1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các giải pháp huy động cộng đồng trong quản lý rác thải tại xã An Mỹ, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây

97 575 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 4,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

về hệ thống thống tổ chức quản lý Nhà nước về thu gom, xử lý rác thải và khuyến khích các thành phần tham gia được quy định trong các điều khoản sau:  Điều 54 - Chương VI: Tổ chức tự qu

Trang 1

1.1 Hiện trạng quản lý rác thải ở nông thôn Việt Nam 5

1.1.1 Khối lượng và thành phần rác thải ở nông thôn Việt Nam 5 1.1.2 Chính sách đối với vấn đề quản lý rác thải nông thôn 6

1.2 Khái quát chung vùng Đồng bằng sông Hồng 13

1.3 Hiện trạng quản lý rác thải quy mô cấp xã đồng bằng sông Hồng 16

1.3.2 Công tác thu gom, vận chuyển rác thải quy mô cấp xã 17

1.3.3 Các giải pháp công nghệ trong xử lý rác thải nông thôn 19

1.4 Đánh giá tác động giữa chính sách hiện hành và hệ thống quản

lý môi trường ở vùng nông thôn

1.5.1 Công tác triển khai các văn bản qui phạm pháp luật nhằm huy

động cộng đồng tham gia thu gom, xử lý rác thải ở nông thôn

25

Trang 2

1.5.2 Một số điển hình của cộng đồng tham gia thu gom, xử lý rác thải ở

nông thôn

26

1.5.3 Đánh giá những mặt tích cực, những tồn tại trong công tác huy

động cộng đồng tham gia thu gom, xử lý rác thải

2.1.3 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn xã 32

2.2 Hiện trạng quản lý rác thải xã An Mỹ, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà

Tây

38

2.2.2 Các biện pháp thu gom, xử lý rác thải tại xã An Mỹ 44

2.2.3 Tổ chức dịch vụ thu gom, xử lý rác thải trên địa bàn thị trấn 47

2.2.6 Cơ chế, chính sách đã áp dụng trong thu gom, xử lý rác thải 52

Chương 3: GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG TRONG

QUẢN LÝ RÁC THẢI CHO XÃ AN MỸ, HUYỆN MỸ ĐỨC,

TỈNH HÀ TÂY

56

3.1 Cơ sở pháp lý của giải pháp huy động cộng đồng 56

Trang 3

3.1.1 Các văn bản qui phạm pháp luật của Nhà nước về thu gom, xử lý

rác thải khu vực nông thôn

56

3.1.2 Các văn bản qui phạm pháp luật của tỉnh Hà Tây 57

3.2 Cơ sở lý luận để thực hiện huy động cộng đồng trong việc ban

hành chính sách

59

3.3 Cơ sở lý luận để thực hiện huy động cộng đồng trong công tác

thu gom, và xử lý rác thải nông thôn

60

3.3.1 Các điều kiện cần thiết để thực hiện huy động cộng đồng 60

3.4.2 Đào tạo, tập huấn, truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng 65

Chương 4: KIẾN NGHỊ ÁP DỤNG GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG CỘNG

ĐỒNG VÀO QUẢN LÝ RÁC THẢI NÔNG THÔN QUY MÔ CẤP XÃ

Trang 4

4.2.1 Nội dung Huy động bắt buộc 77

Trang 5

VSMT : Vệ sinh môi trường

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Thành phần và khối lượng rác thải ở Việt Nam 6

Bảng 1.2: Loại văn bản của công tác bảo vệ môi trường áp dụng ở các

cấp

26

Bảng 2.1: Cơ cấu các ngành kinh tế xã An Mỹ và định hướng

phát triển giai đoạn 2006- 2010

Bảng 2.8: Các biện pháp thu gom, xử lý rác thải tại xã An Mỹ 44

Bảng 2.9: Khoảng cách vận chuyển rác thải ở các thôn xóm 48

Bảng 2.10: Kết quả phân tích nước rích bãi rác xã An Mỹ

(tháng 12/2005)

50

Bảng 3.1: Quy hoạch mạng lưới tuyến thu gom rác thải xã An Mỹ 71

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.2: Xe công nông thu gom rác thải tại xã An Mỹ 52

Hình 3.2: Cơ cấu tổ chức thu gom quản lý rác thải xã An Mỹ 62

Hình 3.5: thiết bị lưu chứa rác tại cơ quan và khu công cộng 69

Hình 3.6: Thiết bị lưu chứa rác tại các trạm trung chuyển 69

Hình 3.8: Cấu tạo hố ủ rác hữu cơ theo phương pháp yếm khí 72

Trang 8

MỞ ĐẦU

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Rác thải làm gây ô nhiễm môi trường đang là vấn đề ngày càng bức xúc không chỉ ở các đô thị, thành phố lớn mà ngay cả đối với các vùng nông thôn Trong những năm qua việc thu gom, xử lý rác thải mới chỉ được triển khai ở các thành phố lớn, các khu đô thị, thị xã

Khu vực nông thôn có diện tích đất chiếm trên 92% diện tích lãnh thổ Việt Nam, hiện nay có khoảng 75% dân cư đang sinh sống, nhưng có sự phân

bố không đều Thu nhập bình quân của người dân nông thôn thấp hơn người dân thành phố Thành phần rác thải của khu vực nông thôn chủ yếu là rác thải sinh hoạt, phát sinh từ các hộ gia đình

Công tác thu gom, xử lý rác thải ở nông thôn còn mang tính tự phát, chưa được các ngành, các cấp quan tâm nên ô nhiễm môi trường do rác thải nhiều nơi đã ở mức báo động Đồng thời, các cấp cơ sở chưa thực hiện tốt việc huy động cộng đồng trong quản lý rác thải Đó cũng là một trong các nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng ô nhiễm do rác thải ở khu vực nông thôn ngày càng gia tăng

Huy động cộng đồng trong quản lý rác thải là một công tác rất phù hợp với điều kiện của khu vực nông thôn, đặc biệt là với quy mô cấp xã Các hương ước, quy ước của thôn, xã là một trong những công cụ đắc lực cho các cuộc vận động, duy trì an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường, giải quyết các tranh chấp, vi phạm nhỏ trong nhân dân

Xuất phát từ những thực tiễn trên, đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu giải pháp huy động cộng đồng trong quản lý rác thải sinh hoạt nông thôn tại xã An

Trang 9

Mỹ, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây Kết quả của đề tài là cơ sở để kiến nghị biện pháp huy động cộng đồng trong QLRT ở nông thôn cấp xã vùng ĐBSH

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

1 Đánh giá thực trạng công tác quản lý rác thải nông thôn cấp xã vùng đồng bằng sông Hồng

III NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1 Đánh giá hiện trạng các vấn đề về quản lý rác thải ở nông thôn cấp xã vùng đồng bằng sông Hồng

2 Đánh giá hiện trạng quản lý rác thải ở xã An Mỹ, huỵên Mỹ Đức, tỉnh

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN SỐ LIỆU

1 Phương pháp lấy mẫu, thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu

(i) Phương pháp điều tra thực địa

Trang 10

- Điều tra, thu thập các nguồn tài liệu về dân sinh, kinh tế, định hướng phát triển kinh tế, xã hội, hiện trạng tổ chức thu gom, xử lý rác thải, định hướng của địa phương trong công tác thu gom, xử lý rác thải

- Thu thập số liệu về khối lượng, thành phần đối với rác thải của từng khu vực: Hộ gia đình, hộ kinh doanh sản xuất, cơ quan, trường học,

cơ sở sản xuất, cơ sở y tế

(ii) Phương pháp thống kê

Các số liệu thu thập, điều tra thực địa được xử lý và lập bảng thống

kê để đánh giá theo từng nội dung

(iii) Sử dụng phương pháp phân tích SWOT:

Để xác định được các yếu tố khách quan và chủ quan, đặc biệt là đối với việc phân loại rác

Với các số liệu đã có ta có thể nắm được nhận thức của người dân về tình hình phân loại rác và sự sẵn sàng tham gia của người dân trong việc phân loại rác tại nguồn Từ đó đưa ra các hình thức quản lý rác thải, đặc biệt là khâu phân loại rác tại nguồn từ ngay nơi phát sinh dựa vào ý thức của người dân địa phương

