Hệ thống thuỷ vực trong Vườn Quốc gia Ba Bể có nhiều tác dụng điều hoà lưu lượng và mực nước cho khu vực Ba Bể và hạ lưu sông Gâm, sông Lô ở Tuyên Quang; là lá phổi điều hoà khí hậu cho
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC 3
1.2 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC CÁ NƯỚC NGỌT TRÊN THẾ GIỚI 4
1.3 ĐA DẠNG SINH HỌC CÁC LOÀI CÁ NƯỚC NGỌT Ở VIỆT NAM 5 1.4 CÁC NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC CÁC LOÀI CÁ NƯỚC NGỌT Ở KHU VỰC BA BỂ 6
1.5 MỘT SỐ HÌNH THỨC QUẢN LÝ ĐDSH ĐẤT NGẬP NƯỚC HIỆN HÀNH 8
1.6 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ 11
1.6.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 11
1.6.2 KINH TẾ - XÃ HỘI 15
CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 19
2.1.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 19
2.1.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 21
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.2.1 NHẬN BIẾT LOÀI 21
Trang 22.2.2 ĐO CÁC CHỈ TIÊU CẦN THIẾT 21
2.2.3 PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ (NGOẠI NGHIỆP) 22
2.2.4 THU THẬP SỐ LIỆU VÀ PHÂN TÍCH (NỘI NGHIỆP) 24
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
3.1 ĐA DẠNG SINH HỌC CÁ Ở HỒ BA BỂ 26
3.1.1 THÀNH PHẦN CÁC LOÀI 26
3 1.2 TÍNH PHONG PHÖ VÀ ĐA DẠNG 32
3.1.3 KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CÁ HỒ BA BỂ 36
3.1.4 CÁC LOÀI CÁ QUÝ HIẾM 39
3.2 NGUỒN LỢI CÁ 42
3.2.1 CÁC LOÀI CÁ KINH TẾ 42
3.2.2 SẢN LƯỢNG VÀ NĂNG SUẤT KHAI THÁC 45
3.2.3 BIẾN ĐỘNG SẢN LƯỢNG, NĂNG XUẤT NGUỒN LỢI CÁ VÀ NGUYÊN NHÂN 50
3 3 ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ NGHỀ CÁ HIỆN NAY Ở HỒ BA BỂ 55
3.3.1 ĐÁNH GIÁ VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN Ở HỒ BA BỂ55 3.3.2 ĐÁNH GIÁ VỀ NGHỀ CÁ HIỆN NAY Ở HỒ BA BỂ 57
3 4 ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ BẢO TỒN 64
3.4.1 NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN 65
3.4.2 CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN 65
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 69
KẾT LUẬN 69
KHUYẾN NGHỊ 70
ĐỐI VỚI VQG BA BỂ VÀ CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC 70 ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 75
Trang 3PHỤ LỤC 1 DANH LỤC CÁC LOÀI CÁ THU ĐƢỢC Ở HỒ BA BỂ
2006 76
PHỤ LỤC 2 BẢNG PHỎNG VẤN 84
PHỤ LỤC 3 CÁC NGUỒN THU NHẬP CHÍNH CỦA HỘ GIA ĐÌNH 91
PHỤ LỤC 4 MỘT SỐ HÌNH ẢNH KHU VỰC NGHIÊN CỨU
VÀ MỘT SỐ LOÀI CÁ 92
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Số liệu khí hậu trung bình tháng khu vực Vườn Quốc gia Ba Bể 11
Bảng 2 Dân số các xã nằm trong khu vực Vườn quốc gia Ba Bể 15
Bảng 3 Số hộ dân các bản sống xung quanh Hồ Ba Bể 16
Bảng 4 Biến động thành phần các loài cá ở Hồ Ba Bể qua các năm 26
Bảng 5 Thành phần các họ, giống, loài ở vùng Hồ Ba Bể và sông Năng 27
Bảng 6 Tỷ lệ thành phần cá ở Hồ Ba Bể đến 2006 28
Bảng 7 Thành phần loài phát hiện thêm ở Hồ Ba Bể và sông Năng 30
Bảng 8 Các loài cá không phát hiện được so với trước đây 31
Bảng 9 Tính phong phú loài cá Hồ Ba Bể so với các hồ nước ngọt của Việt Nam 32
Bảng 10 Thành phần các loài cá quý hiếm ở Hồ Ba Bể và sông Năng 39
Bảng 11 Các loài cá quý hiếm ghi nhận ở Hồ Ba Bể và vùng phụ cận 40
Bảng 12 Thành phần các loài cá kinh tế ở lưu vực Hồ Ba Bể và sông Năng 42
Bảng 13 Phương tiện đánh bắt năm 2006 so với 2003 48
Bảng 14 Sản lượng, năng suất trung bình qua các thời kỳ ở Hồ Ba Bể 48
Bảng 15 Khu vực thu được nhiều cá 49
Bảng 16 Biến động nguồn lợi qua các thời kỳ 51
Bảng 17 Độ thường gặp các loài cá quý hiếm các tháng trong năm 54
Bảng 18 Công tác quản lý bảo tồn nguồn lợi Hồ Ba Bể 60
Bảng 19 Biện pháp bảo tồn nguồn lợi 64
Trang 5DANH MỤC HÌNH
HÌNH 2.1: ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 19
HÌNH 2.2: HỒ BA BỂ - ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 21
HÌNH 2.3: SƠ ĐỒ CÁC TUYẾN, ĐIỂM ĐIỀU TRA 23
HÌNH 3.1: TỶ LỆ SỐ LOÀI CÁ THUỘC CÁC BỘ Ở KHU VỰC HỒ BA BỂ TỪ TRƯỚC ĐẾN 2006 27
HÌNH 3.2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI CÁ HỒ BA BỂ 28
HÌNH 3.3: THÀNH PHẦN LOÀI CÁ HỒ BA BỂ ĐIỀU TRA 2006 30
HÌNH 3.4: SO SÁNH SỐ LOÀI/HA GIỮA CÁC HỒ TỰ NHIÊN Ở VIỆT NAM 34
HÌNH 3.5: SỐ LOÀI CÁ HỒ BA BỂ VÀ CÁC HỒ TỰ NHIÊN CỦA VIỆT NAM 34
HÌNH 3.6: SỐ LOÀI CÁ HỒ BA BỂ VÀ CÁC HỒ CHỨA CỦA VIỆT NAM 35 HÌNH 3.7: SƠ ĐỒ HIỆN TRẠNG CÁC BÃI CÁ ĐẺ TỰ NHIÊN 38
HÌNH 3.8: THỜI GIAN & TẦN SUẤT ĐÁNH BẮT CÁC LOÀI CÁ TRONG NĂM 46
HÌNH 3.9: SẢN LƯỢNG CÁ HỒ BA BỂ TỪ 1962-2006 49
HÌNH 3.10: GIÁ TRỊ SẢN PHẨM THU ĐƯỢC TRONG NĂM 50
HÌNH 3.11: BIẾN ĐỘNG SẢN LƯỢNG CÁC LOÀI CÁ KINH TẾ 52
HÌNH 3.12: MỨC ĐỘ CÁC NGUYÊN NHÂN SUY GIẢM NGUỒN LỢI CÁ HỒ BA BỂ 53
HÌNH 3.13: ĐỘ THƯỜNG GẶP CÁC LOÀI CÁ QUÝ HIẾM 55
HÌNH 3.14: TỶ LỆ PHƯƠNG TIỆN ĐÁNH BẮT 57
Trang 6Insitu B¶o tån néi vi
IUCN TỔ CHỨC BẢO TỒN THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI
RIGMR Viện nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản
UNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốc
WCPA Hội đồng các khu bảo vệ thế giới
Trang 7MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trên thế giới, đất ngập nước được ước tính chiếm khoảng 6% diện tích địa cầu, có khoảng 8,6 triệu km2 đất ngập nước trên thế giới tồn tại trong các vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới (Mitsch và Geosselink, 1993) Ở Châu Á có khoảng 120 triệu héc ta đất ngập nước, không kể các diện tích lúa nước trong vùng Châu Á
Tại Việt Nam, đất ngập nước (ĐNN) được kiểm kê là 5.810.000 hecta thuộc
25 khu đất ngập nước (Lê Diên Dực, 1989), trong đó Hồ Ba Bể là 1 trong 25 khu được kiểm kê đề xuất bảo vệ Trong 68 vùng ĐNN của Việt Nam (khoảng 341.833 ha) có tầm quan trọng về đa dạng sinh học và môi trường, thì VQG Ba Bể là một trong những vùng đa dạng sinh học và môi trường quan trọng đó
Hệ thống thuỷ vực chính gồm Hồ Ba Bể với diện tích 450 ha, có 3 con sông và suối đổ vào hồ sông với tổng lưu vực là 421 km2, nước hồ chảy ra sông Năng với lưu vực 1420 km2 (Viện khoa học thuỷ lợi, 2003) ĐNN nằm trong diện tích Vườn Quốc gia Ba Bể chiếm khoảng 22% diện tích của Vườn (10.048ha), diện tích bề mặt của ĐNN của Vườn thuộc loại nhỏ, có phạm vi dưới 25% (Finlayson CM &cs.,2002)
Hệ thống thuỷ vực trong Vườn Quốc gia Ba Bể có nhiều tác dụng điều hoà lưu lượng và mực nước cho khu vực Ba Bể và hạ lưu sông Gâm, sông Lô ở Tuyên Quang; là lá phổi điều hoà khí hậu cho cả khu vực, giữ nhiệt độ ôn hoà trung bình năm 220C; tạo cho thảm thực vật phát triển nhanh với nhiều hệ thực vật phong phú, chứa đựng giá trị đa dạng sinh học rất cao, trong đó có nguồn lợi thuỷ sản và các loài
