo quy định pháp luật của các nước đó Sản phẩm khai thác được có thể bán tại các nước sở tại hoặc mang về Hàn Quốc bán Makoto, Peter Miyake năm 2004 cho rằng hình thức hoạt động của mô hình này
ở Nhật Bản là các nghề săn bắt cá voi khai thác ở ngư trường Nam Thái Bình Dương; nghề câu cá ngừ đại dương khai thác ở ngư trường Thái Bình Dương, Tây và Trung Đại Tây Dương, phía Tây Địa Trung Hải; nghề lưới vây kết hợp ánh sáng khai thác ở ngư trường Đông Ấn Độ Dương; nghề câu chạy ở ngư trường Tây, Trung và Nam Thái Bình Dương Tất cả sản phẩm khai thác được ở các đội tàu này là được mang về Nhật Bản
Các nghiên cứu của tổ chức SEAFDEC; và các nhà khoa học Flewwelling, P.; Cullinan, C.; Balton, D.; Sautter, R.P.; Reynolds, J.E (2002); John Caddy (2005) cho rằng tại các nước Tây Ban Nha, Chi lê, Croatia, phương thức hoạt động dạng mô hình này xuất hiện ở các đội tàu câu cá ngừ đại dương, nghề lưới vây
* Mô hình tàu mẹ - tàu con: có dạng là 1 tàu mẹ có công suất và trọng tải lớn,
trang bị hệ thống cấp đông hiện đại, các tàu con khai thác sẽ chuyển sản phẩm cho tàu
Trang 20mẹ và nhận nhiên liệu, vật tư từ tàu mẹ để tiếp tục đánh bắt Qui mô và phương thức hoạt động mô hình này được thực hiện ở các nước sau:
Theo nghiên cứu của Cheng – Hsin Liao năm 2001 cho thấy ở Đài Loan đội tàu
câu cá ngừ đại dương hoạt động ở vùng biển nhiệt đới áp dụng mô hình này Các tàu
khai thác sẽ chuyển sản phẩm cho tàu mẹ và nhận nhiên liệu, vật tư từ tàu mẹ để tiếp tục đánh bắt, cứ khoảng 10 - 15 ngày thì tàu mẹ vận chuyển sản phẩm về bờ một lần
và lấy nhiên liệu, vật tư ra cho các tàu con [18]
Theo nghiên cứu của N Barut & E Garvilles năm 2004 cho rằng ở Philippines
có nghề câu tay hoạt động theo dạng mô hình tàu mẹ - tàu con (gồm: 1 tàu lớn chở theo nhiều tàu nhỏ) Mô hình này phát triển khá mạnh ở thành phố General Santos Số lượng tàu này khoảng 4.000 chiếc, với tấn dung tải GT > 18 tấn Thời gian chuyến biển khoảng 20 - 25 ngày Ngư trường khai thác của các tàu lớn làm nghề câu tay quanh chà là vùng biển Indonesia, Papua New Guinea, Phương pháp khai thác của
mô hình này như sau: Tàu mẹ chở theo 4 - 6 tàu con tới điểm thả chà, sau đó sẽ thả 1 tàu con xuống tiến hành câu thử quanh chà, nếu cá ăn câu thì sẽ tiến hành thả các tàu con còn lại xuống câu và câu trên tàu Trong trường hợp cá không ăn câu thì thuyền trưởng tàu mẹ sẽ thu các tàu con lên tàu mẹ và chạy tới cây chà khác để câu Hình thức
ăn chia như sau: 10% tổng lợi nhuận để bảo dưỡng vỏ tàu, máy móc; số còn lại chia làm 4 phần: Ba phần dành cho chủ tàu và một phần dành cho thuỷ thủ [19]
Nghiên cứu của Deb Menasveta năm 2005 ở Thái Lan thì cho rằng mô hình hoạt động dạng tàu mẹ - tàu con như sau: Các tàu khai thác thủy sản sẽ bán sản phẩm cho tàu thu mua và ngược lại tàu thu mua sẽ cung cấp nhiên liệu, lương thực thực phẩm cho các tàu khai thác Tàu thu mua thường có chiều dài từ 30 - 50m và được đầu tư hệ thống bảo quản sản phẩm rất hiện đại, để đảm bảo chất lượng sản phẩm luôn đạt tiêu chuẩn Như vậy, ở Thái Lan mô hình này là do ngư dân tự thành lập, liên kết lại với nhau, chính phủ chỉ quản lý bằng cách cấp giấy phép hoạt động [20]
Kết quả nghiên cứu của Ross Shotton năm 2011cho rằng các nước EU, Ghana, Senegal, Nga, có đội tàu câu cá ngừ đại dương hoạt động theo dạng mô hình tàu mẹ - tàu con Tàu mẹ cung cấp lương thực, thực phẩm, nhiên liệu, cho đội tàu con (khoảng 5 - 6 tàu), sau đó tàu mẹ vận chuyển sản phẩm về bờ Đội tàu con thường hoạt động liên tục và rất ít khi về bờ (khoảng 1 năm mới về bờ 1 lần) [22,25,26]
Trang 21* Mô hình hợp tác xã: mô hình này được áp dụng cho tàu cá qui mô nhỏ Ngư
dân vào Hợp tác xã nhưng tài sản, tàu thuyền, ngư cụ, thuộc quyền sở hữu riêng Hợp tác xã có nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm và cung cấp các dịch vụ hậu cần cho ngư dân (do ngư dân yêu cầu) Việc tiêu thụ sản phẩm và cung cấp nhiên liệu, lương thực, nước ngọt cho các tàu khai thác có thể do các tàu trong hợp tác xã tự đảm nhiệm Mô hình dạng này được thực hiện ở các nước sau:
Kết quả nghiên cứu của J Nakano năm 2004 ở Nhật Bản đã xây dựng mô hình Hợp tác xã có đặc điểm chính như sau [26]:
+ Tất cả chủ tàu đều có thể tham gia Hợp tác xã
+ Tài sản, tàu thuyền vẫn thuộc sở hữu riêng của chủ tàu
+ Hợp tác xã chỉ làm dịch vụ bao tiêu sản phẩm cho xã viên, dịch vụ cầu cảng, kho lạnh, hậu cần, Các xã viên chỉ phải trả một phần chi phí nhất định tuỳ theo các dịch vụ mà họ yêu cầu hợp tác xã đáp ứng Việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ hậu cần được tổ chức minh bạch, rõ ràng theo hình thức bán đấu giá ở các chợ cá Ở Nhật Bản nếu các chủ tàu không vào hợp tác xã thì sẽ không bán được cá Vì vậy,
100% ngư dân Nhật là xã viên hợp tác xã
Kết quả nghiên cứu của Jamaluddin b.Ibrahim năm 2006 cho rằng ở Malaysia chính phủ nước này đã xây dựng mô hình hợp tác xã [26] Sản phẩm sau khi khai thác ngư dân sẽ giao cho hợp tác xã để bán Hợp tác xã sẽ bán theo hình thức đấu giá ở các cảng cá
Như vậy, ở các nước trên thế giới và trong khu vực hiện nay tồn tại chủ yếu 3 dạng mô hình chính: mô hình tàu khai thác đơn lẻ công nghiệp, mô hình tàu mẹ - tàu con và mô hình hợp tác xã Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện nghề cá của mỗi nước
để lựa chọn và đưa ra được mô hình hiệu quả nhất Các kết quả nghiên cứu về mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên thế giới và khu vực Đông Nam Á cho thấy mô hình dạng
