1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản xung quanh khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

111 1,2K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 7,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Lãnh đạo Ban quản lý Khu Bảo tồn biển Vịnh Nha Trang, Sở Tài nguyên & Môi trường, Sở Nông nghiệp & PTNT, Văn phòng Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu tỉnh Khán

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

- -

NGÔ THỊ HIÊN

ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

ĐẾN HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC VÀ NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN XUNG QUANH KHU BẢO TỒN BIỂN

VỊNH NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Khánh Hoà - Năm 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

- -

NGÔ THỊ HIÊN

ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

ĐẾN HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC VÀ NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN XUNG QUANH KHU BẢO TỒN BIỂN

VỊNH NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu, dữ liệu và kết quả đưa ra trong luận văn là trung thực Nội dung luận văn chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Tác giả

Ngô Thị Hiên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới:

 Quý Thầy, Cô Trường Đại học Nha Trang vì những kiến thức được truyền đạt trong suốt thời gian học tại trường

 TS Quách Thị Khánh Ngọc vì sự hướng dẫn tận tình trong suốt quá trình thực hiện đề tài

 Lãnh đạo Ban quản lý Khu Bảo tồn biển Vịnh Nha Trang, Sở Tài nguyên & Môi trường, Sở Nông nghiệp & PTNT, Văn phòng Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu tỉnh Khánh Hoà; Lãnh đạo Phường Vĩnh Nguyên, Phường Vĩnh Trường, Lãnh đạo Cảng Vĩnh Trường, Cảng Hòn Rớ, Ban phòng chống lụt bão

và tìm kiếm cứu nạn tỉnh, Hội ngư dân, nông dân phường Vĩnh Nguyên, Vĩnh Trường

vì sự cộng tác và hỗ trợ tận tình trong quá trình thu thập dữ liệu

 Ngư dân khu vực Vĩnh Trường, Trí Nguyên, Vĩnh Nguyên, Hòn Rớ và người nuôi trồng thuỷ sản khu vực Vịnh Nha Trang vì đã dành thời gian trả lời các câu hỏi phỏng vấn

 Gia đình, bè bạn vì sự động viên và khích lệ trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Khánh Hoà, tháng 11 năm 2014

Người viết

Ngô Thị Hiên

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 5

1.1 Các khái niệm liên quan đến biến đổi khí hậu 5

1.2 Chiến lược thích ứng và chiến lược giảm thiểu 10

1.3 Tổng quan các kết quả nghiên cứu về biến đổi khí hậu 11

1.3.1 Tổng quan các kết quả nghiên cứu về biến đổi khí hậu trên thế giới 11

1.3.2 Tổng quan các nghiên cứu về biến đổi khí hậu tại Việt Nam 15

1.4 Phương pháp đánh giá tác động của BĐKH gồm 7 bước 18

CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT KHU VỰC NGHIÊN CỨU 19

2.1 Một số chỉ tiêu tổng quát cơ bản trong khu vực nghiên cứu 19

2.1.1 Đặc điểm kinh tế khu vực thành phố Nha Trang 19

2.1.2.Thương mại - Du lịch - Dịch vụ 19

2.1.3 Công nghiệp 20

2.1.4 Nông - Lâm - Ngư nghiệp 20

2.1.5 Hệ thống giao thông 22

2.2 Đặc điểm địa lý khu vực nghiên cứu 22

2.2.1 Vị trí địa lý khu vực Vịnh Nha Trang: 22

2.2.2 Đặc điểm địa hình 25

2.2.3 Đặc điểm thuỷ văn 25

2.2.4 Đặc điểm khí hậu 26

2.3 Đặc điểm kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 26

2.3.1 Thành phần và sự phân bố dân cư trong khu vực Vịnh Nha Trang 26

2.3.2 Sự phân bố hoạt động kinh tế 26

2.3.3 Trình độ học vấn 27

2.4 Hiện trạng môi trường và đa dạng sinh học trong KBTB Vịnh Nha Trang 28

Trang 6

2.4.1 Hiện trạng môi trường 28

2.4.2 Hiện trạng đa dạng sinh học 29

2.5 Tầm quan trọng của ngành khai thác và nuôi trồng thuỷ sản đối với nền kinh tế quốc dân nói chung và Nha Trang Khánh Hoà nói riêng 31

2.5.1 Vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân 32

2.5.2 Quan điểm, định hướng phát triển ngành thủy sản đến năm 2020 34

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

3.1 Xác định khung phân tích 36

3.2 Xác định cỡ mẫu nghiên cứu: 38

3.3 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu 40

3.4 Đánh giá thiệt hại 43

3.5 Nhận dạng những chiến lược thích ứng 43

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45

4.1 Tác động của BĐKH đến lĩnh vực khai thác và nuôi trồng thuỷ sản 45

4.1.1 Khi nhiệt độ tăng 45

4.1.2 Khi lượng mưa tăng 47

4.1.3 Khi nước biển dâng 48

4.1.4 Các hiện tượng thời tiết cực đoan 52

4.1.5 Bản đồ hiểm họa: bản đồ nguy cơ lũ quét 54

4.1.6 Ma trận mức độ dễ bị tổn thương 63

4.2 Lượng giá thiệt hại từ rủi ro biến đổi khí hậu 63

4.2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của mẫu nghiên cứu 63

4.2.2 Phân tích cơ bản: Đánh giá thiệt hại do rủi ro khí hậu 66

4.3 Nhận thức của ngư dân và người nuôi trồng thuỷ sản về rủi ro khí hậu 70

4.4 Nhận thức của ngư dân và người nuôi trồng thuỷ sản về vai trò của khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang 72

4.5 Cơ chế ứng phó với BĐKH 76

4.5.1 Cơ chế ứng phó với BĐKH của ngư dân và người nuôi trồng thuỷ sản 76

4.5.2 Cơ chế ứng phó khả thi từ cộng đồng 78

CHƯƠNG 5: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 80

5.1 Quan điểm, mục tiêu 80

5.1.1 Quan điểm 80

Trang 7

5.1.2 Mục tiêu 80

5.2 Một số giải pháp chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu cho ngư dân và người nuôi trồng thuỷ sản xung quanh khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang 81

5.2.1 Xác định các chương trình, dự án ưu tiên nhằm ứng phó với BĐKH trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 81

5.2.2 Xác định các chiến lược ứng phó hữu hiệu và cụ thể cho ngư dân và người nuôi trồng thuỷ sản xung quanh khu bảo tồn biển vịnh nha trang 83

5.3 Nâng cao nhận thức của ngư dân và người nuôi trồng thuỷ sản đối với những ảnh hưởng của BĐKH 84

5.4 Tăng cường quản lý và bảo vệ KBTB Vịnh Nha Trang 84

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BQL : Ban quản lý

Bộ TN&MT : Bộ Tài nguyên & Môi trường

BVNLTS : Bảo vệ nguồn lợi Thuỷ sản

FAO : Food and Agriculture Organization of the United Nations GDP : Gross Domestic Product

IPCC : The Intergovernmental Panel on Climate Change

IPCC TAR : The Intergovernmental Panel on Climate Change-Third Assessment Report IUCN : Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới

KBTB : Khu Bảo tồn biển

LHQ : Liên hiệp quốc

NBD : Nước biển dâng

NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn

PTNT : Phát triển nông thôn

TBNN : Trung bình nhỏ nhất

UNDP : United Nations Development Programme

UBND : Uỷ ban nhân dân

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: BĐKH tác động đến lĩnh vực thuỷ sản thông qua các yếu tố sau: 36

Bảng 3.2: Phân bố mẫu nghiên cứu theo khu vực: 40

Bảng 4.1: Độ lệch tiêu chuẩn S(mm) và biến suất Sr(%) lượng mưa tại trạm Nha Trang 48

Bảng 4.2: Diện tích (km2) ngập của thành phố Nha Trang theo các kịch bản 49

Bảng 4.3: Diện tích bị ngập của các kịch bản khi nước biển dâng 51

Bảng 4.4: Tần suất (%) hạn theo quy mô thời gian của vùng ven biển Nha Trang 53

Bảng 4.5: Nhiệt độ trung bình ở Khánh Hòa theo các nhóm năm 53

Bảng 4.6: Lượng mưa trung bình Khánh Hòa theo các nhóm năm (mm) 53

Bảng 4.7: Trọng số các nhân tố 54

Bảng 4.8: Ma trận mức độ tổn thương tại khu vực nghiên cứu 63

Bảng 4.9: Phân phối số người trả lời theo khu vực nghiên cứu 64

Bảng 4.10: Đặc điểm kinh tế xã hội của những người trả lời 64

Bảng 4.11: Sản lượng từng loại giống nuôi trồng thủy sản khu vực Vịnh Nha Trang 65

Bảng 4.12: Sản lượng từng loại cá đánh bắt trên một chuyến biển: 65

Bảng 4.13: Đánh giá thiệt hại rủi do khí hậu gây ra của ngư dân: 68

Bảng 4.14: Thiệt hại và lượng giá thiệt hại do bão lũ gần đây gây ra của ngư dân 69

Bảng 4.15: Thiệt hại và lượng giá thiệt hại do bão lũ gần đây gây ra của hộ nuôi trồng thuỷ sản: 70

Bảng 4.16 Nhận thức của ngư dân và người nuôi về rủi ro khí hậu 71

Bảng 4.17: Đánh giá nhận thức của ngư dân và người nuôi trồng thuỷ sản về khu BTB Vịnh Nha Trang 74

Bảng 4.18 Cơ chế ứng phó trước khi bão/lũ lụt xảy ra 76

Bảng 4.19 Cơ chế ứng phó trong và ngay sau khi bão/lũ lụt xảy ra 76

Bảng 4.20: Cơ chế ứng phó trước khi bão/lũ lụt xảy ra 77

Bảng 4.21: Cơ chế ứng phó trong và sau những hiện tượng bão, lũ lụt xảy ra 77

Bảng 4.22 Xếp hạng các sự lựa chọn thích ứng của hộ khai thác thuỷ sản với bão,lũ 78 Bảng 4.23 Xếp hạng các sự lựa chọn thích ứng của hộ nuôi trồng thuỷ sản với bão,lũ .79

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1: Biến trình nhiệt độ trung bình năm tại Nha Trang giai đoạn 1977 – 2010 45

Hình 4.2: Phân bố lượng mưa tại Khánh Hòa năm 1999 (trái) năm 2009 (phải) 47

Hình 4.3: Biến trình lượng mưa năm ở Nha Trang giai đoạn 1980-2010 47

Hình 4.4: Biểu đồ diện tích ngập tỉnh Khánh Hòa theo kịch bản trung bình 48

Hình 4.5: Biểu đồ tỷ lệ diện tích ngập của Nha Trang so với toàn tỉnh theo kịch bản trung bình 49

Hình 4.6: Biểu đồ diện tích ngập của Thành phố Nha Trang so với toàn tỉnh Khánh Hòa theo kịch bản cao 50

Hình 4.7: Biểu đồ tỷ lệ diện tích ngập TP Nha Trang so với toàn tỉnh Khánh Hòa theo kịch bản phát thải cao 50

Hình 4.8: Diện tích đất nuôi trồng thủy sản bị ngập theo kịch bản phát thải trung bình và phát thải cao 51

Hình 4.9: Bản đồ vùng nguy cơ lũ quét hiện trạng (1980 – 2010) 55

Hình 4.10: Biểu đồ tỉ lệ nguy cơ xảy ra lũ quét năm 1980 – 2010 55

Hình 4.11: Biểu đồ tỉ lệ nguy cơ xảy ra lũ quét theo kịch bản cao năm 2020 – 2100 56

Hình 4.12: Vùng nguy cơ lũ quét tỉnh Khánh Hòacác giai đoạn theo kịch bản A1FI 57

Hình 4.13: Biểu đồ tỉ lệ nguy cơ xảy ra lũ quét theo kịch bản B1 58

Hình 4.14: Vùng nguy cơ lũ quét tỉnh Khánh Hòa các giai đoạn theo kịch bản B1 59

Hình 4.15: Biểu đồ tỉ lệ nguy cơ xảy ra lũ quét theo kịch bản trung bình năm 2020 – 2100 60

Hình 4.16: Vùng nguy cơ lũ quét tỉnh KH các giai đoạn theo kịch bản trung bình 61

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu

Biến đổi khí hậu là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng, là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21 Các bằng chứng khoa học hiện nay chứng minh rằng biến đổi khí hậu ảnh hưởng nặng nề nhất đến sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn, người nghèo, môi trường và an ninh lương thực trên toàn thế giới Thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan khác đang gia tăng ở hầu hết các nơi trên trái đất Nhiệt độ, sự xâm nhập mặn, sạt lở đất và mực nước biển trung bình toàn cầu tiếp tục tăng nhanh chưa từng có và đang là mối lo ngại của hầu hết các quốc gia trên thế giới

