BÀI HỌC CHO VIỆT NAM TỪ KINH NGHIỆM HOẠCH ĐỊNH VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NÔNG DÂN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI...28 Chương 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NÔNG
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ iv
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NÔNG DÂN CỦA NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP WTO VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 7
1.1 CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NÔNG DÂN 7
1.1.1 Khái niệm chính sách hỗ trợ nông dân 7
1.1.2 Nội dung chính sách hỗ trợ nông dân của Nhà nước 10
1.1.3 Công cụ và cơ chế tác động của chính sách hỗ trợ nông dân của Nhà nước .14
1.1.4 Quy trình hoạch định, thực hiện, đánh giá chính sách hỗ trợ nông dân của Nhà nước 21
1.1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách hỗ trợ nông dân của Nhà nước 24
1.2 BÀI HỌC CHO VIỆT NAM TỪ KINH NGHIỆM HOẠCH ĐỊNH VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NÔNG DÂN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 28
Chương 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NÔNG DÂN THỰC THI TẠI TỈNH NAM ĐỊNH HIỆN NAY 31
2.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỜI SỐNG VÀ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 31
2.1.1 Thực trạng đời sống của nông dân 31
2.1.2 Sản xuất kinh doanh của nông dân trên địa bàn Nam Định sau khi Việt Nam thực hiện cam kết WTO 51
2.2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NÔNG DÂN THỰC
Trang 22.2.1 Chính sách đất đai 58
2.2.2 Chính sách đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn 73
2.2.3 Chính sách hỗ trợ tín dụng 78
2.2.4 Chính sách khoa học - công nghệ và khuyến nông 83
2.2.5 Chính sách hỗ trợ nông dân tổ chức kinh doanh nông nghiệp 91
2.2.6 Chính sách hỗ trợ tiếp cận thị trường cho nông dân 95
2.2.7 Chính sách lao động, việc làm cho nông dân 100
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NÔNG DÂN THỰC THI TẠI TỈNH NAM ĐỊNH 107
2.3.1 Những ưu điểm của hệ chính sách hiện tại và bài học kinh nghiệm 107
2.3.2 Những hạn chế của thống hệ chính sách hiện tại và nguyên nhân 119
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NÔNG DÂN TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT WTO VỀ NÔNG NGHIỆP 132
3.1 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NÔNG DÂN 132
3.1.1 Quan điểm 132
3.1.2 Phương hướng 137
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NÔNG DÂN TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT CỦA WTO .144
3.2.1 Giải pháp đối với Nhà nước 144
3.2.2 Kiến nghị đối với tỉnh Nam Định 157
KẾT LUẬN 163
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 166
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ
BẢNG
Bảng 2.1: Tài sản hiện có của hộ nông dân 33
Bảng 2.2: Những nguồn thu nhập chính của hộ nông dân 35
Bảng 2.3 Số nhân khẩu, số lao động, số mảnh ruộng và diện tích đất canh tác bình quân 36
Bảng 2.4: Các nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi diện tích của hộ nông dân .36
Bảng 2.5: Chính sách thu hồi đất của Nhà nước chưa thỏa đáng Vì những nguyên nhân 37
Bảng 2.6: Ý kiến về quy định mức hạn điền trong sử dụng đất nông nghiệp .38
Bảng 2.7: Lĩnh vực hộ dự định đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh 39
Bảng 2.8: Kỹ thuật được áp dụng trong sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân .41
Bảng 2.9: Các nguồn thông tin về khuyến nông mà hộ tiếp cận được 42
Bảng 2.10: Địa điểm tiêu thụ sản phẩm chủ yếu của hộ nông dân 43
Bảng 2.11: Các đối tượng mua sản phẩm sau thu hoạch của nông dân 44
Bảng 2.12: Ý kiến của hộ nông dân về những khó khăn khi tiếp cận thị trường đầu vào cho sản xuất nông nghiệp 45
Bảng 2.13: Ý kiến của hộ nông dân về những khó khăn chủ yếu sau thu hoạch 45
Bảng 2.14: Nguồn vay vốn sản xuất kinh doanh chủ yếu của hộ nông dân 47
Bảng 2.15: Nguyên nhân của những rủi ro mà hộ nông dân thường gặp 50
Bảng 2.16: Các biện pháp hộ nông dân thường sử dụng để giải quyết những rủi ro .51
Bảng 2.17: Những ý kiến về đổi mới chính sách để sản xuất nông nghiệp có hiệu quả 51
Bảng 2.18: Đánh giá của nông dân về năng suất lúa so với 3 năm trước 55
Bảng 2.19: Hạn mức giao đất theo quy định của Luật Đất đai 63
Trang 5Bảng 2.20: Đánh giá về chính sách thu hồi đất để xây dựng các khu,cụm
công nghiệp, đô thị 71Bảng 2.21: Chính sách thu hồi đất của Nhà nước chưa thỏa đáng vì những
nguyên nhân 72B¶ng 2.22: §¸nh gi¸ cña hé n«ng d©n vÒ chÝnh s¸ch ®Çu t cña Nhµ níc cho
n«ng d©n, n«ng th«n 76B¶ng 2.23: NhËn xÐt vÒ chÝnh s¸ch ®Çu t cho n«ng nghiÖp, n«ng th«n vµ n«ng
d©n thêi gian qua cña c¸n bé qu¶n lý 77Bảng 2.24: Ý kiến về những khó khăn khi nông dân tiếp cận với nguồn vốn
của các tổ chức tín dụng 83Bảng 2.25: Đánh giá của chính sách đàu tư khoa học công nghệ đối với sự
phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông dân 91Bảng 2.26: Đánh giá tác động của chính sách đào tạo nguồn nhân lực đối với sự
phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông dân 104Bảng 2.27: Nhận xét chung của cán bộ quản lý về những cơ chế, chính sách
của Nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn, nông dân 121Bảng 2.28: Nhận xét chung của hộ nông dân về những cơ chế, chính sách của
Nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn, nông dân 122Bảng 2.29: Cán bộ tự đánh giá mức độ hiểu biết của bản thân về WTO 130Bảng 2.30: Nông dân tự đánh giá mức độ hiểu biết của bản thân về WTO 131
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Tài sản hiện có của hộ nông dân 32Biểu đồ 2.2: Những nguồn thu nhập chính của hộ nông dân 34Biểu đồ 2.3: Các nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi diện tích của hộ nông dân
36Biểu đồ 2.4: Nguyên nhân chính sách thu hồi đất của Nhà nước chưa thỏa đáng
37Biểu đồ 2.5: Ý kiến về quy định mức hạn điền trong sử dụng đất nông nghiệp
Trang 6Biểu đồ 2.7: Kỹ thuật được áp dụng trong sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân
40
Biểu đồ 2.8: Các nguồn thông tin về khuyến nông mà hộ tiếp cận được 41
Biểu đồ 2.9: Địa điểm tiêu thụ sản phẩm chủ yếu của hộ nông dân 42
Biểu đồ 2.10: Các đối tượng mua sản phẩm sau thu hoạch của nông dân 43
Biểu đồ 2.11: Ý kiến của hộ nông dân về những khó khăn khi tiếp cận thị trường đầu vào cho sản xuất nông nghiệp 44
Biểu đồ 2.12: Ý kiến của hộ nông dân về những khó khăn chủ yếu sau thu hoạch .45
Biểu đồ 2.13: Nguồn vay vốn sản xuất kinh doanh chủ yếu của hộ nông dân 46
Biểu đồ 2.14: Nguyên nhân của những rủi ro mà hộ nông dân thường gặp 48
Biểu đồ 2.15: Những ý kiến về đổi mới chính sách để sản xuất NN có hiệu quả .50
Biểu đồ 2.16: Đánh giá của nông dân về năng suất lúa so với 3 năm trước 53
Biểu đò 2.17: Đánh giá chính sách thu hồi đất để xây dựng các Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp, đô thị đối với người dân 69
Biểu đồ 2.18: Chính sách thu hồi đất của Nhà nước chưa thỏa đáng vì những nguyên nhân 71
Biểu đồ 2.19: §¸nh gi¸ cña hé n«ng d©n vÒ chÝnh s¸ch ®Çu t cña Nhµ níc cho n«ng d©n, n«ng th«n 75
Biểu đồ 2.20: NhËn xÐt vÒ chÝnh s¸ch ®Çu t cho n«ng nghiÖp, n«ng th«n vµ n«ng d©n thêi gian qua cña c¸n bé qu¶n lý 76
Biểu đồ 2.21: Đánh giá của chính sách đàu tư khoa học công nghệ đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông dân .90
Biểu đồ 2.22: Đánh giá tác động của chính sách đào tạo nguồn nhân lực đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông dân 104
Biểu đồ 2.23: Nhận xét chung của cán bộ quản lý về những cơ chế, chính sách của Nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn, nông dân 120
Trang 7Biểu đồ 2.24: Nhận xét chung của hộ nông dân về những cơ chế, chính sách của
Nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn, nông dân 121Biểu đồ 2.25: Cán bộ tự đánh giá mức độ hiểu biết của bản thân về WTO 129Biểu đồ 2.26: Nông dân tự đánh giá mức độ hiểu biết của bản thân về WTO 130
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông dân nước ta chiếm phần lớn trong cơ cấu dân cư và là lực lượng đónggóp nhiều nhất cho công cuộc kháng chiến, kiến thiết đất nước Trong sự nghiệpđẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước, tỷ trọng trongđóng góp của nông nghiệp trong GDP sẽ không ngừng giảm đi, số người lao độngrút ra khỏi ngành nông nghiệp cũng nhiều hơn, tương quan so sánh lực lượng giữanông dân và các giai cấp, tầng lớp khác sẽ thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng giaicấp nông dân, nhưng nông nghiệp, nông dân vẫn là lực lượng đảm bảo sự ổn định
xã hội và tăng trưởng bền vững Chính vì thế sự nghiệp CNH, HĐH không thểkhông có sự tham gia của nông nghiệp và nông dân Thành quả của sự nghiệp đổimới và phát triển phải chuyển giao đến người nông dân một cách công bằng, bìnhđẳng Nông nghiệp và nông dân phải trở thành khu vực sản xuất hiện đại Quanđiểm đó đã được Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ: "Nông nghiệp, nông dân, nôngthôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,
là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững
ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc
và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước"
Thực hiện quan điểm đó, nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã thực thi cácchính sách hỗ trợ nông nghiệp và nông dân trong phát triển kinh tế, trong ổn địnhcuộc sống Nhờ các chính sách hỗ trợ đó, nông nghiệp nước ta đã có sự phát triểnđáng kể, không những cung cấp đủ lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng trongnước mà còn cung cấp nhiều nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và cho xuấtkhẩu Đời sống của nông dân cũng đã được ổn định và được cải thiện lên một bước.Nếu như vào đầu thế kỷ 80 của thế kỷ thứ XX, Việt Nam còn phải nhập khẩu lươngthực cứu đói (năm 1988 Việt Nam còn phải nhập khẩu 60 vạn tấn lương thực), thì
từ năm 1989 nước ta liên tục xuất khẩu không chỉ lúa gạo (năm 1989 Việt Namxuất khẩu 1.2 triệu tấn gạo, năm 2010 xuất khẩu 6,7 triệu tấn), mà còn nhiều nôngsản khác Thu nhập bình quân đầu người một tháng ở nông thôn năm 2010 đã tăng
Trang 92.98 lần so với năm 1999 (762.000 đồng so với 255.000 đồng).