“tàu mẹ - tàu con” có thể áp dụng cho nghề cá ở Việt Nam
1.2 Nghiên cứu trong nước
1.2.1 Nghiên cứu tập tính sinh học và khai thác mực
1.2.1.1 Nghiên cứu tập tính hấp thụ nguồn sáng của mực
Từ các công trình nghiên cứu sinh học mực, các nhà khoa học đã rút ra các kết luận quan trọng về ảnh hưởng của ánh sáng đối với mực và các kết luận đó như sau:
Trang 22Mặc dù mực là động vật bậc thấp, nhưng mắt của mực rất tinh tường và có cấu tạo không khác gì mắt của các động vật có xương sống bậc cao (Trần Định, 1994) Nhiều học thuyết cho rằng con mực không có cảm nhận về màu sắc Ánh sáng với các màu khác nhau đối với mực chỉ giống như những luồng ánh sáng có độ chói khác nhau (Nguyễn Long, 2001)
Mực phát hiện tốt các mồi giả có hệ số phản xạ xấp xỉ 0 và cực đại Các lưỡi câu
có màu sắc khác nhau sẽ chỉ là màu đen đậm hay nhạt đối với mực nếu ta chiếu sáng màu xanh lá cây Do vậy, khi khai thác, tùy theo tình hình thời tiết, độ chiếu sáng,
mà người ta điều chỉnh các loại lưỡi câu màu sắc đậm nhạt khác nhau, sao cho mực dễ phát hiện ra mồi (Vũ Duyên Hải, 2006)
Theo Nguyễn Long, năm 2001 cho rằng con mực lao đến nguồn sáng chủ yếu
là phản xạ thức ăn, nghĩa là để kiếm mồi Khi say mồi, mực có thể lao đến vùng sáng
có độ rọi 1000 lux Mực luôn có phản ứng dương với nguồn sáng và nó thường tập trung ở vùng có độ chiếu sáng yếu Nắm bắt được đặc điểm này, người ta phải bố trí nguồn sáng phù hợp với từng loại tàu, nhằm tạo ra vùng tối để mực có chỗ ẩn nấp và sát với vùng thả lưỡi câu xuống Ngoài ra, cũng từ đặc điểm ưa ánh sáng yếu và sợ ánh sáng cường độ mạnh, người ta tìm cách giảm cường độ chiếu sáng để dụ mực lên sát mặt nước trước khi thả lưới mành
Nghiên cứu của Trần Định và ctv năm 1994 cho thấy: mực tập trung với mật
độ cao dưới đèn trong khoảng từ mặt nước đến độ sâu 30 m Vì vậy, chỉ nên thả lưỡi câu ở độ sâu < 30 m nước [10]
Như vậy, các công trình nghiên cứu về nguồn lợi và đặc điểm sinh học của mực ống trong nước cũng đã được quan tâm Tuy nhiên, vẫn chưa có những nghiên cứu thật sự đầy đủ về mùa vụ, kích thước khai thác, ngư cụ khai thác phù hợp,… của tất cả các loài mực ống Vì vậy, rất khó cho việc nghiên cứu công nghệ khai thác đối với loài mực ống Mặc dù các công trình nghiên cứu đã xác định được những yếu tố ảnh hưởng của nguồn sáng đến kỹ thuật khai thác mực ống, nhưng những kết quả này chưa đưa ra các giải pháp kỹ thuật để tăng năng suất khai thác đối với các loài mực ống Vì thế, cần có những nghiên cứu đầy đủ hơn về công nghệ khai thác mực như: nghề câu kiêm mành khai thác mực ống ở nước ta
Trang 231.2.1.2 Nghiên cứu khai thác mực ở nước ta
Sử dụng ánh sáng nhân tạo trong khai thác hải sản ở nước ta có từ những năm
1950 Trước đây, ngư dân chủ yếu sử dụng ánh sáng đèn măng xông để thu hút cá, mực tập trung Hiện nay, đèn măng xông không còn được sử dụng mà thay vào đó là các loại bóng đèn cao áp có khả năng thu hút cá, mực tập trung tốt hơn Các nghề khai thác hải sản ở nước ta có sử dụng ánh sáng bao gồm: nghề lưới vây, lưới mành, lưới
vó, lưới chụp mực, lưới vó mạn tàu (pha xúc) và câu mực[10] Đối tượng khai thác chính của các nghề trên là các loài cá nổi nhỏ như cá nục, cá trích, cá bạc má, mực ống và mực xà,
Nhìn chung, sử dụng ánh sáng trong khai thác hải sản ở nước ta chủ yếu cũng dựa vào kinh nghiệm thực tiễn của ngư dân và phụ thuộc vào từng nghề, từng đối tượng khai thác
Các bóng đèn điện được sử dụng để thu hút cá, mực tập trung đa dạng về chủng loại và có công suất chiếu sáng khác nhau nhưng phổ biến là ánh sáng trắng và chiếu trên mặt nước Bóng đèn chiếu dưới mặt nước (đèn ngầm) cũng từng được sử dụng trong nghiên cứu thực nghiệm vào những năm 1963-1964 ở nước ta và cũng từng được đưa vào sử dụng trong khai thác thương phẩm trong những năm gần đây
Theo Nguyễn Văn Lục năm 1991 cho thấy từ năm 1962-1963, Việt Nam hợp tác với Liên Xô tiến hành nghiên cứu thử nghiệm ánh sáng điện với công suất nguồn sáng
là 13,6 kW để thu hút cá tập trung rồi dùng lưới nâng hình chóp để khai thác Kết quả bắt được các loài cá nổi nhỏ như cá nục, cá cơm, cá trích và mực,
Và từ năm 1963-1964 Việt Nam hợp tác với Triều Tiên về nghiên cứu thử nghiệm nguồn sáng điện bằng đèn huỳnh quang chiếu trên và dưới mặt nước để đánh
cá bằng lưới vó mạn tàu và lưới vây Kết quả cũng bắt được các loài cá nổi như cá nục,
cá trích, cá cơm và mực,…
Nghiên cứu của Chu Tiến Vĩnh năm 1999 cho rằng từ 1967-1972 có một số đề tài cơ giới hoá nghề vó đèn và vây cơ giới được triển khai trên tàu các tàu có công suất 90CV và 250CV sử dụng đèn măng xông 4 mạn và đèn điện chiếu dưới mặt nước để
tập trung cá Đối tượng đánh bắt chủ yếu là cá nổi nhỏ như cá nục Decapterus spp., cá trích Sardinella spp., cá cơm Anchoviella spp., cá thu Scomberomorus spp., cá bạc má Rastreliger kanagurta và mực ống Loligo spp
Trang 24Nghiên cứu của Nguyễn Đình Nhân năm 2001 cho rằng từ năm 1992 ngư dân Việt Nam bắt đầu du nhập nghề lưới chụp mực kết hợp ánh sáng từ Thái Lan Nghề này chủ yếu khai thác các loài mực ống gần bờ và đến nay đã trở thành một trong những nghề khai thác hải sản quan trọng của các tỉnh ven biển vịnh Bắc Bộ và một số tỉnh miền Trung
Nguyễn Long năm 2001 đã nghiên cứu thử nghiệm nghề câu tay và câu máy tời
cuốn khai thác mực đại dương (Sthenoteuthis Oualaniensis) và mực ống (Loligo SPP.)
