DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT KBTTN : Khu bảo tồn thiên nhiên VQG : Vườn quốc gia DLST : Du lịch sinh thái MCD : Trung tâm bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng GIS : Hệ thống thông
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Cơ sở dữ liệu được sử dụng 4
6 Các kết quả đạt được 4
7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 5
8 Cấu trúc của luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
1.1 Quan điểm nghiên cứu 6
1.1.1 Quan điểm nghiên cứu 6
1.1.2 Các bước nghiên cứu 7
1.2 Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái và du lịch sinh thái cộng đồng trên quan điểm tài nguyên và môi trường 8
1.2.1 Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái 8
1.2.2 Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái cộng đồng trên quan điểm tài nguyên và môi trường 16
1.3 Phương pháp nghiên cứu 22
CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI TẠI VÙNG ĐỆM KHU BTTN TIỀN HẢI – THÁI BÌNH 24
2.1 Vị trí địa lý 24
2.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 24
2.2.1 Đặc điểm địa chất 24
2.2.2 Đặc điểm khí hậu 25
2.2.3 Đặc điểm thủy văn, hải văn 29
2.2.4 Thổ nhưỡng 31
2.3 Dân cư và nguồn lao động 33
Trang 22.3.1 Dân cư 33
2.3.2 Nguồn lao động và việc làm 35
2.4 Điều kiện kinh tế – xã hội 36
2.4.1 Cơ cấu kinh tế, thực trạng phát triển của các ngành 36
2.4.2 Cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 38
CHƯƠNG 3 TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VÀ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TẠI VÙNG ĐỆM KHU BTTN TIỀN HẢI - HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH 45
3.1 Tiềm năng phát triển du lịch 45
3.1.1 Đặc điểm tài nguyên du lịch tự nhiên 45
3.1.2 Đặc điểm tài nguyên du lịch nhân văn 51
Đánh giá chung về Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái cộng đồng tại vùng đệm Khu BTTN Tiền Hải - huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 59
3.2 Hiện trạng môi trường tại vùng đệm khu BTTN Tiền Hải – Thái Bình 62
3.2.1 Môi trường không khí 62
3.2.2 Môi trường nước 63
3.2.3 Chất thải và rác thải 66
3.2.4 Hiện trạng sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu và các chất bảo vệ thực vật 66
CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI CỘNG ĐỒNG TẠI VÙNG ĐỆM – KHU BTTN TIỀN HẢI 68
4.1 Tổng quan về định hướng phát triển kinh tế – xã hội 68
4.2 Mô hình tổ chức hoạt động du lịch 71
4.3 Mô hình tổ chức không gian DLSTCĐ trong mối liên kết du lịch 81
4.4 Mô hình quản lý du lịch sinh thái cộng đồng 87
4.5 Dự báo các vấn đề nảy sinh sau khi triển khai mô hình phát triển du lịch 90
KẾT LUẬN 92
KIẾN NGHỊ 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Lượng mưa tháng và năm (mm) 27
Bảng 2 Số ngày mưa trung bình tháng và năm (ngày) 27
Bảng 3 Số cơn bão đổ bộ hoặc tiếp cận các đoạn bờ biển từ 1960 - 1997 28
Bảng 4 Điều kiện môi trường để tổ chức một số hoạt động du lịch cơ bản 30
Bảng 5 Số người trong độ tuổi lao động 34
Bảng 6 Cơ cấu phân công lao động trong các ngành 35
Bảng 7 Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2005 – 2006 37
Bảng 8 Chỉ tiêu chất lượng không khí đối với một số hoạt động du lịch 62
Bảng 9 Chỉ tiêu chất lượng nước sinh hoạt đối với một số hoạt động du lịch 64
Bảng 10 Chỉ tiêu chất lượng nước biển đối với một số hoạt động du lịch 65
Bảng 11 Điều tra sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại Thái Bình 66
DANH MỤC HÌNH Hình 1 Sơ đồ các bước nghiên cứu 8
Hình 2: Sơ đồ cấu trúc du lịch sinh thái (theo Phạm Trung Lương) 13
Hình 3 Dân số của 3 xã vùng đệm khu BTTN Tiền Hải 33
Hình 4 Cơ cấu dân số phân theo giới tính 33
Hình 5 Cơ cấu kinh tế năm 2005 và 2006 38
Hình 6 Mô hình phát triển DLSTCĐvùng đệm khu BTTN Tiền Hải 83
Hình 7 Mô hình phát triển du lịch cụm khu du lịch sinh thái cộng đồng 87
Hình 8 Mô hình quản lý DLSTCĐ tại vùng đệm khu BTTN Tiền Hải 89
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KBTTN : Khu bảo tồn thiên nhiên
VQG : Vườn quốc gia
DLST : Du lịch sinh thái
MCD : Trung tâm bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng
GIS : Hệ thống thông tin địa lý
ĐDSH : Đa dạng sinh học
UBND : Uỷ ban nhân dân
ODA : Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance)
CN : Công nghiệp
CBCNV : Cán bộ công nhân viên
ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
NTTS : Nuôi trồng thuỷ sản
NGO : Tổ chức phi Chính Phủ
VNWTO : Tổ chức du lịch thế giới của Liên Hợp Quốc
WWF : Quĩ quốc tế bảo vệ thiên nhiên
IUCN : Liên minh quốc tế bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên ESCAP : Uỷ ban kinh tế – xã hội khu vực châu Á- Thái Bình Dương của
Liên Hợp Quốc
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
KBTTN Tiền Hải là khu vực rất phong phú về các kiểu sinh cảnh, trong đó quan trọng nhất là các bãi cát ngập triều, trảng sậy và rừng ngập mặn Ngoài ra, các bãi bồi ngập triều cũng là một sinh cảnh quan trọng, là nơi kiếm ăn của các loài chim ven bờ Rừng ngập mặn trong khu bảo tồn có thực vật ưu thế thuộc loài Trang, Bần chua, Vẹt dù và Sú Ngoài ra, trên cồn Vành và dọc đê còn có Phi lao được trồng với mục tiêu chắn cát, chắn gió
KBTTN Tiền Hải, là một khu bảo tồn nằm ở cửa sông Hồng Từ cuối những năm 80, KBTTN Tiền Hải đã được đề xuất là một phần của khu Ramsar cửa sông Hồng Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau đến tận năm 1995 mới có quyết định công nhận của Chính Phủ Gần đây, tháng 10 năm 2004, Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn Hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã chính thức công nhận KBTTN Tiền Hải là một trong các vùng lõi của Khu Dự trữ Sinh Quyển Thế Giới Vùng ven biển Đồng bằng sông Hồng
Tiền Hải là nơi dừng chân và trú đông quan trọng của các loài Vịt trời, Mòng bể
và chim ven biển Trong số này có các loài bị đe doạ toàn cầu như: Mòng bể mỏ ngắn, Cò thìa Ở đây còn là nơi trú ngụ của một số loài chim khác với số lượng lớn KBTTN Tiền Hải đóng một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của địa phương Đây là nơi có sự đa dạng rất cao về các loài thuỷ sinh vật, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế rất cao như các loài tôm, cua, cá… và các loài nhuyễn thể như ngao, sò huyết… Rừng ngập mặn của khu vực là nơi cung cấp bãi đẻ cho các loài thuỷ sản, là cơ sở cho nghề nuôi ong lấy mật cải thiện điều kiện kinh tế của các hộ gia đình
Tuy nhiên, Ngày nay trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội đang nổi lên các vấn đề về khai thác triệt để tài nguyên và ô nhiễm môi trường, tạo ra các sức ép đối với KBTTN Tiền Hải Do vậy, đề tài đã chọn 3 xã vùng đệm của KBTTN Tiền Hải
là điểm nghiên cứu
Trang 6Vùng đệm có diện tích tự nhiên là 4.571,16 ha, chia ra xã Nam Thịnh: 836,01 ha; xã Nam Hưng: 1.269,67 ha; xã Nam Phú: 2.465,48 ha, tổng diện tích đất nông nghiệp: 2.232,94 ha chia ra: xã Nam Thịnh: 311,18 ha; xã Nam Hưng: 855,91 ha; xã Nam Phú: 1.066,57 ha, tổng diện tích đất phi nông nghiệp: 622,81 ha chia ra: xã Nam Thịnh: 134,69; xã Nam Hưng: 316,84 ha; xã Nam Phú: 171,28 ha Đất có mặt nước ven biển: 4.080,44 ha trong đó: đất có rừng ngập mặn: 1.075,54 ha và đất nuôi
trồng thuỷ sản: 496 ha
Vùng đệm khu BTTN Tiền Hải có 4.141 hộ với 16.014 nhân khẩu trong đó: Nam chiếm 46,9% và Nữ là: 53,1% Các hộ thuần nông chiếm 51%, các hộ nuôi trồng, khai thác thuỷ sản chiếm 42,2%, hộ thương mại, dịch vụ 5%, hộ sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 1,8% Toàn vùng có 48,8% hộ thuộc diện nghèo Như vậy có thể nhận thấy, hầu hết các hộ sống ở vùng đệm KBTTN Tiền Hải vẫn có nguồn thu nhập chủ yếu dựa vào nông nghiệp là chính, sau đó là dựa vào khai thác các nguồn lợi sẵn có của thuỷ sản và rừng ngập mặn Chính nguyên nhân này đã dẫn đến huỷ hoại sự đa dạng của các hệ sinh thái ven biển, đặc biệt là hệ thống rừng ngập mặn ở KBTTN Tiền Hải Biến diện tích đất canh tác nông nghiệp thành các ao nuôi trồng thuỷ sản một cách ồ ạt cũng là một cách tàn phá tài nguyên đất đai, làm mặn hoá các cánh đồng đã được thau chua rửa mặn
Do vậy, việc áp dụng một mô hình sinh kế bền vững, thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh của 3 xã vùng đệm đó là du lịch sinh thái với các tôn chỉ của nó như:
- Phát triển dựa vào những giá trị của thiên nhiên và văn hoá bản địa
- Được quản lý bền vững về môi trường sinh thái
- Có giáo dục và diễn giải về môi trường
- Có đóng góp cho những nỗ lực bảo tồn và phát triển cộng đồng
Vùng đệm của KBTTN Tiền Hải cũng là nơi có nhiều địa danh lịch sử và giàu truyền thống văn hoá Nằm ngay cạnh một Hệ sinh thái của khu vực Tiền Hải vẫn còn nhiều nét nguyên sơ và do vậy có nhiều tiềm năng du lịch cao
Trang 7Từ đây có thể dễ dàng đi thăm rừng ngập mặn, xem chim ở cồn Vành, cồn Thủ, cửa sông Hồng Lấp v.v… đi thăm hải đăng cồn Vành, thăm các nông trường cói, đến bãi tắm Đồng Châu, tắm và thưởng thức nước khoáng Tiền Hải, thăm làng nghề chạm bạc Đồng Xâm…
Như vậy, có thể thấy tài nguyên du lịch của vùng đệm nói riêng và của Tiền Hải nói chung rất đa dạng và phong phú Tuy nhiên, vẫn chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào để có thể áp dụng và xúc tiến quảng bá phát triển du lịch cho vùng
