1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty công nghệ và truyền thông B.I.T

63 302 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 455,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường. Vì vậy, nền kinh tế thị trường khi vận hành cũng phải theo những quy luật cạnh tranh. Các doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhau, phải không ngừng tiến bộ để đạt được ưu thế tương đối so với đối thủ cạnh tranh của mình.Công ty công nghệ và truyền thông B.I.T là một doanh nghiệp tư nhân nên cũng phải đối mặt với thực tế như trên. Trong thời gian qua, bằng nhiều kế hoạch và biện pháp hiệu quả, công ty đã đạt được một số thành công đáng kích lệ. Mặc dù vậy, công ty vẫn đang tiếp tục tìm hướng đi đúng đắn để phát triển lên tầm cao mới.Với nhận thức như vậy, sau thời gian thực tập tại công ty công nghệ và truyền thông B.I.T, tìm hiểu hoạt động kinh doanh của công ty, cùng với sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo hướng dẫn thực tập Lê Huy Đức, em xin trình bày đề tài: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty công nghệ và truyền thông B.I.T để viết chuyên đề thực tập tốt nghiệp. Mục đích nghiên cứu của chuyên đề là kết hợp những hiểu biết thực tế về tình hình sản xuất, kinh doanh của công ty công nghệ và truyền thông B.I.T và những kiến thức đã đọc để đóng góp một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty B.I.T Corp.Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là khả năng cạnh tranh của một công ty sản xuất và cung ứng phần mềm công nghệ. Theo đó, khả năng cạnh tranh là năng lực duy trì được lợi nhuận và thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước. Nó được tác động bởi các yếu tố từ đầu vào đến đầu ra của quá trình sản xuất.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường Vì vậy, nền kinh tế thị trường khi vận hành cũng phải theo những quy luật cạnh tranh Các doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhau, phải không ngừng tiến bộ để đạt được ưu thế tương đối so với đối thủ cạnh tranh của mình

Công ty công nghệ và truyền thông B.I.T là một doanh nghiệp tư nhân nên cũng phải đối mặt với thực tế như trên Trong thời gian qua, bằng nhiều

kế hoạch và biện pháp hiệu quả, công ty đã đạt được một số thành công đáng kích lệ Mặc dù vậy, công ty vẫn đang tiếp tục tìm hướng đi đúng đắn để phát triển lên tầm cao mới

Với nhận thức như vậy, sau thời gian thực tập tại công ty công nghệ và truyền thông B.I.T, tìm hiểu hoạt động kinh doanh của công ty, cùng với sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo hướng dẫn thực tập Lê Huy Đức, em xin

trình bày đề tài: "Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty công nghệ và truyền thông B.I.T" để viết chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Mục đích nghiên cứu của chuyên đề là kết hợp những hiểu biết thực tế

về tình hình sản xuất, kinh doanh của công ty công nghệ và truyền thông B.I.T và những kiến thức đã đọc để đóng góp một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty B.I.T Corp

Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là khả năng cạnh tranh của một công ty sản xuất và cung ứng phần mềm công nghệ Theo đó, khả năng cạnh tranh là năng lực duy trì được lợi nhuận và thị phần trên các thị trường trong

và ngoài nước Nó được tác động bởi các yếu tố từ đầu vào đến đầu ra của quá trình sản xuất

Trang 2

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong ngành sản xuất, kinh doanh phần mềm công nghệ ở Việt Nam và hoạt động sản xuất, kinh doanh cụ thể của B.I.T Corp trong các năm gần đây

Chuyên đề được chia thành 3 chương:

Chương I Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty công

nghệ và truyền thông B.I.T

Chương II Thực trạng sản xuất kinh doanh của công ty công nghệ và

truyền thông B.I.T

Chương III Một số giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của công

nghệ và truyền thông B.I.T

Do thời gian và trình độ có hạn, chuyên đề không tránh khỏi thiếu sót,

em rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo và sự giúp đỡ của các bạn để em có thể hoàn thiện hơn chuyên đề này

Trang 3

Vậy cạnh tranh là gì?

