1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu, đánh giá hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững và đề xuất khả năng áp dụng trong quá trình thực hiện Chương trình nghị sự 21 ở Việt Nam

139 830 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau khi tham gia các môn học tại lớp Cao học khóa 3, chuyên ngành Môi trường trong phát triển bền vững của Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội, dựa tr

Trang 1

ii

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

Phụ lục vi

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt vii

Danh mục các bảng viii

Danh mục các hình vẽ ix

PHẦN MỞ ĐẦU 1 1 Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

4.1 Phương pháp tổng quan, phân tích, đánh giá tài liệu thứ cấp 3

4.2 Các phương pháp điều tra định tính và định lượng 4

4.3 Phương pháp SWOT 5

4.4 Phương pháp DPSIR 6

5 Tình hình nghiên cứu đề tài 7

6 Kết cấu luận văn 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 9 1.1 Quá trình thực hiện phát triển bền vững 9

1.1.1 Lịch sử và sự hình thành phát triển bền vững 9

Trang 2

iii

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản có liên quan về PTBV

1.2.2 Lịch sử ra đời các chỉ số phát triển bền vững 17

1.2.3 Các thuật ngữ liên quan đến chỉ tiêu PTBV 19

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PTBV 22 2.1 Thực trạng và xuất phát điểm của CTNS21 Việt Nam 22

2.1.1 Thực trạng phát triển kinh tế ở Việt Nam 22

2.1.2 Tiến trình xây dựng và thực hiện CTNS 21của Việt Nam 24

2.1.3 Mục tiêu, nguyên tắc chủ yếu và những lĩnh vực ưu tiên trong

tiến trình thực hiện phát triển bền vững ở Việt Nam

26 2.1.4 Ý nghĩa của các chỉ tiêu PTBV 27

2.2 Các giai đoạn và cách tiếp cận của Liên Hợp Quốc nhằm

xây dựng các chỉ tiêu phát triển bền vững

28 2.2.1 Giai đoạn 1 (5/1995-8/1996) 28

2.2.2 Giai đoạn 2 (5/1996-12/1998) 29

2.2.3 Giai đoạn 3 (1/ 1999 - 12/ 2000) 30

2.3 Các chỉ tiêu cơ bản về PTBV 36

2.4 Kinh nghiệm xây dựng bộ chỉ tiêu PTBV của các nước Châu Á 39

2.4.1 Xây dựng và thực hiện chỉ tiêu PTBV ở Trung Quốc 39

2.4.2 Xây dựng và thực hiện chỉ tiêu PTBV ở Thái Lan 40

2.4.3 Xây dựng và thực hiện chỉ tiêu PTBV ở Malaysia 41

2.4.4 Xây dựng và thực hiện chỉ tiêu PTBV ở Indonesia 42

2.4.5 Xây dựng và thực hiện chỉ tiêu PTBV ở Philippin 43

2.4.6 Nhận xét về nhóm chỉ tiêu các nước đang Phát triển 44

2.5 Kinh nghiệm xây dựng chỉ tiêu PTBV ở một số nước khác 44

Trang 3

iv

2.5.4 Kinh nghiệm ở Canada 48

2.5.5 Kinh nghiệm ở Hoa Kỳ 48

2.5.6 Kinh nghiệm ở Vương Quốc Anh 49

2.5.7 Kinh nghiệm ở Mêhicô 51

2.5.8 Kinh nghiệm ở Achentina 51

2.5.9 Kinh nghiệm ở Camerun 52

2.5.10.Nhận xét về những kinh nghiệm PTBV ở một số nước trên thế giới

52 CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG VÀ ĐỀ XUẤT ÁP DỤNG CÁC CHỈ TIÊU PTBV TRONG TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM 58 3.1 Phương pháp nghiên cứu xây dựng các chỉ tiêu PTBV ở

Việt Nam

58 3.1.1 Nguyên tắc xây dựng chỉ tiêu 58

3.1.2 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu xây dựng chỉ tiêu 62

3.1.2.1 Phương pháp luận 62

3.1.2.2 Áp dụng cụ thể các chỉ tiêu PTBV 71

3.2 Xây dựng hệ thống các chỉ tiêu PTBV ở Việt Nam 73

3.2.1 Nội dung các chỉ tiêu PTBV 73

3.2.1.1 Chỉ tiêu PTBV về kinh tế 74

3.2.1.2 Chỉ tiêu PTBV về xã hội 76

3.2.1.3 Chỉ tiêu PTBV về tài nguyên - môi trường 80

3.2.1.4 Lĩnh vực thể chế 82

3.3 Hệ thống cơ sở dữ liệu các chỉ tiêu PTBV 86

3.3.1 Hiện trạng hệ thống thống kê chỉ tiêu PTBV 86

Trang 4

v

3.4.2 Giám sát và báo cáo đánh giá 91

3.4.2.1 Giám sát 91

3.4.2.2 Báo cáo đánh giá 92

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93

Kết luận 93

Kiến nghị 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO

97 Tiếng Việt 97

Tiếng Anh 98

Trang 6

viii

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Chỉ số HDI của một số nước năm 2005 23

Bảng 2.2: Các nước tham gia thử nghiệm xây dựng bộ chỉ tiêu PTBV 30

Bảng 2.3: Khuôn khổ các vấn đề chính do UNCSD đề xuất 33

Bảng 2.4: Sự lựa chọn các chỉ tiêu của UNCSD bởi các nước thử nghiệm 37

Bảng 2.5: Biểu đồ thời gian của các chiến lược PTBV quốc gia 56

Bảng 2.6: So sánh những nội dung, mục tiêu triển khai về PTBV 57

Bảng 3.1: Những chỉ tiêu dùng cho PTBV môi trường 64

Bảng 3.2 Tổng hợp các chỉ tiêu PTBV của Việt Nam 83

Trang 7

ix

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Mục đích xây dựng chỉ tiêu phát triển bền vững 28

Hình 3.1 Mô hình chỉ tiêu A, B, C 67

Hình 3.2 Mô hình phát triển bền vững 69

Hình 3.3 Mô hình đánh giá sự tiến bộ bền vững 70

Hình 3.4 Kim tự tháp hành động 70

Hình 3.5 Minh họa phương pháp xây dựng bộ chỉ tiêu PTBV 73

Trang 8

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu

Theo quy luật của sự phát triển nhân loại thì dân số phát triển dẫn đến nhu cầu về vật chất gia tăng làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt Con người đang phải đương đầu với những khó khăn và chịu tác động bởi tình trạng ô nhiễm môi trường, thiên tai lũ lụt và các bệnh lạ phát sinh, nhiều loài sinh vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng Nghiêm trọng hơn nữa là chúng ta phải đối mặt với hiện tượng nóng lên của trái đất và sự dâng cao của mực nước biển dẫn đến sự xâm mặn và ảnh hưởng tới nông nghiệp và cuộc sống của con người Thực tế hiện nay cho thấy xã hội loài người đang phát triển không lâu bền, thế hệ hiện tại đang lo cho sự tồn tại của mình và thế hệ tương lai

Loài người đã từng có quan niệm rằng sự tăng trưởng về kinh tế là thước đo cơ bản cho

sự phát triển Hàng trăm năm nay, quá trình phát triển của nhân loại tuân theo quan điểm

đó Song, trong quá trình phát triển, xung đột giữa con người với con người và con người với tự nhiên ngày càng và trở nên gay gắt hơn Những năm gần đây, con người mới nhận thức được rằng tăng trưởng kinh tế không phản ánh được một cách toàn diện mục tiêu phát triển của con người, cộng đồng, quốc gia và thế giới Do vậy, con người cần phải cải thiện mối quan hệ với thiên nhiên theo hướng sống gần gũi và hoà hợp với thiên nhiên, thân thiện với môi trường, bảo vệ môi trường phải được lồng ghép và gắn kết quá trình phát triển kinh tế-xã hội Trong Báo cáo của Hội đồng thế giới về Môi trường và Phát triển năm 1997 cho rằng nếu không có thái độ tích cực giúp củng cố năng lực chịu đựng của hệ sinh thái toàn cầu, thì tương lai chung của loài người sẽ bị đe doạ

Tại Hội nghị Thượng đỉnh của Liên Hiệp Quốc về Môi trường và Phát triển, được tổ chức năm 1992 ở Rio de Janeiro (Braxin), các nhà khoa học cùng với các chính trị gia từ 179 nước tham gia đã thống nhất về quan điểm PTBV, coi đó là trách nhiệm chung của của toàn nhân loại và đồng thuận thông qua tuyên bố Rio gồm 27 nguyên tắc cơ bản về PTBV và CTNS21 CTNS21 toàn cầu đưa ra 2.500 khuyến nghị hành

Trang 9

2

động, đề xuất chính sách và biện pháp để chống đói nghèo, bảo vệ khí quyển, đại dương, đa dạng sinh học và phát triển nông nghiệp bền vững Mục tiêu chủ đạo của CTNS21 là đạt được sự phát triển hài hoà cả ba mặt kinh tế-xã hội-môi trường để đáp ứng nhu cầu về vật chất, văn hoá, tinh thần của thế hệ hiện tại, nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau Mười năm sau, tại Hội nghị thượng đỉnh về PTBV năm 2002 tại Johanesburg (Nam Phi) đã công bố

kế hoạch thực hiện PTBV toàn cầu, thúc đẩy tiến trình thực hiện Chương trình Nghị sự 21 Sau hội nghị này, nhiều quốc gia đã xây dựng Chương trình nghị sự riêng cho nước mình Từ năm 1992 đến nay đã có 113 nước trên thế giới xây dựng

và thực hiện Chương trình nghị sự 21 về PTBV cấp quốc gia và trên 6.000 Chương trình nghị sự 21 cấp địa phương Đồng thời tại các nước này đều đã thành lập các cơ quan độc lập để triển khai thực hiện PTBV

PTBV là một quan điểm có cơ sở khoa học và mang tính nhân văn đồng thời lại phù hợp với bản sắc văn hoá và đạo lý Việt Nam, với mục tiêu phát triển "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh" mà Đảng và Nhà nước cùng toàn dân đang nỗ lực thực hiện Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế, tuy nhiên nước ta đang đối mặt với không ít khó khăn, thách thức để phát triển một cách bền vững Để thực hiện mục tiêu PTBV đất nước, tháng 8/2004 Chính phủ Việt Nam đã ban hành "Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam" (Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004) Văn bản quan trọng này đã cụ thể hoá cơ chế quản lý PTBV thông qua việc hình thành hệ thống cung cấp thông tin về các vấn đề PTBV đất nước