Nam Định là tỉnh trọng điểm nông nghiệp của đồng bằng sông Hồng, có diệntích đất tự nhiên 163.740,3 ha, đất nông nghiệp 115.174,2 ha, dân số trên 1,8 triệungười, trong đó 81% là nông nghiệp với tổng nguồn lao động chiếm trên 51% dân
số Là một tỉnh đồng bằng nằm giữa hai con sông lớn của đồng bằng Bắc bộ làsông Hồng và sông Đáy, có lợi thế về nước tưới và hàng năm phù sa được bồi đắpthêm đất đai, nhất là các huyện phía Nam tỉnh Thực hiện công cuộc đổi mới củaĐảng và Nhà nước 25 năm qua, đặc biệt từ năm 2000 trở lại đây, cùng với các yếu
tố khí hậu, thời tiết thuận lợi, nguồn nhân lực dồi dào, trình độ dân trí cao, cần cù,sáng tạo trong truyền thống thâm canh Tiếp thu nhanh những tiến bộ khoa học kỹthuật về giống cây, giống con, đổi mới cơ cấu mùa vụ và cơ cấu giống, là tỉnh cóphong trào sản xuất lúa lai, lúa thuần sớm và mạnh nhất các tỉnh phía Bắc đã vươnlên tự sản xuất hạt lúa lai F1 và sản xuất thành công lúa bố, mẹ
Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển và so với mức sống chung của dân cư,nhất là so với thành thị, nông nghiệp, nông thôn vẫn là khu vực lạc hậu nhất trongnền kinh tế về các phương diện năng suất lao động, ứng dụng thành tựu khoa học -công nghệ vào sản xuất, mức sống và cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội Hiện nay thuthập bình quân đầu người của dân cư nông thôn thấp hơn 2 lần so với thu nhập bìnhquân đầu người của dân cư thành thị
Hơn nữa, trong điều kiện đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất làtrong bối cảnh thực hiện thương mại theo quy định của WTO, nông nghiệp và nôngdân gặp rất nhiều khó khăn mà nếu không có sự trợ giúp từ phía Nhà nước, nôngdân không thể vượt qua
Muốn thực hiện mục tiêu "Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thầncủa dân cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng,… nông dân được đào tạo có trình độsản xuất ngang bằng các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị đóngvai trò làm chủ nông thôn mới… Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minhcông nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chínhtrị vững chắc cho sự nghiệp CNH, HĐH, thì Nhà nước phải hỗ trợ nông dân vượt
Trang 10thiện chất lượng sống và sức mạnh chính trị - xã hội của mình, vừa góp phần vào
sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Chính vì thế, thiết kế hệ chính sách hỗ trợ nông dân phù hợp với điều kiệnhiện tại và tương thích với các quy định của WTO là việc làm cần thiết và cấpbách Để góp phần vào quá trình thiết kế chính sách đó, cần nhìn nhận lại một cáchkhách quan hệ thống chính sách đã có đối với nông dân, đánh giá mức độ tác độngcủa các chính sách đó và đề xuất các chính sách bổ sung để giúp nông dân vững
vàng bước chân vào thị trường thế giới Đó cũng chính là lý do đề tài "Chính sách
hỗ trợ nông dân thực thi tại tỉnh Nam Định trong điều kiện thực hiện cam kết của WTO về nông nghiệp" được lựa chọn để nghiên cứu.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài:
- Làm rõ luận cứ khoa học về chính sách của nhà nước đối với nông dân
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tế chính sách hỗ trợ nông dân thực thitại tỉnh Nam Định, kinh nghiệm một nước châu á đã trải qua đề xuất những giảipháp hoàn thiện chính sách của Nhà nước hỗ trợ nông dân
- Kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách của Nhà nước đối với nông dân trongviệc thực hiện các cam kết của WTO
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Chính sách của Nhà nước hỗ trợ nông dân trong việc
thực hiện các cam kết của WTO
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Chính sách của Nhà nước thực hiện trên địa bàn Nam Định.
Trang 11- Về thời gian: Từ khi gia nhập WTO đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm nhữngphương pháp sau:
- Phân tích tài liệu sẵn có:
- Phương pháp thảo luận nhóm tập trung
- Tham vấn chuyên gia
- Kỹ thuật đánh giá nhanh về chính sách có sự tham gia của người dân nhằmtrực tiếp lắng nghe những đánh giá khác nhau của họ về từng chủ đề nghiên cứu
- Nghiên cứu tình huống (case study)
- Điều tra chọn mẫu bằng các câu hỏi được chuẩn bị sẵn dành cho đối tượnglà: cán bộ lãnh đạo quản lý các địa phương; đại diện các chủ trang trại và nông dântại các địa phương
- Xử lý thông tin sau điều tra
5 Nội dung thực hiện
- Nhóm nghiên cứu đã thu thập, tổng hợp tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận vàthực tiễn cho nội dung nghiên cứu;
- Xây dựng 02 mẫu phiếu điều tra và tiến hành điều tra khảo sát tại hai huyệnHải Hậu, Mỹ Lộc và các xã ngoại thành tỉnh Nam Định
* Mẫu 1 Điều tra đối tượng là các cán bộ quản lý từ cấp xã đến cấp tỉnh, tổng
- Phân công, giao nhiệm vụ cho các thành viên tham gia viết các báo cáochuyên đề làm căn cứ cơ sở khoa học phục vụ cho đề tài
6 Kết quả của đề tài
Trang 12+ Chuyên đề 1: Vấn đề phát triển các hình thức kinh doanh của nông dân: môitrường kinh doanh và phát triển doanh nghiệp nông thôn, hợp đồng nông sản vàchuỗi giá trị.
+ Chuyên đề 2: Định chế cơ bản của tổ chức thương mại thế giới (WTO), kếtquả các vòng đàm phán và những tiêu chuẩn về nông nghiệp đặt ra đối với cácnước gia nhập
+ Chuyên đề 3: Chính sách của nhà nước đối với nông dân trong điều kiệnthực hiện các cam kết của WTO về nông nghiệp
+ Chuyên đề 4: Kinh nghiệm quốc tế và Bài học cho Việt Nam nói chung,tỉnh Nam Định nói riêng trong việc hỗ trợ nông dân trong điều kiện thực hiện cáccam kết WTO
+ Chuyên đề 5: Những kết quả đạt được và hạn chế từ chính sách ruộng đấtđối với nông dân và nguyên nhân
+ Chuyên đề 6: Những kết quả đạt được và hạn chế từ chính sách đầu tư chonông nghiệp và nông thôn và nông dân
+ Chuyên đề 7: Những kết quả đạt được và hạn chế từ chính sách tín dụng đốivới nông dân
+ Chuyên đề 8: Những kết quả đạt và hạn chế được từ chính sách quản lý thịtrường nông sản
+ Chuyên đề 9: Chính sách xuất khẩu nông sản tác động tích cực và nhữngvấn đề đặt ra
+ Chuyên đề 10: Những kết quả đạt được và hạn chế từ chính sách chuyểngiao tiến bộ kỹ thuật và công nghệ cho nông dân
+ Chuyên đề 11: Những kết quả đạt được và hạn chế từ chính sách khuyến nông.+ Chuyên đề 12: Những kết quả đạt được và hạn chế từ chính sách thuế đốivới nông dân
+ Chuyên đề 13: Những kết quả đạt được và hạn chế từ chính sách phát triểnkết cấu hạ tầng nông thôn
+ Chuyên đề 14: Những kết quả đạt được và hạn chế chính sách việc làm và đàotạo cho nông dân
Trang 13+ Chuyên đề 15: Tiềm năng lợi thế của nông nghiệp Việt Nam và triển vọngphát triển.
+ Chuyên đề 16: Chuỗi giá trị, lợi thế so sánh do hội nhập và tăng năng lựccạnh tranh của nông nghiệp
- Xây dựng báo cáo tổng hợp đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những luận chứng khoa học vàthực tiễn để hoạch định chính sách phát triển nông thôn của Nhà nước theo hướngbền vững ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Bên cạnh
đó đề tài cũng đưa ra một số kiến nghị về việc thực thi các chính sách đối với nôngdân trên địa bàn tỉnh Nam Định
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NÔNG DÂN CỦA NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP WTO VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.1 CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NÔNG DÂN
1.1.1 Khái niệm chính sách hỗ trợ nông dân
Thuật ngữ chính sách và việc hoạch định, triển khai thực hiện chính sách đãhiện hữu từ khá lâu ở Việt Nam Tuy nhiên khoa học nghiên cứu về chính sách cònchưa đạt được sự phát triển tương xứng Do đó khái niệm chính sách còn được hiểutheo nhiều cách khác nhau ở nước ta
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam thì chính sách được hiểu là "những chuẩntắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong mộtthời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung vàphương hướng của chính sách tuỳ thuộc tính chất của đường lối, nhiệm vụ chínhtrị, kinh tế, văn hoá…"
Theo TS Lê Chi Mai "chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạohay nhà quản lý đề ra giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của họ"…TS.Lê Vinh Danh định nghĩa một cách vắn tắt "chính sách công là những gì
mà chính quyền thi hành đến dân" với sự lý giải rằng chính sách công được hoạchđịnh và thực thi bởi các cơ quan nhà nước và có tác động thực tế đến đời sống, hoạtđộng của dân cư
Trên thế giới, các nhà nghiên cứu chính sách cũng chưa tìm thấy sự nhất trívới nhau về định nghĩa chính sách Theo James Anderson "chính sách là một quátrình hành động có mục đích được theo đuổi bởi một hay nhiều chủ thể trong việcgiải quyết vấn đề mà họ quan tâm" William N Dunm lại cho rằng "chính sáchcông là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan đến nhau, bao gồm cảcác quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhànước đề ra"
Trang 15Do còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về chính sách công, nên trước khi đivào trình bày khái niệm chính sách hỗ trợ nông dân của Nhà nước, cần thiết làm rõquan điểm của nhóm nghiên cứu về chính sách và chính sách công Chúng tôi chorằng, chính sách là một khái niệm vừa mang tính khoa học cơ bản vừa mang tínhứng dụng, nhất là tính chỉ đạo thực tiễn của những chủ thể quản lý nhất định Trênthực tế sẽ luôn tồn tại những định nghĩa chính sách khác nhau Nhưng đã là mộtchính sách thì nội hàm của nó phải bao gồm các yếu tố cấu thành sau đây:
- Chủ thể đề ra và triển khai thực hiện chính sách là chủ thể quản lý của hệthống quản lý, trong đó chính sách được đề ra và tổ chức thực hiện Tuỳ theo các
hệ thống quản lý khác nhau có chính sách khác nhau như chính sách của một cơquan, doanh nghiệp, ngành, quốc gia, quốc tế…, trong đó bộ máy quản lý tươngứng của cơ quan, doanh nghiệp, ngành, quốc gia, tổ chức quốc tế… là chủ thể củachính sách Không có khái niệm chính sách mà không gắn với một chủ thể nào đó
- Chính sách luôn gắn với những mục tiêu cụ thể Mục tiêu của chính sách cóthể được hiểu theo nghĩa rộng, có nghĩa là đạt tới trạng thái mong đợi của hệ thốngquản lý, cũng có thể được hiểu theo nghĩa hẹp, tức giải quyết một nhu cầu, một vấn
đề mới xuất hiện của hệ thống quản lý Mục tiêu của chính sách có thể xét trên giác
độ tổng thể hệ thống, do đó mang tính toàn diện như mục tiêu tăng trưởng, mục tiêuphát triển…, cũng có thể xét trên một mặt nào đó của hệ thống như mục tiêu thunhập, mục tiêu mở rộng quy mô, mục tiêu cải cách cơ cấu… Mục tiêu khác nhauquy định chính sách khác nhau Nhưng không có khái niệm chính sách mà khônggắn với mục tiêu và nỗ lực đạt được mục tiêu của cơ quan thực hiện chính sách
- Chính sách còn bao hàm trong nó cả cách thức mà chủ thể cần hành động đểđạt tới mục tiêu mong muốn Cách thức hành động ở đây bao hàm nhiều nội dung
từ hệ quan điểm chỉ đạo hành động của chủ thể chính sách đến phương hướng,phương án, phương tiện, công cụ và nguồn lực thực thi chính sách trong thực tiễn,
kể cả các tiêu chí đánh giá chính sách Phương thức hành động có thể bao hàm cả
sự phân chia trách nhiệm và quyền hạn trong bộ máy quản lý của hệ thống nếu mục
Trang 16Nói tóm lại, theo quan điểm của chúng tôi, chính sách là một khái niệm phức tạp, bao hàm trong nó cả giác độ nhận thức (hệ quan điểm lý thuyết làm cơ sở cho hoạch định chính sách), cả giác độ hành động thực tế (mục tiêu, phương tiện, phương pháp, thái độ thực thi chính sách); cả giác độ kinh tế (so sánh lợi ích và chi phí khi hoạch định và thực hiện), cả giác độ khoa học kỹ thuật (phương tiện, phương án thực thi chính sách phải có căn cứ khoa học thuyết phục), cả giác độ xã hội (tác động của chính sách tới các nhóm dân cư và môi trường)…Do đó, tuỳ theo mục đích xem xét của các nhà nghiên cứu và các hoạch định chính sách mà khái niệm chính sách được xác định khác nhau.