2 Phân tích các số liệu đã thu thập được theo các bước:

- Xếp loại các số liệu theo các chủ đề (Chính sách/Tổ chức bộ máy quản lý/ Các áp dụng khoa học công nghệ)

- Đưa những vấn đề đã được giải quyết và những vấn đề còn tồn tại

- Đánh giá ưu điểm và khuyết điểm của các giải pháp đã áp dụng

V BỐ CỤC LUẬN VĂN

Mở đầu

Trang 11

Chương 1: Tổng quan các vấn đề về quản lý rác thải ở nông thôn cấp

Chương 4: Kiến nghị các giải pháp huy động cộng đồng trong quản lý

rác thải nông thôn quy mô cấp xã

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÝ RÁC THẢI CẤP XÃ

VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 1.1 Hiện trạng quản lý rác thải nông thôn ở Việt Nam

1.1.1 Khối lượng và thành phần rác thải

 Khối lượng rác thải

Mỗi năm Việt Nam có hơn 15 triệu tấn rác thải phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau Khoảng hơn 80% (tương đương 12,8 triệu tấn/năm) là rác thải sinh hoạt Tổng lượng rác thải công nghiệp khoảng 2,6 triệu tấn/năm (chiếm 17%) Khoảng 160.000 tấn/năm (chiếm 1%) lượng rác thải phát sinh ở Việt Nam được coi là chất thải nguy hại

+ Lượng rác thải sinh hoạt: 6.400.000 tấn/năm, chiếm 50% lượng rác thải sinh hoạt toàn quốc

+ Chất thải công nghiệp nguy hại: 2.400 tấn, chiếm 1,87% lượng chất thải công nghiệp nguy hại trên toàn quốc

+ Chất thải rắn phi nông nghiệp: 7.172.000 tấn, chiếm 46,39% lượng chất thải phi nông nghiệp

 Thành phần rác thải

Thành phần rác thải sinh hoạt phần lớn là chất hữu cơ dễ phân huỷ (tỷ

lệ rác thải hữu cơ dễ phân huỷ chiếm 99% trong chất thải nông nghiệp và

65% trong rác thải sinh hoạt gia đình ở nông thôn)

Trang 13

Bảng 1.1: Thành phần và khối lượng rác thải ở Việt Nam

Chất thải

sinh hoạt

Các khu thương mại gần khu dân

Thức ăn, Nhựa, Giấy, Thuỷ tinh

Xăng, dầu, Bùn thải Các chất hữu cơ

Chất thải phi nông nghiệp 8.266.000 7.172.000 15.459.900

Nguồn: Dự án “Tổng hợp, xây dựng các mô hình thu gom, xử lý rác thải cho các thị trấn, thị tứ, cấp huyện cấp xã”, 2006-2008

1.1.2 Chính sách đối với vấn đề quản lý rác thải nông thôn

Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam coi công tác BVMT phải được xã hội hoá sâu rộng và là nội dung cơ bản không thể tách rời trong qui hoạch xây dựng phát triển và quản lý đối với các đô thị, các khu công nghiệp

và đặc biệt là sự phát triển ở các vùng nông thôn ở Việt Nam

Các điều luật và các chính sách pháp lý liên quan đến quản lý rác thải

a/ Luật bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11

Luật BVMT ban hành năm 1993, đến năm 2005 đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi và thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2006 Luật gồm

có 15 chương gồm 136 điều Các nội dung trong luật liên quan đến chính sách

Trang 14

về hệ thống thống tổ chức quản lý Nhà nước về thu gom, xử lý rác thải và khuyến khích các thành phần tham gia được quy định trong các điều khoản sau:

 Điều 54 - Chương VI: Tổ chức tự quản về BVMT

Nhà nước khuyến khích cộng đồng dân cư thành lập tổ chức tự quản về BVMT nơi mình sinh sống nhằm thực hiện các nhiệm vụ: i) Tổ chức thu gom, tập kết và xử lý rác thải, chất thải; ii) Giữ gìn vệ sinh đường làng, ngõ xóm, khu phố, nơi công cộng; iii) Xây dựng và tổ chức thực hiện hương ước

về BVMT, tuyên truyền, vận động nhân dân xoá bỏ các hủ tục, thói quen mất

vệ sinh, có hại cho môi trường

Tổ chức tự quản về BVMT được thành lập và hoạt động dựa trên nguyên tắc tự nguyện, cộng đồng trách nhiệm và tuân theo quy định của pháp luật UBND cấp xã có trách nhiệm quy định về hoạt động và tạo điều kiện để

tổ chức tự quản về BVMT hoạt động có hiệu quả

 Điều 61 - Phát triển dịch vụ môi trường: Trong đó đề cấp đến việc

mọi tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện sẽ được Chính phủ tạo điều kiện để tham gia dịch vụ môi trường

 Điều 64 - Thẩm quyền và trách nhiệm bảo vệ môi trường của hội

đồng nhân dân, ủy ban nhân dân: Đề cập đến các công tác ban hành, chỉ

đạo, tổ chức thực hiện, quản lý, thanh tra, xử lý các kiến nghị về môi trường theo qui định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và pháp luật liên quan của Hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân

 Điều 65 - Thẩm quyền và trách nhiệm bảo vệ môi trường của Mặt

trận Tổ quốc, các đoàn thể và cộng đồng khu dân cư: Đề cập đến quyền và

trách nhiệm của các tổ chức trên để tham gia bảo vệ môi trường và giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường

Trang 15

 Điều 66 - Cơ quan chuyên môn, trách nhiệm quản lý về bảo vệ môi

trường: Quy định trách nhiệm quản lý bảo vệ môi trường của tỉnh, xã,

phường, công ty, ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất

 Điều 122 - Chương XIII: Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ

môi trường của Uỷ ban nhân dân các cấp: Quy định trách nhiệm trong việc

ban hành, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, tuyên truyền, giáo dục, thanh tra, xử lý

vi phạm của Uỷ ban nhân dân các cấp về bảo vệ môi trường hoạch về bảo vệ môi trường;

Trong Luật BVMT, vấn đề thu gom, xử lý rác thải đã được qui định cụ thể cho các cấp chính quyền, các cơ quan đơn vị từ trung ương tới địa phương và đến hộ gia đình

b/ Các văn bản qui phạm pháp luật liên quan đến hệ thống tổ chức quản lý Nhà nước và dịch vụ thu gom, xử lý rác thải

 Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003: về việc phê duyệt

kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Trong các giải pháp cơ bản để thực hiện kế hoạch có đề cập đến hệ thống quản lý quản lý Nhà nước về môi trường như: Tăng cường năng lực quản lý của hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt trong việc kiểm tra, thanh tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện kế hoạch

 Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ về xử

phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, trong đó có quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp

Trang 16

 Nghị định số 59/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về Quản lý

chất thải rắn trong đó có qui định nội dung quản lý Nhà nước về chất thải rắn bao gồm:

+ Ban hành các chính sách về hoạt động quản lý chất thải rắn

+ Ban hành qui chuẩn về tiêu chuẩn ký thuật áp dụng cho hoạt động quản lý chất thải rắn

+ Quản lý việc lập, thẩm định, phê duyệt và công bố qui hoạch quản lý chất thải rắn

+ Quản lý quá trình đầu tư cho thu gom, vận chuyển, xây dựng và xử lý chất thải rắn

+ Thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm pháp luật trong quá trình hoạt động quản lý chất thải rắn

c/ Các văn bản qui phạm pháp luật liên quan đến huy động cộng đồng tham gia quản lý rác thải