ở vùng biển xa bờ Kết quả sản lượng của nghề câu tay và máy tời đạt 0,0183 (kg/lưỡi/giờ) thấp hơn 1,72 lần sản lượng khai thác bằng nghề lưới rê và 5,1 lần sản lượng nghề chụp mực
Nguyễn Long năm 2003 tiếp tục thử nghiệm khai thác cá ngừ bằng lưới vây khơi kết hợp ánh sáng Các chuyến nghiên cứu thử nghiệm được trang bị máy dò cá (máy
dò ngang) và nguồn sáng có tổng công suất chiếu sáng lên tới 13,6kW Tuy nhiên, nghiên cứu này không sử dụng ánh sáng màu cũng như ánh sáng chiếu dưới mặt nước Kết quả nghiên cứu trong luận án tiến sỹ về “Nghiên cứu giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng” của Nguyễn Đức Sĩ năm 2006 cho rằng công suất chiếu sáng, độ cao và gốc treo bóng đèn có ảnh hưởng tới tới sản lượng khai thác cá nục sồ trên tàu lưới vây ánh sáng ở vùng biển xa bờ Đoàn Văn Phụ năm 2010 tiến hành nghiên cứu thử nghiệm khai thác cá nổi bằng lưới vây sử dụng ánh sáng đèn ngầm và các loại ánh sáng màu chiếu trên mặt nước ở vùng biển xa bờ miền Trung và miền Nam Kết quả cho rằng loại ánh sáng màu trắng đạt hiệu quả cao nhất
Như vậy, trong nước cũng đã có những công trình nghiên cứu về tập tính sinh học một số loài mực ống và công nghệ khai thác đối với các loài mực này Đây cũng là
cơ sở để luận văn phân tích và đánh giá hiện trạng công nghệ khai thác nghề câu kiêm mành khai thác mực ở khu vực Phú Quý, tỉnh Bình Thuận Kết quả nghiên cứu sẽ đưa
ra một số nhận định có cơ sở để phát triển nghề này theo xu hướng bền vững
1.2.2 Nghiên cứu các mô hình khai thác – dịch vụ hậu cần
Từ sau khi đất nước giải phóng đến năm 2000 các Viện nghiên cứu thuộc Bộ Thủy sản (cũ) tập trung nghiên cứu về mô hình hợp tác xã nghề cá (kiểu cũ) Các hợp tác xã với quan hệ sản xuất là sở hữu tập thể tư liệu sản xuất (tàu thuyền, ngư cụ ) Tuy nhiên, sau một thời gian hoạt động, mô hình hợp tác xã đã bộc lộ nhiều yếu kém và
Trang 25tan rã Kết quả nghiên cứu đưa ra mặt yếu kém đó là quan hệ sỡ hữu chung, chính vì vậy
mà của cải làm ra được xem là của cải chung Cũng trong giai đoạn này nghề cá lạc hậu
và khai thác kém hiệu quả vì tích luỹ để phát triển sản xuất hầu như không có Nhiều hợp tác xã, quốc doanh nhà nước làm ăn thua lỗ, một số hoạt động có hiệu quả thì xảy ra tình trạng tham nhũng, làm cho người dân rơi vào hoang mang không có lòng tin đối với các mô hình này
Từ năm 2000 trở lại đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về mô hình sản xuất trên biển, các công trình nghiên cứu đều tập trung nghiên cứu theo hướng đánh giá hiện trạng hoạt động của các mô hình khai thác – dịch vụ hậu cần nghề cá Kết quả nghiên cứu về hiện trạng các dạng mô hình khai thác – dịch vụ hậu cần nghề cá ở nước
ta hiện nay như sau:
* Mô hình khai thác – dịch vụ hậu cần dạng tàu mẹ - tàu con
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Duy Chỉnh năm 2009 đưa ra:
+ Đến năm 2015 số lượng tàu thuyền trên 75 cv là 6.000 chiếc được xây dựng thành 500 - 750 tổ khai thác xa bờ (8 – 10 tàu/01 tổ và 12 - 14 tàu/01 tổ) Các tổ xa bờ gồm: Tàu lưới rê khai thác khơi chiếm 2.000 chiếc chia thành 208 - 250 tổ; Tàu chụp mực khai thác khơi 1.000 chiếc chia thành 100 - 125 tổ; Tàu nghề vó khơi 1.000 chiếc chia thành 100 - 125 tổ; Tàu nghề câu khơi 1.000 chiếc chia thành 100 -120 tổ; Tàu nghề lưới kéo bay khoảng 200 chiếc chia thành 20 – 25 tổ; Tàu nghề khác chiếm khoảng 800 chiếc chia thành 60 - 80 tổ; Tàu dịch vụ khai thác 500 chiếc chia thành 10
tổ Tương ứng với các tổ và số tàu, địa phương tự cơ cấu tổ chức sản xuất phù hợp với
số lượng tàu xa bờ thực tế của mình theo nghề, vân động thành lập tổ liên thôn - xã; tổ liên xã để khai thác Theo đó mỗi tổ có 01 tàu dịch vụ cho 10 - 12 tàu khai thác tương ứng với 1 tổ, ước tính khoảng 500 tàu dịch vụ chia làm 10 tổ [2,3,4]
+ Đến năm 2015 số lượng tàu thuyền vùng lộng và ven bờ khoảng 44.000 chiếc chia làm 4.000 - 4.400 tổ Mỗi tổ khoảng 10 -11 tàu; 14.000 chiếc từ 46 - 75 cv chia làm 1.280 - 1.400 tổ; 20.000 chiếc từ 21 - 45 cv chia làm 1.820 - 2.000 tổ; 10.000 chiếc nhỏ hơn 21 cv chia làm 900 - 1.000 tổ Địa phương phân theo cách chia này để hướng dẫn và quyết định thành lập tổ liên thôn - xã và liên xã [2,3,4]
Như vậy, việc chia tổ (đội) khai thác như trên là chưa phù hợp và hoàn toàn áp đặt, chưa có cơ sở khoa học; chưa nêu rõ được cấu trúc, phương thức hoạt động và cơ chế chính sách của các mô hình tổ (đội)
Trang 26Kết quả nghiên cứu xây dựng mô hình khai thác – dịch vụ hậu cần giữa đội tàu của 2 ngư đội Trường Sa liên kết với Công ty TNHH Hải Vương Quy mô của mô hình này gồm 8 tàu của ngư dân khai thác xa bờ làm tàu con và 2 tàu của công ty TNHH Hải Vương làm tàu mẹ Tàu mẹ có nhiệm vụ cung cấp dầu, nước đá, nhu yếu phẩm, chăm sóc y tế, đồng thời tiêu thụ cá cho tàu con với giá bằng giá hiện hành trên đất liền nếu có nhu cầu bán Hai ngư đội đều được hỗ trợ trang bị đầy đủ các thiết bị hiện đại như máy liên lạc ICOM, máy dò cá, vàng câu, lưới chuyên dụng để khai thác