Nhận thức rõ những thách thức do biến đổi khí hậu gây ra, ngày 02 tháng 12 năm

2008 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu tại Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg Đây là một trong những thành công ban đầu quan trọng trong nỗ lực ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt Nam với mục tiêu phát triển bền vững Hai trong tám nhiệm vụ quan trọng của Chương trình là: (1) Đánh giá mức độ và tác động của biến đổi khí hậu đối với các lĩnh vực, ngành

và địa phương

(2) Xác định các giải pháp ứng phó

Các nghiên cứu về BĐKH cũng đã được thực hiện trên nhiều lĩnh vực, dần hoàn thiện về cơ sở phương pháp luận và đạt được những kết quả đáng quan tâm Tuy nhiên, các đánh giá về tác động của BĐKH phần lớn là dựa theo các kịch bản không còn mới nữa và do đó, các giải pháp chiến lược đã được xây dựng cũng chưa toàn diện và xác thực Nhiều bằng chứng từ thực tế và một số nghiên cứu liên quan đã chứng minh những biểu hiện của BĐKH gia tăng ở Việt Nam nói chung và tỉnh Khánh Hòa nói riêng như các hiện tượng thời tiết cực đoan, mưa trái mùa, lượng mưa gia tăng, hạn hán kéo dài, nhiệt độ cao bất thường vào mùa khô,… Một vấn đề dễ dàng nhận thấy là hiện tượng ngập lụt bất thường trong những năm gần đây sau khi có mưa lớn hoặc vào lúc triều cường đặt ra một giả thuyết về nước biển dâng do BĐKH đã và đang xảy ra tại Khánh Hòa Những biểu hiện của BĐKH sẽ gia tăng đến mức nào và gây ảnh hưởng lớn như thế nào đang là vấn đề hóc búa đối với các cấp chính quyền bởi điều này sẽ quyết định những định hướng phát triển cho tỉnh Khánh Hòa trong tương lai đặc biệt là trong các lĩnh vực quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch giao thông, phát triển

Trang 12

cơ sở hạ tầng, vấn đề bảo vệ và sử dụng nguồn tài nguyên nước, và đặc biệt là hoạt động khai thác và nuôi trồng thuỷ sản xung quanh khu bảo tồn vịnh Nha Trang tại tỉnh Khánh Hòa

Đối với một tỉnh phát triển nhanh ở vùng Nam Trung Bộ như Khánh Hòa thì vấn

đề phát triển bền vững lâu dài là rất cần thiết, trước nguy cơ bị ảnh hưởng của BĐKH Khánh Hòa nhất thiết phải triển khai một nghiên cứu mang tính hệ thống để đánh giá những ảnh hưởng của BĐKH

Đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động khai thác

và nuôi trồng thuỷ sản xung quanh khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa” được thực hiện nhằm hệ thống hóa phương pháp luận, đánh giá những tác động

của biến đổi khí hậu, lượng giá những thiệt hại, đánh giá các chiến lược thích ứng và giúp cho nhà quản trị khu bảo tồn Vịnh Nha Trang và Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa có cơ sở khoa học vững chắc để lựa chọn những chiến lược thích ứng tối ưu để ứng phó với những tác động của biến đổi khí hậu tại tỉnh Khánh Hòa

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Mục tiêu tổng quát

Hỗ trợ cho các nhà quản trị Khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang và Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa có được sự hiểu biết tốt hơn về những rủi ro liên quan tới biến đổi khí hậu, xác định những chiến lược thích ứng để đối phó với những rủi ro do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu

Những mục tiêu cụ thể của nghiên cứu này là:

1 Xác định và đánh giá những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản xung quanh khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang tỉnh Khánh Hòa;

2 Lượng giá những tổn thất kinh tế do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến ngư dân và người nuôi trồng thuỷ sản;

3 Đánh giá nhận thức của ngư dân và người nuôi trồng thủy sản về biến đổi khí hậu

và các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động khai thác và nuôi trồng thuỷ sản;

4 Đánh giá nhận thức của ngư dân và người nuôi về vai trò của khu bảo tồn biển đối với hoạt động của họ và vai trò của khu bảo tồn biển trong việc ứng phó với các tác động của biến đổi khí hậu;

5 Đề xuất những chiến lược nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu

Trang 13

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là tác động của biến đổi khí hậu, mức độ nhận thức, khả năng ứng phó của ngư dân và người nuôi trồng thuỷ sản đối với các tác động của biến đổi khí hậu

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành với các ngư dân và người nuôi trồng thuỷ sản xung quanh Vịnh Nha Trang thuộc tỉnh Khánh Hòa Điều tra ngư dân

và người nuôi trồng thuỷ sản được tiến hành từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 4 năm

2014 và đánh giá thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra cho ngư dân và người nuôi trồng thuỷ sản là trong khoảng 05 năm

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia; điều tra khảo sát thực tế ngư dân và người nuôi trồng thuỷ sản xung quanh khu bảo tồn Vịnh Nha Trang Bản đồ khu vực nghiên cứu, kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cũng như dữ liệu lịch sử về độ lớn, mức độ thiệt hại do bão, lũ lụt, nước biển dâng,… được cung cấp bởi Sở Tài Nguyên và môi trường; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Khánh Hòa, Hội nông dân, Hội khuyến ngư Phường Vĩnh Nguyên, Phường Vĩnh Trường, Trưởng Cảng Vĩnh Trường, Trưởng Cảng Hòn Rớ và một

số tài liệu liên quan đến khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang

4.2 Phương pháp xử lý dữ liệu

- Chọn kịch bản BĐKH cho khu vực và ứng dụng phương pháp GIS: Sử dụng hệ

thông tin địa lý nhằm tích hợp các bản đồ hiện trạng kinh tế xã hội, đánh giá ảnh hưởng của BĐKH và trích lọc số liệu, phân tích xu thế diễn biến đặc trưng khí hậu chủ yếu trên khu vực nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp tài liệu: Thu thập tổng hợp các tài

liệu, số liệu đã có lên bản đồ và các bảng thống kê;

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Trang 14

nghiên cứu thực tế ở Khánh Hòa Kết quả và bộ dữ liệu của đề tài có thể giúp phát triển các nghiên cứu tiếp theo

Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu chỉ ra những thiệt hại gần đây nhất do biến đổi khí hậu gây ra cho ngư dân, người nuôi thuỷ sản xung quanh khu vực Vịnh Nha Trang và của người dân tỉnh Khánh Hòa nói chung Mặc dù con số thiệt hại chỉ được thống kê dựa trên 290 mẫu nhưng sẽ giúp hình dung về những tác động to lớn mà biến đổi khí hậu có thể gây

ra Phân tích hiệu quả chi phí mà nghiên cứu thực hiện trên một số dự án ứng phó biến đổi khí hậu có giá trị tư vấn cho các nhà quản trị khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang và

Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hoà, để giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hoà sử dụng hiệu quả hơn nguồn vốn ứng phó với biến đổi khí hậu Từ những nhận định này, chiến lược thích ứng tốt nhất được lựa chọn sẽ giúp cho các nhà quản trị khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang và Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hoà ứng phó tốt hơn với những rủi ro khí hậu xảy ra trong tương lai

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan lý thuyết

Chương 2: Khái quát khu vực nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 5: Một số giải pháp ứng phó với Biến đổi khí hậu

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1.1 Các khái niệm liên quan đến biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển,

sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo"

Môi trường trước đây

Môi trường hiện tại

“Biến đổi khí hậu là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên Nó ảnh hưởng đến hoạt động của các hệ thống kinh tế -

xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”.(Theo công ước chung của LHQ

về biến đổi khí hậu)

Trang 16

Tác động khí hậu được định nghĩa bởi IPCC TAR (The Intergovernmental Panel

on Climate Change - Third Assessment Report, 2001) là những hậu quả của BĐKH trên hệ thống tự nhiên và con người Tùy thuộc vào việc xem xét của sự thích ứng, ta

có thể phân biệt giữa tác động tiềm năng và tác động dư Tác động tiềm năng - tất cả những tác động có thể xảy ra do một sự thay đổi dự kiến của khí hậu, mà không xem xét thích ứng Tác động dư - các tác động của biến đổi khí hậu sẽ xảy ra sau khi thích ứng

Khả năng bị tổn thương được định nghĩa bởi IPCC TAR (2001) là mức độ mà

một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) dễ bị tác động, hoặc không thể đương đầu với những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu

Thích ứng được định nghĩa bởi IPCC TAR (2001) là sự điều chỉnh hệ thống tự

nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và biến đổi khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng

và tận dụng các cơ hội do nó mang lại Các loại khác nhau của thích ứng có thể phân biệt, bao gồm thích ứng lần đầu và thích ứng với sự tác động lại, thích ứng của cá nhân

và thích ứng của công cộng, thích ứng đột xuất và thích ứng theo kế hoạch Levina và Tirpak tìm thấy định nghĩa từ UNFCCC, UKCIP và UNDP

Khả năng thích ứng là khả năng của một hệ thống để thích ứng với biến đổi khí

hậu, để kiểm duyệt các thiệt hại tiềm năng, để tận dụng những lợi thế của cơ hội, hoặc

để đối phó với những hậu quả

Kịch bản biến đổi khí hậu là giả định có cơ sở khoa học và tính tin cậy về sự tiến

triển trong tương lai của các mối quan hệ giữa kinh tế xã hội, tổng thu nhập quốc nội, phát thải khí nhà kính, biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng Lưu ý rằng, kịch bản biến đổi khí hậu khác với dự báo thời tiết và dự báo khí hậu là nó đưa ra quan điểm về mối ràng buộc giữa phát triển và hành động (Kịch bản biến đổi khí hậu tỉnh Khánh Hoà, 2012)

Nước biển dâng là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó

không bao gồm triều cường, nước dâng do bão… Nước biển dâng tại một vị trí nào đó

có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác (Kịch bản biến đổi khí hậu tỉnh Khánh Hoà, 2012)

Trang 17

Nguyên nhân:

Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bề hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác Nhằm hạn chế sự biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế và ổn định sáu loại khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6

- CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển CO2 cũng sinh ra từ các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép

- CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than

- N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp

- HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC

- PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm

- SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê

Các biểu hiện của biến đổi khí hậu:

- Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung

- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên Trái đất

- Sự dâng cao mực nước biển do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển

- Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái

và hoạt động của con người

- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác

- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển

Trang 18

Một số hiện tượng của biến đổi khí hậu

Trang 19

- Các hệ sinh thái bị phá hủy - Mất đa dạng sinh học

- Những đợt nắng nóng gay gắt - Dịch bệnh

- Các núi băng đang tan chảy - Mực nước biển đang dâng lên

Nguồn:

http://enidc.com.vn/vn/Xu-huong-Tam-nhin/bien-doi-khi-hau/Bien-doi-khi-hau-la-gi.aspx

Trang 20

1.2 Chiến lược thích ứng và chiến lược giảm thiểu

Để giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu, hai cách tiếp cận đã được xác định để đối phó với nguyên nhân và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Sự giảm thiểu (Mitigation) tập trung vào việc giảm phát thải khí nhà kính trong khi sự thích ứng (Adaptation) lại tập trung vào giảm những thiệt hại tiềm năng do biến đổi khí hậu toàn cầu gây ra (Kariannede Bruin, 2011) Sự giảm thiểu được sử dụng để giảm những tác động tiềm năng của biến đổi khí hậu (hạn chế phát thải khí CO2) trong khi sự thích ứng được dùng để giảm những tổn thương xã hội do những tác động của biến đổi khí hậu (European Commission, 2010) Sự giảm thiểu tạo ra những lợi ích (toàn cầu) trong dài hạn (30 - 40 năm), sự thích ứng tạo ra những thích ứng trong ngắn và trung hạn Sự giảm thiểu được dùng cho tất cả các lĩnh vực ở tất cả các quốc gia, trong khi sự thích ứng chỉ dùng cho những lĩnh vực và quốc gia cụ thể (European Commission, 2010) Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào những chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu Sự thích ứng liên quan đến việc đưa ra các quyết định đầu tư để giảm thiểu những thiệt hại tiềm năng của biến đổi khí hậu và tận dụng những cơ hội mới Thông qua việc thực hiện các chiến lược thích ứng, khả năng thích ứng của hệ thống tăng lên

và mức độ nhạy cảm giảm đi, do đó làm giảm tính dễ tổn thương của xã hội do sự tác động của biến đổi khí hậu (Mastrandrea et al., 2010) Sự thích ứng được thực hiện theo quy mô không gian khác nhau và đòi hỏi phải có sự tích hợp nhiều phản ứng Thích ứng cũng có thể chia làm 2 loại: thích ứng cứng (Hard Adaptation) và thích ứng mềm (Soft Adaptation) (World Bank, 2009) Thích ứng cứng là chúng ta thực hiện các chiến lược thích ứng như: xây dựng khu vực neo đậu tàu thuyền tránh, trú bão… Còn thích ứng mềm là chúng ta thực hiện các chiến lược thích ứng như: áp dụng hệ thống cảnh báo, nâng cao nhận thức người dân, phát triển công nghệ Đại dương,… Người làm chính sách đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định thực hiện những chính sách tối ưu nhất nhằm giảm tính dễ tổn thương với biến đổi khí hậu (Klein et al, 2003) Theo IPCC, thách thức đối với người ra quyết định là “tìm ra một hành động thích hợp với hiện tại và có khả năng chống chọi với những yếu tố không chắc chắn trong dài hạn” (Klein et al, 2007) Trong điều kiện hạn chế về nguồn lực, đòi hỏi các nhà lập chính sách phải phân tích kinh tế các chiến lược thích ứng, từ đó chọn ra những chiến lược cấp thiết nhất để thực hiện phù hợp với mục tiêu đã xác định