Trong số các văn bản qui phạm pháp luật của Nhà nước đã ban hành về quản lý chất thải rắn, có 7 văn bản có liên quan đến huy động cộng đồng trong thu gom, xử lý rác thải, trong đó: Có đến 2/7 văn bản qui định cho đô thị và khu công nghiệp, 1/7 văn bản về khuyến khích đầu tư, 4/7 văn bản về định hướng chung và chưa có văn bản nào qui định cụ thể cho khu vực nông

thôn

 Nghị định số 51/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ qui

định chi tiết thi hành Luật khuyến khích đầu tư trong nước Việc huy

động cộng đồng tham gia vào quản lý chất thải được thông qua các chính sách

ưu đãi cho các doanh nghiệp, tư nhân có các hoạt động “đầu tư cải thiện môi trường sinh thái”, các hoạt động nghiên cứu ứng dụng liên quan đến “xử lý chất thải, xử lý ô nhiễm môi trường, tái chế phế liệu, phế thải” và các hoạt

Trang 17

động “đầu tư công trình xử lý chất thải để bảo vệ môi trường, thu gom rác thải”

Ngoài các văn bản pháp quy đã nêu trên, còn một số các văn bản pháp quy của bộ ngành và các tỉnh các tỉnh cũng ban hành một số các văn bản có liên quan đến huy động cộng đồng trong quản lý chất thải rắn như:

 Công văn số 582 CV/BNN ngày 10/4/2003 của Bộ NN&PTNT hướng

dẫn các bộ, ngành, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, hưởng ứng tuần

lễ quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường (29/04-06/05), ngày kỷ niệm môi trường thế giới (05/06)

Ngoài nội dung tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức cộng đồng, công văn còn thể hiện việc huy động cộng đồng trong quản lý chất thải rắn bằng các biện pháp cụ thể như:

+ Huy động lực lượng thanh thiếu niên, các tổ chức hội phụ nữ, hội nông dân tập thể, hội cựu chiến binh v.v tham gia giải toả các tụ điểm tồn đọng rác thải sinh hoạt vận chuyển đến nơi xử lý

+ Đưa các nội dung giữ gìn, bảo vệ và cải thiện môi trường trở thành tiêu chí xét công nhận đơn vị, thôn, làng văn hoá hàng năm

 Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 20-12-2003 của Thủ tướng

Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Trong đó, nội dung về nâng cao năng lực và hiệu quả trong hoạt động quản lý chất thải:

+ Về quan điểm: Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức, cộng đồng và mọi người dân; bảo vệ môi trường mang tính quốc gia, khu vực và toàn cầu cho nên phải kết hợp giữa phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế

+ Về các giải pháp thực hiện liên quan đến việc huy động cộng đồng:

Trang 18

- Phát động trên toàn quốc phong trào toàn dân bảo vệ môi trường, xây dựng xã, phường đạt chuẩn môi trường Giải pháp này bao gồm huy động toàn dân tham gia bảo vệ môi trường; duy trì, phát triển phong trào, hàng năm tổ chức kiểm tra, đánh giá và rút kinh nghiệm cho các năm sau

- Ban hành tiêu chuẩn xã, phường, thị trấn, hộ gia đình xanh, sạch và lồng ghép các tiêu chuẩn này trong hoạt động của phong trào toàn dân bảo vệ môi trường

- Tăng cường pháp chế về môi trường bao gồm các nội dung hoàn thiện

hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường theo ướng quy định rõ quyền lợi, trách nhiệm bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân, các chế tài cụ thể cho trường hợp vi phạm; xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, lực lượng thanh tra, kiểm tra; triển khai thường xuyên, định kỳ, đột xuất các đợt thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm nhằm bảo đảm Luật Bảo vệ môi trường được thực hiện nghiêm chỉnh

h Đẩy mạnh Xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường: Huy động ở mức cao nhất sự tham gia của xã hội vào công tác bảo vệ môi trường Đề cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội trong công tác bảo vệ môi trường, giám sát việc bảo vệ môi trường Đưa bảo vệ môi trường vào nội dung hoạt động của các khu dân cư, cộng đồng dân cư và phát huy vai trò của các tổ chức này trong công tác bảo vệ môi trường

+ Về tổ chức thực hiện: Chương trình nâng cao năng lực và hoạt động quản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp do Bộ Xây dựng chủ trì Đối với khu vực nông thôn chưa có qui định cụ thể về đơn vị củ trì

Trang 19

 Nghị quyết 41 – NQ/TW, ngày 15/11/2004 của Bộ chính trị về bảo vệ

môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nghị quyết đề cập đến bảo vệ môi trường nói chung, nhưng đã thể hiện được quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực huy động cộng đồng Thể hiện ở các mặt sau:

+ Về quan điểm: Bảo vệ môi trường là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi người, là biểu hiện của nếp sống văn hoá, đạo đức, là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh và là sự nối tiếp truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hoà với tự nhiên của cha ông ta

+ Giải pháp bảo vệ môi trường: gồm 7 giải pháp, trong đó có 3 giải pháp liên

quan đến lĩnh vực huy động cộng đồng trong lĩnh vực BVMT nói chung:

- Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động bảo vệ môi trường: Xác định rõ trách nhiệm bảo vệ môi trường của Nhà nước, cá nhân, tổ chức và cộng đồng, đặc biệt đề cao trách nhiệm của các cơ sở sản xuất và dịch vụ Chú trọng xây dựng và thực hiện quy ước, hương ước, cam kết về bảo vệ môi trường và các mô hình tự quản về môi trường của cộng đồng dân cư Phát triển các phong trào quần chúng tham gia bảo vệ môi trường Đề cao trách nhiệm, tăng cường sự tham gia có hiệu quả của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, các phương tiện truyền thông trong hoạt động bảo vệ môi trường

- Tạo sự chuyển biến cơ bản trong đầu tư bảo vệ môi trường, trong đó có: Khuyến khích các tổ chức và cá nhân trong nước và ngoài nước đầu tư bảo vệ môi trường, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn cho bảo vệ môi trường; tăng tỷ lệ đầu tư cho bảo vệ môi trường trong nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

- Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về môi trường

Trang 20

 Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg, ngày 22/02/2005 của Thủ tướng

Chính phủ về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,

hiện đại hoá đất nước

Trong chương trình hành động của chính phủ, liên quan đến việc huy

động cộng đồng được thể hiện ở việc Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động bảo

vệ môi trường, như:

- Thể chế hoá các quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của các

tổ chức, đoàn thể, cộng đồng dân cư, cá nhân tham gia công tác bảo vệ môi trường, đặc biệt trong quá trình xây dựng, ban hành và thực hiện các quyết định có liên quan về bảo vệ môi trường

- Đa dạng hoá các loại hình hoạt động bảo vệ môi trường, khuyến khích

sự tham gia của khu vực tư nhân, có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế thực hiện các dịch vụ bảo vệ môi trường; khuyến khích thành lập các tổ chức đánh giá, tư vấn, giám định, công nhận, chứng nhận về bảo vệ môi trường

- Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ môi trường, xây dựng và phát triển các điển hình tiên tiến trong hoạt động bảo vệ môi trường

- Chú trọng xây dựng và thực hiện hương ước, quy định, cam kết bảo vệ môi trường; phát triển các mô hình cộng đồng dân cư tự quản trong hoạt động bảo vệ môi trường

Đánh giá chung về các về các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước

về bảo vệ môi trường

Các văn bản đều đã đề cập đến việc nâng cao năng lực của các tổ chức quản lý Nhà nước về môi trường và khuyến khích các thành phần kinh tế, các

tổ chức tư nhân tham gia các hoạt động dịch vụ môi trường Hầu hết các xã tiếp cận được một số các văn bản liên quan về thu gom, xử lý rác thải Các xã

Trang 21

cũng đã xây dựng hương ước các thôn quy định về việc giữ gìn VSMT và quét dọn đường làng ngõ xóm theo định kỳ

