Trải qua 10 năm xây dựng và phát triển, Cục CNTT & TKHQ đã gópphần thúc đẩy công tác ứng dụng CNTT, đưa hoạt động quản lý hải quan cónhững bước tiến vượt bậc, từ chỗ việc ứng dụng chủ yế
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Khoa : Thương mại và Kinh tế quốc tế
Em xin cam đoan rằng Chuyên đề thực tập cuối khoá này là hoàn toàn do
em tự nghiên cứu đề tài hoàn thành, không sao chép Các số liệu sử dụng trongbài là tài liệu em thu thập được hoàn toàn có nguồn gốc rõ ràng bám sát với tình
hình hoạt động của Cục Công nghệ thông tin và Thống kê hải quan-Tổng cục Hải quan.
Nếu có điều gì vi phạm em xin chịu mọi hình thức kỷ luật của nhà trường!
Hà Nội, ngày 2 tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Hoàng Thị Tú
Trang 2M C L CỤC LỤC ỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ỨNG DỤNG CNTT TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH HẢI QUAN .4
1.1 KHÁI NIỆM, QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG NỀN KINH TẾ 4
1.1.1 Khái niệm công nghệ thông tin 4
1.1.2 Quá trình phát triển của công nghệ thông tin 4
1.1.3 Vai trò của công nghệ thông tin trong nền kinh tế 6
1.2 HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH HẢI QUAN 7
1.2.1 Khái niệm về hoạt động của Hải quan 7
1.2.2 Đối tượng hoạt động của Hải quan 8
1.2.3 Phạm vi địa bàn hoạt động của Hải quan 8
1.2.4 Sự cần thiết của công nghệ thông tin trong hoạt động của Hải quan 9
1.3 NỘI DUNG ỨNG DỤNG CNTT TRONG NGÀNH HẢI QUAN 13
1.4 KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA HẢI QUAN MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 16
1.4.1 Công tác ứng dụng CNTT của Hải quan Singapore 16
1.4.2 Hệ thống thông quan NACCS của Hải quan Nhật Bản 18
1.4.2.1 Triển khai thành công hệ thống thông quan NACCS.19 1.4.2.2 Hàng hóa XNK được thông quan nhanh chóng 19
1.4.2.3 Các bước thủ tục đối với hàng xuất khẩu 20
CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG NGÀNH HẢI QUAN CỦA CỤC CNTT&TKHQ 21
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CỤC CNTT&TKHQ 21
2.1.1 Đặc điểm, tình hình đơn vị 21
2.1.1.1 Chức năng, nhiệm vụ 21
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức 22
2.1.1.3 Tổ chức Đảng và đoàn thể 22
2.1.1.4 Các mối quan hệ chủ yếu 23
2.1.2 Quá trình xây dựng và phát triển 23
2.1.3 Thành tích đạt được trong 10 năm đổi mới 24
Trang 32.1.4 Kết quả thành tích được khen thưởng 25
2.1.4.1 Khen thưởng chính quyền (công tác chuyên môn) 25
2.1.4.2 Khen thưởng về công tác Đảng, đoàn thể 26
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG NGÀNH HẢI QUAN CỦA CỤC CNTT&TKHQ 28
2.2.1 Môi trường hoạt động 28
2.2.2 Về công tác xây dựng, thực hiện kế hoạch 29
2.2.2.1 Kết quả đạt được 29
2.2.2.2 Tồn tại 29
2.2.3 Về hạ tầng công nghệ thông tin 30
2.2.3.1 Kết quả đạt được 30
2.2.3.2 Tồn tại 30
2.2.4 Về công tác xây dựng, triển khai, quản lý phần mềm ứng dụng 31
2.2.4.1 Những kết quả đã đạt được 31
2.2.4.2 Tồn tại 34
2.2.5 Về hệ thống cơ sở dữ liệu 35
2.2.5.1 Kết quả đạt được 35
2.2.5.2 Tồn tại 35
2.2.6 Về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực 36
2.2.6.1 Kết quả đạt được 36
2.2.6.2 Tồn tại 36
2.3 NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ 37
2.3.1 Những thành tựu đạt được 37
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân chủ yếu 49
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC ỨNG DỤNG CNTT TRONG NGÀNH HẢI QUAN CỦA CỤC CNTT&TKHQ 52
3.1 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG CNTT TRONG NGÀNH HẢI QUAN THỜI GIAN TỚI CỦA CỤC CNTT&TKHQ 52
3.1.1 Định hướng phát triển của ngành Hải quan 52
3.1.2 Mục tiêu phát triển CNTT ngành Hải quan 55
3.1.2.1 Mục tiêu 55
3.1.2 2 Các hoạt động và lộ trình 56
Trang 43.1.3 Định hướng phát triển ứng dụng CNTT trong ngành Hải
quan của Cục CNTT&TKHQ 56
3.2 GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC ỨNG DỤNG CNTT TRONG NGÀNH HẢI QUAN CỦA CỤC CNTT&TKHQ 59
3.2.1 Xây dựng mới, bảo trì, nâng cấp hạ tầng mạng, trang thiết bị CNTT an ninh, an toàn bảo mật phục vụ hiện đại hóa 59
3.2.2 Bảo đảm an toàn hệ thống thông tin 60
3.2.2.1 Xây dựng, cập nhật, duy trì và sao lưu cơ sở dữ liệu, các hệ thống thông tin quản lý 60
3.2.2.2 Xây dựng, duy trì, nâng cấp hệ thống kỹ thuật và nghiệp vụ bảo đảm an toàn thông tin 60
3.2.2.3 Xây dựng, bổ sung quy định, quy chế về quản lý, khai thác và bảo trì các hệ thống thông tin 60
3.2.3 Xây dựng và triển khai các chương trình ứng dụng tiên tiến, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới 61
3.2.3.1 Ttriển khai tiếp nhận hệ thống tự động hóa (VNACCS và VCIS) của Hải quan Nhật Bản 61
3.2.3.2 Tăng cường ứng dụng CNTT vào các hoạt động nghiệp vụ hải quan 61
3.2.3.3 Đẩy nhanh thực hiện cơ chế Hải quan một cửa quốc gia và ASEAN 61 3.2.3.4 Tiếp tục triển khai thủ tục hải quan điện tử 62
3.2.4 Đào tạo và đào tạo lại cán bộ, công chức, viên chức kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong xử lý công việc; cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin 62
KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC 65
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CNTT : Công nghệ thông tin
CNTT&TKHQ: Công nghệ thông tin và thống kê hải quan TCHQ : Tổng cục Hải quan
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài:
Định hướng phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020 của Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định mục tiêu tổng quát phát triển kinh tế xãhội của đất nước là: ”Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nướccông nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị – xã hội ổn định, đồng thuận, dânchủ, kỷ cương, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt;độc lập, chủ quyền, thống nhất, và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế củaViệt Nam trên trường quốc tế được nâng cao hơn trong giai đoạn sau”
Công tác quản lý nhà nước về hải quan đóng vai trò quan trọng vào sựphất triển kinh tế - xã hội thông qua việc tạo thuận lợi cho thương mại, du lịch
và đầu tư; bảo vệ nền kinh tế trong nước, đảm bảo an ninh an toàn xã hội; đónggóp nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 là một bộ phận quan trọngtrong chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020 của đất nước;những mục tiêu cơ bản và những giải pháp chủ yếu nhằm vượt qua các khó khănthách thức và thực hiện thành công các nhiệm vụ của công tác quản lý nhà nước
về Hải quan
Một trong các giải pháp quan trọng nhất để thực hiện chiến lược phát triểnHải quan quốc gia là phát triển tối đa ứng dụng công nghệ thông tin xây dựngphát triển hệ thống hải quan điện tử
Trong bối cảnh đó, Lãnh đạo ngành Hải quan đã sớm nhận thức được vaitrò không thể thiếu của CNTT đối với quá trình cải cách hành chính, hiện đạihoá ngành Hải quan, đặc biệt là việc đưa các ứng dụng CNTT vào các hoạt độngnghiệp vụ hải quan, công tác quản lý và điều hành của các cấp lãnh đạo Nhờvậy, trong những năm qua Lãnh đạo ngành Hải quan đã quan tâm chỉ đạo côngtác tổ chức, từng bước kiện toàn tổ chức tin học trong Ngành cho phù hợp vớiyêu cầu nhiệm vụ Với một Tổ Máy tính điện tử thuộc Văn phòng Tổng cục ởngày đầu thành lập năm 1987, nhiệm vụ cốt lõi là đưa ứng dụng điện toán vàocông tác quản lý hải quan, nhân sự chỉ vỏn vẹn 03 người 03 năm sau đó, Tổđược nâng lên cấp phòng (có tên là Phòng Thống kê- Máy tính, thuộc Tổng cụcHải quan) Năm 1994, Trung tâm Tin học và Thống kê hải quan được thành lập,chính là nền tảng quan trọng để trở thành một Cục nghiệp vụ tham mưu, giúpviệc thuộc tổ chức bộ máy của Tổng cục Hải quan, đó là Cục CNTT&TKHQngày nay
Trang 7Trải qua 10 năm xây dựng và phát triển, Cục CNTT & TKHQ đã gópphần thúc đẩy công tác ứng dụng CNTT, đưa hoạt động quản lý hải quan cónhững bước tiến vượt bậc, từ chỗ việc ứng dụng chủ yếu phục vụ công tác báocáo thống kê (vào những năm trước 1999), đến nay các hệ thống ứng dụngCNTT đã có mặt tại tất cả các khâu trong qui trình nghiệp vụ hải quan và làcông cụ hỗ trợ không thể thiếu đối với cán bộ hải quan, góp phần thúc đẩy côngtác ứng dụng CNTT trong hoạt động quản lý hải quan Quá trình phát triểnCNTT được đánh dấu bởi quá trình nghiên cứu, xây dựng, triển khai và pháttriển của một số hệ thống ứng dụng phục vụ các công tác nghiệp vụ hải quannhư: hệ thống tiếp nhận khai hải quan từ xa, hệ thống quản lý loại hình nhậpnguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu, nâng cấp hệ thống quản lý thông tin giátính thuế giai đoạn 2, thực hiện trao đổi thông tin về đối tượng nộp thuế vớiTổng cục Thuế, Kho bạc về số thu, tình hình nợ thuế và tăng cường trang bịmáy móc, trang thiết bị tin học cho toàn ngành Cùng đó, Website của ngành Hảiquan (www.customs.gov.vn) hiện đã được nâng cấp thành Cổng Thông tin điện
tử để ngoài việc tuyên truyền thông tin của ngành, cung cấp kịp thời văn bảnchính sách còn triển khai giao dịch điện tử, tra cứu thông tin nợ thuế, đào tạotrực tuyến…
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác ứng dụng CNTT vẫn cònnhững tồn tại, như: Dữ liệu phát sinh ngày càng lớn dẫn đến việc quá tải đối với
hệ thống ở chi cục Công chức hải quan phải thao tác với nhiều ứng dụng khácnhau để hoàn thành một tác vụ dẫn đến thủ tục hải quan thực hiện chậm; Các hệthống ứng dụng được xây dựng theo mô hình quản lý phân tán dẫn đến việcquản lý phiên bản, cập nhật, bảo trì các ứng dụng và cơ sở dữ liệu ứng dụng mấtthời gian Hạ tầng CNTT nói chung mới chỉ cơ bản đáp ứng được nhu cầu, hệthống mạng vẫn thường xuyên bị sự cố ảnh hưởng không nhỏ đến các ứng dụngnghiệp vụ hải quan, trang thiết bị CNTT nhiều nơi chưa đủ, công tác mua sắmtập trung CNTT của ngành triển khai chậm Đội ngũ cán bộ chuyên trách CNTTnhiều nơi còn thiếu và yếu về chuyên môn đặc biệt là những đơn vị đã triển khaithông quan điện tử,
Chính vì vậy em đã lựa chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành Hải quan của Cục CNTT&TKHQ- Tổng cục Hải quan” làm Chuyên đề thực tập của mình.
