Em thực hiện đề tài này với mục đích dựa vào tình hình thực tế hoạtđộng sản xuất kinh doanh của Tổng công ty để phân tích, đánh giá hiệu quảsản xuất kinh doanh của Tổng công ty trên cơ s
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 7
1.1 Khái niệm và vai trò của phân tích tài chính trong doanh nghiệp 7
1.1.1 Khái niệm 7
1.1.2 Vai trò 7
1.2 Đối tượng phân tích, mục đích và ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp 8
1.2.1 Đối tượng phân tích 8
1.2.2 Mục đích 9
1.2.3 Ý nghĩa 10
1.3 Tổ chức công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 12
1.4 Các loại hình phân tích tài chính 14
1.4.1 Căn cứ theo thời điểm kinh doanh 14
1.4.2 Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo 14
1.4.3 Căn cứ theo nội dung phân tích 15
1.5 Phương pháp phân tích tài chính 15
1.5.1 Các bước tiến hành trong phân tích tài chính 15
1.5.2 Phương pháp phân tích tài chính 17
1.6 Nội dung phân tích tài chính 21
1.6.1 Tình hình tài chính qua phân tích báo cáo tài chính 21
1.6.2 Hiệu quả kinh doanh qua phân tích báo cáo tài chính 42
1.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến phân tích tình hình tài chính trong doanh nghiệp 47
1.7.1 Nhân tố khách quan 47
1.7.2 Nhân tố chủ quan 48
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH ÍCH TRÂN HÀ NỘI 51
2.1 Giới thiệu khái quát về công ty 51
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty 51
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty 52
Trang 22.1.3 Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty 53
2.2 Đặc điểm tình hình sản xuất kinh doanh và năng lực tài chính của Chi nhánh Công ty TNHH Ích Trân Hà Nội 56
2.3/ Phân tích khái quát tình hình tài chính của Công ty 57
2.3.1/ Phân tích quy mô vốn của Công ty 57
2.3.2 Phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán 59
2.4 Phân tích chi tiết tình hình tài chính của Chi nhánh Công ty TNHH Ích Trân Hà Nội 64
2.4.1 Phân tích tình hình phân bổ vốn và kết cấu nguồn vốn của Công ty 64
2.4.2 Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán của Công ty 65
2.5 Phân tích nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán của Công ty 68
2.6 Phân tích nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn và khả năng sinh lời 71
2.6.1 Đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh của Công ty 72
2.6.2 Phân tích chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn cố định 74
2.6.3 Phân tích chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lưu động 77
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC TÀI CHÍNH TẠI CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH ÍCH TRÂN HÀ NỘI 80
3.1 Đánh giá thực trạng tình hình tài chính của Chi Nhánh Công ty TNHH Ích Trân Hà Nội 80
3.1.1 Kết quả đạt được 80
3.1.2 Hạn chế 81
3.2 Các kiến nghị nhằm cải thiện tình hình tài chính tại chi nhánh Công ty TNHH Ích Trân Hà Nội 82
3.3 Một số giải pháp đối với hoạt động tài chính của Công ty 85
3.3.1.Quản lý dự trữ và quay vòng vốn 85
3.3.2 Quản lý thanh toán 87
3.3.3 Đầu tư đổi mới công nghệ 88
3.3.4 Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ nhân viên 90
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Giải thích
PT TCDN Phân tích tài chính doanh nghiệp
BCKQHĐKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Thuế TNDN Thuế thu nhập doanh nghiệp
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIÊU SƠ ĐỒ
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh
doanh của Chi nhánh Công ty TNHH
Ích Trân Hà Nội năm 2009-2011
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ về sự gia tăng của doanh thu đòi hỏi sự gia tăng của nợ vay và giữ lại lợi nhuận.
Bảng 2.2: Tình hình bảo toàn và phát
triển nguồn vốn của Công ty qua các năm.
Sơ đồ 1.2: Mỗi quan hệ giữa tăng trưởng bền vững và khả năng sinh lời
Bảng 2.3: Kết cấu tài sản của Chi
nhánh Công ty TNHH Ích Trân Hà Nội
năm
2009-2011
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy của Chi nhánh Công ty TNHH Ích Trân Hà Nội.
Bảng 2.4: Kết cấu nguồn vốn của
Chi nhánh Công ty TNHH
Ích Trân Hà Nội từ năm
2009-2011
Bảng 2.5: Bảng chỉ số kết cấu.
Bảng 2.6: Bảng báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh của Chi nhánh
Công ty TNHH Ích Trân Hà Nội
Trang 5tranh ngày càng quyết liệt giữa các thành phần kinh tế đã gây ra những khókhăn và thử thách cho các doanh nghiệp Trong bối cảnh đó, để có thể khẳngđịnh được mình mỗi doanh nghiệp cần phải nắm vững tình hình cũng như kếtquả hoạt động sản xuất kinh doanh Để đạt được điều đó, các doanh nghiệpphải luôn quan tâm đến tình hình tài chính vì nó quan hệ trực tiếp tới hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và ngược lại.
Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp chocác doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng hoạtđộng tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanhnghịêp cũng như xác định được một cách đầy đủ, đúng đắn, nguyên nhân vàmức độ ảnh hưởng của các nhân tố thông tin có thể đánh giá được tiềm năng,hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như những rủi ro và triển vọng trongtương lai của doanh nghiệp để họ có thể đưa ra những giải pháp hữu hiệu,những quyết định chính xác nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh
tế, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tình hình tài chính của doanh nghiệp là sự quan tâm không chỉ của chủdoanh nghiệp mà còn là mối quan tâm của rất nhiều đối tượng như các nhàđầu tư, người cho vay, Nhà nước và người lao động Qua đó họ sẽ thấy đượcthực trạng thực tế của doanh nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh doanh, và tiến hànhphân tích hoạt động kinh doanh Thông qua phân tích họ có thể rút ra đượcnhững quyết định đúng đắn liên quan đến doanh nghiệp và tạo điều kiệnnaang cao khả năng tài chính của doanh nghiệp
Là một sinh viên nghành tài chính doanh nghiệp, chuẩn bị bước vào môitrường kinh doanh, em nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề tài chính tronghoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, kết hợp với quá trìnhthực tập tại Chi nhánh Công ty Trách nhiệm hữu hạn Ích Trân Hà Nội em đã
chọn đề tài:” Phân tích tài chính doanh nghiệp và những giải pháp góp phần nhằm nâng cao khả năng tài chính trong Chi nhánh Công ty TNHH Ích Trân Hà Nội’’ làm đề tài cho báo cáo thực tập của mình.
Trang 6Em thực hiện đề tài này với mục đích dựa vào tình hình thực tế hoạtđộng sản xuất kinh doanh của Tổng công ty để phân tích, đánh giá hiệu quảsản xuất kinh doanh của Tổng công ty trên cơ sở đó đưa ra những giải pháphợp lý trong việc quản trị tài chính, để sử dụng tài sản và nguồn vốn củadoanh nghiệp một cách có hiệu quả.
Báo cáo của em trình bày gồm 3 phần như sau:
CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận chung về phương pháp phân tích tài chính tại các doanh nghiệp.
CHƯƠNG 2: Thực trạng phân tích tình hình tài chính tại Chi nhánh Công ty TNHH Ích Trân Hà Nội
CHƯƠNG 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính tại Chi nhánh Công ty TNHH Ích Trân Hà Nội
Trong bản báo cáo này em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáoNguyễn Thị Hiền-người thầy đã luôn ở bên cạnh và tận tình giúp đỡ,hướngdẫn em trong quá trình nghiên cứu là thực hiện đề tài của mình
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, các cô giáo trường Cao đẳng Côngnghiệp dệt may thời trang Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa Kinh tế-những người đã dạy dỗ, hướng dẫn em trong những năm tháng học tập tại trường
Em xin chân trọng cảm ơn các anh,chị Phòng Kế toán-tài chính của Chinhánh Công ty TNHH Ích Trân Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ,hướng dẫn vàgóp ý kiến cho em trong quá trình thực tập tại đơn vị cũng như việc cung cấpnhững thông tin có liên quan đến tài chính của công ty để em có thể hoànthành bản báo cáo thực tập của mình
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI
CHÍNH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
Trang 71.1 Khái niệm và vai trò của phân tích tài chính trong doanh nghiệp.
1.1.1 Khái niệm.
Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp, công cụtheo một hệ thống nhất định cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toáncũng như các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp nhằm đưa ra nhữngđánh giá chính xác, đúng đắn về tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực củadoanh nghiệp, giúp nhà quản lý kiểm soát tình hình kinh doanh của doanhnghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng như dự đoán trước những rủi ro
có thể xảy ra trong tương lai để đưa các quyết định xử lý phù hợp tuỳ theomục tiêu theo đuổi
1.1.2 Vai trò.
Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các phương pháp và các công
cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về tài chínhnhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức
độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó Với những nộidung này, phân tích tài chính của một doanh nghiệp trở thành mối quan tâmcủa nhiều đối tượng khác nhau như Ban Giám đốc, Hội đồng quản trị, các nhàđầu tư, các cổ đông, người cho vay
Đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mốiquan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ Do vậy,hơn ai hết, họ cần có đủ thông tin và hiểu rõ doanh nghiệp nhằm đánh giá tìnhhình tài chính đã qua, thực hiện cân bằng tài chính và khả năng thanh toán,sinh lợi, rủi ro và dự đoán tình hình tài chính nhằm đề ra quyết định đúng.Đối với với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quantâm của họ hướng chủ yếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy, họđặc biệt chú ý tới số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển dổi thànhtiền nhanh; từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanhtoán tức thời của doanh nghiệp Ngoài ra, các chủ ngân hàng và các nhà chovay tín dụng cũng rất quan tâm đến số lượng vốn của chủ sở hữu, bởi vì số
Trang 8vốn chủ sở hữu này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệpgặp rủi ro.
Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm của họ hướng vào các yếu tố như
sự rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn,… Vìvậy, họ cần những thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, vềkết quả kinh doanh và các tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp Nhữngđiều đó nhằm đảm bảo sự an toàn và tính hiệu quả cho các nhà đầu tư
Đối với các nhà cung cấp vật tư, thiết bị, hàng hoá, dịch vụ, họ phảiquyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng, thanhtoán chậm hay không Cũng như các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tíndụng, nhóm người này cũng cần phải biết được khả năng thanh toán hiện tại
và thời gian sắp tới của khách hàng
1.2 Đối tượng phân tích, mục đích và ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.2.1 Đối tượng phân tích.
Tài chính doanh nghiệp là các mối quan hệ phân phối dưới mọi hìnhthức giá trị gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanhnghiệp trong quá trình kinh doanh Về hình thức, TCDN phản ánh sự vậnđộng và chuyển hóa các nguồn lực tài chính trong quá trình phân phối để tạolập và sử dụng các quỹ tiền tệ thuộc hoạt động tài chính của doanh nghiệp.Quá trình vận động và chuyển hóa các nguồn lực tài chính trong tiếntrình phân phối để tạo lập, sử dụng Các quỹ tiền tệ thuộc hoạt động tài chínhcủa doanh nghiệp diễn ra như thế nào, kết quả kinh tế tài chính của sự vậnđộng và chuyển hóa ra sao, có phù hợp với mục tiêu mong muốn của các đốitượng quan tâm đến tài chính của doanh nghiệp là đối tượng nghiên cứu cựthể của phân tích TCDN
Kết quả kinh tế tài chính thuộc đối tượng nghiên cứu của phân tích tàichính doanh nghiệp, có thể là kết quả của từng khâu, từng bộ phận, từng quan
hệ kinh tế, từng quyết định kinh tế như mua vào,bán ra, bộ phận A, B; quan
hệ kinh tế nội sinh, ngoại sinh, quyết định sử dụng vốn vay… Cũng có thể là
Trang 9kết quả tổng hợp của cả quá trình vận động và chuyển hóa các nguồn lựcTCDN Thông thường, mọi hoạt động kinh tế của mọi đối tượng đều có lụctiêu, kế hoạch cụ thể Vì vậy phân tích TCDN hướng vào việc kết quả thựchiện các mục tiêu, kế hoạch đặt ra hoặc là kết quả đã đạt được ở cá kỳ trướcđồng thời xác định kết quả có đạt được trong tương lai hay không.
1.2.2 Mục đích.
Như chúng ta đã biết mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp đều nằmtrong thể tác động liên hoàn với nhau Bởi vậy, chỉ có thể phân tích tình hìnhtài chính của doanh nghiệp mới đánh giá đầy đủ và sâu sắc mọi hoạt độngkinh tế trong trạng thái thực của chúng Trên cơ sở đó, nêu lên một cách tổnghợp về trình độ hoàn thành các mục tiêu- biểu hiện bằng hệ thống chỉ tiêukinh tế kỹ thuật tài chính của doanh nghiệp Trong điều kiện kinh doanh theo
cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, các doanh nghiệp đềubình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh Mỗi doanh nghiệp đều có rấtnhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của mình như các nhà đầu
tư, nhà cho vay, nhà cung cấp Mỗi đối tượng này quan tâm đến tình hình tàichính của doanh nghiệp trên những góc độ khác nhau Song nhìn chung, họđều quan tâm đến khả năng tạo ra dòng tiền mặt, khả năng sinh lời, khả năngthanh toán và mức lợi nhuận tối đa Bởi vậy phân tích tình hình tài chính củadoanh nghiệp phải đạt được các mục tiêu sau:
+ Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp đầy đủ những thông tin hữuích cho các nhà đầu tư, các chủ nợ và những người sử dụng khác để họ có thể
ra các quyết định về đầu tư, tín dụng và các quyết định tương tự Thông tinphải dễ hiểu đối với những người có một trình độ tương đối về kinh doanh và
về các hoạt động kinh tế mà muốn nghiên cứu các thông tin này
+ Phân tích tình hình tài chính cũng nhằm cung cấp thông tin quan trọngnhất cho chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các chủ nợ và những người sửdụng khác đánh giá số lượng, thời gian và rủi ro của những khoản thu bằngtiền từ cổ tức hoặc tiền lãi Vì các dòng tiền của các nhà đầu tư liên quan với
Trang 10các dòng tiền của doanh nghiệp nên quá trình phân tích phải cung cấp thôngtin để giúp họ đánh giá số lượng, thời gian và rủi ro của các dòng tiền thuthuần dự kiến của doanh nghiệp
+ Phân tích tình hình tài chính cũng phải cung cấp tin về các nguồn lựckinh tế, vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của các quá trình, các tìnhhuống làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của doanh nghiệp Đồngthời qua đó cho biết thêm nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với các nguồn lựcnày và các tác động của những nghiệp vụ kinh tế, giúp cho chủ doanh nghiệp
dự đoán chính xác quá trình phát triển doanh nghiệp trong tương lai
Qua đó cho thấy, phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là quá trìnhkiểm tra, đối chiếu số liệu, so sánh số liệu về tài chính thực có của doanhnghiệp với quá khứ để định hướng trong tương lai Từ đó, có thể đánh giá đầy
đủ mặt mạnh, mặt yếu trong công tác quản lý doanh nghiệp và tìm ra các biệnpháp sát thực để tăng cường các hoạt động kinh tế và còn là căn cứ quan trọngphục vụ cho việc dự đoán, dự báo xu thế phát triển sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp
1.2.3 Ý nghĩa.
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp hay cụ thể hoá là quá trìnhphân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp là quá trình kiểm tra đối chiếu, sosánh các số liệu, tài liệu và tình hình tài chính hiện hành và trong quá khứnhằm mục đích đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như rủi rotrong tương lai Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất là về tìnhhình tài sản, vốn và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanhtrong kỳ của doanh nghiệp Do đó, việc thường xuyên tiến hành phân tích tìnhhình tài chính sẽ cung cấp thông tin cho người sử dụng từ các góc độ khácnhau, vừa đánh giá toàn diện, vừa tổng hợp khái quát, lại vừa xem xét mộtcách chi tiết hoạt động tài chính của doanh nghiệp để nhận biết phán đoán vàđưa ra quyết định tài chính, quyết định đầu tư và quyết định tài trợ phù hợp.Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh
Trang 11doanh Do đó tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đếntài chính của doanh nghiệp Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều cótác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh Chính
vì vậy, phân tích tình hình tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với bản thânchủ doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài có liên quan đến tài chính củadoanh nghiệp
a Đối với nhà quản trị doanh nghiệp
Các hoạt động nghiên cứu tài chính trong doanh nghiệp được gọi là phântích tài chính nội bộ Khác với phân tích tài chính bên ngoài do nhà phân tíchngoài doanh nghiệp tiến hành Do đó thông tin đầy đủ và hiểu rõ về doanhnghiệp, các nhà phân tích tài chính trong doanh nghiệp có nhiều lợi thế để cóthể phân tích tài chính tốt nhất Vì vậy nhà quản trị doanh nghiệp còn phảiquan tâm đến nhiều mục tiêu khác nhau như tạo công ăn việc làm cho ngườilao động, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, hạ chi phí thấpnhất và bảo vệ môi trường Doanh nghiệp chỉ có thể đạt được mục tiêu này khidoanh nghiệp kinh doanh có lãi và thanh toán được nợ
Như vậy hơn ai hết các nhà quản trị doanh nghiệp cần có đủ thông tinnhằm thực hiện cân bằng tài chính, nhằm đánh giá tình hình tài chính đã qua
để tiến hành cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ,rủi ro tài chính của doanh nghiệp Bên cạnh đó định hướng các quyết định củaban giám đốc tài chính, quyết định đầu tư, tài trợ, phân tích lợi tức cổ phần
b Đối với các nhà đầu tư
Mối quan tâm của họ chủ yếu vào khả năng hoàn vốn, mức sinh lãi, khảnăng thanh toán vốn và sự rủi ro Vì thế mà họ cần thông tin về điều kiện tàichính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh và các tiềm năng của doanhnghiệp Các nhà đầu tư còn quan tâm đến việc điều hành hoạt động công tácquản lý Những điều đó tạo ra sự an toàn và hiệu quả cho các nhà đầu tư
c Đối với các nhà cho vay
Mối quan tâm của họ hướng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp Qua
Trang 12việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, họ đặc biệt chú ý tới sốlượng tiền và các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền nhanh để từ đó có thể sosánh được và biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp.
