ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG --- BÙI NGUYÊN PHỔ NGHIÊN CỨU CÁC CHỨC NĂNG HỆ SINH THÁI ĐẤT NGẬP NƯỚC HỒ TÂY VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA PHÁT TRIỂN Đ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thủ đô Hà Nội là một trong những trung tâm phát triển kinh tế, chính trị, xã hội
lớn nhất nước ta (cùng với TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng…) Bên
cạnh vai trò và vị trí quan trọng của mình trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị
và xã hội, Hà Nội còn được biết đến như là một thành phố của ao, hồ, sông
ngòi… với khoảng 20 hồ trong khu vực nội thành có diện tích mặt nước khoảng
765ha (Hoàng Văn Thắng, Lê Diên Dực, 2010) Trong các thủy vực đó, hồ là
loại thủy vực khá lớn với vai trò và có tầm quan trọng liên quan trực tiếp đến
đời sống văn hóa, phong tục tập quán và nuôi trồng thủy sản của cư dân sống
trong khu vực
Trong số các ao hồ tại thủ đô Hà Nội, Hồ Tây tại quận Tây Hồ là hồ tự nhiên
lớn nhất với diện tích được xác định là 527,517ha (theo nghiên cứu của Viện
ST Tài nguyên và Sinh Vật, 2011), dung tích nước khoảng 9 triệu m3
(một số ý kiến khác cho rằng hiện nay diện tích của Hồ Tây nhỏ hơn - ước đạt chỉ còn
khoảng 517ha)
Hồ Tây được xem là một cảnh quan thiên nhiên đẹp và độc đáo ở ngay nội
thành Hà Nội, đây là địa danh gắn liền với lịch sử của dân tộc Việt Nam nói
chung và lịch sử của thủ đô Hà Nội nói riêng Với vị trí nằm ở trung tâm của
thủ đô Hà Nội, ngoài chức năng điều hòa không khí, Hồ Tây còn có nhiều giá
trị/chức năng khác như: nuôi trồng thủy sản, tiếp nhận và điều tiết nước ngầm,
kiểm soát ngập lụt và dòng chảy, tiếp nhận và giữ chất lắng đọng, tiếp nhận và
giữ chất dinh dưỡng, vui chơi giải trí và du lịch… (Hoàng Văn Thắng, 2003)
Có thể thấy rằng Hồ Tây là một sinh cảnh rất quan trọng trong cân bằng sinh
thái và bảo vệ môi trường của thủ đô Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy các giá
trị của Hồ Tây cần được tiến hành cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, văn hóa
và du lịch của thủ đô Hà Nội Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển đô thị và đặc
biệt là quá trình đô thị hóa hiện nay, diện tích hồ ngày càng bị thu hẹp Các
chức năng hệ sinh thái của hồ đã và đang có nhiều thay đổi thay đổi - chủ yếu
theo hướng xấu đi Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu ngày càng trở nên hiện hữu
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
-
BÙI NGUYÊN PHỔ
NGHIÊN CỨU CÁC CHỨC NĂNG HỆ SINH THÁI ĐẤT NGẬP NƯỚC HỒ TÂY VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội - Năm 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
-
BÙI NGUYÊN PHỔ
NGHIÊN CỨU CÁC CHỨC NĂNG HỆ SINH THÁI ĐẤT NGẬP NƯỚC HỒ TÂY VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG
CỦA PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ TỚI CÁC CHỨC NĂNG ĐÓ
Chuyên ngành: Môi trường trong Phát triển bền vững
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS HOÀNG VĂN THẮNG
Hà Nội - Năm 2012
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii Mục lục iii Danh mục chữ viết tắt vi Danh mục các bảng vii Danh mục các hình vẽ, đồ thị viii MỞ ĐẦU 1 1 Lý do chọn đề tài ……… 1
2 Mục tiêu nghiên cứu ……… 2
3 Phạm vi nghiên cứu ……… 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3 1.1 Các khái niệm ……… 3
1.1.1 Hệ sinh thái đất ngập nước ……… 3
1.1.2 Phát triển đô thị ……… 7
1.2 Các nghiên cứu về ĐNN và phát triển đô thị trên thế giới ……… 8
1.3 Nghiên cứu về ĐNN và phát triển đô thị tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng ……… 11
1.4 Các nghiên cứu liên quan tới Hồ Tây ……… 13
CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu ……… 17
2.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ……… 17
2.2.1 Phương pháp luận ……… 17
2.2.2 Các phương pháp nghiên cứu 20
Trang 4MỤC LỤC
Trang
3.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội ……… 22
3.1.1 Điều kiện tự nhiên của Hồ Tây ……… 22
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội ……… 23
3.2 Hiện trạng môi trường và đặc điểm hệ sinh thái Hồ Tây 28
3.2.1 Hiện trạng môi trường Hồ Tây 28
3.2.2 Đặc điểm hệ sinh thái Hồ Tây 32
3.2.3 Chức năng hệ sinh thái Hồ Tây 41
3.3 Ảnh hưởng của phát triển đô thị tới các chức năng của hệ sinh thái Hồ Tây 50
3.3.1 Phát triển đô thị ở quận Tây Hồ 50
3.3.2 Các công trình thu gom và xử lý nước thải xung quanh hồ Tây 55 3.3.3 Ảnh hưởng của phát triển đô thị và đô thị hóa tới các chức năng của Hồ Tây 55
3.3.4 Đề xuất các giải pháp quản lý hệ sinh thái hồ Tây 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC 77 Phụ lục 1 Danh sách các đơn vị, tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh xung quanh Hồ Tây 77
Phụ lục 2 Các doanh nghiệp cùng với số tàu du lịch, xuồng và thuyền hoạt động trên Hồ Tây 82
Phụ lục 3 Tổng hợp các di tích lịch sử khu vực Hồ Tây 83
Phụ lục 4 Một số làng nghề xưa ở ven Hồ Tây 90
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Phụ lục 5 Thành phần loài thực vật nổi tại Hồ Tây ………… 98 Phụ lục 6 Thành phần loài động vật nổi Hồ Tây 101
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Diện tích mặt nước của Hồ Tây ……… 22
Bảng 3.2 Cơ sở hạ tầng xung quanh Hồ Tây ……… ……… 26
Bảng 3.3 Số lượng loài và họ của các nghành nhóm ĐVKXSCL ở Hồ Tây 35 Bảng 3.4 Tổng hợp sự đa dạng của các taxon thực vật bậc cao có mạch … 35 Bảng 3.5 Giá trị và chức năng của các hồ Hà Nội ……… 41
Bảng 3.6 Sản lượng cá (kg) khai thác hàng năm ở Hồ Tây ……… 42
Bảng 3.7 Danh mục di tích Lịch sử - văn hóa đã xếp hạng ……… 45
Bảng 3.8 Dân số trung bình quận Tây Hồ ……… 50
Bảng 3.9 Thay đổi diện tích đất từ năm 2000 – 2011 ……… 51
Bảng 3.10 Các cống thoát nước và lượng nước thải ……… 57
Bảng 3.11 So sánh chất lượng nước Hồ Tây từ năm 2003 – 2011 …… 59
Bảng 3.12 Khối lượng chất thải rắn tại khu vực Hồ Tây 6 tháng đầu năm 2011 ……… 61
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Đất ngập nước thường tồn tại tại những nơi chuyển tiếp giữa
HST trên cạn và HST thủy sinh thường xuyên ……… 4
Hình 1.2 Mối liên quan giữa các dịch vụ HST với các thành tố của cuộc sống thịnh vượng ……… 7
Hình 2.1 Bản đồ hành chính Hà Nội và vị trí của Hồ Tây ……… 17
Hình 3.1 Một số hình ảnh về CSHT khu vực quanh hồ ……… 27
Hình 3.2 Một số loại cây xanh ven đường ……… 40
Hình 3.3 Một số di tích lịch sử nổi tiếng xung quanh Hồ Tây ……… 46
Hình 3.4 Minh họa trục đường Hồ Tây – Ba Vì ……… 49
Hình 3.5 Công trình đang xây dựng ven hồ ……… 51
Hình 3.6 Quy hoạch quận tới Tây Hồ năm 2020 ……… 52
Hình 3.7 Một số hoạt động du lịch, dịch vụ, nhà hàng ……… 54
Hình 3.8 Dự án trạm xử lý nước thải Hồ Tây đang được xây dựng …… 55
Hình 3.9 Kè bờ và các công thải xung quanh Hồ Tây ……… 56
Hình 3.10 Vị trí các cống thải lớn tại khu vực Hồ Tây ……… 58
Hình 3.11 Biến đổi hàm lượng BOD5 tại Hồ Tây trong 20 năm …… 60
Hình 3.12 Chất thải rắn ven hồ ……… 61
Hình 3.13 Tỷ lệ khối lượng chất thải rắn theo nhóm trong năm 2011 61
Hình 3.14 Cá chết tại Hồ Tây ……… 62
Hình 3.15 Một số loài ngoại lai xuất hiện ở Hồ Tây trong những năm gần đây ……… 63 Hình 3.16 Sơ đồ thể hiện các ảnh hưởng từ quá trình phát triển đô thị … 65
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thủ đô Hà Nội là một trong những trung tâm phát triển kinh tế, chính trị, xã hội
lớn nhất nước ta (cùng với TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng…) Bên
cạnh vai trò và vị trí quan trọng của mình trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị
và xã hội, Hà Nội còn được biết đến như là một thành phố của ao, hồ, sông
ngòi… với khoảng 20 hồ trong khu vực nội thành có diện tích mặt nước khoảng
765ha (Hoàng Văn Thắng, Lê Diên Dực, 2010) Trong các thủy vực đó, hồ là
loại thủy vực khá lớn với vai trò và có tầm quan trọng liên quan trực tiếp đến
đời sống văn hóa, phong tục tập quán và nuôi trồng thủy sản của cư dân sống