2.Mục đích nghiên cứu:
Từ nghiên cứu một cách có hệ thống thực trạng công tác ứng dụng côngnghệ thông tin trong ngành Hải quan của Cục CNTT&TKHQ nhằm tìm ra giải
Trang 8pháp nâng cao chất lượng công tác ứng dụng công nghệ thông tin của ngànhtrong thời gian tới.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu là công tác ứng dụng công nghệ thông tin trongngành Hải quan của Cục CNTT&TKHQ
- Phạm vi nghiên cứu là những chính sách, kế hoạch của ngành Hải quan
và những kết quả, hạn chế trong công tác ứng dụng công nghệ thông tin trongngành Hải quan của Cục CNTT&TKHQ Thời gian nghiên cứu: từ năm 2001đến nay
4.Phương pháp nghiên cứu:
Chuyên đề được nghiên cứu dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩa duyvật biện chứng, phương pháp khảo sát thực tế ,thống kê, phân tích ,tổng hợp đểlàm rõ nội dung nghiên cứu
5.Kết cấu của chuyên đề:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục , nội dungChuyên đề bao gồm 03 chương.:
Chương I: Những lý luận cơ bản về ứng dụng CNTT trong hoạt động củangành Hải quan
Chương II: Thực trạng công tác ứng dụng công nghệ thông tin trongngành Hải quan của Cục CNTT&TKHQ
Chương III: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác ứng dụng côngnghệ thông tin trong ngành Hải quan của Cục CNTT&TKHQ
Để hoàn thành đề tài này ,em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của cáccán bộ Cục CNTT&TKHQ, cán bộ thư viện trường Đại học Kinh Tế quốc dân
và đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quí báu đó
Do việc thu thập tài liệu gặp nhiều khó khăn, năng lực cá nhân còn hạnchế, Chuyên đề không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong nhậnđược sự đóng góp ý kiến từ phía các thầy cô và các bạn./
Trang 9CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ỨNG DỤNG CNTT TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH HẢI QUAN
1.1 KHÁI NIỆM, QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG NỀN KINH TẾ
1.1.1 Khái niệm công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin
CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi,lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin Người làm việc trong ngành
này thường được gọi là dân CNTT (IT specialist) hoặc cố vấn quy trình doanh nghiệp (Business Process Consultant)
Ở Việt Nam: Khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết
số 49/CP của Chính phủ kí ngày 04/08/1993: Công nghệ thông tin là tập hợp cácphương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là
kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quảcác nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vựchoạt động của con người và xã hội
1.1.2 Quá trình phát triển của công nghệ thông tin
Trong lịch sử phát triển nhân loại, cho tới cuối thế kỷ thứ XX, loài người
đã trải qua 5 cuộc cách mạng thông tin
Tiêu chí để phân biệt các cuộc cách mạng thông tin là những thay đổi cănbản về các công cụ tiếp nhận, lưu trữ, xử lý, truyền thông tin và về khối lượngthông tin có thể phổ biến được cho mọi người
Cuộc cách mạng thông tin lần thứ nhất được khởi đầu bằng việc conngười có được tiếng nói - đánh dấu điểm ngoặt căn bản trên bước đường pháttriển tiến hoá của loài người Kể từ đây, con người tách hẳn khỏi thế giới độngvật Nhờ có tiếng nói, thông tin tạo ra được thay đổi, truyền bá và lưu trữ và trởthành một động lực mạnh mẽ thúc đẩy quá trình giao tiếp và phát triển kỹ thuật
ở những giai đoạn phát triển đầu tiên của thời đại nông nghiệp
Cuộc cách mạng thông tin lần thứ hai đánh dấu bằng việc phát minh rachữ viết Đây là một công cụ căn bản, làm thay đổi phương thức sinh hoạt củacộng đồng, dẫn đến chỗ mở rộng phạm vi phát triển và tạo lập các hệ thống cộngđồng mới vượt ra khỏi tầm phạm vi của các quan hệ huyết thống trong thời đạinông nghiệp Nhờ có chữ viết, thông tin đã được lưu trữ, truyền bá nhanh chóngvới khối lượng tri thức lớn để tư duy, phát triển và sáng tạo các kỹ thuật và côngnghệ mới Chữ viết đã tạo điều kiện thuận lợi chưa từng có để phát triển và sáng
Trang 10tạo kỹ thuật, công nghệ Tri thức được ghi lại, tích luỹ, truyền bá, sử dụng đãđưa kỹ thuật và công nghệ phát triển đến đỉnh cao rực rỡ, điển hình là các côngtrình kim tự tháp Ai Cập, các hệ thống thủy lợi, kiến trúc nguy nga của cácthành phố nổi tiếng còn lưu giữ đến ngày nay ở Hy Lạp, La Mã Nhờ chữ viết,
mà những công trình toán học kiệt xuất của Ơcơlít, Ac si – met, Ptô lê
-mê đã được ghi lại
Cuộc cách mạng thông tin lần thứ hai đã thúc đẩy các cuộc di dân lớn,những cuộc chinh phục các miền đất mới và khởi đầu quá trình toàn cầu hoágiữa các nền văn hoá và các nền văn minh, góp phần tạo ra các tiền đề khởi phátcho cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, cũng như tạo ra các xung lựcmạnh mẽ để phát triển khoa học công nghệ và giao lưu quốc tế
Cuộc cách mạng thông tin thứ ba đánh dấu bằng sự ra đời kỹ thuật in, tạokhả năng chưa từng thấy để thông tin và tri thức truyền bá qua thời gian vàkhông gian, vượt qua các rào cản ngăn cách giữa các nền văn hoá và văn minh,tạo ra quá trình toàn cầu hoá mới với tốc độ nhanh gấp nhiều lần, đồng thời gópphần thúc đẩy nhanh chóng diễn biến của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứnhất Nhờ cuộc cách mạng thông tin lần thứ ba, thông tin và tri thức của nhânloại được nhân bản, xử lý, truyền bá rộng khắp và trở thành tài sản chung củaloài người
Cuộc cách mạng thông tin thứ tư hình thành trên cơ sở các thiết bị truyềnthông bằng điện và điện tử (điện thoại, điện báo, radio, truyền hình) đ• thúc đẩy
sự truyền bá rất nhanh chóng mọi loại hình thông tin và tri thức trên quy môtoàn cầu Cuộc cách mạng thông tin này gắn liền với cuộc cách mạng côngnghiệp lần thứ hai và thúc đẩy mạnh mẽ quá trình quốc tế hoá lực lượng sảnxuất và phân công lao động trên quy mô quốc tế
Cuộc cách mạng thông tin lần thứ năm: Những thành quả của cuộc cáchmạng khoa học kỹ thuật và cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã thúc đẩymạnh mẽ sự xuất hiện cuộc cách mạng thông tin lần thứ năm với đặc điểm nổibật là các hệ thống siêu lộ cao tốc thông tin (super highways), các hạ tầng cơ sởthông tin quốc gia (NII – National information infrastructure), hạ tầng cơ sởthông tin khu vực (RII – Regional information infrastructure) và hạ tầng cơ sởthông tin toàn cầu (GII – Global information infrastructure) Trong đó, biểutrưng đặc sắc nhất và nổi bật nhất là mạng Internet
Cuộc cách mạng thông tin lần thứ năm đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trìnhtoàn cầu hóa diễn ra trong tất cả các lĩnh vực kinh tế – xã hội, khoa học côngnghệ, chính trị, 20 quân sự , đồng thời đang tạo ra những thách thức mới đốivới các quan niệm truyền thống về tất cả các lĩnh vực hoạt động của xã hội loàingười Mặc dù chưa có thể dự đoán được hết các tác động của mạng Internet đốivới loài người nhưng trên thực tế, cuộc cách mạng thông tin lần này đang mở ra
Trang 11một kỷ nguyên mới – Kỷ nguyên số hoá làm đảo lộn tư duy và sinh hoạt của xãhội loài người.
Trên cơ sở các thế hệ máy tính mới, các nước tư bản chủ nghĩa phát triểnnhư Mỹ đang xây dựng thế hệ mạng thông tin toàn cầu mới - đó là Internet 2 vàInternet thuộc thế hệ tiếp theo (NGI – Next Generation of Internet ) với tốc độtruy cập cao hơn tốc độ của mạng Internet hiện nay 1000 lần Với những tácđộng có tính cách mạng mà đến nay chỉ có thể so sánh được với các truyện viễntưởng
1.1.3 Vai trò của công nghệ thông tin trong nền kinh tế
Đảng và Nhà nước ta đã nhận định công nghệ thông tin là một trong cácđộng lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệcao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giớihiện đại
Việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta nhằm góp phầngiải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩycông cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăngcường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quátrình hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân,đảm bảo an ninh quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắnglợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Nhận thức được tầm quan trọng lớn lao của công nghệ thông tin, cho nênngay từ thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng và Nhà nước ta đã có chủtrương vận dụng công nghệ thông tin trong một số lĩnh vực Bước sang thời kỳđổi mới, chủ trương ấy đã được nhấn mạnh và cụ thể hóa trong nhiều nghị quyếtcủa Đảng và Chính phủ: Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 30/3/1991 của BộChính trị về khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới đã nêu: ”Tập trungsức phát triển một số ngành khoa học công nghệ mũi nhọn như điện tử, tinhọc ” Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khoá VII),ngày 30/7/1994 đã xác định: “Ưu tiên ứng dụng và phát triển các công nghệ tiêntiến, như công nghệ thông tin phục vụ yêu cầu điện tử hoá và tin học hoá nềnkinh tế quốc dân” Nghị quyết số 49/CP ngày 04/8/1993 về “Phát triển côngnghệ thông tin ở Việt Nam trong những năm 90” Đặc biệt, cuối năm 2000, BộChính trị cũng chính thức ban hành Chỉ thị 58 (58-CT/TW) về đẩy mạnh pháttriển và ứng dụng CNTT Từ thời điểm này, có thể nói CNTT đã trở thành mộtphần trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam
Chỉ thị 58 của Bộ Chính trị về CNTT chỉ rõ “CNTT là một trong các độnglực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ caokhác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, vǎn hoá, xã hội của thế giớihiện đại” “Ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta nhằm góp phần giải phóng
Trang 12sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổimới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế…” Chỉ thị 58 cũng chỉ
rõ phương hướng để phát triển CNTT cho Việt Nam gồm bốn hướng đồng thời:Ứng dụng CNTT, Hạ tầng CNTT, Giáo dục đào tạo về CNTT và Công nghiệpCNTT
Một thập kỷ qua kể từ Chỉ thị 58, Việt Nam đã đạt được những bước pháttriển vượt bậc trong lĩnh vực CNTT Từ vị trí không có tên trên bản đồ CNTTthế giới những năm 90 của thế kỷ thứ 20, đến nay Việt Nam đã đạt tới mức pháttriển trung bình của thế giới và châu Á Về hạ tầng CNTT, năm 1990, Việt Namchỉ có tổng cộng khoảng 140,000-150,000 thuê bao điện thoại, tức là khoảng
500 người chung 1 thuê bao Đến 11/2010, tổng số thuê bao điện thoại cả nướcước đạt xấp xỉ 163,8 triệu thuê bao, tức 2 thuê bao/1 người, tỷ lệ dân số Internetcủa Việt Nam đã trên 30% cao hơn mức trung bình của thế giới (26,6%) Côngnghiệp CNTT tăng trưởng nhanh, đạt mức 20-25%/năm, gấp khoảng 3 lần tốc
độ tăng trưởng GDP Tổng doanh thu ngành công nghiệp CNTT năm 2009 đạt
13 tỷ USD gấp 15 lần năm 2001, đóng góp 6,7% GDP của cả nước Đã hìnhthành ngành công nghiệp phần mềm với tốc độ phát triển cao, bình quân 33%năm, với các hoạt động gia công xuất khẩu phần mềm được ghi nhận trong số 20nước đứng đầu trên thế giới Về ứng dụng CNTT, trong khu vực quản lý nhànước từ những năm 1996-1997 CNTT đã được đẩy mạnh ứng dụng theo Đề án
112 và vẫn đang tiếp tục Trong lĩnh vực kinh doanh, hầu hết các DN đều sửdụng CNTT để hỗ trợ các hoạt động của mình cho dù mức độ đầu tư cho CNTTcòn thấp và đơn giản (Ban Chỉ đạo quốc gia về CNTT 2010)
Chính phủ Việt Nam tiếp tục theo đuổi sự nghiệp phát triển CNTT Tháng9/2010, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt Đề án Đưa Việt Nam sớm trở thànhnước mạnh về CNTT (Quyết định 1755/QĐ-TTg) Tháng 12/2010, Ban Chỉ đạoquốc gia về CNTT tổ chức họp tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 58, trong đềxuất kiến nghị đối với Đảng và Nhà nước, Ban chỉ đạo nhấn mạnh quan điểm
“Ứng dụng và phát triển CNTT trong giai đoạn 2011-2020 là lĩnh vực cần ưu tiên đầu tư, tạo sự đột phá chiến lược, là nền tảng và động lực cho hiện đại hóa
và tri thức hóa nền kinh tế, góp phần đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”.