Đề tài: “Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái cộng đồng trên quan điểm Tài Nguyên Môi trường tại vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải - huyện Tiền Hải - Thái Bình” sẽ là một bước đi tiên phong trong việc khơi dậy tiềm năng du
lịch của vùng và đồng thời đạt được mục đính bảo tồn bền vững đa dạng sinh học
hệ sinh thái rừng ngập mặn và hệ sinh thái thuỷ sinh ven biển
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu ngắn hạn
Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái cộng đồng nhằm mục đích bảo vệ Tài nguyên Môi trường Đề xuất áp dụng tại 3 xã vùng đệm của KBTTN Tiền Hải Bảo tồn đa dạng sinh học, cải tạo điều kiện môi trường, bảo vệ cảnh quan rừng ngập mặn và hệ sinh thái ven biển
Mục tiêu lâu dài
Thiết lập mối quan hệ lâu dài giữa các bên liên quan
Là mô hình điểm học tập, giáo dục cộng đồng về đa dạng sinh học rừng ngập mặn và hệ sinh thái ven biển, giáo dục môi trường
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Chọn lãnh thổ nghiên cứu
- Nghiên cứu trong phòng
- Nghiên cứu, khảo sát tại thực địa
- Tổng quan tài liệu, số liệu, bản đồ có liên quan
Trang 8- Lập định hướng phát triển du lịch sinh thái cộng đồng tại vùng đệm khu BTTN Tiền Hải – Thái Bình
+ Mô hình phát triển du lịch sinh thái cộng đồng tại vùng đệm khu BTTN Tiền Hải – Thái Bình
+ Mô hình quản lý du lịch sinh thái cộng đồng tại vùng đệm khu BTTN Tiền Hải – Thái Bình
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi lãnh thổ:
Phạm vi lãnh thổ nghiên cứu gồm có 3 xã Nam Thịnh, Nam Hưng, Nam Phú là
3 xã vùng đệm của Khu BTTN Tiền Hải – huyện Tiền Hải – Thái Bình
Giới hạn nội dung nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu và đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, các vấn đề về tài nguyên và môi trường trên quan điểm tổng hợp và từ đó đưa
ra các khuyến nghị về không gian sử dụng hợp lý cho phát triển du lịch, đặc biệt là
du lịch sinh thái cộng đồng vùng đệm Khu BTTN Tiền Hải – Tiền Hải – Thái Bình
5 Cơ sở dữ liệu được sử dụng
Các loại dữ liệu sau đã được sử dụng cho việc hoàn thiện luận văn:
- Các tài liệu về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội đã công bố (số liệu khí hậu thuỷ văn; số liệu về kinh tế, xã hội; hiện trạng sử dụng đất )
- Bản đồ địa hình khu vực nghiên cứu, tỷ lệ 1: 50.000;
- Các tài liệu đã công bố có liên quan đến đề tài
- Các tài liệu, số liệu do Trung tâm Bảo tồn Sinh vật Biển và Phát triển Cộng đồng (MCD) cung cấp
- Tài liệu nghiên cứu thực địa
6 Các kết quả đạt được
- Phân tích tổng hợp các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng đệm Khu BTTN Tiền Hải phục vụ hướng nghiên cứu của đề tài
Trang 9- Xây dựng được định hướng không gian du lịch sinh thái cộng đồng vùng đệm Khu BTTN Tiền Hải
- Xây dựng được mô hình quản lý du lịch sinh thái cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu
7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học:
Kết qủa nghiên cứu của đề tài đã làm rõ thực trạng phát triển kinh tế – xã hội của vùng và đặc biệt là các dạng tài nguyên thiên nhiên, môi trường của vùng Đề tài cũng làm sáng tỏ khả năng phát triển du lịch của vùng đệm Khu BTTN Tiền Hải khi có những thế mạnh về các dạng tài nguyên du lịch cũng như về các vấn đề văn hoá, nhân văn của vùng
- Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của đề tài là một sản phẩm có giá trị thực tiễn cao, có thể được chính quyền địa phương cũng như cộng đồng dân cư 3 xã vùng đệm Khu BTTN Tiền Hải áp dụng để triển khai phát triển du lịch tại địa phương mình một cách bền vững, có hiệu quả
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của khoá luận được trình bày trong 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Điều kiện tự nhiên, hiện trạng, phát triển kinh tế – xã hội và Môi trường tại vùng đệm Khu BTTN Tiền Hải – Thái Bình
Chương 3: Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái cộng đồng và thực trạng môi trường tại vùng đệm Khu BTTN Tiền Hải - huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Chương 4: Định hướng phát triển du lịch sinh thái cộng đồng tại vùng đệm khu BTTN Tiền Hải – Thái Bình
Trang 10CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Quan điểm nghiên cứu
1.1.1 Quan điểm nghiên cứu
Quan điểm tổng hợp : Vùng ven biển với sự đa dạng về tài nguyên là sản phẩm của
hoạt động tương tác Lục địa - Biển - Khí quyển và hoạt động của con người Các dạng tài nguyên chủ yếu được khai thác để phát triển kinh tế ở vùng ven biển gồm:
+ Tài nguyên đất sử dụng cho định cư, phát triển công - nông - lâm - ngư nghiệp,
mở mang du lịch
+ Tài nguyên nước (nước lục địa và nước biển ven bờ) cơ sở phát triển nghề cá (khai thác và nuôi trồng Thủy sản), phát triển giao thông
+ Tài nguyên sinh vật: Rừng ngập mặn và nguồn lợi thủy sản
+ Các dạng tài nguyên khác phục vụ cho các nhu cầu đa dạng của con người
Do đó, vùng ven biển thường là địa bàn, nơi phát triển nhiều ngành kinh tế và vì vậy kết quả của tình trạng này là thường xuất hiện những xung đột về lợi ích giữa các lĩnh vực kinh tế Việc khai thác sử dụng lãng phí tài nguyên làm suy giảm đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật ảnh hưởng đến chất lượng môi trường [Vũ Trung Tạng, 2005]
Theo quan điểm tổng hợp, bất kỳ sự phát triển phải xem xét đến nhiều yếu tố từ
tự nhiên đến kinh tế - xã hội, đặc biệt là nguồn tài nguyên mà con người đang sinh sống và khai thác của địa phương
Quan điểm hệ thống: Theo quan điểm này, khai thác, sử dụng hợp lý lãnh thổ
các xã ven biển vùng đệm của Khu BTTN Tiền Hải - huyện Tiền Hải phải đặt trong
hệ thống phát triển với các mối quan hệ liên ngành, liên vùng, trên cơ sở định hướng chiến lược phát triển kinh tế xã hội chung của xã, huyện
Quan điểm phát triển bền vững: sử dụng hợp lý lãnh thổ ở các xã vùng đệm của
Khu BTTN Tiền Hải theo quan điểm phát triển bền vững là vừa đáp ứng được các
Trang 11mục tiêu về phát triển kinh tế song hạn chế tác động đến tài nguyên và môi trường, đảm bảo sự phát triển cộng đồng
Phát triển du lịch bền vững là một hướng tiếp cận của phát triển bền vững chung toàn huyện, phát triển bền vững du lịch phải chú ý tới : Bền vững về mặt môi trường theo đó phát triển du lịch cần bảo vệ được đất đai, các giá trị tài nguyên, môi trường hạn chế sự thoái hoá đất Bền vững về mặt kinh tế : theo đó các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản cần bố trí hợp lý, tạo hiệu quả kinh tế cao và cuối cùng
là Bền vững về mặt xã hội : theo đó phát triển du lịch phải tạo thêm được nhiều việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng bảo đảm đời sống Riêng vấn đề thu hút lao động phải được coi trọng vì đây là vấn đề xã hội, là đặc thù ở các xã vùng đệm Khu BTTN Tiền Hải, trong bối cảnh tỷ lệ nghề nông chiếm trên 70%, vấn đề thu hút lao động, góp phần thay đổi cơ cấu việc làm phải được coi là chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá về mức độ phát triển du lịch bền vững
1.1.2 Các bước nghiên cứu
Buớc 1: Công tác chuẩn bị
Bao gồm tổng quan tài liệu, xác định mục tiêu, đối tượng, nội dung, quan điểm
và phương pháp nghiên cứu; chuẩn bị tư liệu bản đồ, công cụ khảo sát, xây dựng vấn đề, vạch ra các tuyến khảo sát, từ đó xây dựng kế hoạch thực hiện
Bước 2: Khảo sát thực địa
Đây là bước thu thập tài liệu, số liệu trên thực địa về điều kiện tự nhiên, kinh tế -
xã hội và kiểm chứng những tài liệu đã thu thập được ở bước trên
Bước 3: Xây dựng các bản đồ chuyên đề
Các bản đồ chuyên đề, thành phần sau khi số hoá sẽ được đưa vào GIS để hiệu chỉnh, cập nhật để sử dụng xây dựng bản đồ định hướng tổ chức không gian du lịch sinh thái cộng đồng tại vùng đệm Khu BTTN Tiền Hải – Thái Bình
Trang 12Các bước tiến hành theo sơ đồ dưới đây
Hình 1 Sơ đồ các bước nghiên cứu
1.2 Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái và du lịch sinh thái cộng đồng trên quan điểm tài nguyên và môi trường
1.2.1 Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái
Các khái niệm về du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái được nhiều người là sự kết hợp của hai từ “Du lịch” và “Sinh Thái”, nhưng thực ra nếu hiểu như vậy thì quá đơn giản về du lịch sinh thái Sau đây là một số khái niệm về du lịch sinh thái được đưa ra và hay được sử dụng Khái niệm du lịch sinh thái được Cebllos-Lascurain đưa ra năm 1987 với nội dung như sau:
KHẢO SÁT THỰC ĐỊA
Điều kiện tự nhiên –
- Dân cư và nguồn lao động
- Thực trạng phát triển các ngành
- Cơ sở hạ tầng phục vụ
DL
XÂY DỰNGNỘI DUNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI CỘNG ĐỒNG TẠI VÙNG ĐỆM KHU BTTN TIỀN HẢI - THÁI BÌNH
CÔNG TÁC CHUẨN BỊ
- Tổng quan tài liệu
- Xác định mục tiêu, đối tượng, nội dung, quan điểm và phương pháp nghiên cứu
Trang 13“DLST là du lịch đến những khu tự nhiên hầu như không bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, thưởng ngoạn, trân trọng khung cảnh và muông thú hoang dã và các biểu thị văn hóa được khám phá trong các khu vực này”
Năm 1991, Wood đưa ra khái niệm về du lịch sinh thái:
“Du lịch sinh thái là du lịch đến các khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và văn hoá mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các hệ sinh thái Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế để ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích về tài chính cho người dân địa phương.”