trong khu vực
Trong số các ao hồ tại thủ đô Hà Nội, Hồ Tây tại quận Tây Hồ là hồ tự nhiên
lớn nhất với diện tích được xác định là 527,517ha (theo nghiên cứu của Viện
ST Tài nguyên và Sinh Vật, 2011), dung tích nước khoảng 9 triệu m3
(một số ý kiến khác cho rằng hiện nay diện tích của Hồ Tây nhỏ hơn - ước đạt chỉ còn
khoảng 517ha)
Hồ Tây được xem là một cảnh quan thiên nhiên đẹp và độc đáo ở ngay nội
thành Hà Nội, đây là địa danh gắn liền với lịch sử của dân tộc Việt Nam nói
chung và lịch sử của thủ đô Hà Nội nói riêng Với vị trí nằm ở trung tâm của
thủ đô Hà Nội, ngoài chức năng điều hòa không khí, Hồ Tây còn có nhiều giá
trị/chức năng khác như: nuôi trồng thủy sản, tiếp nhận và điều tiết nước ngầm,
kiểm soát ngập lụt và dòng chảy, tiếp nhận và giữ chất lắng đọng, tiếp nhận và
giữ chất dinh dưỡng, vui chơi giải trí và du lịch… (Hoàng Văn Thắng, 2003)
Có thể thấy rằng Hồ Tây là một sinh cảnh rất quan trọng trong cân bằng sinh
thái và bảo vệ môi trường của thủ đô Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy các giá
trị của Hồ Tây cần được tiến hành cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, văn hóa
và du lịch của thủ đô Hà Nội Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển đô thị và đặc
biệt là quá trình đô thị hóa hiện nay, diện tích hồ ngày càng bị thu hẹp Các
chức năng hệ sinh thái của hồ đã và đang có nhiều thay đổi thay đổi - chủ yếu
theo hướng xấu đi Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu ngày càng trở nên hiện hữu
Trang 10nhất là các hiện tượng thời tiết cực đoan như mưa lớn, ngập lụt, nắng nóng,… Bởi vậy, việc “Nghiên cứu các chức năng hệ sinh thái ĐNN Hồ Tây và những ảnh hưởng của phát triển đô thị tới các chức năng đó” để nhận thức được tầm quan trọng và có thể đưa ra biện pháp nhằm duy trì, bảo vệ tính đa dạng sinh học trong hệ sinh thái hồ, bảo đảm chất lượng môi trường hồ ở mọi khía cạnh trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội là việc làm hết sức quan trọng và cấp thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vào các mục tiêu sau:
- Xác định hiện trạng các chức năng của hệ sinh thái ĐNN Hồ Tây
- Xác định các đặc trưng của phát triển đô thị tại khu vực quận Tây Hồ
- Nghiên cứu cứu những ảnh hưởng của các hoạt động phát triển đô thị tới các chức năng, từ đó đề xuất các giải pháp để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực, phát huy những mặt tích cực để việc sử dụng, khai thác Hồ Tây được hiệu quả và bền vững
3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu tại khu vực Hồ Tây và quận Tây
Hồ - là khu vực có vị trí và vai trò quan trọng của thành phố Hà Nội, trong
đó đề tài tập trung vào Hồ Tây và khu vực xung quanh Hồ Tây
- Phạm vi về chuyên môn: Đề tài tập trung nghiên cứu đến các khía cạnh sau:
(1) ĐNN đô thị và các chức năng của chúng;
(2) Tác động/ ảnh hưởng của phát triển đô thị lên các chức năng của ĐNN
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Hệ sinh thái đất ngập nước
Định nghĩa ĐNN: Có nhiều định nghĩa về ĐNN, có thể kể vài định nghĩa tại
một số quốc gia như sau:
(1) Theo định nghĩa của Cơ quan Thủy sản và Động vật Hoang dã của Hoa Kỳ:
“ĐNN là những đất chuyển tiếp giữa hệ trên cạn và hệ thủy sinh Ở đó, mực nước ngầm thường gần với mặt đất hay đất bao phủ bởi lớp nước nông… ĐNN phải có một hay một số trong 3 thuộc tính sau đây: (1) ít nhất định kỳ đất phải
hỗ trợ thực vật thủy sinh chiếm ưu thế; (2) nền đáy phải là đất luôn ẩm ướt; và (3) nền đáy không phải là đất thông thường và bão hòa nước hoặc bị bao phủ bởi nước nông trong thời gian sinh trưởng của mỗi năm” (Corwardin và nnk,
1979, trong Lê Diên Dực và Hoàng Văn Thắng, 2012)
(2) Theo các nhà khoa học Canada: “ĐNN là đất bão hòa nước trong thời gian
dài đủ để hỗ trợ cho các quá trình thủy sinh Đó là những nơi khó tiêu thoát nước, có thực vật thủy sinh và các hoạt động sinh học thích hợp với môi trường
ẩm ướt” (Lê Văn Khoa, Nguyễn Cử, Trần Thiện Cường, Nguyễn Xuân Huân, 2008)
(3) Theo các nhà khoa học New Zealand: “ĐNN là một khái niệm chung để chỉ
những vùng đất ẩm ướt từng thời kỳ hoặc thường xuyên, Những vùng ngập nước ở mức cạn và những vùng chuyển tiếp giữa đất và nước Nước có thể là nước ngọt, nước lợ hoặc nước mặn ĐNN ở trạng thái tự nhiên hoặc đặc trưng bởi các loại thực vật và động vật thích hợp với điều kiện sống ẩm ướt” (Lê Văn Khoa, Nguyễn Cử, Trần Thiện Cường, Nguyễn Xuân Huân, 2008)
(4) Theo các nhà khoa học Úc: “ ĐNN là những vùng đầm lầy, bãi lầy than
bùn, tự nhiên hoặc nhân tạo, theo mùa hoặc theo chu kỳ, nước tĩnh hoặc nước
chảy, nước ngọt, nước lợ hoặc nước mặn, bao gồm cả những bãi lầy và những khu rừng ngập mặn lộ ra khi thủy triều thấp” (Lê Văn Khoa, Nguyễn Cử, Trần Thiện Cường, Nguyễn Xuân Huân, 2008)
Trang 12(5) Theo Công ước Ramsar, 1971: Đất ngập nước được định nghĩa như sau:
“ĐNN được coi là những vùng đầm lầy, đầm lầy than bùn, những vực nước,
bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, những vùng ngập nước tạm thời hay thường
xuyên, những vực nước đứng hay chảy, là nước ngọt, nước lợ hay nước mặn
kể cả những vực nước biển có độ sâu không quá 6m khi triều thấp”
(Lê Diên Dực, Hoàng Văn Thắng, 2012)
ĐNN rất đa dạng, có mặt khắp mọi nơi và là cấu thành quan trọng của các cảnh
quan trên mọi miền của thế giới Hàng thế kỷ nay, con người và các nền văn
hoá nhân loại được hình thành và phát triển dọc theo các triền sông hoặc ngay
trên các vùng ĐNN ĐNN đã và đang bị suy thoái và mất đi ở mức báo động,
mặc dù ngày nay người ta đã nhận biết được các chức năng và giá trị to lớn của
chúng Các nhà khoa học về ĐNN đã xác định được những điểm chung của
ĐNN thuộc các loại hình khác nhau, đó là chúng đều có nước nông hoặc đất
bão hoà nước, tồn trữ các chất hữu cơ thực vật phân huỷ chậm, và nuôi dưỡng
rất nhiều loài động vật, thực vật thích ứng với điều kiện bão hoà nước (Hoàng
Văn Thắng, Lê Diên Dực, 2006)
Hình 1.1 Đất ngập nước thường tồn tại tại những nơi chuyển tiếp giữa
HST trên cạn và HST thủy sinh thường xuyên
Nguồn: Lê Diên Dực, Hoàng Văn Thắng, 2012
ĐNN có vai trò rất quan trọng đối với đời sống của các cộng đồng dân cư, kể cả
Trang 13dân cư sinh sống tại các đô thị Hiện nay, khoảng 70% dân số thế giới sống ở các vùng cửa sông ven biển và xung quanh các thuỷ vực nước ngọt nội địa (Dugan, 1990) Đất ngập nước còn là nơi sinh sống của một số lượng lớn các loài động vật và thực vật, trong đó có nhiều loài quí hiếm (Hoàng Văn Thắng, Lê Diên Dực, 2006)
Các loại hình ĐNN Hà Nội: ĐNN Hà Nội có thể chia thành 9 loại hình chính như
sau:
- Đất ngập nước nội địa:
1 M) Sông, suối có nước chảy thường xuyên
2 O) Hồ nước ngọt ngập thường xuyên (trên 8ha)
3 Tp) Ao, hồ nước ngọt ngập thường xuyên (dưới 8ha)
- Đất ngập nước nhân tạo:
4 1) Ao nuôi thuỷ sản (tôm, cá, nhuyễn thể)
5 2) Ao, đầm (nhỏ hơn 8ha)
6 3) Các hồ chứa nước
7 4) Đất nông nghiệp ngập lụt theo mùa
8 5) Các hồ xử lý nước thải
9 6) Kênh, mương thoát nước
Các chức năng/ giá trị của ĐNN:
(1) Theo Wiliam J.Mistch và James Gosseling (1986): Các chức năng của
ĐNN gồm:
(1) Chức năng cải thiện chất lượng nước
(2) Chức năng dự trữ ngập lụt
(3) Là sinh cảnh cho cá và động vật hoang dã,
(4) Chức năng thẩm mỹ và năng suất sinh học
(2) Theo Hoàng Văn Thắng và Lê Diên Dực (2012): Chức năng của hệ sinh thái
được xem xét tới các yếu tố bao gồm:
Trang 14(1) Năng suất sơ cấp
(2) Sự phân hủy và sự tiêu thụ
(3) Xuất khẩu chất hữu cơ
(4) Dòng năng lượng, và
(5) Quỹ dinh dưỡng (đối với HST đầm lầy nước mặn)
Trên cơ sở 5 yếu tố trên và tùy theo mỗi loại hình hệ sinh thái (HST ĐNN ven biển và HST ĐNN nội địa) mà mỗi loại hình HST sẽ có những chức năng khác nhau
(3) Theo Lê Văn Khoa, 2008: Các chức năng ĐNN có thể được chia thành các
- Chức năng chống sóng, bão, ổn định bờ biển và chống xói mòn
- Chức năng xử lý nước, giữ lại chất cặn, độc
- Chức năng giữ lại chất dinh dưỡng