Giả sử chúng ta đặt mình vào trường hợp là người cho vay thì điềuđầutiên chúng ta chú ý cũng sẽ là số vốn chủ sở hữu, nếu như ta thấy khôngchắc chắn khoản cho vay của mình sẽ đựoc thanh toán thì trong trường hợpdoanh nghiệp đó gặp rủi ro sẽ không có số vốn bảo hiểm cho họ Đồng thời tacũng quan tâm đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp vì đó chính là cơ sở củaviệc hoàn trả vốn và lãi vay
d Đối với cơ quan nhà nước và người làm công
Đối với cơ quan quản lý nhà nước, qua việc phân tích tình hình tài chínhdoanh nghiệp, sẽ đánh giá được năng lực lãnh đạo của ban giám đốc, từ đóđưa ra các quyết định đầu tư bổ sung vốn cho các doanh nghiệp nhà nước nữahay không
Bên cạnh các chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư người lao động có nhu cầuthông tin cơ bản giống họ bởi vì nó liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm,đến khách hàng hiện tại và tương lai của họ
1.3 Tổ chức công tác phân tích tài chính doanh nghiệp.
Quá trình tổ chức công tác phân tích tài chính được tiến hành tuỳ theoloại hình tổ chức kinh doanh ở các doanh nghiệp nhằm mục đích cung cấp,đáp ứng nhu cầu thông tin cho quá trình lập kế hoạch, công tác kiểmtra và raquyết định Công tác tổ chức phân tích phải làm sao thoả mãn cao nhất chonhu cầu thông tin của từng loại hình quản trị khác nhau
+ Công tác phân tích tài chính có thể nằm ở một bộ phận riêng biệt đặtdưới quyền kiểm soát trực tiếp của ban giám đốc và làm tham mưu cho giámđốc Theo hình thức này thì quá trình phân tích được thể hiện toàn bộ nộidung của hoạt động kinh doanh Kết quả phân tích sẽ cung cấp thông tinthường xuyên cho lãnh đạo trong doanh nghiệp Trên cơ sở này các thông tinqua phân tích được truyền từ trên xuống dưới theo chức năng quản lý và quá
Trang 13trình giám sát, kiểm tra, kiểm soát, điều chỉnh, chấn chỉnh đối với từng bộphận của doanh nghiệp theo cơ cấu từ ban giám đốc đến các phòng ban.
+ Công tác phân tích tài chính được thực hiện ở nhiều bộ phận riêng biệttheo các chức năng của quản lý nhằm cung cấp thông tin và thoả mãn thôngtin cho các bộ phận của quản lý được phân quyền, cụ thể:
- Đối với bộ phận được phân quyền kiểm soát và ra quyết định về chiphí, bộ phận này sẽ tổ chức thực hiện thu nhập thông tin và tiến hành phântích tình hình biến động chi phí, giữa thực hiện so với định mức nhằm pháthiện chênh lệch chi phí cả về hai mặt động lượng và giá để từ đó tìm ranguyên nhân và đề ra giải pháp
- Đối với bộ phận được phân quyền kiểm soát và ra quyết định về doanhthu (Thường gọi là trung tâm kinh doanh), là bộ phận kinh doanh riêng biệttheo địa điểm hoặc một số sản phẩm nhóm hàng riêng biệt, do đó họ có quyềnvới bộ phạn cấp dưới là bộ phận chi phí ứng với bộ phận này thường làtrưởng phòng kinh doanh, hoặc giám đốc kinh doanh tuỳ theo doanh nghiệp
Bộ phận này sẽ tiến hành thu nhập thông tin, tiến hành phân tích báo cáo thunhập, đánh giá mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận làm cơ sở đểđánh giá hoàn vốn trong kinh doanh và phân tích báo cáo nội bộ
1.4 Các loại hình phân tích tài chính.
1.4.1 Căn cứ theo thời điểm kinh doanh.
Căn cứ theo thời điểm kinh doanh thì phân tích chia làm 3 hình thức:+ Phân tích trước khi kinh doanh
+ Phân tích trong kinh doanh
+ Phân tích sau khi kinh doanh
a Phân tích trước khi kinh doanh
Phân tích trước khi kinh doanh còn gọi là phân tích tương lai, nhằm dựbáo, dự toán cho các mục tiêu trong tương lai
b Phân tích trong quá trình kinh doanh
Phân tích trong quá trình kinh doanh còn gọi là phân tích hiện tại là quá
Trang 14trình phân tích diễn ra cùng quá trình kinh doanh
Hình thức này rất thích hợp cho chức năng kiểm tra thường xuyên nhằmđiều chỉnh, chấn chỉnh những sai lệch lớn giữa kết quả thực hiện với mục tiêu
đề ra
c Phân tích sau kinh doanh
Là phân tích sau khi kết thúc quá trình kinh doanh (Hay phân tích quá khứ).Quá trình này nhằm định kỳ đánh giá kết quả giữa thực hiện so với kế hoạchhoặc định mức đề ra Từ kết quả phân tích cho ta nhận rõ tình hình thực hiện kếhoạch của các chỉ tiêu đề ra và làm căn cứ để xây dựng kế hoạch tiếp theo
1.4.2 Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo.
Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo, phân tích được chia làm phân tíchthường xuyên và phân tích định kỳ
a Phân tích thường xuyên
Phân tích thường xuyên được đặt ra ngay trong quá trình kinh doanh.Kết quả phân tích giúp phát hiện ngay ra sai lệch, giúp doanh nghiệp đưa rađược các diều chỉnh kịp thời và thường xuyên trong quá trình hoạt động kinhdoanh Tuy nhiên biện pháp này thường công phu và tốn kém
b Phân tích định kỳ
Được đặt ra sau mỗi chu kỳ kinh doanh khi cáo báo cáo đã đựoc thànhlập Phân tích định kỳ là phân tích sau quá trình kinh doanh, vì vậy kết quảphân tích nhằm đánh giá tình hình thực hiện, kết quả hoạt động kinh doanhcủa từng kỳ và là cơ sở cho xây dựng kế hoạch kinh doanh kỳ sau
1.4.3 Căn cứ theo nội dung phân tích.
a Phân tích chỉ tiêu tổng hợp
Phân tích theo chỉ tiêu tổng hợp là việc tổng kết tất cả các kết quả phântích để đưa ra một số chỉ tiêu tổng hợp nhằm đánh giá toàn bộ hoạt động sảnxuất kinh doanh trong mối quan hệ nhân quả giữa chúng cũng như dưới tácđộng Của các yếu tố thuộc môi trường
Ví dụ: - Phân tích các chỉ tiêu phản ánh kết quả khối lượng, chất lượng
Trang 15xuất kinh doanh
- Phân tích các chỉ tiêu phản ánh kết quả doanh thu và lợi nhuận
1.5 Phương pháp phân tích tài chính.
1.5.1 Các bước tiến hành trong phân tích tài chính.
a Thu thập thông tin
Phân tích hoạt động tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng
lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính, hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán, đánh giá, lập kếhoạch Nó bao gồm với những thông tin nội bộ đến những thông tin bênngoài, những thông tin kế toán và thông tin quản lý khác, những thông tin về
số lượng và giá trị Trong đó các thông tin kế toán là quan trọng nhất, đượcphản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp, đó là nhữngnguồn thông tin đặc biệt quan trọng Do vậy, phân tích hoạt động tài chínhtrên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp
b Xử lý thông tin
Giai đoạn tiếp theo của phân tích hoạt động tài chính là quá trình xử lýthông tin đã thu thập Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc
độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra Xử
lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất địnhnhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của cáckết quả đã đạt được nhằm phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định
c Dự đoán và ra quyết định
Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện
Trang 16cần thiết để người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra các quyếtđịnh hoạt động kinh doanh Đối với chủ doanh nghiệp, phân tích hoạt động tàichính nhằm đưa ra các quyết định liên quan tới mục tiêu hoạt động của doanhnghiệp là tăng trưởng, phát triển, tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu.Đối với cho vay và đầu tư vào doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định về tàitrợ đầu tư, đối với cấp trên của doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định quản lýdoanh nghiệp.
d Các thông tin cơ sở để phân tích hoạt động tài chính
Các thông tin cơ sở được dùng để phân tích hoạt động tài chính trong cácdoanh nghiệp nói chung là các báo cáo tài chính, bao gồm:
+ Bảng cân đối kế toán: Là một báo cáo tài chính, mô tả tình trạng tài
chính của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó Nó được thànhlập từ 2 phần: Tài sản và nguồn vốn
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Là một báo cáo tài chính tổng
hợp, phản ánh một cách tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong mộtniên độ kế toán, dưới hình thái tiền tệ Nội dung của báo kết quả hoạt độngkinh doanh có thể thay đổi nhưng phải phản ánh được 4 nội dung cơ bản là:doanh thu, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanhnghiệp, lãi, lỗ Số liệu trong báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợpnhất về phương thức kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kỳ và chỉ rarằng, các hoạt động kinh doanh đó đem lại lợi nhuận hay lỗ vốn, đồng thời nócòn phản ánh tình hình sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật vàkinh nghiệm quản lý kinh doanh của doanh nghiệp
1.5.2 Phương pháp phân tích tài chính.
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ vàbiện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệbên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêutài chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
Về lý thuyết có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp,
Trang 17nhưng trên thực tế người ta thường sử dụng các phương pháp sau.