cá
Đa dạng sinh học cá rất quan trọng, sự có mặt hoặc vắng mặt hay mật độ của các loài cá phản ảnh chất lượng của sinh cảnh, mặt khác nó có thể gây những ảnh hưởng nhất định đến nơi sống của nhiều loài, không chỉ dưới nước mà cả trên cạn (WWF, 2003) Cá là một mắt xích thức ăn cho nhiều loài động vật (rái cá, kỳ đà, chim bói cá, diều hâu, rắn nước ) và chúng cũng ăn nhiều động vật và các chất mùn bã, các loài cỏ dại Cá là nguồn tài nguyên thiên nhiên có giá trị, nguồn đạm
Trang 8quan trọng, nguồn thực phẩm chính yếu đối với bà con sống ở các khu vực đất ngập nước, đặc biệt là bà con dân tộc miền núi sống trong và quanh vườn quốc gia Cá đang là món ăn đặc sản, món ăn chính của con người khi mà bệnh cúm gia cầm, lở mồm long móng phát triển mạnh ở gia súc, gia cầm Cá cũng góp phần làm đẹp cho gia đình, hấp dẫn khách du lịch nhưng cá cũng là đối tượng bị khai thác mạnh ở hầu hết các thuỷ vực trong các khu bảo tồn ở nước ta
Trong thời gian vừa qua đã có nhiều nghiên cứu của một số cơ quan, các nhà khoa học trên một số lĩnh vực như: Động vật, thực vật rừng, kinh tế xã hội, nguồn lợi cá tại các khu vực, Vườn Quốc gia, khu BTTN, nhưng mỗi nghiên cứu có mục đích, nội dung nghiên cứu và đánh giá khác nhau trong một giai đoạn nhất định Hiện nay, tình hình sử dụng, khai thác thuỷ sản của người dân và công tác quản lý bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước ở các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia tại Việt Nam còn nhiều hạn chế và nhiều bất cập, bên cạnh đó việc điều tra, đánh giá tài nguyên, đa dạng sinh học thuỷ sinh nói chung và đa dạng sinh học
cá nói riêng cũng chưa được quan tâm và tổ chức thực hiện tốt, trong đó có Ba Bể Với những lý do trên tôi chọn đề tài:
“Điều tra, đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý bảo tồn đa dạng sinh học cá tại Hồ Ba Bể, Vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn”, nhằm
góp phần nêu bật các giá trị đa dạng sinh học và đóng góp cho việc quản lý bảo tồn,
sử dụng bền vững nguồn lợi cá cho VQG Ba Bể nói riêng và các khu bảo tồn thiên
nhiên nói chung
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đa dạng sinh học về các loài cá, điều tra, đánh giá hiện trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý bảo tồn đa dạng sinh học cá Hồ Ba
Bể
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung chính tại Hồ Ba Bể - VQG Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về ĐDSH Đa dạng sinh học được hiểu chung là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật
và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những HST vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường
Đa dạng sinh học theo công ước ĐDSH, năm 1992, được định nghĩa như sau:
“Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn gen trong hệ sinh thái trên cạn, ở biển và các hệ sinh thái dưới nước khác và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; Đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền), giữa các loài và các hệ sinh thái”
Do vậy, ĐDSH bao gồm 3 cấp độ: đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng HST
Đa dạng loài bao gồm toàn bộ các loài sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động, thực vật và các loài nấm Ở mức độ vi mô hơn, ĐDSH bao gồm cả sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các quần thể sống cách ly về địa lý cũng như sự khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể ĐDSH còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống, các HST nơi mà các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau
Chúng ta cũng biết rằng ĐDSH cực kỳ phức tạp; ĐDSH bao gồm rất nhiều thành phần, mối tương tác giữa các thành phần đó với nhau rất phức tạp, và một điều nữa, đó là chúng ta chưa nói đến việc còn rất nhiều thành phần của ĐDSH mà chúng
ta chưa biết được Để có thể hoàn thành được mục tiêu là giữ được sự cân bằng giữa bảo tồn, sử dụng bền vững và phân chia công bằng các lợi ích, đòi hỏi phải có cơ cấu
tổ chức phù hợp và tập trung vào việc giải quyết được một cách ổn thoả cuộc sống của con người, nhất là những người nghèo khổ Do đó cần bảo tồn, quản lý ĐDSH một cách hữu hiệu
Trang 10Bảo tồn ĐDSH là nói đến các hoạt động nhằm gìn giữ được ĐDSH về các mặt: cung cấp các nguyên vật liệu cần thiết cho cuộc sống của con người, các giá trị
về xã hội, văn hoá và các dịch vụ về sinh thái (Bộ TN &MT, 2004) Bảo tồn ĐDSH cũng bao gồm cả các hoạt động liên quan đến bảo tồn các loài, nguồn gen có trong mỗi loài và các sinh cảnh, các cảnh quan, thông qua việc bảo tồn các HST và việc khai thác một cách hợp lý các cây, con và cả các nguồn tài nguyên vi sinh vật để phục vụ cho cuộc sống của con người, cho đến việc sản xuất và phân phối các lợi nhuận có được từ các tài nguyên sinh vật Bảo tồn đa dạng sinh học có nhiều cách trong đó thường ở dạng bảo tồn nội vi và bảo tồn ngoại vi
1.2 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC CÁ NƯỚC NGỌT TRÊN THẾ GIỚI
Trên thế giới, việc nghiên cứu đa dạng sinh học cá nước ngọt (trong đó cá là chính) về đa dạng loài, nơi cư trú ít được biết đến so với các loài ở trên cạn Hiện đã biết 20.000 loài cá trên thế giới, chiếm khoảng 48% so với tổng số loài trong ngành động vật có xương sống ("ĐDSH HST nước ngọt” http:// www.nea.gov.vn, 2004)
Về đa dạng loài: ở Thái Lan, các Nhà khoa học cho rằng có khoảng 1000 loài
cá nước ngọt, nhưng chỉ khoảng 475 loài được ghi nhận hiện nay; ở sông Amazon
đã có 3000 loài cá, chỉ ít hơn 25% tổng số các loài thú trên toàn trái đất nhưng cũng chỉ là con số được dự đoán Ngày nay, đa dạng sinh học nước ngọt đang bị đe doạ nghiêm trọng Một số nghiên cứu gần đây đã công bố tất cả các loài cá bản địa trong lưu vực ở Mexico đã bị tuyệt diệt, ở Malaysia chỉ còn một nửa trong số 266 loài cá được biết trước đây Tại Singapore, 18 trong số 56 loài cá nước ngọt được ghi nhận năm 1934 nay đã không còn Ở Bắc Mỹ, 1/3 loài cá nước ngọt bản địa đã bị tiêu diệt hoặc bị đe doạ ở mức độ khác nhau ("ĐDSH HST nước ngọt” http:// www.nea.gov.vn, 2004)
Về nơi cư trú: các sinh vật trên đất liền hoặc trong biển sống trong các môi trường mà ít nhiều có sự liên tục trên một vùng rộng lớn và các loài sẽ có sự điều chỉnh nhất định phạm vi phân bố của chúng khi các điều kiện khí hậu hoặc sinh thái
Trang 11nước ngọt không di chuyển dễ dàng qua vùng đất liền phân chia châu thổ sông thành các đơn vị riêng biệt Điều này gây ra ba ảnh hưởng:
- Các loài cá nước ngọt phải tiếp tục tồn tại khi có những thay đổi về khí hậu