Đánh giá những tác động của biến đổi khí hậu và những chi phí của sự thích ứng ở các nước đang phát triển đã nhận nhiều sự chú ý WorldBank (2009) đã lượng

Trang 21

giá chi phí của sự thích ứng với biến đổi khí hậu ở các nước đang phát triển và đã kết luận rằng “chi phí thích ứng với sự ấm lên khoảng 20C trên thế giới từ 2010 đến 2050

sẽ nằm trong khoảng từ 75 đến 100 tỷ USD mỗi năm

Tuy nhiên, vẫn có những dự đoán không chắc chắn về biến đổi khí hậu cũng như những tác động của nó, và chi phí và lợi ích của những biện pháp thích ứng/ giảm thiểu cũng không chắc chắn vì còn có những tác động tiềm ẩn sau khi đầu tư vào những chiến lược thích ứng/ giảm thiểu

1.3 Tổng quan các kết quả nghiên cứu về biến đổi khí hậu

Sơ đồ hiệu ứng nhà kính(Nguồn: http://www.masternewmedia.org)

Báo cáo đánh giá lần thứ 4 của Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu kết luận rằng “sự nóng lên của hệ thống khí hậu là rõ ràng”(IPCC, 2007b) đã xua tan sự không chắc chắn về BĐKH Trong báo cáo nghiên cứu “Biến đổi khí hậu: Quy trình, những đặc điểm và các nguy cơ” (Philippe Rekacewicz, 2005) cũng như báo cáo nghiên cứu “Biến đổi khí hậu: Những tác động, những tổn thương và sự thích ứng ở các quốc gia đang phát triển” được thực hiện bởi Công ước Khung Liên hợp quốc về BĐKH (United Nations Framework Convention on Climate Change - UNFCCC, 2007) đã thể hiện đầy đủ quy trình, đặc điểm và nguy cơ của biến đổi khí hậu Việc tăng đốt cháy nhiên liệu hóa thạch và thay đổi sử dụng đất đã và đang tiếp tục phát ra

Trang 22

và làm tăng số lượng các khí nhà kính vào bầu khí quyển của Trái đất Các khí nhà kính bao gồm khí carbonic (CO2), khí mêtan (CH4) và khí ôxit nitơ (N2O), và sự gia tăng những chất khí này là nguyên nhân làm gia tăng đáng kể lượng nhiệt từ mặt trời chiếu xuống bầu khí quyển của trái đất, điều mà lẽ ra trong điều kiện bình thường nó được bức xạ trở lại vào không gian Sự gia tăng nhiệt đã dẫn đến hiệu ứng nhà kính và hậu quả cuối cùng là biến đổi khí hậu Các bằng chứng khoa học chỉ ra thế giới của chúng ta đang trải qua những thay đổi khí hậu bất thường đã được xây dựng rất thuyết phục và nhanh chóng (IPCC, 2007a; CCSP, 2008b) Những đặc điểm chính của BĐKH là sự tăng lên của nhiệt độ trung bình toàn cầu (sự ấm lên toàn cầu); sự phân bố lượng mưa không đều, và tần suất mưa thay đổi, gây ra hiện tượng ngập lụt và hạn hán

ở một số nơi; sự tan chảy của các núi băng và sông băng và giảm lượng tuyết bao phủ;

và gia tăng nhiệt độ nước biển và tính axit đại dương do nước biển hấp thụ nhiệt và khí carbonic từ bầu khí quyển Và hiện tượng ấm lên toàn cầu và băng tan làm cho mực nước biển dâng Nước biển dâng lên cao, gây ra hiện tượng xâm nhập mặn nghiêm trọng Mực nước biển dâng kết hợp với biến đổi khí hậu xảy ra đột ngột làm cho hạn hán, bão, lũ lụt xảy ra bất thường với sức tàn phá chưa từng có gây thiệt hại nghiêm trọng đến đời sống kinh tế của người dân và giảm sút nghiêm trọng tính đa dạng sinh học trên trái đất

Biến đổi khí hậu đã, đang và sẽ gây ra nhiều tác động lên đời sống kinh tế, văn hóa xã hội Đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến những ảnh hưởng này, bao gồm: the IPCC Third Assessment Report (TAR), 2001; Bigio, 2003; McEvoy, 2007; Wibly, 2007; IPCC Fourth Assessment Report (AR4) 2007b; Huq & ctg, 2007; Alistair Hunt

và Paul Watkiss, 2007 Những tác động quan trọng nhất của biến đổi khí hậu được nhận dạng như sau:

- Những tác động của BĐKH đến nguồn nước sinh hoạt của người dân

- Những tác động của BĐKH đến hoạt động sản xuất nông nghiệp

- Những tác động của BĐKH đến hoạt động đánh bắt thủy sản

- Những tác động của BĐKH đến hoạt động nuôi trồng thủy sản

- Những tác động của BĐKH đến sức khỏe và di dân của người dân

- Những tác động của BĐKH đến thu nhập, đời sống của người dân và an sinh xã hội

- Những tác động của BĐKH đến cơ sở hạ tầng, các công trình kiến trúc công cộng

- Những tác động của BĐKH đến du lịch, hoạt động văn hóa, tinh thần của người dân

Trang 23

Theo báo cáo của Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC, 2007), phát thải khí nhà kính tiếp tục tăng lên và sự nóng lên toàn cầu làm trầm trọng hơn sự tác động của biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu sẽ có nhiều tác động tiêu cực và được thể hiện qua các hiện tượng như: sự gia tăng tần số của sóng nhiệt, tăng cường độ bão

và lũ lụt, nước biển dâng và sạt lở đất ven biển và sự xâm nhập mặn Mực nước biển dâng đặt ra một mối đe dọa đặc biệt lớn cho các nước có mật độ dân số lớn và hoạt động kinh tế ở khu vực ven biển Nước biển dâng sẽ làm tăng tính nhạy cảm của cộng đồng dân cư và hệ sinh thái ven biển do hiện tượng ngập lụt xảy ra thường xuyên của khu vực có địa hình thấp, sự tác động ngày càng nghiêm trọng của những trận lũ lụt, và sự gia tăng sạt lở đất ven biển và xâm nhập mặn (Mclean, 2001) Bờ biển sẽ rút lui hàng trăm mét, gây nên sự biến mất của các vùng đầm lầy Nguồn nước ngọt sẽ bị ảnh hưởng do sự nhiễm mặn của nước bề mặt và nguồn nước ngầm do nước biển Cuối cùng, nước biển dâng sẽ dẫn đến sự di dời của hàng triệu người dân, thiệt hại đáng kể tới tài sản và cơ sở hạ tầng và sự mất mát nghiêm trọng của các hệ sinh thái ven biển vào cuối thế kỷ 21 (Nicholls và Lowe, 2004)

Biến đổi khí hậu còn gây ra những thay đổi vật lý tác động đáng kể đến đặc tính sinh học các loài thông qua một loạt các hệ thống tự nhiên Ví dụ trên khắp Bắc Mỹ các loại cây thay lá và ra hoa sớm hơn, các loài chim, bướm, lưỡng cư và các loài động vật hoang dã khác sinh sản và di cư sớm hơn; các loài khác cũng đang di chuyển lên phía Bắc và khu vực cao hơn (Parmesan and Galbraith, 2004; Parmesan and Yohe, 2003; Root, et al 2003) Nhiệt độ nước biển trong các rạng san hô tăng lên ở miền Nam Florida, Caribbean, và các quần đảo Thái Bình Dương đã góp phần làm cho hiện tượng “tẩy trắng” san hô và bệnh dịch xảy ra nhanh chưa từng có (Donner, Knutson, Oppenheimer, 2006; Harvell, et al, 2007) Tần suất và cường độ bão tăng lên, nước biển dâng và xâm nhập mặn là những nguyên nhân dẫn tới sự suy giảm môi trường sống những vùng đất ngập nước ven biển từ bờ biển Đại Tây Dương đến vịnh Mexico (Janetos, et al 2008; Kennedy, et al 2002; Field, et al 2001) Các loài hải sản: cá hồi, các vược… trong vùng từ miền Bắc California đến phía Tây Bắc Thái Bình Dương đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng bởi thay đổi khí hậu gây ra sự nóng lên toàn cầu, tác động tiêu cực đến điều kiện môi trường sống trong suốt chu kỳ sống phức tạp của chúng (Glick và Martin, 2008; ISAB, 2007; Glick năm 2005; Mantua và Francis, 2004) Hệ thống rừng và đồng cỏ trên khắp phương Tây đã bị tổn hại nghiêm trọng bởi hạn hán, cháy rừng thảm khốc, dịch côn trùng, và các loài xâm hại gia tăng (NSTC,

Trang 24

2008; Ryan, et al, 2008; Fischlin, et al, 2007) Một số nghiên cứu cho rằng một số khu vực của Bắc Mỹ sẽ trải qua những thay đổi trong các quần xã sinh vật, theo đó các thành phần và chức năng của hệ sinh thái trong khu vực sẽ thay đổi (Fischlin, A., et al, 2007; Gonzalez, Neilson, và Drapek, 2005)

Các tác động sinh thái liên quan đến biến đổi khí hậu không tồn tại trong sự cô lập, mà kết hợp với nhau và làm trầm trọng thêm các áp lực khác trên các hệ thống tự nhiên Khoảng một nửa số hệ san hô trên thế giới bị “tẩy trắng” do nước biển ấm lên Tính axit ngày càng cao ở các đại dương cũng là một mối đe dọa đối với các hệ sinh thái biển về lâu dài Nếu nhiệt độ tăng lên 30C thì 20-30% các loài sinh vật trên đất liền có nguy cơ bị tuyệt chủng (United Nations Development program, 2007) Các mối

đe dọa hàng đầu đối với đa dạng sinh học bao gồm phá hủy môi trường sống, thay đổi quá trình sinh thái quan trọng như hỏa hoạn, sự lây lan của các loài có hại, và sự xuất hiện của các tác nhân gây bệnh mới và dịch bệnh (Wilcove, et al, 1998) Sức khỏe và khả năng phục hồi của nhiều hệ thống tự nhiên của chúng ta đã bị tổn hại nghiêm trọng bởi những căng thẳng “truyền thống” và những thay đổi trong khí hậu sẽ có ảnh hưởng làm tăng tác động của chúng, thường theo những cách không thể đoán trước Sự mất mát và phân mảnh môi trường sống tự nhiên do sự phát triển đường giao thông, các tòa nhà, và các trang trại là đặc biệt đáng lo ngại bởi vì nó cản trở khả năng di chuyển của các loài tới những vùng đất tốt để phù hợp với điều kiện khí hậu thuận lợi (Ibanez, et

al, 2006; Schneider, 2002; Myers, 1992) Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) kết luận trong báo cáo khoa học gần đây nhất rằng một triệu loài thực vật và động vật trên khắp thế giới có thể bị đe dọa tuyệt chủng từ nay đến năm 2050 nếu chúng ta không thực hiện các hoạt động có ý nghĩa để giải quyết vấn đề (IPCC, 2007b)