Xét dưới giác độ các quốc gia thì cạnh tranh có thể được hiểu là quá trình đương đầu của các quốc gia này với các quốc gia khác trong quá trình hội nhập kinh tế

Xét dưới giác độ ngành kinh tế - kỹ thuật, từ trước đến nay, cạnh tranh được chia thành 2 loại là cạnh tranh giữa các ngành và cạnh tranh nội bộ ngành

- Cạnh tranh giữa các ngành là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực khác nhau nhằm thu được lợi nhuận lớn và có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với vốn đã bỏ ra, cùng đó là việc đầu tư vốn vào ngành có lợi nhất cho sự phát triển Sự cạnh tranh giữa các ngành dẫn đến việc các doanh nghiệp luôn tìm kiếm những ngành đầu tư có lợi nhất nên đã chuyển vốn đầu tư từ ngành có lợi nhuận cao hơn Điều này, vô hình chung đã hình thành nên sự phân phối vốn hợp lý giữa các ngành khác nhau và giúp các

Trang 4

doanh nghiệp ở các ngành khác nhau có số vốn bằng nhau thì thu được lợi nhuận ngang nhau.

- Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm hàng hoá - dịch vụ nào đó Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn đến sự hình thành nên giá cả thị trường trên cơ sở giá trị xã hội của loại hàng hoá dịch vụ đó Trong cuộc cạnh tranh này, các doanh nghiệp đấu tranh với nhau để giành chiến thắng Những doanh nghiệp giành chiến thắng sẽ mở rộng quy mô hoạt động của mình trên thị trường, còn những doanh nghiệp nào thua cuộc sẽ phải thu hẹp phạm vi kinh doanh, thậm chí các doanh nghiệp này còn có thể dẫn đến giải thể, phá sản

Đề cập tới cạnh tranh trong điều kiện nền kinh tế TBCN, K Mark đã đưa

ra khái niệm cạnh tranh như sau: "Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch"

Như vậy, khi nghiên cứu cạnh tranh trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, Mark đã coi cạnh tranh là cuộc giành giật các lợi thế để thu được lợi nhuận siêu ngạch

Tuy nhiên, cũng trong nền kinh tế TBCN, cuốn sách "Từ điển kinh doanh" (Xuất bản năm 1992, Anh) lại đưa ra khái niệm cạnh tranh như sau:

"cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình" để đề cập đến sự cạnh tranh ở thị trường các yếu tố đầu vào của các doanh nghiệp

Nói tóm lại, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các ngành kinh tế, giữa các quốc gia trong việc giành giật các lợi thế để thực hiện các mục tiêu khác nhau trong từng giai đoạn cạnh tranh nhất định

Nếu xét cạnh tranh dưới góc độ các doanh nghiệp thì thực chất cạnh tranh là sự ganh đua về lợi ích kinh tế, về chủ thể tham gia thị trường Đối với khách hàng, bao giờ họ cũng muốn mua được hàng hoá có chất lượng cao mà giá lại rẻ, còn các doanh nghiệp lại muốn được tối đa hoá lợi nhuận của mình Với mục tiêu là lợi nhuận, các doanh nghiệp phải tìm cách giảm chi phí, giành

Trang 5

giật khách hàng về phía mình Từ đó, cạnh tranh đã xảy ra.

Cạnh tranh là quy luật của nền kinh tế thị trường, nó là động lực thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hoá phát triển Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải nhận thức đúng đắn về cạnh tranh để từ đó luôn phát huy nội lực, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng Mặt khác, tránh cạnh tranh bất hợp pháp dẫn đến làm tổn hại lợi ích của cộng đồng cũng như làm suy yếu chính mình

Trong nền kinh tế thị trường, mong muốn tồn tại và phát triển trong cạnh tranh luôn là mục đích tự thân của mỗi doanh nghiệp Cũng trong nền kinh tế

đó, khách hàng là người tự do lựa chọn nhà cung ứng, là nhân tố quyết định

sự tồn tại của các doanh nghiệp Họ không phải tự tìm kiếm đến các doanh nghiệp như trước đây mà buộc các doanh nghiệp phải tìm kiếm khách hàng cho mình và khai thác nhu cầu nơi họ Nghĩa là, muốn khách hàng tiêu thụ sản phẩm thì các doanh nghiệp nên đưa sản phẩm của mình tới khách hàng để

họ biết, cảm nhận được và có quyết định dùng hay không dùng Với cơ chế thị trường, có được một khách hàng là rất khó khăn, các doanh nghiệp phải giữ từng khách hàng, giành giật từng khách hàng, doanh nghiệp nào cũng muốn đưa sản phẩm của mình tới tay khách hàng Nếu doanh nghiệp nào nhanh hơn thì doanh nghiệp đó sẽ chiến thắng trong cạnh tranh Quy luật chọn lọc nghiệt ngã này đã chia doanh nghiệp thành hai nhóm chính, đó là nhóm doanh nghiệp năng động và nhóm doanh nghiệp trì trệ Chính điều đó đã khiến các doanh nghiệp yếu phải nhanh chóng thích nghi, nếu không sẽ không

có cơ hội phát triển và dẫn tới tình trạnh bị phá sản Vì vậy, trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường thì cạnh tranh là con đường cơ bản để các doanh nghiệp thích nghi và tồn tại được