Năm 1993, Lindberg và Hawkins đã đưa ra một khái niệm về DLST: “DLST là
du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên, là công cụ để bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương”
Năm 1994, Buckley đã tổng quan về du lịch sinh thái như sau :
“Chỉ có du lịch dựa vào thiên nhiên, được quản lý bền vững, hỗ trợ bảo tồn, và
có giáo dục môi trường mới được xem là du lịch sinh thái”
Tiếp sau đó Tổ chức Bảo vệ Thiên nhiên Thế giới (IUCN) đã đưa ra khái niệm của mình:
“DLST là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và các đặc điểm văn hóa đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành, qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra, và tạo ra ích lợi cho những người dân địa phương tham gia tích cực”
“DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa
và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương” (Hiệp hội DLST Hoa Kỳ, 1998)
Năm 1991, Butler và Scace et al đã đưa ra các yêu cầu của du lịch sinh thái
Trang 141 Hoạt động này quảng cáo cho các đạo đức môi trường và phổ biến cho các
thành viên các hànhvi được “ưa thích hơn” một cách tích cực
2 Hoạt động này không gây thiệt hại cho tài nguyên
Nói theo cách khác, hoạt động này không làm tiêu mòn môi trường tự nhiên
3 Hoạt động này trọng tâm vào giá trị bản chất hơn là giá trị bên ngoài Các
phương tiện và dịch vụ có thể tạo điều kiện gặp gỡ với các tài nguyên có giá trị bản chất, nhưng không bao giờ trở thành một thu hút từ chính bản thân tài nguyên này
vì không gây hại cho tài nguyên
4 Hoạt động này xoay xung quanh môi trường chứ không phải con người Các
nhà DLST chấp nhận môi trường trong trạng thái tự nhiên của nó, không nghĩ đến một sự thay đổi hay sửa đổi để thuận tiện hơn cho họ
5 Hoạt động này phải có lợi cho động vật hoang dã và môi trường Vấn đề môi
trường có được lợi hay không có thể được xác định trên phương diện xã hội, kinh
tế, quản lý, khoa học và chính trị Ít nhất môi trường phải nhận được lợi để đóng góp vào sự bền vững và toàn vẹn sinh thái
6 Hoạt động này cung cấp các tiếp cận trực tiếp với môi trường thiên nhiên (và
với các yếu tố văn hoá đi kèm trong các khu vực nguyên sơ) Khu đón khách và các
dịch vụ chiếu bóng giải nghĩa tại chỗ có thể được coi như một phần của DLST chỉ khi các dịch vụ này phục vụ du khách trong việc tiếp cận trực tiếp với môi trường thiên nhiên
7 Hoạt động có liên quan đến các cộng đồng địa phương một cách tích cực, để
cộng đồng có thể được chia sẻ quyền lợi, từ đó đóng góp vào sự nâng cao nhận thức
về giá trị của tài nguyên thiên nhiên tại địa phương đó
8 Điều đạt được từ hoạt động này là sự giáo dục và sự hiểu biết hơn là các cảm
giác kỳ thú hay các hưởng thụ cơ học khác như thường thấy ở du lịch mạo hiểm
9 Hoạt động này yêu cầu nhiều chuẩn bị và kiến thức sâu rộng của các hướng
dẫn viên và du khách Sự thoả mãn được kết tụ từ kinh nghiệm du lịch được cảm
thấy và biểu lộ cảm xúc mạnh mẽ và gây cảm hứng
Trang 15Một số Quốc gia cũng đưa ra khái niệm của mình về du lịch sinh thái như:
Định nghĩa của Nêpal:
“Du lịch sinh thái là loại hình du lịch đề cao sự tham gia của nhân dân vào việc
hoạch định và quản lý các tài nguyên du lịch để tăng cường phát triển cộng đồng, liên kết giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển du lịch, đồng thời sử dụng thu nhập
từ du lịch để bảo vệ các nguồn lực mà ngành du lịch phụ thuộc vào”
Định nghĩa của Malaysia:
“Du lịch sinh thái là hoạt động du lịch và thăm viếng một cách có trách nhiệm
về mặt môi trường tới những khu thiên nhiên còn nguyên vẹn, nhằm tận hưởng và trân trọng các giá trị của thiên nhiên (và những đặc tính văn hoá kèm theo, trước đây cũng như hiện nay), mà hoạt động này sẽ thúc đẩy công tác bảo tồn, có ảnh hưởng của du khách không lớn, và tạo điều kiện cho dân chúng địa phương được tham dự một cách tích cực có lợi về xã hội và kinh tế ”
Định nghĩa của Australia:
“Du lịch sinh thái là du lịch dựa vào thiên nhiên có liên quan đến sự giáo dục
và diễn giải về môi trường thiên nhiên và được quản lý bền vững về mặt sinh thái”
Theo Tổ chức du lịch sinh thái quốc tế cũng đưa ra quan điểm về du lịch sinh thái như sau:
“Du lịch sinh thái là chuyến du hành có trách nhiệm, đến những khu vực tự nhiên, gìn giữ bảo vệ môi trường và góp phần cải thiện phúc lợi xã hội cho người dân địa phương”
Năm 2000, Lê Huy Bá cũng đưa ra khái niệm về du lịch sinh thái:
“DLST là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triền môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững”
Trang 16Đặc điểm cơ bản nhất của khái niệm về DLST cũng đã được Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) tóm tắt lại như sau :
+ DLST bao gồm tất cả những hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên mà ở đó mục đích chính của khách du lịch là tham quan tìm hiểu về tự nhiên cũng như những giá trị văn hoá truyền thống ở các vùng thiên nhiên đó
+ DLST phải bao gồm những hoạt động giáo dục và diễn giải về môi trường
+ Thông thường DLST được các tổ chức chuyên nghiệp và doanh nghiệp có quy
mô nhỏ ở nước sở tại tổ chức cho các nhóm nhỏ du khách Các công ty lữ hành nước ngoài có quy mô khác nhau cũng có thể tổ chức, điều hành và/hoặc quảng cáo các tour DLST cho các nhóm du khách có số lượng hạn chế
+ DLST hạn chế đến mức thấp nhất các tác động đến môi trường tự nhiên và văn hoá-xã hội
+ DLST có sự hỗ trợ cho hoạt động bảo tồn tự nhiên bằng cách :
Tạo ra những lợi ích về kinh tế cho địa phương, các tổ chức và chủ thể quản lý với mục đích bảo tồn các khu tự nhiên đó
Tạo ra các cơ hội về việc làm và tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương Tăng cường nhận thức của cả du khách và người dân địa phương về sự cần thiết phải bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hoá
Như vậy có thể thấy được du lịch sinh thái được hiểu dưới nhiều khía cạnh khác nhau, rất nhiều các ý kiến tranh luận khác nhau nhằm tìm ra một định nghĩa chung nhất cho du lịch sinh thái Tuy nhiên các ý kiến đều cho rằng du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm, là du lịch dựa vào thiên nhiên, không tạo ra các tác động gây hại cho thiên nhiên, không gây xáo trộn các nét đặc sắc của văn hoá bản địa, có sự quan tâm đến môi trường và đặc biệt là phải có trách nhiệm về các giá trị thiên nhiên, văn hoá và lợi ích tài chính với cộng đồng dân cư tại nơi du lịch
Ở Việt Nam, DLST là lĩnh vực mới được đặt ra nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90 song đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu về du lịch và môi
Trang 17trường Tuy nhiên cũng chưa đưa ra được quan điểm chung nhất về Du lịch sinh thái do có những góc độ nhìn nhận khác nhau
Để có được sự thống nhất về khái niệm cơ sở cho công tác nghiên cứu và hoạt động thực tiễn phát triển DLST, Tổng cục Du lịch Việt Nam đã phối hợp với nhiều
Tổ chức quốc tế như ESCAP, WWF, IUCN có sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học quốc tế và Việt Nam về DLST và các lĩnh vực liên quan, tổ chức
Hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển Du lịch sinh thái ở Việt Nam” từ ngày 7 đến 9/9/1999 Một trong những kết quả quan trọng của Hội thảo
là lần đầu tiên đã đưa ra định nghĩa về DLST ở Việt Nam, theo đó:
“Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”
Đây được coi là sự mở đầu thuận lợi cho các bước tiếp theo trong quá trình phát triển của DLST ở Việt Nam
Hình 2: Sơ đồ cấu trúc du lịch sinh thái (theo Phạm Trung Lương)
- Giá trị kinh tế của du lịch sinh thái
DU LỊCH HỖ TRỢ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
§Þnh nghÜa
Du lÞch sinh th¸i
DU LÞCH
du lÞch
thiªn nhiªn
du lÞch ®-îc qu¶n lý bÒn v÷ng
du lÞch cã
gi¸o dôc
m«i tr-êng