+ Khi nghiên cứu nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu
số gốc để so sánh là trị số của chỉ tiêu kỳ trước (nghĩa là năm nay so với nămtrước) và có thể được lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bìnhquân
+ Kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo, kỳ kế hoạch
+ Gốc so sánh được chọn là gốc về thời gian hoặc không gian
Trên cơ sở đó, nội dung của phương pháp so sánh bao gồm:
- So sánh kỳ thực hiện này với kỳ thực hiện trước để đánh giá sự tănghay giảm trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và từ đó có nhận xét
về xu hướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp
- So sánh số liệu thực hiện với số liệu kế hoạch, số liệu của doanhnghiệp với số liệu trung bình của ngành, của doanh nghiệp khác để thấy mức
độ phấn đấu của doanh nghiệp được hay chưa được
- So sánh theo chiều dọc để xem tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổngthể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự thay đổi về lượng
và về tỷ lệ của các khoản mục theo thời gian
Trang 18liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loại tỷ lệ theo chuỗi thời gianliên tục hoặc theo từng giai đoạn Qua đó nguồn thông tin kinh tế và tài chínhđược cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn Từ đó cho phép tích luỹ dữ liệu và thúcđẩy quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ như:
+ Tỷ lệ về khả năng thanh toán : Được sử dụng để đánh giá khả năng đápứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
+ Tỷ lệ và khả năng cân đối vốn, cơ cấu vốn và nguồn vốn: Qua chỉ tiêunày phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính
+ Tỷ lệ về khả năng hoạt động kinh doanh : Đây là nhóm chỉ tiêu đặctrưng cho việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp
+ Tỷ lệ về khả năng sinh lời: Phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanhtổng hợp nhất của doanh nghiệp
Kết luận: Các phương pháp trên nhằm tăng hiệu quả phân tích chúng ta
sẽ sử dụng kết hợp và sử dụng thêm một số phương pháp bổ trợ khác nhưphương pháp liên hệ phương pháp loại trừ nhằm tận dụng đầy đủ các ưu điểmcủa chúng để thực hiện mục đích nghiên cứu một cách tốt nhất
c Phương pháp Du pont
Phương pháp Du pont là phương pháp phân tích nhằm đánh giá sự tácđộng tương hỗ giữa các tỷ số tài chính: tỷ suất hoạt động và tỷ suất doanh lợitiêu thụ để xác định khả năng sinh lời của vốn đầu tư
Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận ròng, doanh lợivốn chủ sở hữu (ROE) là chỉ tiêu đánh giá mức độ thực hiện của mục tiêunày Công thức xác định như sau:
Vốn chủ sở hữu
ROE phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, tăng mức doanh lợicủa vốn chủ sở hữu là một mục tiêu quan trọng nhất trong hoạt động quản lýtài chính doanh nghiệp
Ngoài ra, còn có chỉ tiêu doanh lợi tài sản (ROA)
Trang 19ROA = Lợi nhuận trước thuế & lãi
Tài sảnHoặc:
ROA
=
Lợi nhuận sau thuếTài sản
Đây là chỉ tiêu dùng để đánh giá khả năng sinh lời của một đồng vốn đầu
tư Tuỳ thuộc vào tình hình kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp được phântích và phạm vi so sánh mà người ta lựa chọn thu nhập trước thuế và lãi hoặcthu nhập sau thuế để so sánh với tổng tài sản
Khi sử dụng phương pháp phân tích tài chính Du pont nhằm đánh giá tác động tương
hỗ giữa các tỷ số tài chính, nhà phân tích có thể thực hiện việc tách tỷ số ROE:
từ bên ngoài của doanh nghiệp Nếu EM tăng, điều đó chứng tỏ doanh nghiệptăng vốn huy động từ bên ngoài
Tách ROA:
Trang 20A =
Lợi nhuận sau
Lợi nhuận sau
PM: Doanh lợi tiêu thụ phản ánh tỷ trọng lợi nhuận sau thuế trong doanhthu của doanh nghiệp
AU: hiệu suất sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Khi PM tăng thể hiện doanh nghiệp quản lý doanh thu và quản lý chiphí có hiệu quả
Như vậy, doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) có thể được biến đổi nhưsau:
ROE = PM x AU x EM
Có thể tóm tắt các yếu tố cơ bản tác động đến ROE của một doanhnghiệp đó là khả năng tăng doanh thu, công tác quản lý chi phí, quản lý tàisản và đòn bẩy tài chính
1.6 Nội dung phân tích tài chính.
1.6.1 Tình hình tài chính qua phân tích báo cáo tài chính.
a Đánh giá khái quát tình hình tài chính qua phân tích báo cáo cáo tài
chính
Công việc này sẽ cung cấp cho chúng ta những thông tin khái quát về
tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ là khả quan hay không khảquan thông qua một số nội dung sau:
Để đánh giá chung trước khi đi vào đánh giá chi tiết, ta sử dụng chỉ tiêu
tỷ lệ lãi trên tổng sản phẩm:
ROI = = x
ROI là phân tích của hệ thống quay vòng vốn với tỷ lệ lãi thuần trêndoanh thu, mặt khác ROI còn có 2 ý nghĩa: Cho phép liên kết 2 con số cuốicùng của 2 báo cáo tài chính cơ bản (Lãi thuần của báo cáo kết quả hoạt động
Trang 21kinh doanh và Tổng cộng tài sản); Kết hợp 3 yếu tố cơ bản cần phải xem xétngay từ đầu trước khi đi vào phân tích chi tiết.
Bên cạnh việc huy động và sử dụng vốn, khả năng tự đảm bảo về mặt tàichính và mức độ độc lập về mặt tài chính cũng cho thấy một cách khái quát
về tình hình tài chính doanh nghiệp
Tỷ suất tài trợ =
Chỉ tiêu này càng nâng cao chứng tỏ mức độc lập về mặt tài chính củadoanh nghiệp càng lớn vì hầu hết tài sản doanh nghiệp có được đều là củadoanh nghiệp
Tỷ suất thanh toán hiện hành =
Tỷ suất này cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn củadoanh nghiệp là cao hay thấp Nếu tỷ lệ này xấp xỉ bằng 1 thì doanh nghiệp
có tình hình tài chính nằm tại trạng thái bình thường tương đương với việc có
đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn
Tỷ suất thanh toán của vốn lưu động =
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản lưuđộng, thực tế cho thấy, chỉ tiêu này lớn hơn 0,5 hoặc nhỏ hơn 0,1 đều khôngtốt vì sẽ gây ra ứ đọng vốn hoặc thiếu vốn cho hoạt động thanh toán
Tỷ suất thanh toán tức thời =
Thực tế cho thấy, nếu tỷ suất này lớn hơn 0,5 thì tình hình thanh toántương đối khả quan còn nếu nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp có thể gặp khókhăn trong thanh toán công nợ Do đó có thể xảy ra khả năng bán gấp hànghóa cho các khoản công nợ Tuy nhiên, nếu tỷ suất này quá cao thì cũngkhông tốt vì khi này vốn bằng tiền quá nhiều phản ánh khả năng quay vòngvốn chậm Làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
Ngoài ra chúng ta cũng cần xem xét thêm chỉ tiêu sau:
Vốn hoạt động thuần = Tài sản lưu động – Nợ ngắn hạn
Trang 22Nếu chỉ tiêu này càng lớn thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp càngcao Nhưng khi vốn hoạt động thuần quá cao thì lại làm giảm hiệu quả hoạtđộng đầu tư và giảm thu nhập vì phần tài sản lưu động nằm dư ra so với nhucầu chắc chắn không làm tăng thêm thu nhập.
Tuy nhiên, do hoạt động của tài chính doanh nghiệp là một bộ phận củahoạt động sản xuất kinh doanh và có mối quan hệ trực tiếp, hai chiều với hoạtđộng sản xuất kinh doanh Vì vậy, để quá trình đánh giá được sâu sắc hơnchúng ta cần phải đi nghiên cứu các báo cáo tài chính tiếp theo
b Khái quát tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh qua phân tích Bảng cân đối kế toán
* Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn:
Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là xem xét và đánh giá sựthay đổi các chỉ tiêu cuối kỳ so với đầu kỳ trên BCĐKT về nguồn vốn và cáchthức sử dụng vốn của doanh nghiệp vào công việc cụ thể Sự thay đổi của cáctài khoản trên BCĐKT từ kỳ trước tới kỳ này cho ta biết nguồn vốn và sửdụng vốn
Để tiến hành phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn,trước tiênngười ta trình bày BCĐKT dưới dạng bảng cân đối báo cáo (Trình bày mộtphía) từ tài sản đến nguồn vốn, sau đó, so sánh số liệu cuối kỳ với đầu kỳtrong từng chỉ tiêu của bảng cân đối để xác định tình hình tăng giảm vốntrong doanh nghiệp theo nguyên tắc
+ Nếu tăng phần tài sản và giảm phần nguồn vốn thì được xếp vào cột sửdụng vốn
+ Nếu giảm phần tài sản và tăng phần nguồn vốn thì được xếp vào cộtnguồn vốn
+ Nguồn vốn và sử dụng vốn phải cân đối với nhau
Cuối cùng, tiến hành sắp xếp các chỉ tiêu về nguồn vốn và sử dụng vốntheo những trình tự nhất định tuỳ theo mục tiêu phân tích và phản ánh vàomột bảng biểu theo mẫu sau:
Trang 23Bảng1.1 Các ch tiêu v ngu n v n v s d ng v nỉ tiêu về nguồn vốn và sử dụng vốn ề nguồn vốn và sử dụng vốn ồn vốn và sử dụng vốn ốn và sử dụng vốn à sử dụng vốn ử dụng vốn ụng vốn ốn và sử dụng vốn
* Tình hình đảm bảo nguồn vốn.