Tuy vậy các văn bản qui phạm pháp luật hiện có chủ yếu tập trung cho khu vực đô thị và khu công nghiệp mà chưa có những hướng dẫn cụ thể về quản lý Nhà nước về chất thải rắn đối với cấp cơ sở (huyện, xã/ thị trấn) và thực tế năng lực của hệ thống quản lý môi trường cấp cơ sở còn nhiều yếu kém, các tổ chức dịch vụ thu gom, xử lý rác thải còn đang hình thành tự phát Đối với việc huy động cộng đồng tham gia quản lý chất thải, Nhà nước ta mới xây dựng được khung pháp lý thông qua việc xác định vai trò trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân đối với quản lý chất thải trong các quá trình hoạt động sản xuất; Đưa vào tiêu chí xếp hạng gia đình văn hoá, thôn văn hoá, xã văn hoá; Luật khuyến khích đầu tư các doanh nghiệp các doanh nghiệp, tư nhân có các hoạt động “đầu tư cải thiện môi trường sinh thái”, các hoạt động nghiên cứu ứng dụng liên quan đến “xử lý chất thải, xử lý ô nhiễm môi trường, tái chế phế liệu, phế thải” và các hoạt động “đầu tư công trình xử

lý chất thải để bảo vệ môi trường, thu gom rác thải”

Tóm lại, việc quản lý chất thải rắn cho khu vực nông thôn chưa được các cấp, các ngành quan tâm thỏa đáng Sự thiếu hụt này dẫn đến sự thiếu hụt trong phân công trách nhiệm giữa các cấp trong công tác quản lý chất thải Sự phân công chưa cụ thể và rõ ràng này lại được đặt trong bối cảnh bận rộn và năng lực quản lý ở các cấp có liên quan được thừa nhận là vừa yếu, vừa thiếu thì tất yếu sẽ làm cho vấn đề quản lý rác thải ở khu vực nông thôn càng ít được quan tâm và đề cập đến trong các chính sách quản lý mà các Bộ ban hành Đó cũng là một trong các nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trong công tác quản lý rác thải ở nông thôn hiện nay

1.2 Khái quát chung vùng Đồng bằng sông Hồng

Trang 22

1.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội

a/ Điều kiện tự nhiên

Đồng bằng sông Hồng được hình thành và phát triển trong vùng hạ lưu của hệ thống sông Hồng và sông Thái bình với diện tích đất tự nhiên 1.481.200 ha Tính đến năm 2006, đồng bằng sông Hồng có 1 thành phố trực thuộc Trung ương là Hà Nội, 4 thành phố trực thuộc tỉnh, 14 quận, 8 thị xã,

86 huyện, 284 phường, 103 thị trấn và 1.861 xã

Trang 23

b/Tình hình kinh tế xã hội

Dân số và phân bố dân cư

Đặc điểm nổi bật của vùng ĐBSH là vùng đất chật người đông, diện tích

tự nhiên nhỏ nhất, 14.862.500 km2, nhưng số dân và mật độ dân số lại cao nhất trong cả nước Tính đến năm 2006, dân số trong vùng là 18.207.900 người, mật độ dân số trung bình là 1.225 người/km2 cao gấp 4,85 lần so với mật độ dân số trung bình trong cả nước

Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hoá tăng nhanh nhưng dân số khu vực nông thôn của vùng ĐBSH vẫn chiếm tỷ lệ lớn Tính đến năm 2006, khu vực thành thị là 4.546.800 người, chiếm 25%, khu vực nông thôn là 13.661.000 người, chiếm 75%

Thu nhập bình quân

- Thu nhập bình quân vùng Đồng bằng sông Hồng là 487.200 đ/người/tháng, bình quân lương thực theo đầu người là 395,4 kg/người, đứng thứ 2 trong cả nước (sau ĐB sông Cửu Long)

- Tỷ lệ số hộ nghèo chung là 21%, thấp hơn trung bình so với cả nước 3%

- Tỷ lệ hộ nghèo lương thực là 4,3%, thấp hơn trung bình trong cả nước 1,8 lần

1.2.2 Khối lượng và thành phần rác thải nông thôn vùng ĐBSH

Lượng rác thải sinh hoạt phát sinh của người dân ở các vùng nông thôn vùng ĐBSH trung bình là: 0,3 kg/người/ngày, chưa bằng 1/2 so với khu vực

đô thị (0,7 kg/người/ngày)

Theo quy mô cấp xã, tỷ lệ khối lượng rác thải theo nguồn phát sinh thì

tỷ lệ khối lượng rác thải sinh hoạt là lớn nhất

- Tỷ lệ rác thải sinh hoạt : 97,53%

Trang 24

1.3 Hiện trạng quản lý rác thải quy mô cấp xã vùng ĐBSH

1.3.1 Bộ máy quản lý môi trường vùng nông thôn từ cấp tỉnh xuống cấp xã

a/Phòng quản lý môi trường thuộc sở Tài nguyên và Môi trường ở tỉnh

Về cơ cấu tổ chức, các sở Tài nguyên và Môi trường đều đã thành lập phòng Quản lý môi trường với các chức năng quản lý Nhà nước lĩnh vực môi trường, giúp UBND tỉnh xây dựng qui hoạch, kế hoạch, các chính sách và các biện pháp về bảo vệ môi trường trong địa bàn tỉnh

b/Phòng Tài nguyên và Môi trường ở huyện

Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện được thành lập theo nghị định số 172/2004/NĐ-CP, ngày 29-09-2004, với nhiệm vụ: tham mưu giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản và môi trường Tại các huyện, cán bộ thuộc phòng Tài nguyên Môi trường cũng đã được đào tạo cơ bản về môi trường Tuy nhiên Phòng này cấp huyện hiện mới thực hiện được chức năng quản lý về tài nguyên đất

c/Cán bộ quản lý môi trường ở xã

Về cơ cấu tổ chức, mỗi xã, phường, thị trấn có một cán bộ phụ trách công tác địa chính và quản lý môi trường Hiện tại, ở cấp xã, thị trấn đều đã có cán

Trang 25

bộ địa chính làm công tác quản lý đất đai nhưng các hoạt động về quản lý môi trường hầu hết chưa được triển khai do các cán bộ này chưa được đào tạo, tập huấn về nghiệp vụ chuyên môn cũng như chưa được giao nhiệm vụ cụ thể và các quyền lợi được hưởng nên công tác quản lý môi trường còn đang bỏ ngỏ

Đánh giá chung về hoạt động của hệ thống quản lý môi trường cấp cơ sở

- Năng lực quản lý Nhà nước ở lĩnh vực môi trường ở các cấp đều thiếu về

số lượng, yếu kém về chuyên môn, đặc biệt càng xuống các cấp dưới, huyện, xã các yếu kém nêu trên càng bộc lộ, chưa thực hiện được chức năng quản lý môi trường trong nhiệm vụ được giao

- Chưa có sự quan tâm thoả đáng của các địa phương như: Chưa dành ngân sách cho thu gom, xử lý rác thải Chưa thực hiện phân công trách nhiệm giữa các cấp trong QLMT và thu gom rác thải

- Tổ chức dịch vụ thu gom, xử lý rác thải ở cấp xã, thị trấn hình thành tự phát, không có qui hoạch, không có nguồn vốn đầu tư, không có định hướng trong triển khai thực hiện, dẫn đến hiệu quả hoạt động thấp và thiếu bền vững

1.3.2 Công tác thu gom, vận chuyển rác thải quy mô cấp xã cấp xã

a/Các tổ dịch vụ thu gom cấp xã

Tổ chức dịch vụ thu gom rác thải ở cấp xã chủ yếu hình thành tự phát, do địa phương có bức xúc về rác thải, các thôn, xóm tự cử ra người làm công tác thu gom, tự hạch toán kinh phí từ nguồn thu được của dân nên hiệu quả hoạt động rất thấp và không bền vững Do hình thành tự phát nên hoạt động của các tổ chức dịch vụ thu gom, xử lý rác thải ở cấp xã, thị trấn, thị tứ có sự khác nhau về qui mô tỏ chức, tỷ lệ rác thải được thu gom, số lần thu gom rác/ tuần, mức thu nhập của người thu gom…thể hiện ở trình độ quản lý và điều kiện

kinh tế ở mỗi địa phương

Trang 26

Việc tổ chức các dịch vụ thu gom rác thải ở cấp xã còn rất hạn chế

- Một số xã có tổ thu gom do thôn tự thành lập hoặc do HTX hoặc UBND

- Lượng rác do các tổ thu gom từ 25-80%, trung bình 38,57%

- Ở cấp xã, mức thu phí đối các hộ gia đình và hộ kinh doanh như nhau và rất thấp từ 899-2.000 đ/tháng, tất cả các xã điều tra đều chưa tổ chức thu phí đối với cơ quan và khu công cộng Kinh phí dành cho các hoạt động thu gom, xử lý rác thải ở cấp xã là rất hạn hẹp