Có thể nói, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là một tất yếu xảy ra và nó đóng vai trò quan trọng với tất cả các doanh nghiệp đó Trong phạm vi giới hạn luận văn của mình, em chủ yếu tập

Trang 6

trung nghiên cứu và phân tích loại hình cạnh tranh này.

1.1.2 Năng lực cạnh tranh là gì?

1.1.2.1 Khái niệm về sức cạnh tranh và năng lực cạnh tranh.

- Về sức cạnh tranh

Sức cạnh tranh là khái niệm được dựng cho phạm vi doanh nghiệp trong

lý thuyết tổ chức các doanh nghiệp Một doanh nghiệp được coi là có sức cạnh tranh (hay năng lực cạnh tranh) và được đánh giá là có thể đứng vững cùng các nhà sản xuất khác, khi các sản phẩm thay thế hoặc các sản phẩm tương tự được đưa ra với mức giá thấp hơn các sản phẩm cùng loại; hoặc cung cấp các sản phẩm tương tự với các đặc tính về chất lượng và dịch vụ ngang bằng hay cao hơn Nhìn chung, khi xác định sức cạnh tranh của một doanh nghiệp hay một ngành cần xem xét đến tiềm năng sản xuất kinh doanh một hàng hoá hay một dịch vụ ở mức giá ngang bằng hay thấp hơn mức giá phổ biến mà không phải trợ cấp

Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đó lựa chọn một định nghĩa cố gắng kết hợp cho cả

doanh nghiệp, ngành và quốc gia như sau: Sức cạnh tranh là khả năng của

các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế Định nghĩa này theo em là

phù hợp và phản ánh được khái niệm cạnh tranh quốc gia trong mối liên hệ gắn kết với hoạt động cạnh tranh của các doanh nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập và mức sống nhân dân

- Về năng lực cạnh tranh:

Năng lực cạnh tranh (còn gọi là sức cạnh tranh; Anh: Competitive Power; Nga: Cancurentia; Pháp: Capacitooj de Concurrence), khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp (Từ điển thuật ngữ kinh tế học, 2001, NXB Từ điển Bách khoa Hà nội, trang 349) Theo định

Trang 7

nghĩa này, có thể thống nhất bốn thuật ngữ hiện đang được sử dụng: năng lực cạnh tranh, sức cạnh tranh, khả năng cạnh tranh và tính cạnh tranh đều có nội dung tương tự nhau và hiểu tên của chúng một cách nhất quán trong đề tài này

là "năng lực cạnh tranh"

1.1.2.2 Các cấp độ của năng lực cạnh tranh.

Năng lực cạnh tranh có thể được phân biệt thành bốn cấp độ:

 Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia

 Năng lực cạnh tranh cấp độ ngành

 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoáNăng lực cạnh tranh ở bốn cấp độ phân biệt trên đây có mối tương quan mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau Do đó, khi xem xét, đánh giá và đề ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung cần thiết phải đặt nó trong mối tương quan chung giữa các cấp độ năng lực cạnh tranh nêu trên Một mặt, tổng số năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp của một nước tạo thành năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia đó Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bị hạn chế khi năng lực cạnh tranh cấp quốc gia

và của sản phẩm doanh nghiệp đó đều thấp Mặt khác, năng lực cạnh tranh quốc gia thể hiện qua môi trường kinh doanh, cạnh tranh quốc tế và trong nước (đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế) Trong đó, các cam kết về hợp tác kinh tế quốc tế, các chính sách kinh tế vĩ mô và hệ thống luật pháp có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của ngành và của sản phẩm hàng hoá trong quốc gia đó Vì vậy, trước khi đề cập đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, em xin được sơ lược về năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia và của sản phẩm Còn năng lực cạnh tranh cấp ngành có mối quan hệ và chịu ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh quốc gia và của sản phẩm tương tự như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nên không đề cập đến

a Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia

Trang 8

Trong một báo cáo về tính cạnh tranh tổng thể của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 1997 đó nêu ra: "năng lực cạnh tranh của một quốc gia là năng lực của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác" Như vậy, năng lực cạnh tranh cấp quốc gia có thể được hiểu là việc xây dựng một môi trường cạnh tranh kinh tế chung, đảm bảo phân bố có hiệu quả các nguồn lực, để đạt và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững Môi trường cạnh tranh kinh tế chung có ý nghĩa rất lớn đối với việc thúc đẩy quá trình đầu tư, tự điều chỉnh, lựa chọn của các nhà kinh doanh, các doanh nghiệp theo các tín hiệu thị trường được thông tin đầy đủ Mặt khác, môi trường cạnh tranh thuận lợi sẽ tạo khả năng cho chính phủ hoạch định chính sách phát triển, cải thiện đầu tư, tăng cường hợp tác quốc tế và hội nhập ngày càng có hiệu quả, sẽ ảnh hưởng quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Ngoài những yếu tố về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý kinh tế

có 8 yếu tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh quốc gia, bao gồm:

 Hệ thống quản lý, chất lượng quản lý nói chung

 Lao động: là số lượng và chất lượng lao động, hiệu lực và tính linh hoạt của thị trường lao động

 Thể chế, hiệu lực của pháp luật và thể chế xã hội đặt nền móng cho nền kinh tế hiện đại mang tính cạnh tranh, bao gồm quy định của luật pháp và quyền sở hữu

Trang 9

Từ năm 2000, WEF điều chỉnh lại các nhóm tiêu chí, gộp thành ba nhóm lớn để đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia là: Sáng tạo kinh tế, khoa học công nghệ, tài chính, quốc tế hoá Trong đó, trọng số của sáng tạo kinh tế, khoa học công nghệ đó tăng mạnh từ 1/9 lờn 1/3 Theo phân tích và đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) thì sức vươn lên trong hội nhập, cạnh tranh của nền kinh tế nước ta chưa mạnh, trong khi xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra yêu cầu rất cao tới năng lực cạnh tranh của các quốc gia

và năng lực cạnh tranh của cấp quốc gia ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

b Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá

Một sản phẩm hàng hoá được coi là có năng lực cạnh tranh khi nó đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc đáo hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì hơn hẳn so với những sản phẩm hàng hoá cùng loại Nhưng năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá lại được định đoạt bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Sẽ không

có những năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá cao khi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó thấp

Ở đây cũng cần phân biệt năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là hai phạm trù khác nhau nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau Năng lực cạnh tranh của hàng hoá có được do năng lực cạnh tranh của chủ thể (doanh nghiệp) tạo ra; nhưng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ do năng lực cạnh tranh của hàng hoá mà có, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá có ảnh hưởng lớn và thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

c Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Trong cơ chế thị trường, một doanh nghiệp muốn có một chỗ đứng vững chắc, ngày càng mở rộng quy mô hoạt động thì cần phải có một tiềm lực đủ

Trang 10

mạnh để có thể cạnh tranh trên thị trường Tiềm lực đó chính là năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp.

"Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp nhờ vào đó có thể tự duy trì vị trì của mình trên thị trường cạnh tranh cũng như đảm bảo thực hiện một mức lợi nhuận ít nhất là bằng tỷ lệ cho việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp"

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở 4 yếu tố chính: giá cả, chất lượng sản phẩm, các dịch vụ kèm theo và yếu tố thời gian

Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp luôn phải tìm ra các phương

án tối ưu để giảm chi phí, hạ thấp giá thành, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm, tổ chức tốt mạng lưới bán hàng và biết chọn thời điểm bán hàng hợp lý nhằm thu hút khách hàng và mở rộng thị trường

Tăng năng lực cạnh tranh là điều tất yếu của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

1.2 Các chỉ tiêu đo lường năng lực cạnh tranh.

 Thị phần thị trường của doanh nghiệp / Toàn bộ thị phần thị trườngChỉ tiêu này thường để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Khi xem xét chỉ tiêu này người ta thường nghiên cứu các loại thị phần sau:+ Thị phần của công ty so với toàn bộ thị trường Đó là tỷ lệ % giữa doanh

số của doanh nghiệp so với doanh số của toàn bộ các doanh nghiệp khác

+ Thị phần của công ty so với phân khúc mà nó phục vụ Là tỷ lệ % giữa doanh số của công ty so với doanh số của toàn phân khúc