1.2 HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH HẢI QUAN:
1.2.1 Khái niệm về hoạt động của Hải quan:
Thực hiện các biện pháp hành chính – kinh tế (thuế quan hay phi thuếquan) như kiểm tra, kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu, phương tiện vận tải vàhành khách xuất nhập cảnh; thu thuế xuất nhập khẩu; điều tra chống buôn lậu vàgian lận thương mại; kiểm tra sau thông quan, nhằm bảo hộ và thúc đẩy phát
Trang 13triển sản xuất trong nước, tăng sức cạnh tranh hàng hóa xuất khẩu; bảo đảmnguồn thu cho ngân sách nhà nước, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng; bảo vệ môitrường, góp phần bảo vệ lợi ích chủ quyền kinh tế và an ninh quốc gia; bảo vệtrật tự và an toàn xã hội là những hoạt động cụ thể của Hải quan.
Có thể hiểu hoạt động hải quan là hoạt động của các Cơ quan Hải quanliên quan đến quản lý, kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyềnđối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh qualãnh thổ của một quốc gia nhằm góp phần thực hiện chính sách nhà nước về pháttriển kinh tế, văn hóa, xã hội; bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia; phát triểnhợp tác và giao lưu quốc tế
Hoạt động của Hải quan rất đa dạng, có thể phân chia thành các nhómhoạt động chủ yếu sau:
- Các hoạt động quản lý nhà nước về hải quan, bao gồm xây dựng vàtrình Chính phủ, Bộ Tài chính các văn bản quy phạm pháp luật về hải quan.Kiểm tra giám sát về thực thi pháp luật hải quan
- Các hoạt động nghiệp vụ hải quan, bao gồm nghiệp vụ thông quan;nghiệp vụ kiểm tra, giám sát hải quan; nghiệp vụ thu thuế xuất nhập khẩu hànghóa
- Hoạt động phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, bảo vệ sảnxuất trong nước và giữ gìn an ninh quốc gia Hoạt động này vừa có tính chất nộingành vừa có sự phối hợp liên ngành
- Hoạt động hợp tác quốc tế của ngành Hải quan Hoạt động trongkhuôn khổ Tổ chức Hải quan thế giới và hợp tác hải quan đa phương và songphương khác
1.2.2 Đối tượng hoạt động của Hải quan:
Đối tượng hoạt động của Hải quan là những đối tượng chịu sự điều chỉnhcủa luật hải quan bao gồm:
- Tổ chức, cá nhân thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa,xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải Hàng hoá xuất khẩu, nhậpkhẩu, quá cảnh; hành lý, ngoại hối của người xuất cảnh, nhập cảnh; vật dụngtrên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; kim khí quý, đá quý,
cổ vật, văn hóa phẩm, bưu phẩm, các tài sản khác xuất khẩu, nhập khẩu, quácảnh hoặc lưu giữ trong địa bàn hoạt động của Hải quan
- Cơ quan Hải quan và công chức hải quan
- Các cơ quan khác của Nhà nước trong việc phối hợp quản lý nhà nước
về hải quan
1.2.3 Phạm vi địa bàn hoạt động của Hải quan:
Trang 14Địa bàn hoạt động của Hải quan được quy định cụ thể trong Luật hảiquan Tại Điều 6, Luật hải quan 2005 của Việt Nam quy định “địa bàn hoạt độnghải quan bao gồm các khu vực cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc
tế, cảng biển quốc tế, cảng sông quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế, cácđịa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu, khu chế xuất, kho ngoại quan,kho bảo thuế, khu vực ưa đãi hải quan, bưu điện quốc tế, các địa điểm kiểm trahàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong lãnh thổ và trên vùng biển thực hiện chủquyền của Việt Nam, trụ sở doanh nghiệp khi tiến hành kiểm tra sau thông quan
và các địa bàn hải quan kháctheo quy định của pháp luật Trong địa bàn hoạtđộng của Hải quan, Cơ quan Hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểmsoát đối với hàng hóa, phương tiện vận tải” Chính phủ quy định cụ thể phạm viđịa bàn hoạt động của Hải quan Việt Nam
Cửa khẩu biên giới đất liền bao gồm: cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính vàcửa khẩu phụ, được mở trên các tuyến đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địatrong khu vực biên giới theo Hiệp định về Quy chế biên giới đã được ký kếtgiữa Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Chính phủ cácnước láng giềng để thực hiện việc xuất , nhập và qua lại biên giới quốc gia
Cửa khẩu quốc tế được mở cho người, phương tiện, hàng hóa của ViệtNam, nước láng giềng và nước thứ ba xuất, nhập và qua biên giới quốc gia
Cửa khẩu chính được mở cho người, phương tiện, hàng hóa của Việt Nam
và nước láng giềng xuất, nhập và qua biên giới quốc gia
Phạm vi cụ thể của khu vực cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính do Ủy bannhân dân cấp tỉnh xác định sau khi đã thống nhất với Bộ Quốc phòng, Bộ Công
an, các Bộ, Ngành hữu quan và báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định Trongtrường hợp cần thiết phải điều chỉnh phạm vi cụ thể địa bàn hoạt động hải quantại từng khu vực cửa khẩu đường bộ, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với BộQuốc phòng và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố sở tại xem xét, trình Thủtướng Chính phủ quyết định
Cửa khẩu phụ được mở cho người, phương tiện, hàng hóa của Việt Nam
và nước láng giềng ở khu vực biên giới, vùng biên giới qua lại biên giới quốcgia
Phạm vi cụ thể khu vực cửa khẩu phụ do Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòngtỉnh xác định sau khi đã thống nhất với công an tỉnh, các ngành hữu quan và xin
ý kiến Ủy ban nhân dân cấp huyện có cửa khẩu về quy hoạch, báo cáo chủ tịch
ủy ban nhân dân tỉnh có cửa khẩu quyêt định
1.2.4 Sự cần thiết của công nghệ thông tin trong hoạt động của Hải quan
Trang 15Ứng dụng CNTT hiện nay được coi là một cấu phần chính trong phươngpháp quản lý mới đặc biệt, trong các biện pháp cải cách hành chính như cảicách về thể chế, về hạ tầng cơ sở vật chất, về nguồn lực… thì CNTT là phươngtiện tiên quyết để thực hiện, triển khai các phương thức quản lý hiện đại, toàndiện trong các tổ chức hành chính và doanh nghiệp
Việc ứng dụng CNTT trong ngành Hải quan ở mức độ cao là “ngòi nổ”giúp ngành Hải quan chuyển sang phương thức quản lý hải quan mới, hiện đại,
nó không chỉ là công cụ quan trọng mà còn trở thành chiến lược phát triển Hải
quan Việc ứng dụng CNTT trong ngành Hải quan thời gian qua đã được thực
hiện toàn diện trên cả phương diện quản lý nghiệp vụ và quản lý hành chính nội
bộ, đem lại hiệu quả về nhiều mặt Toàn bộ quy trình nghiệp vụ hải quan cốt lõihiện nay đều vận hành dựa trên hệ thống CNTT đã làm giảm thời gian thôngquan, giảm chi phí, giảm phiền hà cho doanh nghiệp, thông qua đó đã làm thayđổi cách nhìn nhận, đánh giá của doanh nghiệp về hình ảnh Cơ quan Hải quantheo chiều hướng ngày càng tích cực hơn
Đối với công tác quản lý, CNTT giúp xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học,
an toàn phục vụ công tác quản lý, ra quyết định của người lãnh đạo Nhờ ứngdụng CNTT trong các khâu quản lý mà ngành cũng đảm bảo tính liêm chính vàchuyên nghiệp cao, xây dựng được quy chế dân chủ cơ sở bền vững, tạo sứcmạnh về nội lực Đối với doanh nghiệp và các tổ chức xã hội và người dân,ngành đã ứng dụng tốt CNTT để xây dựng các kênh thông tin tuyên truyền (báochí, website, cổng thông tin điện tử tư vấn trực tuyến…), thực hiện chức năngcầu nối giữa cơ quan quản lý với người sử dụng; xây dựng và áp dụng hệ thốngthông quan tiên tiến, giảm giấy tờ, chi phí, thời gian, giảm phiền hà cho doanhnghiệp; triển khai cơ chế một cửa, hình thành mối quan hệ tương tác hai chiềugiữa doanh nghiệp với cơ quan qua các dịch vụ hành chính công
Kết quả nổi bật mà ứng dụng CNTT đem lại đó là đã làm thay đổi hìnhảnh cơ quan quản lý nhà nước trở thành cơ quan phục vụ mang tính chuyênnghiệp cao, tích cực chủ động cung cấp nhiều dịch vụ hải quan cho doanhnghiệp và người dân khi tham gia các hoạt động thương mại quốc tế
Đối với công tác hải quan, CNTT đã và đang làm thay đổi toàn diện bộ
mặt của ngành Hải quan, giúp nâng cao năng lực và năng suất lao động của cáccán bộ, nhân viên, và đơn giản hoá các thủ tục đối với doanh nghiệp Chỉ sau 10năm ứng dụng CNTT, đến nay, hầu hết các nghiệp vụ hải quan đã được tin họchoá, và với nhiều nhân viên trong ngành, chiếc máy tính đã trở thành công cụ hỗtrợ thiết yếu
Vai trò đắc lực của ứng dụng CNTT trong ngành Hải quan: Quản lý thôngtin xuất nhập khẩu nguyên liệu và sản phẩm gia công - Hình thức doanh nghiệpViệt Nam nhập nguyên liệu của nước ngoài, sản xuất theo yêu cầu đối tác, sau
Trang 16đó lại xuất khẩu ngược trở lại sản phẩm hoàn thiện Đây là hình thức xuất khẩuđang được Nhà nước khuyến khích, song việc quản lý các hợp đồng gia côngnày lại rất phức tạp Chúng ta có thể hình dung ra công việc của các công chứcHải quan khi theo dõi một hoạt động xuất khẩu này như sau: Công chức Hảiquan phải theo dõi hợp đồng kể từ ngày ký, đến khi nhập nguyên liệu Sau khidoanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu thành phẩm từ các nguyên liệu đó hay còngọi là thanh khoản hợp đồng Cơ quan Hải quan phải đảm bảo hàm lượngnguyên liệu trong sản phẩm xuất khẩu phải tương đương lượng nguyên liệunhập về Thời gian nhập nguyên liệu đến khi thanh khoản có khi cách nhau 6tháng, thậm chí 1 năm, nên rất dễ xảy ra các sai số Việc theo dõi cũng rất khókhăn và tốn nhiều công sức của các công chức Hải quan Sau khi áp dụngCNTT, thời gian thông quan thủ tục hàng hoá đã được rút ngắn rất nhiều so vớicách làm thủ công trước đây Tại thời điểm bất kỳ, Cơ quan Hải quan có thể biếtđược lượng nhập, lượng xuất của doanh nghiệp, và doanh nghiệp cũng có thểnắm được lượng nhập, lượng xuất của mình để tránh những sơ suất trong thựchiệp hợp đồng gia công
Từ khi hệ thống quản lý hàng gia công được đưa vào sử dụng ở một số chicục trọng điểm tại Cục hải quan Hải Phòng, Hà Nội, TP HCM, Đồng Nai ,công việc của các công chức Hải quan đã thay đổi Các công chức Hải quan chỉcần tiếp nhận tờ khai, nhập dữ liệu vào máy tính rồi đến khi thanh khoản hợpđồng, lại nhập dữ liệu doanh nghiệp cung cấp vào máy tính, và phần mềm sẽgiúp họ kiểm tra một cách chính xác và nhanh chóng Trước đây, nếu làm thủcông, toàn bộ cán bộ chỉ có thể tiếp nhận và giải quyết được 100 bộ hồ sơ củadoanh nghiệp/ngày Sau khi áp dụng CNTT, Cơ quan Hải quan có thể tiếp nhậnkhoảng 200 bộ hồ sơ/ngày mà vẫn đảm bảo quản lý chặt chẽ Tiết kiệm thời giancho chủ hàng, còn công chức Hải quan thì đỡ vất vả ghi chép, theo dõi sổ sách.Chỉ cần tra cứu thông tin về một doanh nghiệp thôi, bằng sổ sách chắc phải mấtmột ngày Với ứng dụng CNTT, việc tra cứu lại nhanh chóng hơn
Công tác thống kê và quản lý hàng gia công chỉ là 2 mảng nghiệp vụ đầutiên trong ngành Hải quan có ứng dụng CNTT Trong vòng 10 năm, cùng vớiviệc tạo lập một cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tương đối mạnh, ngành Hảiquan còn xây dựng được một hệ thống các ứng dụng tương đối đầy đủ, bao gồm