- Lượng rác do các gia đình tự xử lý khá cao từ 10-65%

- Hiện tượng rác đổ bừa bãi ven các đường làng rất phổ biến

- Cũng như ở các thị trấn, rác thải do các tổ thu gom được đổ ra bãi rác lộ thiên sau đó dùng dầu hoả để đốt

b/ Các phương tiện sử dụng trong thu gom, xử lý rác thải

Các phương tiện sử dụng trong thu gom rác thải ở nông thôn rất đa dạng như: Xe đẩy, xe kéo tay, xe ngựa, xe cải tiến, xích lô Tuy nhiên xe đẩy như ở các đô thị đang sử dụng không phù hợp với nhiều vùng nông thôn do thùng xe nhỏ và di chuyển khó khăn do đường làng không phẳng và quãng đường thu gom quá dài nên nhiều địa phương được hỗ trợ loại xe này nhưng không sử dụng được; Xe công nông, xe cải tiến, xe ngựa không đảm bảo các yêu vệ sinh vận chuyển rác do thùng chứa không kín, nước rác rò rỉ ra ngoài

Trang 27

Nguồn cung cấp phương tiện thu gom rác thải đã có ở các xã chủ yếu tranh thủ từ các dự án, chương trình hỗ trợ của tỉnh Cấp xã chưa có kinh phí hỗ trợ

phương tiện cho các tổ thu gom

1.3.3 Các giải pháp công nghệ trong xử lý rác thải nông thôn

Có rất nhiều phương pháp để xử lý rác thải nhưng có 3 phương pháp được sử dụng nhiều hơn là chôn lấp, đốt và chế biến phân vi sinh Tỷ lệ xử lý rác thải bằng phương pháp chôn lấp chiếm 80%, làm phân vi sinh chiếm 6%

và các phương pháp khác chiếm 14% Hiện nay, do điều kiện về kinh tế cũng như điều kiện tự nhiên ở nông thôn chỉ phù hợp để áp dụng một số công nghệ

xử lý rác thải như sau:

 Xử lý bằng phương pháp Chôn lấp

Chôn lấp rác có ưu điểm là chi phí đầu tư, vận hành thấp nhưng đòi hỏi diện tích mặt bằng lớn, khó kiểm soát vấn đề rò rỉ nước rác gây ô nhiễm nước ngầm

Tại xã Vĩnh Quang thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị: Phân loại rác thải ngay tại gia đình, rác thải hữu cơ được tận dụng hoặc là chôn lấp ngay trong vườn nhà; rác thải vô cơ có thể đem bán cho người thu mua phế liệu như: chai nhựa, thuỷ tinh, sắt thép, đồ hộp, giấy…; các loại rác thải xây dựng, bao nilon, sành sứ… sẽ chứa trong thùng chờ thu gom đem đi chôn lấp

Rác thải sinh hoạt đã qua chôn lấp (khoảng 2 năm trở lên) có thể được đào lên để tách phần hữu cơ có khả năng lên men (chiếm khoảng 52%) sau đó

ủ 10 ngày thành phân hữu cơ sinh học

 Xử lý bằng phương pháp Chế biến phân vi sinh

Công nghệ xử lý rác thải hữu cơ làm phân vi sinh là một hướng công nghệ xử lý có rất nhiều ý nghĩa và lợi ích, phù hợp với điều kiện của các địa phương Hiện nay, ngoài việc chôn lấp rác thải, một số địa phương đã chú ý

Trang 28

đến công nghệ mới trong xử lý rác thải hữu cơ đó là xử lý bằng công nghệ thổi khí cưỡng bức (ủ hiếu khí) Đây là công nghệ có ưu điểm xử lý nhanh, tận dụng được chất hữu cơ trong rác thải để sản xuất phân bón, không gây ONMT không khí và nước ngầm

Chế biến phân rác là tận dụng được rác thải để sản xuất ra phân bón phục vụ nông nghiệp, tiết kiệm đất cho việc chôn lấp rác thải, phù hợp với nguồn rác thải nhiều thành phần hữu cơ, kết hợp xử lý cả phân hầm cầu và một số loại bùn cặn từ các hệ thống thoát nước đô thị Tuy nhiên, rác thải hữu

cơ sẽ rất khó tận dụng tái chế thành phân hữu cơ nếu không được phân loại tại nguồn Nếu ủ cả rác thải hỗn hợp thì không đảm bảo công nghệ ủ phân hữu

cơ và chất lượng phân hữu cơ

 Xử lý bằng phương pháp Tự tiêu huỷ:

Từ đặc thù của địa phương nông thôn, các hộ gia đình thường có diện tích tự nhiên rộng hơn so với ở đô thị, do đó có thể xử lý rác thải ở nông thôn nhờ tận dụng diện tích trong vườn của từng hộ để tự xử lý, giảm bớt rác thải

ra môi trường

Tự tiêu huỷ là hình thức khá phổ biến ở các vùng không có dịch vụ thu gom và tiêu huỷ rác thải Phương pháp tự tiêu huỷ rác thải ở khu vực đô thị và nông thôn được thống kê trong năm 2003 cho thấy: có khoảng gần 10% các

Trang 29

hộ gia đình cả đô thị và nông thôn đổ rác xuống sông, hồ, 17% số hộ dân đô thị và 55% số hộ dân nông thôn đổ rác ở gần nhà, một số phương pháp tự tiêu huỷ khác là đốt hoặc chôn lấp

Hố rác di động là một giải pháp cho môi trường nông thôn, hố rác gồm

2 phần là thùng và nắp, thùng rác là hố đất đào sâu 1,5-2m, nắp thùng được làm bằng vật liệu composite Tỉnh Thừa Thiên- Huế đang thử nghiệm mô hình rác di động tại gia đình Trung tâm Nước sạch và VSMT nông thôn Thừa Thiên - Huế dự kiến xây dựng 300 mô hình hố rác di động tại các hộ gia đình

và tiếp tục nhân rộng trong những năm tới

1.4 Đánh giá tác động giữa chính sách hiện hành và hệ thống quản lý môi trường ở vùng nông thôn

1.4.1 Đánh giá chung

a/ Những mặt tích cực

Cùng với việc hình thành hệ thống quản lý môi trường các cấp, tuy còn nhiều hạn chế do trong giai đoạn mới thành lập nhưng hoạt động của các hệ thống quản lý môi trường các cấp cũng đã những bước khới đầu cho công tác bảo vệ môi trường nói chung và quản lý rác thải nói riêng ở vùng nông thôn

- Ban hành quy chế BVMT trên địa bàn tỉnh Một số tỉnh như Bắc Ninh, Ninh Bình, Hưng Yên đã có chủ trương cho các địa phương được sử dụng

từ quỹ đất công cộng xây dựng bãi thu gom nước rác thải ở nông thôn

- Các địa phương cũng đã xây dựng mức thu phí VSMT (thị trấn Hồ, Nho Quan, Vân Đình, Lâm, Quất Lâm và Lương Bằng) làm cơ sở cho các tổ thu gom thực hiện thu phí

- Một số tỉnh đã lập qui hoạch môi trường và kế hoạch thực hiện trên địa bàn tỉnh làm cơ sở định hướng cho cấp huyện triển khai thực hiện

Trang 30

- Tuyên truyền, vận động nhân dân trong xã giữ gìn VSMT Tạo cơ, chế chính sách khuyến khích các tổ vệ sinh môi trường hoạt động