Trong quá trình xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự việc nghiên cứu và áp dụng các chỉ tiêu về PTBV luôn được đặc biệt coi trọng trong việc giám sát và đánh giá tiến trình PTBV Muốn thực hiện tốt chiến lược PTBV bảo đảm cho sự phát triển được vững bền thì các vấn đề xã hội, môi trường và kinh tế phải được hài hoà một cách cân đối với nhau Một vấn đề hết sức quan trọng là tìm ra những phương thức và công cụ để đánh giá tính bền vững của các hoạt động phát triển kinh tế xã hội và môi trường và chiến lược PTBV của đất nước Để giám sát, đánh giá kết quả

Trang 10

3

đạt được của từng mục tiêu cũng như hiệu quả của PTBV một yêu cầu tối quan trọng là phải xác lập được một hệ thống chỉ số PTBV bao hàm nhiều mặt

Sau khi tham gia các môn học tại lớp Cao học khóa 3, chuyên ngành Môi trường

trong phát triển bền vững của Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường,

Đại học Quốc gia Hà Nội, dựa trên kinh nghiệm và các nhiệm vụ được phân công trong quá trình công tác, tôi có nguyện vọng muốn được nghiên cứu hệ thống chỉ tiêu PTBV để đánh giá tính bền vững của các hoạt động phát triển kinh tế-xã hội-môi trường hiện nay Với sự hướng dẫn, giúp đỡ của TS Vũ Tuấn Anh, TS Võ Thanh Sơn, các nhà khoa học và quản lý trong lĩnh vực môi trường và PTBV cùng với sự quyết tâm của bản thân, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài luận văn cao học

"Nghiên cứu đánh giá hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững và đề xuất khả năng áp

dụng trong quá trình thực hiện Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam »

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu đánh giá tình hình PTBV và các chỉ tiêu PTBV ở Việt nam và trên thế giới trong thời gian qua Trên cơ sở đó tập trung xác định, phân tích và xây dựng các chỉ tiêu PTBV cần thiết, phù hợp với bối cảnh Việt Nam và có thể áp dụng triển khai nhằm mục đích hỗ trợ cho việc thực hiện có hiệu quả Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng áp dụng của luận văn là bộ chỉ tiêu phát triển bền vững sử dụng cho cấp quốc gia Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các vấn đề về phát triển bền vững và nghiên cứu, đanh giá hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững trên thế giới và Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp tổng quan, phân tích, đánh giá tài liệu thứ cấp

- Đánh giá hệ thống lưu trữ và thu thập thông tin của các Bộ, ngành và dự án Xác định các chỉ tiêu cần thiết và thông tin đó cần thu thập

Trang 11

4

- Lập danh sách các nguồn thông tin hiện có (tài liệu dự án, các báo cáo Chính phủ, các cơ quan hữu quan khác)

- Xắp xếp thứ tự các chỉ tiêu (được coi khả thi), tập trung vào các chỉ tiêu phù hợp

- Thu thập các tài liêu và kiểm tra độ tin cậy

- Xác định các thiếu sót thông tin hoặc những vấn đề mâu thuẫn còn tồn tại

4.2 Các phương pháp điều tra định tính và định lượng

- Phương pháp phỏng vấn không chính thức: để thu được các thông in trực tiếp từ

các cá nhân bằng việc áp dụng các câu hỏi rộng để định hướng cuộc trao đổi, trong đó cho phép đưa ra các câu hỏi nhằm nâng cao kết quả thảo luận bao gồm việc xác định mục tiêu và nhu cầu thông tin cần hỏi và thiết lập Thống nhất về đối tượng phỏng vấn Sử dụng các câu hỏi trước khi phỏng vấn để bảo đảm phù hợp và hiệu quả Phân tích thông tin thu được từ các cuộc phỏng vấn

- Phương pháp chuyên gia: phỏng vấn một số chuyên gia ở cấp trung ương (Bộ

ngành), địa phương (tỉnh, huyện) nhằm đánh giá các vấn đề liên quan đến xây

dựng các chỉ tiêu PTBV

- Phương pháp điều tra xã hội học định lượng bằng bảng hỏi: nhằm thu hút các

thông tin theo một phương pháp được xây dựng dựa trên các câu hỏi cụ thể theo cách thức có thể thực hiện phân tích thống kê Các bảng câu hỏi và điều tra tạo ra cơ

sở nghiên cứu và đánh giá khi thu thập thông tin về các câu hỏi hoặc các chỉ tiêu cụ thể Đối tượng là các chuyên gia và cán bộ làm việc có liên quan đến phát triển bền vững Xác định mục tiêu và các thông tin cần thiết Điều tra thông qua các công việc đuợc tiến hành tại khu vực quan tâm bằng sự quan sát, phỏng vấn trực tiếp hoặc qua điện thoại Các bảng câu hỏi và cuộc điều tra được xắp xếp từ đơn giản đến phức tạp bao gồm các câu hỏi khép kín có cấu trục cụ thể (có hoặc không) hoặc

là các câu hỏi mở, các câu hỏi này đã giúp ích rất tốt cho việc phân tích thống kê và nhận biết quan niệm của người dân Các câu hỏi được đưa ra để giải đáp một giả thuyết cần chứng minh (liệu chỉ tiêu có mang tính bền vững hay không, có khả thi

Trang 12

5

không) Xác định đối tuợng, số lượng người được hỏi và lựa chọn câu hỏi thích hợp

Kỹ năng phỏng vấn tốt sẽ giúp nâng cao hiệu quả phỏng vấn

Trong quá nghiên cứu và triển khai thực hiện luận văn đã có tổng số 60 phiếu điều tra (29 câu hỏi mỗi phiếu) có liên quan đến việc xây dựng và áp dụng thực hiện các chỉ tiêu PTBV gửi các Sở, ban, ngành tại các tỉnh Ninh Bình Lạng Sơn và Lâm Đồng, Vĩnh Long Kết quả các phiếu điều tra cho thấy có 85% số phiếu cho rằng việc nên lựa chọn cách tổ chức nghiên cứu xây dựng kế hoạch phát triển cần theo hướng lồng ghép các lĩnh vực ưu tiên của Chương trình Nghị sự 21 vào kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội

Trên 80% số phiếu khẳng định sự cần thiết đưa các chỉ tiêu, giải pháp về PTBV trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội; 75% số phiếu kiến nghị việc tổ chức và phối hợp triển khai thực hiện các mục tiêu trong kế hoạch PTBV phải lồng ghép các chỉ tiêu PTBV vào kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội Có 70% số phiếu cho rằng việc lồng ghép các chỉ tiêu được thể hiện ở mức độ đầy đủ 90% số phiếu khẳng định vai trò quan trọng của việc hỗ trợ tài chính, nhân lực để xây dựng các chỉ tiêu PTBV Có 50% ý kiến đánh giá về các hoạt động giám sát đánh giá thực hiện Chương trình Nghị sự 21 ở mức độ vừa phải

4.3 Phương pháp SWOT

Để xác định các điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội và đánh giá các chỉ tiêu sẽ thay đổi như thế nào theo thời gian Thực hiện việc ghi chép càng nhiều yếu tố càng tốt Tập trung vào các điểm mạnh, điểm yếu để chỉ ra các yếu tố nội tại

Ưu điểm : Những hoạt động tốt, kết quả đạt được

Nhược điểm : Những bất cập khi thực hiện

Cơ hội : Các ý tưởng để khắc phục nhược điểm và phát huy ưu điểm Nguy cơ : Những vấn đề de doạ, gây sức ép tác động đến phạm vi, quy

mô và cơ hội

Trang 13

6

4.4 Phương pháp DPSIR

Sử dụng để xây dựng các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội - môi trường và thể chế Phương pháp DPSIR được ứng dụng trong việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu môi trường, và hiện nay được sử dụng trong PTBV Cách tiếp cận Áp lực- Hiện trạng

- Đáp ứng (PSR) được UNCSD sử dụng từ năm 1995 làm công cụ xây dựng hệ thống thông tin về PTBV và hình thành, sử dụng, phân tích các chỉ tiêu PTBV Cách tiếp cận PSR được Cơ quan môi trường châu Âu (EEA) nghiên cứu mở rộng năm 1999 thành DPSIR Bên cạnh việc phân loại chỉ tiêu theo các khía cạnh mà

nó phản ánh trong các phân hệ, hiện nay người ta còn sử dụng tương đối phổ biến

cách tiếp cận hay Khung DPSIR trong việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu PTBV

DPSIR ban đầu xuất phát từ nghiên cứu xã hội, sau đó được ứng dụng rộng rãi trên thế giới trong việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu môi trường, và gần đây sử dụng trong PTBV và được phân loại bao gồm các chỉ tiêu như

- Chỉ tiêu Động lực (Driving force) thể hiện các hoạt động của con người, các quá

trình và cách thức tác động đối với PTBV Chỉ tiêu Động lực cung cấp số đo về các nguyên nhân gây ra tác động theo hướng tốt hay không tốt đối với hiện trạng PTBV Chỉ tiêu Động lực có thể phản ánh tác động ở cấp độ doanh nghiệp, ngành, khu vực kinh tế và các xu hướng xã hội

- Chỉ tiêu Áp lực (Pressure) mô tả những biến số là yếu tố tác động trực tiếp tới

hiện trạng

- Chỉ tiêu Hiện trạng (State) cung cấp số đo về thực trạng của PTBVvà của các

mặt khác nhau của quá trình phát triển trong một thời điểm nhất định Chỉ tiêu hiện trạng có thể là định lượng và cả định tính

- Chỉ tiêu Tác động (Impact) mô tả ảnh hưởng của sự thay đổi hiện trạng

- Chỉ tiêu Đáp ứng (Response) thể hiện các phương án chính sách và biện pháp

nhằm làm thay đổi hiện trạng của phát triển Chỉ tiêu Đáp ứng cung cấp số đo về ý muốn và hiệu lực của xã hội trong việc đáp ứng trước tình thế thay đổi Một số hành động đáp ứng có thể là các văn bản pháp luật, quy định, công cụ kinh tế, hoạt động thông tin và thể hiện bằng chỉ tiêu định tính và định lượng