và sinh thái ở nơi cư trú
- Đa dạng sinh học cá nước ngọt thường có tính địa phương hoá cao, thậm chí các hệ thống hồ và suối nhỏ cũng thường có những dạng sống tiến hoá đơn nhất có tính địa phương
- Đa dạng loài trong các thuỷ vực nước ngọt thường cao do có sự khác nhau
về thành phần loài giữa các địa điểm
Các nhà khoa học cho rằng các hồ giống như các đảo, hồ nội địa có tính đa dạng sinh học rất cao, đặc biệt hồ có nguồn gốc nứt gẫy địa chất như hồ Baikal ở Trung Á, các hồ ở Đông Phi có mật độ các loài đặc hữu cao nhất thế giới
1.3 ĐA DẠNG SINH HỌC CÁC LOÀI CÁ NƯỚC NGỌT Ở VIỆT NAM
Ở nước ta, nghiên cứu về nguồn lợi cá nước ngọt đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu từ thời Pháp đến nay Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, đã có các tác giả: H.E Sauvage (1881,1884), J.Pellegrin và P Chevey (1934 -1938) nghiên cứu Từ sau ngày giải phóng miền Bắc, các tác giả Mai Đình Yên (1959.1960,1963,1964,1966,1969,1978), Nguyễn Văn Hảo (1964,1975,1999) đã có những kết quả nghiên cứu, thống kê, hoặc mô tả hình thái, lập khoá phân loại, đặc điểm phân bố và giá trị kinh tế của 201 loài cho các tỉnh phía Bắc rất sâu, rộng Khu hệ cá ở miền Nam, đã có một số công trình nghiên cứu được công bố, tác giả Mai Đình Yên, trong công trình “ Định Loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ”, năm 1992 đã lập và định loại, mô tả 255 loài; một số tác giả khác như Nguyễn Hồng Nhung và Nguyễn Hữu Dực nghiên cứu khu hệ cá nội địa tại Cà Mau (2003) có
179 loài, Tống Xuân Tám (2004) mô tả 150 loài khu hệ cá sông Sài Gòn
Khu hệ cá miền Trung Việt Nam được tiến hành muộn hơn so với 2 khu hệ miền Bắc và miền Nam Tuy nhiên, đã có nhiều tác giả điều tra, nghiên cứu và công
bố các công trình như: điều tra thành phần cá sông Thu Bồn với 85 loài, sông Trà
Trang 12Khúc 47 loài, sông Ba 48 loài, sông Cái - Nha Trang 25 loài; khu hệ cá ở đầm Châu Trúc với 47 loài (Bộ Thuỷ sản,1996) Tác giả Nguyễn Xuân Khoa và Nguyễn Hữu Dực (2001) đã nghiên cứu khu hệ cá khe suối khu BTTN Pù Mát-Nghệ An với 73 loài
Ước tính ở Việt Nam, các nhà khoa học đã phát hiện có 544 loài cá nước ngọt thuộc 228 giống, 57 họ và 18 bộ (Nguyễn Tấn Trịnh, 1996)
Như vậy, các hoạt động nghiên cứu nguồn lợi thuỷ sản mới được đẩy mạnh từ đầu thế kỷ XX (Đặng Ngọc Thanh và cs., 2002), nhưng các hoạt động nghiên cứu này cũng chỉ tập trung vào một số loài động, thực vật thuỷ sinh và cá ở các địa điểm nhất định Gần đây nhất, Nguyễn Văn Hảo (2001, 2005) đã giám định, tu chỉnh danh pháp cho các taxon và công bố 1027 loài thuộc 427 giống, 98 họ, 22 bộ cá trong bộ sách gồm 3 tập "Cá ngước ngọt Việt Nam” Đây là công trình lớn và mô tả khá đầy đủ về thành phần loài của khu hệ cá nội địa trên toàn bộ lãnh nước ta
1.4 CÁC NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC CÁC LOÀI CÁ NƯỚC NGỌT
Ở KHU VỰC BA BỂ
Hồ Ba Bể là hồ tự nhiên nằm trên vùng núi đá vôi, là một trong những hồ tự nhiên đẹp nhất thế giới và là di sản thiên nhiên, là kỳ tích danh lam thắng cảnh của các nước vùng Đông Nam Á nói riêng và thế giới nói chung Chính những điều đó
đã thu hút nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đến nghiên cứu như các tác giả: Pellegrin và Chevey (1936), Chevey và Lemasson (1937), Đào Văn Tiến (1963), Nguyễn Văn Hảo (1964), Mai Đình Yên và Bùi Lai (1969) Nguyễn Văn Hảo (1975), các tác giả Mai Đình Yên, Trần Mai Thiên, Nguyễn Văn Hảo (1992), Nguyễn Văn Hảo (1999), Nguyễn Hữu Dực (2001) Nhìn chung các công trình nghiên cứu trước đều đã đưa ra những dẫn liệu nghiên cứu cơ bản trong từng thời kỳ
- Nghiên cứu sớm nhất về khu hệ cá Hồ Ba Bể là Pellegrin và Chevey (1936), Chevey và Lemasson (1937) đã báo cáo 3 loài cá trong đó có mô tả
1 loài mới là cá Lợ (Cyprinus multitaeniatus)
- Năm 1963, Đào Văn Tiến báo cáo về nguồn lợi Hồ Ba Bể bao gồm 17 loài
Trang 13- Năm 1964, Nguyễn Văn Hảo, ngoài các số liệu về thuỷ lý, thuỷ hóa và cơ sở thức
ăn còn đưa ra danh sách 32 loài cá trong 10 họ và nêu một số đặc điểm sinh học của 4 loài cá (Bỗng, Chép, Diếc, Trôi) và đánh giá nguồn lợi, ý nghĩa kinh tế của
hồ
- Năm 1969, tác giả Mai Đình Yên và Bùi Lai trong công trình “Nguồn lợi hồ
Ba Bể” đã đưa ra danh sách 49 loài cá (trong đó Hồ Ba Bể: 40 loài, Nam Cường: 21 loài và Bản Vài: 18 loài); mô tả đặc điểm sinh học của 5 loài cá: Chép, Bỗng, Trôi, Lợ, Quả và nêu ý nghĩa kinh tế của hồ
- Năm 1975, Nguyễn Văn Hảo với công trình “Cơ sở sinh học và nguồn lợi
cá hồ Ba Bể” đã đề cập đến đặc điểm tự nhiên, các yếu tố lý hoá của nước, nền đáy, cơ sở thức ăn và đưa ra danh sách 56 loài cá trong 46 giống thuộc
16 họ đồng thời mô tả đặc điểm sinh học của 1 loài cá và sản lượng cá trên
hồ
- Năm 1992, các tác giả Trần Mai Thiên, Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Hảo đã tập hợp 12 báo cáo khoa học về hồ Ba Bể, chỉnh lý và bổ sung từ đó xây dựng “Luận chứng khoa học kỹ thuật thiết kế hồ Ba Bể thành khu dự trữ thiên nhiên để bảo vệ, lưu giữ nguồn gen thuỷ sản nước ngọt”
- Năm 1998, Bộ môn thuỷ sản - Trường Đại học Nông - Lâm Thái nguyên kết hợp với Phòng Môi trường & Bảo vệ Nguồn lợi Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I nghiên cứu đề tài “Đa dạng sinh học Vườn Quốc gia Ba Bể” đã đưa ra danh sách 63 loài cá hiện có ở Hồ Ba Bể trong đó có phát hiện 10 loài mới
- Từ những năm của thập kỷ 90, nhiều đề tài, dự án nước ngoài và trong nước cũng đã tập trung điều tra nghiên cứu chất lượng môi trường nước ở Hồ Ba
Bể và khu hệ động vật và thực vật như: Năm 1997, 1998 Nguyễn Công Minh Và Dương Đức Tiến đã nghiên cứu “Chất lượng nước và nguồn lợi thuỷ sản hồ Ba Bể” đã đưa ra những dẫn liệu cơ bản về chất lượng môi trường nước và vi tảo của những năm 1998 Tiếp theo đó, những năm 2002-
2003, Đặng Đình Kim và cộng sự đã nghiên cứu tổng quan về chất lượng
Trang 14môi trường và thành phần tảo ở các hồ trong đó có Hồ Ba Bể và được báo cáo ở nước ngoài, trong nước vào tháng 1/2005
- Bên cạnh những nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước thì một số dự
án nước ngoài cũng tiến hành nghiên cứu ở khu vực sông Lô - Gâm trong
đó có sông Năng, Hồ Ba Bể và khu vực Vườn Quốc gia Ba Bể như: Dự án nghiên cứu tổng quan đa dạng cá nước ngọt Việt Nam của WWF và Ngân hàng Thế giới, năm 1998; Dự án Bảo tồn và phát triển các 4 loài cá quý hiếm: Cá Bỗng, cá Lăng chấm, cá Chiên, cá Anh vũ ở thượng nguồn sông Lô-Gâm năm 2002-2003;
- Năm 2003-2004, Dự án PARC nghiên cứu đa dạng sinh học tổ hợp bảo tồn