cá ngừ đại dương, bám biển 9 - 10 tháng/năm Đến nay, 8 tàu con đã bán được chuyến hàng đầu tiên, mỗi tàu thu lãi trên 40 triệu đồng Tuy nhiên, mô hình này hoạt động 2 tháng là tan rã do chưa đưa ra được cơ chế, chính sách, cơ cấu tổ chức phù hợp rõ ràng, đảm bảo được quyền lợi cho cả 2 bên [15]
Kết quả điều tra của Nguyễn Đình năm 2010 về đội tàu thu mua ở Phú Quý – Bình Thuận cho rằng: đội tàu thu mua được trang bị hầm cấp đông, thu mua sản phẩm trên biển Hình thức hoạt động của mô hình dịch vụ hậu cần này như sau: Sản phẩm sau khi khai thác được các đội tàu này thu mua và đưa xuống hầm cấp đông để bảo quản ở nhiệt độ thích hợp rồi đưa về bờ trong thời gian ngắn nhất Các sản phẩm khi đưa về bờ được bán cho các cơ sở thu mua ở tại đảo hoặc các công ty chuyên xuất khẩu thủy sản để tiêu thụ nội địa hoặc xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài Doanh thu tàu thu mua là giá trị bán sản phẩm đã thu mua được từ tàu khai thác cho các chủ nậu/vựa Vậy doanh thu của các tàu thu mua phụ thuộc vào sản lượng thu mua được từ các tàu khai thác, có nghĩa là tàu khai thác càng đánh bắt được nhiều thì tàu thu mua được nhiều sản phẩm từ đó sẽ tăng được doanh thu Các cách giao dịch trong kinh doanh của các tàu thu mua với các chủ nậu/vựa trong bờ như sau: Tàu thu mua trực tiếp chở sản phẩm vào bán hoặc gửi tàu quen chở vào bán thì căn cứ vào sản lượng tàu thu mua đã báo qua điện thoại, chủ nậu/vựa sẽ chuẩn bị tiền mặt trước và giao ngay cho tàu thu mua ngay khi chuyển sản phẩm lên xe đông lạnh, chủ tàu thu mua không cần kiểm tra ngay tiền lúc đó, mà về đảo mới kiểm tra (Điều này là do sự tin tưởng nhau lẫn nhau trong làm ăn) Nếu tàu thu mua gửi sản phẩm cho tàu khác chở vào bán thì chủ nậu/vựa sẽ gửi tiền qua tài khoản ngân hàng Nhiều khi chủ nậu/vựa sẽ chuyển trước một số tiền (không lấy lãi) cho tàu mẹ để giữ mối, sau đó sẽ trừ dần theo sản lượng bán.Việc trả tiền giữa chủ nậu/vựa, tàu thu mua diễn ra rất sòng phẳng nên tạo được niềm tin lẫn nhau để làm ăn lâu dài Việc mua bán này đều do tự
Trang 27nguyện của hai bên và giá sản phẩm thường được thu mua bằng hoặc thấp hơn không nhiều so với giá trên bờ Ngoài ra, các đội tàu thu mua còn cung cấp nhiên liệu (dầu, nhớt, nước đá, lượng thực, thực phẩm, ) cho các tàu hoạt động khi thác trên biển, giúp cho ngư dân bám biển dài ngày, tăng hiệu quả hoạt động cho mỗi chuyến biển [5] Như vậy, mô hình dịch vụ hậu cần (thu mua sản phẩm) hay còn gọi là mô hình dạng (tàu mẹ - tàu con) trên biển đã giúp cho ngư dân tăng thời gian bám biển, giảm chi phí, tăng thu nhập, tăng chất lượng sản phẩm Tuy nhiên, mô hình này vẫn còn một
số hạn chế đó là: chưa có cơ chế, chính sách ràng buộc trong quá trình thu mua và cung ứng dịch vụ hậu cần nên tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ tàu thu mua với nhau vẫn sẩy ra thường xuyên; ngư dân vẫn bán sản phẩm theo kiểu tàu nào thu mua cao thì bán, tình trạng ép giá thu mua và tăng giá nguyên vật liệu vẫn sẩy ra, Bên cạnh đó, hiện tại các đội tàu thu mua này mới chỉ chú trọng đến các sản phẩm theo đơn đặt hàng cũng như các sản phẩm xuất khẩu mà chưa chú trọng đến các sản phẩm tiêu thụ nội địa Vì vậy nó vẫn chưa phát huy được hết các thế mạnh của mô hình
* Mô hình dịch vụ hậu cần công ích trên đảo:
Kết quả nghiên cứu của Lê Ngọc Phước năm 2011 cho rằng: Trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá Đảo Đá Tây - Trường Sa được thành lập với mục tiêu hỗ trợ về kinh tế- kỹ thuật cho ngư dân ra khai thác và nuôi trồng hải sản trên vùng biển Trường Sa
và DK1; cung cấp cho ngư dân các dịch vụ: cung ứng nhiên liệu theo đúng giá nhà nước qui định tại đất liền; cấp nước ngọt miễn phí; sửa chữa tàu thuyền không tính tiền công; bố trí nơi nghỉ ngơi cho ngư dân khi tránh trú gió, bão; chăm sóc y tế; cung ứng lương thực, thực phẩm bằng giá mua tại đất liền; trao đổi mua bán và nhận vận chuyển sản phẩm về đất liền theo giá thỏa thuận; ngư dân được hưởng các dịch vụ văn hóa tinh thần do đơn vị tổ chức Tính đến tháng 4/2011, Trung tâm dịch vụ hậu cần nghề
cá Đảo Đá Tây - Trường Sa đã cung cấp hơn 2.500 m3 nước ngọt; hơn 400.000 lít nhiên liệu; 35 tấn lương thực, thực phẩm; sửa chữa cho gần 40 tàu thuyền đánh cá [9] Tuy nhiên, mô hình dịch vụ công ích này chỉ phù hợp trong một phạm vi nhất định khi
mà hiệu quả kinh tế không phải là mục tiêu quan trọng bằng việc bảo vệ và khẳng định chủ quyền của quốc gia trên vùng biển đảo
* Mô hình hoạt động dạng tổ đoàn kết:
Kết quả điều tra của Nguyễn Phi Toàn tháng 6 năm 2014 cho thấy ở các địa phương Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Bình Thuận, Bến Tre, Tiền Giang, đội tàu