- Triển khai một số đề tài, dự án về môi trường từ ngân sách của tỉnh, tuy số lượng và nguồn kinh phí cho các đề tài, dự án chưa được nhiều Một số tỉnh như tỉnh Bắc Ninh đã trích từ ngân sách của tỉnh để trang bị xe thu gom rác thải đến tất cả các thôn trong tỉnh

b/ Những hạn chế/ thiếu hụt

Việc điểm lại các chính sách quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường và quản lý chất thải rắn đã cho thấy những thiếu hụt về văn bản pháp lý và những hạn chế trong các chính sách hiện hành đối việc triển khai thu gom, xử

lý rác thải ở các địa phương

 Thiếu các văn bản qui phạm pháp luật về quản lý chất thải rắn cho khu

vực nông thôn

Các văn bản qui phạm pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và về quản lý chất thải rắn nói riêng chủ yếu là những qui định và hướng dẫn về quản lý chất thải rắn cho các đô thị và khu công nghiệp

Cũng chính vì các lý do trên nên hầu hết các văn bản cấp tỉnh đã ban hành

về quản lý chất thải rắn chủ yếu vẫn là những qui định cho các đô thị và khu công nghiệp như các văn bản qui định về mức thu phí vệ sinh môi trường,

đơn giá dịch vụ công ích…

 Hệ thống tổ chức quản lý Nhà nước cấp cơ sở chưa đủ về số lượng và

năng lực để quản lý môi trường

Việc hình thành hệ thống quản lý Nhà nước về Tài nguyên và Môi trường mới được triển khai từ cuối năm 2002 cùng với việc thành lập Bộ mới, chuyên trách về quản lý tài nguyên và môi trường và hệ thống này mới được kiện toàn đến cấp tỉnh, thành phố (Sở Tài nguyên và Môi trường)

Trang 31

Ở cấp tỉnh, số lượng cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc sở trung bình 5,6 người, số cán bộ có chuyên môn về môi trường chiếm 50% và chủ yếu là các bộ trẻ mới ra trường Lực lượng cán bộ không đáp ứng được yêu cầu thực tế, đòi hỏi cấp thiết phải có sự kiện toàn bộ máy quản lý môi trường ở các tỉnh cả về số lượng và chất lượng

Ở cấp huyện, phòng Tài nguyên và Môi trường vừa mới (hoặc đang chuẩn bị) được tách ra từ phòng kinh tế chưa ổn định tổ chức để hoạt động

Số lượng cán bộ của phòng tài nguyên và môi trường cấp huyện trung bình là

3 người, và mới thực hiện được chức năng quản lý về tài nguyên đất Trong tương lai cần phải kiện toàn lại bộ máy quản lý môi trường ở các huyện cả về

số lượng và chất lượng

Việc thiếu cán bộ chuyên trách về tài nguyên và môi trường cũng như năng lực quản lý ở cấp cơ sở (huyện, xã) đang làm hạn chế công tác bảo vệ môi trường và thu gom, xử lý rác thải Cần phải được củng cố và nâng cao năng lực cho quản lý cho các cấp cơ sở

 Chưa thực hiện phân công trách nhiệm quản lý và phối hợp giữa các cấp,

các ngành trong triển khai thu gom, xử lý rác thải

Trong luật bảo vệ môi trường sửa đổi năm 2005 đã qui định rõ trách nhiệm của các cấp (tỉnh, huyện, xã) về bảo vệ môi trường Nghị định số 81/2006/NĐ - CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cũng đã qui định quyền hạn của UBND các cấp trong lĩnh vực xử phạt các hành vi vi phạm về môi trường Nhưng trong thực tế mới chỉ có cấp tỉnh triển khai một số nhiệm vụ, cấp huyện và xã thì chưa triển khai các nhiệm vụ

và thực thi các quyền hạn trong công tác bảo vệ môi trường Một số địa phương đã có những hoạt động khởi đầu về công tác thu gom rác thải như: Thành lập các tổ thu gom tự quản, tổ chức thu phí nhưng chủ yếu là hình thành tự phát do quá bức xúc về ô nhiễm môi trường, thôn (xóm) cử người để

Trang 32

giải quyết tạm thời mà chưa có sự chỉ đạo, hỗ trợ của các chính quyền địa phương

Để triển khai thu gom, xử lý rác thải ở cấp cơ sở cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của các cấp địa phương, sự phân công trách nhiệm cụ thể trên các lĩnh vực: Trách nhiệm về tài chính, về tổ chức thực hiện, về quản lý

 Hiệu lực thực thi của luật pháp và chính sách quản lý rác thải đối với các

cấp cơ sở còn yếu

Sự hạn chế này là điểm yếu trong công tác bảo vệ môi trường nói chung ở nước ta đã được thừa nhận và đang được các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường cố gắng khắc phục Riêng đối với vùng nông thôn, sự yếu kém này lại càng nặng nề hơn bởi lẽ không chỉ thiếu các văn bản pháp qui cần thiết và hướng dẫn thực hiện làm cơ sở pháp lý cho việc tổ chức thực hiện ở huyện, xã Thực trạng tình trạng ô nhiễm môi trường do rác thải ngày càng gia tăng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu ở khu vực nông thôn đã chứng minh cho sự yếu kém về hiệu lực thực thi luật pháp và chính sách bảo vệ môi trường đối với cấp cơ sở

1.4.2 Đánh giá chung về hiện trạng quản lý rác thải ở cấp xã vùng ĐBSH

Trang 33

- Một số xã cũng có quy hoạch bãi rác thải chung cho toàn xã; hoặc có chủ trương cho các thôn tự tìm đất quy hoạch bãi rác cho thôn

- Có sự hỗ trợ kinh phí thu gom, xử lý rác thải hàng năm từ nguồn ngân sách xã

- Thiếu kinh phí đầu tư mua sắm các phương tiện cho công tác thu gom, xử

lý rác, cũng như việc xây dựng một bãi rác thải đạt tiêu chuẩn VSMT

- Phí VSMT thu trong dân thấp nên rác thải chưa được tổ chức thu gom, xử

lý hàng ngày

Về huy động cộng đồng

- Ý thức về việc giữ gìn VSMT của một số người dân còn chưa cao, hiện tượng vứt, đổ rác bừa ngoài đường còn xảy ra ở nhiều hộ gia đình

Trang 34

- Một số chính quyền xã hiện chưa bố trí được quỹ đất làm bãi rác Đồng thời thiếu kinh phí đền bù hoa màu, giải phóng mặt bằng để xây dựng bãi rác

1.5 Sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý, thu gom và xử lý rác thải

1.5.1 Công tác triển khai các văn bản qui phạm pháp luật nhằm huy động cộng đồng tham gia thu gom, xử lý rác thải ở nông thôn

Dựa trên các văn bản qui phạm pháp luật của Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan Các địa phương cũng đã triển khai một số văn bản liên quan đến huy động cộng đồng tham gia thu gom, xử lý rác thải (Bảng 1.2)

Bảng 1.2: Loại văn bản của công tác bảo vệ môi trường áp dụng ở các

cấp

Tỉnh - Luật BVMT và nghị định 81-CP hướng dẫn thi hành luật BVMT

- QĐ số 64/2003/QĐ-TTg về xử lý triệt để các cơ sở gây ONMT

- NQ 41–NQ/TW về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH

Trang 35

giữ gìn VSMT trên địa bàn

Thị tứ - Hương ước, quy định của thôn về việc giữ gìn VSMT

Xã - CV 852/BNN-NSNT về hưởng ứng tuần lễ quốc gia NS và

- Không phải chi phí xây dựng ban đầu thấp (không đáng kể) do tận dụng các cơ sở sẵn có của gia đình, sản xuất thủ công, không tốn tiền mua trang thiết bị

- Nguồn nguyên liệu là bã dong có sẵn không mất tiền mua, không mất công thu gom, phân loại như rác thải

- Qui trình sản xuất đơn giản: Phần lớn bã dong lấy từ kênh mương đã phân huỷ, chỉ cần để ráo nước, ủ sơ bộ và chế biến thành phân bón

 Ông Trần Danh Hùng (Thị xã Bắc Giang), từ 1996 - 2002 đã thu gom và chế biến 125 vạn tấn rác thải và sản xuất 2.500 tấn phân bón vi sinh phục vụ sản xuất nông nghiệp Giải quyết việc làm thường xuyên cho 9 nhân công, sản phẩm phân vi sinh của ông với thương hiệu Hùng Thuận đã có mặt trên thị trường và được người nông dân chấp nhận Thành công của ông Hùng cũng