Ba Bể và Na Hang, trong dự án chủ yếu nghiên cứu đa dạng và bảo tồn trên cạn mà chưa nghiên cứu đa dạng sinh học và bảo tồn dưới nước
Đến nay, ở Hồ Ba Bể, các nhà khoa học đã phát hiện và ghi nhận 106 loài cá thuộc 65 giống, 18 họ và 5 bộ; có 138 loài và phân loài thực vật nổi thuộc 8 ngành,
đặc biệt là loài tảo đỏ nước ngọt Batrachospermum sp ở hồ; 35 loài và nhóm động
vật nổi, 10 loài thân mềm (Bộ NN&PTNT, 2003)
Có thể nói đã có nhiều công trình nghiên cứu về môi trường và nguồn lợi Hồ
Ba Bể, những số liệu và các đánh giá cũng khá phong phú Tuy nhiên, những nghiên cứu trên cũng chỉ đánh giá trong từng giai đoạn thời điểm lịch sử nhất định Trong giai đoạn hiện nay, do yêu cầu bảo tồn đa dạng sinh học ở nước, bảo tồn nhiều loài thuỷ sản quý hiếm, những đánh giá về nguồn lợi thuỷ sản và ĐDSH cá
Hồ Ba Bể làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất xây dựng các biện pháp quản lý bảo tồn và tái tạo nguồn lợi là việc làm rất cần thiết
1.5 MỘT SỐ HÌNH THỨC QUẢN LÝ ĐDSH ĐẤT NGẬP NƯỚC HIỆN HÀNH
Trên thế giới, việc quản lý các hệ sinh thái đất ngập nước hoặc quản lý bảo tồn
đa dạng sinh học cá và các loài động, thực vật thuỷ sinh đã được nhiều quốc gia trên thế giới tham gia bằng việc ký vào Công ước quốc tế về đất ngập nước (RAMSAR), các nguyên tắc bảo tồn đã được đề xuất Một trong những giải pháp bảo tồn đất
Trang 15ngập nước được coi là hiệu quả là thành lập các khu bảo tồn (IUCN,2003) để bảo vệ nội vi (Insitu) hay bảo tồn ngoại vi (Exsitu) như khu thử nghiệm, ngân hàng gen, bảo tàng
Ở Việt Nam, Chính Phủ đã có Nghị định số 109/2003/NĐ-CP về Bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước (ĐNN) Đất ngập nước bao gồm những vùng đất có hệ sinh thái đặc thù, đa dạng sinh học cao, có chức năng duy trì nguồn nước và cân bằng sinh thái, có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế
Bảo tồn các vùng đất ngập nước là các hoạt động khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt môi trường, hệ sinh thái đặc thù, có giá trị sinh học cao nhằm cân bằng hệ sinh thái, bảo vệ các giống, loài đang sinh sống, cư trú và phát triển trên các vùng đất ngập nước Nghị định còn chỉ ra rằng: Kết hợp sử dụng, khai thác với bảo tồn, ưu tiên bảo tồn đối với các vùng đất ngập nước có hệ sinh thái đặc thù, ĐDSH cao, có tầm quan trọng quốc tế đồng thời tăng cường sự tham gia bảo tồn các vùng đất ngập nước của cộng đồng dân cư sinh sống trên địa bàn và các khu vực lân cận
Quản lý ĐNN có nhiều cách thức khác nhau phụ thuộc vào mục đích của các nhà quản lý hoặc phụ thuộc vào các thể chế, chính sách liên quan đến bảo tồn ĐNN (Hoàng Văn Thắng, 2005) Hiện nay quản lý ĐNN theo mục tiêu, dựa trên các chức năng của vùng ĐNN mà chọn các mục tiêu đề quản lý là một trong những nguyên tắc được áp dụng rộng rãi hiện nay (theo Isozaki và cs (ed.), 1992):
- Khai thác, sử dụng ĐNN một cách khôn khéo có nghĩa là không làm biến đổi các chức năng dịch vụ và quá trình sinh thái của chúng;
- Tiến hành quản lý tổng hợp, nhất là quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng;
- Xây dựng thể chế, chính sách, quy hoạch, căn cứ pháp lý cũng như cơ sở khoa học để sử dụng khôn khéo, hiệu quả và bền vững các vùng ĐNN;
- Quy hoạch và triển khai các hoạt động bảo vệ các vùng ĐNN quan trọng và HST ĐNN là điểm nóng cần được bảo tồn;
- Lồng ghép quản lý ĐNN vào kế hoạch phát triển kinh tế địa phương;
Trang 16- Đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ về nghiên cứu, bảo tồn và sử dụng khôn khéo các HST ĐNN trên cơ sở bảo tồn để phát triển bền vững;
- Tạo những thu nhập thay thế giúp cộng đồng giảm sức ép lên ĐNN Gắn hoạt động phát triển kinh tế với bảo tồn;
- Đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục môi trường nâng cao nhận thức
về ĐNN nói riêng và môi trường nói chung
Hiện nay, ở Việt Nam bảo tồn đa dạng sinh học ở nước có ở trong các khu Ramsar, Khu dự trữ sinh quyển, Di sản thiên nhiên, các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia
Ở VQG Ba Bể, việc quản lý bảo tồn nguồn lợi thuỷ sản và cá đã được quan tâm chú trọng quản lý bảo vệ từ khi thành lập Vườn (1992) Các quy định về khai thác đánh bắt đã được cụ thể bằng các văn bản: cấm đánh bắt cá, thuỷ sản bằng các chất độc hại, phương tiện đánh bắt trái với truyền thống Việc quản lý bảo vệ được VQG Ba Bể tổ chức có hiệu quả, bao gồm lực lượng kiểm lâm phối hợp với chính quyền tuần tra, xử lý các vụ vi phạm trong khu vực Đặc biệt, từ 2004 đến nay Vườn đã phối hợp với chính quyền địa phương xây dựng tổ quản lý bảo vệ hồ với
sự tham gia của các chủ xuồng trực tiếp chở khách du lịch, tuần tra phát hiện các vụ
vi phạm khai thác thuỷ sản trái phép, vệ sinh môi trường hồ…bước đầu có kết quả tốt Nhưng bên cạnh đó những bất cập về quản lý bảo tồn, công tác phối hợp giữa các cơ quan đơn vị còn nhiều tồn tại, trong đó việc biện pháp bảo tồn chưa đủ mạnh, thường xuyên liên tục; biện pháp tổ chức chưa đồng bộ và các giải pháp quản lý có tính kỹ thuật chưa được áp dụng
Như vậy, đa dạng sinh học cá đã được nhiều nhà khoa học, nhiều tổ chức của thế giới và trong nước nghiên cứu từ rất lâu Các nghiên cứu được tập trung tại một địa phương, quốc gia, rộng hơn là khu vực và toàn cầu, đều có chung một đánh giá
là cá rất đa dạng, đa dạng về thành phần loài, đa dạng về giống, bộ, họ và đa dạng
về gen Ở Việt Nam nói chung và khu vực Ba Bể nói riêng các nhà khoa học đã nghiên cứu về cá được từ những năm đầu của thế kỷ 20 cho cho tới nay Việc quản
lý và bảo tồn đa dạng sinh học các hệ sinh thái đất ngập nước, tuỳ thuộc vào điều
Trang 17kiện địa phương hoặc khu vực, trong đó có cơ chế, trình độ phát triển kinh tế, mức sống của người dân, năng lực của cơ quan quản lý mà vận dụng hay tiến hành một hình thức hay cách quản lý linh hoạt, hiệu quả đảm bảo nguyên tắc phát triển phải phục vụ cho mục đích bảo tồn và ngược lại
1.6 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ
1.6.1 Điều kiện tự nhiên
Vườn Quốc gia Ba Bể nằm ở phía Tây Bắc huyện Ba Bể, cách thị xã Bắc Kạn
68 km theo hướng Tây Bắc và cách Thủ đô Hà Nội 250 km về phía Bắc Phía Tây giáp xã Nam Cường và Xuân Lạc (huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn) Phía Bắc giáp xã Cao Thượng (huyện Ba Bể, Bắc Kạn) Phía Đông giáp xã Cao Trĩ và xã Khang Ninh (huyện Ba Bể, Bắc Kạn) Phía Nam giáp xã Quảng Khê (huyện Ba Bể, Bắc Kạn) Trung tâm của VQG Ba Bể là Hồ Ba Bể, hình thành khoảng 10.000 năm trước đây trên núi karst, có độ cao 145m so với mặt nước biển (UBND tỉnh Bắc Kạn, 2004)
Khí hậu