Trong báo cáo Cơ sở Khoa học Vật lý (the Physical Science Basis report) của IPCC cho thấy nhiệt độ trung bình của bề mặt trên toàn cầu tăng 0,74±0,180C trong giai đoạn 1906-2005 (Solomon et al, 2007) Và sự nóng lên toàn cầu chủ yếu là do con người phát thải những khí gây hiệu ứng nhà kính (chủ yếu là CO2), chính điều này làm trầm trọng thêm biến đổi khí hậu Trong thế kỷ qua, nồng độ khí carbonic trong khí quyển tăng lên rất nhanh, và nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng 0,74°C Theo các nhà khoa học, đây là xu hướng nóng lên lớn nhất và nhanh nhất mà họ có thể phân biệt trong lịch sử của Trái Đất Sự nóng lên toàn cầu đã diễn ra phức tạp trong vòng 25 năm qua, và 11 trong số 12 năm nóng nhất được ghi nhận đã xảy ra trong 12 năm qua Báo cáo của IPCC đưa ra dự báo chi tiết cho thế kỷ 21 và cho thấy rằng sự nóng lên

Trang 25

toàn cầu sẽ tiếp tục và đẩy nhanh Ước tính tốt nhất chỉ ra rằng, nhiệt độ trái đất có thể tăng thêm 3°C vào năm 2100 Ngay cả nếu các quốc gia giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, trái đất cũng sẽ tiếp tục ấm lên Dự đoán vào năm 2100 phạm vi tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu từ mức tối thiểu là 1,8°C đến tối đa 4°C

Thay đổi trong hệ thống khí hậu, như nước biển dâng toàn cầu, thay đổi chế độ mưa và các sự kiện cực đoan đã được quan sát trong thế kỷ qua Solomon và các cộng

sự đã chỉ ra mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng lên 1,8±0,5 mm mỗi năm từ

1960 đến 2003 và lượng mưa cũng đã thay đổi (Solomon et al 2007) Các nhà khoa học cũng quan sát thấy lượng mưa có xu hướng tăng mạnh trong thời gian dài ở các khu vực tại phía đông của Bắc và Nam Mỹ, Bắc Âu và khu vực miền bắc và miền trung châu Á từ 1900 đến 2005 Trong khi các khu vực ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới bị ảnh hưởng bởi hạn hán lâu hơn và dữ dội hơn từ năm 1970 Ngoài ra, họ quan sát thấy sự gia tăng các sự kiện cực đoan, chẳng hạn như những trận mưa lớn bất thường và mức độ nóng gay gắt diễn ra thường xuyên hơn trong vòng 50 năm qua (Solomon et al 2007)

Một số biện pháp cần được thực hiện để giảm thiểu những rủi ro trong cuộc sống hoặc thiệt hại để duy trì hoạt động kinh tế ở những vùng ven biển Đề xuất để duy trì hoạt động kinh tế và môi trường ở những khu vực ven biển và Kojima (2004) ước tính cần 115 tỷ USD để bảo vệ cơ sở hạ tầng tại cảng để chống chọi khi nước biển dâng 1,0 m ở Nhật

Ở các nước phát triển, như Canada, Hoa Kỳ, và Úc sự rút lui ven bờ biển cũng được coi là một vấn đề quan trọng vì vậy nó đã được nghiên cứu rất rộng rãi Các công trình nghiên cứu về hiện tượng này có thể được phân thành bốn chủ đề chính: (a) sự rút lui bờ biển , (b) đo lường những tác động và tính dễ tổn thương; (c) đánh giá các biện pháp bảo vệ và giảm nhẹ; và (d) phân tích chính sách và pháp lý Nội dung của nghiên cứu này tập trung vào các dạng thứ hai, thứ ba và thứ tư

1.3.2 Tổng quan các nghiên cứu về biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, Bộ TN&MT vẫn đang tiếp tục hoàn thiện các kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam cập nhật theo lộ trình Theo PGS.TS Trần Thục, Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, người chủ trì nhóm nghiên cứu xây dựng kịch bản cả 2 phiên bản, năm 2009 và hiện nay, cho biết, một số chỉ số khí hậu có xu hướng gia tăng so với kịch bản 2009 khi được chi tiết hóa cho các vùng

Trang 26

Theo PGS.TS Trần Thục, các chỉ số biến đổi khí hậu có xu hướng gia tăng Mức tăng nhiệt độ dao động trong phạm vi lớn hơn so với kịch bản năm 2009 Chẳng hạn, theo kịch bản phát thải trung bình, vào cuối thế kỷ 21, mức tăng nhiệt độ trung bình năm có thể tới 3,5oC ở các khu vực nhỏ thuộc Bắc Trung Bộ Theo kịch bản năm

2009, mức tăng chung cho vùng khí hậu này là 2,8oC vào năm 2100 Tương tự đối với mưa, lượng mưa mùa khô có thể giảm đến 30% vào năm 2100 ở một vài nơi thuộc Nam

Bộ, trong khi đó theo phiên bản năm 2009 thì trung bình cho toàn vùng chỉ giảm 18%

Theo các kịch bản BĐKH Khánh Hoà 2012, nước biển dâng cao nhất 32cm vào năm 2050 thì Thành phố Nha Trang có diện tích ngập 1,93km2 chiếm 0,76% Khánh Hoà là tỉnh ven biển nên các huyện ven biển bị ảnh hưởng nhiều nhất bao gồm huyện Vạn Ninh, Ninh Hòa, Thành phố Nha Trang, huyện Cam Lâm, Thành phố Cam Ranh, huyện Diên Khánh tuy nằm phía trong cách xa bờ biển nhưng có hệ thống sông rạch nối thông với bờ biển nên có một phần diện tích của huyện vẫn bị ngập, tuy nhiên, diện tích ngập không đáng kể Trong đó, huyện Ninh Hòa có diện tích ngập cao hơn,

kế tiếp là huyện Cam Lâm, 2 huyện này có diện tích ngập gần xấp xỉ bằng nhau So với 2 huyện Ninh Hòa, Cam Lâm thì Tp Cam Ranh, Vạn Ninh có diện tích ngập thấp hơn phân nửa dù ở bất kỳ các mốc nước biển dâng nào, thành phố Nha Trang nằm ven biển nhưng diện tích ngập gần như là thấp nhất so với các huyện khác Có thể thấy các mức dâng của nước biển theo thời gian không ảnh hưởng nhiều đến diện tích ngập, mức tăng diện tích của vùng ngập theo các mốc năm không tăng đột ngột vì địa hình vùng ven biển tỉnh Khánh Hòa cao hơn mực nước biển

Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 1994) đã xếp Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có nguy cơ tổn thương cao do tác động của hiện tượng biến đổi khí hậu và nước biển dâng Hiệp định khung về Biến đổi Khí hậu của Liên hiệp quốc (UNFCCC, 2003) đã dẫn chứng Thông báo Đầu tiên của Việt Nam về Biến đổi Khí hậu (SRV, MONRE 2003) cho biết trong suốt 30 năm vừa qua, mực nước quan trắc dọc theo bờ biển Việt Nam có dấu hiệu gia tăng, Bộ Tài nguyên và Môi trường ước tính đến năm

2050 mực nước biển sẽ gia tăng thêm 33 cm và đến năm 2100 sẽ tăng thêm 1 mét Với nguy cơ này, Việt Nam sẽ chịu tổn thất mỗi năm chừng 17 tỉ USD (chiếm 80% tổng sản phẩm nội địa GDP) Nhiều nghiên cứu của Viện Khoa học Khí tượng - Thuỷ văn

và Môi trường Viện Khoa học thuỷ lợi miền Nam đều có những nghiên cứu liên quan đến biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Nicholls và Lowe (2006) tính rằng khi mực nước biển dâng cao 40 cm, số nạn nhân của lũ trên thế giới hiện nay là 13 triệu người sẽ tăng lên 94 triệu người Khoảng

Trang 27

20% trong số họ sống ở vùng Đông Nam Á, trong đó vùng bị ảnh hưởng nặng nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Đồng bằng sông Hồng

Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc - UNDP (2007) đánh giá: “khi nước biển tăng lên 1 mét, Việt Nam sẽ mất 5% diện tích đất đai, 11% người dân mất nhà cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp (tương đương 5 triệu tấn lúa và 10% thu nhập quốc nội)

Dasgupta và các cộng sự (2007) đã công bố một nghiên cứu chính sách do Ngân hàng Thế giới (WB) xuất bản đã xếp Việt Nam nằm trong nhóm 5 quốc gia chịu ảnh hưởng cao nhất do biến đổi khí hậu Tại Việt Nam, hai đồng bằng sông Hồng và ĐBSCL chịu ảnh hưởng nặng nhất Khi nước biển dâng cao 1 mét, ước chừng 5,3% diện tích tự nhiên, 10,8% dân số, 10,2% GDP, 10,9% vùng đô thị, 7,2% diện tích nông nghiệp và 28,9% vùng đất thấp sẽ bị ảnh hưởng Rủi ro ở các khu vực chịu ảnh hưởng bao gồm hạn hán, lũ lụt sẽ gia tăng với các trận mưa có cường độ cao và các ngày hạn kéo dài (Peter và Greet, 2008) Hanh và Furukawa (2007) dựa vào những ghi nhận ở trạm đo thuỷ triều ở Việt Nam để kết luận về những bằng chứng của sự dâng lên của mực nước biển: trung bình mỗi năm mực nước biển ở Việt Nam đã tăng trong khoảng 1,75 – 2,56 mm/năm

Trong báo cáo “Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất lúa gạo ở Đồng bằng Sông Cửu Long” tại hội thảo Biến đổi khí hậu: Tác động, Thích ứng và Chính sách trong nông nghiệp tổ chức tại Quảng Trị tháng 4 năm 2011, TS Lê Anh Tuấn đã chỉ ra biến đổi khí hậu gây nhiều tổn thất trong sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương thực thế giới Mặc khác, biến đổi khí hậu cũng ảnh hưởng lớn đến nghề cá ở Việt Nam, đặc biệt là nghề cá có quy mô nhỏ ven bờ Nước biển dâng gây tổn hại đến hệ sinh thái rừng ngập mặn, làm cho xâm nhập mặn xảy ra trầm trọng hơn gây thiệt hại vô cùng lớn đến hoạt động nuôi trồng thủy sản quy mô nhỏ ven bờ, nhất là nuôi quảng canh Lượng mưa thay đổi, nhiệt độ thay đổi cũng gây thiệt hại nặng nề đến năng suất nuôi tôm (Cao Lệ Quyên, 2011) Báo cáo này còn cho biết các sản lượng đánh bắt thủy sản đánh bắt ven bờ biển miền Trung suy giảm rõ rệt

Lâm Thị Thu Sử và cộng sự (2010) đã công bố kết quả nghiên cứu với đề tài:

“Thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng lưu vực sông Hương, tỉnh Thừa Thiên Huế” Đề tài đã nêu được: (1) Các đặc điểm địa lý, kinh tế xã hội, sử dụng và quản lý tài nguyên nước ở lưu vực sông Hương; (2) Đưa ra các phương pháp nghiên cứu dựa vào cộng đồng; (3) Một số kết quả nghiên cứu về nhận thức của người dân về BĐKH,

sự thích ứng với BĐKH ở hiện tại và tương lai, các tác động có thể xảy ra do BĐKH

Trang 28

Các kết quả nghiên cứu được thực hiện ở 3 vùng địa hình khác nhau của lưu vực sông Hương là: xã Hương Lộc - huyện Nam Đông, phường Thủy Biều - thành phố Huế và

xã Hải Dương - huyện Hương Trà

Hiện nay, tại Việt Nam có nhiều đề tài nghiên cứu về biến đổi khí hậu được thực hiện dưới sự tài trợ của các tổ chức phi chính phủ trên thế giới Nổi bật là dự án

“Đẩy mạnh khả năng thích ứng với những tác động của biến đổi khí hậu lên nuôi trồng thủy sản quy mô nhỏ và nguồn lợi thủy sản ở khu vực Nam và Đông Nam Á” Dự án được triển khai ở bốn quốc gia: Việt Nam, Ấn Độ, Philippines và Sri Lanka Dự án nghiên cứu sự tác động của biến đổi khí hậu lên nuôi trồng thủy sản quy mô nhỏ là cá

da trơn và tôm sú

Ngoài ra, đề tài: Tác động của biến đổi khí hậu và phân tích kinh tế một số

chiến lược thích ứng tại tỉnh Bến Tre (2012), Hồ Xuân Hướng, Luận văn thạc sĩ, Đại

học Nha Trang Nghiên cứu này đã ước tính thiệt hại do biến đổi khí hậu tại tỉnh Bến Tre trong sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, nguồn nước chịu sự tác động nặng nhất do xâm nhập mặn và nước biển dâng Nghiên cứu cũng thực hiện đánh giá

cơ chế đối phó của hộ gia đình với các hiện tượng bão/lũ lụt, xâm nhập mặn, sạt lở đất và nước biển dâng và những lựa chọn thích ứng với sự thay đổi khí hậu trong tương lai dưới góc độ gia đình Phân tích kinh tế 2 chiến lược thích ứng với BĐKH tại tỉnh Bến Tre