Trang 18Chưa có mấy nghiên cứu ước lượng giá trị kinh tế của du lịch cũng như du lịch sinh thái trong các khu BTTN, chưa kể đến giá trị tổng thể của tất cả các khu BTTN trên thế giới Điều này một phần là do các dữ liệu về DLST không được các thành phần tư nhân, nhà nước hay UNWTO thu thập một cách hệ thống Nguyên do thực
tế DLST là một khái niệm khá mới mẻ Hơn nữa, chưa có một định nghĩa về DLST nào được chấp nhận và có thể ước lượng Để khắc phục được khó khăn này, Fillion,
et al (1992) đã trang bị một quy trình gồm 3 bước cho phép thiết lập các con số ước lượng có thể được sử dụng cho cá dữ liệu có sẵn về du lịch
+ Kiểm tra lại các nghiên cứu cấp vùng về du lịch có liên quan đến thiên nhiên
+ Thiết lập các con số ước lượng về DLST
+ Áp dụng các con số ước lượng vào dữ liệu của UN WTO về du lịch toàn cầu Kết quả cho thấy DLST đóng góp vào khoảng 93 – 233 tỷ USD cho thu nhập quốc gia của các nước có DLST năm 1988 Du lịch liên quan đến chim có thể thu hút khoảng 78 triệu khách du lịch với lợi nhuận là 78 tỷ USD cho nền kinh tế của các nước được tới thăm (Fillion, et al 1992)
Ngắm chim, là một trong những hoạt động giải trí phát triển với tốc độ nhanh nhất ở Bắc Mỹ, với khoảng từ 20 – 30 triệu người tham gia mỗi năm (jacquemot và Fillion, 1987)
Hoạt động ngắm chim là một khoản chi tiêu kinh tế lớn, ước lượng một cách khiêm tốn, hơn 20 tỷ USD cho Bắc Mỹ mỗi năm (US fish and Wild Life Service, 1982) Ngoài ra nhiều người ngắm chim ở Bắc Mỹ giờ đây dang tổ chức những chuyến đi tới các vùng xa xôi Tại costa Rica, giá trị du lịch từ tổ chức tham quan cho những người đến ngắm loài chim Pharomachrus mocinno đã khuyến khích địa phương bảp vệ những cánh rừng đang bị mất đi của Monteverde Vậy mà đóng góp vào phát triển kinh tế của hoạt động ngắm chim thường bị đánh giá thấp
Tuy nhiên, lợi ích tài chính thu được từ dịch vụ du lịch chỉ có giá trị cho các tài nguyên mà du lịch dựa vào nếu các lợi ích này được sử dụng – ít nhất một phần để duy trì các tài nguyên này Tại Mỹ, lợi nhuận sản sinh từ du lịch tham quan các
Trang 19VQG lên tới 3 tỷ USD mỗi năm Cho đến nay, các lợi nhuận này chủ yếu rơi vào tay các chủ khách sạn, chủ nhà hàng, những người bán xăng dầu, dụng cụ câu cá và
áo phông Những lợi nhuận này có thể có lợi cho VQG nếu như những người nhận được các nguồn thu này thành lập một nhóm có nhiệm vụ tăng cường bảo vệ VQG
Dữ liệu của UNWTO cũng cho thấy một sự di chuyển về địa điểm du lịch đã xảy ra và có thiên hướng nghiêng về các nước đang phát triển Cụ thể hơn là các nước có các hệ động, thực vật và hệ sinh thái phong phú, do đó có tiềm năng lớn nhất về du lịch sinh thái, đang được các du khách ưa thích Xu hướng này sẽ tiếp tục với các khu vực có nền chính trị ổn định sẽ được lợi nhiều nhất
- Du lịch và khu bảo tồn thiên nhiên: mối quan hệ cộng sinh
Ngày càng nhiều du khách tới tham quan các khu BTTN, trớ trêu thay càng nhiều người tìm cơ hội đến với những nơi chưa bị khai phá, các sức ép lên những nơi này càng tăng lên Do đó, cơ hội và nhu cầu đang tồn tại để thiết lập một quan
hệ cộng sinh giữa quản lý khu BTTN và du lịch
Budowski (1976) đã mô tả ba loại quan hệ có thể tồn tại giữa bên điều hành du lịch và bên chịu trách nhiệm bảo tồn thiên nhiên
Du lịch và bảo tồn thiên nhiên đi đến mâu thuẫn, đặc biệt nếu du lịch làm thoái hoá thiên nhiên và các tài nguyên Các nhà bảo tồn có xu hướng chống đối du lịch bằng cách cấm đoán và giới hạn
Sự cùng tồn tại là có thể, nếu cả du lịch và bảo tồn đều không phát triển lắm trên một khu vực thích hợp, hoặc do bên nọ không quan tâm tới lĩnh vực của bên kia Tuy nhiên, sự cùng tồn tại này rất hiếm khi được lâu dài, đặc biệt nếu du lịch này có thể được phát triển và kéo theo các thay đổi hệ trọng Giai đoạn này có thể được nối tiếp bởi một quan hệ có sự thoả mãn chung thậm chí hỗ trợ (cộng sinh) hoặc bởi một quan hệ mâu thuẫn
Quan hệ cộng sinh có thể diễn ra nếu du lịch và bảo tồn được tổ chức trên cơ sở hai bên cùng có lợi Từ cách nhìn của các nhà bảo tồn, điều này có nghĩa là các vốn quí tự nhiên được bảo tồn tới mức tối đa ở trạng thái ban đầu, hoặc tiến hoá tới một
Trang 20trạng thái hoàn hảo hơn, trong khi nhiều người hơn sẽ được hưởng nhiều hơn quyền lợi từ thiên nhiên và tài nguyên, các quyền lợi này cũng có thể là về cơ học, mỹ thuật, giải trí, khoa học hay giáo dục Đây cũng là các lợi ích về kinh tế Sự hỗ trợ lẫn nhau này là có thể và phải tăng cường nhận thức rằng thiên nhiên có thể là một công cụ có lợi giúp cho việc nâng cao chất lượng đời sống
Thật không may, quan hệ của du lịch và bảo tồn thường đi từ cùng tồn tại tói mâu thuẫn Điều này có một vài lý do: quản lý không tốt, thiếu hiểu biết, ở cả hai bên về mục đích và mục tiêu của nhau, sự bùng nổ của du lịch cũng như sự suy thoái và mất đi các khu thiên nhiên Sự mở rộng qui mô của du lịch mà không có quy hoạch cẩn thận
Nhưng tình trạng không nhất thiết phải như vậy, một sự chuyển đổi về tư tưởng của cả hai bên có thể dẫn đến một số lợi ích cho quốc gia Một mối quan hệ cộng sinh hai bên cùng có lợi giữa những người làm công tác du lịch và những người chịu trách nhiệm cho bảo tồn môi trường là có thể đạt được
1.2.2 Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái cộng đồng trên quan điểm tài
nguyên và môi trường
- Khái niệm về du lịch sinh thái cộng đồng
Năm 1940, lần đầu tiên khái niệm phát triển cộng đồng được bàn đến ở các nước thuộc địa của Anh Năm 1950, tổ chức Liên Hợp Quốc chính thức công nhận khái niệm cộng đồng và khuyến khích các quốc gia sử dụng khái niệm này như một định hướng để phát triển Cơ sở của phát triển cộng đồng dựa trên 3 nguyên lý chính: thứ nhất về tính tương đối của phát triển cộng đồng, thứ hai về tính đa dạng của phát triển cộng đồng và thứ ba về tính bền vững của phát triển cộng đồng Có ba thể chế chủ yếu tham gia vào sự phát triển của cộng đồng đó là sự tự quản cộng đồng, sự quản lý của Nhà nước và sự can thiệp của thị trường
Triết lý tham dự là một trong những quan điểm quan trọng của phát triển cộng đồng Triết lý này thể hiện rõ rằng để cho cộng đồng phát triển tốt đẹp, bền vững thì phải có sự phối hợp của tất cả các lực lượng xã hội, của các tổ chức và thiết chế xã
Trang 21hội, mà tạm hình dung là có 4 lực lượng chủ chốt tham dự vào phát triển cộng đồng là: bản thân cộng đồng, Nhà nước, thị trường và các nhân tố xã hội khác
Du lịch sinh thái cộng đồng được hiểu là loại hình du lịch sinh thái có sự tham gia tích cực của cộng đồng, trong đó cộng đồng địa phương là chủ sở hữu, dựa trên
sự định hướng của chính quyền địa phương Trong cộng đồng đó tất cả các loại hình
du lịch, sản phẩm du lịch đều chịu sự chi phối và kế hoạch hoá của cộng đồng địa phương Từ đó du lịch có thể dựa vào cộng đồng để có thể phát huy được hết khả năng của mình và mang lại nguồn lợi cũng như sự phát triển bền vững cho cộng đồng địa phương
Thực tế hoạt động du lịch nói chung, DLST nói riêng có thể thấy vai trò của cộng đồng trong việc trực tiếp tham gia và quản lý vào hoạt động phát triển du lịch
và DLST ở các VQG, khu BTTN, bao gồm:
+ Tham gia vào quá trình quy hoạch phát triển du lịch: Đây là yếu tố rất quan trọng đảm bảo cho quy hoạch du lịch đi vào cuộc sống với sự ủng hộ, giám sát của cộng đồng địa phương
+ Cộng đồng có thể tham gia hoạt động lữ hành với tư cách là hướng dẫn viên/thuyết minh viên địa phương ở các VQG, khu BTTN, sự hiểu biết và kinh nghiệm của cộng đồng sẽ giúp du khách hiểu rõ hơn về các giá trị cảnh quan, ĐDSH ở khu vực
+ Tham gia ủng hộ việc bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch khi cộng đồng
có được hưởng lợi ích từ hoạt động du lịch Việc bảo vệ tài nguyên ĐDSH và môi trường du lịch sẽ không thể có hiệu quả nếu thiếu sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương
+ Cung cấp các dịch vụ đến du khách: cộng đồng có khả năng tự tổ chức cung cấp các dịch vụ đáp ứng nhu cầu khách du lịch như lưu trú tại nhà, vận chuyển khách, dịch vụ ăn uống, bán hàng thủ công mỹ nghệ Tuy nhiên, để có thể thực hiện được các dịch vụ này, cộng đồng cần được huấn luyện với những hiểu biết tối thiểu về giao tiếp, về các quy định nghiệp vụ…
Trang 22+ Cung cấp các sản phẩm du lịch văn hóa mang bản sắc truyền thống: biểu diễn nghệ thuật dân gian truyền thống; Các tác phẩm văn học, nghệ thuật, truyện kể, văn học dân gian hoạt động trình diễn sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống hoặc đơn giản là các sinh hoạt trong cuộc sống thường ngày mà ở đó cộng đồng là chủ thể, là những nghệ nhân
Một số vấn đề quan trọng cần thiết cho phát triển DLST cộng đồng bao gồm :
+ Việc quản lý và kiểm soát hoạt động phát triển DLST ở các vùng tự nhiên chủ yếu phải do cộng đồng địa phương đảm trách
+ Cần có được nhận thức một cách đầy đủ và đúng đắn về sự cần thiết bảo vệ các vùng tự nhiên nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và đa dạng văn hoá
+ Cần có được những dự báo và biện pháp kiểm soát bổ sung khi tổ chức phát triển hoạt động DLST ở những khu vực có tính nhạy cảm đặc biệt về môi trường + Cần đảm bảo các quyền lợi truyền thống của cộng đồng và quyền lợi của địa phương ở những khu vực thuận lợi cho phát triển DLST
- Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái cộng đồng trên quan điểm tài nguyên và môi trường
Bảo vệ tài nguyên, môi trường cộng đồng được hiểu đồng nhất với thuật ngữ bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường có sự tham gia của cộng đồng nhưng ở mức cao hơn Cộng đồng không chỉ tham gia mà là tham dự, không chỉ bàn bạc mà
cả đi đến thống nhất và thực hiện, không chỉ là hội họp mà còn cả triển khai, thực thi Nội dung bảo vệ tài nguyên, môi trường ở cộng đồng bao gồm:
+ Cộng đồng xác lập các vấn đề ưu tiên cho phát triển cộng đồng
+ Cộng đồng tìm ra cách để giải quyết các vấn đề ưu tiên, lập dự án, chương trình và kế hoạch thực hiện
+ Cộng đồng tìm kiếm sự liên kết, hỗ trợ cho mình để thực hiện dự án, chương trình đã lập ra
+ Tổ chức thực hiện
+ Đánh giá từng công đoạn, hiệu chỉnh trong quá trình thực hiện nếu thấy cần thiết
Trang 23+ Kết thúc đánh giá tổng thể
+ Xác lập ưu tiên mới
Đây là quy trình khép kín, lặp đi lặp lại nhưng ở trình độ lần sau cao hơn lần trước Điểm mấu chốt của phương pháp bảo vệ môi trường ở cộng đồng là xuất phát
từ cộng đồng, vì cộng đồng và động lực của nó là tiềm lực to lớn của cộng đồng Quá trình phát triển của địa phương gắn liền với việc bảo vệ tài nguyên, môi trường cộng đồng đã được đặt ra và được cộng đồng tham gia thì sự ô nhiễm có thể được khống chế, ngăn chặn
Cộng đồng có sức sáng tạo rất dồi dào, chỉ cần làm cho họ hiểu, nhận ra những điều cần phải làm vì chính họ Mọi bất đồng, mọi khó khăn trong công cuộc vận động cộng đồng đều có thể được giải quyết, thông qua quá trình kiên trì bàn bạc, trao đổi, thuyết phục
+ Kinh nghiệm của một số nước và Việt Nam trong việc bảo vệ tài nguyên, môi trường có sự tham gia của cộng đồng
1986, khu Annapurna ngày nay đã trở thành một vùng đa dạng, có giá trị sinh thái cao Sự hợp tác của Chính phủ với các nhóm cộng đồng địa phương đã góp phần to lớn vào thành công của dự án
Trang 24Ấn Độ
Những bất đồng giữa các cơ quan của Chính phủ và của chính quyền địa phương
đã dẫn đến tình trạng môi trường ngày càng xuống cấp nghiêm trọng Việc nâng cao hiệu quả quản lý môi trường đòi hỏi có sự cam kết từ cả hai phía chính quyền địa phương và nhân dân Một trong những biện pháp chủ yếu là trao cho nhân dân quyền kiểm soát những đối tượng gây ô nhiễm môi trường, dù là thuộc nhà nước hay tư nhân Các cơ quan có trách nhiệm kiểm tra ô nhiễm có kế hoạch phân phát cho các cộng đồng địa phương và các tổ chức phi chính phủ các bản tóm tắt về báo cáo đánh giá tác động môi trường với ngôn ngữ dễ hiểu, mạch lạc, thông báo về các kết quả giám sát môi trường Khi đó, các nhóm cộng đồng có thể kiểm tra lại nồng
độ các chất thải so với các tiêu chuẩn được quy định và kiện ra toà nếu thực tế sai khác với báo cáo đánh giá tác động môi trường
Vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ các khu bảo tồn thiên nhiên ở Cẩm Mỹ, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh
Từ lâu đời, các dân tộc miền núi có quan niệm rằng “ Rừng là tài nguyên vô tận, không có chủ, ai khai thác được đến đâu thì khai thác” Từ quan điểm này đã dẫn đến vô số những hành động xâm phạm, khai thác bừa bãi tài nguyên rừng như: khai thác gỗ quý, săn bắn động vật quý hiếm… Hậu quả của quá trình khai thác này để lại những bằng chứng cho đến ngày nay như hệ sinh thái “rừng kín thường xanh” chỉ còn lại là rừng nghèo, rừng non mới phục hồi, tán che phủ bị phá vỡ, dây leo phát triển mạnh
Để tăng cường bảo vệ khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ, chính quyền địa phương
đã triển khai một số biện pháp phù hợp với sự tham gia tích cực của cộng đồng nhân dân xung quanh cụ thể như:
+ Thay đổi cơ cấu sản xuất và quan niệm sống của cộng đồng Quá trình chuyển đổi phương thức sản xuất rõ nét nhất là: Cộng đồng địa phương ở đây đã chuyển từ khai thác lâm sản đơn thuần (khai thác tự do dựa vào tài nguyên rừng) sang sản xuất lâm nghiệp (trồng, khoanh nuôi, khai thác, bảo vệ) Quá trình chuyển đổi này làm
Trang 25thay đổi hoàn toàn quan niệm cũ của cộng đồng, vì họ đã hiểu thế nào là khai thác lâm sản đơn thuần và thế nào là sản xuất lâm nghiệp
Ngành sản xuất lâm nghiệp thực sự phát triển, đặc biệt khi có sự hỗ trợ của các
dự án như dự án 4304, 327, dự án trồng rừng Việt - Đức, chương trình 5 triệu ha rừng… và chính sách giao đất giao rừng của nhà nước Hiện nay nhiều hộ gia đình
đã nhận đất để trồng rừng hay nhận rừng để chăm sóc và bảo vệ Một số hộ gia đình
đã mạnh dạn nhận tới vài chục hecta đất rừng để đầu tư, chăm sóc, bảo vệ để sau đó chính họ sẽ được hưởng quyền lợi khai thác sản phẩm do chính mình tạo nên Quá trình sản xuất này hiện nay mang đến cho mỗi một người lao động trong cộng đồng trung bình khoảng 8 - 9 triệu đồng/năm
+ Tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong công tác bảo vệ khu bảo tồn thiên nhiên Sự tham gia của UBND xã trong công tác bảo vệ khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ được thể hiện rõ nhất là việc phối hợp với các đơn vị kiểm lâm, công
an, toà án, bắt giữ các vụ buôn bán lậu động vật quý hiếm, thu hồi và ngăn chặn các
vụ chặt cây, phá rừng lén lút Ngoài ra, UBND xã còn có trách nhiệm tuyên truyền, giải thích cho cộng đồng người dân địa phương hiểu thêm về môi trường, xói mòn, tính chất quan trọng của việc gìn giữ, bảo tồn các động thực vật quý hiếm Xã Cẩm
Mỹ còn có đội tuần tra bảo vệ rừng của nhân dân địa phương, đội này kết hợp với hạt kiểm lâm đóng tại xã nhằm ngăn chặn các hoạt động khai thác rừng bất hợp pháp, các vụ buôn lậu gỗ… Đội cũng đã nhận bảo vệ toàn bộ diện tích rừng còn lại trong xã và những khu rừng nằm ở ranh giới với khu bảo tồn Người dân ở đây đã thành lập một đội phòng cháy rừng với sự hỗ trợ của lâm trường Cẩm Xuyên và đội này hoạt động rất có hiệu quả
+ Thu hút dự án của Chính phủ và các tổ chức phi Chính phủ Hiện nay trong vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ đã và đang thực thi một số dự án phát triển kinh tế - xã hội cho cộng đồng địa phương như: Dự án xây dựng mô hình nông – lâm kết hợp, dự án sử dụng và phát triển bền vững lâm sản phi gỗ, chương trình vay vốn ưu đãi (xoá đói giảm nghèo, ODA, ngân hàng người nghèo, 327, 4303…), chương trình khuyến lâm của huyện Cẩm Xuyên… Các dự án này đang tiến hành