hệ thống quản lý giá tính thuế, hệ thông quản lý loại hình sản xuất xuất khẩu, hệthống website hải quan điện tử Những hệ thống ứng dụng này đã góp phần thayđổi một cách toàn diện bộ mặt của ngành Hải quan, các ứng dụng này khôngnhững giúp cán bộ trong ngành hoàn thành tốt nhiệm vụ, mà còn đơn giản hoácác thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá cho doanh nghiệp
Trên thực tế, việc ứng dụng tin học trong các hoạt động Hải quan khôngchỉ giúp ngành quản lý hiệu quả hơn các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, mà còngiúp các doanh nghiệp rất nhiều trong quá trình hoạt động thương mại quốc tế
Trang 17Doanh nghiệp có thể nắm được các thông tin cụ thể về thuế, hạn ngạch, cácchính sách mới trên Website của ngành Hải quan, tại địa chỉwww.customs.gov.vn Các doanh nghiệp cũng có thể rút ngắn thời gian thựchiện các thủ tục khai báo xuất nhập khẩu bằng cách khai báo điện tử Thủ tục rấtnhanh, thuận lợi, kể cả thanh khoản hợp đồng cũng rất nhanh, số liệu trừ lùingay trên máy, không như trước đây, phải thống kê thủ công rất lâu
Đối với các doanh nghiệp gia công thì cũng được lợi từ ứng dụng quản lýhàng gia công, bởi khi các hợp đồng được thanh khoản nhanh chóng, hàng sảnxuất ra giảm được thời gian tồn đọng, vốn nhờ thế mà quay vòng nhanh hơn
Không chỉ có vậy, ngành Hải quan cũng đã xây dựng một hệ thống traođổi thông tin mã số đối tượng nộp thuế, cho phép động bộ dữ liệu với các cơquan Thuế Nhờ đó, doanh nghiệp không cần xin mã số hải quan và mã số thuếnội địa như trước đây, mà chỉ cần xin mã số thuế và đăng ký xuất nhập khẩu Hệthống CNTT kết nối giữa cơ quan Thuế với cơ quan Hải quan đã được xâydựng Theo đó, thông tin từ Tổng cục Hải quan sẽ truyền đến các Cục Hải quan.Căn cứ trên những tờ khai moacong chức Hải quan đồng ý hay không đồng ýcho doanh nghiệp đó xuất nhập khẩu đều dựa trên một hệ thống thông tin chung
Nhờ ứng dụng CNTT mà ngành Hải quan có những bước tiến đáng kể trong thời gian qua Tính đến tháng 10/2010, việc triển khai mở rộng thủ tục
hải quan điện tử đã đạt những kết quả lớn, cụ thể đã có 13 Cục Hải quan lớntriển khai thủ tục hải quan điện tử Với cách làm này đã rút ngắn thời gian thôngquan trung bình còn từ 3 – 15 phút đối với luồng xanh (theo quy định của BộTài chính hàng luồng xanh gồm: Hàng xuất khẩu, hàng nhập khẩu là tài liệu,chứng từ thương mại, hàng không có thuế, hàng có thuế nhưng được miễn thuếtheo quy định của pháp luật)
Bên cạnh đó, các danh mục chứng từ trong bộ hồ sơ hải quan điện tử cũnggiảm đáng kể và tiết kiệm được công sức đi lại, chi phí của doanh nghiệp
Việc áp dụng hải quan điện tử thành công phải kể đến ứng dụng chữ ký
số, đến nay đã có 300 doanh nghiệp được cấp chứng thư số cùng thiết bị kýmiễn phí…
Tuy nhiên, Bộ Tài chính không dừng lại ở đó mà đang hướng đến mụctiêu lớn hơn đó là xây dựng ngành hải quan một cửa quốc gia Theo đó, cơ chếmột cửa dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin cho phép việc cung cấp, xử lý
dữ liệu điện tử một lần và ra quyết định ngay
Hải quan Việt Nam đang hướng tới tầm các nước tiên tiến trong khu vựcĐông Nam Á (ASEAN) Đó là xây dựng ngành Hải quan theo mô hình một cửađiện tử quốc gia để kết nối với khu vực ASEAN Đây sẽ là tiền đề quan trọngthúc đẩy phát triển thương mại điện tử và chính phủ điện tử ở Việt Nam
Trang 18Năm 2005, lần đầu tiên Hải quan Việt Nam triển khai thủ tục hải quanđiện tử với qui mô hẹp, nhưng đến nay mô hình này đã triển khai trên phạm virộng Việc làm trên đã cắt giảm được nhiều công đoạn không cần thiết và manglại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp
Không dừng lại ở đó, thời gian qua ngành Hải quan liên tục nâng cấp, nếunhững ngày đầu chỉ là mức mức độ 1 là cung cấp thông tin về quy trình thủ tụchải quan, các giấy tờ cần thiết, các bước tiến hành, thời gian thực hiện, chi phíthực hiện, tra cứu các biểu thuế trên mạng trên mạng, đến nay đã triển khai mức
độ 4 Với mức này các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu có thể tựđiền các thông tin khai hải quan tại trự sở doanh nghiệp và gửi đến cơ quan Hảiquan và nhận kết quả thông quan qua mạng Internet
Đặc biệt, hiện nay ngành Hải quan đang thí điểm thu thuế, phí, lệ phí, bảolãnh qua ngân hàng bằng phương thức điện tử
1.3 NỘI DUNG ỨNG DỤNG CNTT TRONG NGÀNH HẢI QUAN:
Công khai, minh bạch thông tin trên môi trường mạng
- Cơ quan Hải quan có trách nhiệm thực hiện công khai thông tin vềchính sách , thủ tục hành chính và các thông tin khác có liên quan về hải quantheo quy định của pháp luật trên môi trường mạng một cách kịp thời, chính xác
- Triển khai và duy trì cập nhật thông tin đầy đủ, kịp thời trên Websitecủa ngành Hải quan và đơn vị
- Tổ chức việc tiếp nhận ý kiến góp ý, các yêu cầu giải thích, hướng dẫn
và cung cấp thông tin về hải quan của các tổ chức, cá nhân qua hệ thống ứngdụng CNTT trên Internet Lưu giữ, xử lý, cập nhật cung cấp thông tin và trả lờicác yêu cầu hoặc chuyển yêu cầu đến đúng cơ quan có thẩm quyền xử lý kịpthời
- Tuyên truyền, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân xuất nhập khẩu tham gia
kê khai hải quan qua mạng với cơ quan Hải quan thông qua hệ thống ứng dụngCNTT
Triển khai các hệ thống ứng dụng CNTT trong hoạt động nghiệp vụ
- Cơ quan Hải quan có trách nhiệm triển khai đầy đủ, kịp thời các ứngdụng CNTT thống nhất của toàn ngành đến từng đơn vị, từng cán bộ hoặc doanhnghiệp theo quy định
- Tổ chức duy trì, vận hành an toàn cơ sở hạ tầng kỹ thuật CNTT, cácứng dụng và cơ sở dữ liệu trong phạm vi cơ quan mình, đảm bảo tuân thủ theoquy định kỹ thuật của ngành Hải quan và Bộ Tài chính
- Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các bộ phận thuộc, trực thuộc để tổchức triển khai, khai thác đạt hiệu quả các ứng dụng CNTT của ngành Hải quan
Trang 19 Quản lý và khai thác cơ sở dữ liệu
- Xây dựng nội quy đảm bảo an toàn thông tin; áp dụng, hướng dẫn vàkiểm tra định kỳ việc thực hiện các biện pháp bảo đảm cho hệ thống thông tintrên hệ thống ứng dụng CNTT đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về antoàn thông tin
- Đảm bảo cập nhật đầy đủ thông tin, tài liệu, hồ sơ xử lý các khâu côngviệc trên hệ thống cơ sở dữ liệu của các ứng dụng hoặc các thư mục dùng chungtrên máy chủ của đơn vị
- Thực hiện cơ chế duy trì an toàn và bảo mật dữ liệu Xây dựng cơ chếphân quyền truy nhập, chia sẻ và sử dụng thông tin đáp ứng các nhiệm vụ, chứcnăng của từng bộ phận, đơn vị trong các cơ quan Hải quan Định kỳ kiểm traviệc sao lưu, an toàn dữ liệu của đơn vị và các đơn vị trực thuộc
- Thực hiện cung cấp, truyền nhận, trao đổi dữ liệu theo yêu cầu và quyđịnh của ngành và đơn vị
Tăng cường sử dụng văn bản điện tử, ứng dụng CNTT trong công tác quản lý
- Thực hiện số hoá thông tin quản lý hải quan (tờ khai hải quan, cácchứng từ hải quan, các quyết định xử lý, ) và thông tin quản lý nội bộ (hồ sơcán bộ, tài chính nội bộ, tài sản, ) Các thông tin lưu trữ thông qua các ứngdụng CNTT trên mạng phải đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật về an toàn, dễ quản lý,truy nhập; tìm kiếm để khai thác sử dụng
- Thực hiện ứng dụng CNTT để quản lý quá trình xử lý công văn, hồ sơ
về hải quan gửi tới cơ quan Hải quan
- Cập nhật đầy đủ các nội dung văn bản do cơ quan Hải quan phát hành
Tổ chức phân loại, sắp xếp tài liệu trên mạng đảm bảo dễ dàng tra cứu, tìmkiếm áp dụng rộng rãi việc tra cứu hoặc gửi văn bản, pháp quy trên mạng, giảmdần việc sao chụp văn bản giấy để gửi cho các đơn vị trực thuộc
- Thực hiện chia sẻ thông tin trên môi trường mạng theo yêu cầu các quytrình, hành tự công việc quản lý hải quan và quản lý hoạt động nội bộ do Tổngcục và thủ trưởng đơn vị ban hành
- Mỗi cán bộ trong ngành Hải quan được cấp tài nguyên mạng, một tàikhoản (account) và mật khẩu để đăng nhập vào mạng của ngành, sử dụng hộpthư điện tử (email) để trao đổi thông tin nội bộ và truy cập internet Cán bộ cần
sử dụng đúng account của mình để truy cập hệ thống mạng phục vụ cho côngviệc và định kỳ nên thay đổi mật khẩu của cá nhân để đảm bảo tính bảo mậtthông tin
Điều hành và làm việc trên môi trường mạng
Trang 20- Cơ quan Hải quan các cấp có trách nhiệm cải tiến và chuẩn hoá các quytrình công việc theo hướng phù hợp với chương trình cải cách hành chính hảiquan, và phát huy tối đa khả năng ứng dụng CNTT trong các lĩnh vực công việc
- Cán bộ sử dụng máy tính để khai thác các ứng dụng CNTT hiện cóngành Hải quan để xử lý, thực hiện công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ đượcgiao Lãnh đạo là cấp trưởng trong cơ quan Hải quan các cấp thực hiện điềuhành, chỉ đạo công việc thông qua hệ thống ứng dụng CNTT
Trao đổi thông tin điện tử với các cơ quan ngoài ngành Hải quan
- Cơ quan Hải quan có trách nhiệm kết nối mạng trao đổi thông tin vàcung cấp dịch vụ hải quan theo chức năng, nhiệm vụ quy định Việc kết nốimạng Internet trong ngành Hải quan tuân thủ theo quy định Pháp luật, quy địnhcủa ngành Hải quan và các cơ chế phối hợp công tác với các cơ quan ngoàingành Hải quan
- Việc trao đổi, cung cấp nội dung thông tin về hải quan phải đảm bảocác quy định về bảo mật thông tin của nhà nước
- Cán bộ không tự ý cắm hệ thống kết nối mạng không dây (wireless) vàcác thiết bị mạng (accesspoint, thiết bị thu phát wifi, đường truyền ADSL, hub,switch, ) để thực hiện kết nối trao đổi thông tin với bên ngoài
Phát triển hạ tầng CNTT
- Nhằm đảm bảo tốt hạ tầng kỹ thuật cho triển khai tin học hoá quytrình nghiệp vụ Hải quan và thực hiện cải cách, hiện đại hoá Hải quan, Tổng cụcHải quan đã quy hoạch hệ thống mạng, trang thiết bị trong Ngành, xây dựng kếhoạch đầu tư trang bị hàng năm đảm bảo hiệu quả, đáp ứng kịp thời nhu cầu sửdụng và triển khai các phần mềm ứng dụng
- Ưu tiên nguồn kinh phí hàng năm cho các dự án mua sắm CNTT tậptrung, đảm bảo đủ đáp ứng các nhu cầu về trang thiết bị cho các cấp Hải quan.Đẩy nhanh các thủ tục để sớm giao dự toán để Tổng cục Hải quan sớm triểnkhai các thủ tục mua sắm theo quy định, đảm bảo tiến độ giải ngân và đáp ứngnhu cầu về trang thiết bị CNTT của các đơn vị Hải quan
Phát triển nguồn nhân lực CNTT
- Cơ quan Hải quan từng cấp phân công một lãnh đạo đơn vị trực tiếpphụ trách công tác ứng dụng CNTT (giữ vai trò CIO - giám đốc CNTT) Lãnhđạo phụ trách CNTT là người hiểu rõ cơ chế, hoạt động của cơ quan để chỉ đạocải tiến đưa CNTT vào áp dụng trong hoạt động của đơn vị
- Bộ máy tổ chức tin học của ngành Hải quan gồm: Tổng cục Hải quan
có Cục CNTT&TKHQ thực hiện chức năng chỉ đạo, quản lý nhà nước về lĩnhvực ứng dụng CNTT trong toàn ngành Hải quan Cục Hải quan có Trung tâm
Trang 21Dữ liệu và CNTT có chức năng tổ chức triển khai ứng dụng CNTT trong toànđơn vị thuộc và trực thuộc Chi cục Hải quan có nhóm tin học.