Trang 36

có những nguyên nhân tương tự ông Sinh:

- Phần lớn nguyên liệu sản xuất là các chất mùn hữu cơ do ông khai thác từ bãi rác cũ của thị xã Bắc Giang mà không mất tiền mua hoặc đi thu gom, phân loại

- Công nghệ sản xuất hoàn toàn thủ công: Thuê người dân trong vùng đào các bãi rác và sàng lấy chất mùn hữu cơ, ủ thêm 10-20 ngày, trộn thêm than bùn, N, P, K và các chế phẩm vi sinh làm phân bón

- Chi phí đầu tư ban đầu: Máy móc, thiết bị, nhà xưởng… không đáng kể

 Tại thôn Lai Xá, xã Kim Chung - Hoài Đức - Hà Tây được sự hỗ trợ của Tổ chức Thanh niên với sứ mệnh nhân đạo và phát triển Châu Á (YWAM) đã tổ chức phân loại rác tại gia đình Rác thải hữu cơ được sử dụng để sản xuất phân vi sinh, rác thải vô cơ được đem đổ vào bãi rác đã qui hoạch Tuy nhiên, bãi rác chưa được thiết kế theo tiêu chuẩn bãi chôn lấp hợp vệ sinh Việc quản

lý vận hành và duy trì mô hình vẫn còn là vấn đề cần được quan tâm

 Năm 2002, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển NN bền vững của trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội đã triển khai một dự án nhỏ thử nghiệm thu gom và phân loại rác hữu cơ tại gia đình Kết quả thử nghiệm cho thấy công tác tuyên truyền vận động cộng đồng có tác dụng rất tốt để tăng sự hiểu biết

và hưởng ứng của dân chúng, cộng đồng Tuy nhiên, sự hỗ trợ này phải được thực hiện kiên trì, nhiều năm đến vài thế hệ mới trở thành thói quen xã hội

 Xã Vạn Phúc, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây được dự án của Nhật Bản tài trợ nhằm nâng cao nhận thức của người dân, thu gom, phân loại rác ngay tại các

hộ gia đình Dự án chỉ dừng lại ở việc vận động cộng đồng, thu gom, phân loại rác mà không có các phương án xử lý triệt để cho từng loại rác nên sau khi thu gom các loại rác lại được trộn lẫn vào nhau làm mất đi tính bền vững, lâu dài của mô hình

Trang 37

 Xã Gio Mỹ - huyện Gio Linh - tỉnh Quảng Trị đã thành lập Đội tình nguyện xanh và công tác truyền thông môi trường 70 người, gồm thanh niên, học sinh cấp 1, 2 Đồng thời kết hợp với các ban ngành đoàn thể trong xã phát động làm VSMT trên địa bàn xã vào ngày 10 và 20 hàng tháng Kết hợp với ban thông tin văn hoá xã tổ chức những đợt tuyên truyền về môi trường với nhiều nội dung như đọc bản tin về môi trường, các quy định trong hương ước

 Một số hoạt động nâng cao nhận thức BVMT, cải thiện điều kiện sống và đấu tranh ngăn ngừa ONMT Trong đó, tập huấn nâng cao nhận thức BVMT cho lãnh đạo chủ chốt, ban ngành đoàn thể; toàn thể hội viên hội làm vườn; toàn bộ tổ trưởng nhân dân; các chi hội trưởng của hai tổ chức Thanh niên và Phụ nữ tại các địa phương: Thị trấn Yên Bình (Yên Bái); Xã Tam Hiệp (Hà Nội); xã Tràng Phái (Lạng Sơn); Xã Vĩnh Quang (Quảng Trị)

Trên cơ sở những đặc thù của nông thôn và những qui định chung của pháp luật cũng như chính sách quản lý môi trường nói chung, sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường khu vực nông thôn hiện mới chỉ mang tính chất tự phát

1.3.3 Đánh giá những mặt tích cực, những tồn tại trong công tác huy động cộng đồng tham gia thu gom, xử lý rác thải

a/ Những mặt tích cực

- Chính phủ và các bộ ngành đã quan tâm đến việc huy động cộng đồng, trong nhiều văn bản qui phạm pháp luật đã có những qui định về sự huy động của cộng đồng trong quản lý môi trường nói chung và thu gom, xử lý rác thải nói riêng

- Nhiều cơ quan, các nhà khoa học quan tâm đến việc thu gom, xử lý rác thải đã có những đề tài, dự án nghiên cứu, thử nghiệm nhằm giúp Nhà nước tìm ra những giải pháp tích cực Để giải quyết vấn đề rác thải sinh

Trang 38

hoạt trong thời điểm này là có sự tham gia tích cực của cộng đồng như: Công ty môi trường đô thị, Hội bảo vệ thiên nhiên môi trường Việt Nam, Cục Bảo vệ môi trường, HTX dịch vụ thu gom, xử lý rác thải, đô thị đã có những chương trình tuyên truyền, vận động người dân cùng tham gia quản

lý, giám sát và thực hiện việc thu gom rác thải ở từng địa bàn khu dân cư

- Ý tưởng và phương pháp phát huy vai trò của cộng đồng tham gia cùng bảo vệ môi trường và thực hiện vệ sinh môi trường được gọi là “xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường” dựa trên nguyên tắc “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, “cơ chế phát huy dân chủ cơ sở” Trong chương trình Nghị sự 21 (Hội nghị Quốc tế RIO- 92

về môi trường và phát triển) cũng đã nhấn mạnh “các vấn đề môi trường được giải quyết tốt nhất với sự tham gia của công chúng có liên quan ở cấp

độ thích hợp”, nhằm tăng quyền làm chủ và trách nhiệm cộng đồng trong bảo vệ môi trường

- Trong báo cáo kiểm điểm 4 năm thực hiện chỉ thị số 36 CT/TW của Bộ Chính trị cũng đã nêu lên nguyên nhân và tồn tại của công tác vệ sinh môi trường nước ta là “tổ chức quản lý môi trường các cấp chưa kết hợp tốt giữa quản lý Nhà nước với việc xã hội hoá bảo vệ môi trường” Việc huy động cộng đồng dân cư tham gia quản lý và bảo vệ môi trường là cần thiết

vì sẽ kết gắn được quyền hưởng lợi với trách nhiệm và nghĩa vụ của họ đối với môi trường sống, đồng thời giúp Nhà nước tăng được hiệu lực quản lý

và hiệu quả kinh tế trong vấn đề bảo vệ môi trường Vì vậy, trong những năm gần đây, công tác thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt ở các thành phố và khu dân cư trên toàn quốc đã có những thay đổi và tiến bộ rõ rệt và đặc biệt là công tác thu gom rác

b/Những tồn tại, khó khăn

Trang 39

- Công tác thu gom, xử rác thải sinh hoạt ở một số địa phương đã được quan tâm nhưng việc tổ chức và đầu tư chưa đồng bộ

- Nhà nước và các tổ chức quần chúng chưa phối hợp chặt chẽ công tác giáo dục tuyên truyền nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường sinh hoạt cho mọi người dân, vì vậy, ý thức thải, vứt rác nơi công cộng, nhà hàng của dân chúng rất kém Việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng đối với công tác thu gom, đổ rác sạch đường phố, sạch làng xóm đã có nhưng chưa chú ý đến vấn đề phân loại rác tại nguồn

- Người dân chưa có ý thức và thói quen giữ vệ sinh nơi công cộng bằng đổ rác, vứt rác đúng chỗ, đúng lúc Đây có lẽ là tồn tại và khó khăn lớn nhất cho công tác giải quyết rác thải sinh hoạt, bảo vệ môi sống của cộng đồng

Trang 40

Chương 2 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ RÁC THẢI TẠI XÃ AN MỸ,

HUYỆN MỸ ĐỨC, TỈNH HÀ TÂY 2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội

2.1.1 Vị trí địa lý

Xã An Mỹ nằm ở trung tâm 9 xã phía Bắc huyện Mỹ Đức - Tỉnh Hà Tây, cách huyện lỵ 9 km về phía Bắc và cách thị xã Hà Đông 30 km về phía Nam Phía Bắc giáp với xã Bột Xuyên, phía Nam giáp với xã Hồng Sơn và Lê Thanh, phía Tây giáp xã Tuy Lai và phía Đông giáp huyện Ứng Hoà

Tổng diện tích đất tự nhiên xã An Mỹ là 579,63ha, với diện tích đất nông nghiệp là 372,98 ha; chiếm 64,3% diện tích tự nhiên Diện tích đất thổ cư 58,49ha (chiếm 10,1% diện tích đất tự nhiên) Ngoài ra, An Mỹ có một diện tích ao hồ khá lớn với 30,70ha (chiếm 5,3% diện tích tự nhiên), chủ yếu để nuôi trồng thuỷ sản và phát triển kinh tế trang trại theo mô hình VAC

Toàn bộ diện tích đất tự nhiên của xã đều đã được đưa vào sử dụng cho các mục đích khác nhau, không có diện tích đất bỏ hoang

2.1.2 Dân số và phân bố dân cư

Dân số toàn xã An Mỹ là 6.424 người với 1.484 hộ Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2005 là 0,8% Dự báo tỉ lệ tăng dân số từ 2006 - 2015 là 0,72% Mật độ dân số tự nhiên là 1.108 người/km2; mật độ dân số trong khu dân cư 10.983 người/km2

Toàn xã có 2.640 lao động (chiếm 41,1% dân số), trong đó 2.244 lao động trong ngành nông nghiệp (chiếm 85% số lao động), 396 lao động phi nông nghiệp bao gồm các ngành tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại và các ngành nghề khác (chiếm 15%)

Ngày đăng: 26/03/2015, 08:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Các phương pháp tham gia trong quản lý tài nguyên tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng 1, 2, 3, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường dịch và biên soạn; NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp tham gia trong quản lý tài nguyên tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng
Tác giả: Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
2. Xã hội học môi trường, Vũ Cao Đàm chủ biên (2002), NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học môi trường
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2002
3. Nguồn: Dự án “Tổng hợp, xây dựng các mô hình thu gom, xử lý rác thải cho các thị trấn, thị tứ, cấp huyện cấp xã”, Viện Khoa học Thuỷ lợi (2006-2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn: Dự án “Tổng hợp, xây dựng các mô hình thu gom, xử lý rác thải cho các thị trấn, thị tứ, cấp huyện cấp xã”
4. Chiến lược, chính sách và luật pháp về môi trường và phát triển bền vững, Tập bài giảng cho lớp cao học, Nguyễn Ngọc Sinh (2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược, chính sách và luật pháp về môi trường và phát triển bền vững
6. Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển Kinh tế- Xã hội năm 2004-2005 và nhiệm vụ phát triển Kinh tế – Xã hội năm 2006 – 2010, Xã An Mỹ, Huyện Mỹ Đức, Hà Tây Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Thành phần và khối lượng rác thải ở Việt Nam - Nghiên cứu các giải pháp huy động cộng đồng trong quản lý rác thải tại xã An Mỹ, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Bảng 1.1 Thành phần và khối lượng rác thải ở Việt Nam (Trang 13)
Bảng 1.2: Loại văn bản của công tác bảo vệ môi trường áp dụng ở các - Nghiên cứu các giải pháp huy động cộng đồng trong quản lý rác thải tại xã An Mỹ, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Bảng 1.2 Loại văn bản của công tác bảo vệ môi trường áp dụng ở các (Trang 34)
Bảng 2.1:  Cơ cấu các ngành kinh tế xã An Mỹ và định hướng - Nghiên cứu các giải pháp huy động cộng đồng trong quản lý rác thải tại xã An Mỹ, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Bảng 2.1 Cơ cấu các ngành kinh tế xã An Mỹ và định hướng (Trang 42)
Bảng 2.5: Tình hình sử dụng chất thải hộ gia đình xã An Mỹ - Nghiên cứu các giải pháp huy động cộng đồng trong quản lý rác thải tại xã An Mỹ, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Bảng 2.5 Tình hình sử dụng chất thải hộ gia đình xã An Mỹ (Trang 47)
Hình 2.1: MỘT GÓC CỦA BÃI RÁC XÃ AN MỸ - Nghiên cứu các giải pháp huy động cộng đồng trong quản lý rác thải tại xã An Mỹ, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Hình 2.1 MỘT GÓC CỦA BÃI RÁC XÃ AN MỸ (Trang 59)
Bảng 2.10: Kết quả phân tích nước rích bãi rác xã An Mỹ - Nghiên cứu các giải pháp huy động cộng đồng trong quản lý rác thải tại xã An Mỹ, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Bảng 2.10 Kết quả phân tích nước rích bãi rác xã An Mỹ (Trang 61)
Hình 2.2: XE CÔNG NÔNG THU GOM RÁC TẠI XÃ AN MỸ - Nghiên cứu các giải pháp huy động cộng đồng trong quản lý rác thải tại xã An Mỹ, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Hình 2.2 XE CÔNG NÔNG THU GOM RÁC TẠI XÃ AN MỸ (Trang 63)
3.3.2  Sơ đồ quản lý rác thải xã An Mỹ - Nghiên cứu các giải pháp huy động cộng đồng trong quản lý rác thải tại xã An Mỹ, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
3.3.2 Sơ đồ quản lý rác thải xã An Mỹ (Trang 73)
Hình 3.2: CƠ CẤU TỔ CHỨC TỔ THU GOM RÁC THẢI AN MỸ - Nghiên cứu các giải pháp huy động cộng đồng trong quản lý rác thải tại xã An Mỹ, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Hình 3.2 CƠ CẤU TỔ CHỨC TỔ THU GOM RÁC THẢI AN MỸ (Trang 74)
Hình 3.3: SƠ ĐỒ TỔ CHỨC ĐỘI THU GOM XÃ AN MỸ - Nghiên cứu các giải pháp huy động cộng đồng trong quản lý rác thải tại xã An Mỹ, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Hình 3.3 SƠ ĐỒ TỔ CHỨC ĐỘI THU GOM XÃ AN MỸ (Trang 76)
Hình 3.4: DỤNG CỤ LƯU CHỨA RÁC TẠI CÁC GIA ĐÌNH - Nghiên cứu các giải pháp huy động cộng đồng trong quản lý rác thải tại xã An Mỹ, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Hình 3.4 DỤNG CỤ LƯU CHỨA RÁC TẠI CÁC GIA ĐÌNH (Trang 80)
Hình 3.5: THIẾT BỊ LƯU CHỨA RÁC TẠI CƠ QUAN VÀ KHU CÔNG CỘNG - Nghiên cứu các giải pháp huy động cộng đồng trong quản lý rác thải tại xã An Mỹ, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Hình 3.5 THIẾT BỊ LƯU CHỨA RÁC TẠI CƠ QUAN VÀ KHU CÔNG CỘNG (Trang 81)
Hình 3.7: XE THU GOM KÉO TAY  DUNG TÍCH 0,6- 0,8 m 3 - Nghiên cứu các giải pháp huy động cộng đồng trong quản lý rác thải tại xã An Mỹ, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Hình 3.7 XE THU GOM KÉO TAY DUNG TÍCH 0,6- 0,8 m 3 (Trang 82)
Bảng 3.1: Quy hoạch mạng lưới tuyến thu gom rác thải xã An Mỹ - Nghiên cứu các giải pháp huy động cộng đồng trong quản lý rác thải tại xã An Mỹ, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Bảng 3.1 Quy hoạch mạng lưới tuyến thu gom rác thải xã An Mỹ (Trang 83)
Hình 3.8: CẤU TẠO HỐ Ủ RÁC HỮU CƠ THEO PHƯƠNG PHÁP YẾM KHÍ - Nghiên cứu các giải pháp huy động cộng đồng trong quản lý rác thải tại xã An Mỹ, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Hình 3.8 CẤU TẠO HỐ Ủ RÁC HỮU CƠ THEO PHƯƠNG PHÁP YẾM KHÍ (Trang 84)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w