Và đề tài: Tác động của biến đổi khí hậu và phân tích kinh tế một số chiến lược

thích ứng tại tỉnh Hậu Giang (2013), Nguyễn Thuỵ Thuỳ Lam, Luận văn thạc sĩ, Đại

học Nha Trang Nghiên cứu này cũng ước tính thiệt hại do biến đổi khí hậu tại tỉnh Hậu Giang trong sản xuất nông nghiệp và phân tích kinh tế 2 chiến lược thích ứng tại tỉnh hậu Giang

1.4 Phương pháp đánh giá tác động của BĐKH gồm 7 bước

Bước 1: Xác định các kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng

Bước 2: Xác định các kịch bản phát triển

Bước 3: Xác định các ngành và đối tượng ưu tiên và phạm vi đánh giá

Bước 4: Lựa chọn và phân tích các công cụ đánh giá tác động BĐKH

Bước 5: Đánh giá tác động do biến đổi khí hậu, nước biển dâng theo kịch bản:

- Đánh giá tác động đến môi trường tự nhiên

- Đánh giá tác động kinh tế xã hội Bước 6: Đánh giá mức độ rủi ro thiệt hại do các tác động của biến đổi khí hậu

Bước 7: Đánh giá khả năng thích ứng với các rủi ro và khả năng dễ bị tổn thương

Trang 29

CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT KHU VỰC NGHIÊN CỨU

2.1 Một số chỉ tiêu tổng quát cơ bản trong khu vực nghiên cứu

2.1.1 Đặc điểm kinh tế khu vực thành phố Nha Trang

Nha Trang là thành phố có nền kinh tế tương đối phát triển ở khu vực miền Trung Năm 2013, GDP bình quân đầu người của thành phố đạt 3.140 USD, tốc độ tăng trưởng kinh tế 7,53% với giá trị đạt 10.042 tỷ đồng Cơ cấu kinh tế chuyển đổi tích cực theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp Năm 2013, tỷ trọng công nghiệp-xây dựng chiếm 31,4%, du lịch-dịch vụ 63,24% và nông nghiệp là 5,36% Trong đó công nghiệp tăng 10,51%, dịch vụ tăng 13,3% so với năm 2012, Ngược lại ngành nông nghiệp tiếp tục suy giảm 12,46% do quá trình đô thị hóa khiến quỹ đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Là trung tâm kinh tế của tỉnh Khánh Hòa, Nha Trang có nhiều đóng góp đáng kể, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn Khánh Hòa Tuy diện tích chỉ chiếm 4,84%, Nha Trang chiếm đến hơn 1/3 dân

số và hơn 2/3 tổng sản phẩm nội địa của Khánh Hòa Ngoài ra Nha Trang cũng đóng góp 82,5% doanh thu du lịch-dịch vụ và 42,9% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh

Là trung tâm khai thác, chế biến thủy-hải sản lớn, sản lượng thủy-hải sản của thành phố cũng chiếm 52,67% tổng sản lượng toàn tỉnh (Nha Trang 2013 đạt 43.344

tấn/82.300 tấn của tỉnh Khánh Hoà)

Nguồn: “Liên hiệp các hội Khoa học và kỹ thuật Khánh Hòa” Lhhkh.org.vn Nguồn: Báo cáo kinh tế - Xã hội TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà 2012, 2013 2.1.2.Thương mại - Du lịch - Dịch vụ

Thương mại- Dịch vụ- Du lịch là ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng tạo động lực phát triển đô thị và mang lại vị thế quan trọng cho Nha Trang Đặc biệt các hoạt động du lịch, văn hóa, vui chơi giải trí phát triển đa dạng, phong phú, nhờ đó Nha Trang thu hút ngày càng nhiều du khách trong nước và quốc tế đến tham quan -nghỉ dưỡng Tổng mức bán lẻ hàng hóa năm 2013 ước đạt 19.282 tỷ đồng, tăng 13,3% so năm 2012

Khách sạn Vinpearl

Trang 30

Trong ngành Du lịch, toàn thành phố hiện có 455 khách sạn, với tổng số gần 10.000 phòng năm 2013, Nha Trang đón khoảng 2.852.000 lượt khách du lịch (tăng 31,68% so với năm 2012), trong đó 633.000 lượt khách quốc tế (tăng 19,38%), số ngày lưu trú bình quân của du khách là 2,09 ngày/khách; tổng doanh thu du lịch và dịch vụ ước đạt 29.822 tỷ đồng (tăng 11%), trong đó tổng doanh thu hoạt động du lịch đạt 3.141,721 tỷ, tăng 29,66% so với cùng kỳ 2012 Ngành du lịch cũng thu hút khoảng gần 10.000 lao động trực tiếp

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn toàn tỉnh ước đạt 1.044 triệu USD (Nghị quyết HĐND tỉnh là 800 triệu USD), tăng 30% so với kế hoạch, giảm 9,45% so với năm

2012 chủ yếu do giảm số tàu biển của Công ty Huyndai Vinashin; một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu như: thủy sản các loại, cà phê, hạt điều, tàu biển,…

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn ước đạt 425 triệu USD (Nghị quyết HĐND tỉnh là 500 triệu USD) bằng 85% kế hoạch, giảm 32,3% so với năm 2012 chủ yếu

do Công ty Huyndai Vinashin thiếu đơn đặt hàng nên không nhập nguyên liệu, thiết bị đóng tàu Hàng hóa nhập khẩu chủ yếu là nguyên phụ liệu thuốc lá, máy móc thiết bị phụ tùng, bột mì, giấy các loại,…

Chỉ số giá cả hàng hóa dịch vụ trên thị trường những tháng cuối năm có xu hướng tăng nhẹ, ước chỉ số giá tiêu dùng năm 2013 so với năm 2012 tăng khoảng 5,82%

Nguồn: Liên hiệp các hội Khoa học và kỹ thuật Khánh Hòa” Lhhkh.org.vn 2.1.3 Công nghiệp

Công nghiệp cũng là một ngành kinh tế quan trọng của thành phố Năm 2013, Nha Trang có khoảng 1.694 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, trong đó doanh nghiệp nhà nước là 12 cơ sở, tập thể 06 cơ sở, tư nhân hỗn hợp 400 cơ sở, cá thể 1.269

cơ sở và 9 cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài Năm 2013 giá trị sản xuất công nghiệp đạt 9.526 tỷ đồng, tăng 10,51% so với 2012 Chế biến thủy sản là ngành công nghiệp thế mạnh của Nha Trang, tạo ra nhiều việc làm và đạt kim ngạch xuất khẩu cao Trên địa bàn thành phố có 35 xưởng chế biến thủy sản xuất khẩu, trong đó 18 xưởng chế biến đông lạnh, 3 phân xưởng chế biến đồ hộp và 13 cơ sở chế biến thủy sản khô

Nguồn: Sở Công Thương Khánh Hoà, 2013

2.1.4 Nông - Lâm - Ngư nghiệp

Sản xuất nông, lâm nghiệp không phải là thế mạnh của thành phố, chủ yếu tập trung tại 6 xã phía Tây Ngành nông nghiệp đang trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng tập trung trồng hoa, cây cảnh, rau thực phẩm cao cấp tạo được hàng hóa phục vụ cho tiêu thụ của dân cư và du khách, đồng thời cải thiện môi trường

Trang 31

và trang trí cảnh quan đô thị Công tác bảo vệ rừng cũng được thực hiện hiệu quả Diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng hiện nay là 2358,9 ha, vào thời điểm cuối năm

2013 độ che phủ rừng của thành phố đạt 11% Thảm thực vật rừng Nha Trang đang được phục hồi xanh trở lại, góp phần tạo phong cảnh Nha Trang xanh sạch đẹp Đặc biệt là dự án trồng phục hồi cây Dó trầm, loài cây đặc sản của Khánh Hòa Công tác trồng rừng 2013 triển khai ở Vĩnh Lương, Vĩnh Trung, Phước Đồng đến nay đã thực hiện được 27.100/30.000 cây, đạt 90,33%

Nghề nuôi cá lồng trên biển Ngược lại, khai thác Thủy sản có xu hướng rất phát triển nhằm phục vụ cho các ngành công nghiệp chế biến và du lịch, ngư dân tập trung chủ yếu ở các phường Vĩnh Nguyên, Vĩnh Trường, Vĩnh Thọ và 2 xã Phước Đồng, Vĩnh Lương Tổng sản lượng thủy sản năm 2013 đạt 43.344 tấn đạt 89,19%, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước Trong đó sản lượng khai thác đạt 42.992 tấn, sản lượng nuôi 352 tấn, đạt 58,67%, bằng 93.62% so với cùng kỳ Khai thác và đánh bắt xa bờ được khuyến khích đầu tư phát triển Toàn thành phố hiện có 3.140 tàu thuyền với tổng công suất 166.000 CV, trong

đó tàu thuyền có công suất lớn (≥ 90CV) đủ điều kiện khai thác xa bờ là 471 chiếc với 85.000 CV Tuy nhiên tàu nhỏ khai thác ven bờ (< 90CV) vẫn còn chiếm tỷ lệ khá cao 2.669 chiếc

Thành phố đã hoàn thành dự án quy hoạch chi tiết nuôi trồng thủy sản vịnh Nha Trang tại 5 khu vực: Bích Đầm, Đầm Bấy, Vũng Ngán (đều thuộc Hòn Tre), Hòn Một và Hòn Miễu Diện tích nuôi trồng thủy sản có chiều hướng giảm do thực hiện các

dự án di dời lồng bè ra khỏi Vịnh Nha Trang để tập trung phát triển Du lịch Sản lượng tôm nuôi năm 2013 cũng giảm đáng kể do khí hậu thay đổi, nắng nóng, mưa thất thường, tôm bệnh và chết hàng loạt Nghề nuôi cá lồng trên biển bước đầu góp phần

Trang 32

tăng thu nhập cho ngư dân nhưng hiện nay số lồng nuôi cũng giảm nhiều 22% (5.585/7161 ô lồng), nguyên nhân do nuôi không hiệu quả, chi phí đầu vào cao, giá tôm, cá thương phẩm thấp, hộ nuôi lãi ít hoặc thua lỗ

2.1.5 Hệ thống giao thông

Thành phố có nhiều bến cảng phục vụ cho nhu cầu đi lại bằng đường thủy Trong đó cảng Nha trang là một cảng biển tương đối lớn nằm trong vịnh Nha Trang với độ sâu trước bến -11,8m, có khả năng tiếp nhận tàu hàng có trọng tải lớn đến 20.000 DWT và tàu khách du lịch cỡ lớn Cảng được sử dụng như một cảng đa chức năng phục vụ vận chuyển hành khách và hàng hóa, là đầu mối vận chuyển hàng hóa và hành khách quan trọng bằng đường biển của thành phố Nha trang, tỉnh Khánh Hoà nói riêng và khu vực Nam Trung Bộ nói chung Các cảng nhỏ khác bao gồm cảng Hải Quân: phục vụ học tập cho Học viện Hải Quân và huyện đảo Trường Sa Cảng cá Hòn

Rớ phục vụ cho ngành khai thác thủy sản và chợ hải sản đầu mối Nam Trung Bộ Ngoài ra, Nha Trang còn có một số cảng phục vụ du lịch như cảng du lịch Cầu Đá, cảng du lịch Phú Quý, cảng du lịch Hòn Tre,…

Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội Thành phố Nha Trang 2013 , tỉnh Khánh Hoà 2013 –

Sở NN &PTNT, Sở công thương, Cục thống kê tỉnh Khánh Hoà 2013

2.2 Đặc điểm địa lý khu vực nghiên cứu

2.2.1 Vị trí địa lý khu vực Vịnh Nha Trang:

Bãi biển Nha Trang Vịnh Nha Trang có diện tích khoảng 507 km² bao gồm 19 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó Hòn Tre là đảo lớn nhất, với diện tích 3.250 ha; đảo nhỏ nhất là Hòn Nọc chỉ khoảng 4 ha Vịnh có khí hậu hai mùa rõ rệt Mùa khô kéo dài từ tháng giêng đến tháng

8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12; nhiệt độ bình quân hàng năm là 26⁰C; nóng nhất 39⁰C, lạnh nhất 14,4⁰C Về mặt sinh thái, vịnh Nha Trang là một trong những hình