Trang 28khai thác xa bờ của các nghề rê thu - ngừ, nghề vây, nghề lưới kéo, nghề câu cá ngừ đại dương từ 3 – 7 tàu trong thôn, xóm hoặc các chủ tàu, thuyền trưởng có quan hệ anh, em, họ hàng trong cùng dòng tộc thành lập một tổ đoàn kết Hình thức hợp tác của các tàu trong tổ đoàn kết khai thác hải sản là hỗ trợ tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn, ngư trường khai thác, hỗ trợ vốn để mua ngư cụ, thiết bị phục vụ sản xuất, hỗ trợ nhau về mặt tinh thần, hỗ trợ kết nối thông tin giữa tàu với tàu, giữa biển với đất liền, giúp nhau tìm kiếm lưới bị đứt trôi trên biển, giúp sửa chữa máy móc khi bị hỏng hóc trên biển.… Ngoài ra, các tàu trong tổ hợp tác khai thác hải sản mà còn tham gia làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển quốc gia, thường xuyên thông tin với bộ đội biên phòng diễn biến tình hình trên biển [12] Tuy nhiên, số lượng tàu trong một mô hình chưa phù hợp và không có cơ sở khoa học, phương thức hoạt động và cơ cấu tổ chức vẫn còn lỏng lẻo và chưa thực sự bền vững
* Mô hình khai thác – dịch vụ hậu cần dạng luân phiên:
Kết quả điều tra của Nguyễn Phi Toàn tháng 6 năm 2014 cho rằng các Công ty Lâm sản Bến Tre làm nghề lưới vây gồm 9 tàu; tập đoàn khai thác cá ngừ đại dương Mạnh Hà, Việt Tân, Đại Dương, Tân Biển Đông v.v , mỗi đoàn có từ 7 - 14 tàu hoạt động theo hình thức thay phiên nhau vận chuyển sản phẩm về bờ và sau đó lấy nhiên liệu, lương thực, thực phẩm, ra cho các tàu khác trong đội Thời kỳ đầu, mô hình này hoạt động rất hiệu quả và nổi lên như một mô hình mẫu cho các địa phương tham khảo ứng dụng vào nghề cá Tuy nhiên, sau một thời gian thành công, hiệu quả từ các hoạt động khai thác ngày một đi xuống dẫn đến công ty/tập đoàn phải phá sản do làm
ăn thua lỗ Nguyên nhân chính dẫn đến việc phá sản của công ty/tập đoàn gồm [12]:
- Phương thức quản lý không chặt chẽ và phù hợp với thực tế sản xuất, việc quản
lý trong thời gian vận chuyển sản phẩm về bờ không tốt đã dẫn đến việc thất thoát sản lượng khai thác và làm giảm hiệu quả kinh tế
- Chưa gắn kết được quyền lợi và trách nhiệm của người lao động với sản phẩm tạo ra dẫn đến tình trạng “cha chung không ai khóc”, “mạnh ai người ấy làm” đã làm cho hiệu quả hoạt động của các công ty ngày càng đi xuống và dẫn đến phá sản
Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu đã xây dựng được mô hình khai thác – dịch vụ hậu cần nghề cá dạng luân phiên trên biển như:
Huỳnh Văn Thảo năm 2008 đã đề xuất các mô hình tổ hợp tác như sau: một mô hình là 6 - 7 tàu, thời gian một chu kỳ vận chuyển sản phẩm về bờ là 6 - 9 ngày Ngoài
Trang 29ra, còn đề xuất được qui chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, của các thành viên trong tổ Tuy nhiên, việc nghiên cứu và đề xuất các mô hình tổ hợp tác này chỉ dừng lại ở mặt lý thuyết, chưa có thử nghiệm để điều chỉnh nên việc áp dụng vào thực tế hoàn toàn chưa khả thi [11]
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Kháng năm 2011 đã xác định được cơ sở khoa học để đề xuất mô hình tổ chức sản xuất cho các đội tàu khai thác hải sản ở vùng biển ven bờ, vùng lộng và vùng khơi, từ đó đề tài đã đề xuất xây dựng mô hình tổ chức sản xuất cho nghề lưới kéo đôi, nghề lưới kéo đơn, nghề lưới rê tầng mặt, nghề lưới rê tầng đáy, nghề lưới vây, nghề câu nổi, nghề câu đáy và nghề chụp mực, tập trung ở 3 nhóm công suất sau [7]:
Mô hình tổ chức sản xuất và dịch vụ hậu cần cho các đội tàu công suất 50 ÷ 89cv khai thác ở vùng (tuyến) lộng; Mô hình tổ chức sản xuất và dịch vụ hậu cần cho các đội tàu công suất 90 ÷ 249cv khai thác ở vùng (tuyến) khơi; Mô hình tổ chức sản xuất
và dịch vụ hậu cần cho các đội tàu công suất ≥ 250cv khai thác ở vùng (tuyến) khơi
Bảng 1.1 Số lượng tàu và số ngày trong một chu kỳ khai thác của một mô hình
Nhóm công suất (cv) Số tàu trong một mô hình
Như vậy các nghiên cứu về mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá dạng luân phiên cho thấy: Nguồn vốn đầu tư cho các tàu trong một mô hình luân phiên rất lớn và phải đồng bộ, trong mô hình các thuyền trưởng phải có trình độ như nhau Các thành viên trong mô hình phải tìm được tiếng nói chung về cách thức vận chuyển và cung ứng nguyên vật liệu Vì vậy, ở nước ta hiện nay mô hình dạng luân phiên đang hoạt động kém hiệu quả, không bền vững
Trang 301.2.3 Một số tồn tại của mô hình khai thác – dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về mô hình khai thác – dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển, các công trình nghiên cứu đều chủ yếu tập trung nghiên cứu theo 2 hướng:
1 Đánh giá hiện trạng hoạt động của các mô hình
2 Nghiên cứu xây dựng mô hình
Tuy nhiên, ở hướng nghiên cứu thứ 2, các công trình nghiên cứu đã tính toán được số lượng tàu và chu kỳ hoạt động của tàu trong mô hình, đã xây dựng được dự thảo tổ chức hoạt động cho các mô hình dựa trên các nguyên tắc và tiêu chí cụ thể Nhưng việc nghiên cứu đề xuất xây dựng mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển tập trung vào xây dựng hai dạng mô hình là dạng “luân phiên” và dạng “tổ đoàn kết”
- Các tàu hoạt động theo mô hình dạng “luân phiên” thay phiên nhau vận chuyển sản phẩm Nếu việc ăn chia không minh bạch, sẽ nảy sinh mâu thuẫn giữa chủ tàu, thuyền trưởng và thuyền viên, mà nguyên nhân chính là do các tàu trong mô hình phân chia lợi nhuận không đồng đều nhau Đối với mô hình dạng này tồn tại được cần phải đầu tư về con người, tàu thuyền, trang thiết bị, kỹ thuật khai thác, ngư cụ, một cách đồng bộ