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có tài sản baogồm: TSCĐ và đầu tư dài hạn; TSLĐ và đầu tư ngắn hạn Để hình thành hailoại tài sản này, phải có các nguồn vốn tài trợ tương ứng, bao gồm nguồn vốndài hạn và nguồn vốn ngắn hạn
Nguồn vốn ngắn hạn là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng trongkhoảng thời gian dưới 1 năm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm cáckhoản nợ ngắn hạn, nợ phải trả nhà cung cấp và nợ phải trả ngắn hạn khác Nguồn vốn dài hạn là nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng lâu dài cho hoạtđộng kinh doanh bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn vay nợ trung,dài hạn
Nguồn dài hạn trước hết được đầu tư để hình thành TSCĐ,phần dư củanguồn vốn dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn được đầu tư hình thành nên TSLĐ
Để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn đến hạn, cácnhà phân tích còn quan tâm đến chỉ tiêu vốn lưu động ròng hay vốn lưu độngthường xuyên của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cũng là một yếu tố quan trọng
và cần thiết cho việc đánh giá điều kiện cân bằng tài chính của một doanh
Trang 24nghiệp Nó được xác định là phần chênh lệch giữa tổng tài sản lưu động vàtổng nợ ngắn hạn: Vốn lưu động ròng = TSLĐ - Nợ ngắn hạn.
Khả năng đáp ứng nghĩa vụ thanh toán, mở rộng quy mô sản xuất kinhdoanh và khả năng nắm bắt thời cơ thuận lợi của doanh nghiệp phụ thuộcphần lớn vào vốn lưu động nói chung và vốn lưu động ròng nói riêng Do vậy,
sự phát triển còn được thể hiện ở sự tăng trưởng vốn lưu động ròng
Mức độ an toàn của tài sản ngắn hạn phụ thuộc vào mức độ của vốn lưuđộng thường xuyên.Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt độngkinh doanh,ta cần phải tính toán và so sánh giữa các nguồn vốn với tài sản: + Khi nguồn vốn dài hạn < TSCĐ hoặc TSLĐ < Nguồn vốn ngắnhạn:
Có nghĩa là nguồn vốn thường xuyên < 0 Do đó nguồn vốn dài hạnkhông đủ đầu tư cho TSCĐ, doanh nghiệp phải đầu tư vào TSCĐ một phầnnguồn vốn ngắn hạn, TSLĐ không đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán nợ ngắnhạn Cán cân thanh toán của doanh nghiệp mất cân bằng, doanh nghiệp phảidùng một phần TSCĐ để thanh toán nợ ngắn hạn đến hạn trả
Trong trường hợp như vậy, giải pháp của doanh nghiệp là tăng cườnghuy động vốn ngắn hạn hợp pháp hoặc giảm qui mô đầu tư dài hạn hay thựchiện đồng thời cả hai giải pháp đó
+ Khi nguồn vốn dài hạn > TSCĐ hoặc TSLĐ > Nguồn vốn ngắn hạn:Tức là có vốn lưu động thường xuyên > 0
Có nghĩa là nguồn vốn dài hạn dư thừa sau khi đầu tư vào TSCĐ, phầnthừa đó đầu tư vào TSLĐ Đồng thời TSLĐ > nguồn vốn ngắn hạn, do vậykhả năng thanh toán của doanh nghiệp tốt
+ Khi vốn lưu động thương xuyên = 0 có nghĩa là nguồn vốn dài hạn tàitrợ đủ cho TSCĐ và TSLĐ đủ để doanh nghiệp trả các khoản nợ ngắn hạn.Tình hình tài chính như vậy là lành mạnh Nhu cầu vốn lưu động thườngxuyên là lượng vốn ngắn hạn doanh nghiệp cần để tài trợ cho một phầnTSLĐ, đó là hàng tồn kho và các khoản phải thu (TSLĐ không phải là tiền)
Trang 25Nhu cầu VLĐ thường xuyên = Tồn kho và các khoản phải thu – Nợ ngắnhạn.
Thực tế có thể xảy ra các trường hợp sau:
- Nhu cầu VLĐ thường xuyên > 0: tức tồn kho và các khoản phải thu >
nợ ngắn hạn Tại đây các sử dụng ngắn hạn của doanh nghiệp lớn hơn cácnguồn vốn ngắn hạn mà doanh nghiệp có từ ở bên ngoài Vì vậy doanh nghiệpphải dùng nguồn vốn dài hạn để tài trợ vào phần chênh lệch
- Nhu cầu nợ thường xuyên < 0: có nghĩa là các nguồn vốn ngắn hạn từbên ngoài đã dư thừa để tài trợ các sử dụng ngắn hạn của doanh nghiệp.Doanh nghiệp không cần nhận vốn ngắn hạn để tài trợ cho chu kỳ kinh doanh
c Khái quát tình hình tài chính qua báo cáo kết quả hoạt động kinhdoanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một bản báo cáo tài chính tổnghợp phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh theo từng loại hoạtđộng của doanh nghiệp Nội dung của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanhthay đổi theo từng thời kỳ tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý, nhưng khi đánh giákhái quát tình hình tài chính thì phân tích Báo cáo cáo kết quả hoạt động kinhdoanh phải phản ánh được 4 nội dung cơ bản: Doanh thu; Giá vốn hàng bán;chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp; Lãi, lỗ Và được phản ánhqua đẳng thức sau:
Lãi (Lỗ) = Doanh thu – Chi phí bán hàng – Chi phí hoạt động kinhdoanh
d Hệ thống các nhóm chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính
Trong phân tích tài chính, thường dùng các nhóm chỉ tiêu đánh giá sau:
+ Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán
+ Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu vốn
+ Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động
+ Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời
Trang 26* Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán.
Ngày nay mục tiêu kinh doanh được các nhà kinh tế nhìn nhận lại mộtcách trực tiếp hơn, đó là: trả được công nợ và có lợi nhuận Vì vậy khả năngthanh toán được coi là những chỉ tiêu tài chính được quan tâm hàng đầu vàđược đặc trưng bằng các tỷ suất sau
+ Hệ số khả năng thanh toán tổng quát.
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanhtoán chung của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo Chỉ tiêu này cho biết: với tổng
số tài sản hiện có, doanh nghiệp có bảo đảm trang trải được các khoản nợ phảitrả hay không Nếu trị số chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán tổng quát củadoanh nghiệp luôn ≥ 1, doanh nghiệp bảo đảm được khả năng thanh toán tổngquát và ngược lại; trị số này < 1, doanh nghiệp không bảo đảm được khả năngtrang trải các khoản nợ Trị số của hệ số khả năng thanh toán tổng quát càngnhỏ hơn 1, doanh nghiệp càng mất dần khả năng thanh toán
+ Hệ số thanh toán chung.
H s n y th hi n m i quan h tệ số này thể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản lưu động ốn và sử dụng vốn à sử dụng vốn ể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản lưu động ệ số này thể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản lưu động ốn và sử dụng vốn ệ số này thể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản lưu động ương đối giữa tài sản lưu độngng đốn và sử dụng vốni gi a t i s n l u ữa tài sản lưu động à sử dụng vốn ản lưu động ư độngng
hi n h nh v t ng n ng n h n hi n h nh.ệ số này thể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản lưu động à sử dụng vốn à sử dụng vốn ổng nợ ngắn hạn hiện hành ợ ngắn hạn hiện hành ắn hạn hiện hành ạn hiện hành ệ số này thể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản lưu động à sử dụng vốn
Hệ số thanh toán hiện thời
=
Tổng tài sản ngắn hạnTổng nợ ngắn hạn
Tài sản lưu động thông thường bao gồm tiền, các chứng khoán dễchuyển nhượng, các khoản phải thu, hàng tồn kho và tài sản lưu động khác.Còn nợ ngắn hạn gồm các khoản vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng, cáckhoản phải trả người cung cấp, các khoản phải trả khác Hệ số thanh toán
Trang 27chung đo lường khả năng của các tài sản lưu động có thể chuyển đổi thànhtiền để hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn Hệ số này phụ thuộc vào từng ngànhkinh doanh và từng thời kỳ kinh doanh, nhưng nguyên tắc cơ bản phát biểurằng con số tỷ lệ 2:1 là hợp lý Nhìn chung, một con số tỷ lệ thanh toán chungrất thấp thông thường sẽ trở thành nguyên nhân lo âu, bởi vì các vấn đề rắc rối
về dòng tiền mặt chắc chắn sẽ xuất hiện Trong khi đó một con số tỷ cao quálại nói lên rằng Công ty đang không quản lý hợp lý được các tài sản có hiệnhành của mình
+ Hệ số thanh toán nhanh.