- Chức năng sản xuất sinh khối
- Chức năng giao thông thủy
- chức năng giải trí, du lịch
Nhóm các chức năng kinh tế: Bao gồm các chức năng sau
- Chức năng cung cấp các giá trị về tài nguyên rừng, cung cấp thủy sản, tài nguyên cỏ và tảo biển
- Chức năng cung cấp các sản phẩm về nông nghiệp
- Cung cấp nước ngọt và tiềm năng về năng lượng
Về các giá trị đa dạng sinh học: ĐNN là nơi cư trú cho nhiều loài động vật
Trang 15hoang dã đặc biệt là các loài chim nước trong đó có các loài chim di trú; ngoài ra giá trị đa dạng sinh học còn bao gồm giá trị văn hóa, du lịch sinh thái, tri thức bản địa, …
(4) Theo mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, 2005: Đánh giá thiên niên kỷ HST
có các dịch vụ/chức năng và các mối quan hệ tới các thành tố của phúc lợi xã
hội như sau (hình 1.2)
Dịch vụ cung cấp: Cung cấp lương thực – thực phẩm; cung cấp nước sạch,
gỗ, sợi, củi đốt, khoáng sản và tài nguyên di truyền
Dịch vụ điều tiết: Điều tiết khí hậu, lũ lụt, thiên tai và lọc sạch nguồn nước Dịch vụ văn hóa: Giá trị thẩm mỹ, tinh thần, về giáo dục và nghỉ dưỡng Dịch vụ hỗ trợ: Gồm chu trình dinh dưỡng, hình thành đất và sản phẩm sơ cấp
Nguồn: Trương Quang Học, 2011
Với việc xem xét và đánh giá dịch vụ hệ sinh thái gồm 4 yếu tố nêu trên Đây là cách đánh giá đầy đủ, khoa học và đã được công nhận, sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu trên thế giới
1.1.2 Phát triển đô thị
Phát triển đô thị mà điển hình là đô thị hóa có thể được hiểu như sau:
Hình 1.2 Mối liên quan giữa các dịch vụ HST với các thành tố
của cuộc sống thịnh vượng
Trang 16(1) Là sự tập trung của dân số
(2) Là quá trình lan tỏa của văn hóa đô thị tới vùng nông thôn
(3) Là quá trình di dân vào thành phố và hội nhập theo phong cách sống của thành phố
(4) Là quá trình mà tỷ lệ người sống ở các khu đô thị ngày càng tăng
(5) Là quá trình phát triển các khu đô thị…
Tuy có nhiều các cách hiểu về phát triển đô thị và đô thị hóa nhưng ta có thể
thống nhất với định nghĩa sau: “Đô thị hóa là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống” (Nguyễn Thế Bá, 1999 trong Phan Thị
Hương Linh, 2008)
Những yếu tố thể hiện sự đô thị hóa:
(1) Tăng trưởng dân số đô thị: Là sự gia tăng dân số tại các thành phố Nguyên
nhân của sự tăng trưởng dân số đô thị là sự tăng tự nhiện, sự di dân cơ học và
sự thay đổi nhận thức về quy định phân loại dân số
(2) Sự phát triển đô thị: Là sự phát triển toàn diện về kinh tế, xã hội, không
gian đất đai cũng như môi trường đô thị
Như vậy, quá trình đô thị hóa diễn ra là quá trình hình thành các yếu tố thúc đẩy xã hội phát triển, các yếu tố đó bao gồm:
(1) Dân số đô thị tăng lên, các hoạt động, sinh sống của người dân chuyển sang lối sống công nghiệp ở thành thị
(2) Tỷ lệ phi nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ tăng lên
(3) Đô thị hóa tạo ra động lục phát triển và tăng GDP
(4) Quá trình đô thị hóa là quá trình nền văn minh đô thị được xác lập ngay trong lòng cộng đồng dân cư đô thị (Nguyễn Thị Thanh Hải, 2008)
1.2 Các nghiên cứu về ĐNN và phát triển đô thị trên thế giới
Loài người, trong quá trình phát triển của mình có mối liên hệ rất chặt chẽ với
Trang 17các vùng đất ngập nước vì ĐNN là nơi cung cấp các điều kiện về lương thực, thực phẩm, môi trường sống và nhiều lợi ích khác ĐNN đô thị có thể được hiểu là những vùng đất ngập nước nằm trong phạm vi khu vực các đô thị, nơi
có các hoạt động kinh tế xã hội đặc trưng của các loại hình đô thị
Phát triển đô thị (mà điển hình là quá trình đô thị hóa) là một quá trình diễn thế tất yếu trong lịch sử phát triển của loài người Đặc biệt, cùng với quá trình công nghiệp hóa, sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật đã đẩy quá trình đô thị hóa trên thế giới nói chung diễn ra nhanh chóng Đô thị hóa không chỉ là sự phát triển đô thị về quy mô, số lượng dân cư, mà còn gắn liền với những biến đổi kinh tế - xã hội ở đô thị trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, dịch vụ… Những yếu tố thể hiện của phát triển đô thị là sự tăng dân số,
sự phát triển về kinh tế, xã hội, không gian đất đai, môi trường đô thị…
Phát triển đô thị và đô thị hóa bắt đầu ở phương tây, sau đó lan sang Mỹ những năm cuối thế kỷ XIX và tới châu Á những năm 60 của thế kỷ XX Trong thế kỷ
XX, các nước phát triển đã chuyển gần 80 - 90% dân số cư trú từ nông thôn sang cư trú tại đô thị, số người sống trong đô thị hiện nay đã tới 50% dân số của thế giới
Các cuộc cách mạng công nghiệp đã tác động tới các khu vực thành thị và nông thôn một cách sâu sắc và giúp cho việc hình thành nên hệ thống kiến trúc hiện đại, nếp sống văn minh đo thị tai các nước văn minh trên thế giới Đô thị hóa và phát triển đô thị trên thế giới và khu vực như là một động lực phát triển quan trọng trong tiến trình lịch sử, hiện tại và trong tương lai Điểm chung của đô thị hóa và phát triển đô thị là sự đóng góp to lớn về kinh tế xã hội và đặc biệt có ý nghĩa trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa của mỗi quốc gia, mỗi vùng Trong thời đại ngày nay, sự phát triển đô thị và đô thị hóa ngày càng diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ - ước tính tới năm 2030 sẽ có hơn 60% dân số toàn cầu sẽ sống ở đô thị (UN, 2010) Tuy nhiên, việc phụ thuộc vào các điều kiện
tự nhiên trong đó có các khu vực ĐNN là rất cần thiết đối với dân cư đô thị Chính vì vậy, vai trò của hệ sinh thái ĐNN đô thị đối với sự phát triển bền vững của các đô thị ngày càng được coi trọng và được cộng đồng quốc tế quan tâm
Trang 18nghiên cứu
Phát triển đô thị mà điển hình là quá trình đô thị hóa là hệ quả tất yếu của của quá trình công nghiệp hóa, là xu thế chung của quá trình chuyển từ nền văn minh nông nghiệp lên nền văn minh công nghiệp Đây là một tiến trình phức tạp, bao gồm những thay đổi cơ bản trong phân bố lưc lượng sản xuất, trong lối sống, văn hóa
Các vùng đất ngập nước (ao hồ, sông suối…) tại các khu vực đô thị đóng vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt là trong quá trình phát triển đô thị tại các thành phố trên toàn thế giới Các khu vực đất ngập nước có vai trò như: dự trữ nước ngầm, giảm thiểu ngập lụt, là sinh cảnh cho các loài động thực vật, giải trí và nuôi trồng thủy sản, nơi vui chơi giải trí và cung cấp các giá trị về kinh tế và văn hóa tinh thần… Tuy nhiên, việc phát triển đô thị cũng tác động ngược lại và các vùng đất ngập nước đang đứng trước nguy cơ bị đe dọa nghiêm trọng từ những sức ép như sự ô nhiễm nước thải, rác thải và các nguồn ô nhiễm khác làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới các chức năng hệ sinh thái
Kể từ khi Công ước Ramsar chính thức được công nhận là một khuôn khổ toàn cầu cho việc bảo vệ và bảo tồn ĐNN, việc quản lý HST này ngày càng thu hút được sừ quan tâm của các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý Trước kia nhiều quốc gia chưa coi trọng đất ngập nước và coi đó là “vùng đất chết” cần được khai hoang để canh tác nông nghiệp hay phục vụ các mực đích phát triển thì ngày nay càng có nhiều quốc gia nhận thức được vai trò quan trọng và các chức năng và giá trị của ĐNN để từ đó có các biện pháp bảo tồn và quản lý phù hợp
Tại các quốc gia phát triển như Anh, Mỹ, Canada, Úc, Nhật Bản; các nghiên cứu về ĐNN đô thị được tiến hành từ khá sớm do đây là các nước có tỷ lệ đô thị hóa cao, trình độ khoa học tiên tiến và cũng là những nước có nhiều đầm hồ trong thành phố Các khía cạnh được nghiên cứu bao gồm: sinh thái học, chất lượng môi trường, kinh tế học, các giá trị văn hóa, thể chế chính sách… nhằm quản lý hiệu quả ĐNN đô thị, đặc biệt là hệ thống sông hồ Ngoài ra, Ấn Độ cũng là quốc gia tại khu vực Châu Á đi tiên phong trong nghiên cứu và quản lý
hồ đô thị với chiến dịch cứu hồ vào năm 1990 với nhiều chương trình nghiên
Trang 19cứu, tuyên truyền nâng cao nhận thức bảo vệ và bảo tồn các hồ ở đô thị