- Các tàu hoạt động theo mô hình dạng “tổ đoàn kết” chưa đem lại hiệu quả
do phát sinh từ tính chất cạnh tranh ngư trường, điển hình là việc không thông báo thông tin về ngư trường, thời gian hoạt động giữa các tàu trong tổ, nếu có xảy ra tai nạn trên biển thì việc cứu hộ, cứu nạn không kịp thời Hơn nữa, do hoạt động đơn
lẻ nên ngư trường khai thác thường xa nhau và việc hỗ trợ nhau tìm kiếm ngư cụ bị mất đôi khi cũng khó khăn
Do đó, việc xây dựng hai mô hình “luân phiên” và “tổ đoàn kết” này chưa phù hợp với nghề cá của nước ta hiện nay
Ngoài ra, các công trình nghiên cứu chưa tập trung phân tích, đánh giá hiện trạng để có cơ sở khoa học đề xuất xây dựng mô hình dạng tàu mẹ - tàu con” cho nghề cá ở nước ta Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng mô hình khai thác - dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển và đưa ra được mô hình dạng “tàu mẹ - tàu con” của nghề cá ở đảo Phú Quý – Bình Thuận nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất là cần thiết
Trang 31CHƯƠNG 2 NỘI DUNG, TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Điều tra thực trạng tàu thuyền và các mô hình dịch vụ hậu cần ở huyện
đảo Phú Quý
- Tàu thuyền của các tàu nghề câu kiêm mành, tàu thuyền tham gia dịch vụ hậu cần trên biển (số lượng tàu thuyền, ngư cụ, trang thiết bị khai thác hàng hải, ngư trường và phạm vi hoạt động dịch vụ hậu cần )
- Phân bố lực lượng lao động nghề cá, lực lượng lao động tham gia dịch vụ hậu cần trên biển
- Các loại dịch vụ hậu cần trên biển: tàu thu mua, cung ứng nguyên vật liệu
- Cơ cấu tổ chức, thể chế chính sách, qui mô hoạt động sản xuất của các loại mô hình dịch vụ hậu cần khai thác hải sản
- Quy trình công nghệ, phương thức hoạt động của các mô hình dịch vụ hậu cần trên biển (chuẩn bị chuyến biển, cung ứng nguyên vật liệu, thu mua, xếp dỡ, bảo quản, vận chuyển, tiêu thụ sản phẩm, tỷ lệ thất thoát trong dịch vụ hậu cần trên biển)
- An toàn hàng hải của các mô hình dịch vụ hậu cần trên biển
Nội dung 2 Đánh giá hiệu quả sản xuất của nghề câu kiêm nghề mành khai thác mực
tham gia dịch vụ hậu cần trên biển
* Đánh giá hiệu quả mô hình dịch vụ hậu cần của nghề câu kiêm mành khai thác mực ở Phú Quý
- Tính hợp lý về mặt kỹ thuật dịch vụ hậu cần trên biển của tàu nghề câu kiêm nghề mành khai thác mực (đặc điểm vỏ tàu, phạm vi hoạt động, trang bị động lực, trang thiết bị khai thác hàng hải, kỹ thuật xếp dỡ hàng hóa, kỹ thuật khai thác, an toàn hàng hải, hệ thống cấp đông, kỹ thuật bảo quản, thời gian bảo quản, nguyên vật liệu dùng để bảo quản sản phẩm (đá xay, đá cây, túi vải, túi nilon, khay, giỏ v.v ) phù hợp với các quy phạm pháp luật và điều kiện nghề cá hiện tại
* Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của mô hình dịch vụ hậu cần nghề câu kiêm mành khai thác mực ở Phú Quý
- Đánh giá hiệu quả về giá trị sản phẩm/giá thành sản phẩm giữa các tàu nghề câu kiêm mành không tham gia mô hình hoặc đang hoạt động ở dạng mô hình khác so với các tàu nghề câu kiêm mành tham gia mô hình dịch vụ hậu cần trên biển
- Mức thu nhập thuyền viên giữa tàu nghề câu kiêm mành không tham gia mô
Trang 32hình hoặc đang hoạt động ở dạng mô hình khác so với tàu nghề câu kiêm mành tham gia mô hình
- Khả năng cung ứng nguyên, nhiên vật liệu của các tàu dịch vụ hậu cần so với tàu nghề câu kiêm mành tham gia mô hình
- Phân tích/đánh giá SWOT về các yếu tố tác động đến mô hình dịch vụ hậu cần trên biển của nghề câu kiêm mành
Nội dung 3: Đề xuất mô hình dịch vụ hậu cần trên biển của nghề câu kiêm nghề mành
khai thác mực phù hợp với điều kiện nghề cá Phú Quý
- Luận cứ thực tiễn của mô hình đề xuất
- Tính toán số lượng tàu trong một mô hình phù hợp với nhu cầu thực tiễn nghề
cá địa phương
- Hình thức hoạt động của mô hình dịch vụ hậu cần:
+ Tàu mẹ - tàu con;
+ Quy trình hoạt động;
+ Cơ cấu tổ chức và quy chế hoạt động
2.2 Tài liệu nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề xuất mô hình dịch vụ hậu cần trên biển của nghề câu kiêm mành khai thác mực ở Phú Quý – Bình Thuận được dựa trên cơ sở của các tài liệu liên quan như sau:
- Số liệu thứ cấp: các báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình Thuận, phòng quản lý kinh tế huyện Phú Quý tỉnh Bình Thuận
- Số liệu sơ cấp: các số liệu điều tra phỏng vấn, giám sát trên biển về hiện trạng hoạt động của các đội tàu khai thác; hiện trạng dịch vụ hậu cần nghề cá tại địa phương; hiệu quả hoạt động của các đội tàu
- Tham khảo nguồn số liệu của đề tài: “Nghiên cứu xây dựng mô hình dịch vụ hậu cần cho nghề khai thác hải sản xa bờ ở vùng biển miền Trung” gọi tắt tên đề tài
“Dịch vụ hậu cần” do Viện Nghiên cứu Hải sản điều tra khảo sát tại Phú Quý, Bình Thuận
- Tham khảo nguồn số liệu của các đề tài/dự án khác: Đề tài “Nghiên cứu biến động và phân bố cường lực khai thác hải sản ở vùng biển xa bờ Đông Nam bộ”; Đề tài
“Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho việc điều chỉnh cơ cấu đội tàu khai thác”