Trang 26đầu tư cung cấp một phần vốn ban đầu, giống cây trồng và chuyển giao kỹ thuật cho cộng đồng người dân địa phương
Một số kết quả đạt được của mô hình quản lý, bảo vệ tài nguyên, môi trường cộng đồng khu bảo tồn thiên nhiên Hồ Kẻ Gỗ như sau:
+ Hạn chế được sự khai thác gỗ quý hiếm tự do và lén lút trong cộng đồng nhân dân + Khuyến khích được cộng đồng nhân dân địa phương tham gia vào các công tác chăm sóc, bảo vệ Khu bảo tồn sinh thái
+ Nâng cao được sự hiểu biết của cộng đồng địa phương đối với giá trị của khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ
+ Đảm bảo được sự ổn định về an ninh đối với khu bảo tồn, đồng thời đảm bảo được sự ổn định xã hội trong cộng đồng nhân dân địa phương đang sinh sống trong khu vực vùng đệm
+ Khuyến khích được cộng đồng nhân dân tham gia trồng mới lại các vạt rừng
đã bị khai thác trước đây
1.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân Participatory Rural Appraisal)
(PRA-Đây là một phương pháp không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu một lãnh thổ cụ thể, phương pháp này cho ra kết quả khả quan về sự tham gia, sự góp ý của cộng đồng dân địa phương Phương pháp này được sử dụng nhằm trách được sự thụ động, chủ quan duy ý trí, đem đến một sự phân tích khách quan dựa trên cơ sở có sự tham khảo của cộng đồng dân cư địa phương
- Phương pháp khảo sát thực địa
Phương pháp này được áp dụng để nắm bắt được cụ thể tình hình vũng nghiên cứu, trong quá trình khảo sát ngoài thực địa sẽ mang lại cách đánh giá trực quan, đầy đủ cũng như hệ thống cơ sở dữ liệu, tài liệu thu thập được ở trên địa bàn nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tổng hợp và phân tích hệ thống
Trang 27Đây là phương pháp cơ bản được sử dụng phổ biến trong hầu hết các nghiên cứu khoa học áp dụng phương pháp này sau khi đã tập hợp các tư liệu, tài liệu, số liệu, nhằm phục vụ các mục tiêu mà đề tài đã đặt ra, vì vậy phương pháp này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nghiên cứu của đề tài này
- Phương pháp sơ đồ, bản đồ
Đây là phương pháp cần thiết trong quá trình nghiên cứu có liên quan đến tổ chức lãnh thổ Bản đồ được sử dụng chủ yếu theo hướng chuyên ngành để phân tích đánh giá tiềm năng và điều kiện có liên quan Ngoài mục đích minh hoạ về vị trí địa
lý, phương pháp này còn giúp cho các nhận định, đánh giá trong quá trình nghiên cứu được thể hiện một cách tổng quát
- Phương pháp chuyên gia
Ngoài các phương pháp trên thì phương pháp chuyên gia cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình nghiên cứu đề tài Do hướng nghiên cứu đa ngành:
du lịch, văn hoá, đa dạng sinh học, lãnh thổ, là một tổng hợp thể phức tạp đòi hỏi phải có phương pháp này để giải quyết những khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiện đề tài
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Đây là một phương pháp không thể thiếu được trong các nghiên cứu triển khai, phương pháp này giúp cho quá trình nghiên cứu được trực quan, khả dĩ Nắm bắt thực trạng vấn đề một cách cụ thể, toàn diện đồng thời đây là tập hợp cơ sở dữ liệu
có tính cộng đồng và có mức độ tin cậy cao
- Phương pháp phân tích mạng lưới
Đây là một phương pháp nghiên cứu mới mẻ do trường đại học Montreal - Canada đưa ra Phương pháp này giúp cho phép nghiên cứu đối tượng trong hệ thống các mạng lưới liên kết do vậy dễ dàng cho phép thấy được vị trí của đối tượng, các mối liên kết của đối tượng
Trang 28CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI TẠI VÙNG ĐỆM KHU BTTN TIỀN HẢI – THÁI BÌNH
2.1 Vị trí địa lý
Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Tiền Hải nằm ở phía Nam của huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình có diện tích là 12.000 ha Ranh giới phía Bắc của KBTTN Tiền Hải là sông Lân, ranh giới phía Nam là cửa Ba Lạt, nơi sông Hồng đổ ra biển, ranh giới phía Đông là Vịnh Bắc Bộ và ranh giới phía Tây là dải đê biển chính
Trong Khu bảo tồn có 2 cồn cát lớn và 1 cồn cát nhỏ: Cồn Vành có diện tích 2.000 ha và Cồn Thủ có diện tích 150 ha, Cồn Tiền nằm chắn ở cửa sông Hồng có diện tích 50 ha Cồn Thủ cách đất liền khoảng 4 km và xen giữa là các bãi cát ngập triều Cồn Vành nằm tách biệt với đất liền qua một eo biển có mức nước sâu, hai bên bờ là rừng ngập mặn, và sát bờ là các đầm nuôi trồng thuỷ sản
Nam Thịnh, Nam Hưng và Nam phú là ba xã vùng đệm ven biển của KBTTN Tiền Hải, nằm ở phía Đông Nam của huyện Tiền Hải và ở phía Tây của KBTTN, cách thị trấn Tiền Hải khoảng 5,5 km, và cách thành phố Thái Bình 25,5 km về phía Đông
Phía Bắc của 3 xã có ranh giới là cửa sông Lân và xã Đông Minh, Nam Cường,
về phía Tây giáp với các xã Nam Thắng, Nam Thanh, phía Nam giáp với xã Nam Hồng và sông Hồng về phía Đông là KBTTN Tiền Hải
2.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
2.2.1 Đặc điểm địa chất
Nền móng cứng của khu vực nằm sâu dưới 4 - 6000m, được phủ bởi các lớp trầm tích bên trên Phía trên cùng là trầm tích phù sa hiện đại đang hình thành lớp phủ thổ nhưỡng dày 1 - 2m, màu đỏ mịn, luôn luôn bị biến đổi do được bồi đắp Tuy quá trình đó bị chậm lại do hệ thống đê, làm tăng độ cao của lòng sông, nhưng lại thúc đẩy quá trình tiến ra biển nhanh hơn Những vùng trũng ở độ sâu 1 - 2 m hay gặp xác thực vật Cấu trúc địa chất có thể chia làm 3 nhóm:
Trang 29- Nhóm trầm tích aluvi
Phần dưới (từ 70 - 54m) có thành phần là sỏi - sạn - cát có độ chọn lọc kém đến trung bình, thuộc tướng lòng sông, ở phần trên có xen vài lớp giàu vật chất hữu cơ; phần trên chủ yếu là sét - bột màu loang lổ đỏ với nhiều rễ cây nhỏ đã bị biến đổi, đôi chỗ xen lớp cát mịn dày vài mm, thuộc tướng bãi bồi Có thể xem đây là trầm tích sông được thành tạo vào cuối pleistocen, khi mà mực nước biển còn thấp hơn
so với hiện nay Từ kết quả này cho thấy, vào thời kỳ sát trước Holocen, tại khu vực này tồn tại môi trường tích tụ trầm tích aluvi
- Nhóm trầm tích vũng vịnh và cửa sông
Đây là loại trầm tích khá phổ biến trong khu vực nghiên cứu, có bề dày thay đổi trong phạm vi khá lớn theo hướng tăng dần về phía bờ biển Nhóm trầm tích này thành phần chủ yếu là sét màu xám xanh nhạt xen nhiều vật liệu hữu cơ, như các mảnh vụn vỏ sinh vật, các loài đặc trưng cho môi trường nước lợ Tuổi tuyệt đối được xác định trong khoảng từ 7000 - 11.000 năm, được xếp vào Holocen sớm (Q21)
- Nhóm trầm tích delta
Nhóm trầm tích này có bề dày gần như nhau và có xu hướng giảm dần ra phía biển Thành phần cơ học khá đa dạng, từ sét, bột - sét màu nâu đỏ cho đến cát, sỏi; trong thành phần có lẫn nhiều mảnh vụn vỏ sò, ốc nước mặn, lợ Về nguồn gốc trầm tích thì nhóm trầm tích này có cả vai trò của sông, trủy triều và sóng, nên gộp chung
là trầm tích delta Tuổi được xác định khoảng sau 7500 năm đến nay Phần trên cùng của trầm tích delta được biển hiện khá rõ trên bề mặt địa hình delta hiện nay
2.2.2 Đặc điểm khí hậu
Nằm trong miền khí hậu phía Bắc, Thái Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh Điều kiện khí hậu ở đây chịu sự chi phối của chế độ bức xạ mặt trời nội chí tuyến, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hoàn lưu gió mùa Đông Bắc và vùng biển nhiệt đới nằm kề bên
- Số giờ nắng
Trang 30Trung bình hàng năm ở Tiền Hải có khoảng 1653 giờ nắng, thời kỳ từ tháng V đến tháng XII có khá nhiều nắng, đạt trên 100 giờ nắng/tháng Tháng VII có nhiều nắng nhất, có tới 215, 9 giờ, có nghĩa là mỗi ngày có khoảng gần 7 giờ nắng Các tháng nhiều nắng khác như tháng V, VI, IX mỗi ngày có tới 6,1 - 6,3 giờ nắng Các tháng ít nắng nhất là tháng II, III, 39,4 - 42, 8 giờ/tháng, đây là thời kỳ có kiểu thời tiết mưa phùn ẩm ướt, trời đầy mây, mỗi ngày chỉ có khoảng 1,4 giờ nắng
- Chế độ gió