H s thanh toán nhanh l m t tiêu chu n ánh giá kh t khe h n vệ số này thể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản lưu động ốn và sử dụng vốn à sử dụng vốn ộng ẩn đánh giá khắt khe hơn về đ ắn hạn hiện hành ơng đối giữa tài sản lưu động ề nguồn vốn và sử dụng vốn
kh n ng tr các kho n n ng n h n so v i ch s thanh toán chung H sản lưu động ản lưu động ản lưu động ợ ngắn hạn hiện hành ắn hạn hiện hành ạn hiện hành ới chỉ số thanh toán chung Hệ số ỉ tiêu về nguồn vốn và sử dụng vốn ốn và sử dụng vốn ệ số này thể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản lưu động ốn và sử dụng vốn
n y th hi n m i quan h gi a t i s n có kh n ng thanh toán nhanh b ngà sử dụng vốn ể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản lưu động ệ số này thể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản lưu động ốn và sử dụng vốn ệ số này thể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản lưu động ữa tài sản lưu động à sử dụng vốn ản lưu động ản lưu động ằng
ti n m t (ti n m t, ch ng khoán có giá v các kho n ph i thu) v t ng nề nguồn vốn và sử dụng vốn ề nguồn vốn và sử dụng vốn ứng khoán có giá và các khoản phải thu) và tổng nợ à sử dụng vốn ản lưu động ản lưu động à sử dụng vốn ổng nợ ngắn hạn hiện hành ợ ngắn hạn hiện hành
ng n h n H ng d tr v các kho n phí tr trắn hạn hiện hành ạn hiện hành à sử dụng vốn ự trữ và các khoản phí trả trước không được coi là các ữa tài sản lưu động à sử dụng vốn ản lưu động ản lưu động ưới chỉ số thanh toán chung Hệ sốc không đượ ngắn hạn hiện hành.c coi l cácà sử dụng vốn
t i s n có kh n ng thanh toán nhanh vì chúng khó chuy n à sử dụng vốn ản lưu động ản lưu động ể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản lưu động đổng nợ ngắn hạn hiện hành ằngi b ngti nề nguồn vốn và sử dụng vốn
m t v à sử dụng vốn đẽ bị lỗ nếu được bán Hệ số này được tính như sau: ị lỗ nếu được bán Hệ số này được tính như sau: ỗ nếu được bán Hệ số này được tính như sau: ếu được bán Hệ số này được tính như sau: đượ ngắn hạn hiện hành b l n u c bán H s n y ệ số này thể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản lưu động ốn và sử dụng vốn à sử dụng vốn đượ ngắn hạn hiện hành.c tính nh sau:ư
Hệ số thanh toán nhanh
=
TSLĐ - Hàng tồn khoTổng nợ ngắn hạnNếu hệ số thanh toán nhanh 1 thì tình hình thanh toán tưong đối khảquan, còn nếu < 1 thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc thanhtoán
+ Hệ số thanh toán tức thời.
ây l m t tiêu chu n ánh giá kh n ng thanh toán b ng ti n m tà sử dụng vốn ộng ẩn đánh giá khắt khe hơn về đ ản lưu động ằng ề nguồn vốn và sử dụng vốn
kh t khe h n h s thanh toán nhanh H s n y ắn hạn hiện hành ơng đối giữa tài sản lưu động ệ số này thể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản lưu động ốn và sử dụng vốn ệ số này thể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản lưu động ốn và sử dụng vốn à sử dụng vốn đượ ngắn hạn hiện hành.c tính b ng cách l yằng ấy
t ng các kho n ti n v ch ng khoán có kh n ng thanh toán cao chia choổng nợ ngắn hạn hiện hành ản lưu động ề nguồn vốn và sử dụng vốn à sử dụng vốn ứng khoán có giá và các khoản phải thu) và tổng nợ ản lưu động
n ng n h n.ợ ngắn hạn hiện hành ắn hạn hiện hành ạn hiện hành
Trang 28hiếm tiền mặt (quay vòng vốn nhanh), các doanh nghiệp này cần phải đượcthanh toán nhanh chóng để hoạt động được bình thường Thực tế cho thấy, hệ
số này 0,5 thì tình hình thanh toán tương đối khả quan còn nếu < 0,5 thìdoanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán Tuy nhiên, nếu hệ sốnày quá cao lại phản ánh một tình hình không tốt là vốn bằng tiền quá nhiều,vòng quay tiền chậm làm giảm hiệu quả sử dụng
+ Hệ số thanh toán lãi vay.
Lãi vay phải trả là một khoản chi phí cố định, nguồn để trả lãi vay là lãithuần trước thuế So sánh giữa nguồn để trả lãi vay với lãi vay phải trả sẽ chochúng ta biết doanh nghiệp đã sẵn sàng trả tiền lãi vay ở mức độ nào
Hệ số thanh toán lãi
vay =
Lãi thuần trước thuế + Lãi vay phải trảLãi vay phải trả
Hệ số này dùng để đo lường mức độ lợi nhuận có được do sử dụng vốn
để đảm bảo trả lãi cho chủ nợ Nói cách khác, hệ số thanh toán lãi vay chochúng ta biết được số vốn đi vay đã sử dụng tốt tới mức độ nào và đem lạimột khoản lợi nhuận là bao nhiêu, có đủ bù đắp lãi vay phải trả không
* Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính.
Các chỉ tiêu này phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính cũng nhưkhả năng sử dụng nợ vay của doanh nghiệp Chúng được dùng để đo lườngphần vốn góp của các chủ sở hữu doanh nghiệp so với phần tài trợ của cácchủ nợ đối với doanh nghiệp Nguồn gốc và sự cấu thành hai loại vốn này xácđịnh khả năng thanh toán dài hạn của doanh nghiệp ở một mức độ đáng chú ý
+ Hệ số cơ cấu nguồn vốn.
Để đánh giá khả năng tìa chính của một Công ty người ta thường
dùng rất nhiều các chỉ số tài chính Trong đó chỉ số phản ánh tình trạng nợcủa một Công ty là rất quan trọng và được nhà đầu tư, các chuyên gia phântích quan tâm
Chỉ số phản ánh nợ của một doanh nghiệp bao gồm:
Trang 29Tổng số nợ ở đây bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn phải trả Chủ nợ thường thích công ty có tỷ số nợ thấp vì như vậy công ty có khả năng trả nợ cao hơn Ngược lại, cổ đông muốn có tỷ số nợ cao vì như vậy làm gia tăng khả năng sinh lợi cho cổ đông Tuy nhiên muốn biết tỷ số này cao hay thấp cần phải so sánh với tỷ số nợ của bình quân ngành.
Tỷ số nợ càng thấp thì mức độ bảo vệ dành cho các chủ nợ càng caotrong trường hợp doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản và phải thanh lý tài sản
Về mặt lý thuyết, chỉ số này nằm trong khoảng 0 < và < 1 nhưng thông thường nó dao động quanh giá trị 0,5 Bởi lẽ nó bị tự điều chỉnh từ hai phía: Chủ nợ và con nợ Nếu chỉ số này càng cao, chủ nợ sẽ rất chặt chẽ khi quyết định cho vay thêm, mặt khác về phía con nợ, nếu vay nhiều quá sẽ ảnh hưởng đến quyền kiểm soát, đồng thời sẽ bị chia phần lợi quá nhiều cho vốn vay (trong thời kỳ kinh doanh tốt đẹp) và rất dễ phá sản (trong thời kỳ kinh doanh đình đốn).
Hệ số nợ (k)
=
VốnvayVốnchủĐây là chỉ số rút ra từ chỉ số trên, song lại có ý nghĩa để xem xét mốiquan hệ với hiệu quả kinh doanh trên vốn chủ của doanh nghiệp
+ Hệ số cơ cấu tài sản.
ánh giá trình s d ng v n c a doanh nghi p, các nh phân
ể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản lưu động đ động ử dụng vốn ụng vốn ốn và sử dụng vốn ủa doanh nghiệp, các nhà phân ệ số này thể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản lưu động à sử dụng vốn
Trang 30tích còn nghiên c u v b trí c c u v n T s n y s tr l i câu h iứng khoán có giá và các khoản phải thu) và tổng nợ ề nguồn vốn và sử dụng vốn ốn và sử dụng vốn ơng đối giữa tài sản lưu động ấy ốn và sử dụng vốn ỷ số này sẽ trả lời câu hỏi ốn và sử dụng vốn à sử dụng vốn ẽ bị lỗ nếu được bán Hệ số này được tính như sau: ản lưu động ời câu hỏi ỏi
“Trong m t ộng đồn vốn và sử dụng vốnng v n m doanh nghi p hi n ang s d ng có bao nhiêuốn và sử dụng vốn à sử dụng vốn ệ số này thể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản lưu động ệ số này thể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản lưu động đ ử dụng vốn ụng vốn
u t v o TSL , bao nhiêu u t v o TSC Tu theo lo i hình s nđ% ư à sử dụng vốn đ% ư à sử dụng vốn ỳ theo loại hình sản ạn hiện hành ản lưu động
xu t m t s n y m c ấy à sử dụng vốn ỷ số này sẽ trả lời câu hỏi ốn và sử dụng vốn à sử dụng vốn ở mức độ cao thấp khác nhau Nhưng bố trí cơ cấu ứng khoán có giá và các khoản phải thu) và tổng nợ động cao th p khác nhau Nh ng b trí c c uấy ư ốn và sử dụng vốn ơng đối giữa tài sản lưu động ấy
v n c ng h p lý bao nhiêu thì hi u qu s d ng v n c ng t i a hoá b yốn và sử dụng vốn à sử dụng vốn ợ ngắn hạn hiện hành ệ số này thể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản lưu động ản lưu động ử dụng vốn ụng vốn ốn và sử dụng vốn à sử dụng vốn ốn và sử dụng vốn đ ấynhiêu N u b trí c c u v n b l ch s l m m t cân ếu được bán Hệ số này được tính như sau: ốn và sử dụng vốn ơng đối giữa tài sản lưu động ấy ốn và sử dụng vốn ị lỗ nếu được bán Hệ số này được tính như sau: ệ số này thể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản lưu động ẽ bị lỗ nếu được bán Hệ số này được tính như sau: à sử dụng vốn ấy đốn và sử dụng vốni gi a TSL vữa tài sản lưu động à sử dụng vốnTSC , d n t i tình tr ng th a ho c thi u m t lo i t i s n n o ó C c u( ới chỉ số thanh toán chung Hệ số ạn hiện hành ừa hoặc thiếu một loại tài sản nào đó Cơ cấu ếu được bán Hệ số này được tính như sau: ộng ạn hiện hành à sử dụng vốn ản lưu động à sử dụng vốn đ ơng đối giữa tài sản lưu động ấycho t ng lo i v n ừa hoặc thiếu một loại tài sản nào đó Cơ cấu ạn hiện hành ốn và sử dụng vốn đượ ngắn hạn hiện hành.c tính nh sau:ư
* Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động.