Như vậy, có thể thể thấy rằng các nghiên cứu có tính chuyên ngành cho hệ thống sông hồ vùng đô thị đã được nghiên cứu khá nhiều trên thế giới Tuy nhiên, hiện còn thiếu những nghiên cứu mang tính liên ngành tổng hợp để từ đó đưa ra được các định hướng chiến lược cũng như các giải pháp thực tiễn cho quản lý và phát triển bền vững đất ngập nước đô thị, đặc biệt trong bối cảnh đô thị hóa tăng nhanh và tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu
1.3 Nghiên cứu về ĐNN và phát triển đô thị tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng
Từ việc là một nước cơ bản là nông nghiệp với số lao động trong nông nghiệp chiếm hơn 80% dân số, cho tới những năm 90 của thế kỷ trước, Việt Nam vẫn còn là đất nước có tỷ lệ đô thị hóa không cao (17 - 18%) Tuy nhiên, trong những năm gần đây, với việc tiến hành công cuộc đổi mới, quá trình phát triển
đô thị ở Việt Nam đã và đang diễn ra mạnh mẽ và nhanh chóng trên quy mô toàn quốc (năm 2007 tỷ lệ đô thị hóa đạt 27%; năm 2010 đạt 30% và dự báo đến năm 2030 là 44% (UN, 2010) Sự phát triển đô thị này được thể hiện qua các yếu tố như: dân số tại đô thị tăng lên nhanh chóng, hàng loạt cơ sở hạ tầng được hình thành và xây dựng, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế lao động rõ rệt, sự gia tăng dân số tại các khu vực trọng điểm miền Bắc, Trung và Nam (VD: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng…)
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì phát triển đô thị tại Việt Nam nói chung và tại Hà Nội nói riêng còn có nhiều mặt tiêu cực có thể kể ra như:
(1) Quá trình phát triển đô thị gây ra các vấn đề về xã hội (như tệ nạn xã hội, sức
ép dân số, nghề nghiệp…) và đặc biệt là sự ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng ảnh hưởng tới sức khỏe con người cũng như các loài sinh vật
(2) Phát triển đô thị và đô thị hóa của một vùng kéo theo sự thay đổi của kinh tế,
xã hội và cả chính trị của vùng đó
(3) Đô thị hóa và phát triển đô thị nhanh là nguyên nhân gây nên những biến đổi môi trường và xã hội một cách sâu sắc
Trang 20(4) Quá trình phát triển đô thị nhanh tạo ra những áp lực lên khả năng cung cấp năng lượng, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, giao thông, vệ sinh môi trường (rác thải, nước thải, tài nguyên thiên nhiên…) và an ninh Ngoài ra việc dân số gia tăng cũng làm gia tăng sự ô nhiễm và thiếu hụt các dịch vụ cơ bản như nhà ở, điện nước…và các nhu cầu khác
Hà Nội là thành phố nằm ở khu vực trung tâm của đồng bằng sông Hồng và được mệnh danh là thành phố của sông, hồ Trong những năm gần đây, để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước và để xứng đáng với đầu tầu kinh tế của vùng đồng bằng bắc bộ Kinh tế của Hà Nội đã có những thay đổi to lớn, tốc độ
đô thị hóa của thành phố so với những tỉnh thành khác là rất cao (20 - 30% vào năm 2010) và ước tính từ 55 - 60% vào năm 2020 (Ngô Thắng Lợi, 2010) Với
sự phát triển đô thị nhanh chóng thì bên cạnh những mặt tích cực đã thấy rõ thì cũng phát sinh nhiều vấn đề tiêu cực như: sự di cư mạnh từ nông thôn ra thành thị gây nên áp lực về dân số và phân bố dân số, sự phát triển hạ tầng đô thị gây sức ép lớn đến tài nguyên đất đai, nguồn nước và các tài nguyên sinh học khác; sức ép về ô nhiễm môi trường và xử lý các vấn đề môi trường phát sinh từ các hoạt động kinh tế, xã hội…
Các khu vực đất ngập nước (điển hình là các ao hồ, sông ngòi) từ xa xưa đã gắn liền với sự phát triển của thành phố Hà Nội và là một bộ phận quan trọng đối với cuộc sống của người dân của thủ đô Trong bối cảnh phát triển đô thị và xu thế
đô thị hóa ngày càng nhanh chóng đang diễn ra hiện nay Các vùng đất ngập nước của Hà Nội đã và đang phải chịu những áp lực rất lớn mà điển hình là bị san lấp gây thu hẹp diện tích để phục vụ cho việc xây dựng nhà cửa, đường xá; ngoài ra hầu hết các ao hồ tại thủ đô chỉ có vai trò như là một nơi chứa nước thải, chất thải rắn… từ các hoạt động kinh tế xã hội Các chức năng của hệ sinh thái và vai trò của hệ sinh thái đã và đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Việc nghiên cứu vấn đề đô thị hóa của Hà Nội trong mối liên quan tới chất lượng môi trường nói chung và bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước nói riêng đã được tiến hành thực hiện trong những năm 1990 Nhiều nghiên cứu mang tính đơn ngành và chuyên sâu đã được thực hiện như nghiên cứu về chất lượng
Trang 21nước, chất lượng môi trường sông hồ Hà Nội (Dương Đức Tiến, 2002; Lê Thu
Hà, 2005; Trần Đức Hạ, 2007; Đặng Thị Sy, 1998; Trịnh Thị Thanh, 2010) Đặc biệt, trong các năm 2002 - 2003, dưới sự tài trợ của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN), Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành Dự án “Quản lý bền vững và bảo tồn đất ngập nước Hà Nội” Dự án
đã thực hiện các hoạt động hỗ trợ nhằm giảm thiểu các mối đe dọa đến hệ sinh thái ĐNN Hà Nội và thúc đẩy sử dụng bền vững đất ngập nước Hà Nội thông qua các hoạt động chính là: (1) Điều tra, khảo sát hiện trạng của các hồ Hà Nội; (2) Nâng cao nhận thức cho các tầng lớp nhân dân và học sinh trên địa bàn Hà Nội; và (3) Xây dựng và đệ trình Bản thảo đề xuất Kế hoạch hành động nhằm bảo tồn và quản lý bền vững đất ngập nước Hà Nội Trong vài năm gần đây, hệ thống ao hồ và sông ngòi của Hà Nội đã được quan tâm đặc biệt trong các công trình nghiên cứu thuộc mảng khoa học xã hội, nhất là các nhà sử học, các nhà địa lý và qui hoạch đô thị Đã có những nghiên cứu chuyên sâu về giá trị lịch sử (Céline Pierdet, 2003; Nguyễn Vinh Phúc, 2009, 2010…) giá trị văn hóa, giá trị tâm linh của Hồ Tây, Hồ Gươm, sông Hồng (Nguyễn Vinh Phúc, 2003, 2004, 2010…) hay nghiên cứu về sông hồ Hà Nội dưới góc độ qui hoạch đô thị (Viện Qui hoạch Kiến trúc đô thị, 2008; Kelly Shannon, 2009a, 2009b… ) và mối liên quan giữa hồ với chất lượng cuộc sống (Sawaki và nnk, 2010) Những khó khăn thách thức và bất cập trong quản lý hồ Hà Nội đã được nghiên cứu ngày càng nhiều (Hoàng Văn Thắng và nnk, 2003; Trương Quang Hải, 2006; Trương Quang Hải, 2009; Nguyễn Cao Huần và Trần Anh Tuấn, 2010; Hoàng Văn Thắng và Lê Diên Dực, 2010 ) với mong muốn đề xuất và hiện thực hóa các thể chế và văn bản pháp qui về quản lý và sử dụng hợp lý hệ thống sông hồ ở
Hà Nội (Hoàng Văn Thắng, Nguyễn Quang Ngọc, 2011)
1.4 Các nghiên cứu liên quan tới Hồ Tây
Hồ Tây là hồ nằm ở phía Tây Bắc trong lòng nội thành TP Hà Nội với diện tích khoảng 527ha với độ sâu trung bình của hồ khoảng 1,6 - 2m Hồ là nơi gắn liền với biết bao truyền thuyết lịch sử và cũng là nơi chứa đựng và cung cấp các giá trị đa dạng sinh học phong phú, đa dạng; xung quanh hồ là các di tích lịch
sử quan trọng có giá trị cùng với các khu dân cư sinh sống lâu đời Trong
Trang 22những năm qua, đặc biệt là thời gian gần đây, Hồ Tây là nơi diễn ra các hoạt động giải trí, du lịch và dịch vụ Hồ Tây là một phần không thể tách rời của thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến
Trong quá trình phát triển đô thị mà đặc trưng là đô thị hóa Các hoạt động phát triển đô thị ngày càng diễn ra nhanh chóng và khu vực Hồ Tây cũng không phải
là một ngoại lệ Việc phát triển đô thị mang đến nhiều lợi ích cho sự phát triển cũng như cải thiện đời sống của người dân, tuy nhiên phát triển đô thị tại khu vực thành phố Hà Nội nói chung và khu vực Tây Hồ nói riêng cũng đã và đang tạo ra những sức ép đáng kể lên đất ngập nước Hồ Tây, những sức ép đó là ô nhiễm môi trường, mất nơi sinh sống của sinh vật, thu hẹp diện tích, suy giảm các chức năng hệ sinh thái… Hồ Tây đang đứng trước nguy cơ vô cung nguy cấp về các vấn đề liên quan tới môi trường
Trong những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu về Hồ Tây với mục đích khảo sát đánh giá, cải thiện môi trường hồ và quản lý sử dụng bền vững hồ, cụ thể có thể kể ra như sau:
(1) Dự án điều tra cơ bản về môi trường và các giải pháp bảo vệ khu vực Hồ Tây vào năm 1997 – 1998 do Viện ST&TNSV thực hiện Hiện trạng môi trường nước Hồ Tây được ghi nhận với hầu hết các chỉ tiêu thuỷ lý, thuỷ hoá và
vi sinh vật và biến động theo thời gian (mùa khô, mùa mưa) và không gian theo từng vùng hồ, theo tầng mặt và tầng đáy Các kết quả khảo sát cho thấy đã có
sự ô nhiễm cục bộ tại một số khu vực ven bờ Hồ Tây Những nguyên nhân cơ bản của sự ô nhiễm là nước thải sinh hoạt, đặc biệt thời đó là từ một số cống thải như nước thải từ cống Tầu bay vào Hồ Tây
(2) Báo cáo Quy hoạch môi trường vùng Hồ Tây – Hà Nội đến năm 2020 thực hiện vào năm 1999;
(3) Đề tài Điều tra ảnh hưởng của các hoạt động du lịch đến chất lượng Hồ Tây thực hiện vào năm 2000;
(4) Điều tra, đo đạc một số yếu tố môi trường nước theo phương pháp đo trực tiếp liên tục bằng các đầu dò điện cực phối hợp với hệ thống GIS ở trên thuyền
Trang 23của Wong, Lê Quốc Hùng và cộng sự ở Viện Hoá học, Viện KHCNVN thực hiện trong năm 2001 Các thông số môi trường như pH, nhiệt độ, EC, DO, độ đục và độ dẫn điện Ngoài ra, còn thu mẫu nước để phân tích trong phòng thí nghiệm các chỉ tiêu dinh dưỡng như NO2, NO3, NH4, SiO2…, các kim loại nặng, dầu trong nước, thuốc bảo vệ thực vật Các kết quả phân tích của nhóm tác giả này cho thấy Hồ Tây ở trong tình trạng phú dưỡng Nhiều chỉ tiêu môi trường về kim loại nặng, coliform trong nước, trầm tích và sinh vật (trai, ốc, cá chép) cao vượt quá mức cho phép so với các tiêu chuẩn Việt Nam, Canada, Úc
(5) Trong nghiên cứu của Đại học quốc gia Hà Nội năm 2008 về mô hình hoá
hệ sinh thái Hồ Tây, tác giả Lưu Lan Hương và cộng sự đã tiến hành khảo sát chất lượng nước Hồ Tây tại 5 điểm thu mẫu ven bờ và 1 điểm giữa hồ Các kết quả phân tích một số chỉ số môi trường nước như DO, BOD5, độ đục, NO3-,
NO2- và NH4+ đều đạt tiêu chuẩn loại B (tiêu chuẩn 5942) Trong khi hàm lượng COD vượt quá tiêu chuẩn cho phép
(6) Dự án “Quản lý bền vững và bảo tồn đất ngập nước Hà Nội” được trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường thực hiện dưới sự tài trợ của Tổ chức Bảo tồn Thiên Nhiên Thế Giới được tiến hành thực hiện trong các năm
2002 – 2003 Dự án đã thực hiện các hoạt động hỗ trợ nhằm giảm thiểu các mối
đe dọa đến hệ sinh thái ĐNN Hà Nội và thúc đẩy sử dụng bền vững đất ngập nước Hà Nội thông qua các hoạt động chính là: 1) Điều tra/khảo sát hiện trạng của các hồ Hà Nội trong đó đặc biệt lưu ý tới Hồ Tây; 2) Nâng cao nhận thức cho các tầng lớp nhân dân và học sinh trên địa bàn Hà Nội; và 3) Xây dựng và
đệ trình Bản thảo đề xuất Kế hoạch hành động nhằm bảo tồn và quản lý bền vững đất ngập nước Hà Nội
(7) Dự án “Điều tra, đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường nước, hệ sinh thái
Hồ Tây, đề xuất các giải pháp giảm thiểu và sử dụng hợp lý” được thực hiện vào năm 2012 Các kết quả khảo sát tổng hợp về môi trường nước, trầm tích và sinh học, sinh thái Hồ Tây và vùng lưu vực cho thấy: Khu hệ thuỷ sinh vật Hồ Tây khá đa dạng về thành phần loài và là một hồ có năng xuất sinh học cao, môi trường nước và trầm tích Hồ Tây về cơ bản là vực nước bị phú dưỡng, có những biểu hiển của ô nhiễm hữu cơ ở các vùng nước gần các cống thải vào hồ
Trang 24Hàm lượng các kim loại nặng ở nước và trầm tích hồ đều ở dưới mức cho phép nhưng đáng lưu ý là các loài động vật thân mềm trong hồ có hàm lượng As, Cd
và Pb đều cao hơn giới hạn trên do Bộ Y tế và EU quy định cho trai, ốc dùng làm thực phẩm Các nguyên nhân làm phú dưỡng hồ là lượng nước thải dân cư không được xử lý đổ vào hồ, độ dày lớp bùn đáy hồ ngày càng lớn, đặc biệt ở khu vực gần các cửa cống thải, làm giảm khả năng tự làm sạch của hồ Các cống trên đường Thuỵ Khê như cống Tàu Bay và cống phía sau trường THCS Chu Văn An là những nguồn nước thải dinh dưỡng cao nhất vào hồ
Hầu hết các kết quả điều tra, nghiên cứu trong thời gian qua cho thấy môi trường nước Hồ Tây ở tình trạng phú dưỡng, một số khu vực hồ bị ô nhiễm hữu
cơ Về thuỷ sinh vật, đặc điểm mật độ tảo cao vào các thời kỳ điều tra cho thấy
có sự nở rộ thực vật nổi, biểu thi sự phú dưỡng của nước hồ Tuy vậy, các kết quả điều tra cho thấy ở Hồ Tây động vật thân mềm là ốc vặn, trai và giáp xác là tôm càng vẫn còn với số lượng khá nhiều, nhưng trong thời gian gần đây đã có chiều hướng giảm cả về số lượng và chất lượng
Những nghiên cứu kể trên đã tập trung vào nghiên cứu về hiện trạng, chất lượng môi trường và đề ra những giải pháp để bảo vệ Hồ Tây; tuy nhiên việc xem xét tới những nguyên nhân sâu xa, những yếu tố tổng thể ảnh hưởng tới chất lượng môi trường cũng như ảnh hưởng tới các chức năng/ giá trị hệ sinh thái ĐNN của Hồ Tây để từ đó có được những giải pháp hiệu quả cải từng bước cải thiện môi trường hồ vẫn chưa được xem xét và đánh giá đầy đủ
Chính vì vậy, việc nghiên cứu những ảnh hưởng của việc phát triển đô thị tới chức năng của hệ sinh thái là rất quan trọng Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở nghiên cứu các chức năng hệ sinh thái ĐNN Hồ Tây và xem xét các ảnh hưởng của phát triển đô thị tại địa bàn quận Tây Hồ tới các chức năng của Hồ Tây – một khu vực đất ngập nước quan trọng của thủ đô (với rất nhiều giá trị/chức năng) Việc nghiên cứu nhằm tìm ra những nguyên nhân và đưa ra các giải pháp để phát huy các giá trị/ chức năng đó, góp phần vào việc phát triển bền vững thủ đô nói chung và của Hồ Tây nói riêng
Trang 25CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu khu vực Hồ Tây thuộc địa bàn quận
Tây Hồ trong đó tập trung chủ yếu vào khu vực mặt nước và khu vực xung quanh Hồ Tây
Hình 2.1 Bản đồ hành chính Hà Nội và vị trí của Hồ Tây
Nguồn: Sở Tài nguyên Môi trường Hà Nội, 2012
Thời gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành từ tháng 4 † 12/2012 Các số liệu,
thông tin trong đề tài được nghiên cứu trong khoảng thời gian quá trình phát triển đô thị những năm gần đây
2.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp luận
Có 2 hướng tiếp cận trong đề tài, đó là tiếp cận tổng hợp nghiên cứu tổng hợp, liên ngành và tiếp cận hệ sinh thái
Trang 26(1) Tiếp cận tổng hợp, liên ngành giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội
Do mục tiêu của đề tài là “ Đánh giá, nghiên cứu các chức năng hệ sinh thái ĐNN Hồ Tây và ảnh hưởng từ phát triển đô thị lên các chức năng đó” Có thể thấy rằng quá trình phát triển đô thị có nhiều mặt, trong đó việc phát triển đô thị
đã kéo theo sự tăng dân số, chuyển đổi sử dụng đất, thu hút khách du lịch, tăng các loại hình dịch vụ… đã ngày càng gây sức ép và ảnh hưởng lớn tới các giá trị/ chức năng tại các khu vực ĐNN, đặc biệt tại các đô thị Do đó nghiên cứu cần một tiếp cận tổng hợp, liên ngành tại khu vực nghiên cứu mới có thể giải quyết được vấn đề đặt ra của đề tài nghiên cứu
(2) Tiếp cận hệ sinh thái
Tiếp cận HST là tập hợp những nguyên tắc (chiến lược) nhằm thúc đẩy quản lý tổng hợp đất, nước và tài nguyên sinh học Mục tiêu của tiếp cận HST là sử dụng HST mà không làm mất đi HST cùng các đặc trưng của nó
Theo Lê Trọng Cúc (1998), Malby và cs (1999), Pirot và cs (2000), Smith và
- Một quá trình quy hoạch có sự tham gia của người dân qua cách quản lý và thích ứng Quản lý phải bao gồm tất cả các bên liên quan và cân đối giữa quyền lợi địa phương với những bộ phận khác của xã hội
- Thúc đẩy sự tham gia đồng đều của tất cả các lĩnh vực trong xã hội và nó phải phân quyền đến tận cấp thấp nhất thích hợp Do đó, nó đem lại tính hiệu quả
và công bằng lớn hơn
- Tất cả các loại thông tin liên quan bao gồm khoa học và kiến thức bản địa, nhập kỹ thuật mới và cách thực hành Tất cả các nguồn thông tin đều quan trọng cho những chiến lược quản lý HST hữu hiệu
Trang 27Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý trên cơ sở tiếp cận hệ sinh thái bao gồm:
(1) Mục tiêu của việc quản lý đất, nước và tài nguyên sinh vật là vấn đề lựa chọn của toàn xã hội
(2) Việc quản lý cần được phân cấp rõ ràng cho đến cấp thực hiện trực tiếp