- Cơ quan Hải quan có trách nhiệm bố trí đủ cán bộ CNTT theo yêu cầu
kế hoạch triển khai ứng dụng CNTT của ngành; Tạo thuận lợi về điều kiện làmviệc, sử dụng cơ sở hạ tầng thông tin và trang thiết bị cho cán bộ tin học thựchiện nhiệm vụ được giao; có chương trình, kế hoạch đào tạo nâng cao trình độchuyên môn tin học thường xuyên và dài hạn cho cán bộ tin học
1.4 KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA HẢI QUAN MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.4.1 Công tác ứng dụng CNTT của Hải quan Singapore
Trong cộng đồng hải quan, Hải quan Singapore được nhìn nhận là mộttrong những cơ quan đứng đầu trong tạo điều kiện thuận lợi nhất cho thươngmại đồng thời vẫn đảm bảo kiểm soát hải quan chặt chẽ
Để có được đánh giá như vậy, trong nhiều năm qua Hải quan Singaporethực hiện các chiến lược, kế hoạch hành động cũng như đề ra được một lộ trìnhhiện đại hoá một cách hợp lý và phù hợp với sự phát triển của quốc gia cũng nhưquốc tế
Cũng như hầu hết các chiến lược hiện đại hoá của Hải quan các nước trênthế giới, điểm chung trong các trong chiến lược, kế hoạch này là tập trung vàoviệc triển khai áp dụng nhiều kỹ thuật hiện đại, nhất là là công nghệ thông tinnhằm cải cách hoạt động quản lý của cơ quan hải quan, đặc biệt là trong côngtác thông quan hàng hoá và phân loại hàng hoá Chính công nghệ thông tin đãgóp một phần rất lớn trong việc thay đổi một phương pháp quản lý hải quan theohướng mới đó là chuyển từ việc xử lý các giao dịch dựa trên giấy tờ sang xử lýcác giao dịch điện tử, điều này cũng đã cho phép Hải quan Singapore vẫn hoànthành tốt nhiệm vụ của mình với một nguồn lực hạn chế
Với nhận thức tiến trình tin học các qui trình nghiệp vụ, thủ tục hải quan
là một quá trình phức tạp đòi hỏi phải có các bước đi thích hợp, không thể hoànthành trong một thời gian ngắn và càng không thể tách rời với chiến lược, kếhoạch công nghệ thông tin của quốc gia, Hải quan Singapore đã chia lộ trình ápdụng CNTT theo từng giai đoạn khác nhau, phù hợp với chiến lược phát triểnCNTT của quốc gia Với cách thức thực hiện như vậy đã cho phép hải quanSingapore tận dụng được nhiều cơ hội, nhiều lợi thế như: sự ủng hộ từ các chínhphủ, sự nhận thức thống nhất và phối hợp tốt trong các cơ quan chính phủ vềvấn đề hỗ trợ, trao đổi thông tin thông tin, sự ủng hộ và tham gia tích cực củacộng đồng doanh nghiệp, hạ tầng về công nghệ thông tin…
Bên cạnh đó, để đảm bảo luôn cập nhật được các thành tựu hiện đại nhấtcủa công nghệ thông tin và đảm bảo tính chuyên nghiệp trong việc xây dựng cơ
Trang 22sở hạ tầng công nghệ thông tin cho ngành hải quan, thiết kế triển khai phần mềmứng dụng Hải quan Singapore đã thực hiện theo cơ chế thuê các công ty côngnghệ thông tin trong và ngoài tham gia dưới sự giám sát, quản lý chặt chẽ của hải quan Có thể kể đến một số ứng dụng công nghệ thông tin tiêu biểu mà Hảiquan Singapore hợp tác với các đối tác bên ngoài để xây dựng và đã đưa vàoứng dụng như:
Hệ thống thông quan điện tử: Hệ thống thông quan điện tử của Hải quan
Singapore được thiết kết xây dựng và triển khai theo mô hình tập trung baogồm thành phần chính: một để phục vụ cho việc giao tiếp với bên ngoài (docông ty CrimsonLogic quản lý) và một để phục cho công tác quản lý của cơquan hải quan sử dụng mạng (do công ty National Computer System xây dựng)
Bên cạnh đó, trong nỗ lực tiếp tục rút ngắn hơn nữa thời gian thông quan,Hải quan Singapore ban hành các qui định và xây dựng các hệ thống CNTT chophép tiếp nhận trước các thông tin liên quan đến hàng hoá xuất nhập khẩu từdoanh nghiệp Điều này cho phép Hải quan có nhiều thới gian và thông tin hơn
để phân tích, đánh giá về lô hàng từ đó có thể quyết định thông quan ngay (đốivới các lô hàng thuộc luồng xanh) hay tiến hành kiểm tra thực tế (đối với những
lô hàng thuộc luồng đỏ) khi hàng vừa đến cảng, vì vậy rút ngắn được thời gianthông quan
Hệ thống thông quan trước đối với vận chuyển hàng chuyển phát nhanh: Hệ thống này ra đời năm 1994 nhằm thúc đẩy thông quan trước đối với
vận chuyển hàng hoá chuyển phát nhanh đường hàng không Với hệ thống này,các công ty chuyển phát nhanh theo đường hàng không có thể chuyển các thôngtin bằng điện tử tới Hải quan và nhận hướng dẫn kiểm tra trước thông quan vàkết quả này nhanh hơn so với thông quan qua cửa khẩu
Hệ thống thông quan điện tử đối với Container: Hải quan áp dụng hệ
thống thông quan điện tử cho container ở tất cả các cửa khẩu từ tháng 8/1999.Với hệ thống này, những người vận chuyển không cần xuất trình bản copy cứngcủa giấy phép thông quan hàng hoá cho Hải quan, và kết quả đã rút ngắn đượcthời gian thông quan
Hệ thống xác định mục tiêu trọng điểm: Việc xác định mục tiêu trọng
điểm hàng hoá xuất nhập khẩu do hệ thống này thực hiện Hệ thống này đượckết nối với các hệ thống của các cơ quan có liên quan khác để thực hiện việctrao đổi các thông tin phục vụ cho việc phân luồng dữ liệu khai hải quan Trong
hệ thống này đã được thiết lập các tiêu chí lựa chọn, theo định kỳ hoặc trongtrường hợp cần thiết hải quan sẽ thiết lập hay thay đổi các tiêu chí này để đảmbảo luôn phù hợp với tình hình thực tế của hoạt động xuất nhập khẩu, bên cạnh
đó trên hệ thồng còn lưu giữ các thông tình báo phục vụ cho công tác phân tích
dữ liệu kiểm tra thông quan hàng hoá Các dữ liệu khai hải quan của các nhà
Trang 23nhập khẩu, xuất khẩu khi chuyển đến (qua hệ thống Tradenet) sẽ được hệ thốngphân luồng kiểm tra dựa trên việc so sánh với các tiêu chí cũng các thông tintình báo hải quan sau đó truyền kết quả cho các đơn vị Hải quan tại các cửakhẩu để quyết định về hình thức, mức độ kiểm tra hàng hoá hay thông quanngay Hiện nay, trung bình các lô hàng được thông quan trong vòng 10 phút
Hệ thống nộp thuế và lệ phí điện tử: Theo qui định của Singapore việc
nộp thuế hải quan và các khoản lệ phí khác được thực hiện trên cơ sở tự khai, tựtính và tự nộp Nhà nhập khẩu, xuất khẩu sẽ thực hiện việc khai hải quan, tự tínhthuế và tự nộp thuế và các loại lệ phí khác quan hệ thống liên ngân hàng tại hệthống máy tính được kết nối với hệ thống TradeNet, khoảng vài phút sau sẽnhận được thông báo cụ thể về thông tin liên quan đến thông quan lô hàng, trongtrường hợp lô hàng được thông quan thì lệnh thông quan sẽ được gửi đến hệthống máy tính của nhà nhập khẩu/xuất khẩu, trong trường hợp ngược lại thì hệthống gửi một thông báo nêu rõ lý do từ chối hay các yêu cầu cung cấp thêm các
số liệu cần thiết
Mở rộng kết nối thông qua mạng giá trị gia tăng: Ở Singapore có một số
tổ chức, công ty cung cấp mạng giá trị gia tăng (VAN) tuy nhiên hiện tại chỉ duynhất mạng TradeNet do công ty CrimsonLogic là đơn vị xây dựng, quản lý vàduy trì hoạt động là được sử dụng để khai hải quan Doanh nghiệp khi thực hiệncác giao dịch địên tử liên quan đến hải quan có thể lựa chọn kết nối vớiTradeNet theo nhiều hình thức khác nhau như quay số, kênh thuê riêng, mạngriêng ảo, Internet trong đó hình thức kết nối Internet là phổ biến nhất (hơn50%) Tuy nhiên để tăng tính cạnh tranh, nâng cao chất lượng dịch vụ, Hải quanSingapore đang có kế hoạch tìm thêm nhà cung cấp dịch vụ khác Chính phủSingapore cũng chủ trương cho phép nhiều công ty cung cấp dịch vụ VAN hoạtđộng
Một kết quả rõ ràng là nhờ vào các hệ thống trên và các chính sách, quiđịnh phù hợp, hiệu quả hoạt động của cơ quan Hải quan không ngừng được nângcao Đến năm 1996 các thủ tục hải quan liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩuđều đã được đơn giản hoá, minh bạch hoá và được thực hiện một cách thốngnhất trên toàn quốc Thời gian thông quan trung bình cho một lô hàng giảm từvài ngày xuống chỉ còn vài phút Hiện nay tất cả các doanh nghiệp tại Singapoređều thực hiện các thủ tục hải quan và các giao dịch liên quan đến hải quan quacác hệ thống tự động, không có trường hợp nào thực hiện theo phương pháp thủcông
1.4.2 Hệ thống thông quan NACCS của Hải quan Nhật Bản
Để đạt được mục tiêu hiện đại hoá tất cả quy trình nghiệp vụ hải quan,Hải quan Nhật Bản đã phải nỗ lực từng bước khắc phục những khó khăn và cảnngại Một trong những điều mà Hải quan Nhật Bản coi trọng trong quá trình
Trang 24hiện đại hoá là ứng dụng toàn diện quy trình tin học vào công tác nghiệp vụ,trong đó trọng tâm là hệ thống thông quan điện tử NACCS
1.4.2.1 Triển khai thành công hệ thống thông quan NACCS
Hải quan Nhật Bản tiến hành đề án tin học hoá ngành hải quan bắt đầu từnăm 1978 với việc áp dụng Hệ thống tin học hải quan tự động (NACCS), xử lýcác vấn đề liên quan đến thủ tục thương mại nhằm cải thiện và đẩy nhanh quátrình thông quan hàng hoá Hệ thống này đóng vai trò then chốt trong việc tiếnđến mục tiêu chính của Hải quan Nhật Bản là thiết lập dịch vụ thông quan “mộtcửa” cho khách hàng
Cuộc cách mạng tin học hoá trong Hải quan Nhật Bản mang lại lợi íchkhông chỉ đối với ngành Hải quan mà còn cả đối với cả giới doanh nghiệp
Quá trình thông quan hàng hoá diễn ra nhanh hơn, tiết kiệm đáng kể thờigian và tiền bạc cho giới doanh nghiệp, trong khi đó công tác quản lý của ngànhHải quan được chuyển từ quản lý và giao dịch trên giấy tờ sang quản lý và giaodịch bằng tin học, giúp công việc đơn giản và hiệu qủa hơn rất nhiều
Việc áp dụng tin học hoá của Hải quan Nhật Bản thực sự nhảy vọt trongtiến trình cải cách, hiện đại hoá Hệ thống NACCS của Hải quan Nhật Bản hiệnnay được coi như mô hình giao diện chuẩn cho các cơ quan hữu trách có liênquan khác phát triển hệ thống tin học của mình
1.4.2.2 Hàng hóa XNK được thông quan nhanh chóng
Theo quy định chung đối với hàng hóa XNK, việc khai báo thực hiện qua
Hệ thống thông quan tự động NACCS Hệ thống NACCS được vận hành nhưsau: Đầu tiên người khai thuê sẽ nhập dữ liệu thông tin cần thiết để khai báo về
lô hàng XNK bằng máy vi tính của mình
Sau khi xử lý thông tin, hệ thống sẽ “chạy” và tự động hiện ra những quyđịnh hiện hành có liên quan, tự động tính ra số thuế phải nộp để hoàn thiện tờkhai và in nội dung đó ngay tại máy tính trạm của người sử dụng Sau đó, mộtchuyên gia về hải quan (là người được cơ quan Hải quan cấp chứng nhận và làmviệc trong công ty khai thuê, không phải công chức hải quan) xác nhận vàchuyển tờ khai này tới cơ quan Hải quan qua hệ thống Hệ thống NACCS sẽ tựđộng lựa chọn cách thức, quy trình kiểm tra dựa trên khai báo
Có 3 hình thức kiểm tra hải quan: kiểm tra đơn giản, kiểm tra chứng từ vàkiểm tra thực tế hàng hóa Đối với hình thức kiểm tra đơn giản, cơ quan Hảiquan sẽ chấp nhận cho hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ngay lập tức, đó là đốivới các trường hợp hàng hóa miễn thuế; thuế đã được nộp qua tài khoản điện tửhoặc được chấp nhận nợ thuế
Trang 25Đối với hình thức thứ 2 (kiểm tra chứng từ), người XNK phải xuất trìnhmột bản photocopy tờ khai cho cơ quan Hải quan cùng với các chứng từ cầnthiết như invoice Việc kiểm tra chứng từ do công chức hải quan thực hiện, sau