Trên cơ sở quan niệm như vậy, nhóm nghiên cứu đề tài đưa ra định nghĩa của
mình về chính sách hỗ trợ nông dân (CSHTND) của Nhà nước như sau: chính sách hỗ trợ nông dân của Nhà nước là tổng thể các quan điểm, chủ trương, đường lối, phương pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân nhằm thực hiện các mục tiêu mà Nhà nước mong muốn ở nông dân Với cách định nghĩa như vậy, nhóm nghiên cứu
muốn nhấn mạnh một số điểm sau đây khi đề cập đến CSHTND:
Thứ nhất, chủ thể của CSHTND được đề cập trong đề tài này là Nhà nước, mà
cụ thể, cũng như CSHTND của các chủ thể kinh tế chỉ được xem xét trong chừngmực làm rõ CSHTND của Nhà nước Trung ương Hơn nữa, chủ thể Nhà nước ởđây cũng chỉ giới hạn ở Quốc hội, Chính phủ, các bộ, không đề cập tới chính sách
cụ thể của chính quyền địa phương Ngoài ra, Nhà nước ta là Nhà nước XHCN nêncác quan điểm làm nền tảng cho CSHTND của Nhà nước ta chính là quan điểm củachủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta Cũng cần luy ý thêmrằng, do Đảng ta có vai trò lãnh đạo Nhà nước thực hiện đường lối phát triển kinh
tế - xã hội, nên CSHTND của Nhà nước cũng là chính sách của Đảng, thể hiệnquan điểm và triển khai thực hiện đường lối, chính sách của Đảng Chính vì thế, khitrình bày thực trạng CSHTND ở Việt Nam, chúng tôi sẽ đồng nhất chính sách củaĐảng và Nhà nước khi nào có thể
Thứ hai, mục tiêu của CSHTND bao gồm cả khía cạnh kinh tế, chính trị và xãhội Mục tiêu kinh tế là, tạo điều kiện cho nông dân thực thi nền nông nghiệp tiên
Trang 17tiến, hiện đại, trên cơ sở đó có thu nhập và đời sống tốt hơn Mục tiêu xã hội là gópphần xoá đói giảm nghèo, giảm độ chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nôngthôn, xây dựng đời sống mới ở nông thôn; Mục tiêu chính trị là xây dựng giai cấpnông dân vững mạnh, chỗ dựa và là hậu thuẫn của Đảng cộng sản, của Nhà nướcXHCN, thắt chặt tình đoàn kết công - nông - trí thức cùng đi lên CNXH Có thểthấy mục tiêu của CSHTND rất rộng và phức tạp Hơn nữa, các mục tiêu đó khôngphải lúc nào cũng đồng hướng với nhau, nhất là các cặp mục tiêu hỗ trợ thu nhập
và xây dựng giai cấp nông dân làm ăn hiệu quả, vững vàng trong kinh tế thị trường;cặp mục tiêu giao đất cho nông dân và tổ chức sản xuất nông nghiệp hợp lý… Đặcđiểm này cho thấy việc hoach định và triển khai CSHTND trong thực tế là việc làmrất khó khăn
Thứ ba, mỗi nhà nước có hệ quan điểm riêng và có xuất phát lịch sử riêngtrong đối xử với nông dân, đến lượt nó, hệ quan điểm này lại ảnh hưởng sâu sắc đếncách thức, phương tiện và công cụ để thực thi CSHTND Chẳng hạn, các nhà nước tưbản phát triển hỗ trợ nông nghiệp, do đó hỗ trợ thu nhập được coi trọng Nhà nước ởcác nước đang pt không có khả năng hỗ trợ thu nhập thường xuyên cho nông dân nênthiên về hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, do đó hỗ trợ thu nhập thường xuyên cho nôngdân nên thiên về hỗ trợ sản xuất nông nghiệp và đầu vào Nhà nước XHCN vừa chủtrương hỗ trợ thu nhập, giảm chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, vừa hỗ trợ đểxây dựng nền nông nghiệp hiện đại với quan hệ sản xuất XHCN, vừa hỗ trợ để cómột nông thôn mới tương xứng với cuộc sống của nông dân
Nói tóm lại, CSHTND là một thể phức hợp gồm quan điểm, chủ trương của Nhà nước đối với nông dân, nông nghiệp; tiềm lực và hệ thống quyền lực mà Nhà nước có thể sử dụng để đạt tới các mục tiêu vừa có lợi cho quốc gia, vừa có lợi cho nông dân; hệ công cụ và bộ máy mà Nhà nước sử dụng để tổ chức thực hiện những
hỗ trợ nhằm đạt tới mục tiêu lựa chọn; các mục tiêu được lựa chọn phù hợp với thực trạng nông dân, nông nghiệp và chế độ chính trị của từng nước.
1.1.2 Nội dung chính sách hỗ trợ nông dân của Nhà nước
* Nội dung căn bản nhất của CSHTND là xây dựng kết cấu hạ tầng nông
Trang 18chính trị, là bộ phận dân cư sở hữu ít nhất nguồn của cải đã được tích luỹ của xh.Trong khi đó, do đặc tính cư trú gắn liền với không gian sản xuất nông nghiệp nên
cư dân ở nông thôn thường sống phân tán, không những sản xuất nông nghiệp trải
ra trong một không gian rộng, mà nơi sinh sống của nông dân cũng không tậptrung Vì thế, xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn thường vượt quákhả năng của nông dân, cần Nhà nước hỗ trợ
Hơn nữa, cây trồng đòi hỏi các công trình cải tạo đất và khắc phục thiên tainhư kênh mương dẫn nước, hồ, đập chứa nước, đê sông, đê đủ lực để trang trải nêncác Nhà nước phải gánh vác công việc này Kinh nghiệm các nước này cho thấy,nơi nào có kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật hoàn chỉnh, noi ấy nông nghiệp pháttriển thuận lợi và người nông dân có thu nhập tốt hơn
* Nội dung thứ hai của CSHTND là tạo điều kiện để nông dân tiếp cận nguồn lực thuận lợi, an toàn, chi phí thấp.
Một trong những nguồn lực quan trọng nhất của nông nghiệp là đất đai Đấtđai là tài sản quý giá nhất của nhà nông Không có đất đai, nông dân không cónguồn nào để sinh sống Tuy nhiên, do lịch sử để lại, ở rất nhiều nước, nông dânhoặc không có đất, hoặc có quá ít đất, thậm chí khó tiếp cận được đất Chính vì thế,các Nhà nước phải hỗ trợ để nông dân có thể sử dụng đất một cách thuận lợi với chiphí thấp Để làm điều đó, các nước khác nhau có phương thức hành động khác nhau
Đa số các nước tiến hành cải cách ruộng đất, đua đất trở lại cho nông dân dưới hìnhthức sở hữu của gia đình Tuy nhiên, cũng có nước quốc hữu hoá ruộng đất và chỉgiao đất cho nông dân sử dụng theo quy hoạch Một số nước khác vẫn duy trì tìnhtrạng sở hữu đất của các chủ đất để giao lại cho nông dân thuê… Dù dưới hình thứcnào thì Nhà nước cũng phải tạo điều kiện để người nông dân có thể sử dụng đất chomục đích sản xuất nông nghiệp, hơn nữa phải được sử dụng đất với chi phí thoảđáng, nếu không người nông dân sẽ không còn thu nhập Trong điều kiện đất đai đãđược giao cho người nông dân sử dụng ổn định, Nhà nước phải cung cấp dịch vụquản lý đất để đảm bảo an toàn cho người sử dụng đất nông nghiệp
Hơn nữa, Nhà nước phải hỗ trợ để thị trường đất nông nghiệp hoạt động hiệuquả thông qua việc khuyến khích phát triển ở nông thôn các tổ chức dịch vụ và môigiới ở thị trường bất động sản
Trang 19Nguồn lực thứ hai nông dân thường khó tiếp cận là vốn Thị trường tín dụngkhó phát triển ở nông thôn do việc cung cấp tín dụng cho nông dân không hấp dẫncác ngân hàng thương mại vì tính rủi ro và chi phí lớn Nếu không có tín dụng,nông dân không thể tổ chức sản xuất hiệu quả Rất nhiều Nhà nước, hoặc trực tiếphoặc gián tiếp qua các tổ chức tài chính tư nhân đã hỗ trợ nông dân tiếp cận tíndụng thuận lợi hơn.