Trang 14

7

5 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở nước ta, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thi 26/TTG ngày 26/11/2007 về việc theo dõi giám sát, đánh giá các chỉ tiêu về môi trường và các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia cũng đã được ban hành Tuy nhiên cho đến nay chúng ta vẫn chưa có một bộ chỉ tiêu thống nhất từ cấp quốc gia cho đến các ngành, các địa phương, phản ánh sự kết hợp hài hòa các mặt kinh tế, xã hội và môi trường thống nhất Việc xây dựng bộ chỉ tiêu PTBV như vậy sẽ đảm bảo cho việc cung cấp những thông tin và tri thức và giúp ta đánh giá, so sánh và

hỗ trợ việc đo lường và định hướng đất nước tới mục tiêu PTBV Bộ chỉ tiêu PTBV

sẽ được sử dụng như một công cụ để trao đổi ý tưởng, suy nghĩ, những giá trị giúp

so sánh trình độ phát triển theo hướng bền vững

Để các chỉ tiêu PTBV được áp dụng đưa vào hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia có quan nghiên cứu xây dựng chỉ tiêu (có thể là Văn phòng PTBV hoặc một đơn vị chức năng) cần có công văn gửi Vụ Phương pháp chế độ- Tổng cục Thống kê đề xuất các nội dung liên quan đến chỉ tiêu như nội dụng các chỉ tiêu, phương pháp tính các chỉ tiêu, phạm vi các chỉ tiêu, cách tổ chức thu thập, đo đạc và thời hạn công bố Sau khi nghiên cứu, xem xét, tổ chức các hội thảo lấy ý kiến của các chuyên gia, các Bộ ngành có liên quan, Vụ Phương pháp chế độ, Tổng cục Thống

kê sẽ trình Lãnh đạo Tổng cục Thống kê và ra quyết định thành lập nhóm chuyên gia nghiên cứu có sự tham gia của đại diện Tổng cục Thống kê Sau khi lấy ý kiến các cơ quan chức năng và tổng hợp lại bộ chỉ tiêu, Tổng cục Thống kê sẽ trình Chính phủ phê duyệt (có thể Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Bộ chỉ tiêu) bộ chỉ tiêu này sẽ được đưa vào hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

Luận văn được xây dựng dựa trên sự tham khảo các giáo trình của Đại học Quốc gia Hà Nội kết hợp với quá trình tổng hợp và phân tích, đánh giá các tài liệu có liên quan của Văn phòng Agenda 21 của Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các tư liệu quốc tế có liên quan đến PTBV, các trang web liên quan đến việc xây dựng các

Trang 15

về các nội dung nghiên cứu của các chuyên gia

 TS Lưu Bách Dũng, Viện Khoa học xã hội VN

 Ông Đậu Ngọc Hùng, Vụ phó Vụ Thống kê Tổng hợp, Tổng cục thống kê

 TS Nguyễn Quán, Tổng cục thông kê

 Ths Nguyễn Công Mỹ, Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch - Đầu tư

 Ông Nguyễn Bửu Quyền, Nguyên Vụ trưởng, Bộ Kế hoạch - Đầu tư

 Ông Đỗ Văn Thành, Trưởng Ban Phân tích và Dự báo Kinh tế vĩ mô, Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch - Đầu tư

6 Kết cấu luận văn

Luận văn gồm có phần mở đầu và 3 chương

Chương 1 : Tổng quan về phát triển bền vững

Chương 2 : Thực tiễn việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững

Chương 3 : Đề xuất áp dụng các chỉ tiêu phát triển bền vững trong tiến trình

thực hiện Chương trình Nghị sự 21 ở Việt Nam

Trang 16

9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1.1 Quá trình thực hiện phát triển bền vững

Đầu thể kỷ XX, những tư tưởng PTBV đã hình thành khái niệm, và ở mức cao hơn

là hành động thực tiễn và xuất hiện các phong trào trong xã hội Tiên phong cho các trào lưu này phải kể đến là giới bảo vệ môi trường Tây Âu và Bắc Mỹ Uỷ ban bảo

vệ môi trường Canada được thành lập năm 1915, nhằm khuyến khích con người sống hòa hợp với nhiên và cho rằng mỗi thế hệ có quyền hưởng thụ lợi ích từ thiên nhiên và cần phải duy trì cho thế hệ tương lai Nhà bảo vệ môi trường Paul Sarasin (Thuỵ Sỹ) đã lên tiếng về việc cần phải bảo vệ thiên nhiên thể hiện trong báo cáo với nhan đề "Toàn thế giới bảo vệ động vật hoang dã" tại Pari năm 1923 Các tổ chức quốc tế về bảo vệ thiên nhiên và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên đã có

sự phối hợp chặt chẽ và đề xuất chương trình hành động cho các quốc gia theo hướng PTBV Năm 1951, UNESCO đã xuất bản một tài liệu đáng lưu ý với tiêu đề

"Thực trạng bảo vệ môi trường thiên nhiên trên thế giới vào những năm 50" Tài liệu này được cập nhật vào năm 1954 đây là một cở sở quan trọng để xây dựng báo cáo Brundtland Đến những năm 1960, khái niệm “phát triển” đã được làm rõ là không chỉ là tăng về số lượng mà phải đi đôi với chất lượng hay nói cách khác nếu tăng trưởng kinh tế mà chỉ mang lại lợi ích vật chất thuần tuý và có thể làm tổn hại đến môi trường, môi sinh thì không còn được gọi là phát triển

Với những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội của loài người những năm trước và trong thập niên 70 theo hướng công nghiệp hoá, con người đã tác động một cách thô bạo vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên và hệ môi trường sinh thái để phục vụ cuộc sống Môi trường bị khai thác triệt để và tuỳ tiện đang trở nên cạn kiệt

Trang 17

10

đến mức báo động Cân bằng sinh thái ở quy mô toàn cầu bị ảnh hưởng nghiêm trọng, từ đó đã tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực và gây nguy hại cho sự phát triển của xã hội loài người Bảo vệ và cải tạo môi trường là nhiệm vụ cấp thiết, cần có sự phối hợp, hợp tác và nỗ lực hành động trên phạm vi toàn cầu Chính từ đó, khái niệm về phát triển bền vững đã hình thành và xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường trên quy mô toàn cầu từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ 20 Hội nghị Môi trường và Con người của Liên hợp quốc, hoạt động mang tính quốc tế đầu tiên về môi trường đã được tổ chức tại Stockholm năm 1972, PTBV tiếp tục được đề cập toàn diện nhất là công trình của Laster Brown "xây dựng một xã hội bền vững" Đầu thập niên 80, thuật ngữ phát PTBV lần đầu tiên được sử dụng trong chiến lược bảo tồn thế giới do đề xuất của Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế, Quỹ động vật hoang dã thế giới và Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc Hội nghị ra tuyên bố xác nhận hiện trạng môi trường toàn thế giới đang xấu đi và kêu gọi nhân loại hãy cứu lấy trái đất, chúng ta đã bước vào thập niên “Nhận thức về môi trường” (1972- 1982) Liên hợp quốc đã thành lập Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển vào năm 1983, đây là thập kỷ “Hành động

vì môi trường” (1982 - 1992) nhằm khuyến cáo con người cần thay đổi lối sống và hành động của mình Năm 1985, Liên hợp quốc thành lập Uỷ ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED), người đứng đầu là Gro Bruntland, thủ tướng Nauy

1.1.2 Khái niệm và tiến trình thực hiện phát triển bền vững

Đến năm 1987 khái niệm PTBV được sử dụng lần đầu tiên một cách chính thức trên quy mô quốc tế được trình bày một cách có hệ thống và được nhiều nhà khoa học tán thành vì nó mang tính khái quát hóa cao về mối quan hệ giữa các thế hệ về thỏa mãn các nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần, từ đó tạo ra PTBV Khái niệm PTBV được thể hiện trong Báo cáo của Hội đồng thế giới về Môi trường và Phát

triển (WCED) với chủ đề "Tương lai chung của chúng ta": “Phát triển bền vững là

sự phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không gây tổn hại đến khả năng thoả mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai”

Trang 18

11

Bản chất của PTBV là sự tồn tại bền vững của nhân loại trên trái đất không phân biệt quốc gia, dân tộc và luôn gắn với sự tồn tại của môi trường kinh tế, xã hội và tự nhiên Trong nhiều tài liệu nghiên cứu, PTBV được hiểu là chiến lược phát triển mà quản lý được tất cả tài sản, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn nhân lực cũng như các nguồn nhiên vật liệu và tài chính để tăng cường sự phồn thịnh và chất lượng cuộc sống về lâu dài Tư tưởng PTBV lên án các chính sách và thực tiễn nhằm nâng cao mức sống hiện tại thông qua việc làm suy yếu các yếu tố cơ sở của sản xuất như các nguồn tài nguyên thiên nhiên, và làm cho viễn cảnh của các thế hệ tương lai trở nên nghèo nàn hơn và nhiều rủi ro hơn (David Pearce, Edward Barbier, Anil markandya, Economics and Environment in the Third World, 1990) PTBV đã trở thành vấn đề quan trọng mang tính toàn cầu Hiểu một cách chung nhất nó bao hàm những yêu cầu về sự phối hợp, lồng ghép ba mặt đó là tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường Ba mặt nói trên tác động và quy định lẫn nhau Sự phát triển lâu dài và ổn định chỉ có thể đạt được trên cơ sở đảm bảo một sự cân bằng nhất định của ba mặt này Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo và tôn trọng chu trình sinh thái trong tự nhiện, sự đa dạng sinh học và nó cũng hàm chứa sự bình đẳng giữa những nước giầu và nghèo và giữa các thế hệ

Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Môi trường và Phát triển tổ chức tại Rio de Janeto (Braxin) từ 3/6/1992 đến 14/6/1992 với sự tham gia của 179 quốc gia trên thế giới để bàn về các chính sách môi trường và phát triển của trái đất Các nhà hoạt động về kinh tế, xã hội, môi trường cùng với các nhà chính trị đã thống nhất về quan điểm PTBV, coi đó là trách nhiệm chung của các quốc gia, của toàn nhân loại

và đồng thuận thông qua tuyên bố Rio gồm 27 nguyên tắc cơ bản về PTBV và đưa

ra được 2 tuyên bố mang tính nguyên tắc, ký kết hai Công ước quốc tế và thông qua Chương trình hành động trong thế kỷ thứ 21 (Chương trình nghị sự 21) Từ đó cộng đồng quốc tế bước đầu chính thức thừa nhận hành trình cho tương lai phải là con đường phát triển bền vững RIO-92 là một cái nhìn tổng thể và là định hướng cho tương lai, tiến trình PTBV đã được thúc đẩy thêm một bước mới Tại Hội nghị này,