(3) Người trực tiếp quản lý HST cần quan tâm đến các ảnh hưởng của các hoạt động của mình đến HST lân cận
(4) Mục đích cuối cùng của việc quản lý HST là các giá trị kinh tế Đó là:
(5) Giảm ảnh hưởng tiêu cực của thị trường lên ĐDSH
(6) Khuyến khích bảo tồn ĐDSH và sử dụng bền vững
(7) Ước tính được chi phí và lợi ích của công tác bảo vệ
(8) Quản lý phải giữ cho được cấu trúc và chức năng để HST tiếp tục cung cấp các lợi ích lâu dài
(9) HST phải được quản lý trong giới hạn các chức năng của nó
(10) Việc quản lý phải dựa vào sự thay đổi của HST theo thời gian và không gian
(11) Cần phải có kế hoạch nhất quán, lâu dài để quản lý HST theo từng giai đoạn thay đổi tự nhiên
(12) Quản lý HST cần nhớ là thay đổi sẽ không bao giờ có thể trở lại từ ban đầu
(13) Quản lý cần nhằm đến sự cân bằng giữa các bên, kết hợp bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên Đ DSH
(14) Quản lý cần dựa trên mọi nguồn kiến thức, từ khoa học cho đến dân gian và áp dụng khôn ngoan, sáng tạo cho mỗi tình huống
(15) Quản lý cần có sự tham gia của mọi tầng lớp trong xã hội
Trên cơ sở đó, mục tiêu hành động của quản lý bảo tồn trên cơ sở tiếp cận hệ sinh thái là (Pirot và cs (2000, trong Hoàng Văn Thắng và Lê Diên Dực, 2006): (1) Miêu tả những thành phần cơ bản của HST
Trang 28(2) Phân tích chức năng, mối liên kết và ranh giới của HST
(3) Phân tích những cơ hội và thách thức
(4) Xác định mục đích quản lý HST
(5) Đề xuất những biện pháp quản lý sẽ được tiến hành
Đề tài với mục tiêu nghiên cứu hệ sinh thái Hồ Tây nên cần xem xét các khía cạnh có liên quan tới hệ sinh thái của hồ như ranh giới hệ sinh thái, các chức năng và giá trị của hệ sinh thái của hồ và đánh giá các ảnh hưởng cũng như sức
ép mà hệ sinh thái hồ đang phải chịu tác động Từ đó có những đánh giá và giải pháp phù hợp để sử dụng hợp lý và bền vững HST Hồ Tây
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp kế thừa tài liệu
Thu thập, hệ thống hóa, phân tích và đánh giá các dữ liệu từ các tài liệu, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu Cụ thể:
- Các số liệu được sử dụng trong phần tổng quan tài liệu là số liệu kế thừa và tổng hợp từ các tài liệu nhưng được lựa chọn trích dẫn để phân tích phù hợp theo góc độ nghiên cứu
- Các số liệu thống kê liên quan tới địa bàn nghiên cứu được thu thập từ các báo cáo thống kê, các đề án phát triển kinh tế xã hội; các tài liệu, luận văn, báo cáo nghiên cứu về đô thị hóa, về ảnh hưởng của đô thi hóa tới môi trường Hồ Tây; các văn bản liên quan đến quy hoạch phát triển đô thị của
Hà Nội, các thông tin báo chí
Các số liệu, tài liệu, được thu thập chủ yếu tại quận Tây Hồ, khu vực Hồ Tây
b Phương pháp khảo sát thực địa
Nội dung của phương pháp bao gồm khảo sát điều kiện tự nhiên, tài nguyên môi trường, khảo sát hiện trạng sử, ranh giới của các loại hình sử dụng đất Tác giả đã tiến hành khảo sát thực địa, thu thập thông tin bằng quá trình khảo sát, ghi chép, chụp ảnh… Qua công việc này các dữ liệu được thu thập giúp có được những nhận định sơ bộ về hệ sinh thái Hồ Tây, tình hình phát triển đô thị tại quận Tây Hồ nói chung và khu vực Hồ Tây nói riêng, hiện trạng cũng như
Trang 29những ảnh hưởng từ quá trình phát triển đô thị tới khu vực nghiên cứu
c Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Tác giả đã phỏng vấn sâu một số lãnh đạo, người dân địa phương Qua đó đã có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề liên quan, đồng thời cũng thu thập được những thông tin về tình hình kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng, diện tích Hồ Tây, hiện trạng môi trường, hiện trạng quản lý, sử dụng đất ở quận Tây Hồ, các giá trị của Hồ Tây, cảnh đẹp khu vực Hồ Tây cũng như về nhận thức của cá nhân
về giá trị/ chức năng của đất ngập nước khu vực Hồ Tây; đồng thời thấy được những sức ép từ phát triển đô thị trong những năm gần đây tới các chức năng hệ sinh thái Hồ Tây
d Phương pháp phân tích hệ thống
Mục đích của luận văn là nghiên cứu một hệ thống tập hợp các chuỗi vấn đề được liên kết với nhau theo một mắt xích Sử dụng phương pháp phân tích hệ thống giúp tác giả nhìn nhận được vấn đề nghiên cứu trong một tập hợp Các vấn đề liên quan chủ yếu và thứ yếu đến đề tài được đặt trong một mối liên hệ hữu cơ với nhau, tạo ra cho tác giả một cách nhìn tổng quát, mạch lạc, rõ ràng đối với vấn đề nghiên cứu
e Phương pháp trình bày số liệu
Tác giả đã sử dụng các bảng biểu để trình bày những số liệu thống kê bằng cách sử dụng phần mềm EXEL, WORD Ngoài ra việc sử dụng hình ảnh, photo cũng được sử dụng để biểu diễn những thông tin cần thiết
Trang 30CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội
3.1.3 Điều kiện tự nhiên của Hồ Tây
a Vị trí địa lý và diện tích của Hồ Tây
Hồ Tây với hình dạng móng ngựa nằm ở phía tây bắc khu vực nội thành Hà Nội, thuộc địa bàn quận Tây Hồ, hồ có tọa độ địa vĩ độ địa lý: 20004‟ - Bắc,
105050‟- Đông, cao độ so với mặt nước biển của mực nước trong hồ là là 6m
Hồ giáp ranh với các phường của quận là Yên Phụ, Thụy Khê, Bưởi, Xuân La, Nhật Tân, Quảng An và một phần phường Quán Thánh; trong đó phía Bắc hồ giáp đê Yên Phụ - Từ Liêm, phía Nam giáp đường Thụy Khuê, phía Đông giáp đường Thanh Niên, phía Tây giáp đường Lạc Long Quân
Về diện tích của Hồ Tây: Trong thời gian từ năm 1987 đến nay đã có nhiều số liệu về diện tích của Hồ Tây như số liệu của Sở địa chính (năm 1987) là 515 ha,
số liệu của Văn phòng Kiến trúc sư trưởng Thành phố vào năm 1997 là 526,162
ha Tuy nhiên số liệu gần đây nhất theo đề án “Điều tra, đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường nước, hệ sinh thái lòng Hồ Tây; đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm và khai thác sử dụng hợp lý Hồ Tây” của BQL Hồ Tây thì diện tích của hồ như sau (bảng 3.1)
Bảng 3.1 Diện tích mặt nước của Hồ Tây Các vực nước Diện tích (ha)
Hồ nhỏ dài sau KS Thắng Lợi (hồ Vả) 3,985
Tổng diện tích của Hồ Tây 527,517
Nguồn: Ban quản lý Hồ Tây, 2012
Hồ Tây là hồ tự nhiên có chiều dài gần 3 km, rộng từ 1 – 2 km, độ sâu trung bình đạt từ 2 - 3m, trong đó phần hồ tại phía Tây Bắc có diện tích nhỏ hơn phần
hồ phía Đông Nam Hồ Tây trước kia là một đoạn sông của sông Hồng, là hồ ngoại sinh và được hình thành do sự dịch chuyển của lòng sông Hồng trong Holocen muộn
Trang 31b Đặc điểm khí hậu thủy văn
Hồ Tây nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm Mùa hè nóng
ẩm và mưa nhiều từ T4 † T10, hướng gió thịnh hành nhất là hướng gió Đông
Nam Vào T6, T7 có nhiệt độ cao nhất Khu vực này thường có gió bão vào đầu
mùa hè Mùa đông khô lạnh và ít mưa, hướng gió thịnh hành là Đông Bắc
Nhiệt độ không khí ven hồ nhìn chung thấp hơn các khu vực khác trong thành
phố, tháng 1 có nhiệt độ trung bình thấp nhất (140C) và tháng 7 có nền nhiệt độ
trung bình cao nhất (29,10C); tháng 4 và tháng 10 có nhiệt được coi là 2 tháng
chuyển tiếp tạo cho Hồ Tây có 4 mùa phong phú Nhiệt độ trung bình của nước
trong khoảng từ 100C † 300
C
Độ ẩm không khí trung bình tháng dao động từ 80 † 90% và biến động theo
mùa Tổng lượng bức xạ trung bình nằm từ 111,5Kcal/cm2
đến 122,8Kcal/cm2 Lượng bức xạ mặt trời khu vực nghiên cứu khá phong phú
Hướng gió thịnh nhành ở giữa hồ trong mùa đông là Bắc và Đông Bắc, mùa hè
là Đông và Đông Nam Tốc độ gió ở giữa hồ dao động từ 1,7 – 7m/s và đạt giá
trị cực đại là là 7,3 † 12m/s
Vào mùa mưa (Từ T5 † T10) tổng lượng mưa chiếm 85% lượng mưa cả năm
(lượng mưa trung bình năm là 1.870 mm); mưa lớn nhất vào tháng 7 và thường
có bão lớn, 16 ngày đến 18 ngày mưa với lượng trung bình 300 mm † 350 mm
Dung tích Hồ Tây ước tính khoảng 8,44 † 9 triệu m3 Bên cạnh lượng nước
mưa, Hồ Tây còn tiếp nhận nước thải từ các vùng lưu vực qua các cống xả
(xung quanh Hồ Tây là 8 cống thoát nước lớn cùng với các cống thoát nhỏ hơn
phân bố đều xung quanh) Mực nước Hồ Tây thay đổi theo mùa, mùa nước cạn