Nguồn lực thứ ba vô cùng quan trọng đối với nền nông nghiệp hiện đại vàhiệu quả khoa học, kỹ thuật và kỹ năng lao động Với đặc điểm sản xuất ở quy mônhỏ và phân tán nông dân không thể tự mình tài trợ cho nghiên cứu và chuyển giao.Thậm chí việc tự tài trợ cho nâng cao kỹ năng lao động cũng rất hạn chế Vì thế đểgiúp nông dân tiếp cận khoa học, kỹ thuật hiện đại, Nhà nước phải trợ giúp nghiêncứu, trợ giúp chuyển giao cho nông dân và hỗ trợ đào tạo kỹ năng cho người laođộng nông nghiệp
Ngoài ra, thị trường máy móc nông nghiệp, thị trường vật tư nông nghiệpcũng phải được Nhà nước hỗ trợ về phương diện tổ chức, quản lý, tạo dựng cơ sởban đầu để nông dân không quá chịu thiệt thòi trong giao dịch với đối tác cung ứng
* Nội dung thứ ba của CSHTND là tạo điều kiện để nông dân có sức mạnh thoả thuận trên thị trường tiêu thụ nông sản Ở quy mô hàng triệu nông hộ, mỗi
người nông dân không có vị thế thoả thuận tốt với các tổ chức tiêu thụ đầu ra củangành nông nghiệp, do đó được chia xẻ phần giá trị khong đáng kể trong chuỗi giátrị của ngành Chính vì thế Nhà nước cần hỗ trợ để nông dân tự liên kết với nhautheo ngành nghề nhằm tạo sức mạnh và vị thế bán lớn, có sức mạnh trong cạnhtranh trên thị trường quốc tế, qua đó tự bảo vệ lợi ích của mình Nhà nước cũng hỗtrợ nông dân hành động tập thể thông qua việc thành lập các hợp tác xã ở các trình
độ khác nhau Do Hợp tác xã là tổ chức hỗ trợ nông dân hơn là kinh doanh kiếmlời, nên nếu không có sự ủng hộ và hỗ trợ của Nhà nước về phương diện tài chính,đất đai, cán bộ thì các hợp tác xã sẽ khó triển khai hoạt động hiệu quả
Ngoài ra, hỗ trợ để nông dân có được những thông tin dự báo quan trọng cũng
là hoạt động của Nhà nước nhằm giúp nông dân vừa giảm thiểu tổn thất trong giao
Trang 20Ở nhiều nước, Nhà nước còn tham gia thị trường bảo hiểm nông nghiệp với tưcách người đóng góp tài chính và cơ quan cung cấp thông tin dự báo.
* Nội dung thứ tư của CSHTND là giúp đỡ ổn định thu nhập khi nông dân gặp khó khăn Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào biến động của tự nhiên, trong
đó mưa, lũ, bão, giá rét… có thể gây tổn hại nghiêm trọng đến kết sản xuất củanông dân Nhiều tổn thất rất nặng nề và rất khó tránh Vì thế, khi xảy ra thiên tai,dịch bệnh, người nông dân không thể tự xoay xoả được nếu không có sự hỗ trợ củaNhà nước về nhiều phương diện như hỗ trợ phòng dịch, dập dịch, hỗ trợ bù đắp thunhập do giá cả và sản lượng giảm, hỗ trợ nông dân nghèo…
* Nội dung thứ năm của CSHTND là hỗ trợ việc làm cho nông dân Để có thể
tham gia vào sản xuất nông nghiệp hiện đại nông dân cần hai điều kiện:
Một là, những người làm trong ngành nông nghiệp phải có đủ tri thức và kỹnăng về các mặt kinh tế, luật pháp, khoa học kỹ thuật và tổ chức quản lý Tuynhiên, ở các nước nghèo, nông dân không thể tự trang trải cho việc học hành củamình Hơn nữa, do nông nghiệp đem lại nguồn thu nhập thấp nên khi được đào tạo
cơ bản, thanh niên không muốn quay về làm trong nông nghiệp, chính vì thế nôngdân ở các nước nghèo và đang phát triển thường ít được đào tạo nhất Nếu khôngđược đào tạo thì người nông dân sẽ bị rơi vào vòng xoáy luẩn quẩn Nghèo khổ nênkhông thể đi học -> lao động với năng suất thấp ->có thu nhập thấp -> con cháu họlại không được đi học Ở đây cần sự hỗ trợ của Nhà nước như cú hích ban đầunhằm tạo ra thế hệ nông dân mới có trình độ, có khả năng lao động với năng suất
và hiệu quả cao, từ đó tạo điều kiện nâng cấp các thế hệ tiếp theo
Hai là, cần chuyển một bộ phận nông dân sang làm những ngành nghề khác
để tái cơ cấu kinh tế nông thôn hướng đến hiệu quả Tuy nhiên để chuyển nghề,nông dân phải được đào tạo nghề mới Bản thân người nông dân cũng khó đảmđương được việc đào tạo chuyển nghề cho chính mình nếu không có sự hỗ trợ đắclực của Nhà nước và các tổ chức xã hỗ khác
* Nội dung thứ sáu của CSHTND là hỗ trợ xã hội cho nông dân Kinh doanh
nông nghiệp trong thời hiện đại cũng phức tạp không kém các ngành công nghiệp
và dịch vụ khác Về một số lĩnh vực, thương mại nông sản còn đòi hỏi các yêu cầu
Trang 21còn phức tạp hơn về an toàn vệ sinh, về kiểm soát dịch bệnh, về bảo vệ môitrường… Hơn nữa, trong điều kiện hội nhập, các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuậtcủa hàng hoá rất phức tạp, luật quốc gia và luật quốc tế thường xuyên thay đổi nênnông dân rất khó thông thạo luật để thích ứng Vì thế, Nhà nước cần hình thànhmạng lưới hỗ trợ và tư vấn cho nông dân về mặt pháp lý, kỹ thuật…
Ngoài ra, Nhà nước còn phải cung cấp các hình thức bảo hiểm và phúc lợi xhcho cư dân nông thôn để đảm bảo công bằng giữa nông thôn và thành thị, nhất làcung cấp nước sạch, bảo hiểm rủi ro và các loại hình bảo hiểm khác
Nói tom lại, Nhà nước phải sát cánh cùng nông dân để không những hỗ trợ họcuộc sống không quá thấp so với đô thị mà còn giúp họ xây dựng nền nông nghiệphiện đại, hiệu quả
1.1.3 Công cụ và cơ chế tác động của chính sách hỗ trợ nông dân của Nhà nước
Tuỳ theo từng giai đoạn lịch sử nhất định, Nhà nước huy động các công cụkhác nhau để thực thi CSHTND Về cơ bản các Nhà nước có thể sử dụng các công
cụ và cơ chế tác động sau:
* Miễn, giảm thuế và trợ cấp thu nhập trực tiếp Thuế và trợ cấp thu nhận trực
tiếp là công cụ thường được các Nhà nước sử dụng Cơ chế tác động của miễn,giảm thuế và trợ cấp trực tiếp là làm tăng thu nhập của nông dân Nhà nước thườngdùng các hình thức trợ cấp và miễn, giảm thuế sau:
- Giảm và miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp: vào thời kỳ đầu CNH, thuế sửdụng đất nông nghiệp là phần thu quan trọng của NSNN, nên nhiều Chính phủ thukhoản thuế này khá nặng Khi nền kinh tế đã dựa chủ yếu vào công nghiệp và dịch
vụ, tỷ lệ GDP nông nghiệp và tỷ trọng lao động nông nghiệp trong lực lượng laođộng khá thấp, thuế sử dụng đất nông nghiệp chiếm phần không đáng kể trong thuNSNN Vì thế, vào cuối giai đoạn CNH, nhiều Chính phủ tiến hành giảm hoặcmiễn thuế sử dụng đất nông nghiệp cho nông dân nhằm nâng cao thu nhập và tíchluỹ của hộ nông dân Tuy nhiên việc miễn và giảm thuế nông nghiệp không đem lạinhiều lợi ích cho nông dân vì so với thu nhập và đầu tư, chúng chiếm tỷ trọng nhỏ
- Trợ cấp suy giảm thu nhập do thiên tai, giảm giá trên thị trường nông sản
Trang 22trồng, vật nuôi theo yêu cầu của Nhà nước Các khoản trợ cấp này chiếm phần khálớn trong tổng thu nhập của hộ nông dân ở các nước phát triển và là lý do của thunhập cao hơn mức trung bình của nông dân các nước này Chính phủ các nướcthường lựa chọn các hình thức trợ cấp phù hợp với khả năng của Nhà nước cũngnhư dễ thích ứng với nông dân.
Mặc dù được sử dụng khá phổ biến, nhưng hai công cụ này gặp phải một sốtrở ngại:
Một là, khả năng có hạn của tài chính Nhà nước Các nước giàu có thể trợ
cấp cho số lượng nhỏ nông dân trong nước một cách dễ dàng, nhưng các nướcnghèo rất khó tìm nguồn tài trợ để bù đắp thâm hụt ngân sách do giảm và miễn thuế
sử dụng đất, càng khó tìm đủ lượng tài chính hỗ trợ số lượng đông nông dân Mặtkhác, hai công cụ này vô hình chung khuyến khích nông dân ỷ vào Nhà nước nhiềuhơn, giảm động lực tổ chức sản xuất kinh doanh hiệu quả, qua đó làm giảm hiệunăng của nền kinh tế
Hai là, Nhà nước vấp phải sự phản đối của các nhóm dân cư khác vì họ cho
rằng Nhà nước quá thiên vị nông dân
* Khuyến nông, khuyến ngư, khuyến công.
Khuyến khíchnd tổ chức tốt sản xuất nông nghiệp và đời sống ở nông thônthông qua các biện pháp chuyển giao kỹ thuật, giống mới và phổ biến kinh nghiệm
tổ chức sản xuất, kinh doanh đến từng hộ nông dân là giải pháp hỗ trợ được tất cảcác phía liên quan ủng hộ và Hiệp định Nông nghiệp của WTO không cấm
Nhà nước thường tổ chức hoạt động khuyến nông, khuyến ngư, khuyến công
ở nông thôn thông qua các tổ chức đặc biệt của mình như tổ chức khuyến nông và
tổ chức khuyến công Các biện pháp khuyến nông, khuyến ngư, khuyến công rất đadạng Các tổ chức khuyến nông Nhà nước thường tổ chức các mô hình trình diễn,các cuộc hội thảo đầu bờ, đào tạo công tác viên khuyến nông để hỗ trợ kỹ thuật trựctiếp đến nông dân, giới thiệu giống mới, phân phát tài liệu, tổ chức tham quan họchỏi kinh nghiệm
Tuy được nông dân và các tổ chức liên quan ủng hộ, nhưng hoạt động khuyếnnông, khuyến ngư, khuyến công có thể kém hiệu quả do thiếu kinh phí để theo đuổi
Trang 23đến cùng một chương trình, do nông dân thiếu nguồn lực để triển khai các ý tưởngtốt, do thiếu cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ ở nông thôn Do đó hoạt động khuyếnnông, khuyến công phải được lựa chọn cẩn thận sắp xếp các mục tiêu có sự kế thừatheo thời gian, triển khai hoạt động hợp lý theo không gian để củng cố và bảo tồnlâu dài các kết quả khuyến nông Ngoài ra, cần phối hợp nhiều chương trình để cónguồn tài nguyên chính đủ sức thực hiện các mục tiêu khuyến nông trong từng giaiđoạn cụ thể.