Mùa hè các tháng từ tháng IV đến tháng VII là thời kỳ thống trị của hướng gió Đông Nam và gió Nam thổi từ biển vào đất liền đem lại thời tiết nóng ẩm, tần suất tổng cộng của hai hướng này lên đến 50 – 60%, trong đó gió Nam chiếm ưu thế Vào mùa đông gió mùa Đông Bắc kéo dài từ tháng X đến tháng I, trong đó các hướng Đông Bắc và Bắc chiếm ưu thế, các tháng đầu mùa gió mùa Đông Bắc thường mang lại thời tiết hanh khô; tốc độ gió ở đây thuộc loại vừa phải, vận tốc gió trung bình năm là 2,1 m/s
- Chế độ mưa ẩm
Cũng như nhiều nơi ở vùng nhiệt đới, ba xã vùng đệm khu BTTN Tiền Hải có chế độ mưa mùa hè Qua phân tích số liệu mưa trung bình nhiều năm ta thấy, tổng lượng mưa năm ở đây dao động không nhiều, lượng mưa trung bình năm đạt 1639,4
mm
Mùa mưa ở khu vực này khá đồng đều, thường bắt đầu vào tháng V và kết thúc vào cuối tháng X Hệ quả là của hoạt động gió mùa và các tác nhân gây mưa dạng nhiễu động bão, hội tụ nhiệt đới 3 tháng có lượng mưa lớn liên tục thường đạt từ
200 – 300 mm và rơi vào thời kỳ cuối mùa mưa: Tháng VIII – X Mùa khô ở đây phải gọi là mùa ít mưa từ tháng VII của năm trước đến tháng III năm sau ( thời kỳ
có tổng lượng mưa tháng dưới 50 mm)
Ba xã này có số ngày mưa không nhiều khoảng 91,3 ngày mưa/năm Đã là mùa mưa thì tháng nào cũng có khoảng từ 7 cho đến 13 ngày mưa/tháng
Trang 31Bảng 1 Lượng mưa tháng và năm (mm) Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm Thái Bình 25,0 26,1 49,0 84,4 163,3 198,3 216,2 297,6 327,7 221,2 64,8 23,7 1697,4 Tiền Hải 19,2 28,7 37,8 68,8 132,5 172,3 189,8 314,9 338,7 264,0 59,0 13,5 1639,4
Nguồn: Xây dựng qui hoạch môi trường phục vụ mục đích quản lý, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế – xã hội bền vững của tỉnh Thái Bình đến năm 2010
Bảng 2 Số ngày mưa trung bình tháng và năm (ngày)
có độ ẩm tương đối trung bình tháng thấp nhất trong năm là tháng VII ( thời điểm
có nhiều gió khô nóng) và các tháng XI, XII trùng với thời kỳ khô hanh, lạnh ở Bắc
Bộ
- Các hiện tượng thời tiết đặc biệt
Là các xã trong huyện thuộc tỉnh ven biển nên Tiền Hải thường có các hiện tượng như bão và áp thấp nhiệt đới
Nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của bão và áp thấp nhiệt đới, theo
số liệu thống kê thời kỳ từ 1960 – 1997, ở Tiền Hải có khoảng 88 cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ trực tiếp hoặc tiếp cận vào vùng bờ biển khu vực này Tính trung bình mỗi năm có khoảng 2 lần bão hoặc áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào đây Bão
và áp thấp nhiệt đới xuất hiện vào thời kỳ từ tháng V đến tháng XI hàng năm, thường xuyên hơn là tháng VI đến tháng IX và nhiều nhất là các tháng từ VII – IX
Trang 32Bão là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra những thay đổi về mặt môi trường, đặc biệt là gây biến động địa hình bãi và bờ biển Bão gây ra sự thay đổi về chế độ sóng Các đặc trưng của sóng gió (độ cao, chiều dài, chu kỳ, năng lượng v.v ) lại phụ thuộc rất nhiều vào các tính chất của gió nhất là gió bão Bão thường gây mưa lớn, hầu hết các cơn bão đổ bộ vào đất liền đều gây ra mưa từ 200 – 500
mm Lượng mưa lớn thường dẫn đến nước bị ngọt hoá, giảm pH và tăng độ đục trên diện rộng ảnh hưởng đến chất lượng nước trong các ao nuôi một cách đột ngột, gây
ra hiện tượng sốc đối với cá, tôm nuôi Bên cạnh đó, bão còn làm sạt lở bờ, kênh mương ảnh hưởng đến quá trình sản xuất nuôi trồng thuỷ sản và đặc biệt là ảnh hưởng nghiêm trọng tới quá trình phát triển du lịch ở đây, điều này phải được xem xét và tính tới trong định hướng phát triển ngành du lịch của địa phương
Bảng 3 Số cơn bão đổ bộ hoặc tiếp cận các đoạn bờ biển từ 1960 - 1997
c, độ ẩm tương đối thấp nhất nhỏ hơn hoặc bằng 65% Mức độ thường xuyên là từ tháng V đến tháng VIII, tháng nào cũng có một vài ngày, nhiều nhất là trong hai tháng VI và VII, trong năm mỗi tháng
có khoảng 3 – 4 ngày khô nóng
Ở đây còn có thể gặp các hiện tượng thời tiết đặc biệt khác như dông, lốc, sương
mù, mưa phùn Tuy các hiện tượng này hoạt động với tần suất rất thấp nhưng sự thay đổi tức thời của áp suất khi dông, lốc, sự tăng cao của độ ẩm đó cũng là những yếu tố bất lợi đối với phát triển du lịch tại đây
Trang 332.2.3 Đặc điểm thủy văn, hải văn
Ba xã vùng đệm của Khu BTTN Tiền Hải, thuộc huyện ở ven biển thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, hệ thống sông ngòi ở đây vừa nhiều, vừa chằng chịt với hai hệ thống sông tự nhiên và sông đào
Các sông chảy trên địa phận nghiên cứu đều là đoạn hạ du và là cửa sông của các sông thuộc hệ thống sông Hồng Vì vậy, ngoài tài nguyên nước nội tại (nước mưa rơi trên bề mặt, lượng nước trữ trong mạng lưới sông, suối, ao hồ của khu vực) còn một lượng nước lớn từ thượng nguồn qua vùng đổ ra biển
Mặc dù dòng chảy của sông Hồng phong phú nhưng chế độ dòng chảy sông rất phức tạp, chủ yếu do chế độ nước sông ở thượng lưu quyết định Trong năm, dòng chảy chia làm hai mùa rõ rệt: mùa lũ và mùa kiệt, mùa lũ từ tháng VI đến tháng X chiếm 74,6% lượng nước năm Mùa kiệt từ tháng XI đến tháng V chiếm khoảng 25,4% lượng nước năm Vào mùa lũ, lưu lượng dòng chảy trên sông Hồng rất lớn
và diễn biến thất thường Điều này phát sinh ra mâu thuẫn giữa điều kiện tập trung nước và khả năng tiêu thoát lũ ra các cửa sông Mùa lũ ở đây không chỉ có một lần nước lên, 1 lần nước xuống mà có nhiều lần mực nước lên xuống Mực nước lũ sông Hồng thường vượt quá độ cao trung bình cuả bề mặt đồng bằng tới 4 – 5 m Hàng năm lượng bùn cát được bồi tích do sông Hồng mang lại là 23 triệu tấn/năm
Chế độ sóng biển
Chế độ sóng biển vùng nghiên cứu thay đổi theo mùa Vào mùa đông, hướng sóng chính ngoài khơi là đông – bắc (61%), đông (15%), còn ở ven bờ là hướng đông (34%), đông – bắc (13%) và đông – nam (18%) Vào mùa hè các hướng sóng thịnh hành ngoài khơi là nam, tây – nam và đông với tần suất dao động từ 40 – 75%, trong đó sóng hướng nam chiếm tới 37% Còn ở vùng ven bờ, sóng có hướng chính là đông – nam với tần suất 24% Độ cao sóng trung bình ngoài khơi là 1,2 – 1,4 m, ở ven bờ là 0,6 – 0,8 m; độ cao sóng cực đại tương ứng là 7,0 – 8,0 và 5,0 – 6,0 m Các cấp sóng có độ cao lớn thường xuất hiện khi có bão Như vậy, có thể thấy rằng độ cao sóng trung bình ở đây rất thích hợp với phát triển du lịch sinh thái
Trang 34theo quyết định 02/2003/QĐ - BTNMT về quy chế bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch
Bảng 4 Điều kiện môi trường để tổ chức một số hoạt động du lịch cơ bản
tham quan
Du lịch nghỉ dƣỡng
Du lịch thể thao-mạo hiểm
Du lịch sinh thái
mặt
Không có mặt Không có mặt Không có
mặt Tảo, nấm có độc tố
Triều hoạt động mạnh vào các tháng 1-6-7-12, lịch thuỷ triều được tính theo lịch
âm, chu trình con nước tính như sau:
15 ngày là một chu kỳ con nước Ngày thứ nhất gọi là ngày sinh con nước, sau
13 con nước(tức sau 13 ngày) có một con nước nghén, Đến ngày 15, lại tiếp tục vào chu kỳ mới
Vùng ven biển cửa sông đồng bằng sông Hồng có chế độ nhật triều khá thuần nhất, tính nhật triều thuần nhất giảm từ bắc xuống nam Mực nước triều lớn nhất nhiều năm có thể đạt 4,0 m và thấp nhất khoảng 0,08 m Số ngày triều cường từ 3 m trở lên có từ 152 – 176 ngày Nước biển xâm nhập vào các cửa sông khá sâu vào đất
Trang 35liền (nước biển xâm nhập vào sâu 22km đối với sông Hồng với nồng độ muối 5 - 10‰) Độ cao thuỷ triều và sự nhiễm mặn hạ lưu cửa sông là điều kiện thuận lợi để chuyển đổi một số diện tích cho phép sang nuôi trồng hải sản
Thuỷ triều vùng Vịnh Bắc Bộ ảnh hưởng đặc biệt mạnh đến vùng cửa sông ven biển đồng bằng sông Hồng mà một trong những tác động đó là sự xâm nhập mặn Thuỷ triều tràn vào trong sông dưới dạng nêm di động, đỉnh nêm mặn có tác dụng như một đập tràn cho dòng nước ngọt mang theo các hạt phù sa lơ lửng tràn qua, còn các hạt lớn hơn chuyển động trên mặt đáy được chặn lại gây bồi lắng tạm thời
Chế độ dòng chảy