Trang 33

mẫu tự nhiên hiếm có của hệ thống vũng, vịnh trên thế giới bởi nó có hầu hết các hệ sinh thái điển hình, quý hiếm của vùng biển nhiệt đới Đó là hệ sinh thái đất ngập nước, rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, hệ sinh thái cửa sông, hệ sinh thái đảo biển,

hệ sinh thái bãi cát ven bờ Đặc biệt khu vực Hòn Mun của Vịnh Nha Trang có đa dạng sinh học cao nhất với 350 loài rạn san hô chiếm 40% san hô trên thế giới Trong

số các đảo trong vịnh có nhiều đảo là các thắng cảnh nổi tiếng như:

- Hòn Mun là một đảo nhỏ trong Vịnh, sở dĩ có tên là "Hòn Mun" vì phía đông nam của đảo có những mỏm đá nhô cao, vách dựng hiểm trở tạo thành hang động, đặc biệt đá ở đây đen tuyền như gỗ mun, rất hiếm thấy ở những nơi khác Kết quả khảo sát

đa dạng sinh học Khu bảo tồn biển cho thấy Hòn Mun là nơi có rạn san hô phong phú

và đa dạng nhất Việt Nam người ta cũng đã tìm thấy 340 trong tổng số hơn 800 loài san hô cứng trên thế giới Từ năm 2001, Khu bảo tồn biển Hòn Mun ra đời bao gồm các đảo như Hòn Tre, Hòn Miễu, Hòn Tằm, Hòn Một, Hòn Mun, Hòn Cau, Hòn Vung, Hòn Rơm, Hòn Nọc và vùng nước xung quanh Diện tích khoảng 160km2 bao gồm khoảng 38 km2 mặt đất và khoảng 122 km2 vùng nước xung quanh các đảo Đây là khu bảo tồn biển duy nhất tại Việt Nam hiện nay

- Hòn Miễu (còn gọi đảo Bồng Nguyên) nơi có Thủy Cung Trí Nguyên với những sinh vật biển kỳ lạ Cách hồ là bãi sỏi đủ màu, đủ dáng, trải thành từng lớp trên

bờ thay cho cát trắng

Hòn Tằm

- Hòn Tằm một điểm du lịch sinh thái biển đảo hấp dẫn, nơi đây vẫn còn lưu lại

vẻ hoang sơ của thiên nhiên với thảm rừng nhiệt đới xanh mướt, bờ cát dài lãng mạn Phía sau đảo này có một hang đá rất đặc biệt, kỳ bí mới được ngành du lịch phát hiện

và đưa vào khai thác Đó là Hang Dơi, nơi có rất nhiều đàn dơi cư trú trên những vách

đá cheo leo ở độ cao 60m Đảo được đầu tư phát triển nhiều loại hình thể thao bãi biển như dù bay, bóng chuyền bãi biển, đua xuồng Kayak, leo núi,…

Trang 34

Cáp treo nối đất liền với đảo Vinpearl, là tuyến cáp treo vượt biển dài nhất thế giới

- Hòn Tre đảo lớn nhất trong vịnh Nha Trang với diện tích trên 32.5 km², nằm cách trung tâm thành phố Nha Trang khoảng 5 km về phía Đông, cách cảng Cầu

Đá 3,5 km vị trí tương đối biệt lập, có bãi tắm thiên nhiên đẹp vào bậc nhất Việt Nam, thảm thực vật trong khu vực còn nguyên sơ, khí hậu ôn hoà, ít gió bão, rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng biển Khu vực quy hoạch đảo bao gồm 2 khu vực chức năng: Khu Vũng Me - Bãi Trũ - Đầm Già - Bãi Rạn được quy hoạch hướng tới một quần thể các dự án du lịch cao cấp bao gồm 7 dự án hiện có: Khu

du lịch Con sẻ tre, Vinpearl resort & spa, Khu du lịch sinh thái và Thế giới nước Vinpearl, Công viên văn hóa Vinpearl, Công viên văn hóa Hòn Tre, Khu du lịch sinh thái Bãi Sỏi, Khu biệt thự và sân golf Vinpearl, giao thông đối ngoại của phân khu chủ yếu thông qua 2 cảng du lịch tại Vũng Me và tuyến cáp treo Vinpear Khu Đầm Bấy được quy hoạch theo mô hình khu du lịch cộng đồng bao gồm khu vực dự án Khu

du lịch thế giới biển và dự án Làng du lịch sinh thái Đầm Bấy

- Hòn Chồng-Hòn Vợ gồm 2 cụm đá lớn nằm bên bờ biển dưới chân đồi Lasan Dưới chân đồi là bãi đá ngổn ngang có thể là do sự xâm thực của thủy triều lên ngọn đồi này Cụm đá lớn ở ngoài biển gọi là Hòn Chồng, gồm một khối đá lớn vuông vức nằm trên một tảng đá bằng phẳng và rộng hơn, phía mặt đá quay ra biển có một vết lõm hình bàn tay rất lớn Cụm đá thứ hai có hình dáng một người phụ nữ ngồi trông

ra biển - được đặt một cái tên có ý nghĩa gần gũi với Hòn Chồng - đó là Hòn Vợ, cụm

đá này ít được du khách để ý hơn

- Đảo yến: Đây không phải là tên riêng của một đảo nào, mà cứ đảo nào có yến làm tổ thì gọi vậy Nhưng trong 19 hòn đảo ở Vịnh Nha Trang thì Hòn Nội và Hòn Ngoại là nơi có nhiều yến nhất Hòn Nội là đảo nằm phía trong, còn Hòn Ngoại nằm phía ngoài Hòn Nội có bãi tắm đôi (có hai bờ biển một mặt hướng ra Vịnh Nha Trang

Trang 35

mặt còn lại hướng vào một vũng lớn bị cô lập trong đảo mùa nước lên, nước sẽ tràn qua doi cát vào vũng) với cát trắng rất đẹp nhưng ít dùng cho du lịch mà hoạt động chủ yếu trên đảo là khai thác Yến sào

Chạy dọc theo bờ biển Vịnh Nha Trang dài khoảng 7 km, trải dài từ xóm Cồn đến cảng Cầu Đá là đoạn đường Trần Phú con đường đẹp nhất Nha Trang nằm lượn theo bờ biển với rất nhiều ngôi biệt thự xinh xắn, những khách sạn cao cấp, nhà hàng sang trọng nối liền nhau Xen vào đó là một hệ thống dịch vụ gồm bưu điện, nhà bảo tàng, thư viện, câu lạc bộ, các cửa hàng bán đồ lưu niệm

2.2.2 Đặc điểm địa hình

Địa hình Nha Trang khá phức tạp có độ cao trải dài từ 0 đến 900 m so với mặt nước biển được chia thành 3 vùng địa hình Vùng đồng bằng duyên hải và ven sông Cái có diện tích khoảng 81,3 km², chiếm 32,33% diện tích toàn thành phố; vùng chuyển tiếp và các đồi thấp có độ dốc từ 3⁰ đến 15⁰ chủ yếu nằm ở phía Tây và Đông Nam hoặc trên các đảo nhỏ chiếm 36,24% diện tích, vùng núi có địa hình dốc trên 15⁰ phân bố ở hai đầu Bắc-Nam thành phố, trên đảo Hòn Tre và một số đảo đá chiếm 31,43% diện tích toàn thành phố

2.2.3 Đặc điểm thuỷ văn

Thành phố có nhiều sông suối tập trung ở 2 hệ thống sông chính là sông Cái Nha Trang và sông Quán Trường

Sông Cái Nha Trang (còn có tên gọi là sông Phú Lộc, sông Cù) có chiều dài

75 km, bắt nguồn từ đỉnh Chư Tgo cao 1.475 m, chảy qua các huyện Khánh Vĩnh, Diên Khánh và thành phố Nha Trang rồi đổ ra biển ở Cửa Lớn (Đại Cù Huân) Đoạn hạ lưu thuộc địa phận Nha Trang có chiều dài khoảng 10 km Sông là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất công-nông nghiệp, du lịch-dịch vụ và sinh hoạt dân cư cho thành phố và các huyện lân cận

Sông Quán Trường (hay Quán Tường) là 1 hệ thống sông nhỏ có chiều dài khoảng 15 km, chảy qua địa phận các xã Vĩnh Trung, Vĩnh Hiệp, Vĩnh Thái, Phước Đồng và 3 phường Phước Long, Phước Hải, Vĩnh Trường rồi đổ ra Cửa Bé Sông chia thành 2 nhánh: nhánh phía Đông (nhánh chính) có chiều dài 9 km và nhánh phía Tây (còn gọi là sông Tắc) dài 6 km

Thủy triều vùng biển Nha Trang thuộc dạng nhật triều không đều, biên độ trung bình lớn nhất từ 1,4 - 3,4 m Độ mặn biến thiên theo mùa từ 1 - 3,6%

Trang 36

2.2.4 Đặc điểm khí hậu

Nha Trang có khí hậu nhiệt đới xavan chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương Khí hậu Nha Trang tương đối ôn hòa, nhiệt độ trung bình năm là 26,3⁰C Có mùa đông ít lạnh và mùa khô kéo dài Mùa mưa lệch về mùa đông bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào tháng 12 dương lịch, lượng mưa chiếm gần 80% lượng mưa cả năm (1.025 mm) Khoảng 10 đến 20% số năm mùa mưa bắt đầu từ tháng 7, 8 và kết thúc sớm vào tháng 11 So với các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ, Nha Trang là vùng có điều kiện khí hậu thời tiết khá thuận lợi để khai thác du lịch hầu như quanh năm Những đặc trưng chủ yếu của khí hậu Nha Trang là: nhiệt độ ôn hòa quanh năm (25⁰C

- 26⁰C), tổng tích ôn lớn (> 9.5000C), sự phân mùa khá rõ rệt (mùa mưa và mùa khô)

và ít bị ảnh hưởng của bão

Nguồn: ttp://local.msn.com/worldweather.aspx?eid=23280&q=Nha%20Trang-VNM

2.3 Đặc điểm kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

Khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang (trước đây là KBTB Hòn Mun) được thành lập năm 2001 với sự phối hợp của Bộ thủy sản Việt Nam (nay là Bộ Nông nghiệp

và phát triển nông thôn), UBND tỉnh Khánh Hòa và Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới IUCN phối hợp thực hiện Khu bảo tồn biển nằm trong vịnh Nha Trang

Vịnh Nha Trang nằm trong khu vực biển Việt Nam có hiện tượng nước trồi vào mùa gió Tây Nam từ tháng 5 tới tháng 9 làm cho nguồn dinh dưỡng trong môi trường nước tăng lên tạo nguồn thức ăn đa dạng cho các thủy sinh vật

2.3.1 Thành phần và sự phân bố dân cư trong khu vực Vịnh Nha Trang

Vịnh Nha Trang có 9 đảo, với 5 khóm đảo có dân cư sinh sống trên 3 đảo lớn là: Bích Đầm, Đầm Bấy và Vũng Ngán nằm trên đảo Hòn Tre; Hòn Một nằm trên đảo Hòn Một; Trí Nguyên nằm trên đảo Hòn Miễu Tổng số dân trên đảo khoảng 5.600 người với khoảng 982 hộ dân, tỉ lệ phân bố nam và nữ tương đối cân bằng nhau Dân cư phân bố không đồng đều giữa các khóm đảo (khóm ít nhất là Đầm Bấy 36 hộ dân, khóm đông dân nhất là Trí Nguyên 580 hộ) Số nhân khẩu trung bình trong mỗi hộ không cao khoảng 5 người trên mỗi hộ

Nguồn: Hội nông dân Phường Vĩnh Nguyên, báo cáo năm 2013

2.3.2 Sự phân bố hoạt động kinh tế

Hoạt động kinh tế chính ở các khóm đảo trong khu bảo tồn biển Vịnh Nha trang

là khai thác thủy sản, 80% hoạt động sinh kế chính trong gia đình là khai thác thủy sản

Trang 37

Phần lớn các hộ ngư dân này không làm thêm kinh tế phụ nên thu nhập rất dễ bị ảnh hưởng bởi kết quả của hoạt động đánh bắt cũng như việc phân vùng khai thác trong khu vực Nuôi trồng thủy sản trong vịnh Nha Trang đã bắt đầu từ cuối thập niên