* Đầu tư của Nhà nước để xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn.
Nông nghiệp hàng hoá và công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn chỉ có thể pháttriển thuận lợi, hiệu quả khi có cơ sở hạ tầng đồng bộ, nhất là giao thông, vận tải,năng lượng, thông tin liên lạc, thị trường…
Với đặc điểm sản xuất phân tán, chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng cao, nhất là ởcác vùng chuyên canh lúa nước, nông dân không thể tự đầu tư cải tạo, xây dựngđường xá, bến cảng, cầu, cống, trung tâm thương mại, lưới điện và thông tin liênlạc như các doanh nghiệp công nghiệp ở thành thị Chính vì thế Nhà nước phải cấpvốn để đầu tư ban đầu hoặc hỗ trợ vốn cùng nông dân xây dựng cơ sở hạ tầng ởnông thôn
Nhà nước xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn là hướng hỗ trợ được ủng hộtrong WTO Tuy nhiên, do nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn rất lớn, nguồntài chính của Nhà nước thường không thể đáp ứng đủ nhu cầu nên cần hoạch định cácchương trình xây dựng tối ưu, vừa đảm bảo phát huy được ngay các thế mạnh của từngđịa phương, vừa tạo tiền đề cho các bước xây dựng tiếp theo Việc duy tu, bảo dưỡng
và sử dụng hiệu quả các công trình sau khi xây dựng cũng nên được ưu tiên trong cácchương trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn của Nhà nước
* Chính sách đất đai
Đất đai là tư liệu sản xuất và tài sản chủ yếu của người nông dân Dễ thấyrằng, mức sống của nông dân và hiệu quả sản xuất nông nghiệp phụ thuộc khálớn vào quy mô và chất lượng đất đai nông dân sử dụng Đất đai cũng là tàinguyên quan trọng nhất của quốc gia Vì thế, Nhà nước thường có chế độ quản
Trang 24về đất đai Chính vì thế, chính sách đất đai của Nhà nước có tác động to lớn đếnđời sống nông dân.
Ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nông dân chỉ có quyền sử dụng đấtnông nghiệp vào sản xuất nông nghiệp, không được phép chuyển đất nông nghiệpthành đất phi nông nghiệp Trên thị trường bất động sản, giá đất phụ thuộc vào nhucầu sử dụng đất Vì nông nghiệp ở nước ta có tỷ suất lợi nhuận thấp nên giá đấtnông nghiệp thường thấp Xét về mặt giá trị, quyền sử dụng đất nông nghiệp, theochính sách quản lý đất của Nhà nước ta hiện nay, không phải là tài sản đáng giá củanông dân Nhưng nếu Nhà nước mở rộng quyền của nông dân trong việc thoả thuậngiá khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp và áp dụng cơ chế giá thị trường khi đền
bù đất nông nghiệp cho nông dân thì quyền sử dụng đất nông nghiệp trở nên có giá,tạo điều kiện cho nông dân có điều kiện tích luỹ tài sản và có tài sản thế chấp khivay ở các tổ chức tín dụng
Ở các nước duy trì chế độ sở hữu tư nhân về mặt đất đai thì chính sách hỗ trợcủa Nhà nước để nông dân nghèo có điều kiện tiếp cận đất đai, có được sự đảm bảo
về pháp lý đối với quyền sở hữu đất đai của họ cũng là một tiền đề quan trọng hỗtrợ nông dân tổ chức sản xuất nông nghiệp hiệu quả
Nói cách khác, bằng việc cải tiến chế độ quản lý đất nông nghiệp có lợi chongười nông dân, Nhà nước đã hỗ trợ để nông dân có vị thế tốt hơn trong tham giakinh tế thị trường
Tuy nhiên, chính sách đất đai là vấn đề chính trị nhạy cảm Nhà nước khôngthể tuỳ ý sửa đổi chính sách đất đai Nội dung sửa đổi chính sách đất đai còn phụthuộc vào tương quan giữa các nhóm lợi ích trong quốc hội, trong Chính phủ vàtrong chính quyền địa phương, cũng như phụ thuộc vào chế độ chính trị, quan điểmcủa đảng cầm quyền Đây là nhược điểm lớn nhất cản trở Nhà nước sử dụng công
cụ này để hỗ trợ thích đáng cho nông dân
* Hỗ trợ xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh hiệu quả ở nông thôn
Kinh tế tiểu nông có ưu thế về động cơ khuyến khích lao động tận tâm và chiphí quản lý thấp Khi nông nghiệp còn sản xuất ở quy mô nhỏ, nông cụ chủ yếu là
Trang 25thủ công, hình thức tổ chức sản xuất ở quy mô gia đình nhỏ lẻ sẽ thắng thế hìnhthức tổ chức sản xuất ở quy mô lớn do các tổ chức sản xuất lớn không tận dụngđược ưu thế của phân công chuyên môn hoá, đồng thời gánh chi phí quản lý lớn.Tuy nhiên, khi nông nghiệp phát triển ở trình độ sản xuất hàng hoá hàng loạt thìquy mô gia đình thể hiện rõ tính phi hiệu quả của nó do không thể áp dụng cơ giớihóa, không tạo được sự đồng đều về giống và sản phẩm ở quy mô lớn, chi phí sảnxuất cao, không có sức mạnh thoả thuận trên thị trường…
Sản xuất nông sản hàng hoá trong thị trường WTO không những đòi hỏiquy mô lớn, đủ sức cạnh tranh về thị phần mà còn phải đảm bảo sự đồng nhất vềquy cách, chất lượng sản phẩm Chính vì thế, duy trì sản xuất nông sản ở quy
mô gia đình nhỏ lẻ, thiếu sự liên kết với nhau theo cung cách bán sản phẩm vượtquá nhu cầu sử dụng của gia đình sẽ, hoặc không thể cạnh tranh được với hàngnhập khẩu, kết cục nông dân phá sản, hoặc nông dân sẽ được hưởng rất ít giá trịgia tăng của ngành
* Hỗ trợ tổ chức hiệp hội ngành nghề và củng cố Hội nông dân.
Hiệp hội ngành nghề có vai trò quan trọng trong hỗ trợ nông dân tham giathương mại theo quy định của WTO, nhất là trong việc bảo vệ sức cạnh tranh củanông sản sản xuất trong nước Thông thường, Hiệp hội nghề nghiệp là chủ thể đứngđơn kiện đối tác nhập khẩu bán phá giá, hoặc là tổ chức kêu gọi Chính phủ thực thicác biện pháp tự vệ khẩn cấp… Hiệp hội ngành nghề cũng là tổ chức có thể giúpChính phủ hiệp thương với nông dân trong các chương trình điều tiết sản xuất nôngnghiệp có lợi cho quốc gia và cho nông dân Không có hiệp hội ngành nghề, Nhànước không có thông tin về nhu cầu của nông dân, càng không thể phối hợp nôngdân cùng hành động Tuy nhiên, nông dân thường ít trưởng thành về chính trị,không tích cực và không có năng lực tham gia, quản lý các tổ chức chính trị, xã hộinên Nhà nước cần có chính sách tuyên truyền, hướng dẫn và giúp đỡ nông dânthành lập hiệp hội và tham gia quản lý hiệu quả các hiệp hội đó Đây là quá trìnhlâu dài, Nhà nước phải kiên trì mới có thể đưa nông dân vào quỹ đạo hoạt động có
tổ chức, có kỷ luật, tự giác, tiến tới có tiếng nói bảo vệ mình trong các tổ chức quản
Trang 26* Hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp và giúp nông dân tìm việc làm
Đào tạo nghề cho nông dân là vấn đề khó khăn, đòi hỏi phải có chương trìnhdài hạn Bởi vì nông nghiệp thu hút lượng lao động lớn với rất nhiều ngành nghềphức tạp, đan xen nhau, khó chuyên môn hoá một cách rạch ròi Hơn nữa, nông dân
tự học qua thực tiễn thích hợp hơn qua trường lớp Trong điều kiện tiến bộ khoahọc, công nghệ trong nông nghiệp thay đổi rất nhanh như hiện nay thì việc đào tạo
cơ bản, ban đầu càng có tác dụng hạn chế, đào tạo, bồi dưỡng qua công việc càng
có giá trị lớn hơn
Song, cần khẳng định vai trò hỗ trợ nông dân học nghề của Nhà nước ở haiphương diện: đào tạo cơ bản ban đầu do nông dân không có kinh phí ra khỏi nôngnghiệp, tạo điều kiện cho số nông dân còn lại có thể sản xuất, kinh doanh một cáchchuyên nghiệp nhằm có thu nhập cao hơn Ngoài ra, cần tạo mối quan hệ thôngthương giữa thị trường lao động ở nông thôn và thị trường lao động ở thành thị đểnông dân dễ dàng tìm việc làm và nơi ở mới tại thành thị Hoạt động này liên quanđến các thủ tục quản lý hành chính của Nhà nước về hộ khẩu, về chế độ tham giahọc tập, đào tạo, chữa bệnh ở các cơ sở dịch vụ nhận tài chính Nhà nước ở nôngthôn và thành thị…
* Hỗ trợ nghiên cứu và khuyến khích chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật cho nông dân
Khác với các doanh nghiệp kinh doanh công nghiệp và nông nghiệp, ngườinông dân, trong khuôn khổ gia đình, không có khả năng tài trợ cho các nghiên cứukhoa học phục vụ chính hoạt động sản xuất của mình Trong khi đó, với quỹ đấtnông nghiệp ngày càng hạn hẹp, với sức ép dân số trên diện tích đất nông nghiệpngày càng cao, người nông dân chỉ có thể nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanhnông nghiệp khi áp dụng khoa học, kỹ thuật, giống mới vào sản xuất Chính đây làđiểm mà Chính phủ cần tác động để tháo gỡ khó khăn cho nông dân
Thông thường, Nhà nước cung cấp tài chính cho các cơ sở nghiên cứu khoahọc chuyên môn hoá như các viện nghiên cứu, các trường đại học Tuy nhiên,thường diễn ra tình trạng Nhà nước không nắm bắt được nhu cầu của nông dân vàthị trường nên các hỗ trợ của Nhà nước, nếu quá cụ thể, có thể chệch hướng thị
Trang 27trường Vì thế, Nhà nước thường khuyến khích các viện nghiên cứu, các trường đạihọc ký hợp đồng nghiên cứu phục vụ nhu cầu nông dân thông qua các tổ chức trunggian giao dịch có hiệu quả như doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm cho nông dân, hợptác xã nông nghiệp, hiệp hội ngành nghề Có thể nói đây là hoạt động phức tạp Bởinếu tổ chức phân phối tốt, Nhà nước có thể nhân rộng các phát minh đạt được từ tàitrợ của Nhà nước cho hàng triệu nông dân mà không vấp phải hạn chế của bí quyếttrong kinh doanh Song nếu hỗ trợ không đúng thì nguồn tài chính Nhà nước có thể
bị lãng phí và kết cục nông dân không thu được gì
* Tổ chức và quản lý thị trường nông sản, vật tư nông nghiệp
Thị trường đầu vào và đầu ra vừa tạo điều kiện cho nông dân hướng đến tổchức sản xuất, kinh doanh hiệu quả hơn, vừa chứa đựng cạm bẫy, rủi ro mà nôngdân thiếu thống tin và không có sức mạnh chống đỡ
Theo các lý thuyết kinh tế, thị trường cạnh tranh hoàn hảo sẽ đem lại chonông dân nhiều lợi ích như quyền tự do lựa chọn, cơ chế phân bố nguồn lực hiệuquả, cơ hội làm giàu nếu thông minh, nhanh nhậy, tích cực… Tuy nhiên, nông dânchỉ có thể tận dụng được các lợi thế đó khi họ có vị thế bình đẳng với các doanhnghiệp khác về thông tin, về khả năng đàm phán thoả thuận giá, về trình độ, tri thức