Do địa hình núi cao, trong vùng núi đá vôi, với sự bốc hơi nước từ hồ, diễn ra liên tục quanh năm tạo nên tiểu khí hậu xung quanh Hồ Ba Bể mát mẻ và ẩm Chênh lệch về nhiệt độ, độ ẩm giữa các tháng trong năm không lớn (Bảng 1)
Bảng 1 Số liệu khí hậu trung bình tháng khu vực Vườn Quốc gia Ba Bể
Trang 18VQG Ba Bể là một phức hệ bao gồm suối, hồ trên vùng núi đá vôi Hồ Ba Bể rộng 450 ha, có độ sâu trung bình từ 17 đến 23 m, sâu nhất là 35 m, dài gần 9km, dung tích chứa khoảng 90 triệu m3 nước Về mùa khô mặt hồ ở mức 145,5m so với mực nước biển; mùa lũ trung bình ở mức 147,5 m (Viện KH thuỷ lợi, 2003) Nước
Hồ chảy theo hướng Nam-Bắc ra sông Năng với lưu tốc dòng chảy 0,5m/s; Hồ chia làm 3 phần: Hồ 1 có sông Chợ Lèng chảy vào, Hồ 2 có suối Bó lù và Tà Han, Hồ 3 phần phía bắc hồ giáp với sông Năng Đầu nguồn của Hồ Ba Bể là núi Phia Bjióoc
có độ cao trung bình 800 -1530m, đây là thượng nguồn của sông Chợ Lèng Tổng lưu vực khu vực Vườn khoảng 1.841 km2 Tách biệt cạnh Hồ Ba Bể là Ao tiên giáp với Hồ 3, có diện tích khoảng 1,2 ha, cũng là một hồ nhỏ đặc biệt
Hiện trạng các yếu tố môi trường Hồ Ba Bể
Nhiệt độ: tầng mặt dao động từ 23,5 - 25 0C, ở tầng đáy là 17 - 17,5 0C Nhiệt
độ sông, suối thấp hơn, dao động 27,7-31,5o
C Nhiệt độ nước tầng đáy thấp, khoảng 18-20oC, không cao hơn nhiều so với nhiệt độ nước tầng đáy trong mùa đông là 17o
C Điều đó cho thấy sự tương đối ổn định nhiệt độ nước tầng đáy của hồ
Ba Bể Mức chênh lệch nhiệt độ giữa khối nước tầng mặt và tầng sâu 18 m trở lên dao động từ 9,9 tới 14,3o Ở thời điểm mùa đông mức chênh lệch nhiệt độ giữa tầng mặt và tầng đáy chỉ trên dưới 7oC Tầng biến nhiệt (thermocline) ở độ sâu 4-6 m
Độ trong của hồ được đo bằng đĩa Secchi từ 70 -200cm Sự phát triển của tảo
cũng ảnh hưởng rất nhiều đến độ trong của hồ Theo điều tra qua nhân dân và chứng kiến của bản thân thường từ tháng 10 tảo phát triển làm xanh nước và gần cuối tháng 12 tảo chết tàn lụi màu nước nâu đỏ (đặc biệt ở Ao Tiên) từ Hồ 3 đến đảo An Mã giáp với Hồ 1 làm nhiều loài cá ăn nổi chết Trong trường hợp này nhiệt độ thời tiết thường dưới 60C
Hàm lượng ô xy hoà tan tầng mặt trong thời kỳ mùa khô khá cao, dao động từ
8,27 đến 10,6 mg/l (thường vượt mức bão hoà ô xy) Hàm lượng ô xy hoà tan trong mùa mưa (tháng 8/2000) dao động từ 6,92 - 9,46 mg/l Cũng tương tự như đặc tính phân tầng nhiệt độ, hàm lượng ô xy hoà tan cao ở tầng mặt, thấp dần ở tầng nước sâu hơn Có sự phân tầng ô xy rõ rệt giữa khối nước tầng mặt và khối nước tầng
Trang 19đáy Tại khu vực nông, ô xy tầng đáy (ở độ sâu 5 m) đạt tới 5,3 mg/l, trong khi đó, mùa khô có nơi ô xy tầng đáy xuống rất thấp, chỉ còn 0,23-0,79 mg/l
Tầng thay đổi ô xy đột ngột (oxygencline) ở độ sâu 6-10 m Mức chênh lệch nhiệt độ giữa khối nước tầng mặt với tầng sâu (trên 20 m trở lên) dao động từ 6,77 đến 8,8 mg/l Hàm lượng ô xy ở khối nước tầng đáy thấp, thậm chí có nơi chỉ còn 0,79 mg/l, biểu thị môi trường đáy hồ có biểu hiện bị yếm khí Có thể ở đây, hàm lượng các chất hữu cơ lắng đọng trong lớp trầm tích bề mặt đáy cao, lượng ô xy đã được tiêu dùng tối đa trong quá trình phân huỷ, khoáng hoá lượng hữu cơ đó nên đã
bị cạn kiệt
Độ pH: pH nước hồ bình quân từ 7,18 – 8,4, mùa xuân pH = 8,3 (kiềm yếu) Phosphorus trong Hồ Ba Bể: PO4-P trong hồ có sự biến động Mức độ biến động trong hồ giảm dần từ Hồ 1 đến Hồ 3 Trong hồ, PO4-P dao động trung bình từ 0,019 – 0,027mg/l Trong khi đó ở thác Đầu Đẳng trên sông Năng, phosphorus trung bình là 0,023mg/l (dao động từ 0,011 – 0,029mg/l)
Hàm lượng nitrite trên hồ: Nitrite trong hồ dao động từ 0,002 – 0,007mg/l,
trung bình 0,004mg/l (Hồ 1 từ 0,003 – 0,007mg/l, Hồ 2 từ 0,002 – 0,005mg/l, Hồ 3
từ 0,002 – 0,005mg/l) Nitrite trong Hồ 1 cao hơn Hồ 2 và Hồ 3
Hàm lượng chlorophyll-a: Chlorophyll-a giảm dần theo Hồ 1 đến Hồ 3 Hồ1
có chlorophyll-a trung bình là 7,60mg/m3, Hồ 2 là 7,16mg/m3
và Hồ 3 hàm lượng chlorophyll-a là 5,65mg/m3 Hàm lượng chlorophyll-a trong tháng 1 tăng dần đến tháng 5, tháng 7 hàm lượng chlorophyll-a thấp, tháng 9 cao và ổn định hơn và tăng dần cho đến tháng 10 tại cả trong hồ và sông Năng Khối lượng chlorophyll-a trong
hồ luôn cao hơn ngoài sông Năng Qua chỉ tiêu này có thể nói mức dinh dưỡng trên sông nhỏ hơn trong hồ, (Ngô Sĩ Vân, 2005)
Độ dẫn điện thể hiện ion hoà tan trong thuỷ vực Độ dẫn điện trong hồ dao
động từ 162,6 – 240 S/cm, trung bình cho toàn hồ là 204,6 S/cm Thác Đầu Đẳng
là từ 172,5 – 224,3 S/cm, trung bình 206,4 S/cm và Chợ Rã là 162,6 - 224,3
S/cm, trung bình 206,4S/cm Độ dẫn điện trong hồ tương đối ổn định và cao hơn
Trang 20sông Năng trong tháng 7 và tháng 9 Độ dẫn điện dao động có thể nguyên nhân do mưa lũ đưa các ion hoà tan vào nước Độ dẫn điện cao tạo ra năng suất của thuỷ vực lớn (Ngô Sĩ Vân, 2005)
Đa dạng sinh học của VQG Ba Bể
Ba Bể có 9.122 ha các loại sinh cảnh rừng Sinh cảnh rừng trên núi đá vôi chiếm tới 6.766 ha (66,9%), trong đó có 3.421 ha rừng núi đá vôi nguyên sinh chưa
bị tác động (34,1%) Rừng nhiệt đới trên núi đá vôi là một kiểu phụ thảm thực vật rất độc đáo còn lại rất hiếm ở các nước trên thế giới Tại đây có nhiều nơi sống (habitat) rất đặc trưng, nhiều quần hợp và nhiều loài cây đặc hữu tiêu biểu cho rừng
trên núi đá vôi như: Nghiến (Burretiodendron hsienmu), Trai (Garcinia
fagraeoides), Chò đãi (Annamocarya sinensis), Đinh (Markhamia stipulata) và các
loài Lan hài (Paphiopedilum spp.) (UBND tỉnh Bắc Kạn,2004)
Khu vực rừng nguyên sinh trên núi đá vôi có tính đa dạng sinh học rất cao:
Về thực vật: Qua những điều tra bước đầu đã thống kê được 162 họ, 672 chi,
1.281 loài thực vật bậc cao có mạch Trong số đó có 77 loài thực vật bị đe doạ tiêu diệt được ghi trong Sách đỏ Việt Nam, 38 loài có mức độ đe doạ toàn cầu được ghi trong Sách đỏ thế giới của IUCN, và 52 loài đặc hữu của Việt Nam
Về động vật: Đã thống kê được 81 loài thú, trong đó có 27 loài được mô tả
trong Sách Đỏ Việt Nam năm 1992, 19 loài được ghi trong Sách Đỏ IUCN (2004);
322 loài chim, trong đó 21 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam và 6 loài được ghi trong Sách Đỏ IUCN,(2004); 44 loài ếch nhái bò sát, trong đó có 17 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam và 17 loài được ghi trong Sách Đỏ thế giới IUCN (2003); 106 loài cá trong đó 11 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam và 1 loài được ghi trong sách đỏ (IUCN, 2003) Đặc biệt, Ba Bể cũng là vùng sinh cảnh quan trọng của 2 loài linh trưởng là Voọc đen má trắng, Voọc mũi hếch và 1 loài bò sát đặc hữu hẹp là Cá cóc bụng hoa
Đa dạng sinh học ở nước: Ngoài cá, thuỷ vực khu vực Hồ Ba Bể rất đa dạng