80 Khoảng 30% số hộ gia đình nuôi trồng thủy sản, đối tượng nuôi ban đầu chủ yếu là

cá mú, cá hồng sau đó là tôm hùm Số lượng lồng nuôi hải sản trong vịnh Nha Trang tăng lên rất nhanh đến khoảng năm 2007 nhưng sau giảm đáng kể từ khoảng cuối 2007

do nguồn bệnh làm chết tôm hùm nuôi Nghề nuôi trồng thủy sản đã góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo cho cộng đồng dân cư các khóm đảo trong vịnh Ngoài ra, có sự phối hợp hỗ trợ từ dự án KBTB và các tổ chức, chính quyền ủy ban nhân dân phường Vĩnh Nguyên trong suốt thời gian từ năm 2001 tới nay với các hoạt động tạo sinh kế phụ, cho vay vốn làm kinh tế hay đào tạo nghề cho con em trong khóm đảo (lựa chọn con em trong khóm đảo đi đào tạo nghề ở trường Hoa Sữa) Một số hoạt động sinh kế phụ đã mang lại hiệu quả cho ngư dân khóm đảo như làm mành ốc ở khóm đảo Bích Đầm, bơi thuyền du lịch ở Hòn Một, đan lưới thể thao ở Trí Nguyên, nuôi trồng thủy sản ở các khóm đảo Vũng Ngán, Hòn Một, Trí Nguyên, chăn nuôi ở Đầm Bấy Sau khi KBTB được thành lập hoạt động du lịch biển tại KBTB Nha Trang đã và đang tạo ra những tác động tích cực đến đời sống của một số nhóm cộng đồng dân cư, nhất là nhóm cộng đồng sống bên trong vịnh Các nhóm chuyên chở khách du lịch bằng thuyền thúng đáy kính tại Hòn Một và Trí Nguyên là một ví dụ cụ thể Thành viên thuộc các nhóm này đã được tập huấn về cách thức hoạt động, kỹ năng cơ bản trong giao tiếp… Đặc biệt là với sự hỗ trợ về mặt pháp lý của chính quyền địa phương, cụ thể là Ủy ban Nhân dân phường Vĩnh Nguyên, và của Ban quản lý khu BTB vịnh Nha Trang về các trang thiết bị cần thiết để phục vụ khách du lịch Các hoạt động này đã tạo ra các cơ hội việc làm, tăng thu nhập cho hộ gia đình vốn bị ảnh hưởng bởi việc hình thành khu bảo tồn biển, đồng thời nó cũng hỗ trợ làm giảm áp lực khai thác và sự phụ thuộc của con người vào tài nguyên biển giúp bảo vệ các tài nguyên này tốt hơn

Nguồn: Hội nông dân Phường Vĩnh Nguyên, báo cáo năm 2013

Trang 38

2.4 Hiện trạng môi trường và đa dạng sinh học trong KBTB Vịnh Nha Trang

2.4.1 Hiện trạng môi trường

Phát triển du lịch biển tại vịnh Nha Trang cũng đã tạo ra một số tác động tiêu cực, đặc biệt vấn đề rác thải và chất thải/nước thải từ con người Vấn đề nhận thức

và hành vi đối với rác thải của khách du lịch trong một chừng mực nào đó còn hạn chế

đã tạo ra ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường biển, nhất là rác thải là vỏ lon nước ngọt/nước giải khát, bia và túi ny-lon mà phải mất thời gian rất lâu qua nhiều thế hệ mới bị phân hủy Vấn đề nữa là chất thải và nước thải từ con người chủ yếu

là người dân sống trên các đảo và một số ít từ khách du lịch Vấn đề người dân tự xây nhà vệ sinh cá nhân và một số được sự hỗ trợ của BQL là một nỗ lực rất lớn đáng được ghi nhận và nhân rộng Điều đó đã và đang góp phần làm môi trường sinh hoạt và du lịch trở nên vệ sinh và văn hóa hơn, giúp thu hút khách du lịch hơn Diện tích đất sử dụng cho các công trình công cộng vốn đã hẹp cũng là một vấn đề khó khăn cho BQL vịnh và chính quyền địa phương Tuy nhiên, việc lắp đặt một số nhà vệ sinh sinh thái trên đảo, nhất là ở Trí Nguyên là một nỗ lực rất lớn từ BQL vịnh và Ủy ban Nhân phường Vĩnh Nguyên

Các số liệu quan trắc chất lượng nước biển ven bờ vịnh Nha Trang trong 5 năm (2009 đến 2013) cho thấy chất lượng môi trường nước ven bờ vịnh Nha Trang ngày càng được cải thiện Hầu hết, các thông số ô nhiễm đều có xu thế ngày giảm Đặc biệt là hàm lượng chất rắn lơ lửng , coliform có xu thế giảm dần qua các năm Ngoại trừ, thông số dầu mỡ khoáng trong nước biển có xu thế gia tăng

Nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường ngày càng được nâng cao Các biện pháp quản lý đã được các cơ quan liên quan, chính quyền thành phố Nha Trang thực thi như quy hoạch nuôi trồng thủy sản hợp lý, nuôi các loài thủy sản thân thiện với môi trường, đầu tư cơ sở hạ tầng vật chất trên các khóm đảo có khu dân cư, các khu du lịch trên đảo đã đầu tư xử lý nước thải, chất thải trước khi thải ra môi trường, đã triển khai các hoạt động thu gom rác thải từ lồng bè nuôi thủy sản, tại các khu dân cư và khu du lịch trên các đảo đưa về thành phố Nha Trang, quy định các tàu thuyền du lịch phải có các hoạt động thu gom rác thải, nước thải hợp vệ sinh….Tất cả những điều đó đã giúp cho chất lượng môi trường nước trong Vịnh Nha Trang ngày càng được cải thiện Tuy nhiên, các hoạt động du lịch trên các tuyến đảo trong Vịnh Nha Trang đã làm gia tăng số lượng tàu thuyền tham gia vào hoạt động vận chuyển du khách cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng hàm lượng dầu

Trang 39

mỡ khoáng trong nước Số liệu quan trắc nhiều năm cho thấy sự gia tăng hàm lượng dầu mỡ khoáng trong nước theo thời gian (khu vực bãi tắm)

2.4.2 Hiện trạng đa dạng sinh học

Sự đa dạng thủy sinh vật trong khu bảo tồn vịnh Nha Trang bao gồm đa dạng

về phiêu sinh thực vật với 316 loài rong tảo, trong đó có 48% số loài đặc trưng của vùng biển nhiệt đới, 28% số loài có ở hầu hết các vùng biển thế giới, số còn lại tìm thấy hoặc ở vùng Bắc bán cầu hoặc Nam bán cầu, từ dải nhiệt đới cho tới các cực Về

đa dạng phiêu sinh động vật, theo kết quả nghiên cứu của Poliacova và cộng sự cho thấy ở Vịnh Nha Trang có khoảng 100 loài phiêu sinh động vật Về khu

hệ sinh vật đáy, đã xác định được 441 loài động vật không xương sống (trong đó 83 loài mới được ghi nhận tại ven biển Việt Nam, 128 loài mới tại khu vực vịnh), có 21 loài tôm, 17 loài cua, 70 loài hải tiêu (Gielenkov, 1992; Varonova, 1994 Trích theo Trần Công Huấn, 2009) Động vật nhuyễn thể có 298 loài chân bụng và 14 loài hai mảnh vỏ (Gogolev, 1994 Trích theo Trần Công Huấn, 2009) Đã phát hiện được 62 loài cá thuộc 23 họ sống trong vùng đáy cứng và vùng giáp đáy mềm; ngoài ra, cũng

đã xác định được những quần xã đáy mềm và quần xã động vật sống hợp quần với san

hô, với hải sâm, với sao biển và hải quỳ lớn Tại vịnh Nha Trang đã xác định được hai dạng quần xã san hô là Acropora – Motipora, chiếm trên 40%, quần xã Motipora – Alcyonaria chiếm 10-51% với trên 30 loài (Latipov & Dautova, 2004 Trích theo Trần Công Huấn, 2009) Về đa dạng khu hệ cá trong vịnh, theo kết quả nghiên cứu nhiều năm của các nhà khoa học đã xác định vịnh Nha Trang hiện có hơn 300 loài cá, trong

đó có trên 60 loài lần đầu tiên ghi nhận tại vùng biển Việt Nam và có 15 loài mới đối với khoa học Thường gặp nhất là đại diện các họ Engraulidae, Carangidae, Scombridae Trong các rạn san hô Vịnh Nha Trang ghi nhận được 32 loài cá bướm (Chaetodonidae), trong đó có 17 loài mới được phát hiện tại vịnh Nha Trang

Vịnh Nha Trang là vùng biển đa dạng về quần cư, trong đó chủ yếu là các rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn…đã tạo nên tính đa dạng sinh học cao cho Vịnh Nha Trang Hiện đã ghi nhận được 350 loài san hô tạo rạn, trong đó có 40 loài mới được ghi nhận gần đây, 222 loài cá rạn san hô, 120 loài thân mềm, 70 loài giáp xác, 30 loài da gai, 248 loài rong, và 7 loài cỏ biển đã được xác định Nguồn lợi thủy sản chính của vịnh Nha Trang bao gồm cá, giáp xác, thân mềm, rong biển, trong

đó chủ yếu là nguồn lợi cá biển Theo số liệu thống kê của Viện Hải Dương Học, vùng biển Nha Trang có khoảng hơn 600 loài thủy sản khác nhau, trong đó có trên 50 loài

Trang 40

có giá trị kinh tế Trữ lượng thủy sản ở Vịnh Nha Trang chiếm khoảng 30% trữ lượng thủy sản tỉnh Khánh Hòa, khoảng 35.000 tấn/120.000 tấn, trong đó chủ yếu là cá nổi chiếm 70% bao gồm cá nổi lớn như cá Thu, cá Ngừ, cá Bạc Má, cá Nhám; cá nổi nhỏ như cá Cơm, cá Trích, cá Nục, cá Chuồn, cá Chỉ Vàng… Cá đáy tuy sản lượng không lớn chỉ chiếm khoảng 30% nhưng có nhiều loài có giá trị xuất khẩu như cá Mú,

cá Đổng, cá Mối, cá Hố…

Ngoài cá biển, còn có các loại thân mềm, giáp xác, da gai Thân Mềm gồm có Bào Ngư, Ốc Đụn, Mực Nang, Mực Lá, Mực Ống Hiện nay, số lượng Bào Ngư còn lại rất ít Giáp xác gồm Tôm Bạc, Tôm gân, Tôm sú, Tôm rảo, Cua xanh, Ghẹ nhàn, tôm hùm Da Gai gồm Nhum sọ và các loài Hải sâm: Nhum sọ (còn gọi là Cầu Gai sọ dừa) tập trung nhiều nhất ở Rạn chắn lớn và Rạn cạn (phía Nam vịnh) và đã bị khai thác ồ ạt từ năm 1990 – 1993, sản lượng thành phẩm có năm đạt đến hàng chục tấn, nhưng hiện nay nguồn lợi này đã bị cạn kiệt do khai thác quá mức Hải sâm cũng

là một đối tượng kinh tế quan trọng ở vịnh Nha Trang Theo các kết quả điều tra từ trước năm 1990 thì nhiều nhất là Hải sâm đen, Hải sâm mít và Hải sâm dừa; các loài khác như Hải sâm lựu, Hải sâm vú và Hải sâm cát cũng gặp nhưng với số lượng ít hơn Vùng biển Hòn Chồng trước đây có rất nhiều Hải sâm nhưng nay đã cạn kiệt Từ những dẫn liệu về đa dạng sinh học có thể nói Vịnh Nha Trang là nơi có tính đa dạng sinh học cao so với các khu vực ven bờ khác của Việt Nam Là khu bảo tồn biển đầu tiên của Việt Nam với mục đích “bảo tồn một mô hình điển hình về đa dạng sinh học biển có tầm quan trọng quốc tế và đang bị đe dọa” và đạt được các mục tiêu “giúp các cộng đồng dân cư tại các đảo nâng cao đời sống và cộng tác với các bên liên quan khác để bảo vệ và quản lý có hiệu quả đa dạng sinh học biển tại Khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang, tạo nên một mô hình quản lý Khu bảo tồn biển tại Việt Nam” Tuy nhiên,

sự phát triển quá mức của các ngành nghề khai thác cũng như các hoạt động kinh tế khác của con người đã làm ảnh hưởng nhất định tới khu hệ sinh vật cũng như tài nguyên biển vịnh Nha Trang

Theo thống kê, Thành phố Nha Trang hiện có hơn 3.000 tàu thuyền tham gia khai thác hải sản trên biển với tổng công suất máy trên 236 ngàn CV tập trung chủ yếu

ở 6 xã phường biển của thành phố gồm: Vĩnh Nguyên, Vĩnh Trường, Xương Huân, Vĩnh Thọ, Vĩnh Phước và Vĩnh Lương Những năm qua, thành phố đã tập trung nguồn lực và có cơ chế, chính sách hỗ trợ ngư dân trong cải hoán, đóng mới tàu công suất lớn,

từ đó khuyến khích ngư dân tích cực nâng công suất tàu thuyền để đánh bắt xa bờ, mở