+ Thị phần tương đối là tỷ lệ % giữa doanh số của công ty so với doanh nghiệp đứng đầu

Thông qua sự biến động của các chỉ tiêu này mà doanh nghiệp biết mình đang ở đâu trong các doanh nghiệp cùng ngành, thị trường của mình nhiều hay ít, su hướng về phát triển thị trường của doanh nghiệp mình diễn ra như

Trang 11

thế nào Từ đó doanh nghiệp sẽ có cái nhìn chính xác và đặt ra các mục tiêu cũng như chiến lược phù hợp.

Ưu điểm: Đơn giản dễ tính

Nhược điểm: Độ chính sác không cao, khó thu thập được doanh số chính xác của các doanh nghiệp

 Tỷ suất lợi nhuận

Chỉ tiêu này được tính = lợi nhuận / giá bánĐây là chỉ tiêu tổng hợp, nó không chỉ phản ánh tiềm năng cạnh tranh

mà còn thể hiện tính hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ doanh doanh nghiệp gặp phải sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường nhưng một phần nào cũng chứng tỏ doanh nghiệp cũng có khả năng cạnh tranh không kém gì các đối thủ của nó Ngược lại nếu chỉ tiêu này cao nghĩa là đang kinh doanh đang rất thuận lợi

 Chi phí marketing / Tổng doanh thu

Thông qua chỉ tiêu này mà doanh nghiệp thấy được hiệu quả hoạt động của mình trong lĩnh vực marketing đồng thời có các quyết định chính xác hơn cho hoạt động này trong tương lai

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh.

1.3.1 Môi trường vĩ mô.

Đây là các nhân tố tác động mạnh mẽ tói khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp chỉ có thể chấp nhận chứ không thể tác động trở lại

a Nhóm nhân tố kinh tế

Đây là những nhân tố quan trọng nhất của môi trường hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Khi một nền kinh tế phát triển với tốc độ cao sẽ kéo theo sự tăng thu nhập cũng như khả năng thanh toán của người dân cũng tăng lên do vậy nhu cầu hay sức mua của nhân dân cũng sẽ tăng lên Mặt khác nền kinh tế phát triển mạnh có nghĩa là khả năng tích tụ và tập trung tư bản lớn như vậy tốc độ đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh sẽ tăng lên Đây chính là

Trang 12

cơ hội tốt cho các doanh nghiệp phát triển Doanh nghiệp nào có khả năng nắm bắt được những cơ hội này thì chắc chắn sẽ thành công và khả năng cạnh tranh cũng tăng lên.

b Nhân tố chính trị và pháp luật

Chính trị và pháp luật là nền tảng cho phát triển kinh tế cũng như là cơ

sở pháp lý để các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường Luật pháp rõ ràng, chính trị ổn định là môi trường thuận lợi đảm bảo sự bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả Mặt khác chúng cũng có thể đem lại những trở ngại, khó khăn thậm chí là rủi

ro cho các doanh nghiệp Ta có thể lấy ví dụ như các chính sách về xuất nhập khẩu về thuế, các khoản nộp ngân sách, quảng cáo, giá là những yếu tố tác động trực tiếp kìm hãm hay tạo điều kiện để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

c Tốc độ tăng trưởng của ngành

Tốc độ tăng trưởng của ngành sẽ quyết định mức độ cạnh tranh của ngành đó Khi tốc độ phát triển của ngành chậm thì mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường đó sẽ cao và gay gắt hơn do chỉ cần một biến động như sự mở rộng thị trường của doanh nghiệp này sẽ ảnh hưởng tới phần thị trường của các doanh nghiệp khác Các doanh nghiệp phải cạnh tranh quyết liệt do vậy mỗi doanh nghiệp phải luôn luôn tìm cách bảo vệ phần thị trưởng của mình

d Số lượng các doanh nghiệp trong ngành

Thêm vào đó số lượng các doanh nghiệp cạnh tranh và các đối thủ tiềm

ẩn cũng là một nhân tố tác động đến khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp Khi xem xét nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp phải đánh giá nghiên cứu kỹ lưỡng từng đối thủ của mình : Quy mô khả năng tài chính, trình độ công nghệ, đặc điểm sản phẩm để từ đó định ra mức độ cạnh tranh trên thị trường và đánh giá khả năng cạnh tranh của đối thủ cũng như của