- Tham khảo nguồn tài liệu đăng tải trên mạng internet
Trang 33- Số liệu điều tra, phân tích để xây dựng mô hình dịch vụ hậu cần được thu số lượng phiếu theo tài liệu hướng dẫn của FAO (Constantine S, 2002) có độ tin cậy 90 –
95 % Số lượng phiếu điều tra ở các nhóm tàu như sau:
Bảng 2.1 Tổng hợp số lượng tàu khảo sát theo các nhóm tàu
Nhóm tàu
Số lượng tàu
Tàu DVHC (thu mua mực)
Tàu nghề câu kiêm mành
Tàu DVHC (thu mua cá)
Tàu nghề khác
Tàu câu khơi
Tỉ lệ tàu khảo sát (%) 26,19 26,08 33,33 11,96 5,55
Ghi chú: Nghề khác gồm các nghề: chụp mực, lưới rê tầng đáy, câu vàng tầng đáy
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
2.3.1.1 Phạm vi và thời gian nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu xây dựng mô hình dịch vụ hậu cần của nghề câu kiêm mành khai thác mực được thực hiện giám sát trên tàu BTh 96510 TS do Ngô Văn Kim làm chủ tàu kiêm thuyền trưởng, địa chỉ: xã Tam Thanh, huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận Phạm vi ngư trường hoạt động của tàu có vĩ độ từ: 8030’ - 9005’N; kinh độ từ
§.Ph ó Qu ý B×n h Thu Ën
7º 8º
6º
9º
110º Ninh Thu Ën
10º 11º
Hình 2.1 Phạm vi ngư trường nghiên cứu
Trang 34Thời gian điều tra trên bờ từ tháng 6 năm 2012 đến tháng 6 năm 2013; Thời gian thực nghiệm trên biển được thực hiện từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 1 năm 2014
2.3.1.2 Đối tượng nghiên cứu
- Các tàu: tàu DVHC (thu mua mực, thu mua cá), tàu câu kiêm mành khai thác mực, tàu câu khơi, tàu chụp mực, tàu lưới rê tầng đáy, tàu câu vàng tầng đáy
2.3.2 Phương pháp điều tra thu mẫu
2.3.2.1 Phương pháp điều tra thứ cấp
- Thu số liệu về thực trạng tàu thuyền và các mô hình dịch vụ hậu cần ở huyện đảo Phú Quý tại các cơ quan quản lý nghề cá ở trung ương và địa phương
- Tổng hợp số liệu kết quả nghiên cứu về dịch vụ hậu cần nghề cá ở huyện đảo Phú Quý từ các đề tài dự án đã và đang triển khai
2.3.2.2 Phương pháp điều tra sơ cấp
- Thu thập số liệu hiện trạng trên các tàu dịch vụ hậu cần gồm: tàu thuyền, phạm
vi hoạt động, hiệu quả kinh tế - xã hội, khả năng cung ứng nguyên vật liệu, phương pháp bảo quản và tiêu thụ sản phẩm, qui chế và phương thức hoạt động,
- Thu thập số liệu trên các tàu câu kiêm mành khai thác mực gồm: tàu thuyền, phạm vi hoạt động, trang bị động lực, trang thiết bị khai thác và hàng hải, hiệu quả kinh tế - xã hội, qui chế và phương thức hoạt động,
- Thu thập số liệu hiện trạng trên các tàu nghề khai thác khác gồm: tàu thuyền, phạm vi hoạt động, trang bị động lực, trang thiết bị khai thác và hàng hải, hiệu quả kinh tế - xã hội, qui chế và phương thức hoạt động, làm cơ sở so sánh với tàu câu kiêm mành đang tham gia vào mô hình dịch vụ hậu cần
2.3.3 Phương pháp đánh giá, phân tích
- Đánh giá thực trạng và phương thức hoạt động của các mô hình dịch vụ hậu cần trên biển về: Tàu thuyền, ngư cụ, trang thiết bị khai thác hàng hải, ngư trường, chuẩn
bị chuyến biển, cung ứng nguyên vật liệu, thu mua, xếp dỡ, bảo quản, vận chuyển, chất lượng sản phẩm trong dịch vụ hậu cần trên biển
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình thông qua các chỉ tiêu như: vốn đầu tư, chi phí sản xuất, doanh thu và lợi nhuận
- Đánh giá hiệu quả xã hội của mô hình thông qua các tiêu chí như: mức độ tham gia của các đối tượng xã hội, mức thu nhập của thuyền viên và chủ tàu, mức độ an toàn, an ninh trên biển của các mô hình
Trang 35- Luận giải các yếu tố dựa vào kinh nghiệm tổ chức khai thác, cách thức thu mua sản phẩm khai thác trên biển của ngư dân, chủ nậu/vựa, chủ doanh nghiệp
- Phân tích hiệu quả kinh tế của các mô hình dịch vụ hậu cần hiện có để lựa chọn
mô hình có hiệu quả kinh tế cao và phù hợp với nghề cá ở huyện đảo Phú Quý
- Phân tích kỹ thuật bảo quản, khả năng chứa, thời gian bảo quản sản phẩm để xác định được số lượng tàu trong 1 mô hình dịch vụ hậu cần phù hợp với nghề câu kiêm mành khai thác mực ở huyện đảo Phú Quý
- Phân tích các yếu tố nội tại bằng cách sử dụng công cụ phân tích SWOT nhằm xác định điểm mạnh hay thuận lợi (S), điểm yếu hay khó khăn (W), xem xét các yếu tố bên ngoài có thể là cơ hội (O) và thách thức hay mối đe dọa (T) cho mô hình dịch vụ hậu cần ở khu vực Phú Quý, Bình Thuận về hiệu quả kinh tế - xã hội, chất lượng bảo quản sản phẩm, qui trình khai thác, thu mua, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm, an toàn hàng hải, tinh thần đoàn kết hỗ trợ nhau trên biển, vốn đầu tư, chi phí sản xuất, lực lượng lao động, nguồn lợi, thông tin ngư trường, giá sản phẩm, thủ tục hành chính, rủi
W: Điểm yếu hay khó khăn
- Những điểm nào mà các mô hình dịch
vụ hậu cần nên cải thiện?
- Những điểm mà các mô hình dịch vụ hậu cần nên tránh?
- Làm thế nào để vượt qua những điểm yếu?
O: Cơ hội
- Làm thế nào để có thể tối đa hóa được
các cơ hội?
- Dịch vụ hậu cần nghề cá ở Phú Quý
đang có cơ hội nào?
T: Thách thức hay mối đe dọa
- Làm thế nào để tránh được những mối
đe dọa đến hoạt động của các mô hình dịch vụ hậu cần hiện có?
- Những thách thức nào đối với các mô hình dịch vụ hậu cần ở Phú Quý?