Ngày đăng: 26/03/2015, 09:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Tài nguyên và môi trường (2010), “Báo cáo tổng kết các kịch bản nước biển dâng và khả năng giảm thiểu rủi ro ở Việt Nam”, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết các kịch bản nước biển dâng và khả năng giảm thiểu rủi ro ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và môi trường
Năm: 2010
5. Đào Xuân Học (2009), “Kế hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn”, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Đào Xuân Học
Năm: 2009
7. Hồ Xuân Hướng (2012), Tác động của biến đổi khí hậu và phân tích kinh tế một số chiến lược thích ứng tại tỉnh Bến Tre, Luận văn Thạc sĩ quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của biến đổi khí hậu và phân tích kinh tế một số chiến lược thích ứng tại tỉnh Bến Tre
Tác giả: Hồ Xuân Hướng
Năm: 2012
8. Nguyễn Thuỵ Thuỳ Lam (2013), Tác động của biến đổi khí hậu và phân tích kinh tế một số chiến lược thích ứng tại tỉnh Hậu Giang, Luận văn Thạc sĩ quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của biến đổi khí hậu và phân tích kinh tế một số chiến lược thích ứng tại tỉnh Hậu Giang
Tác giả: Nguyễn Thuỵ Thuỳ Lam
Năm: 2013
9. Nguyễn Đức Ngữ và Nguyễn Văn Thắng (2008), “Biến đổi khí hậu toàn cầu”, Hội thảo biến đổi khí hậu và phát triển bền vững ở Việt Nam, tháng 5 năm 2008, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi khí hậu toàn cầu
Tác giả: Nguyễn Đức Ngữ và Nguyễn Văn Thắng
Năm: 2008
11. Nguyễn Kỳ Phùng (2009),“ Ứng dụng GIS và Mô hình hóa đánh giá ảnh hưởng của nước biển dâng do biến đổi khí hậu đến tỉnh Bình Định”, báo cáo hội thảo Ứng dụng GIS trong nghiên cứu quản lý tài nguyên và môi trường, Đại học Huế 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng GIS và Mô hình hóa đánh giá ảnh hưởng của nước biển dâng do biến đổi khí hậu đến tỉnh Bình Định
Tác giả: Nguyễn Kỳ Phùng
Năm: 2009
12. Nguyễn Kỳ Phùng (2010), “Chuyên đề Tổng hợp và phân tích các kết quả nghiên cứu cập nhật nhất ở Việt Nam về Biến đổi khí hậu và những tác động của nó đến sự phát triển kinh tế- xã hội; đánh giá các biểu hiện của Biến đổi khí hậu đang tác động trực tiếp và gián tiếp đến các hoạt động kinh tế- xã hội của khu vực phía nam, đặc biệt là TPHCM”, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề Tổng hợp và phân tích các kết quả nghiên cứu cập nhật nhất ở Việt Nam về Biến đổi khí hậu và những tác động của nó đến sự phát triển kinh tế- xã hội; đánh giá các biểu hiện của Biến đổi khí hậu đang tác động trực tiếp và gián tiếp đến các hoạt động kinh tế- xã hội của khu vực phía nam, đặc biệt là TPHCM
Tác giả: Nguyễn Kỳ Phùng
Năm: 2010
16. Võ Trọng Quang. 2011. Đánh giá rủi ro và đề xuất biện pháp thích ứng với thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở hai xã Phú Lương và Vinh Hà, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Luận văn thạc sĩ Quản lý môi trường. Trường đại học Khoa học – Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá rủi ro và đề xuất biện pháp thích ứng với thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở hai xã Phú Lương và Vinh Hà, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
17. Cao Lệ Quyên. 2011. Tác động của biến đổi khí hậu tới nghề cá quy mô nhỏ ven bờ và giải pháp thích ứng. Kỷ yếu hội thảo “Biến đổi khí hậu: Tác động, Thích ứng và Chính sách trong nông nghiệp”, pp 30-43. Ngày 20.4.2011. Quảng Trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của biến đổi khí hậu tới nghề cá quy mô nhỏ ven bờ và giải pháp thích ứng." Kỷ yếu hội thảo “Biến đổi khí hậu: Tác động, Thích ứng và Chính sách trong nông nghiệp
18. Lâm Thị Thu Sử, Phạm Thị Diệu Thi, Phillip B., Annelieke D. 2010. Thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng lưu vực sông Hương, Thừa Thiên Huế. Báo cáo nghiên cứu. Trung tâm nghiên cứu và phát triển xã hội (CSRD) Huế. 45tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng lưu vực sông Hương, Thừa Thiên Huế
Tác giả: Lâm Thị Thu Sử, Phạm Thị Diệu Thi, Phillip B., Annelieke D
Nhà XB: Trung tâm nghiên cứu và phát triển xã hội (CSRD) Huế
Năm: 2010
20. Lê Anh Tuấn. 2009. Tổng quan về nghiên cứu biến đổi khí hậu và các hoạt động thích ứng ở miền nam Việt Nam. Kỷ yếu hội thảo “Cùng nỗ lực để thích ứng biến đổi khí hậu” CSRD-Acacia-Both ENDS-IVM, Thành phố Huế, Việt Nam, 11-13/5/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về nghiên cứu biến đổi khí hậu và các hoạt động thích ứng ở miền nam Việt Nam." Kỷ yếu hội thảo “Cùng nỗ lực để thích ứng biến đổi khí hậu
22. Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường. 2011. Tài liệu Hướng dẫn: Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xác định các giải pháp thích ứng. Nhà xuất bản Tài nguyên-Môi trường và Bản đồ Việt Nam. Hà Nội – 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hướng dẫn: "Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xác định các giải pháp thích ứng
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài nguyên-Môi trường và Bản đồ Việt Nam. Hà Nội – 2011
23. IPCC. 2007a. Climate Change 2007: Impacts, Adaptation, and Vulnerability. Contribution of Working Group I to the Fourth Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change. S. Solomon, D.Qin, M. Manning, Z.Chen, M. Marquis, K.B. Averyt, M. Tignor and H.L. Miller, Eds., Cambridge University Press, Cambridge, 996 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate Change 2007: Impacts, Adaptation, and Vulnerability
Tác giả: S. Solomon, D. Qin, M. Manning, Z. Chen, M. Marquis, K. B. Averyt, M. Tignor, H. L. Miller
Nhà XB: Cambridge University Press
Năm: 2007
24. NACA. 2011. Progress Report for the Project “Strengthening Adaptive Capacities to the Impacts of Climate Change in Resource-poor Small-scale Aquaculture and Aquatic Resources-development Sector in the South and South-east Asian Region” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Strengthening Adaptive Capacities to the Impacts of Climate Change in Resource-poor Small-scale Aquaculture and Aquatic Resources-development Sector in the South and South-east Asian Region
25. NAO. 2007. Cost-Effectiveness Analysis in the 2006 Climate Change Programme Review. A Review, by the National Audit Office. London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cost-Effectiveness Analysis in the 2006 Climate Change Programme Review
26. UNFCCC. 2007. Climate Change: Impacts, Vulnerabilities and Adaptation in Development Countries. UNFCCC Seretariat. Bonn, Germany. Available at:http://unfccc.int/resource/docs/publications/impacts.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate Change: Impacts, Vulnerabilities and Adaptation in Development Countries
Tác giả: UNFCCC
Nhà XB: UNFCCC Secretariat
Năm: 2007
27. World Bank. 2009. Economic Evaluation of Climate Change Adaptation Projects. Washington, DC: The World Bank Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic Evaluation of Climate Change Adaptation Projects
28. World Fish Center. 2011. Climate Change Impacts, Vulnerability Assessments, Economic and Policy Analysis of Adaptation Strategies in Selected Coastal Areas in Indonesia, Philippines and Vietnam. First Technical Progress Report September 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate Change Impacts, Vulnerability Assessments, Economic and Policy Analysis of Adaptation Strategies in Selected Coastal Areas in Indonesia, Philippines and Vietnam
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam, Hà Nội, tháng 6/2009 Khác
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011). Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam, Hà Nội 3/2011 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ hiệu ứng nhà kính (Nguồn: http://www.masternewmedia.org) - Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản xung quanh khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Sơ đồ hi ệu ứng nhà kính (Nguồn: http://www.masternewmedia.org) (Trang 21)
Hình 4.1: Biến trình nhiệt độ trung bình năm tại Nha Trang giai đoạn 1977 – 2010 - Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản xung quanh khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Hình 4.1 Biến trình nhiệt độ trung bình năm tại Nha Trang giai đoạn 1977 – 2010 (Trang 55)
Hình 4.2: Phân bố lượng mưa tại Khánh Hòa năm 1999 (trái) năm 2009 (phải) - Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản xung quanh khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Hình 4.2 Phân bố lượng mưa tại Khánh Hòa năm 1999 (trái) năm 2009 (phải) (Trang 57)
Hình 4.3: Biến trình lượng mưa năm ở Nha Trang giai đoạn 1980-2010 - Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản xung quanh khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Hình 4.3 Biến trình lượng mưa năm ở Nha Trang giai đoạn 1980-2010 (Trang 57)
Bảng 4.1: Độ lệch tiêu chuẩn S(mm) và biến suất S r (%) lượng mưa tại trạm Nha Trang  Tháng   I  II  III  IV  V  VI  VII  VIII  IX  X  XI  XII  Năm  x mm)  36.0  13.5  37.1  35.0  85.1  52.9  38.9  51.8  185.2  339.9  368.2  158.7  1402.2 - Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản xung quanh khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Bảng 4.1 Độ lệch tiêu chuẩn S(mm) và biến suất S r (%) lượng mưa tại trạm Nha Trang Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm x mm) 36.0 13.5 37.1 35.0 85.1 52.9 38.9 51.8 185.2 339.9 368.2 158.7 1402.2 (Trang 58)
Bảng 4.2: Diện tích (km 2 ) ngập của thành phố Nha Trang theo các kịch bản  2020 - 14 cm  2030 - 19 cm  2050 - 32 cm  Kịch bản BĐKH  Tổng - Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản xung quanh khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Bảng 4.2 Diện tích (km 2 ) ngập của thành phố Nha Trang theo các kịch bản 2020 - 14 cm 2030 - 19 cm 2050 - 32 cm Kịch bản BĐKH Tổng (Trang 59)
Hình 4.6: Biểu đồ diện tích ngập của Thành phố Nha Trang so với toàn tỉnh  Khánh Hòa theo kịch bản cao - Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản xung quanh khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Hình 4.6 Biểu đồ diện tích ngập của Thành phố Nha Trang so với toàn tỉnh Khánh Hòa theo kịch bản cao (Trang 60)
Hình 4.8: Diện tích đất nuôi trồng thủy sản bị ngập theo kịch bản phát thải trung  bình và phát thải cao - Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản xung quanh khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Hình 4.8 Diện tích đất nuôi trồng thủy sản bị ngập theo kịch bản phát thải trung bình và phát thải cao (Trang 61)
Bảng 4.4: Tần suất (%) hạn theo quy mô thời gian của vùng ven biển Nha Trang  Không hạn  Hạn nhẹ  Hạn vừa  Hạn nặng  Thời kỳ  Quy mô thời gian - Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản xung quanh khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Bảng 4.4 Tần suất (%) hạn theo quy mô thời gian của vùng ven biển Nha Trang Không hạn Hạn nhẹ Hạn vừa Hạn nặng Thời kỳ Quy mô thời gian (Trang 63)
Hình 4.9: Bản đồ vùng nguy cơ lũ quét hiện trạng (1980 – 2010) - Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản xung quanh khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Hình 4.9 Bản đồ vùng nguy cơ lũ quét hiện trạng (1980 – 2010) (Trang 65)
Hình 4.11: Biểu đồ tỉ lệ nguy cơ xảy ra lũ quét theo kịch bản cao năm 2020 – 2100 - Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản xung quanh khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Hình 4.11 Biểu đồ tỉ lệ nguy cơ xảy ra lũ quét theo kịch bản cao năm 2020 – 2100 (Trang 66)
Hình 4.12: Vùng nguy cơ lũ quét tỉnh Khánh Hòacác giai đoạn theo kịch bản A1FI - Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản xung quanh khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Hình 4.12 Vùng nguy cơ lũ quét tỉnh Khánh Hòacác giai đoạn theo kịch bản A1FI (Trang 67)
Hình 4.13: Biểu đồ tỉ lệ nguy cơ xảy ra lũ quét theo kịch bản B1 - Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản xung quanh khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Hình 4.13 Biểu đồ tỉ lệ nguy cơ xảy ra lũ quét theo kịch bản B1 (Trang 68)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w