Khi giao tiền vốn cho người khác sử dụng, các nhà đầu tư, chủ doanhnghiệp, người cho vay thường băn khoăn trước câu hỏi: tài sản của mìnhđược sử dụng ở mức hiệu quả nào? Các chỉ tiêu về hoạt động sẽ đáp ứng câuhỏi này Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho việc sử dụng tài nguyên, nguồnlực của doanh nghiệp Các chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá tác động tới
Trang 31hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Nguồn vốn của doanh nghiệp đượcdùng để đầu tư cho TSCĐ và TSLĐ Do đó, các nhà phân tích không chỉ quantâm tới việc đo lường hiệu quả sử dụng tổng số nguồn vốn mà còn chú trọngđến hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành nguồn vốn của doanhnghiệp.
+ Vòng quay tiền.
Ch s n y ỉ tiêu về nguồn vốn và sử dụng vốn ốn và sử dụng vốn à sử dụng vốn đượ ngắn hạn hiện hành.c tính b ng cách chia doanh thu tiêu th trong n mằng ụng vốncho t ng s ti n m t v các lo i ch ng khoán ng n h n có kh n ng thanhổng nợ ngắn hạn hiện hành ốn và sử dụng vốn ề nguồn vốn và sử dụng vốn à sử dụng vốn ạn hiện hành ứng khoán có giá và các khoản phải thu) và tổng nợ ắn hạn hiện hành ạn hiện hành ản lưu độngtoán cao
Vòng quay tiền =
Doanh thu tiêu thụTiền + Chứng khoán NH có khả năng thanh khoảncao
Chỉ tiêu này cho biết số vòng quay của tiền trong năm
+ Kỳ thu tiền trung bình.
Trong quá trình hoạt động, việc phát sinh các khoản phải thu, phải trả làđiều tất yếu Khi các khoản phải thu càng lớn, chứng tỏ vốn của doanh nghiệp
bị chiếm dụng càng nhiều (ứ đọng trong khâu thanh toán) Nhanh chóng giảiphóng vốn bị ứ đọng trong khâu thanh toán là một bộ phận quan trọng củacông tác tài chính Vì vây, các nhà phân tích tài chính rất quan tâm tới thờigian thu hồi các khoản phải thu và chỉ tiêu kỳ thu tiền trung bình được sửdụng để đánh giá khả năng thu hồi vốn trong thanh toán trên cơ sở các khoảnphải thu và doanh thu tiêu thụ bình quân ngày Chỉ tiêu này được xác địnhnhư sau:
Kỳ thu tiền trung bình
=
Các khoản phải thu Doanh thu bình quânngày
hoặc =
Các khoản phải thu x 360ngày
Trang 32Doanh thu Các khoản phải thu bao gồm: Phải thu của khách hàng, trả trướccho người bán, phải thu nội bộ, các khoản tạm ứng, chi phí trả trước
Số liệu lấy ở bảng cân đối kế toán, phần tài sản, mã số 130 “các khoảnphải thu” và mã số 159 “Tài sản lưu động khác”
Doanh thu bao gồm: Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh (Mã số01), thu nhập từ hoạt động tài chính (Mã số 31) và thu thập bất thường (Mã số41) ở báo cáo kết qủa hoạt động kinh doanh, phần báo cáo lỗ lãi
Các khoản phải thu lớn hay nhỏ phụ thuộc vào chính sách tín dụng củadoanh nghiệp và các khoản phải trả trước kỳ thu tiền trung bình cho biếttrung bình số phải thu trong kỳ bằng doanh thu của bao nhiêu ngày Thôngthường 20 ngày là một kỳ thu tiền chấp nhận được Nếu giá trị của chỉ tiêunày càng cao thì doanh nghiệp đã bị chiếm dụng vốn, gây ứ đọng vốn trongkhâu thanh toán, khả năng thu hồi vốn trong thanh toán chậm Do đó, doanhnghiệp phải có biện pháp để thu hồi nợ Tuy nhiên, trong tình hình cạnh tranhgay gắt thì có thể đây là chính sách của doanh nghiệp nhằm phục vụ chonhững mục tiêu chiến lược như chính sách mở rộng, thâm nhập thị trường
+ Vòng quay hàng tồn kho.
Hàng tồn kho là một loại tài sản dự trữ với mục đích nhằm đảm bảo cho sản xuất được tiến hành một các bình thường, liên tục, và đáp ứng được nhu cầu của thị trường Mức độ tồn kho cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như: loại hình kinh doanh, chế độ cung cấp mức độ đầu vào, mức độ tiêu thụ sản phẩm, thời vụ trong năm Để dảm bảo sản xuất được tiến hành liên tục, đồng thời đáp ứng đủ cho nhu cầu của khách hàng, mỗi doanh nghiệp cần có một mức dự trữ tồn kho hợp lý, chỉ tiêu này được xác định bằng tỷ lệ doanh thu tiêu thụ trong năm và hàng tồn kho.
Vòng quay tồn kho = Doanh thu tiêu thụ
Hàng tồn khoĐây là chỉ số phản ánh trình độ quản lý dự trữ của doanh nghiệp, thểhiện mối quan hệ giữa hàng hoá đã bán và vật tư hàng hoá của doanh nghiệp
Trang 33Doanh nghiệp kinh doanh thường có vòng quay tồn kho hơn rất nhiều so vớidoanh nghiệp sản xuất kinh doanh Chỉ tiêu này từ 9 trở lên là một dấu hiệutốt về tình hình tiêu thụ và dự trữ Hệ số này thấp có thể phản ánh doanhnghiệp bị ứ đọng vật tư hàng hoá, hoặc sản phẩm tiêu thụ chậm và ngược lại.
+ Vòng quay toàn bộ vốn.
Vòng quay toàn bộ vốn là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng vốn, trong
đó nó phản ánh một đồng vốn được doanh nghiệp huy động vào sản xuất kinhdoanh đem lại bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Chỉ tiêu này làm rõ khả năng tận dụng vốn triệt để vào sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Việc cải thiện chỉ số này sẽ làm tăng lợi nhuận đồngthời làm tăng khả năng cạnh tranh, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường
* Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời.
Lợi nhuận là mục đích cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, lợinhuận càng cao, doanh nghiệp càng tự khẳng định vị trí và sự tồn tại của mìnhtrong nền kinh tế thị trường Nhưng nếu chỉ thông qua số lợi nhuận mà doanhnghiệp thu được trong thời kỳ cao hay thấp để đánh giá chất lượng hoạt độngsản xuất kinh doanh là tốt hay xấu thì có thể đưa chúng ta tới những kết luậnsai lầm Bởi lẽ số lợi nhuận này không tương xứng với lượng chi phí đã bỏ ra,với khối lượng tài sản mà doanh nghiệp đã sử dụng Để khắc phục nhượcđiểm này, các nhà phân tích thường bổ xung thêm những chỉ tiêu tương đốibằng cách đặt lợi nhuận trong mối quan hệ với doanh thu đạt được trong kỳvới tổng số vốn mà doanh nghiệp đã huy động vào sản xuất kinh doanh Phân
Trang 34tích mức độ sinh lời của hoạt động kinh doanh được thực hiện thông qua tính
và phân tích các chỉ tiêu sau:
+Hệ số sinh lời.
Là thước đo đánh giá hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Nó là kết quả tổng hợp của hàng loạt biện pháp và quyết địnhquản lý của doanh nghiệp Hệ số sinh lời bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Tỷ suất lợi nhuận ròng sau thuế trên doanh thu hay hệ số lãi ròng
Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế và doanhthu thuần trong kỳ của doanh nghiệp Nó thể hiện, khi thực hiện 1 đồng doanhthu trong kỳ, doanh nghiệp có thể thu được bao nhiêu lợi nhuận
- Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh hay tỷsuất sinh lời kinh tế của tài sản (ROAE)
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản hay vốn kinh doanhkhông tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc củavốn kinh doanh
- Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này thể hiện mỗi đồng vốn kinh doanh trong kỳ có khả năngsinh lời ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trang trải tiền lãi vay
Trang 35- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh hay sinh lời ròng củatài sản (ROA).