và phong phú, các nhà khoa học đã ghi nhận: Thành phần loài động vật không xương sống các thủy vực trong cảnh quan vùng núi đá vôi đặc trưng với sự phong
Trang 21phú các nhóm loài ấu trùng côn trùng ở nước như Ephemeroptera, Trichoptera,
Plecoptera, các loài cua núi họ Potamidae, các loài ốc suối với giống
Cremnoconchus, không thấy có ở các thủy vực vùng đồng bằng Sự phong phú
của khu hệ động vật không xương sống nước ngọt ở Hồ Ba Bể và các thủy vực phụ cận không chỉ thể hiện ở taxon loài mà còn thể hiện ở taxon giống Cho đến nay, đã xác định được 49 loài động vật nổi thuộc các nhóm Trùng bánh xe, Giáp xác râu ngành, Giáp xác chân chèo, có bao và 29 loài động vật đáy thuộc các nhóm trai, ốc, tôm, cua ở Hồ Ba Bể và các thủy vực phụ cận Ngoài ra, mới xác định được 32 họ
ấu trùng côn trùng nước thuộc 8 bộ có trong các thủy vực suối, sông ở khu vực này
Số lượng các loài động vật không xương sống đã xác định được như trên còn thấp hơn so với thực tế bởi nhiều nhóm động vật nguyên sinh (Prrotozoa), giun ít tơ (Olygochaeta) chưa được nghiên cứu (Lê Hùng Anh, Hồ Thanh Hải,2003)
Cho đến nay đã thống kê, xác định được 179 loài thực vật nổi thuộc các ngành Tảo lục, Vi khuẩn lam, Tảo si líc, Tảo mắt, Tảo giáp và Tảo vàng ánh Cấu trúc thành phần loài thực vật nổi hồ Ba Bể đã thể hiện đặc tính của hồ ( Tảo lục có thành phần loài cao nhất: 74 loài), đồng thời thể hiện khá rõ nét của hồ vùng núi bị ảnh hưởng nhiều của nước sông, suối do xuất hiện Tảo si líc với số lượng loài đáng kể
(44 loài) Đặc biệt có loài tảo đỏ nước ngọt Batrachospermum sp thuộc ngành
Rong đỏ Rhodophyta có ở Hồ Ba Bể (Hồ Thanh Hải,2003)
1.6.2 Kinh tế - xã hội
1.6.2.1 Tình hình dân cư sống xung quanh hồ
Qua điều tra thu thập các số liệu của Vườn Quốc gia Ba Bể, từ Uỷ ban nhân dân, Phòng Nông nghiệp huyện Ba Bể, UBND xã Nam Mẫu huyện Ba Bể dân số nằm trong diện tích Vườn quốc gia là 2.922 nhân khẩu gồm 596 hộ (Bảng 2)
Bảng 2 Dân số các xã nằm trong khu vực Vườn quốc gia Ba Bể
Trang 22hồ, có một số hộ tham gia làm dịch vụ du lịch và chạy thuyền máy chở khách trong Hồ (Bảng 3)
Bảng 3 Số hộ dân các bản sống xung quanh Hồ Ba Bể
TT Thôn, Bản Số hộ 2006 Số hộ 2001
% Số hộ tham gia khai thác cá và phục vụ du lịch
(Nguồn: UBND xã Nam Mẫu, 2006)
Thành phần các dân tộc sống quanh vùng hồ bao gồm 4 dân tộc: Tày, Dao, Mông, Kinh Diện tích đất lâm nghiệp chiếm 94,5% diện tích tự nhiên, còn lại khoảng 5,5% đất nông nghiệp trồng lúa và hoa màu
Tình hình gia tăng dân số sống xung quanh hồ là khá lớn, đời sống của nhân dân còn nghèo nàn lạc hậu, trình độ dân trí thấp, việc kiếm kế sinh nhai chủ yếu vẫn dựa vào thiên nhiên Chính vì vậy, đã gây áp lực không nhỏ đối với công tác quản lý bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên trong vùng Vườn Quốc gia Ba Bể
Từ thị trấn Chợ Rã (Ba Bể) có thể theo sông Năng bằng thuyền máy đi vào và
đi đường bộ theo đường tỉnh lộ 258 đến trung tâm VQG Ba Bể Việc du lịch và đi lại trong khu vực Hồ chủ yếu bằng phương tiện là thuyền độc mộc và thuyền máy,
sự phát triển dạng thuyền có động cơ đi ê gen càng ngày càng gia tăng do đầu tư rẻ,
Trang 23vẻ tĩnh mịch linh thiêng tự nhiên vốn có của nó Việc mở các tuyến đường như đường Cao Trĩ – Quảng Khê, đường Quảng Khê - Đồng Phúc, Hoàng Trĩ ở vùng đầu nguồn Hồ Ba Bể có ưu điểm là tạo đường giao thông đi lại thuận lợi để mở mang tri thức, nâng cao đời sống văn hoá, kinh tế cho dân bản song cũng có những ảnh hưởng xấu như làm bồi lắng lòng Hồ và lưu vực sông Năng
1.6.2.3 Tình hình hoạt động của Vườn Quốc gia Ba Bể
Vườn Quốc gia Ba Bể được thành lập ngày 10 tháng 11 năm 1992 theo quyết định số 83/TTG của Thủ tướng Chính phủ Diện tích rộng trên 10.048 ha thuộc địa phận các xã Cao Thượng, Cao Trĩ, Khang Ninh, Nam Mẫu, Quảng Khê huyện Ba
Bể tỉnh Bắc Kạn Chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của VQG Ba Bể là quản lý bảo vệ toàn bộ đất đai tài nguyên và các giá trị đa dạng sinh học, các nguồn gen quý hiếm Là địa bàn cho nghiên cứu và phục vụ nghiên cứu khoa học, phục vụ du khách và tổ chức hoạt động du lịch sinh thái Vườn Quốc gia Ba Bể là đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND tỉnh Bắc Kạn quản lý Bộ máy Vườn Quốc gia gồm : Ban giám đốc và các đơn
vị trực thuộc là các Hạt kiểm lâm, Trung tâm du lịch sinh thái và giáo dục môi trường, phòng KHKT, phòng kế toán và phòng tổ chức hành chính (UBND tỉnh Bắc Kạn, 2003) Mức thu nhập của các cán bộ trong Vườn bình quân trên 800.000đ/tháng Tổng
số có 75 cán bộ trong đó trên đại học: 1, đại học 25 người , 35 trung cấp còn lại là công nhân
Với chức năng nhiệm vụ quản lý bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học, Vườn đã triển khai áp dụng các quy định, thể chế về quản lý bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Quy chế rừng đặc dụng, Quy chế quản lý VQG Ba Bể Kết hợp với Chính quyền địa phương tăng cường kiểm tra, kiểm soát, hạn chế việc khai thác lâm sản trái phép, đồng thời hỗ trợ nâng cao đời sống nhân dân trong vùng bằng các chương trình dự án 661, giáo dục môi trường, dịch vụ du lịch…dần dần từng bước ổn định đời sống nhân dân Số vụ vi phạm về phá rừng làm nương rẫy, săn bắt chim thú, vận chuyển lâm sản trái phép…từ hạn chế đến chấm dứt hẳn
Trang 24Áp lực, thách thức trong công tác quản lý bảo tồn đa dạng sinh học của Vườn và dân cư ở vùng lõi cũng còn nhiều vấn đề như : Sự gia tăng dân số, nhu cầu về vật liệu làm nhà, nhu cầu về thực phẩm, nhu cầu về đất canh tác, đất ở, phát triển cơ sở hạ tầng, nguy cơ từ phát triển du lịch, sự bồi lấp hồ…Đây đang là những yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn VQG Ba Bể trước mắt cũng như lâu dài nếu không có chính sách và cơ chế quản lý tốt, không có sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương thì sẽ có nhiều hậu quả xấu khó lường Cho nên, cần có những giải pháp thật cụ thể để đáp ứng được hai mục tiêu quan trọng là bảo tồn đa dạng sinh học và đảm bảo đời sống của cộng đồng dân cư địa phương
Trang 25CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu tại vùng lõi của Vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn nằm ở vùng đông Bắc Việt Nam, có toạ độ địa lý (Hình 2.1):
Từ 22016’12” đến 22o33’45” Vĩ độ Bắc
Từ 105028’31” đến 105o47’20” Kinh độ Đông
Hình 2.1: Địa điểm nghiên cứu
Trang 26Khu vực nghiên cứu là vùng đất ngập nước nội địa đặc trưng cho hệ sinh thái
hồ nước ngọt trên núi đá vôi ở Đông Bắc Việt Nam và Đông Nam Á Theo hệ thống phân loại các kiểu đất ngập nước của Ramsar, vùng Hồ Ba Bể gồm loại hình ĐNN sau:
M - các sông suối, lạch thường xuyên có nước; bao gồm cả các thác nước
O - các hồ nước ngọt có nước thường xuyên (trên 8 ha), và
Zk - các hệ thống thuỷ văn karst ngầm và hang động nội địa
(Nguồn: Finlayson CM &cs.,2002)
Khu vực đất ngập nước bao gồm 3 sông Chợ Lèng, suối Bó Lù và Tà Han chảy vào hồ Nước hồ chảy ra sông Năng rồi đi xuống Tuyên Quang hợp với sông Gâm
(Nguồn: VQG Ba Bể, 2005)
Trang 27Hình 2.2: Hồ Ba Bể - địa điểm nghiên cứu
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được triển khai từ tháng 7 đến tháng 11 năm 2006 Trong đó thời gian triển khai ở thực địa được triển khai liên tục trong 3 tháng Thời gian còn lại là thu thập thêm số liệu thứ cấp, bổ sung và cập nhật các số liệu thực địa liên quan
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Nhận biết loài
Trên thực địa, để nhận biết loài chủ yếu quan tâm vào các đặc điểm chính sau:
- Môi trường sống: môi trường sống của cá rất khác nhau, do đó có thể căn
cứ vào môi trường để nhận biết loài
- Đặc điểm hình thái: có rất nhiều đặc điểm hình thái ngoài có thể giúp ta nhận biết loài, phân biệt loài này với loài khác
Căn cứ vào vị trí các cơ quan trên cơ thể: miệng, vị trí vây bụng, mắt
Căn cứ vào màu sắc cơ thể: cá chầy đất có vây bụng và vây hậu môn màu đỏ, các loài cá chạch suối có nhiều vân đen ngang thân
Căn cứ vào số lượng các bộ phận trên cơ thể: các chỉ tiêu số lượng như tia vây, vảy trước vây lưng, số lượng lược mang, số đôi râu, số lượng vây lưng luôn cố định với một số loài
2.2.2 Đo các chỉ tiêu cần thiết
Bao gồm một số chỉ tiêu cụ thể sau:
- Kích thước: đo các bộ phận của cá có vai trò quan trọng trong định loại, dụng cụ đo: Thước kẹp Palme hoặc com pa;
- Cân khối lượng cơ thể (P): cân trực tiếp khi còn tươi và được tính bằng gam (gr);
- Chiều dài toàn thân cá (L); Chiều dài đén giữa chạc đuôi (Lc); Chiều dài chuẩn (Lo); Chiều cao thân (H); Chiều cao cuống đuôi (h); chiều dài đầu (T); khoảng cách trước ổ mắt (Ot); đường kính mắt (O); dài gốc vây lưng (ID1)
- Các chỉ tiêu đếm gồm:
Trang 28 Các tia vây lưng (D), tia vây hậu môn (A), tia vây ngực (P), tia vây đuôi (C);
2.2.3 Phương pháp điều tra, đánh giá (ngoại nghiệp)
Mục đích là phát hiện và lập danh sách các loài cá, cùng với sự phân bố của chúng tại các thuỷ vực khác nhau trong VQG Ba Bể Chúng tôi đã tiến hành theo 2 phương pháp:
2.2.2.1 Khảo sát trên thực địa
Địa điểm quan sát và thu mẫu theo các tuyến sau (Xem hình 2.3):
Tuyến 1 (Khu vực Hồ 1): đi từ Bến Bắc đến cửa sông Pác Ngòi và từ Bến Nam sang cửa sông Bó lù, Cốc tộc
Tuyến 2 (Khu vực Hồ 2): Từ Bến Bắc Qua đảo An mã sang cửa suối Tà Han
Tuyến 3 đi từ Hồ 1 sang Hồ 3 đến cửa Hồ 3 gặp sông Năng, ra sông Năng đến thác Đầu Đẳng
Trang 29Hình 2.3: Sơ đồ các tuyến, điểm điều tra
- Các dụng cụ được sử dụng: Vợt, xô, lọ nhựa, thước, bút, com pa; máy ảnh
và phim; cân, sổ tay, các bảng câu hỏi phỏng vấn
- Công việc trên các tuyến điều tra được tiến hành mỗi buổi sáng và chiều.; Dùng thuyền hoặc kết hợp đi cùng một số ngư dân theo các tuyến cố định vừa quan sát vừa thu các mẫu cần thiết
- Một số mẫu được thu mua trực tiếp từ người dân ở hồ, các chợ và nhờ ngư dân
và cán bộ kiểm lâm giúp; Các mẫu thu được được lựa chọn để chụp ảnh và
Thác Đầu Đẳng
Thôn Bản Cám Sông Năng
Hồ 1
Pắc Ngòi Bến Bắc
Bến Nam
Trang 30ngâm vào bình có foóc môn và cồn etylic 90% ; các mẫu được cân và đeo thẻ
số cá
2.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn, đàm thoại:
Phỏng vấn bằng phiếu đã được thiết kế sẵn Dùng sách “Định loại cá Nước Ngọt” của Mai Đình Yên (năm 1978) để xem hình, so sánh, dùng tiếng Tày để hỏi các hộ ngư dân khu vực tại 5 thôn bản quanh hồ Ba Bể và sông Năng: Pác Ngòi, Bó Lù, Cốc Tộc, Bản Cám, Tà Kèn và các Chủ thuyền neo đậu ở 2 bến Bắc và Nam của Hồ Ba Bể (Phụ lục 2) Số phiếu điều tra là 50 phiếu
Phỏng vấn, đàm thoại trên tuyến điều tra với các ngư dân đánh bắt cá
Dùng sổ ghi chép thông tin thu thập được, cụ thể các thông tin được quan tâm như: Tên loài cá (tên khoa học, tên địa phương, tên phổ thông), thời gian, địa điểm, người cung cấp tin, phương pháp đánh bắt đã sử dụng, điều kiện thời tiết, đặc điểm môi trường, mô tả ngắn gọn một số đặc điểm chính của tiêu bản
2.2.4 Thu thập số liệu và phân tích (nội nghiệp)
Liệt kê các tài liệu, các báo cáo, các bài báo, các loại bản đồ, ảnh, phác hoạ, bảng biểu của các nhà khoa học, các tác giả nghiên cứu, các cơ quan, đơn vị
về cá, nguồn lợi thuỷ sản, môi trường, kinh tế – xã hội, công tác quản lý bảo tồn tại Ba Bể nói riêng và phạm vi cả nước, khu vực và thế giới Các báo cáo nghiên cứu về khu hệ cá, đa dạng sinh học cá ở Hồ Ba Bể từ trước đến nay của các tác giả: Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Dực, Ngô Sỹ Vân và các báo cáo nghiên cứu về hồ Ba Bể của tác giả: Hồ Thanh Hải, Vườn Quốc gia Ba Bể,
Tập hợp các dữ liệu đã có (số liệu, sổ ghi chép, ảnh, phác hoạ, các bảng phỏng vấn )
Thiết kế những mẫu bảng ghi các dữ kiện chủng loại
Phân loại các mẫu bảng đó theo nhóm thông tin, theo thời gian, theo khu vực, theo từng kiểu sinh cảnh và theo từng loài
Chuyển tải các thông tin đó vào máy tính, sử dụng phần mềm Word và Excel
để tính toán, phân tích, so sánh
Trang 31 Phân tích số liệu: phân tích nguyên nhân, diễn biến đa dạng sinh học về cá, nguyên nhân suy thoái nguồn lợi cá, đối chiếu thành phần đa dạng sinh học cá qua các thời gian từ nghiên cứu trước đến bây giờ
Phương pháp phân tích mẫu cá là các phương pháp thông thường theo các tài liệu hiện đang được các nhà khoa học, cán bộ ở các khu bảo tồn sử dụng rộng rãi như: Các tài liệu hướng dẫn phân tích, định loại cá nước ngọt Việt Nam và các vùng lân cận Trình tự các bộ, họ, giống, loài được xắp xếp theo hệ thống phân loại cá thế giới “ Catalog of Fishes” của W.N.Eschmeyer (1998)- Viện hàn lâm khoa học California, Mỹ (W.N.Eschmeyer, 1998)
Sử dụng phương pháp chuyên gia: Hỏi và trao đổi với giáo viên hướng dẫn và các nhà khoa học đã nghiên cứu tại khu vực về việc phân tích, nhận biết mẫu vật, môi trường hoặc các số liệu liên quan
Trang 32CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
- Giai đoạn từ 1998 -2003 (Giai đoạn II) gồm các nghiên cứu của Nguyễn Văn Hảo và cộng sự (1999) và kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trọng Hiệp và cs (2003) gồm 87 loài và phân loài thuộc 61 giống, 17 họ và 5 bộ
- Giai đoạn từ 2003 -2005, Ngô Sỹ Vân (2005) đã xác định có 64 loài thuộc 46 giống, 16 họ và 5 bộ (Bảng 4)
Bảng 4 Biến động thành phần các loài cá ở Hồ Ba Bể qua các năm