Trang 19

12

đoàn đại biểu của Chính phủ Việt Nam cũng cam kết xây dựng Chương trình 21 về

sự PTBV của Việt Nam

Trong bản tổng kết, UNCED đã tổng hợp một chương trình về PTBV gọi là Chương trình nghị sự 21 vừa là nền tảng cho việc quản lý, giám sát toàn cầu, vừa là cơ sở cho hợp tác quốc tế Chương trình nghị sự 21 bao gồm 115 đề xuất chương trình hành động cụ thể nhằm thúc đẩy cải thiện chất lượng môi trường, xử lý chất thải, xoá đói giảm nghèo, và phổ biến công nghệ thân môi trường, khuyến khích các quốc gia xây dựng các chương trình nghị sự 21 quốc gia, tất cả các nước đều có trách nhiệm làm cho sự PTBV dựa trên sự hài hoà giữa các kế hoạch, chính sách hiện có trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường Hội nghị Rio-92 thông qua hàng loạt công ước quốc tế đó là Công ước về sự biến đổi khí hậu toàn cầu, Công ước đa dạng hóa sinh học, Tuyên bố về những nguyên tắc đối với rừng Đặc biệt, Chương trình Nghị sự 21 tiếp tục cụ thể hóa những quan điểm, nguyên tắc của tuyên bố Rio-92, nhấn mạnh nội dung PTBV phải đảm bảo phát triển hài hòa ở cả 3 mặt kinh tế, xã hội và môi trường Trong đó tính bền vững về kinh tế thể hiện ở sự tăng trưởng và phát triển lành mạnh của nền kinh tế, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của nhân dân, tránh suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai, nhất là tránh tình trạng nợ nần chồng chất mà nhiều nước đang phát triển hiện đang mắc phải Tính bền vững về mặt xã hội thể hiện ở mức độ bảo đảm dinh dưỡng, việc chăm sóc sức khỏe, trẻ em được học hành, giảm đói nghèo và hạn chế hố ngăn cách giàu nghèo… Tính bền vững về môi trường thể hiện ở việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học, hạn chế ô nhiễm, cải thiện môi trường v.v…Hội nghị Rio - 92 yêu cầu tất cả các quốc gia trên thế giới phải áp dụng một chiến lược cấp quốc gia hướng tới phát triển bền vững nhằm tập hợp và cân đối nhiều chính sách và kế hoạch trong phát triển kinh tế, xã hội và môi trường đang được thực thi ở quốc gia đó

Từ sau Hội nghị Rio-92, đã có nhiều chuyển biến tích cực, các quốc gia ở Châu Âu đang tăng tỷ trọng các nguồn năng lượng tái tạo Các công nghệ thân môi trường được nghiên cứu và ứng dụng ngày càng nhiều hơn làm giảm tỷ lệ các chất thải, tiết

Trang 20

13

kiệm năng lượng … đồng thời đã tập trung nỗ lực cho việc bảo tồn đa dạng sinh học, cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường cho nhân dân, nâng cao mức sống của toàn xã hội

Tiếp sau Hội nghị Rio-92, Hội nghị Thượng đỉnh về PTBV (Hội nghị Rio+10) đã được tổ chức tại Johannesburg với sự tham gia của 196 quốc gia nhằm xem xét và đánh giá những kết quả đã đạt được trong 10 năm thực hiện Chương trình nghị sự

21 đồng thời đề ra chương trình hành động cho giai đoạn mới Hội nghị đã đạt được một số kết quả tích cực như thông qua một kế hoạch thực hiện mà các quốc gia cam kết tuân theo theo một số mục tiêu cụ thể và đề xuất một số sáng kiến về hợp tác Hội nghị Rio+10 đã thể hiện tính đồng thuận hành động vì quá trình PTBV của nhân loại và thông qua hai văn bản cực kỳ quan trọng là kế hoạch nhằm tiến tới PTBV và một tuyên bố bao gồm các nhiệm vụ cần làm trong tương lai đó là nước sạch để dùng và điều kiện vệ sinh cần thiết, giảm tốc độ suy giảm đa dạng sinh học, giảm thiểu sự thay đổi khí hậu, sản xuất và tiêu dùng bền vững

Nhìn chung các Hội nghị trên đều khẳng định ngày càng rõ sự đồng thuận của thế giới trong vấn đề PTBV Như vậy, kể từ tuyên bố Xtốckhôm đến nay, thế giới, trước hết là Liên Hợp quốc và các quốc gia tham dự các Hội nghị về PTBV vẫn tiếp tục khẳng định tính cấp bách của việc xây dựng và thực hiện chiến lược PTBV bằng hành động trên thực tiễn nhằm thực hiện tốt chiến lược phát triển

1.2 Cơ sở khoa học xây dựng hệ thống chỉ tiêu PTBV

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản có liên quan về PTBV

Để đánh giá kết quả đạt được của từng mục tiêu PTBV cũng như hiệu quả của phương án chiến lược PTBV trên phạm vi toàn cầu hay của từng khu vực, quốc gia, địa phương, một yêu cầu tối quan trọng là phải xác lập được một hệ thống chỉ tiêu PTBV, có tính xuyên ngành, bao hàm nhiều mặt như các chính sách kinh tế, sinh thái, xã hội

Theo định nghĩa của cuốn Đại từ điển tiếng Việt thì phạm trù “phát triển” được hiểu

là quá trình vận động, tiến triển theo hướng tăng lên (Đại từ điển tiếng việt, Nguyễn Như Ý Tr 132, NXB Văn hóa thông tin) Phát triển kinh tế, xã hội được hiểu là sự

Trang 21

và tiến bộ không ngừng để kinh tế – xã hội ngày một “tốt hơn” một cách toàn diện Khái niệm PTBV đã được các nhà kinh tế sinh thái đưa ra thảo luận vào thập kỷ 70,

từ đó tới nay, đã có khá nhiều nỗ lực nhằm diễn dịch định nghĩa đó cụ thể hơn và hay được sử dụng tập trung vào sự cân bằng của ba khía cạnh của PTBV Vào đầu thập niên những năm 1970, sau một thời kỳ các nước trên thế giới thi đua công nghiệp hóa, khai thác tài nguyên, tìm kiếm thị trường, Câu lạc bộ La Mã đã phát hành một tài liệu mang tựa là “Giới hạn của tăng trưởng” tài liệu này đưa ra đề nghị một hướng mới cho phát triển và có những nhận định khác thường về kinh tế thế giới và xã hội loài người Tài liệu này cho rằng sự tăng trưởng kinh tế và dân số quá nhanh cùng với tình trạng thi đua sản xuất và khai thác không giới hạn và vô ý thức các tài nguyên đã làm ô nhiễm môi trường, môi sinh và làm cạn kiệt dự trữ tài nguyên thiên nhiên trên thế giới Câu lạc bộ La Mã đề nghị chính sách “không tăng trưởng” với lý do là tăng trưởng kinh tế đi ngược lại bảo vệ môi trường

Năm 1972 Liên Hiệp Quốc triệu tập Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Môi trường con người tại Stockholm Hội nghị đã diễn ra trong bầu không khí tranh cãi sôi nổi Hội nghị đã đề nghị một khái niệm mới là “phát triển tôn trọng môi sinh” với chủ trương bảo vệ môi trường, tôn trọng môi sinh, quản lý hữu hiệu tài nguyên thiên nhiên, thực hiện công bằng và ổn định xã hội Khái niệm “phát triển tôn trọng môi sinh” bị

Trang 22

15

các nước phát triển và giàu có chống đối rõ rệt Cuối cùng hội nghị chỉ thảo luận vấn đề ô nhiễm và kết thúc với việc tán đồng quan điểm cho rằng có mối liên hệ và ảnh hưởng qua lại giữa lối sống của con người với môi trường - môi sinh, giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo tồn tài nguyên và ổn định thiên nhiên Ngoài ra, các nước cũng thỏa thuận và cam kết hành động để bảo vệ môi trường - môi sinh và thành lập những cơ quan quốc tế và quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ môi trường - môi sinh Trong Báo cáo Phát triển Thế giới 2003 mới đây nhất có tựa đề Phát triển Bền vững trong Thế giới năng động của Ngân hàng Thế giới, một cách diễn giải nữa

nhằm bảo đảm sự công bằng giữa các thế hệ là “sự phát triển nhằm bảo đảm được

mức tiêu dùng cho các thế hệ tiếp theo không giảm đi” PTBV là sự phát triển kinh

tế-xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường, nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng bất lợi cho các thế hệ mai sau PTBV là sự phát triển kinh tế-xã hội với tốc độ tăng trưởng cao, liên tục trong thời gian dài dựa trên việc sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên mà vẫn bảo vệ được môi trường sinh thái Phát triển kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiện tại, song không làm cạn kiệt tài nguyên, để lại hậu quả về môi trường cho thê shệ tưong lai PTBV là phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn thương đến khả năng của các thê hệ tương lai đáp ứng nhu cầu của họ (Nông nghiệp Việt Nam trong phát triển bền vững, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2004, Trang 11-12-13)

Mặc dù các định nghĩa về PTBV còn có những điểm chưa thật thống nhất, thậm chí còn tranh cãi, song đều thống nhất tập trung sự chú ý vào phúc lợi lâu dài của con người và đều bao hàm những yêu cầu về sự phối hợp, lồng ghép ít nhất là 3 mặt là tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường Ngoài ba mặt chủ yếu này, có nhiều người còn đề cập tới những khía cạnh khác của PTBV như chính trị, văn hoá, tinh thần, dân tộc v.v và đòi hỏi phải tính toán và cân đối chúng trong khi hoạch định các chiến lược và chính sách phát triển kinh tế - xã hội Trên cơ sở tổng kết, đánh giá lại 10 năm thực hiện Chương trình Nghị sự 21 toàn cầu, đã bổ sung và đưa ra khái niệm hoàn chỉnh về PTBV là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ,

Trang 23

16

hợp lý, hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, đó là phát triển kinh tế, phát triển xã hội

và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống con người trong hiện tại, nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, giáo trình Kinh tế học phát triển, H.2002, tr.17) Định nghĩa này đã đề cập cụ thể hơn về mối quan hệ ràng buộc giữa

sự đáp ứng nhu cầu hiện tại với khả năng đáp ứng nhu cầu tương lai, thông qua lồng ghép quá trình sản xuất với các biện pháp bảo toàn tài nguyên, nâng cao chất lượng môi trường

Đến nay phần lớn chúng ta đã thống nhất cách hiểu về PTBV:“Phát triển bền vững

là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau” (Định hướng chiến lược

PTBV ở Việt Nam (8/2004), Hà Nội, tr 5) Ngoài ra còn có những cách mô phỏng khác về nội dung của PTBV nhưng đều phản ánh một nguyên lý giống nhau, đó là PTBV đòi hỏi sự kết hợp đúng 3 mặt tồn tại song song là kinh tế, xã hội và môi trường Tuy nhiên còn có quan điểm cho rằng ngoài 3 lĩnh vực: kinh tế, môi trường,

xã hội, còn có thêm một lĩnh vực nữa là “thể chế” để xem xét sự tác động qua lại giữa 3 lĩnh vực trong một thể thông nhất Tuy nhiên đây chỉ là quan điểm của thiểu

số, quan điểm đa số vẫn xem 3 lĩnh vực “kinh tế, xã hội và môi trường” là nền tảng của phát triển bền vững Từng nước khác nhau có thể đưa ra những lĩnh vực cụ thể hơn để xem xét tính bền vững của sự phát triển theo yêu cầu và đặc thù riêng của mỗi hệ thống kinh tế xã hội PTBV là một quá trình đảm bảo tối đa hoá phúc lợi của

xã hội và xoá bỏ nghèo đói thông qua việc quản lý ở mức tối ưu và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên Hay nói cách khác, đó là sự ổn định về tài chính, thương mại và kinh tế vĩ mô, sự quan tâm, chú trọng vào các khía cạnh bình đẳng, dân chủ và sự tham gia rộng rãi của công chúng kết hợp với việc bảo tồn và tăng cường cơ sở tài nguyên vật chất và sinh học và các hệ sinh thái Thực tế đầu tư cho việc bảo vệ môi trường không phải là cắt giảm tăng trưởng kinh tế và xã hội mà đây là một khoản đầu tư để xã hội PTBV Ngày nay, khái niệm PTBV đã vượt khỏi khuôn khổ bảo vệ môi trường đơn thuần và trở nên bao quát và toàn diện hơn, được thể hiện một sự