ROA =
Lợi nhuận sau thuếVốn kinh doanh bình quân trongkỳ
ROA cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư (hay lượng tài sản) ROA đối với các công ty cổ phần có sự khác biệt rất lớn và phụ thuộc nhiều vào ngành kinh doanh Đó là lý do tại saokhi sử dụng ROA để so sánh các công ty, tốt hơn hết là nên so sánh ROA của mỗi công ty qua các năm và so giữa các công ty tương đồng nhau
Tài sản của một công ty được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu
Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của công ty Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA.ROA càng cao thì càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn
- Tỷ suất lợi nhuận vố chủ sở hữu (ROE)
Đây là một chỉ tiêu mà các nhà đầu tư rất quan tâm Chỉ tiêu này đo lường mức lợi nhuận thu được trên mỗi đồng vố chủ sở hữu trong kỳ
ROE =
Lợi nhuận sau thuếVốn CSH bình quân sử dụngtrong kỳ
Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả vốn chủ sở
Trang 36hữu, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn chủ sở hữu với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấpdẫn các nhà đầu tư hơn.
Khi tính toán được tỷ lệ này, các nhà đầu tư có thể đánh giá ở các góc độ
cụ thể như sau:
◦ ROE nhỏ hơn hoặc bằng lãi vay ngân hàng, vậy nếu công ty có khoản vay ngân hàng tương đương hoặc cao hơn vốn chủ sở hữu, thì lợi nhuận tạo racũng chỉ để trả lãi vay ngân hàng
◦ ROE cao hơn lãi vay ngân hàng thì phải đánh giá xem công ty đã vay ngân hàng và khai thác hết lợi thế cạnh tranh trên thị trường chưa để có thể đánh giá công ty này có thể tăng tỷ lệ ROE trong tương lai hay không
* Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng tăng trưởng.
Đánh giá chính xác khả năng tăng trưởng, giúp cho việc tính toán khả năng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai là vấn đề có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với nhà quản lý doanh nghiệp mà kể cả các nhà đầu tư Thực tế hiện nay cho thấy không phải chỉ có doanh nghiệp suy thoái bị phá sản mà có nhiều doanh nghiệp bị phá sản bởi tăng trưởng quá nhanh, một số khác thì tăng trưởng quá chậm Việc quản lý để đạt được sự tăng trưởng đúng mức và bền vững là mục tiêu theo đuổi của các nhà quản lý nếu muốn tối đa hoá lợi nhuận
Phân tích, đánh giá khả năng tăng trưởng được bắt đầu từ việc nghiên cứu, xác định được tốc độ phát triển bền vững của doanh nghiệp Đây lµ tốc
độ tăng trưởng tối đa trong sự phù hợp với tốc độ tăng doanh số mà vẫn
không làm cạn kiệt nguồn nội lực tài chính của doanh nghiệp Tiếp theo tiến hành so sánh tốc độ tăng trưởng mục tiêu với tốc độ tăng trưởng bền vững đồng thời nghiên cứu, xem xét tình huống đặt ra cho các nhà quản trị một khi tốc độ tăng trưởng mục tiêu vượt quá tốc độ tăng trưởng bền vững hay ngược lại nhỏ hơn tốc độ tăng trưởng bền vững
Trang 37Trước hết hãy giả định rằng: 1 Trong điều kiện thị trường cho phép, mọi doanh nghiệp đều muốn tăng trưởng càng nhanh càng tốt; 2 Doanh
nghiệp không thể hoặc không muốn tăng vốn chủ bằng cách gọi thêm và phát hành cổ phiếu; 3 Doanh nghiệp muốn duy trì một chính sách tài chính mà công ty cần phải đạt được
Tình hình tài chính của một doanh nghiệp đang trên đà phát triển nhanh
có thể biểu diễn qua hình sau:
Nợ phải trả và vốn chủ
sở hữu gốc
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ về sự gia tăng của doanh thu đòi hỏi sự gia tăng của
nợ vay và giữ lại lợi nhuận.
Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp được trình bày làm 2 cột: Tài sản và nguồn vốn Phần dưới là tài sản và nguồn vốn ở thời điểm đầu năm (bằng nhau) Doanh nghiệp muốn gia tăng doanh thu cần phải gia tăng tài sản như khối lượng sản xuất, hàng tồn kho, các khoản phải thu Do Công ty
không thể bỏ thêm vốn chủ như giả định nên nguồn tài trợ cho sự gia tăng củatài sản là lợi nhuận giữ lại và tăng thêm nợ vay
Vấn đề cần xác định là tốc độ giới hạn mà doanh nghiệp có thể tăng doanh thu đó chính là tốc độ tăng trưởng bền vững (ký hệu: Tbv)
Ta biết rằng: vốn chủ sở hữu (bằng thu nhập giữ lại) và nợ vay tăng theo một tỉ lệ thì cấu trúc tài chính không thay đổi Như vậy thì tỷ lệ tăng vốn chủ và nợ vay quyết định
tỷ lệ gia tăng tài sản mà tỷ lệ gia tăng tài sản giới hạn tỷ lệ tăng trưởng của doanh thu Do
Trang 38Vốn chủ sở hữu đầu kỳ
Công thức này có thể biểu diễn dưới dạng:
DT
TN: thu nhập giữ lại
LN: Lợi nhuận sau thuế
DT: Doanh thu thuần
TS: tổng tài sản bình quân; VC: vốn chủ sở hữu
Trong công thức trên: (1) là tỷ lệ lợi nhuận giữ lại
Tbv phụ thuộc vào 4 nhân tố Nếu một trong 4 hệ số trên thay đổi thì Tbv cũng thay đổi theo Điều đó nói lên rằng: muốn có tốc độ tăng trưởng lớn
Trang 39hơn so với tỷ lệ tăng trưởng bền vững đã xác định thì tốt nhất là tác động vào (2) và (3) tức là cải thiện tình hình hoạt động nếu không phải chuẩn bị
phương án thay đổi chính sách tài chính
2 bộ phận đầu cho thấy chính sách tài chính của doanh nghiệp
(3) là tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (khả năng sinh lợi của tài sản)
Cách biểu diễn này cho thấy: với chính sách tài chính ổn định cho
trước, tốc độ tăng trưởng bền vững thay đổi tuyến tính với khả năng sinh lời của tài sản Sơ đồ 1.4 phác hoạ mối quan hệ này Đường biểu diễn mối quan
hệ này có thể được gọi là đường “tăng trưởng cân bằng” Gọi là cân bằng bởi
lẽ doanh nghiệp chỉ có thể tài trợ nếu các điểm biểu diễn tăng trưởng doanh thu và khả năng sinh lời của tài sản đều nằm trên đường này Ngoài ra sẽ dẫn đến thiếu hụt hay dư thừa tiền mặt Như vậy, nếu tăng trưởng quá nhanh mà mức lợi nhuận có hạn thì doanh nghiệp nằm trong vùng thiếu tiền và ngược lại nằm trong vùng thừa tiền
Thiếu hụt tiền mặt
Dư thừa tiền mặt
Tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản
Sơ đồ 1.2: Mỗi quan hệ giữa tăng trưởng bền vững và khả năng sinh lời.
Đường tăng trưởng cân bằng
Trang 40Nếu doanh nghiệp rơi vào sự tăng trưởng không cân bằng có thể điều chỉnh, tác động đến 1 trong 3 nhân tố là: tốc độ tăng trưởng, chính sách tài chính, tỷ suất lợi nhuận Khi đó đường tăng trưởng cân bằng sẽ dịch chuyển
và sự cân bằng mới sẽ được thiết lập Tuy nhiên trong từng điều kiện cụ thể
mà lựa chọn bộ phận cần tác động
Trường hợp tăng trưởng thực tế lớn hơn tốc độ tăng trưởng bền vững: trước tiên là xem xét tình hình này kéo dài bao lâu Nếu tốc độ này có thể giảm xuống trong tương lai gần do doanh nghiệp đã đạt được mức bão hoà thìđiều đó có nghĩa là tốc độ tăng trưởng nhanh chỉ là tạm thời, do đó có thể giải quyết việc vay mượn thêm Khi tốc đọ tăng trưởng thực tế giảm xuống nhỏ hơn hoặc bằng tăng trưởng bền vững, lúc đó doanh nghiệp chuyển từ kẻ tiêu tiền sang người tạo ra tiền và có thể trả được nợ vay Trường hợp tốc độ tăng trưởng lớn kéo dài, cần có sự phối hợp các chiến lược như:
- Huy động vốn cổ động mới: khi vốn cổ đông tăng, cộng với số tiền cóthể được vay thêm, sẽ là nguồn tài trợ giúp cho tăng trưởng
- Gia tăng các đòn bẩy bằng cách: 1 Giảm tỷ lệ chia cổ tức (tăng tỷ lệ giữ lại thu nhập) 2 Tăng nợ vay
- Thay đổi quá trình hoạt động kinh doanh để kiểm soát tăng trưởng quá nhanh (ví dụ đa dạng hoá sản phẩm với mục tiêu bình quân hoá các
nguồn thu trên cơ sở đó giảm tỷ lệ tăng trưởng)
- Sử dụng ngoại lực bằng cách thuê ngoài và giảm vệic thực hiện trong nội bộ doanh nghiệp Điều này có thể giải phóng một số tài sản gắn liền với các hoạt động và nó sẽ làm tăng việc luân chuyển tài sản của doanh nghiệp, điều đó làm giảm bớt khó khăn trong vấn đề tăng trưởng
Trường hợp tăng trưởng thực tế thấp hơn tốc độ tăng trưởng bền vững: các doanh nghiệp có tỷ lệ tăng trưởng quá thấp vướng vào tình thế nan giải là không biết làm gì với nguồn lực quá lớn Khi không thể đạt được tốc độ tăng trưởng cần thiết thì có thể lựa chọn các giải pháp như:
- Hoàn trả vốn cho các chủ sở hữu thông qua việc tăng tỷ lệ thanh toán