và tài chính Những tiền đề này người nông dân khó có thể tự mình đạt được Phổbiến ở thị trường cung ứng vật tư là độc quyền của bên bán, còn ở thị trường tiêuthụ nông sản là độc quyền của bên mua Trong cơ chế đó, nông dân thường chịuthiệt thòi Chính vì thế, để hỗ trợ nông dân, Nhà nước phải tham gia quản lý thịtrường cung ứng vật tư nông nghiệp và tiêu thụ nông sản Phương thức can thiệp làkiểm soát chất lượng vật tư nông nghiệp cung ứng theo tiêu chuẩn quốc gia và quốc
tế thông qua cơ quan quản lý thị trường, nhất là các cơ quan cung cấp dịch vụ đolường chất lượng sản phẩm Nhà nước cũng hỗ trợ nông dân tự liên kết thành hợptác xã hoặc hiệp hội để tăng sức mạnh đàm phán khi tiêu thụ nông sản
Ngoài ra, Nhà nước có thể hỗ trợ nông dân trong việc cung cấp các dịch vụ thịtrường như xây dựng các trung tâm bán buôn nông sản, vật tư nông nghiệp, hỗ trợ
Trang 28* Cung cấp dịch vụ công cộng ở nông thôn
Nhiều dịch vụ ở nông thôn không thể trông chờ vào khả năng tự quản của đơn
vị cơ sở, trong đó nổi bật là các dịch vụ: y tế, giáo dục, bảo hiểm xã hội và quản lýhành chính (nhất là quản lý hộ khẩu, đất đai, môi trường)
Trên thực tế các Nhà nước đều chưa đầu tư nhiều vào các dịch vụ này ở nôngthôn như thành thị Một phần vì cư dân nông thôn có khả năng và điều kiện tự sinhsống tồn nhiều hơn cư dân ở thành thị Mặt khác, các vấn đề dịch vụ công ở đô thịnổi lên cấp bách hơn, chi phí tạo ra dịch vụ công ít hơn ở nông thôn Nhưng vềquan điểm chung, đã đến lúc Nhà nước không thể bỏ mặc nông dân tự lo cho cácvấn đề của họ Một phần, ô nhiễm ở thành phố đã lan về nông thôn và người nôngdân không thể tự giải quyết được Phần khác, sản xuất nông nghiệp theo hướng sửdụng hoá chất nhiều hơn đã gây ra vấn đề ô nhiễm môi trường nông thôn và ảnhhưởng đến sức khỏe toàn dân Nếu Nhà nước không cung cấp dịch vụ tại nông thônthì cư dân nông thôn, số thì trành về thành phố, gây sức ép lớn hơn cho các cơ sởdịch vụ ở thành phố, số thì buộc phải sống dưới mức trung bình của xã hội Đây làkết cục Nhà nước không nên để xảy ra
Nói tóm lại, CSHTND không những có nội dung đa dạng mà còn có hệ công
cụ và cơ chế tác động rộng mở Ở Việt Nam CSHTND còn có nội dung và công cụrộng mở hơn, bởi thực chất CSHTND của Việt Nam không chỉ là vấn đề cải thiệnđiều kiện sống của nông dân, mà quan trọng hơn là tổ chức nền nông nghiệp hiệnđại mang tính XHCN và xây dựng giai cấp nông dân hiện đại, mạnh mẽ, tin tưởng
và ủng hộ chế độ XHCN
1.1.4 Quy trình hoạch định, thực hiện, đánh giá chính sách hỗ trợ nông dân của Nhà nước
a Hoạch định chính sách hỗ trợ nông dân của Nhà nước
Đương nhiên chủ thể hoạch định chính sách hỗ trợ nông dân của Nhà nước làcác cơ quan Nhà nước được uỷ quyền Tuy nhiên, do CSHTND có đối tượng tácđộng rộng, lại là những người yếu thế trong xã hội, nên nếu không thực thi một quytrình hoạch định chính sách có tính dân chủ, thì dễ xa rời lợi ích của nông dân, do
đó không được nông dân đồng tình, ủng hộ
Trang 29Để CSHTND phù hợp với nhu cầu bức xúc của nông dân, cơ quan soạn thảochính sách phải thường xuyên thu thập thông tin về đời sống, nhu cầu, nguyện vọng
và tình cảnh thực tế của chính nông dân Ở khâu xác định vấn đề và mục tiêu chínhsách cầu ưu tiên nhu cầu, nguyện vọng của nông dân, hạn chế các ý tưởng "tốtbụng", "ban ơn" của công chức và cơ quan nhà nước Tuy nhiên, nhu cầu của nôngdân thường vượt khả năng cung cấp của Nhà nước, nên cần xếp thứ tự ưu tiên cácvấn đề và mục tiêu để hỗ trợ Nhà nước kịp thời, có hiệu quả
CSHTND của Nhà nước vừa phải đảm bảo có căn cứ thực tế, có cơ sở khoahọc và khả thi Vì thế cần huy động sự tham gia của nhiều nhóm dân cư khác nhaunhư các chuyên gia, các nhà tổ chức thực tế, các đối tượng thụ hưởng, các đốitượng chịu tác động liên đới Phương thức hoạch định đảm bảo tính khoa học, dânchủ và khả thi là điều kiện tiên quyết để chính sách được thực hiện thành công.Nội dung chính sách hỗ trợ nông dân của Nhà nước cũng cần được lựa chọnsao cho có thể thực hiện được trong điều kiện thực tế Không nên ôm đồm quánhiều nội dung trong một chính sách cụ thể Nên xếp thứ tự ưu tiên cho các nộidung để dễ chỉ đạo và đánh giá Các tiêu chuẩn kiểm tra, đánh giá phải được đưa rangay khi hoạch định chính sách Các phương án hành động, trách nhiệm của các cơquan liên quan và bộ máy thực thi chính sách cũng phải được hoạch định rõ ràngtrong chính sách ở giai đoạn hoạch định Đồng thời các kết quả và hành động củachính sách phải được tính toán, cân đối với các nguồn lực để khi ban hành, chínhsách có điều kiện thực thi
b Triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ nông dân của Nhà nước
Triển khai thực hiện CSHTND là khâu quan trọng quyết định kết quả chínhsách Để triển khai thực hiện các nhiệm vụ:
- Hình thành bộ máy thực hiện CSHTND của Nhà nước Theo quy định củaWTO, Nhà nước có thể thực thi không hạn chế các hỗ trợ được phép đối với nôngdân Tuy nhiên, WTO quy định các hoạt động hỗ trợ đó phải được thiết kế theochương trình mục tiêu rõ ràng Vì thế bộ máy thực hiện CSHTND cũng nên kết cấutheo dạng cơ quan điều hành chương trình Nhà nước với các quy định rõ ràng về
Trang 30- Cán bộ thực thi CSHTND của Nhà nước nên là các chuyên gia quản lýchuyên nghiệp theo dự án với các chế độ trách nhiệm và quyền lợi rõ ràng Bảnthân hoạt động của các công chức này là thực thi công vụ, không phải hoạt độngcủa các tổ chức xã hội có quyền tự định theo tổ chức của họ, càng không phải là đạidiện của quỹ từ thiện ban ơn cho nông dân Vì thế, hoạt động của họ phải được quyđịnh chặt chẽ với mức độ trách nhiệm cao trước cơ quan nhà nước Các kết quảhoạt động cảu họ phải được hạch toán, điều chỉnh theo chế độ của Nhà nước.
Nguồn lực và phương tiện thực thi CSHTND của Nhà nước thường được huyđộng bằng nhiều cách khác nhau, trong đó tài trợ từ NSNN có vai trò quan trọng
Do đó sự kết hợp nhiều nguồn lực, việc sử dụng trong thời gian dìa theo nhữngmục tiêu riêng biệt nên cần xác định chế độ quản lý chi tiêu hợp lý, chặt chẽ đểđảm bảo nguồn tài chính được sử dụng đúng mục đích, hạn chế tối đa sự lạm quyềncủa các cá nhân quản lý chương trình
Trong quá trình thực hiện CSHTND, điều kiện thực tế và các yếu tố cấu thànhchính sách có thể thay đổi quá mức dự kiến nên cần có sự điều chỉnh hợp lý Tuynhiên, do là chương trình hoạt động của Nhà nước nên quá trình điều chỉnh thườngkhó khăn, do đó khi kế hoạch định chính sách cần dự kiến trước các phương án rủi ro
để làm căn cứ điều chỉnh Trong trường hợp điều chỉnh quá lớn, với cơ chế hoạchđịnh chính sách khá chậm chạp của Nhà nước, nhiều CSHTND có thể bị phá sản
c Đánh giá chính sách hỗ trợ nông dân của Nhà nước
Các chương trình mục tiêu của Nhà nước có tính chất chung là chủ yếu sửdụng tài chính Nhà nước nên thường coi nhẹ công việc đánh giá, tổng kết chươngtrình Về mặt lý thuyết, đánh giá, tổng kết, rút bài học kinh nghiệm cho từngchương trình là điều kiện đảm bảo cho các chương trình của Nhà nước gắn với mụctiêu hơn, nâng cao trách nhiệm của công chức quản lý chương trình, đông thời cungcấp dữ liệu cho hoạch định các chương trình sau này Chính vì vậy, cần nghiêm túcđánh giá kết quả của CSHTND trên các phương diện:
- Tác động của chính sách: đánh giá cả tác động chính và tác động phụ, cả tácđộng đối với đối tượng thụ hưởng lẫn đối tượng liên quan, cả tác động ngắn hạn lẫndài hạn
Trang 31- Đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu: để xác định xem các nguồn lực đãđược sử dụng đúng mục đích chưa, công chức có hoàn thành nhiệm vụ của mìnhhay không, cơ quan Nhà nước được tổ chức hợp lý hay không…
- Đánh giá công lao thành tích và khuyết điểm của cá nhân và tổ chức liên quan.Thông qua đánh giá kết quả chính sách cần rút ra những khuyết nghị bổ ích và
dữ liệu cần thiết cho các chương trình sau này
1.1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách hỗ trợ nông dân của Nhà nước
1.1.5.1 Đường lối phát triển kinh tế và chính trị của Nhà nước
CSHTND là một chính sách công nên phụ thuộc rất lớn vào bản chất, đườnglối phát triển kinh tế và chính trị của Nhà nước
Bản chất chính trị không chỉ ảnh hưởng đến quan điểm, lập trường và mụctiêu của CSHTND mà còn quy định cả trình tự hoạch định, triển khai thực hiệnCSHTND
Nhìn chung, trong quốc gia đa đảng, CSHTND thường thay đổi khi đảng cầmquyền thay đổi, nhất là khi các đảng cầm quyền đứng trên các lập trường khác nhauđối với nông dân
Ở các nước một đảng cầm quyền, CSHTND có tính chất quán hơn chiềuhướng chính sách luôn trung thành với lập trường của đảng đó Tuy nhiên, trongđiều kiện một đảng cầm quyền, nếu đảng đó không mang bản chất cách mạng, tựđổi mới thì CSHTND có xu hướng bảo thủ, quan liêu, không đáp ứng kịp thời nhucầu của nông dân
Nhà nước tư bản hạn chế tác động chủ yếu đến nông dân trong khuôn khổ thunhập và an ninh lương thực Do đó phương thức hành động chủ yếu là hỗ trợ duytrì ngành nông nghiệp thông qua trợ cấp sản xuất hoặc trợ cấp theo sản lượng, theothu nhập trung bình trong trường hợp thu nhập của nông dân giảm sút do làm theokhuyến nghị Nhà nước
Nhà nước XHCN có phạm vi hành động rộng rãi hơn thông qua vai trò đạidiện quản lý tài sản thuộc sở hữu toàn dân của Nhà nước Hơn nữa, với mục đích
Trang 32không chỉ chú trọng đến xây dựng nông thôn mới hiện đại, nền nông nghiệpXHCN Vì thế, hỗ trợ để nông dân xoá đói, giảm nghèo, tự vươn lên làm giàu trongcác tổ chức sản xuất kinh doanh mang tính XHCN được Nhà nước ưu tiên.