Trang 24

rõ hơn, phù hợp hơn cách hiểu, phương pháp tư duy cho sát với bản chất của phạm trù này mà thôi

1.2.2 Lịch sử ra đời các chỉ số phát triển bền vững

Trong các kế hoạch, chiến lược, hay các báo cáo thường đề cập đến các chỉ tiêu dưới các dạng và với các ý nghĩa khác nhau Có những chỉ tiêu được lập ra như một mốc hướng tới trong quá trình tiến hành công tác hoặc để thể hiện, đánh giá mức độ tăng trưởng về một khía cạnh nào đó của sự phát triển (chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế,

xã hội hoặc môi trường) Khi chưa phổ biến khái niệm PTBV, các cơ quan lập kế hoạch, ra quyết định và các cơ quan hữu quan khác vẫn sử dụng những chỉ tiêu truyền thống để đo sự tăng trưởng về kinh tế, xã hội, môi trường hay áp dụng trong công tác lập kế hoạch Các chỉ tiêu truyền thống thường đo sự thay đổi của một bộ phận, một vấn đề phát sinh trong cộng đồng một cách độc lập không có liên hệ với các bộ phận khác

Khác với ý nghĩa của các chỉ tiêu truyền thống, các chỉ tiêu PTBV có đặc trưng là thể hiện được mối liên hệ giữa các khía cạnh của sự phát triển Việc xây dựng, sắp xếp các chỉ tiêu PTBV một cách khoa học và hợp lý dựa trên nhu cầu cụ thể của việc sử dụng chỉ tiêu là khâu vô cùng cần thiết và quan trọng, vì một bộ chỉ tiêu tốt

sẽ giúp đánh giá chính xác tình hình thực hiện, những kết quả đã đạt được và những vấn đề cần điều chỉnh, sửa đổi kịp thời

Năm 1992 Cuộc họp thượng đỉnh "Earth Summit" đã nhận thức được vai trò quan trọng mà các chỉ số PTBV có thể đóng góp vào việc giúp các quốc gia đưa ra những quyết định chín chắn về PTBV Sự công nhận này thể hiện ở chương 40 của Chương trình Nghị sự 21, kêu gọi các nước ở tầm quốc gia cũng như quốc tế, các tổ

Trang 25

18

chức chính phủ cũng như phi chính phủ hãy phát triển và xác định các chỉ số về PTBV nhằm hỗ trợ cho việc ra quyết định ở mọi cấp độ Hơn thế nữa, Chương trình nghị sự 21 đặc biệt kêu gọi các nỗ lực nhằm phát triển các chỉ tiêu về PTBV ở cấp quốc gia, khu vực và toàn cầu Việc xây dựng một tập hợp các chỉ tiêu PTBV này

sẽ tạo điều kiện để tất cả các quốc gia được cập nhật thường xuyên và truy cập rộng rãi thông qua việc các báo cáo và dữ liệu

Trước thực tế đó, Uỷ ban về PTBV đã phê chuẩn vào năm 1995 Chương trình làm việc về các Chỉ số PTBV và kêu gọi tất cả các tổ chức của Liên hiệp quốc, các tổ chức Chính phủ và phi chính phủ với sự phối hợp của Ban thư ký thực hiện các yếu

tố cơ bản của chương trình làm việc này Mục tiêu cơ bản của Chương trình làm việc của Uỷ ban Phát triển bền vững là đưa ra được các chỉ số của PTBV có thể truy cập dễ dàng đối với các nhà ra quyết định ở cấp quốc gia, bằng việc xác định chúng, giải thích phương pháp luận về chúng và cung cấp các hoạt động đào tạo và tăng cường năng lực áp dụng Điều quan trọng là các chỉ số khi được sử dụng trong các chính sách của quốc gia cũng có thể được dùng trong các báo cáo của quốc gia đó cho UNCSD và các cơ quan liên chính phủ khác

Phiên họp bất thường thứ 19 của Đại Hội đồng Liên hiệp quốc đựơc tiến hành năm

1997 để tổng kết 5 năm hoạt động của Uỷ ban phát triển kinh tế của Liên hiệp quốc

đã khẳng định tầm quan trọng của chương trình làm việc về các chỉ số về PTBV Trong những năm tiếp theo với một bộ gồm các chỉ số thực tế phù hợp với các điều kiện cụ thể của các quốc gia đã được nhất trí thông qua và có thể sử dụng trong việc giám sát các tiến trình hướng tới PTBV ở cấp quốc gia Bao gồm các nội dung là tăng cường sự trao đổi và các hoạt động thực tế liên quan đến các chỉ số về PTBV Phát triển các mảng phương pháp luận có thể mô tả từng chỉ số, chính sách thích hợp đào tạo và tăng cường năng lực trong việc sử dụng các chỉ số để giám sát tiến trình PTBV (1995-1996) ; Thử nghiệm sự phối hợp của các chỉ số thích hợp và giám sát các kinh nghiệm thực tế ở một số quốc gia để thu được các bài học kinh nghiệm ; Xác định và đánh giá sự liên kết giữa các yếu tố kinh tế, xã hội, thể chể và môi trường của PTBV để hỗ trợ cho việc ra quyết định tiếp theo ở tất cả các cấp

Trang 26

19

(2000); Phát triển các chỉ số có tính kết hợp cao, lôi cuốn các chuyên gia trong lĩnh vực linh tế, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, các nhà chính sách cũng như sự hợp tác của các tổ chức phi chính phủ và quan điểm mang tính địa phương;

1.2.3 Các thuật ngữ liên quan đến chỉ tiêu PTBV

Một số thuật ngữ được sử dụng trong nghiên cứu này trình bày theo cá nghĩa sau

(Lê Anh Sơn - Nguyễn Công Mỹ, 2006, Bộ tiêu chí và cơ sở dữ liệu giám sát phát

triển bền vững ở Việt Nam, Tr 3-4, Hà Nội)

Số liệu thống kê: toàn bộ số liệu được Tổng cục Thống kê và các cơ quan có thẩm

quyền thống kê theo định kỳ hoặc thu được qua các cuộc điều tra, tổng điều tra

Chỉ tiêu: thông tin được tính toán từ số liệu thống kê thể hiện hướng thay đổi hay

một trạng thái nào đó đối tượng nghiên cứu

Bộ chỉ tiêu: là những chỉ tiêu được nhóm thành một tập hợp liên quan tới nhau theo

nhiều chiều

Chỉ thị (Indicator): Là giá trị đánh giá sự biến đổi về tài nguyên và môi trường

được tính toán từ các thông số (parameters) hay biến số (variables)

Thông số/Biến số (Parameter/variable): Là các số đo đạc thực tế hoặc/và tính toán

ra từ hiện trạng hoặc/và dự bỏo xu thế diễn biến về tài nguyên và môi trường, mà từ chúng sẽ tính toán ra các chỉ thị, rồi từ các chỉ thị (indicator) sẽ tiếp tục tính toán ra các chỉ số (index) theo thuật toán tích hợp trung bình cộng - trừ đa cấp có hay không có trọng số của các thông số/biến số và chỉ thị

Chỉ số: là một độ đo tổng hợp ở mức cao, được tính từ các chỉ tiêu và bộ chỉ tiêu

Từ các dữ liệu thô, một phần được thống kê phục vụ công tác nghiên cứu khoa học Trên cơ sở số liệu thống kê, các chỉ tiêu được tính toán Việc lựa chọn từ các chỉ tiêu này một nhóm chỉ tiêu phản ánh một vấn đề có mối quan hệ với nhau theo nhiều chiều (chẳng hạn vấn đề PTBV thể hiện mối quan hệ của kinh tế-xã hội-môi trường ) cho ta một bộ chỉ tiêu Từ bộ chỉ tiêu được lựa chọn, các chỉ số được tính toán nhằm đơn giản hoá tính phức tạp của hệ thống qua một con số, song vẫn phản

Trang 27

20

ánh được bản chất của hệ thống này; những thông tin quan trọng được thể hiện thông qua các chỉ số nhằm phục vụ các nhà hoạch định chính sách

Sử dụng một hoặc một số ít chỉ số hay chỉ tiêu tổng hợp: Chỉ số hay chỉ tiêu tổng

hợp lồng ghép hay liên kết trong nó một bộ chỉ tiêu Nó thể hiện tính tổng hợp

và đồng bộ của các khía cạnh phát triển và cho phép xếp hạng các nước, các địa phương, so sánh chúng theo chuỗi thời gian Chỉ số thường có giá trị từ 0 đến 1 Người ta đã xây dựng nhiều chỉ số và chỉ tiêu tổng hợp và sử dụng trong việc lập

kế hoạch, giám sát và đánh giá các mặt khác nhau trong sự phát triển Chẳng hạn như Tổng sản phẩm trong nước (GDP), một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp trong hệ thống tài khoản quốc gia thuộc thống kê quốc gia, thể hiện tổng số lượng hàng hóa và dịch vụ mà xã hội mới tạo ra để tiêu dùng trong nước hoặc bán ra ngoài Song GDP không phản ánh sự công bằng xã hội và nhiều khía cạnh xã hội khác, cũng như không thể hiện trong nó sự mất mát, thiệt hại tài nguyên và môi trường trong quá trình phát triển Dựa trên phương pháp luận của hệ thống tài khoản quốc gia, người ta tính toán một chỉ tiêu GDP xanh là số chỉ tiêu tổng hợp thể hiện được mối quan hệ giữa kinh tế, công bằng xã hội và môi trường (Green GDP) là một ví dụ trong số đó GDP xanh kết nối giữa tăng trưởng kinh tế và chi phí môi trường Nói một cách tóm lược, thì GDP xanh được tính toán bằng cách lấy GDP trừ đi những thiệt hại về tài nguyên và môi trường

Chỉ tiêu Tích lũy trong nước đích thực (Genuin Domestic Savings) là một thước

đo do Ngân hàng thế giới sử dụng nhằm thể hiện tổng tài sản của quốc gia tăng lên hay giảm đi thực sự sau mỗi thời kỳ phát triển kinh tế Chỉ tiêu này tính bằng cách lấy khoản tiết kiệm trong nước (trong hệ thống tính toán thống kê tài khoản quốc gia) cộng với đầu tư cho giáo dục và trừ đi thiệt hại do sự giảm tài nguyên và môi trường