đó hàng hóa XNK khai báo được chấp thuận (đối với hàng có thuế, sau khi việcnộp thuế được xác nhận) Lệnh chấp nhận thông quan sẽ được cung cấp cho máytính trạm của người nhập khẩu hoặc người khai thuê
Đối với hình thức thứ 3 (kiểm tra thực tế hàng hóa), thủ tục như đối vớihình thức thứ 2, nhưng công chức hải quan sẽ tiếp tục kiểm tra thực tế hàng hóasau khi đã kiểm tra chứng từ Cơ quan Hải quan có thể kiểm tra thực tế hàng hóatại: nơi lưu giữ hàng hóa; lấy mẫu về kiểm tra; kiểm tra trong khu vực kiểm trahải quan Khi hoàn thành việc kiểm tra, hàng hóa sẽ được chấp nhận thông quanthực sự, riêng đối với hàng NK có thuế, chỉ sau khi doanh nghiệp nộp thuế
Theo thống kê của Hải quan Nhật Bản, có khoảng 70% lượng hàng hóaXNK áp dụng hình thức kiểm tra đơn giản, 25% lượng hàng hóa kiểm tra hồ sơ,còn lại chỉ có 5% hàng hóa phải kiểm tra thực tế
1.4.2.3 Các bước thủ tục đối với hàng xuất khẩu
Sau khi khai báo qua mạng thông tin, trước hết hàng hóa XK sẽ được đưavào khu vực Hozei (khu vực dành riêng cho hàng hóa XNK); Người làm thủ tụchải quan sẽ xuất trình invoice và các chứng từ khác như chấp nhận thông quan(trước đó đã được xử lý qua NACCS), giấy phép khác nếu có
Cơ quan Hải quan tiến hành kiểm tra một lần nữa tờ khai XK đã được chophép XK và các chứng từ khác Việc kiểm tra chứng từ được thực hiện trongtrường hợp: sự phân loại đúng theo Danh mục dữ liệu hàng xuất khẩu; hàng hóaphù hợp; việc áp dụng cho hàng hóa được phép miễn thuế là chính xác
Khi kiểm tra những chứng từ được xuất trình, cơ quan Hải quan quyếtđịnh hàng hóa nào sẽ phải kiểm tra thực tế để xác định chắc chắn rằng việc phânloại hàng hóa là chính xác, cũng như phù hợp với quy định của các luật khác
Trong một số trường hợp, chủ hàng XK phải xin giấy phép của các cơquan chức năng khác trước khi làm thủ tục hải quan như Bộ Kinh tế và Thươngmại; Bộ Sức khoẻ và Lao động Việc làm
Trang 26CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG NGÀNH HẢI QUAN
Kết quả xây dựng, phát triển và trưởng thành trong 10 năm qua của CụcCNTT&TKHQ chính là nhờ vào nền tảng hơn 22 năm xây dựng và phát triển từcác đơn vị tiền thân trước kia là Tổ Máy tính điện tử thuộc Văn phòng Tổng cục(thành lập tháng 3/1987), Phòng Thống kê - Máy tính thuộc Tổng cục Hải quan(thành lập tháng 2/1990) và sau đó là Trung tâm Tin học và Thống kê hải quanthuộc Tổng cục Hải quan (thành lập tháng 3/1994)
về hải quan thuộc phạm vi nhiệm vụ được giao
b) Nhiệm vụ:
- Chủ trì nghiên cứu xây dựng hoặc tham gia xây dựng các văn bản quyđịnh về công nghệ thông tin ứng dụng vào hoạt động hải quan và các văn bảnquy định thống kê nhà nước về hải quan trình cấp có thẩm quyền ban hành
- Hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị trong ngành Hải quan trong việc thựchiện ứng dụng công nghệ thông tin và thống kê nhà nước về hải quan
- Thống nhất quản lý và chủ trì xây dựng, triển khai, duy trì, đảm bảo anninh an toàn đối với hệ thống phần cứng, mạng máy tính, phần mềm hệ thống,phần mềm ứng dụng và các trang thiết bị kỹ thuật có kết nối với hệ thống côngnghệ thông tin trong ngành Hải quan
- Xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu điện tử của ngành Hải quan; Quản lý vàvận hành các Trung tâm cơ sở dữ liệu của Tổng cục Hải quan
Trang 27- Chủ trì thực hiện kết nối, trao đổi dữ liệu điện tử giữa ngành Hải quanvới các cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật.
- Xây dựng, phát triển và đảm bảo hoạt động cho cổng thông tin điện tửcủa ngành Hải quan
- Tổ chức thực hiện thống kê nhà nước về hải quan, bao gồm: chuẩn hóachứng từ thu thập thông tin, xử lý dữ liệu thống kê, đề xuất báo cáo thống kê,cung cấp và lưu trữ thông tin thống kê hải quan, phân tích dự báo, tổ chức điềutra đo lường các chỉ số liên quan đến các hoạt động hải quan
- Tham mưu, đề xuất các vấn đề cần sửa đổi, bổ sung, chấn chỉnh, cải tiếntrong công tác ứng dụng công nghệ thông tin và thống kê nhà nước về hải quancho phù hợp với hoạt động của ngành Hải quan
- Nghiên cứu khoa học, tham gia xây dựng chương trình, nội dung vàgiảng dạy về công nghệ thông tin và thống kê tại các cơ sở đào tạo nghiệp vụ hảiquan
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức:
Hiện tại Cục CNTT&TKHQ có tổng số 68 người (54 công chức, 13 hợpđồng lao động không xác định thời hạn chuyên trách công tác công nghệ thôngtin, 01 hợp đồng lao động lái xe theo nghị định 68/2000/NĐ-CP), trong đó 66/68người (97,1 %) có trình độ đại học trở lên, 11/68 người có trình độ thạc sỹ vàtiến sỹ (16,2%) và 2/68 trình độ trung cấp (2,9%)
Lãnh đạo Cục gồm 5 đồng chí: Cục trưởng và 4 Phó cục trưởng
Cục CNTT&TKHQ hiện tại có 4 Phòng và 1 Trung tâm cơ sở dữ liệu hảiquan:
- Phòng Tổng hợp
- Phòng Công nghệ thông tin
- Phòng Quản lý đảm bảo hệ thống
- Phòng Thống kê hải quan
- Trung tâm cơ sở dữ liệu hải quan
2.1.1.3 Tổ chức Đảng và đoàn thể:
a) Tổ chức Đảng:
Chi bộ Cục CNTT&TKHQ là chi bộ thuộc Đảng bộ cơ quan Tổng cụcHải quan, có 28 đảng viên Chi ủy có 5 đồng chí (Bí thư, Phó bí thư và Chi ủyviên)
b) Tổ chức Công đoàn:
Trang 28Công đoàn cơ sở Cục CNTT&TKHQ là công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn
cơ quan Tổng cục Hải quan, có 68 đoàn viên công đoàn Ban chấp hành Côngđoàn có 7 đồng chí (Chủ tịch công đoàn, Phó chủ tịch công đoàn và 5 ủy viênban chấp hành công đoàn)
c) Tổ chức Đoàn Thanh niên:
Chi đoàn Thanh niên Cục CNTT&TKHQ có 44 đoàn viên (chiếm 64,7%tổng quân số), trong đó có 7 đồng chí đã là đảng viên Ban chấp hành Đoàn có 5đồng chí, trong đó có 3 đồng chí đã là đảng viên
2.1.1.4 Các mối quan hệ chủ yếu:
Cục CNTT&TKHQ chịu sự lãnh đạo, quản lý trực tiếp và toàn diện củaTổng cục Hải quan và là đơn vị tham mưu của Tổng cục Hải quan trong côngtác ứng dụng công nghệ thông tin ngành Hải quan và công tác thống kê nhànước về hải quan Cục CNTT&TKHQ có mối quan hệ phối hợp với các Vụ,Cục, đơn vị thuộc cơ quan Tổng cục Hải quan và các Cục Hải quan tỉnh, thànhphố trong thực hiện các nhiệm vụ được giao, chịu sự chỉ đạo gián tiếp của CụcTin học và Thống kê tài chính thuộc Bộ Tài chính về công tác ứng dụng côngnghệ thông tin trong hoạt động quản lý nhà nước về hải quan CụcCNTT&TKHQ còn là đơn vị đầu mối của Tổng cục Hải quan tham gia phối hợpvới Bộ Công thương, Bộ Kế hoạch- Đầu tư, Tổng cục Thống kê đánh giá số liệuthống kê xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam hàng tháng
2.1.2 Quá trình xây dựng và phát triển:
Từ những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, công nghệ thông tin(CNTT) đã bắt đầu phát triển trên thế giới và sau đó bùng nổ một cách mạnh
mẽ Những tiến bộ của CNTT và ứng dụng của nó đã tác động toàn diện và rõrệt tới nền kinh tế toàn cầu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và mở ra một thời kỳmới, thời kỳ hợp tác phát triển giữa các quốc gia
Trong bối cảnh đó, Lãnh đạo ngành Hải quan đã sớm nhận thức được vaitrò không thể thiếu của CNTT đối với quá trình cải cách hành chính, hiện đạihoá ngành Hải quan, đặc biệt là việc đưa các ứng dụng CNTT vào các hoạt độngnghiệp vụ hải quan, công tác quản lý và điều hành của các cấp lãnh đạo Nhờvậy, trong những năm qua Lãnh đạo ngành Hải quan đã quan tâm chỉ đạo côngtác tổ chức, từng bước kiện toàn tổ chức tin học trong Ngành cho phù hợp vớiyêu cầu nhiệm vụ Với một Tổ máy tính điện tử thuộc Văn phòng Tổng cục ởngày đầu thành lập năm 1987, nhiệm vụ cốt lõi là đưa ứng dụng điện toán vàocông tác quản lý hải quan, nhân sự chỉ vỏn vẹn 03 người 03 năm sau đó, Tổđược nâng lên cấp phòng (có tên là Phòng Thống kê- Máy tính, thuộc Tổng cụcHải quan) Năm 1994, Trung tâm Tin học và Thống kê hải quan được thành lập,chính là nền tảng quan trọng để trở thành một Đơn vị nghiệp vụ tham mưu, giúp
Trang 29việc thuộc tổ chức bộ máy của Tổng cục Hải quan, đó là Cục CNTT&TKHQngày nay
Đến nay, Cục CNTT&TKHQ đã được hoàn thiện về tổ chức, đảm bảotriển khai các nhiệm vụ chính trị được cấp trên giao phó Từ khi mới thành lậpCục, tháng 3 năm 2001, mới chỉ có 29 cán bộ, công chức, đến nay quân số toànđơn vị là 68, tăng 134,5% Đội ngũ cán bộ, công chức Cục không chỉ tăng về sốlượng mà cả về chất lượng Đội ngũ lãnh đạo, cán bộ, công chức của Cục đều cótrình độ cao, kỹ năng làm việc thành thạo, tâm huyết với nghề và không ngừnghọc tập, rèn luyện nâng cao trình độ về mọi mặt (năm thành lập Cục chỉ có28/29 người có trình độ đại học, 1/29 người trình độ cao đẳng, đến nay đã có66/68 người có trình độ đại học, 11/68 người có trình độ trên đại học (Thạc sỹ,Tiến sỹ) và còn 12 người khác cũng đang theo học các chương trình đào tạoThạc sỹ)
Quá trình 22 năm đưa ứng dụng CNTT vào công tác quản lý nhà nước vềhải quan là khoảng thời gian không dài so với chặng đường 60 năm xây dựng vàtrưởng thành của ngành Hải quan, song các thế hệ cán bộ, công chức hải quancủa đơn vị làm nhiệm vụ trong lĩnh vực CNTT và thống kê nhà nước về hảiquan với tinh thần phấn đấu liên tục, bền bỉ, đoàn kết, sáng tạo, năng động đãxây dựng đơn vị ngày càng trưởng thành, phát triển, trở thành một trong nhữngđơn vị có uy tín, khẳng định CNTT là công cụ quan trọng trong sự nghiệp xâydựng Hải quan Việt Nam, trở thành lực lượng chuyên môn sâu, hoạt động cóhiệu quả, hiện đại và văn minh
Trong những năm gần đây, cùng với tiến trình cải cách, hiện đại hóa vàhội nhập kinh tế của đất nước nói chung và tiến trình cải cách, phát triển, hiệnđại hóa ngành Hải quan nói riêng, được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Lãnhđạo Tổng cục Hải quan, Lãnh đạo Bộ Tài chính, Cục CNTT&TKHQ đã khôngngừng nỗ lực, với tinh thần dám nghĩ dám làm, nghiên cứu, tham mưu triển khai
có hiệu quả các hệ thống ứng dụng CNTT, giúp Lãnh đạo Tổng cục Hải quanquản lý, chỉ đạo tốt công tác ứng dụng CNTT trong ngành Hải quan, quản lý chỉđạo thực hiện tốt công tác thống kê nhà nước về hải quan
2.1.3 Thành tích đạt được trong 10 năm đổi mới:
a) Cục Công nghệ thông tin và Thống kê hải quan liên tục nhiều năm đạtthành tích xuất sắc tiêu biểu dẫn đầu trong thực hiện nhiệm vụ ứng dụng côngnghệ thông tin vào công tác quản lý hải quan và thực hiện công tác thống kê hảiquan đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả, hệ thống quản lý chất lượng của Cụcđạt tiêu chuẩn ISO 9001-2008, đóng góp vào sự phát triển, hiện đại hóa củaNgành nói riêng và sự phát triển kinh tế- xã hội và đất nước nói chung
b) Cục CNTT&TKHQ là đơn vị luôn dẫn đầu trong việc đổi mới côngnghệ, có nhiều thành tích trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công
Trang 30nghệ mới, trong phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật nâng cao hiệuquả công tác quản lý cho Ngành.