1 Nguyễn Văn Hảo (1964) 10 58,82 30 49,18 32 36,78
2 Mai Đình Yên và cs (1969) 16 94,12 42 68,85 49 56,32
3 Nguyễn Văn Hảo (1975) 16 94,12 47 77,05 56 64,37
4 Nguyễn Văn Hảo và cs (1999) 16 94,12 40 65,57 63 72,41
5 Nguyễn Hữu Dực, Nguyễn Trọng
Trang 33tới 106 loài và phân loài nằm trong 65 giống, thuộc 18 họ và 5 bộ và 5 phân bộ, (xem Phụ lục 1)
Trong tổng số 106 loài và phân loài thì bộ cá Chép có số lƣợng loài nhiều nhất với 73 loài thuộc 42 giống trong 3 họ, chiếm tỷ lệ 68,57%; tiếp đến là bộ cá Vƣợc với
19 loài, chiếm 18,10%; tiếp theo là bộ cá Nheo với 10 loài; bộ cá Mang liền với 3 loài, chiếm 2,86% và cuối cùng bộ cá Kìm có 1 loài thuộc 1 giống, 1họ, chiếm 0,88% (Bảng 5 và hình 3.1)
Bảng 5 Thành phần các họ, giống, loài ở vùng Hồ Ba Bể và sông Năng
TT Tên Việt Nam Tên khoa học Các họ Các giống Các loài
Trang 343.1.1.2 Hiện trạng thành phần loài cá Hồ Ba Bể năm 2006
So sánh kết quả điều tra của các tác giả trước với kết quả điều tra, phỏng vấn ngư dân và đánh giá, chúng tôi tổng hợp được kết quả như Bảng 6 và Hình 3.2 dưới đây:
Trang 35Số loài cá Hồ Ba Bể qua các năm
Số loài cá hồ Ba Bể qua các năm
Nhƣ vậy, cho đến nay, chúng tôi đã xác định đƣợc 69 loài thuộc 5 bộ, 50 giống và 16 họ trong năm 2006 này Đây là đợt thống kê có số lƣợng loài cao
Trong 5 bộ bộ cá hiện có tại Hồ Ba Bể, có 3 bộ cá quan trọng là: Bộ cá Chép
(Cypriniformes) với 43 loài, chiếm 62,5 %; bộ cá Vƣợc (Perciformes) với 17 loài chiếm 25%; bộ cá Nheo (Siluriformes) với 5 loài, chiếm 7,35% (Hình 3.3)
Trang 36Hình 3.3: Thành phần loài cá Hồ Ba Bể điều tra 2006
Qua hình trên có thể thấy bộ cá Chép có số loài nhiều nhất, sau đó là bộ cá Vược và bộ cá Nheo
a) Thành phần loài cá phát hiện thêm ở Hồ Ba Bể và sông Năng
Qua điều tra, đánh giá, phỏng vấn và khẳng định của ngư dân, chúng tôi đã
phát hiện thêm 6 loài so với kết quả trước Đặc biệt loài cá Anh Vũ (Semilabeo
notabili ) mặc dù đã được phát hiện trong các nghiên cứu trước đây nhưng mấy
năm vừa qua không phát hiện trở lại (xem Bảng 7)
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đã thu thập được thông tin của một loài chưa xác định mà ngư dân mô tả như sau: L = 50cm, H = 3cm; Cá có đầu nhỏ, nhọn, dẹp bên, thân tròn như chạch bùn, không có vây lưng Thân màu nâu đen Bụng màu vàng nhạt, có vây liền mỏng ở bụng Địa điểm bắt được: sông Năng, cạnh vách đá Thông tin này được nhiều hộ dân Bản cám khẳng định
Việc phát hiện thêm một số loài có trong hồ trong thời gian này có thể do sự phát tán một cách tự nhiên theo dòng nước hoặc do điều kiện thay đổi ít nhiều mà nhiều loài cá trước đây chưa phát hiện được nay phát hiện thêm ở hồ như: cá Cầy,
cá Xảm bao, Xảm lài, cá Anh Vũ
Bảng 7 Thành phần loài phát hiện thêm ở Hồ Ba Bể và sông Năng
TT Tên tiếng việt Tên khoa học
Nơi phát hiện
Hồ Ba
Bể
S Năng
3 Cá Xảm Lài Parazacco vinhi Hảo & Đại, 2000 + +
4 Cá Cầy Parasprinibarbus macracanthus
Trang 375 Cỏ hoả Similabeo tonkinensis
6 Cỏ Anh Vũ Semilabeo notabilis Peters,1880 +
b Thành phần loài cá không phát hiện so với tr-ớc đây ở Hồ Ba Bể và sông Năng
Trên cơ sở các điều tra tr-ớc đây (Phụ lục 1) chúng tôi đã không phát hiện đ-ợc 21 loài cá trong tổng số 106 loài của khu vực, đơn cử một số loài đại diện (Bảng 8) Những loài cá không thu đ-ợc đa số là các loài cá quý hiếm nh-: cá Thần, cá Măng, cá Hân, cá Huốt, cá Lợ lớn
Nguyên nhân của việc không bắt gặp các loài cá này có thể là:
- Có thể mất theo thời gian hoặc do khai thác quá mức
- Có thể do tài liệu và phân loại chủ quan của từng tác giả nghiên cứu
- Do thu mẫu không đ-ợc, do số l-ợng quá ít ở sông hồ, tần suất bắt gặp quá bé
Bảng 8 Các loài cá không phát hiện đ-ợc so với tr-ớc đây
Bể
S Năng
1 Cá Măng Elopichthys bambusa Richardson, 1844 +
2 Cá M-ơng gai Hainania serrata Koller, 1927 +
3 Cá Thần Spinibarbus sinensis Bleeker, 1873 +
4 Cá Hân Acrossochilus elongatus Pellegrin &
Tóm lại: Thành phần loài cá ở Hồ Ba Bể và sông Năng biến động không lớn
so với những nghiên cứu tr-ớc Số loài thu đ-ợc và không thu đ-ợc biến động không nhiều
Trang 38Số loài cá Hồ Ba Bể và sông Năng đ-ợc phát hiện trong năm 2006 là 85 loài thuộc
50 giống, 18 họ và 5 bộ
3.1.1.3 Đặc điểm chung của khu hệ cá Hồ Ba Bể và sông Năng
Khu hệ cá Hồ Ba Bể và sông Năng thuộc khu hệ cá khu Việt Bắc (Mai Đình Yên, 1992; Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân, 2001) (vùng Đông Bắc Bắc bộ - theo toạ độ địa hình địa lý) Thành phần loài mang tính chất cá Phân vùng Nam Trung Hoa thuộc vùng cá n-ớc ngọt ấn Độ - Mã Lai Các loài cá phân bố ở đây có chung nguồn gốc gần với cá ở các tỉnh Nam Trung Hoa
Khu hệ cá n-ớc ngọt Hồ Ba Bể và sông Năng rất phong phú đa dạng về thành phần loài (106 loài thuộc 5 bộ, 5 phân bộ, 18 họ và 65 giống)
Có thể chia khu hệ cá của Hồ và l-u vực sông Năng ra 4 nhóm sinh thái: Nhóm cá sống ở sông suối, cá sống ở sông hồ, cá sống ở ao, ruộng và nhóm cá phân bố rộng
Đặc điểm sinh học khu hệ cá Hồ Ba Bể và sông Năng phản ánh tính chất của sinh vật vùng nhiệt đới gió mùa và có nhiều loài cá kinh tế: Cá Chép, cá Trắm cỏ, cá Chày mắt đỏ, cá M-ơng, cá Rô mó Các loài cá quý hiếm nh-: Cá Lăng chấm, cá Chiên, cá Bỗng, Một số loài nh- cá Chầy đất Ba Bể, cá Xảm bao
Xét về nguồn gốc: đa số là những loài phân bố rộng nh- cá M-ơng, cá Ngão, cá Dầu sông và nhiều loài cá có nguồn gốc sống ở sông và đồng ruộng trũng Một
số ít loài có nguồn gốc từ n-ớc lợ nh- cá Rô phi, cá Rô mo và một số loài cá Bống
đen Một số loài cá nhập nội có tại Hồ Ba Bể là do lũ lụt làm vỡ, tràn từ các ao nuôi cá của ng-ời dân ở vùng đầu nguồn sông Năng, sông Chợ Lèng và từ xã Nam C-ờng đến
Hồ Tự nhiên:
Trang 39Mật độ các loài cá ở Hồ Ba Bể là khá cao so với các hồ khác Tại Hồ Ba Bể,
cứ khoảng 4,28 ha có 1 loài cá, Hồ Tây và Hồ Lắc là 12,5 -14,3 ha có 1 loài, đầm Châu Trúc, Núi Cốc 25,53 -37,6 mới có 1 loài, hồ Cấm Sơn: 66,67 ha mới có 1 loài, còn các hồ lớn nhƣ hồ Hoà Bình và Thác Bà cứ 159,5 -297,5 ha mới có 1 loài (Hình 3.4)
Trang 40Tỷ lệ ha/loài của Hồ Ba Bể với các hồ tự nhiên
Hình 3.4: So sánh số loài/ha giữa các hồ tự nhiên ở Việt Nam
So sánh loài cá ở Hồ Ba Bể với số loài cá nước ngọt Việt Nam là 544 loài (Nguyễn Tấn Trịnh, 1996) thì số loài của Hồ Ba Bể chiếm tỷ lệ lớn 19% (106 loài) Trong khi đó Hồ Lắc 35 loài chiếm 6 %,và Hồ Tây chiếm 7%, (36 loài) Như vậy thành phần loài Hồ Ba Bể cao so với 2 hồ tự nhiên là Hồ Tây (Hà Nội) và Hồ Lắc (Đắc Lắc)
có thể do Hồ Ba Bể có nhiều đợt nghiên cúu nên số liệu đầy đủ hơn (Hình 3.5)
Số loài cá Hồ Ba Bế so với cá nước ngọt VN và các hồ tự nhiên