Chỉ số tiến bộ đích thực (GPI) là một nỗ lực khác nhằm kết nối kinh tế, công bằng

xã hội và môi trường Tương tự như GDP xanh, Chỉ số tiến bộ đích thực chú ý tới

cả những giá trị tăng thêm hay mất đi trong các lĩnh vực xã hội và môi trường, và

tính toán dựa vào chỉ tiêu GDP

Trang 28

21

Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) thuộc dạng chỉ

số không dựa vào hệ thống tài khoản quốc gia HDI bao hàm các chỉ số phản ánh ba chiều cạnh là kinh tế (GDP trên đầu người), giáo dục (tỉ lệ đi học của trẻ

em và tỉ lệ biết chữ của người lớn), và sức khỏe (tuổi thọ dự kiến khi sinh) Ở Việt nam, HDI được tính toán từ năm 1998 Một số chỉ số tương tự như HDI là Chỉ số đời sống con người (Human Well-being Index), chỉ số đời sống sinh thái (Ecosystem Well-being Index) cũng được đề xuất và tính toán, song chúng không phổ biến rộng rãi như HDI

Trang 29

22

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN VIỆC XÂY DỰNG

HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 2.1 Thực trạng và xuất phát điểm của CTNS21 Việt Nam

2.1.1 Thực trạng phát triển kinh tế ở Việt Nam

Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc về kinh tế, cải thiện nâng cao đời sống người dân lên đáng kể Tổng sản phẩm trong nước tăng liên tục qua các năm với tốc

độ nhanh và tương đối ổn định (www.gso.gov.vn và www.mpi.gov.vn)

Chúng ta cũng đã đạt được một số thành tựu trong lĩnh vực xã hội, đặc biệt trong công cuộc xoá đói giảm nghèo, xoá nạn mù chữ và phổ cập giáo dục, tăng cường công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Theo Báo cáo phát triển con người của UNDP công bố năm 2007, đánh giá Chỉ số phát triển con người (HDI)1 năm

2005 của Việt Nam đạt 0,733 xếp thứ 105 và tăng cao hơn so với chỉ số năm 2002

là 0,042 Có thể thấy trong bảng dưới đây, mặc dù chỉ số kinh tế GDP còn chưa cao, song Việt Nam đã đạt được chỉ số về tri thức và giáo dục khá cao so với các nước trong khu vực

HDI là một chỉ số quan trọng trong lĩnh vực xã hội gồm có 3 thành phần : HDI = T + V + G

Trong đó :

T : chỉ tiêu Tuổi thọ bình quân

V : chỉ tiêu trình độ văn hóa dân cư

G : chỉ tiêu thu nhập quốc dân bình quân trên đầu người

Hạn chế của chỉ số HDI trong việc đánh giá sự phát triển bền vững là không xem xét các tác động ngoại ứng của quá trình phát triển tới môi trường

Trang 30

GDP bq đầu người (USD-PPP) PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI CAO

(Nguồn : Báo cáo phát triển con người, UNDP, 2007-2008)

Tăng trưởng kinh tế là vấn đề quan trọng đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay, song cần phải có sự hài hoà với các mục tiêu về xã hội và môi trường vì có phát

Trang 31

định vai trò của phát triển bền vững: "Đất nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh

công nghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Để phấn đấu đạt được mục tiêu đó, quá trình thực hiện phải tuân thủ các nguyên lý cơ bản và quy luật khách quan của phát triển bền vững - phát triển phải có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường" Trích lời phát biểu trong lời khai mạc Hội

nghị toàn quốc về Môi trường năm 2005 của Thủ tướng Phan Văn Khải

2.1.2 Tiến trình xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 của

Việt Nam

Ở Việt Nam, khái niệm PTBV được các nhà khoa học nước ta nghiên cứu áp dụng

và thông qua một số công trình cơ bản Đầu tiên phải kể đến là các chương trình do giới nghiên cứu môi trường tiến hành như "Tiến tới môi trường bền vững" (1995) của Trung tâm tài nguyên và môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội Chương trình này đã cụ thể hoá hệ thống chỉ tiêu PTBV như một tiến trình đòi hỏi sự tiến triển đồng thời của các lĩnh vực: kinh tế, xã hội, môi trường Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu chí PTBV của Brundtland, và kinh nghiệm các nước như Trung Quốc, Anh,

Mỹ, các tác giả đã thao tác hoá khái niệm với các tiêu chí cụ thể đối với một quốc gia: bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững môi trường Đồng thời cũng đề xuất một số phương án lựa chọn bộ tiêu chí PTBV cho Việt Nam Bên cạnh đó, cuốn sách "Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững" (2007) do Lưu Đức Hải

và Nguyễn Ngọc Sinh đã trình bày hệ thống các khái niệm và hành động quản lý môi trường cho PTBV, định lượng hoá sự phát triển bền vững qua các độ đo bền vững kinh tế, môi trường, văn hoá - tổng quan nhiều mô hình PTBV

Trang 32

25

Chủ đề này cũng được bàn luận sôi nổi trong giới khoa học xã hội với các công trình "Đổi mới chính sách xã hội, Luận cứ và giải pháp"(1997) của Phạm Xuân Nam Trong công trình này, tác giả đã làm rõ 5 hệ chỉ báo thể hiện quan điểm PTBV: phát triển xã hội, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, phát triển chính trị, tinh thần, trí tuệ và cuối cùng là chỉ báo quốc tế về phát triển Trong một bài viết đăng trên Tạp chí Xã hội học (2003) của tác giả Bùi Đình Thanh với tiêu đề "Xã hội học Việt Nam trước ngưỡng PTBV" cũng đã nêu lên các chỉ báo kinh tế; xã hội; môi trường; chính trị, tinh thần, trí tuệ; văn hoá; Vai trò phụ nữ và Chỉ báo quốc tế Nội dung PTBV cũng đã được các cơ quan Chính phủ nghiên cứu và lồng ghép trong các chiến lược phát triển ngành và tại các chương trình, hội nghị Các cụm từ như phát triển “ổn định”, phát triển với mục tiêu “lâu bền”, hay phát triển một cách

“hài hoà” đã được đề cấp một cách chính thống từ rất lâu trong các văn bản mang tính pháp lý ở Việt Nam Phạm trù “phát triển bền vững” đã thể hiện trong tư tưởng của Đảng từ Đại hội III với sự khẳng định “đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” Tiếp đó, tưởng về phát triển bền vững được phát triển qua các Đại hội Đảng, nhất là trong gần 25 năm đổi mới Năm 1990, Việt Nam đó đăng cai tổ chức Hội nghị khoa học Quốc gia về vấn đề môi trường và phát triển với sự tham gia của 90 đại biểu quốc tế cùng 200 nhà khoa học và quản lý Việt Nam Năm 1991, Nhà nước đã công bố “Kế hoạch hành động quốc gia về môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991 - 2000 Năm 1992, nước ta cùng với hầu hết các nước ký bản Tuyên ngôn về Môi trường và PTBV của hội nghị các nguyên thủ của tất cả các quốc gia trên thế giới họp tại Rio de Janeiro, Braxin

"Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp cụng nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" là nội dung của Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25 tháng 6

năm 1998 của Bộ Chính trị Văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010

đã tiếp tục khẳng định: "Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh

Trang 33

26

tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường" và "Phát triển kinh tế-xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo và môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học"

Trong Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, quan điểm về phát triển bền vững đã được thể chế hoá bằng

pháp luật một cách rõ ràng, cụ thể: "Định hướng chiến lược PTBV ở Việt Nam là

một chiến lược khung, bao gồm những định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức và cá nhân có liên quan triển khai thực hiện, đồng thời thể hiện sự cam kết của Việt Nam với quốc tế"

Nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác của Nhà nước đã được ban hành và triển khai thực hiện; nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này đã được tiến hành và thu được những kết quả bước đầu; nhiều nội dung cơ bản về PTBV đã đi vào cuộc sống và dần dần trở thành xu thế tất yếu trong sự phát triển của đất nước Như vậy có thể nói, về suy nghĩ và hành động của chúng ta về phát triển đất nước một cách bền vững đã thích ứng với xu thế PTBV chung của toàn cầu Quan điểm

về PTBV của đảng và Nhà nước đã hoà nhịp với toàn thế giới Đặc biệt là trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ

Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam đã được triển khai thực hiện nhanh chóng và hiệu quả, để tăng cường năng lực và thể chế hoá PTBV Văn phòng Phát triển bền vững được thành lập, đặt tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bên cạnh đó nhiều tài liệu hướng dẫn chi tiết thực hiện PTBV cũng đã được xây dựng nhằm cụ thể hoá những định hướng cơ bản nêu trong Chương trình nghị sự 21, giúp các Bộ, ngành và địa phương triển khai hiệu quả chương trình PTBV trong lĩnh vực/địa bàn của mình

2.1.3 Mục tiêu, nguyên tắc chủ yếu và những lĩnh vực ƣu tiên trong tiến trình thực hiện phát triển bền vững ở Việt Nam

Mục tiêu tổng quát của PTBV ở Việt Nam là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu

có về tinh thần và văn hoá, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã

Trang 34

27

hội, sự hài hoà giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý

và hài hoà được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Định hướng chiến lược cũng đề ra 19 lĩnh vực cần ưu tiên về các mặt kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường (Định hướng chiến lược chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, tái bản năm 2007, trang 55-223) với nội dung về lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường Về lĩnh vực kinh tế sử dụng công nghệ sạch, tiết kiệm nhiên liệu; xây dựng mô hình kinh tế theo hướng sạch hơn và thân thiện với môi trường; Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững; phát triển bền vững vùng và xây dựng các cộng đồng địa phương phát triển bền vững Về lĩnh vực xã hội: Tập trung nỗ lực để xoá đói, giảm nghèo, tạo thêm việc làm; bình đằng về xã hội, văn hoá, chính trị, phát triển kinh tế ; tiếp tục hạ tỉ lệ gia tăng dân số; định hướng quá trình đô thị hoá và di dân; nâng cao chất lượng giáo dục; phát triển về số lượng và nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế Về lĩnh vực môi trường : Chống thoái hoá, sử dụng hiệu quả tài nguyên đất, bảo vệ môi trường nước, khai thác hợp lý tai nguyên khoáng sản; bảo vệ môi trường biển, ven biển, hải đảo; bảo vệ và phát triển rừng; giảm ô nhiễn không khí; quản lý hiệu quả chất thải rắn; bảo tồn đa dạng sinh học

2.1.4 Ý nghĩa của các chỉ tiêu PTBV

Thực tiễn cho thấy PTBV được đo bằng các chỉ tiêu PTBV Xã hội và cộng đồng là một mạng lưới tương tác giữa các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường Tài nguyên thiên nhiên cung cấp nguyên liệu cho hoạt động sản xuất PTBV là mô hình trong