trùng vào thời kỳ mùa khô, mùa có mực nước cao trùng với mùa mưa
(trích nghiên cứu của Viện nghiên cứu Tài nguyên và sinh vật trong Đề án “Điều
tra, đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường nước, hệ sinh thái lòng Hồ Tây; đề
xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm và khai thác sử dụng hợp lý Hồ Tây”
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
a Dân số và mật độ dân số
Theo số liệu được công bố trong niên giám thống kê Hà Nội năm 2011, dân số
Trang 32quận Tây Hồ năm 2011 là 141.200 người, trong đó dân số nữ (72.200 người) là
lớn hơn dân số nam (69.000 người), mật độ 5.968 người/km2 Có 6 phường liên
quan trực tiếp đến Hồ Tây là: P Thuỵ Khuê; P Yên Phụ; P Quảng An;
P Nhật Tân; P Xuân La; P Bưởi
So với toàn bộ Hà Nội thì dân số tại Tây Hồ có mật độ trung bình, tuy nhiên
dân số tại đây có sự phân bố không đều Dân cư tập trung đông tại phía Nam và
Đông Nam thuộc địa bàn P Quán Thánh, Trúc Bạch, Bưởi, Yên Phụ; ngược lại
tại khu vực phía Bắc dân cư tập trung với mật độ thưa thớt hơn
Dân cư tại khu vực quận Tây Hồ gồm có dân cư đã sống từ lâu đời tạo thành
các làng như Yên Thái, Võng Thị, Nghi Tàm Bên cạnh đó còn có một lượng
không nhỏ dân cư tự do đến công tác, làm việc và một lượng đáng kể khách du
lịch tập trung tại các nhà nghỉ, khách sạn
b Điều kiện kinh tế
Từ ngày thành lập đến nay, quận Tây Hồ xây dựng và phát triển cơ cấu kinh tế
theo hướng "Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp” với giá trị sản xuất công
nghiệp đạt mức tăng trưởng bình quân 31,2%/năm; giá trị dịch vụ - du lịch,
thương mại tăng bình quân 14,9%/năm; giá trị sản xuất nông nghiệp và thuỷ
sản giảm bình quân 3,8%/năm
c Công tác giáo dục - đào tạo và y tế
Tại các cấp học, bậc học, tỷ lệ tốt nghiệp đều đạt và vượt chỉ tiêu đề ra hàng
năm 100% giáo viên đạt yêu cầu chuẩn hoá Đã có 11 trường được công nhận
đạt chuẩn quốc gia, trong đó, có hai phường là Quảng An và Phú Thượng đạt
chuẩn giáo dục quốc gia ở cả 3 cấp học
Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân có nhiều tiến bộ Mạng
lưới y tế được đầu tư về cơ sở vật chất, có 8/8 phường đạt chuẩn quốc gia về y tế
Các vấn đề chính sách xã hội, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo được
quan tâm và thực hiện một cách hiệu quả Trong những năm gần đây, quận Tây
Hồ đã giải quyết việc làm cho một số lượng lớn lao động Đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân được cải thiện đáng kể Hoạt động văn hóa thông tin
Trang 33được đẩy mạnh và thực hiện có kết quả Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã đi vào thực tiễn đời sống xã hội, được nhân dân trong quận ủng hộ, hưởng ứng mạnh mẽ Nếu như năm 1996, tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa là 78%, thì đến năm 2008 đã tăng lên trên 85%
d Di tích Lịch sử - Văn hóa và Danh lam thắng cảnh
Tây Hồ là vùng đất cổ có 62 di tích văn hóa lịch sử, trong đó có 31 di tích được xếp hạng di tích quốc gia như: chùa Trấn Quốc, Phủ Tây Hồ, chùa Vạn Niên, chùa Tảo Sách, chùa Ức Niên, chùa Kim Liên Đây là những di tích lịch sử đẹp và rất có giá trị trong lịch sử
Ngoài ra, quận Tây Hồ còn có cả vùng cảnh quan Hồ Tây - một hồ nước ngọt lớn nhất của thủ đô Hà Nội, với phạm vi rộng lớn và được coi là “lá phổi của Thành phố”; hồ Quảng Bá và công viên nước Hồ Tây
bộ ở một số thời điểm
(2) Khu vực phía Tây Nam Thụy Khê - Bưởi: Hệ thống CSHT như điện, nước, thoát nước đã có nhưng chưa đồng bộ Riêng khu vực Thụy Khê, cống thoát và cấp nước sạch chưa đáp ứng đủ nhu cầu của nhân dân, các cống nhỏ và tiêu thoát nước kém Cống Tàu Bay, mương Đõ là cống thoát nước lớn nhất trong khu vực (3) Khu vực Bưởi: hệ thống thoát nước chưa đồng bộ, không thông thoát thường xuyên nên luôn xảy ra ngập úng cục bộ vào những ngày mưa, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân trong khu vực Trong khu vực này có cống Trích Sài là lớn nhất Các hệ thống cống rãnh thuộc hai phường Bưởi và Thụy
Trang 34Khê được thiết kế một phần chảy ra Hồ Tây và một phần chảy ra sông Tô Lịch (4) Khu vực phía Tây Bắc của Hồ Tây bao gồm địa phận phường xuân La, Nhật Tân Đây là khu vực mới được nâng cấp thành phường nên so với các khu vực khác quanh hồ thì hệ thống đường xá và thoát nước chưa hoàn thiện Ngoài hệ thống trong phường vẫn chưa đáp ứng được xu thế phát triển chung
Cống Xuân La là cống xả lớn nhất của Hồ Tây nên mỗi khi mưa to, hồ nhiều nước thì Xuân La trở thành túi nước thải của hồ Hầu hết các hộ gia đình sống cạnh hồ cũng xả thải trực tiếp xuống hồ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng môi trường chung khu vực
(5) Khu vực phía Đông của Hồ Tây thuộc địa phận phường Quảng An Khu vực này có địa thế cao, thoáng gió Từ lâu khu vực này đã được đầu tư mạnh mẽ, trở thành trung tâm vui chơi giải trí của người dân Hà Nội (nhà nghỉ Quảng Bá, khách sạn Thắng Lợi) So với các khu vực khác thì nơi đây tập trung đầy đủ các điều kiền về cơ sở hạ tầng như giao thông, công trình, điện nước, bể bơi, nhà văn hóa Ngoài ra, xung quanh Hồ Tây còn có rất nhiều hạng mục như lan can, hệ thống chiếu sáng, cột điện…dọc theo hành lang xung quanh hồ (bảng 3.2 và hình 3.1)
Bảng 3.2 Cơ sở hạ tầng xung quanh Hồ Tây
Nguồn: Ban quản lý Hồ Tây, 2011
Trang 35Bia kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Bờ kè ven hồ
Đường vành đai đoạn Thuỵ Khuê Đường Thuỵ Khuê
Cây xanh bóng mát ven hồ
Hình 3.1 Một số hình ảnh về cơ sở hạ tầng khu vực quanh hồ
Trang 363.2 Hiện trạng môi trường và đặc điểm hệ sinh thái Hồ Tây
3.2.1 Hiện trạng môi trường Hồ Tây
a Các thông số thuỷ lý
Theo các nghiên cứu, điều tra gần đây nhất của Viện sinh thái và tài nguyên sinh
vật trong đề án “Điều tra, đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường nước, hệ
sinh thái lòng Hồ Tây; đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm và khai thác
sử dụng hợp lý Hồ Tây” thì các thông số thủy lý tại Hồ Tây như sau:
Nhiệt độ: Nhiệt độ nước ở Hồ Tây dao động từ 25 † 340C Nhiệt độ ở tầng đáy thường thấp hơn ở tầng mặt, nhiệt độ trong nước mặt thay đổi theo mùa, mùa mưa có nhiệt độ nước cao hơn mùa khô
Độ pH: Độ pH dao động từ 6,9 † 9,8 và cao nhất ở những tháng mùa mưa (tháng
8) Độ pH trung bình ở tầng mặt và tầng đáy ít có sự chênh lệch, thường nằm trong khoảng từ 7,5 † 8,5 Ở các điểm cửa cống thải, độ pH có xu hướng nghiêng
về trung tính hơn Độ pH đạt chỉ tiêu cho phép tiêu chuẩn A1 và A2 theo QCVN08:2008/BTNMT
Hàm lượng oxy hòa tan (DO): Hàm lượng DO nhìn chung có sự thay đổi theo
mùa, mùa mưa có hàm lượng DO cao hơn so với mùa khô, DO tầng mặt của Hồ Tây dao động 0,4 † 2,3 mg/l (trung bình 5,57 mg/l) Hàm lượng DO tầng đáy dao động 0,4 † 8,6 mg/l (trung bình 4,79 mg/l), DO là lượng Oxy hoà tan trong nước cần thiết cho sự hô hấp của các nhóm động vật thuỷ sinh… Giá trị DO trung bình tầng mặt vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa (trong các đợt tháng 4 và tháng 11) dao động 4,92 † 5,55 mg/l, thấp hơn so với hàm lượng DO trong tháng 8 (mùa mưa) 5,97 mg/l Hàm lượng DO ở các điểm cống thải thường rất thấp so với tiêu chuẩn cho phép Giá trị trung bình Oxy hoà tan ở tầng mặt ổn định và cao hơn so với tầng đáy và đã vượt chuẩn Riêng ở các điểm cống thải lớn, hàm lượng DO không đạt tiêu chuẩn B1 (hàm lượng DO xuống rất thấp, dưới tiêu chuẩn cho phép nhiều vùng cửa cống có hiện tượng yếm khí, hàm lượng DO chỉ 0,4 mg/l) theo QCVN08:2008/BTNMT Tại tầng nước sát đáy, hàm lượng DO thấp hơn tầng mặt, vùng nước tất cả các cửa cống đều có hàm lượng DO thấp dưới mức cho phép theo cả mức B1 và A2 theo QCVN08:2008/BTNMT
Trang 37Độ muối: Độ muối là hàm lượng tổng cộng tính bằng gam của tất cả các chất
khoáng có trong nước Độ muối trong tầng mặt Hồ Tây thường ở mức < 0,2%