c) Cục CNTT&TKHQ là một trong những đơn vị đi đầu trong công tácđào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ về mọi mặt cho cán bộ, công chức Độingũ cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môntốt Đối với trong Ngành, Cục CNTT&TKHQ là đơn vị dẫn đầu trong công tácđào tạo tập huấn về lĩnh vực CNTT cho cán bộ, công chức hải quan có liên quantoàn Ngành
d) Cục CNTT&TKHQ là một trong những đơn vị dẫn đầu trong việc triểnkhai và thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước, đảm bảo tốt quyền lợi của người lao động, quản lý tốt tiền, vốn, tài sản,đảm bảo tuyệt đối an toàn về người và tài sản
e) Cục CNTT&TKHQ là đơn vị có bề dày truyền thống đoàn kết, nhất trí,
tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh, tổ chức chính quyền, đoàn thể vững mạnh,toàn diện, tổ chức tham gia các phong trào thi đua sôi nổi
2.1.4 Kết quả thành tích được khen thưởng:
Trên chặng đường gần 22 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển, vớinhững nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục, đặc biệt trong lĩnh vực ứng dụng tiến bộkhoa học kỹ thuật về công nghệ thông tin vào các hoạt động quản lý hải quan vàthực hiện công tác thống kê nhà nước về hải quan, Cục CNTT&TKHQ đã đượcNhà nước ghi nhận và tặng thưởng nhiều phần thưởng, danh hiệu cao quý:
Các phần thưởng và danh hiệu thi đua đạt được trong 10 năm 2009):
(1999-2.1.4.1 Khen thưởng chính quyền (công tác chuyên môn):
- Đơn vị đã được tặng Bằng khen của Chính phủ về thành tích xuất sắctrong công tác từ năm 1996-1999 (Quyết định số 616/QĐ-TTg ngày04/07/2000)
- Năm 2000: Đơn vị đã được tặng Bằng khen của Tổng cục Thống kê vềthành tích xuất sắc trong công tác thống kê giai đoạn 1996-2000
- Đơn vị đã được tặng Cờ Thi đua của Ngành Hải quan năm 2000
- 03/2002: Được tặng “Huân chương Lao động hạng Ba” về thành tíchxuất sắc từ năm 1996- 2000 (Quyết định số 154/KT/CT ngày 22/3/2002)
- Bằng Khen của Bộ Tài chính về thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụcông tác năm 2001
- Bằng Khen của Bộ Tài chính về thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụcông tác năm 2002 (Quyết định số 298/QĐ-BTC ngày 18/02/2003)
Trang 31- Bằng Khen của Bộ Tài chính về thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụcông tác năm 2003 (Quyết định số 928/QĐ-BTC ngày 25/03/2004).
- Đơn vị đã được tặng thưởng “Huân chương Lao động hạng Nhì” vềthành tích xuất sắc từ năm 1999- 2003 (Quyết định số 69/QĐ/CTN ngày14/01/2005)
- Năm 2004: Đơn vị đã được tặng “Cờ Thi đua của Chính phủ” về thànhtích xuất sắc năm 2004
- 12/2005: Đơn vị được tặng “Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Tài chính” vềthành tích xuất sắc tham gia xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củaLuật Hải quan (QĐ số 4960/QĐ-BTC ngày 22/12/2005)
- Năm 2005: Đơn vị đạt danh hiệu “Tập thể Lao động xuất sắc” năm 2005được tặng Giấy khen của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan (QĐ số 327/QĐ-TCHQ ngày 24/02/2006)
- Năm 2006: Đơn vị được tặng “Cờ thi đua của Bộ Tài chính” về thànhtích đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua năm 2006 (QĐ số 1049/QĐ-BTC ngày15/03/2007)
- Năm 2007: Đơn vị đạt danh hiệu “Tập thể Lao động xuất sắc” năm
2007 (QĐ số 746/QĐ-BTC ngày 29/04/2008)
- Năm 2008: Đơn vị được tặng “Cờ thi đua của Bộ Tài chính” về thànhtích đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua năm 2008 (QĐ số 868/QĐ-BTC ngày27/04/2009)
- Năm 2009: Đơn vị đã trình lên Hội đồng Thi đua- Khen thưởng Tổngcục Hải quan để báo cáo Hội đồng Thi đua- Khen thưởng Bộ Tài chính xem xétbáo cáo Hội đồng Thi đua- Khen thưởng Nhà nước xét tặng “Huân chương Laođộng hạng Nhất”
2.1.4.2 Khen thưởng về công tác Đảng, đoàn thể:
Thành tích được khen thưởng của Chi bộ:
Chi bộ Cục CNTT&TKHQ liên tục các năm đều đạt “Chi bộ trong sạchvững mạnh”, đã được tặng:
- Giấy khen của Ban chấp hành Đảng bộ cơ quan Bộ Tài chính về thànhtích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị và xây dựng Đảng năm 2004
- Giấy khen của Ban chấp hành Đảng bộ cơ quan Bộ Tài chính về thànhtích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị và xây dựng Đảng năm 2005
- Giấy khen của Ban Thường vụ Đảng ủy cơ quan Tổng cục Hải quan vềthành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị và xây dựng Đảng năm 2008
Thành tích được khen thưởng của Công đoàn:
Trang 32- Bằng khen của Công đoàn Viên chức Việt Nam về thành tích xuất sắcnăm 1999.
- Bằng khen của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về thành tích xuấtsắc năm 2000
- Bằng khen của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về thành tích xuấtsắc năm 2001
- Bằng khen của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về thành tích xuấtsắc năm 2002
- Bằng khen của Ban chấp hành Công đoàn Viên chức Việt Nam về thànhtích năm 2004
- Giấy khen của Ban chấp hành Công đoàn Bộ Tài chính về thành tíchxuất sắc trong phong trào thi đua xây dựng cơ quan và tổ chức Công đoàn vữngmạnh năm 2005
- Giấy khen của Ban chấp hành Công đoàn Bộ Tài chính về thành tíchxuất sắc trong phong trào thi đua xây dựng cơ quan và tổ chức Công đoàn vữngmạnh năm 2006
- Giấy khen của Ban chấp hành Công đoàn Tổng cục Hải quan về thànhtích xuất sắc trong phong trào thi đua xây dựng cơ quan và tổ chức Công đoànvững mạnh năm 2008
- Năm 2009, Công đoàn Cục CNTT&TKHQ đang được BCH Công đoànTổng cục Hải quan đề nghị lên Công đoàn Viên chức Việt Nam xét tặng bằngkhen về thành tích 10 năm thực hiện cuộc vận động xây dựng người cán bộ,công chức, viên chức “Trung thành- Sáng tạo- Tận tụy- Gương mẫu”
Thành tích được khen thưởng của Chi đoàn Thanh niên:
- Bằng khen của Thành Đoàn Thành phố Hà Nội về thành tích xuất sắcnăm 1999
- Bằng khen của Thành Đoàn Thành phố Hà Nội về thành tích xuất sắcnăm 2000
- Bằng khen của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh vềthành tích xuất sắc năm 2001
- Giấy khen của BCH Đoàn Thanh niên cơ quan Bộ Tài chính về thànhtích tập thể Chi đoàn vững mạnh năm 2005
- Giấy khen của BCH Đoàn Thanh niên cơ quan Bộ Tài chính công nhậntập thể Chi đoàn vững mạnh năm 2006
- Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Tài chính về thành tích tập thể Chi đoànxuất sắc năm 2007
Trang 33- Giấy khen của BCH Đoàn Thanh niên cơ quan Bộ Tài chính về thànhtích tập thể chi đoàn vững mạnh năm 2008.