đó các lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường có xu hướng phát triển hài hoà với nhau; sự phát triển, tăng trưởng của yếu tố này không gây tổn hại cho khả năng phát triển của yếu tố khác Do đó, bất kỳ vấn đề nào trong PTBV cũng cần được xem xét trong mối liên hệ với những vấn đề khác để đánh giá xem chúng có xung đột với nhau hay không

Như vậy, bộ chỉ tiêu PTBV được xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu lồng ghép các mục tiêu phát triển của ba cấu thành kinh tế - xã hội - môi trường, hỗ trợ các quyết định được đúng đắn, chính xác; giúp theo dõi, đánh giá, làm sáng tỏ những phát

Trang 35

28

hiện, hướng dẫn và kiểm tra hoạt động hướng tới đạt được các mục tiêu về kinh tế -

xã hội - môi trường; giải quyết các mâu thuẫn và xây dựng sự đồng thuận trong xã hội

Hình 2.1 : Mục đích xây dựng chỉ tiêu phát triển bền vững

2.2 Các giai đoạn và cách tiếp cận của Liên Hợp Quốc nhằm xây dựng các chỉ tiêu phát triển bền vững

2.2.1 Giai đoạn 1 (5/1995-8/1996)

Chương trình xây dựng các chỉ tiêu PTBV đã được thông qua năm 1995, trong kỳ họp lần thứ ba của UNCSD Mục tiêu chính của chương trình là xây dựng các chỉ tiêu PTBV giúp các nhà hoạch định chính sách tầm quốc gia thông qua việc xác định các chỉ tiêu này, giải thích về phương pháp luận xây dựng các chỉ tiêu và tập huấn nguồn nhân lực Một trong những nhiệm vụ quan trọng của giai đoạn này là

CHỈ TIÊU PTBV ĐƢỢC VẬN DỤNG NHẰM:

Nâng cao hiểu biết về

Thu hút sự tham gia:

- Đánh giá hoạt động

- Hướng dẫn, chỉ đạo

Trang 36

29

chuẩn bị các tài liệu phương pháp luận của mỗi chỉ tiêu Trên cơ sở công việc các cách tiếp cận hợp tác, tư vấn và cộng tác đã được áp dụng để hình thành nên các bộ tài liệu phương pháp luận Hơn 30 tổ chức cuả hệ thống Liên hiệp quốc, các tổ chức liên chính phủ, phi chính phủ và các tổ chức lớn đã hỗ trợ công việc này, đóng vai trò chủ đạo trong việc soạn thảo các tài liệu về phương pháp luận phù hợp với nhiệm vụ và kinh nghiệm của họ

Tháng 2 năm 1996, tại Glen Cove, New York đã diễn ra Hội nghị Chuyên gia về phương pháp luận cho các chỉ tiêu PTBV nhằm đánh giá lại các tài liệu phương pháp luận đã được dự thảo ban đầu Các tài liệu phương pháp luận về các chỉ tiêu PTBV đã được Liên Hiệp quốc xuất bản vào tháng 8/1996 dưới tiêu đề: "Các chỉ tiêu phát triển bền vững, khuôn khổ và phương pháp luận" Tài liệu này đã được cung cấp cho tất cả các Chính phủ với lời mời áp dụng và thử nghiệm các chỉ tiêu

và gửi lại ý kiến phản hồi về kết quả áp dụng Trong tài liệu này, UNCSD công bố

dự thảo 134 chỉ tiêu cho các nước sử dụng để báo cáo cho thế giới về sự PTBV

2.2.2 Giai đoạn 2 (5/1996-12/1998)

Hàng loạt cuộc hội thảo và các khóa học đã được tổ chức ở cấp khu vực từ tháng 11/1996 đến tháng 6/1997 Mục tiêu chính của tất cả các hội thảo là cung cấp sự hướng dẫn và đào tạo về cách sử dụng các chỉ tiêu như các công cụ cho việc ra quyết định ở tầm quốc gia và tìm kiếm các phương pháp liên quan cho việc phát triển chỉ tiêu PTBV Trong khu vực Châu á và Thái bình dương, ESCAP đã tài trợ cho việc thực hiện các hội thảo đào tạo cấp quốc gia ở Trung quốc, Maldives, Pakistan và Philippines

Tại phiên họp lần thứ 4 của UNCSD năm 1996, Uỷ ban đã động viên các Chính phủ thực hiện thí điểm việc áp dụng các chỉ tiêu PTBV Mục đích của việc thử nghiệm tại các quốc gia là để đúc kết kinh nghiệm về việc áp dụng các chỉ tiêu PTBV, đánh giá mức độ áp dụng phù hợp với các mục tiêu quốc gia và các lĩnh vực ưu tiên PTBV, và đề xuất thay đổi các chỉ tiêu và khuôn khổ thiết chế của chúng Các quốc gia đặc biệt đã gợi ý về các thủ tục thử nghiệm, bao gồm các phương thức đối với việc tổ chức, thực hiện các phương án lựa chọn, các phương pháp định giá và đánh

Trang 37

Trung quốc, Maldives, Pakistan, Philippines

Châu Âu Aó, Bỉ, Cộng hoà Czech, Phần lan, Pháp, Đức, Vương

Quốc Anh

Châu Mỹ và Caribê Barbados, Bolivia, Brazil, Costa Rica, Mexico, Venezuela

Cơ quan thống kê của Cộng đồng chung châu Âu (Eurostat) đã chuẩn bị biên soạn tài liệu thử nghiệm 54 chỉ tiêu của UNCSD dựa trên hệ thống dữ liệu thống kê trong Cộng đồng châu Âu Nghiên cứu thí điểm này đã được công bố dưới dạng một ấn phẩm của Cộng đồng chung Châu Âu năm 1997 Cơ quan Thống kê của Cộng đồng chung châu Âu đã cung cấp sự hỗ trợ kỹ thuật và thông qua Chương trình hoạt động của UNCSD và sau này đã cung cấp một ấn phẩm mới nhất về các chỉ tiêu của UNCSD

2.2.3 Giai đoạn 3 (1/ 1999 - 12/ 2000)

Giai đoạn thử nghiệm được kết thúc và tháng 12/1999 bằng Hội nghị quốc tế về Các chỉ tiêu PTBV của UNCSD, Hội nghị đã đánh giá các chỉ tiêu PTBV, khả năng áp dụng và ý nghĩa của các chỉ tiêu trong việc hỗ trợ các Chính phủ ra các quyết định ở tầm quốc gia và là cơ hội để trao đổi thông tin về các chỉ tiêu PTBV tầm quốc gia, vùng và toàn cầu cũng như khả năng áp dụng thực tế của các chỉ tiêu này Kết quả thử nghiệm đã chỉ ra rằng các chỉ tiêu PTBV có tiềm năng đối với việc hỗ trợ các chính phủ trong việc ra các quyết định ở tầm quốc gia Các nước thử nghiệm đã báo cáo về việc sử dụng các chỉ tiêu với các mục đích giúp xác định các xu hướng chính

Trang 38

31

trong việc các lĩnh vực ưu tiên; nước; Giúp thực hiện các mục đích và mục tiêu quản lý của chính phủ; Hỗ trợ việc lập các kế hoạch và theo dõi các kế hoạch; Giúp cho việc thực thi cả các chính sách và các hoạt động thực hiện các kế hoạch; Chú trọng vào các chương trình quốc gia, ngành và ngân sách nhà nước vì sự bền vững Trong việc lựa chọn các chỉ tiêu có khả năng áp dụng, hấu hết các nước tham gia vào tiến trình thử nghiệm đều lựa chọn các chỉ tiêu ưu tiên liên quan đến các mục tiêu quốc, căn cứ vào các tiêu chí thích hợp như sự sẵn có và khả năng truy cập các

dữ liệu; giá trị sử dụng và sự phù hợp của chính sách Nhìn chung, các nước tham gia thử nghiệm đã tìm ra một danh mục các chỉ tiêu làm điểm khởi đầu cho việc xác định các phương án lựa chọn làm các chỉ tiêu PTBV cho quốc gia mình Mục tiêu đầu tiên của Chương trình chỉ tiêu PTBV là phát triển các phương thức hỗ trợ việc

ra quyết định ở cấp quốc gia Mặt khác, một hệ thống chỉ tiêu tốt cần có khả năng phản ánh các vấn đề và điều kiện đặc thù của mỗi nước hoặc vùng song cũng cần phải hài hoà với bối cảnh quốc tế đến mức cao nhất có thể Một số nước đã phản ánh trong các báo cáo của mình vấn đề thiết lập mối quan hệ giữa chiến lược quốc gia và các chỉ tiêu PTBV Điều này đặc biệt đúng với các nước đã triển khai các chương trình về chỉ tiêu PTBV song lại thiếu một chiến lược PTBV hợp nhất Tuy nhiên, điều này sẽ thay đổi khi ngày càng có nhiều nước phát triển các kế hoạch mang tính bền vững và việc sử dụng các chỉ tiêu PTBV trở thành phong trào như một công cụ lập kế hoạch quốc gia Các nước thử nghiệm cũng nhận thức được rằng các chỉ tiêu và tài liệu phương pháp luận cũng cần được cải tiến thêm, đặc biệt là xây dựng được các khái niệm rõ ràng hơn, chính xác hơn cho các chỉ tiêu

Trong cuộc họp lần thứ 15 vào tháng 4/1999, Nhóm chuyên gia về Chỉ tiêu PTBV

đã thảo luận về các hoạt động giữa kỳ để chuẩn bị cho phần kết thúc của chương trình làm việc về các chỉ tiêu PTBV Nhóm chuyên gia đã đề cập đến các vấn đề như đưa các lĩnh vực mới được các nước thử nghiệm cho là các lĩnh vực ưu tiên ở nước họ; bỏ bớt các lĩnh vực thu được ít báo cáo nhất từ các nước thử nghiệm; sửa lại các lĩnh vực khung; lựa chọn tiêu chí của tập hợp các chỉ tiêu cơ bản và phát triển tiếp việc thử nghiệm ở các nước được lựa chọn Một khuôn khổ gồm những