Ngoải ra, CSHTND của Nhà nước còn phải phù hợp với đường lối phát triểnkinh tế - xã hội, chính trị của Nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể Cụ thể hơn làtrong các giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau, Nhà nước có thể lựa chọn các mụctiêu ưu tiên của CSHTND khác nhau, cung cấp tài chính ở quy mô khác nhau, lựachọn các phương thức thực hiện chương trình mục tiêu khác nhau…
Ở nước ta, trong giai đoạn đầu CNH, HĐH , Nhà nước chưa thể giành nguồntài chính lớn cho phát triển nông thôn Tuy nhiên, khi công nghiệp đã có tích luỹ,
ưu tiên của Nhà nước là hiện đại hoá nhanh nông nghiệp, nông thôn, nâng cao mứcsống của người nông dân và hạn chế chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thànhthị Trong giai đoạn CNH, HĐH đã hoàn thành, CSHTND của Nhà nước ta có thểthay đổi theo hướng hỗ trợ nhiều hơn để giữ nông dân ở lại nông thôn làm nôngnghiệp hiệu quả…
1.1.5.2 Trình độ phát triển của nông nghiệp và nông thôn
Trình độ phát triển thực tế của nông nghiệp và nông thôn sẽ đặt ra các vấn đềkhác nhau trước Nhà nước
Đối với nền nông nghiệp lạc hậu, CSHTND của Nhà nước thường ưu tiên cácnội dung hiện đại hoá, kích hoạt thị trường nông thôn, đưa tiến bộ, máy móc, giốngmới vào trồng trọt, chăn nuôi, từ đó cải thiện mức sống của dân cư Khi nền nôngnghiệp và nông thôn còn lạc hậu thì các mục tiêu môi trường, mục tiêu xã hội thườngkhông được coi trọng đủ mức Chỉ khi các vấn đề này trở nên bức xúc trong điềukiện nông nghiệp hàng hoá đã khá phát triển, thì Nhà nước mới bắt đầu quan tâm.Đối với nền nông nghiệp đã khá phát triển và nông thôn đã được xây dựng cơbản, CSHTND của Nhà nước thường hướng đến giảm mức chênh lệch thu nhậpgiữa nông dân và các tầng lớp khác, cung cấp dịch vụ hiện đại cho cư dân nôngthôn, kiểm soát ô nhiễm môi trường, cung cấp thông tin, điều tiết nông nghiệp hoànhập với các ngành kinh tế khác…
Đặc biệt, khi trình độ tổ chức sản xuất, kinh doanh của nông dân còn thấp
Trang 33Nhà nước quan tâm hơn đến công tác khuyến nông, đến các hỗ trợ đầu vào như tíndụng, giống mới, máy móc nông nghiệp Nhưng khi nông dân đã kinh doanh thànhthục trong điều kiện kinh tế thị trường, các Nhà nước chuyển sang hỗ trợ thị trườnghoạt động hiệu quả ở nông thôn, nhất là hỗ trợ thị trường bất động sản, thị trườngtài chính, thị trường lao động.
Trong điều kiện cơ cấu kinh tế đã tương đối ổn định hình, tỉ trọng nôngnghiệp không còn liên tục giảm nhanh, Nhà nước quan tâm hơn đến điều tiết nôngnghiệp và thu nhập nông dân hơn điều tiết thị trường đầu vào Lúc này các hìnhthức trợ cấp để duy trì ngành nông nghiệp và giữ chân người nông dân ở lại nôngthôn trở nên được ưu tiên hơn Khi đó Nhà nước chú trọng sử dụng các biện pháp
hỗ trợ thu nhập trực tiếp hơn là thông qua thị trường kích thích người nông dân
Do CSHTND khác nhau ở các trình độ phát triển kinh tế, nông nghiệp vànông thôn khác nhau nên việc vận dụng kinh nghiệm của nước ngoài phải được cânnhắc thận trọng
1.1.5.3 Tiềm lực của Nhà nước
Tiềm lực tài chính và quản lý của Nhà nước quyết định quy mô, chất lượng vàhiệu quả của CSHTND
Trong nền kinh tế thị trường, nguồn tài chính Nhà nước cung cấp cho cácchương trình mục tiêu là năng lượng nuôi sống các chương trình này Tài chính lớncho phép thiết kế các chương trình có nội dung phong phú, theo đuổi nhiều mụctiêu dài hạn Nguồn tài chính hạn hẹp hoặc được cung cấp không đủ, không đúngthời hạn có thể là phá sản cả những chương trình được hoạch định công phu nhất.Song tài chính Nhà nước cung cấp cho CSHTND phụ thuộc vào rất nhiều nhân tốnhư quy mô thu NSNN, luật sử dụng NSNN, tương quan giữa các nhóm lợi íchtrong quốc hội…
Dù bất kỳ lý do nào, nguồn tài chính Nhà nước cũng là một trong những tiền
đề quan trọng nhất để hoạch định và thực hiện CSHTND thành công Trong thựctiễn, Nhà nước có nhiều phương thức huy động tài chính cho CSHTND như tăngchi NSNN, sử dụng các kênh tín dụng Nhà nước có thể chi phối, huy động từ cácchủ thể liên quan
Trang 34trợ, thành công cua CSHTND còn do năng lực tổ chức quản lý của các cơ quan Nhànước quy định Nếu cơ quan Nhà nước được tổ chức một cách hợp lý, hiệu lực chỉđạo cao, công chức chuyên nghiệp thì xác suất thành công của chính sách là lớn.Ngược lại, bộ máy quản lý không được tổ chức hợp lý, chỉ đạo phân tán, kém hiệulực, công chức tham nhũng thì dù chương trình được hoạch định tốt đến đâu kếtquả đạt được cũng hạn chế.