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG NGÀNH HẢI QUAN CỦA CỤC CNTT&TKHQ
Trang 34Tính đến thời điểm tháng 12/2010, công tác ứng dụng công nghệ thông tin(CNTT) trong quản lý nghiệp vụ hải quan đã có những bước tiến đáng kể Vớiviệc thực hiện hàng loạt các cam kết quốc tế, ngành Hải quan đang từng bước táithiết kế các qui trình nghiệp vụ theo tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế và tiến hành tựđộng hóa từng phần, thực hiện thủ tục hải quan điện tử chuẩn bị tiến tới tự độnghóa hoàn toàn Trong bối cảnh như vậy thực trạng công tác CNTT trong ngànhHải quan có thể được mô tả với một số nét chính như sau:
2.2.1 Môi trường hoạt động
Ứng dụng công nghệ thông tin nâng cấp, xây dựng, triển khai trong điềukiện có những thay đổi lớn về cơ chế chính sách, khối lượng công việc tăngnhanh, trong khi số lượng cán bộ của ngành Hải quan không đủ đáp ứng
Nguồn : Tổng cục Hải quan
Như vậy, có thể thấy sự thay đổi về cơ chế, chính sách, mức độ gia tăng
về khối lượng công việc so với sự tăng không tương xứng về số lượng cán bộđặt ra yêu cầu rất cao về việc tăng cường áp dụng tin học trong công tác quản lýhải quan
Những thay đổi về cơ chế, chính sách:
Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/08/2010 của Thủ tướng Chính phủphê duyệt chương trình quốc gia về công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ
quan Nhà nước giai đoạn 2011-2015 đặt mục tiêu “ đến năm 2015, 90% cơ quan Hải quan các tỉnh, thành phố triển khai thủ tục hải quan điện tử
… đến năm 2020 hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc mọi nơi”
Trang 35Thực hiện Quyết định số 103/2009/QĐ-TTg ngày 12/08/209 của Thủtướng Chính phủ về việc sửa đổi bổ sung một số điều Quyết định số149/2005/QĐ-TTg ngày 20/06/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiệnthí điểm thủ tục hải quan điện tử, công tác quản lý hải quan đang thay đổi mạnh
mẽ theo hướng chuyển từ phương thức quản lý hải quan truyền thống sang quản
lý hải quan hiện đại
2.2.2 Về công tác xây dựng, thực hiện kế hoạch
+ Thông tư số 222/2009/TT-BTC ngày 25/11/2009 của Bộ trưởng Bộ Tàichính về việc ban hành Quy định về thí điểm thủ tục hải quan điện tử
+ Quyết định số 2396/QĐ –TCHQ ngày 09/12/2009 ban hành quy trìnhthủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thực hiện thủ tục hảiquan điện tử
- Đã ban hành các văn bản đảm bảo kết nối xử lý thông tin, đảm bảo vậnhành hệ thống thông tin Bao gồm :
+ Quyết định số 722/TCHQ/QĐ ngày 07/04/2009 ban hành Quy chế vậnhành hệ thống công nghệ thông tin ngành Hải quan
+ Quyết định số 2869/TCHQ/QĐ ngày 31/12/2009 ban hành quy định tạmthời về định dạng thông điệp dữ liệu điện tử trao đổi giữa cơ quan hải quan vàcác bên liên quan
2.2.3 Về hạ tầng công nghệ thông tin
2.2.3.1 Kết quả đạt được:
Trang 36- Hệ thống mạng LAN đã được trang bị cho toàn bộ các cửa khẩu và trụ
sở làm việc của Hải quan các cấp Đã có hệ thống mạng diện rộng nối kết cácCục Hải quan tỉnh, thành phố, đến cuối năm 2010, về cơ bản mạng diện rộng(WAN) đã kết nối đến tất cả các Chi cục Hải quan trên cả nước (190 điểm).Băng thông giữa các cấp: Tổng cục Hải quan - Bộ Tài chính là 100Mbps cápquang; Trục xương sống Bắc - Nam là 32 Mbps; Backbon 32Mbps Tổng cụcHải quan – Trung tâm miền 100Mbps; Cục – Trung tâm tỉnh 01x2048 Mbps và01x1024 Mbps; Chi cục - Cục 01x2048Mbps hoặc 01x1024 Mbps hoặc01x512Kbps hoặc 256Kbps hoặc 128 Kbps; Chi cục – Trung tâm tỉnh01x512Kbps hoặc 256Kbps hoặc 128 Kbps (tuy theo quy mô của từng Chi cục)
- Hệ thống máy chủ, máy trạm và các thiết bị an ninh, an toàn được tăngcường về cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng Toàn Ngành hiện được trang bị
1009 chiếc máy chủ, 8060 chiếc máy trạm, 343 chiếc máy in A3, 2156 chiếcmáy in A4 Như vậy trung bình đạt 1.2 cán bộ/máy Cán bộ trực tiếp làm côngtác nghiệp vụ tại các cấp (Tổng cục, Cục, Chi cục) đều được trang bị 100% máytính để phục vụ công tác
- Hệ thống đảm bảo an ninh cho toàn Ngành đến nay đã triển khai choTổng cục và 9 Cục Hải quan trọng điểm (trụ sở Cục và các Chi cục) gồm hệthống AD và Email, quy hoạch phòng máy chủ, hệ thống phòng chống Virus,Firewall Đối với 24 Cục Hải quan còn lại cũng đã được đầu tư, trang bị các hệthống AD và Email, quy hoạch phòng máy chủ , hệ thống phòng chống Virus,Firewall nhưng ở mức độ thấp hơn
- Đảm bảo trang bị và duy trì hoạt động của hệ thống thông quan điện tửtại các Cục Hải quan triển khai thủ tục hải quan điện tử
2.2.3.2 Tồn tại:
- Còn tồn tại hiện tượng rớt mạng do chất lượng hạ tầng phía bưu điệnnhiều nơi chưa đảm bảo, băng thông không đảm bảo trong giờ cao điểm truyềnnhận dữ liệu Việc khắc phục sự cố mạng của nhà cung cấp chậm, ảnh hưởngđến công tác của các đơn vị
- Việc mua sắm trang thiết bị chậm so với kế hoạch do việc giao dự toáncủa Bộ Tài chính cho ngành chậm, nên việc trang cấp cho các đơn vị Hải quanđịa phương chậm ảnh hưởng đến công tác của các đơn vị
- Hiện tại các đơn vị Hải quan địa phương vẫn phải sử dụng, tận dụng cácmáy cũ đã hết khấu hao do vẫn còn thiếu trang thiết bị CNTT Việc thiếu máy
dự phòng phục vụ cho những việc cần độ đáp ứng cao như hệ thống thủ tục hảiquan điện tử
Trang 37- Tại các đơn vị Cục Hải quan trọng điểm đều đã được trang cấp hệ thốnglưu trữ thông tin chuyên dụng và hệ thống an ninh an toàn Với các Cục Hảiquan còn lại đều được trang cấp hệ thống lưu trữ và hệ thống an ninh an toànnhưng ở mức thấp Theo kế hoạch trang cấp trang thiết bị CNTT toàn Ngànhnăm 2010, hệ thống lưu trữ thông tin của các Cục Hải quan tỉnh, thành phố đềuđược nâng cấp.
- Chưa triển khai đầy đủ các giải pháp an ninh an toàn khi mở ra nhiềuđiểm kết nối Internet phục vụ hải quan điện tử, mô hình TTDL chưa đạt tiêuchuẩn quốc tế đảm bảo an ninh an toàn
2.2.4 Về công tác xây dựng, triển khai, quản lý phần mềm ứng dụng
2.2.4.1 Những kết quả đã đạt được:
Thực hiện Quyết định số 103/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ,dưới sự chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ Tài chính trong một thời gian ngắn, Tổng cụcHải quan đã xây dựng, triển khai hệ thống quan điện tử đáp ứng yêu cầu :
+ Xử lý thông tin theo mô hình 03 khối
+ Có thể triển khai cho nhiều Chi cục và các Cục Hải quan tỉnh, thànhphố; Tại một Chi cục có thể triển khai 100% thủ tục hải quan điện tử hoặc vừathủ tục hải quan điện tử vừa hải quan truyền thống
+ Không gây xáo trộn lớn cơ cấu tổ chức cũng như về thói quen sử dụng
hệ thống của cán bộ nghiệp vụ
+ Nền tảng, giải pháp kỹ thuật đã được kiểm nghiệm đảm bảo hạn chế rủi
ro về mặt kỹ thuật, phù hợp với hạ tầng công nghệ thông tin của đa số các CụcHải quan tỉnh, thành phố hiện tại (Khả năng xử lý máy chủ ở mức trung bình,đường truyền chưa ổn định), phù hợp với trình độ quản lý hệ thống thông tincủa các cán bộ CNTT tại các Cục Hải quan tỉnh, thành phố
+ Hệ thống sẵn sàng triển khai trong khoảng thời gian ngắn
Đến nay, hệ thống đã cơ bản đáp ứng yêu cầu quản lý đối với 03 loạihình: Xuất nhập khẩu theo hợp đồng thương mại, gia công, sản xuất xuất khẩu
và đang tiếp tục hoàn thiện đối với loại hình quản lý khu chế xuất
Việc tập trung, xử lý dữ liệu theo thời gian thực trong hệ thống giám sáthàng chuyển cửa khẩu hoạt động trên mạng diện rộng (WAN) đã đảm bảo thựchiện một cải cách thủ tục quan trọng của Quyết định số 103/2009/QĐ-TTg làdoanh nghiệp được thông quan hàng hóa dựa trên thông tin tờ khai do doanhnghiệp tự in và tự chịu trách nhiệm Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàilớn như: Intel, Samsung đã được hỗ trợ trực tiếp để tham gia thủ tục hải quanđiện tử
Trang 38Tính pháp lý của giao dịch điện tử được nâng cao thông qua sử dụng chữ
ký số trong thủ tục hải quan điện tử Đến nay đã có 300 doanh nghiệp được cấpchứng thư số cùng thiết bị ký miễn phí theo dự kiến sẽ thực hiện chính thức từ
2011 và tiếp tục được mở rộng trong thời gian tới
Để hỗ trợ công tác quản lý, hiện nay trong toàn ngành Hải quan đang triểnkhai 13 hệ thống ứng dụng Mỗi hệ thống thực hiện một số chức năng hỗ trợcông tác nghiệp vụ hải quan và được triển khai theo những quy mô khác nhau
Có thể phân loại các hệ thống trên thành các nhóm cụ thể như sau:
a) Nhóm các hệ thống được triển khai trên phạm vi toàn ngành tại cả 03 cấp Tổng cục, Cục, Chi cục
- Nhóm này gồm các hệ thống sau:
+ Hệ thống thu thập và xử lý dữ liệu tờ khai hải quan (SLXNK) thực hiệnchức năng thu thập, xử lý thông tin về tờ khai hàng hóa xuất nhập khẩu; phânluồng hàng hóa
+ Hệ thống dữ liệu giá tính thuế (GTT22) thực hiện chức năng thu thập,quản lý thông tin về trị giá tính thuế, phương pháp xác định trị giá tính thuế (6phương pháp theo GATT của các loại hàng hóa trên phạm vi toàn quốc: 150 Chicục và 33 Cục Hải quan tỉnh, thành phố)
+ Kế toán thuế XK, thuế NK (KT559) thực hiện chức năng quản lý theo
dõi tình hình thu nộp thuế của doanh nghiệp, Quản lý các khoản thu của ngànhhải quan theo quy định của chế độ kế toán thuế XK, thuế NK
+ Hệ thống quản lý thông tin vi phạm pháp luật hải quan (VP) thực hiệnchức năng thu thập, quản lý thông tin về tình hình vi phạm pháp luật Hải quancủa các tổ chức, cá nhân và phương tiện; cung cấp thông tin đầu vào cho hệthống QLRR để đánh giá doanh nghiệp
+ Hệ thống quản lý rủi ro (QLRR) thực hiện chức năng tổng hợp thông
tin, phân loại đánh giá doanh nghiệp, cung cấp thông tin để hệ thống SLXNKphân luồng hàng hóa
+ Hệ thống thông tin nghiệp vụ hải quan tích hợp triển khai tại Cục Hảiquan thành phố Hồ Chí Minh và tiếp tục triển khai mở rộng trong cả ngành,bước đầu chuyển sang mô hình xử lý thông tin tập trung
- Các hệ thống này được cài đặt tại hầu hết các máy tính trong ngành Hảiquan (khoảng 85 % - tương đương khoảng 4500 máy trạm và toàn bộ máy chủ);
- Tại cấp Chi cục các hệ thống đóng vai trò hỗ trợ cán bộ làm việc trựctiếp, thu thập thông tin, tổng hợp thông tin
- Tại cấp Cục và Tổng cục các hệ thống đóng vai trò công cụ hỗ trợ việctổng hợp và khai thác thông tin tại quy mô rộng hơn
Trang 39b) Các hệ thống hỗ trợ công tác nghiệp vụ đặc thù của một số Chi cục Hải quan.
- Các hệ thống này được cài đặt tại một số Chi cục Hải quan có loại hìnhđặc thù liên quan đến các hệ thống tại Cục Hải quan Hà Nội, Hải Phòng, TP HồChí Minh, Bình Dương và đang triển khai mở rộng
+ Hệ thống thông quan điện tử thực hiện thủ tục hải quan điện tử, hiện đãtriển khai tại 13 Cục Hải quan tỉnh, thành phố
c) Các hệ thống cung cấp thông tin nghiệp vụ triển khai tại Tổng cục Hải quan
- Nhóm này gồm các hệ thống sau:
+ Hệ thống quản lý rủi ro thực hiện chức năng tổng hợp thông tin từ các
hệ thống khác để thực hiện phân loại đánh giá doanh nghiệp và phân luồng hànghóa
+ Hệ thống NET OFFice (tin học hóa văn phòng): Quản lý văn bản, phânluồng xử lý công việc
+ Hệ thống giám sát hàng hóa thực hiện thủ tục hải quan điện tử, giám sáttình trạng hoạt động của hệ thống thông quan điện tử hoạt động tại các Cục, Chicục Hải quan trên cả nước
+ Hệ thống quản lý đăng ký, truy cập của các doanh nghiệp tham gia thủtục hải quan điện tử
+ Hệ thống thông tin tình báo
+ Hệ thống thông tin phục vụ công tác kiểm tra sau thông quan
+ Hệ thống thông tin kết nối với các Ngân hàng thương mại phục vụ thuthuế XNK bằng phương thức điện tử
+ Hệ thống trao đổi thông tin thu nộp thuế giữa các cơ quan Thuế - Hảiquan – Kho bạc – Tài chính
+ Hệ thống giám sát truyền nhận thông tin nghiệp vụ