Trang 362.3.4 Phương pháp xác định số lượng tàu cho một mô hình
2.3.4.1 Cơ sở để xây dựng mô hình
* Cơ sở lý thuyết
Dựa vào phương pháp nghiên cứu và tính toán của đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu xây dựng mô hình dịch vụ hậu cần cho nghề khai thác hải sản xa bờ miền Trung” thực hiện từ năm 2012 - 2014
*Cơ sở thực tiễn
Dựa vào kết quả điều tra, khảo sát thực tế hoạt động của các tàu khai thác và dịch
vụ hậu cần ở huyện đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận để so sánh bằng công thức sau:
100
*)(
1
2 1
N
N N
Trong đó: N là so sánh độ chênh lệch giữa các tàu
N1 là tàu được đề xuất tham gia mô hình
N2 là tàu không được đề xuất tham gia mô hình
2.3.4.2 Phương pháp xác định số lượng tàu trong mô hình
Phương pháp xác định số lượng tàu trong mô hình dịch vụ hậu cần trên biển cho đội tàu nghề câu kiêm mành khai thác mực ở Phú Quý – Bình Thuận, hay còn gọi là dạng mô hình tàu mẹ - tàu con như sau [12]:
Chúng ta gọi tàu mẹ là Y, tàu con là X thì ta có mối quan hệ là:
X X
1
- Mà khả năng thu mua, vận chuyển của tàu mẹ trong 1 chuyến biển là:
Z = X x DTM x CPUE Z: là sản lượng thu mua của tàu mẹ trong một chuyến;
X: là số lượng tàu con;
D TM: là số ngày trong một chuyến tàu mẹ thu gom sản phẩm của các tàu con trong mô hình;
CPUE Năng suất khai thác trung bình trong ngày của 1 tàu con
- Vậy số lượng tàu con X để tàu mẹ Y thỏa mãn là:
Trang 37CPUE x
D
Z X
TM
- Kết quả số lượng tàu của một mô hình là:
Y = f(X 1 , X 2 , X n )
2.3.4.3 Phương pháp xây dựng quy chế và tổ chức hoạt động mô hình
- Văn bản liên quan nhằm làm cơ sở pháp lý và cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy chế và tổ chức hoạt động mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển dạng tàu mẹ - tàu con [Phụ lục III.7]
- Khảo sát thực tiễn các cá nhân đại diện các đơn vị: Chi cục Khai thác & Bảo vệ nguồn lợi thủy sản - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Thuận; Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Phú Quý; Phòng Kinh tế huyện Phú Quý; UBND các xã Long Hải, Tam Thanh, Ngũ Phụng để lấy những ý kiến về tồn tại, vướng mắc trong việc triển khai xây dựng mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển
- Dự thảo quy chế và tổ chức hội thảo tổ chức vào tháng 1 năm 2013 tại Đà Nẵng, có các thành phần tham gia như là các ngư dân và cán bộ Chi cục Khai thác & Bảo vệ nguồn lợi thủy sản của 10 tỉnh ven biển miền Trung [12]
2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thực nghiệm được xử lý bằng công cụ thống kê toán trên phần mềm MS Excel để xử lý (lập bảng thống kê, vẽ biểu đồ, )
2.3.5.1 Xử lý số liệu về hiện trạng nghề cá ở Phú Quý – Bình Thuận
Nhóm I: Đánh giá hiện trạng trang thiết bị tàu thuyền (vỏ tàu, máy tàu, máy phát điện, máy điện hàng hải, trang thiết bị tránh va và phòng nạn, ngư cụ, máy khai thác, )[6]:
Bước 1:Đánh giá trang thiết bị tham gia sản xuất, theo công thức(h; %)(1)
100
x n
n h tn
sx
(1)
n sx: Số lượng thiết bị thực tế sản xuất được trang bị
n tn: Số lượng thiết bị tiềm năng có thể được trang bị
Bước 2: Đánh giá giá trị đầu tư trang thiết bị phục vụ sản xuất Thiết bị bao gồm:
máy phụ, máy phát điện, tời, máy dò, định vị, ra đa, thông tin, thiết bị tránh va và
phòng nạn (I hđ ; %)
Trang 38x G
G
= I
sx
hd hd
(2)
Ghd: Tổng giá trị thiết bị hiện đại
Gsx:Tổng giá trị của tàu
Bước 3: Đánh giá năng lực trang bị động lực của tàu theo công thức (3)(H nl cv)
m
M
H nl nl (3)
M nl: Tổng công suất máy của các tàu điều tra (cv/chiếc)
m: Tổng số tàu đã điều tra (chiếc)
Bước 4: Đánh giá giá trị đầu tư các trang thiết bị cho sản xuất theo công thức
∑m
= i i v
(4.2)
Gsxcd: Giá trị thiết bị tại thời điểm đầu tư (đồng/người)
Gi: Vốn đầu tư tàu i (đồng/tàu)
m: Số tàu điều tra (chiếc)
n: Số lao động tại điểm điều tra (người)
Nhóm II: Đánh giá chất lượng bảo quản sản phẩm [6]:
Bước 1: Tỷ trọng chất lượng sản phẩm có giá trị loại Itại bến, cảng (C xk ; %)
theo công thức (5)
100
x P
P C
Bước 2: Phân loại sản phẩm theo cách bảo quản, chế biến trên tàu (C bq ;
%)(Đánh giá phương pháp bảo quản sản phẩm khai thác được trên tàu) theo công thức
(6)
100
x P
P C
sp
bq
bq (6)
P bq: Sản lượng khai thác được bảo quản bằng cách cụ thể (kg)
P sp: Tổng sản lượng khai thác được (kg)
Trang 39Nhóm III: Đánh giá về hiệu quả sản xuất [8]:
Bước 1: Hiệu quả sản xuất của đội tàu: Ln = DT – CP (7)
Ln: Lợi nhuận (tr.đ/đội tàu/năm)
DT: Tổng doanh thu (tr.đ/đội tàu/năm)
CP: Tổng chi phí biến đổi (chi phí tàu con (sản xuất) bao gồm: dầu, nhớt, nước đá, lương thực, chi phí sửa chữa tàu, máy tàu, ngư cụ, bảo hiểm, trả lãi suất vay, lương lao động, ; tàu mẹ (thu mua) bao gồm: dầu, nhớt, nước đá, lương thực, chi phí sửa chữa tàu, máy tàu, giá mua trên biển, bảo hiểm, trả lãi suất vay, lương lao động, ) (tr.đ/tàu/năm)
Bước 2: Khấu hao tài sản (I) Được tính bằng 10% tổng số vốn đầu tư (vỏ tàu,
máy tàu, trang thiết bị hàng hải, …)
Bước 3: Chỉ số doanh lợi (D) Là tỷ suất lợi nhuận thu được trên tổng vốn đầu tư
của 01 tàu
Bước 4: Lương lao động (L): Thu nhập bình quân trên một lao động
L = 50%Ln/số lượng LĐ (9) (50% tổng lợi nhuận là chủ tàu hưởng, 50% còn lại là các thuyền viên trên tàu hưởng)
2.3.5.2 Xác định số lượng tàu trong một mô hình [12]
Bước 1: Xác định sản lượng trung bình của mỗi tàu trong một ngày:
n
CPUE CPUE
CPUE: Năng suất khai thác trung bình trong 1 ngày của tàu con
Bước 2: Xác định số ngày thu gom sản phẩm tối đa của tàu mẹ trong 1 chuyến
CPUE
Z
D TM
Z Sản lượng thu mua trung bình trong 1 ngày của tàu mẹ;
CPUENăng suất khai tháctrung bình trong 1 ngày của tàu con
Trang 40Bước 3: Số tàu con phù hợp cho mỗi mô hình:
CPUE x D
Z X
TM
Z: là sản lượng thu mua của tàu mẹ trong một chuyến;
X: là số tàu con trong một mô hình;
D TM: Số ngày trong một chuyến tàu mẹ thu gom sản phẩm của các tàu con trong mô hình;
CPUE Năng suất khai thác trung bình trong 1 ngày của tàu con
Bước 4: Xác định số ngày cần thiết cho mỗi chu kỳ vận chuyển của tàu mẹ (tàu
thu mua):
vc TM
(ngày) (13)
bc r
v
D ck : Số ngày cần thiết cho mỗi chu kỳ vận chuyển của mô hình (ngày);
D vc : Thời gian vận chuyển về bờ (ngày);
D TM : Tổng thời gian thu gom sản phẩm (ngày);
D r : Thời gian tàu mẹ chạy từ bờ ra ngư trường (ngày);
D v : Thời gian tàu mẹ chạy từ ngư trường vào bờ (ngày);
D bc : Thời gian tàu mẹ bán cá và cung ứng nguyên vật liệu (ngày)