Trang 39

32

vấn đề khung để giúp cho việc lựa chọn và xây dựng các chỉ tiêu PTBV là rất cần thiết Tuy nhiên, mỗi một khuôn khổ tự nó không phải là một công cụ hoàn hảo để thiết lập và thể hiện sự phức tạp và tất cả các mối quan hệ qua lại chứa đựng trong khái niệm PTBV Về cơ bản, sự lựa chọn một khuôn khổ các vấn đề chính và một

hệ thống các chỉ tiêu phải đáp ứng các nhu cầu và sự lựa chọn các lĩnh vực ưu tiên của người sử dụng Cần phải nhấn mạnh rằng mỗi một quốc gia muốn sử dụng các chỉ tiêu, theo bất kỳ phương pháp nào, đều phải phát triển chương trình riêng của

quốc gia đó trên cơ sở các nguồn lực hiện có Khuôn khổ các vấn đề và các chỉ tiêu

cơ bản của UNCSD được thiết lập sẽ chỉ là điểm khởi đầu cho các chương trình quốc gia đó Khuôn khổ các vấn đề được sử dụng trong Chương trình làm việc của UNCSD, định hướng các quốc gia trong việc lựa chọn các chỉ tiêu PTBV đã được đúc kết từ các phản hồi tích cực từ các quốc gia đối với mỗi lĩnh vực hoặc vấn đề của một lĩnh vực trong PTBV Sự thay đổi trong khuôn khổ về mặt cơ cấu đã đựợc thúc đẩy bởi kinh nghiệm của các nước đã hỗ trợ UNCSD trong việc thử nghiệm và phát triển các chỉ tiêu PTBV Nhóm chuyên gia tư vấn cho UNCSD cũng như bản thân các nước tham gia thử nghiệm đã đề nghị việc thông qua cách tiếp cận chung

về các lĩnh vực sẽ được đưa vào khuôn khổ

Nhóm chuyên gia về các chỉ tiêu PTBV đã đề nghị sửa đổi sao cho các khuôn khổ các vấn đề để xây dựng chỉ tiêu PTBV cần phải xem xét lại và nhấn mạnh vào các vấn đề chính sách hoặc các lĩnh vực chính liên quan đến PTBV

Nhờ sự phối hợp giữa các chính phủ, các tổ chức quốc tế, các viện nghiên cứu, các

tổ chức phi chính phủ và các cá nhân đã giúp UNCSD công bố vào năm 2001 khuôn khổ mới và 58 chỉ tiêu cốt lõi PTBV nhằm hỗ trợ các nước trong việc đo lường bước tiến triển hướng tới sự PTBV Khung khổ chỉ tiêu cuối cùng gồm 15 chủ đề và

38 chủ đề nhánh được xây dựng nhằm dẫn dắt việc phát triển các chỉ tiêu quốc gia sau năm 2001 Mỗi một giai đoạn trong quá trình hoàn thiện khuôn khổ các vấn đề chính để xác định các chỉ số đều cân nhắc rất cẩn thận các lĩnh vực ưu tiên và kinh nghiệm của các nước tham gia thử nghiệm Bảng tổng hợp các lĩnh vực ưu tiên này

Trang 40

phẩm Sức khoẻ/Cung cấp nước sạch/Vệ

Môi trường biển /Bảo vệ vỉa san hô

Nghèo /Phân phối thu nhập Đa dạng sinh học/Công nghệ sinh học

ôzôn Các giá ttị xã hội và đạo đức Sự biến đổi khí hậu toàn cầu/ Sự gia

tăng mực nước biến

thiên nhiên Quyền sử dụng đất và các nguồn tài

nguyên

Du lịch bền vững

Sự bình đẳng/Sự loại trừ xã hội Thay đổi việc sử dụng đất

Sự phụ thuộc về kinh tế/Nợ/Vay Ra quyết định hội nhập

Ngày đăng: 26/03/2015, 08:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2001) Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2004), Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2004
4. Chính phủ (2002), Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
5. Chính phủ (2004), Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
7. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2002), Giáo trình Kinh tế học phát triển, Tr.17, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế học phát triển, "Tr".17
Tác giả: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2002
8. Lưu Đức Hải - Nguyễn Ngọc Sinh (2007), Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững
Tác giả: Lưu Đức Hải - Nguyễn Ngọc Sinh
Năm: 2007
9. Lê Văn Khoa (1995), Môi trường và ô nhiễm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và ô nhiễm
Tác giả: Lê Văn Khoa
Năm: 1995
10. NXB Chính trị quốc gia (2004), Nông nghiệp Việt Nam trong phát triển bền vững, Tr 11-12-13, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp Việt Nam trong phát triển bền vững
Tác giả: NXB Chính trị quốc gia
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia (2004)
Năm: 2004
11. NXB Chính trị quốc gia (2002), Hành trình vì sự phát triển bền vững 1972- 1992-2002 , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2002), Hành trình vì sự phát triển bền vững 1972-1992-2002
Tác giả: NXB Chính trị quốc gia
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia "(2002)
Năm: 2002
12. Lê Anh Sơn - Nguyễn Công Mỹ (2006), Bộ tiêu chí và cơ sở dữ liệu giám sát phát triển bền vững ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ tiêu chí và cơ sở dữ liệu giám sát phát triển bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Lê Anh Sơn - Nguyễn Công Mỹ
Năm: 2006
13. Từ điển bách khoa Việt Nam, NXB Từ điển bách khoa, Tr 242 Sách, tạp chí
Tiêu đề: NXB Từ điển bách khoa, "Tr
Nhà XB: NXB Từ điển bách khoa
14. Nguyễn Như Ý, Đại từ điển tiếng việt, NXB Văn hóa thông tin, Tr 242 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng việt, NXB Văn hóa thông tin," Tr
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
4. The United Nations University (2000), Khung phát triển bền vững ở Trung Quốc- báo cáo tổng kết Sách, tạp chí
Tiêu đề: The United Nations University (2000)
Tác giả: The United Nations University
Năm: 2000
6. Dự án VIE/01/021, Ngưỡng phát triển và quan điểm về phát triển bền vững đối với Việt Nam, Hà Nội Khác
1. David Pearce, Edward Barbier, Anil markandya (1990). Kinh tế và môi trường trong thế giới thứ 3 Khác
2. UNDP (2007), Báo cáo phát triển con người, Hà Nội Khác
3. UNCED (Rio 1992), Chương trình Nghị sự 21 Khác
5. World Bank (2000), Việt Nam năm 2010, đường vào thế kỷ 21 Khác
6. World Bank (2002), Quản lý môi trường ở Việt Nam Khác
7. Các trang web www.gso.gov.vn www.mpi.gov.vn www.iisd.orgwww.johannesburgsummit.org www.un.org Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Chỉ số HDI của một số nước năm 2005  Xếp - Nghiên cứu, đánh giá hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững và đề xuất khả năng áp dụng trong quá trình thực hiện Chương trình nghị sự 21 ở Việt Nam
Bảng 2.1. Chỉ số HDI của một số nước năm 2005 Xếp (Trang 30)
Hình 2.1 : Mục đích xây dựng chỉ tiêu phát triển bền vững - Nghiên cứu, đánh giá hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững và đề xuất khả năng áp dụng trong quá trình thực hiện Chương trình nghị sự 21 ở Việt Nam
Hình 2.1 Mục đích xây dựng chỉ tiêu phát triển bền vững (Trang 35)
Bảng 2.2 : Các nước tham gia thử nghiệm xây dựng bộ chỉ tiêu PTBV - Nghiên cứu, đánh giá hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững và đề xuất khả năng áp dụng trong quá trình thực hiện Chương trình nghị sự 21 ở Việt Nam
Bảng 2.2 Các nước tham gia thử nghiệm xây dựng bộ chỉ tiêu PTBV (Trang 37)
Bảng 2.3 : Khuôn khổ các vấn đề chính do Uỷ ban Phát triển bền vững đề xuất - Nghiên cứu, đánh giá hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững và đề xuất khả năng áp dụng trong quá trình thực hiện Chương trình nghị sự 21 ở Việt Nam
Bảng 2.3 Khuôn khổ các vấn đề chính do Uỷ ban Phát triển bền vững đề xuất (Trang 40)
Bảng 2.4: Sự lựa chọn các chỉ số của UNCSD  bởi các nước thử nghiệm - Nghiên cứu, đánh giá hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững và đề xuất khả năng áp dụng trong quá trình thực hiện Chương trình nghị sự 21 ở Việt Nam
Bảng 2.4 Sự lựa chọn các chỉ số của UNCSD bởi các nước thử nghiệm (Trang 44)
Bảng 2.5:  Biểu đồ thời gian của các chiến lƣợc PTBV quốc gia - Nghiên cứu, đánh giá hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững và đề xuất khả năng áp dụng trong quá trình thực hiện Chương trình nghị sự 21 ở Việt Nam
Bảng 2.5 Biểu đồ thời gian của các chiến lƣợc PTBV quốc gia (Trang 63)
Bảng 3.1: Những chỉ tiêu  dùng cho phát triển bền vững môi trường - Nghiên cứu, đánh giá hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững và đề xuất khả năng áp dụng trong quá trình thực hiện Chương trình nghị sự 21 ở Việt Nam
Bảng 3.1 Những chỉ tiêu dùng cho phát triển bền vững môi trường (Trang 72)
Hình 3.1: Mô hình chỉ tiêu A, B,C - Nghiên cứu, đánh giá hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững và đề xuất khả năng áp dụng trong quá trình thực hiện Chương trình nghị sự 21 ở Việt Nam
Hình 3.1 Mô hình chỉ tiêu A, B,C (Trang 75)
Hình 3.2: Mô hình phản ánh sự bền vững (Prescott- Allen - Nghiên cứu, đánh giá hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững và đề xuất khả năng áp dụng trong quá trình thực hiện Chương trình nghị sự 21 ở Việt Nam
Hình 3.2 Mô hình phản ánh sự bền vững (Prescott- Allen (Trang 77)
Hình 3.3: Mô hình đánh giá tiến bộ của sự bền vững - Nghiên cứu, đánh giá hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững và đề xuất khả năng áp dụng trong quá trình thực hiện Chương trình nghị sự 21 ở Việt Nam
Hình 3.3 Mô hình đánh giá tiến bộ của sự bền vững (Trang 78)
Hình 3.4 Kim tự tháp hành động. - Nghiên cứu, đánh giá hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững và đề xuất khả năng áp dụng trong quá trình thực hiện Chương trình nghị sự 21 ở Việt Nam
Hình 3.4 Kim tự tháp hành động (Trang 78)
Hình 3.5 :Minh họa phương pháp xây dựng bộ chỉ tiêu PTBV - Nghiên cứu, đánh giá hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững và đề xuất khả năng áp dụng trong quá trình thực hiện Chương trình nghị sự 21 ở Việt Nam
Hình 3.5 Minh họa phương pháp xây dựng bộ chỉ tiêu PTBV (Trang 81)
Bảng 3.3. Tổng hợp các chỉ tiêu phát triển bền vững của Việt Nam - Nghiên cứu, đánh giá hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững và đề xuất khả năng áp dụng trong quá trình thực hiện Chương trình nghị sự 21 ở Việt Nam
Bảng 3.3. Tổng hợp các chỉ tiêu phát triển bền vững của Việt Nam (Trang 91)
7. Hình thức tham gia, hỗ trợ: - Nghiên cứu, đánh giá hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững và đề xuất khả năng áp dụng trong quá trình thực hiện Chương trình nghị sự 21 ở Việt Nam
7. Hình thức tham gia, hỗ trợ: (Trang 133)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w