Độ muối không biến đổi nhiều, nhưng tại các vùng cửa cống, độ muối cao hơn hẳn và biến đổi thất thường có thể do ảnh hưởng của nước thải xung quanh ra Hồ Tây Hàm lượng muối ở tầng đáy biến đổi theo mùa rất rõ: mùa mưa (tháng 8) có hàm lượng muối thấp nhất và đồng đều giữa các điểm khảo sát; vào mùa khô (đầu tháng 5 và tháng 11), hàm lượng muối cao hơn hẳn
Độ dẫn (EC): Độ dẫn điện của nước tương quan với độ muối, liên quan đến sự
có mặt của các ion trong nước Các ion này thường là muối của kim loại như NaCl, KCl, SO2, NO3-, PO4 3- v.v Tác động ô nhiễm của nước có độ dẫn điện cao thường liên quan đến tính độc hại của các ion tan trong nước Để xác định
độ dẫn điện, người ta thường dùng các máy đo điện trở hoặc cường độ dòng điện Độ dẫn thường cao và biến đổi lớn tại khu vực các điểm cống
Độ đục (NTU): Độ đục của nước gây ra bởi những chất rắn lơ lửng mà không
nhìn được bằng mắt thường Nguyên nhân gây ra độ đục trong nước là do các loại bùn, axit silic, các loại chất hữu cơ, vi sinh vật và thực vật phù du Độ đục làm hạn chế ánh sáng trong nước, làm cho một số thực vật khó phát triển, và dẫn đến những động vật sống dựa vào những thực vật này cũng bị ảnh hưởng Trong thời điểm mùa mưa, độ đục của nước Hồ Tây thường cao hơn so với mùa khô, và
độ đục ở tầng đáy thường cao hơn so với tầng mặt
b Các thông số thuỷ hoá
Các thông số thủy hóa tại Hồ Tây đã được Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật
trong đề án “Điều tra, đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường nước, hệ sinh
thái lòng Hồ Tây; đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm và khai thác sử dụng hợp lý Hồ Tây” thì các thông số thủy hóa tại Hồ Tây như sau:
Chất rắn lơ lửng (SS) trong nước: Hàm lượng chất rắn lơ lửng ở khu vực Hồ Tây
dao động từ 8,6 † 147,3 mg/l Trong mùa khô và đầu mùa khô (tháng 4 và tháng 5), hàm lượng SS thường thấp, biến đổi từ 8,6 † 48,5 mg/l, nhỏ hơn giới hạn cho phép nước mặt QCVN08:2008/BTNMT cột B2 Đến mùa mưa (tháng 8), hàm lượng chất rắn lơ lửng tăng đột biến, và luôn cao hơn tiêu chuẩn cho nước mặt và
Trang 38dao động từ 74,1 mg/l † 147,3 mg/l Nguyên nhân có sự đột biến này bởi trong mùa mưa, các chất thải ở ven hồ theo nước mưa đổ xuống hồ làm xáo trộn và thúc đẩy quá trình trao đổi chất trong thuỷ vực hồ
Tại khu vực các cống thải, hàm lượng chất rắn lơ lửng cũng tương tự như sự
biến đổi chất lượng nước mặt của Hồ Tây, chất lượng nước ở các cống thải trong mùa khô (tháng 4 và tháng 5) cũng biến đổi không nhiều và đều nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép cho nước thải sinh hoạt (QCVN 14: 2008/BTNMT), biến đổi từ 9,8 mg/l đến 31 mg/l Hàm lượng chất rắn lơ lửng trong các cống thải trong mùa mưa (tháng 8) rất cao, dao động từ 83,16 mg/l † 168,47 mg/l, cao hơn so với tiêu chuẩn cho phép QCVN 14:2008/BTNMT, mức B (tối đa cho phép trong nước thải sinh hoạt khi thải vào các nguồn nước không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt)
Hàm lượng BOD 5 : Hàm lượng BOD5 ở Hồ Tây khá cao, dao động từ 11 † 187 mg/l Ở các điểm cách xa cống thải, hàm lượng này so với tiêu chuẩn nước mặt QCVN 08:/BTNMT với mức A2 và B1 đều vượt quá và gấp 2 † 3 lần Tại các điểm cống xả thải vào hồ: hàm lượng BOD5 so với tiêu chuẩn nước thải sinh hoạt QCVN 14:2008/BTNMT mức B (B < 50) cũng vượt quá gấp 2 † 4 lần Nếu
so sánh với các kết quả nghiên cứu trước đây, hàm lượng BOD5 ở thời điểm hiện tại là cao hơn nhiều cả về giá trị cực tiểu cũng như cực đại
Hàm lượng COD: Dao động từ 29 † 370 mg/l, giá trị trung bình trong các đợt từ
30-250 mg/l cao hơn so với kết quả nghiên cứu trước đây: 45 † 110 mg/l (Nguyễn Quốc Hùng 2001) So với giới hạn cho phép QCVN 08: A2, B1 tại các điểm khảo sát đều vượt quá giới hạn cho phép Tại các điểm cống thải, COD vượt giới hạn cho phép B2 đến 7 lần
Hàm lượng Amoni NH4 + : Hàm lượng NH4+ ở Hồ Tây trong các đợt khảo sát gần đây dao động từ 0,01 † 2 mg/l, thường ở mức cao và vượt giới hạn cho phép (QCVN 08:2008/BTNMT), nhất là trong thời kỳ đầu mùa khô (tháng 4), có xu hướng giảm xuống trong các tháng mùa mưa Các điểm đo ở cống thải có hàm lượng amoni rất cao, vượt gấp nhiều lần giới hạn cho phép (một số các cống thải
có khi vượt quá 40 † 50 lần khi đã tính ở mức độ giá trị trung bình)
Trang 39Hàm lượng Nitrit NO 2 - : Hàm lượng nitrit trong quá trình khảo sát cũng rất cao,
thường vượt quá giới hạn cho phép, không chỉ riêng ở các điểm cống xả thải mà
ở các điểm khác trong hồ cũng đạt giá trị rất cao
Hàm lượng Nitrat NO 3 - : Hàm lượng NO3- biến động theo thời gian, cao nhất vào tháng 4 (cuối mùa khô, đầu mùa mưa) và giảm dần và thấp nhất vào mùa mưa, sau đó có xu hướng tăng dần vào mùa khô
Hàm lượng Tổng nitơ (TN): Tại Hồ Tây, hàm lượng Tổng N có trị số trung bình
khoảng 4,07 mg/l, biến đổi trong khoảng từ 0,491 † 72,75 mg/l Nếu so với giới hạn cho phép của Đan Mạch thì hàm lượng tổng N ở các điểm trên hồ vượt quá 4 lần, giá trị tính trung bình của hàm lượng này vượt quá 40 lần và tại các điểm cống thải còn cao hơn nữa Hàm lượng ni tơ tổng số cũng có biến động theo thời gian, cao nhất vào tháng 4 (cuối mùa khô, đầu mùa mưa) và giảm dần và thấp nhất vào mùa mưa, đầu mùa khô
Hàm lượng phốt phát (PO 4 2- ) và tổng phốt pho (TP): Phốt pho là chất dinh
dưỡng trong nguồn nước có nguồn gốc từ quá trình tăng sinh khối trong hệ sinh thái nước Các kết quả phân tích hàm lượng PO42- trong nước Hồ Tây dao động 0,111 † 0,673 mg/l Nhìn chung hàm lượng muối phốt phát ở các vùng nước giữa
hồ thấp dưới mức cho phép Ở vùng cửa cống xả, hàm lượng phốt phát đã cao vượt mức cho phép Hàm lượng phốt phát PO42- cũng có biến động theo thời gian, cao nhất vào tháng 4 (cuối mùa khô, đầu mùa mưa) và giảm dần và thấp nhất vào mùa mưa, đầu mùa khô
Theo Viện chất lượng nước Đan Mạch thì khi nước bị phú dưỡng, hàm lượng Tổng P > 0,15 mg/l Tại Hồ Tây, hàm lượng Tổng P có trị số trung bình khoảng 1,06 mg/l, biến đổi trong khoảng 0,18 † 24,2 mg/l, điều này chứng tỏ nước tại
Hồ Tây bị phú dưỡng Hàm lượng phốt pho tổng số cũng có biến động theo thời gian, cao nhất vào tháng 4 (cuối mùa khô, đầu mùa mưa) và giảm dần và thấp nhất vào mùa mưa, đầu mùa khô
Hàm lượng muối silic ( SiO 3 2- ): Hàm lượng muối dinh dưỡng Silíc Hồ Tây dao
động từ 10 † 42 mg/l Mùa khô (tháng 11) hàm lượng muối Silic cao hơn so với mùa mưa, hàm lượng Silic ở tại cửa cống thường cao hơn ở vùng giữa hồ
Trang 40Hàm lượng dầu mỡ trong nước: Dầu mỡ là chất lỏng khó tan trong nước, độc
tính và tác động sinh thái của dầu mỡ phụ thuộc vào từng loại dầu Hầu hết các loài thực, động vật đều bị tác động của dầu mỡ các loài thủy sinh và cây ngập nước đều dễ bị chết do dầu mỡ ngăn cản quá trình hô hấp, quang hợp và cung cấp chất dinh dưỡng
Hàm lượng dầu mỡ trong nước Hồ Tây ít có sự thay đổi theo mùa trong năm Hàm lượng dầu mỡ biến đổi từ 0,048 † 0,085 mg/l trong các tháng đầu mùa khô Giá trị phân tích cho thấy, ở các điểm trên mặt hồ hàm lượng này đạt giới hạn cho phép ở mức độ A2, ở các điểm cống thải tuy hàm lượng này có cao hơn nhưng vẫn đạt giới hạn cho phép ở mức độ B1
Tại hầu hết các khu vực trong hồ, hàm lượng dầu thấp hơn GHCP của nước mặt (0,02 mg/l) Tuy nhiên, tại những điểm xả thải hàm lượng dầu rất cao vượt trên giới hạn cho phép 3 † 4 lần, nước bị ô nhiễm dầu mỡ, và trong nước vùng ven
hồ hàm lượng các chất dầu mỡ đều có xu hướng tăng cao Đây cũng là một nguyên nhân làm cho cá chết hàng loạt tại một số điểm ở Hồ Tây trong thời gian vừa qua
Hàm lượng Cyanua và Phenol: Hồ Tây không bị ô nhiễm phenol và cyanua,
hàm lượng cyanua và phenol ở trong nước hồ đều nhỏ hơn rất nhiều GHCP
Hoá chất bảo vệ thực vật: Những nhóm thuốc BVTV chủ yếu trong nước Hồ
Tây là HCB, DDE và DDT đều có hàm lượng rất nhỏ so với tiêu chuẩn cho phép, mặc dù hàm lượng DDT trong nước khá lớn so với các nhóm khác nhưng vẫn còn rất nhỏ so với tiêu chuẩn cho phép Do vậy có thể kết luận nước Hồ Tây chưa bị ô nhiễm bởi thuốc BVTV
3.2.2 Đặc điểm hệ sinh thái Hồ Tây