1.1.5.4 Các cam kết quốc tế
Cam kết mà một quốc gia tham gia theo nguyên tắc song phương và đaphương là giới hạn quốc tế cho các hành động của Nhà nước trong hỗ trợ nông dân.Trước hết là các cam kết về thương mại hàng hoá, dịch vụ, quyền sở hữu trítuệ, đầu tư liên quan đến thương mại mà mọi quốc gia thành viên WTO phải thựchiện Mặc dù, WTO không có cơ quan cưỡng chế thi hành phán quyết của Hộiđồng xử lý tranh chấp, nhưng áp lực trong WTO cũng như hành động trả đũathương mại buộc Chính phủ các nước phải chú ý đến các điểm cấm trong quy địnhcủa WTO Hơn nữa, tuân thủ các quy định chung của WTO thì thương mại nôngsản có lợi cho nông dân hơn là không tuân thủ Chính vì vậy, giờ đây hầu hết cácChính phủ đều cố gắng điều chỉnh các chính sách thương mại đối ngoại của mìnhtheo các nguyên tắc của WTO
WTO không điều chỉnh mọi quy định liên quan đến thương mại nông sản.Trong nhiều trường hợp WTO khuyến khích các nước sử dụng các tiêu chuẩn vàhướng dẫn của các tổ chức liên quan, nhất là các quy định của các tổ chức quốc tế
về tiêu chuẩn hàng hoá, về môi trường, các công ước quốc tế…Có nghĩa là Nhànước quốc gia không những phải chú trọng đến các hiệp định của WTO, các bảncam kết đính kèm của các nước thành viên, mà còn phải mở rộng sự chú ý đến tất
cả các hiệp ước, hiệp định quốc tế mà quốc gia đó tham gia Trong đó các cam kếtcủa các tổ chức khu vực có ý nghĩa quan trọng
Việt Nam đã tham gia ký nhiều công ước quốc tế và là thành viên của nhiều
tổ chức quốc tế Do đó, CSHTND của Nhà nước phải tuân thủ và bao quát đượccác yêu cầu của các cam kết này
Trang 351.2 BÀI HỌC CHO VIỆT NAM TỪ KINH NGHIỆM HOẠCH ĐỊNH
VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NÔNG DÂN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Kinh nghiệm của nước ngoài không phải là hình mẫu để chúng ta dập khuônthực hiện trong nước Nhưng kinh nghiệm nước ngoài là khối tri thức đã được tổngkết một cách khoa học, có cơ sở thực tiễn Hiểu biết kinh nghiệm nước ngoài đểViệt Nam tránh được các sai lầm của các nước đi trước, đồng thời học tập đượcnhững bài học hay mà lịch sử phát triển của nước họ đã kiểm chứng
Từ phân tích việc hoạch định và thực thi CSHTND của các nước có thể rút ramột số bài học sau đây cho Việt Nam:
Thứ nhất, hỗ trợ nông dân vươn lên có thu nhập và đời sống thoả đáng là việc
làm tất yếu của mọi Chính phủ Ngay ở những nước có điều kiện tự nhiên thuận lợi,quy mô đất nông nghiệp trên đầu người cao như nước Mỹ mà nông dân không cóthể tự đảm bảo sức cạnh tranh và thu nhập cho mình thì ở những nước khó khănhơn gấp bội như nước ta, nông dân càng không thể tự mình vươn lên nếu thiếu sự
hỗ trợ của Nhà nước
Hơn nữa, các nước đi trước như Mỹ và EU đã có một thời gian rất dài thực thicác chính sách hỗ trợ nông dân mà không gặp phải sự cản trở của các quy địnhtrong GATT nên có ưu thế tạo được điểm xuất phát cao để thực thi Hiệp định Nôngnghiệp Nước ta vừa phải hỗ trợ nông dân vươn lên vừa phải đáp ứng các yêu cầukhắt khe của WTO trong điều kiện năng lực tài chính của Nhà nước rất mỏng sẽ làmột thách thức này thì nông nghiệp và nông dân Việt Nam sẽ có thể có một kết cụckhông sáng sủa Đáng tiếc là kinh nghiệm tương đồng với điều kiện Việt Nam kháhiếm trên thế giới
Thứ hai, Chính phủ cần cân nhắc và nghiên cứu kỹ các tác động có thể có đến
nông dân khi thực thi các cam kết gia nhập WTO để có thể cung cấp một lưới đủ antoàn Các tác động này đến từ nhiều cam kết nhưng rõ ràng và trực tiếp nhất là đếnnhững người nông dân sản xuất các nông sản không có sức cạnh tranh Mặc dùChính phủ Việt Nam đã đạt được các mức thuế quan và hạn ngạch bảo hộ đối vớimột số nông sản của Việt Nam không có sức cạnh tranh như mía đường, bông vải,
Trang 36thời gian Vì thế Chính phủ phải có biện pháp hỗ trợ nông dân tham gia sản xuấtcác mặt hàng nông sản này hoặc là nâng cao sức cạnh tranh bằng áp dụng giống và
kỹ thuật canh tác mới hoặc có kế hoạch giảm diện tích và hỗ trợ để nông dânchuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi nhanh chóng Kinh nghiệm của các nước đitrước và theo quy định của WTO hỗ trợ của Chính phủ cho nông dân phải đượchoạch định thành các chương trình minh bạch
Thứ ba, cần áp dụng mối quan hệ thống các chính sách toàn diện hỗ trợ nông
dân thích ứng với WTO một cách có lợi Các chính sách thường được các Chínhphủ sử dụng là thiết kế chương trình hỗ trợ tín dụng, chương trình giống mới chonông dân, chương trình nâng cao kỹ năng hành nghề cho nông dân (kể cả kỹ nănghành nghề nông lẫn kỹ năng cho phép nông dân thực thi các ngành nghề mới đểchuyển nghề linh hoạt); chương trình bảo hiểm và an sinh xã hội kết hợp với hỗ trợcủa Nhà nước và đóng góp của nông dân, chương trình cải thiện chất lượng dịch vụcông ở nông thôn…, đặc biệt là các chương trình xây dựng đường giao thông nôngthôn, xây dựng hạ tầng thông tin liên lạc, năng lượng và xúc tiến thương mại Mỗichương trình định hướng ưu tiên cho một số mục tiêu, nhưng cần phối hợp cácchương trình theo nhóm vấn đề theo đối tượng hưởng thụ hoặc theo chủ thể hoạchđịnh để chúng hỗ trợ lẫn nhau, tăng hiệu quả chính sách chung
Thứ tư, cần coi trọng công tác tổ chức, quản lý và các phương pháp hoạch
định CSHTND có cơ sở khoa học, khả thi Mặc dù bản chất và nội dung củaCSHTND ở nước ta có thể khác ở Trung Quốc và Mỹ, nhưng kỹ thuật và phươngthức hoạch định chính sách thì có thể tham khảo lẫn nhau Đặc biệt Nhà nước ViệtNam nên nghiên cứu kỹ thuật thu thập thông tin, phân tích chính sách, lên phương
án hành động và xác định các tiêu chuẩn đo lường hiệu quả chính sách của cácnước có nhiều kinh nghiệm như Mỹ Đây thực chất là các phương pháp ra quyếtđịnh khoa học, nhất là các phương pháp, quy trình dựa trên các kỹ thuật định lượngkhác nhau Học tập cách làm này giúp Nhà nước ta khắc phục được nhược điểmchủ quan, duy ý chí, tính khả thi thấp trong hoạch định chính sách
Thứ năm, cần tính đến các quan điểm và lập luận của các nhóm nông dân
khác nhau, các doanh nghiệp kinh doanh và chế biến nông sản khác nhau để đềxuất và thực thi các chính sách sát hợp với nhu cầu và trình độ của họ Tránh cách
Trang 37làm chính sách kiểu quan liêu, ban ơn vừa lãng phí ngân sách soạn thảo, vừa làmmất lòng tin của nông dân Những vấn đề nông dân quan tâm là giá nông sản trongmối quan hệ với thu nhập của họp; năng suất, chất lượng, chi phí sản xuất ra nôngsản; thông tin thị trường; chi phí vận chuyển; chi phí đáp ứng tiêu chuẩn chất lượnghàng hoá Hơn nữa, Nhà nước cần quan tâm đến hoà hợp lợi ích của người nôngdân, của doanh nghiệp chế biến và của doanh nghiệp kinh doanh nông sản Nhànước nên tạo môi trường gắn kết các đối tác này với nhau trên cơ sở đầy đủ thôngtin, hài hoà lợi ích và hợp tác làm ăn.
Thứ sáu, Nhà nước cần nhanh chóng tổ chức thị trường trong nước hiệu quả,
nhất là nhanh chóng xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn nông sản để đáp ứng haimục tiêu: tạo hàng rào kỹ thuật bảo hộ nông sản trong nước; huấn luyện nông dânthành thục khi tham gia thị trường thế giới Nhà nước cũng cần đề cao việc áp dụngcác tiêu chuẩn quốc tế vào thị trường trong nước để tăng sức cạnh tranh cho nông sảnxuất khẩu, nhất là tiêu chuẩn về an toàn, phòng dịch và bảo quản khi vận chuyển…
Thứ bảy, cần nhanh chóng xác lập quyền tài sản của nông dân để hỗ trợ họ
tiếp cận thị trường tín dụng cũng như có điều kiện hưởng lợi tốt nhất về bản quyềntài sản đó Trong các quyền tài sản, quyền về sử dụng đất đai, quyền về bản quyềncác giống cây con, thương hiệu và xuất xứ cần được thể chế hoá đầy đủ
Thứ tám, CSHTND phải phối hợp với chính sách an ninh lương thực để đảm bảo cơ
sở vững chắc cho cuộc sống của nông dân Bởi vì xét cho cùng nông dân là người phụthuộc nhiều nhất vào giá lương thực cả với tư cách người sản xuất và người tiêu dùng Nếukhông đảm bảo an ninh lương thực, người nông dân sẽ không có tiền để mua chính lươngthực
Trong chính sách bảo đảm an ninh lương thực, Nhà nước cần chú trọng bảo
vệ những cây trồng quan trọng, đặc biệt là cây lương thực chính và khuyến khíchnông dân áp dụng các hệ thống sản xuất bền vững và dễ tiếp cận
Thứ chín, thiểu tính bao cấp trong CSHTND để tương hợp với xu hướng phát
triển của WTO Muốn vậy cần chú trọng các hướng chính sách có tác dụng lâu dàinhư nâng cao kỹ năng lao động cho nông dân, đảm bảo dịch vụ công bình đẳnggiữa nông thôn và thành thị, đối xử bình đẳng với nông dân cả khi họ ở nông thôn,
Trang 38của nông dân phát triển để giao quyền tự chủ cho họ nhiều hơn.
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NÔNG DÂN THỰC THI TẠI TỈNH NAM ĐỊNH HIỆN NAY
2.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỜI SỐNG VÀ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
2.1.1 Thực trạng đời sống của nông dân
Để đánh giá hiện trạng đời sống, thu nhập và những vấn đề đặt ra đối vớinông dân trên địa bàn tỉnh Nam Định hiện nay, đề tài dựa trên kết quả thu được từcuộc điều tra hộ nông dân và cán bộ quản lý tại 2 huyện Hải Hậu, Mỹ Lộc và các
xã ngoại thành của tỉnh Nam Định cùng với số liệu của tổng cục thống kê một sốkết quả nghiên cứu của các tổ chức khác; Trên cơ sở quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 1 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn
hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015
2.1.1.1 Thu nhập, khả năng tích luỹ, điều kiện sống của các hộ nông thôn
Thu nhập bình quân đầu người năm của người dân nói chung tăng lên từ năm
1999 đến nay Theo các số liệu thống kê cho thấy, tốc độ gia tăng thu nhập rất khácnhau trong các vùng Các vùng chỉ có thuần nông, không có nghề phụ tốc độ tăng thunhập thấp nhất và mức thu nhập cũng thấp nhất Các vùng kinh tế trọng điểm hoặccác vùng có nghề phụ là những vùng có thu nhập đầu người và tốc độ tăng thu nhậpcao Thu nhập bình quân đầu người một tháng ở khu vực nông thôn có những bướccải thiện đáng kể, từ 94.000 đồng (1989) lên 141.140 đồng (1994), 225.000 đồng(1999), 506.000 đồng (2006) và 762.000 đồng (2010), nhưng luôn thấp hơn thu nhậpbình quân chung cả tỉnh và có xu hướng tăng chậm hơn thành thị Mặt khác, nhữngnăm gần đây, giá nông sản tăng đem lại hy vọng cải thiện đời sống cho nông dân,nhưng vật tư và các chi phí đầu vào tăng nhanh hơn, nên thu nhập thực tế của ngườinông dân có xu hướng giảm Không những thế, họ còn bị "sức ép" bởi quá nhiềukhoản đóng góp, thiên tai, dịch bệnh… Theo khảo sát bình quân mỗi hộ nông dân
Trang 40gia đình nông dân còn phải đóng thêm 28-30 khoản khác Tổng giá trị đóng gópkhoảng 250-800 nghìn đồng năm (chiếm 2,7-3,5% tổng thu nhập của gia đình)
Dù vậy, điều kiện sống của hộ dân ở nông thôn được cải thiện Nhà ở khu vựcnông thôn được cải thiện cả về loại nhà và diện tích để ở Kết quả điều tra cho thấy,
tỷ lệ có nhà ở của các hộ trên 95%, xe đạp, xe máy, tivi trên 90%, Tuy nhiên, thunhập thấp khiến cho sức mua và tỷ lệ hộ có tài sản cố định phục vụ sản xuất nôngnghiệp còn chiếm tỷ lệ rất nhỏ
Bảng 2.1: Tài sản hiện có của hộ nông dân
Nguồn: Điều tra của nhóm tác giả năm 2010
Biểu đồ 2.1: Tài sản hiện có của hộ nông dân
So với cư dân đô thị, người nông dân phải chịu rất nhiều thua thiệt trong việctiếp cận dịch vụ y tế và chăm sóc sức khoẻ Theo thống kê, 100% số xã có trạm y
tế, tuy nhiên, hệ thống dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng khu vực nông