Khu vực nghiên cứu nằm ở phía tây Vịnh Bắc Bộ, hầu hết thời gian trong năm , dòng chảy đều có hướng tây – nam vào mùa gió đông – bắc và khi có gió mùa tây – nam hoặc gió nam vào mùa hè thì dòng chảy lại có hướng đông – bắc Các đặc trưng của dòng chảy có sự phân hoá theo năm Tốc độ dòng chảy ở đây đều nằm trong khả năng cho phép phát triển du lịch sinh thái cũng theo quy chế bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch ở bảng 4
2.2.4 Thổ nhƣỡng
Bờ biển Tiền Hải thoải, do lượng phù sa của hai con sông: sông Hồng và sông Trà Lý hàng năm đổ ra biển khoảng 55 triệu tấn/năm, nhờ thế hàng năm đất được bồi tụ, tiến ra biển từ 50-100m Cách đất liền 3 - 5 km từ cửa Ba Lạt đến cửa Trà Lý
có hệ thống cồn cát tạo thành một vòng cung phía ngoài che chắn toàn bộ bãi bồi phía trong sát chân đê biển, tạo thành khoảng 45 ngàn ha đất ngập nước ngoài đê rất thuận lợi cho việc khai thác, nuôi trồng thuỷ hải sản Đặc điểm thổ nhưỡng ở đây chia thành :
Trang 36phân tầng chưa rõ, thường có tầng hữu cơ là xác thực vật, Nhóm đất này có thể chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản với những đối tượng nuôi có tính rộng muối như tôm rảo, tôm sú và cá rô phi
+ Đất mặn sú, vẹt
Phân bố hầu hết ở phía ngoài đê huyện Tiền Hải hoặc trong các con đê bồi Trên loại đất này chỉ thích hợp trồng các loại cây ngập mặn, tạo môi trường thuận lợi cho việc xây dựng đầm, ao nuôi trồng thuỷ sản vì nhiều chất hữu cơ từ các cây ngập mặn và nhiều sinh vật phù du từ ngoài biển đưa vào
- Nhóm đất phù sa
Là nhóm đất có màu nâu xám hoặc nâu nhạt, có hàm lượng các chất dinh dưỡng kém hơn đất phù sa của hệ thống sông Hồng Đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, phản ứng của đất chua yếu, phù hợp với nhiều loại hình canh tác khác nhau, kể cả nông nghiệp và thuỷ sản
- Nhóm đất cát biển
Nhóm đất này phân bố ở các bãi cát ven biển và trên cồn cát ngoài biển, rất nghèo dinh dưỡng và có phản ứng chua yếu, khả năng trao đổi cation thấp, chỉ có thể sử dụng trồng phi lao, không phù hợp cho canh tác nông nghiệp
Trang 372.3 Dõn cư và nguồn lao động
2.3.1 Dõn cƣ
Năm 2008, dõn số trung bỡnh của 3 xó vựng đệm khu bảo tồn thiờn nhiờn Tiền Hải là 16.014 người, chiếm 7,8% so với dõn số toàn huyện Tiền Hải và chiếm 0,9% dõn số tỉnh Thỏi bỡnh Trong đú dõn số của xó Nam Thịnh là 6.620 người (1.588 hộ), xó Nam Hưng là 5.372 người (1.420 hộ) và xó Nam Phỳ là 4635 nhõn khẩu (1.246 hộ)
Hỡnh 3 Dõn số của 3 xó vựng đệm khu BTTN Tiền Hải
Hỡnh 4 Cơ cấu dõn số phõn theo giới tớnh
0 1000 2000 3000 4000 5000 6000 7000 Nhân khẩu
Nam Thịnh Nam H-ng Nam Phú
Hộ gia đình Nhân Khẩu
0 500 1000 1500 2000 2500 3000 3500
Số ng-ời
Nam Thịnh Nam H-ng Nam Phú
Nam Nữ
Trang 38Như vậy có thể thấy là, cơ cấu dân số theo giới tính 3 xã vùng đệm khu BTTN Tiền Hải tương đối ổn định, tỷ lệ dân số nam có nhỉnh hơn tỷ lệ dân số nữ một ít (221 người) Ở đây không diễn ra tình trạng bị mất cân bằng về giới tính
Nếu tính số người trong độ tuổi lao động từ 15 cho đến 55 tuổi thì tổng số người đang trong độ tuổi lao động ở 3 xã vùng đệm là 9 032 người Như vậy ở đây cứ 1 người lao động thì có khoảng 2 người không lao động
Bảng 5 Số người trong độ tuổi lao động
Nguồn: Báo cáo tình hình phát triển kinh tế – xã hội 2008 ở 3 xã
Nếu so sánh tỷ lệ lao động trong độ tuổi này của một xã với dân số toàn xã thì ta thấy có một tỷ lệ tương ứng với dân số xã Như vậy, có sự tương đồng về tỷ lệ người trong độ tuổi lao động so với số người không lao động ở cả 3 xã
Mật độ dân số trung bình ở đây là 364 người/km2, trong đó mật độ dân số của xã Nam Thịnh là 792 người/km2, xã Nam Hưng là 423 người/km2
và xã Nam Phú là
188 người/km2
Công tác dân số – kế hoạch hoá gia đình ở đây được quan tâm đầy đủ, triển khai mạnh mẽ, sâu rộng do đó đã có những tín hiệu tích cực Tỷ lệ sinh con năm 2008 của xã Nam Thịnh là 1,68%, xã Nam Phú là 1,59% và xã Nam Hưng là 1,71% Dân cư ở đây phân bố không đồng đều trong xã, hầu hết dân cư đều tập trung ở khu vực trung tâm , khu vực thị tứ và hầu như ở trong đê biển chính Các hộ gia đình chủ yếu tập trung gần UBND các xã, trường học, bệnh viện và thưa dần ra phía biển
Trang 392.3.2 Nguồn lao động và việc làm
Trong những năm gần đây, kinh tế của khu vực ven biển và vùng lân cận phát triển khá mạnh với sự ra đời của khu công nghiệp Tiền Hải Ngành công nghiệp, xây dựng và thương mại bước đầu đã có hướng chuyển dịch, tạo điều kiện thuận lợi
và thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, từ đó tạo ra được nhiều công ăn việc làm, nhu cầu về việc làm được giải quyết, số lượng người lao động đi tìm kiếm việc làm ở các tỉnh khác đã có chiều hướng giảm so với những năm trước đây Cơ cấu lao động trong các ngành cũng có sự chuyển dịch rõ rệt Số lao động làm trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp là 6.733 người chiếm 74,5% trong
đó xã Nam Thịnh có 2.256 người chiếm 64,4%, xã Nam Hưng 2.113 người chiếm 70,4% và đặc biệt ở xã Nam Phú số hộ lao động trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp chiếm tới 93,5% (2364 người) Số lao động làm việc trong ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp là 420 người chiếm 4,7%, số lao động làm việc trong ngành xây dựng là 207 người, chiếm 2,3%, số lao động làm trong ngành thương mại, dịch vụ là 1243 người chiếm 13,8% và số người là cán bộ công nhân viên nhà nước là 429 người chiếm 4,7%
Như vậy, số lao động làm trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp vẫn là chủ đạo, sau đó là số lao động làm trong ngành thương mại và dịch vụ, số người lao động là cán bộ công nhân viên nhà nước cũng rất ít, chỉ chiếm 4,7%
Bảng 6 Cơ cấu phân công lao động trong các ngành
Trang 40Nhận thức rõ vai trò quan trọng của công tác tạo công ăn việc làm và giải quyết việc làm đối với người lao động, cải tạo điều kiện thu nhập, thu nhập bình quân đầu người năm 2008 của Nam Hưng là 5.550.000đ, xã Nam Phú là 7.000.000đ và xã Nam Thịnh là 20.700.000đ Đảng bộ và chính quyền các xã đã triển khai thực hiện
có hiệu quả chương trình lao động – việc làm gắn liền với thực hiện phát triển kinh
tế - xã hội, phát triển và mở rộng các thành phần kinh tế, gắn lao động với đất đai, tài nguyên khoáng sản của xã, huyện theo hướng giải quyết việc làm tại chỗ là chính thông qua các chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, phát triển thương mại, du lịch, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, mở rộng làng nghề, xã nghề, kết hợp xuất khẩu lao đồng ra tỉnh ngoài, nước ngoài với sự hỗ trợ của các nguồn vốn vay hỗ trợ giải quyết việc làm, vốn xoá đói, giảm nghèo Kết quả đã có 4.348 lao động có việc làm thường xuyên trong năm tại địa bàn xã mình Số lao động phải đi làm việc tại địa bàn khác ngày càng giảm xuống (502 người) Điều này cho thấy sự tích cực của chính quyền xã đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và hộ gia đình làm ăn, kinh doanh để tạo ra nhiều công ăn việc làm trên địa bàn xã mình
2.4 Điều kiện kinh tế – xã hội
Trong thời gian qua, dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo của huyện Tiền Hải và sự lãnh đạo trực tiếp của chính quyền nhân dân các xã vùng đệm khu BTTN Tiền Hải, tình hình kinh tế – xã hội trong vùng đã có những chuyển biến tích cực, kinh tế tăng trưởng ở mức khả quan, cơ cấu kinh tế đã có những bước chuyển biến quan trọng, đời sống của người dân từng bước được cải thiện, nâng cao ; mạng lưới kết cấu cơ
sở hạ tầng trong khu vực được xây dựng và nâng cấp
2.4.1 Cơ cấu kinh tế, thực trạng phát triển của các ngành
Trong các năm qua, kinh tế của 3 xã vùng đệm khu BTTN Tiền Hải đã có bước tăng trưởng khá, giá trị sản xuất toàn vùng đạt 188.803.211.000 đồng (tính theo giá thực tế 2006), gấp 1,3 lần năm 2005