Trang 13

doanh nghiệp mình Từ những đánh giá đó để có thể có các chính sách thích hợp với từng giai đoạn từng thị trường.

e Nguồn nhân lực

Đây chính là những người tạo ra dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp sẽ là những người quyết định các hoạt động kinh doanh : Kinh doanh cái gì, sản phẩm nào tốt cho ai, khối lượng bao nhiêu Mỗi một quyết định của họ có một ý nghĩa hết sức quan trọng liên quan tới sự tồn tại phát triển hay diệt vong của doanh nghiệp Chính

họ là những người quyết định cạnh tranh như thế nào, khả năng cạnh tranh của công ty sẽ tới mức bao nhiêu bằng những cách nào

f Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp

Một hệ thống cơ sở vật chất kỹ khang trang cùng với đội ngũ nhân viên kinh nghiệm phù hợp với quy mô của doanh nghiệp chắc chắn sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của công ty lên rất nhiều Với một cơ sở vật chất tốt thì chất lượng dịch vụ được đảm bảo Chất lượng dịch vụ hợp lý giúp cho doanh nghiệp tận dụng được công xuất tối đa qua đó hạ giá thành sản phẩm kéo theo

sự giảm giá bán trên thị trường, khả năng chiến thắng trong cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ là rất lớn Ngược lại không một doanh nghiệp nào lại có khả năng cạnh tranh cao khi mà cơ sở vật chất kém, chất lượng dịch vụ không phù hợp vì chính nó sẽ làm giảm chất lượng dịch vụ tăng chi phí kinh doanh

g Khả năng tài chính của doanh nghiệp

Đây là yếu tố quan trọng quyết định khả năng kinh doanh cũng như là chỉ tiêu hàng đầu để đánh giá quy mô của doanh nghiệp Bất cứ một hoạt động đầu tư, mua sắm trang thiết bị hay phân phối, quảng cáo đều phải được tính toán dựa trên thực trạng tài chính của doanh nghiệp Một doanh nghiệp

có tiềm lực tài chính mạnh sẽ có khả năng trang bị các dịch vụ hoàn hảo, đảm bảo chất lượng, hạ giá thành, giá bán sản phẩm, tổ chức các hoạt động quảng cáo khuyến mại mạnh mẽ nâng cao sức cạnh tranh

Trang 14

h Khả năng tổ chức quản lý

Điều này được thể hiện thông qua cơ cấu tổ chức, tác phong làm việc của các thành viên, mối quan hệ của các bộ phận… Một bộ máy được vận hành một cách nhịp nhàng, thông suốt chắc chắn sẽ góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh và ngược lại Để có được sự tổ chức quản lý tốt doanh nghiệp cần phải tạo ra được quy chế làm việc Các quy định về trách nhiệm và quyền lợi cho các cá nhân, mối quan hệ giữa các bộ phận trong doanh nghiệp một cách

rõ ràng và được sự nhất trí của các thành viên trong doanh nghiệp Khả năng

tổ chức quản lý còn phụ thuộc rất lớn vào khả năng quản lý,tổ chức của những người làm công tác quản lý trong doanh nghiệp Do đó, đội ngũ quản trị viên phải được đào tạo một cách có hệ thống, phù hợp với các đặc điểm của doanh nghiệp

1.3.2 Môi trường ngành: 5 áp lực cạnh tranh.

Cạnh tranh giữa các hãng trong ngành (5), là một nhóm các hãng, công

ty sản xuất kinh doanh các sản phẩm là những sản phẩm thay thế gần gũi nhau

Trang 15

Mô hình 2: Mô hình năm lực lượng cạnh tranh.

Năm lực lượng cạnh tranh: Nguy cơ nhập cuộc của các đối thủ mới, mối

đe doạ của sản phẩm thay thế, quyền lực của người mua, quyền lực của người cung ứng và cuộc cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại Phản ánh thực tế là cạnh tranh trong một ngành không chỉ liên quan đến các bên đã xác định; Khách hàng, người cung ứng, các doanh nghiệp đang kinh doanh khác đều có thể trở thành đối thủ cạnh tranh trong tương lai Các công ty trong ngành tuỳ trường hợp cụ thể mà có thể nổi trội hoặc kém hơn một chút so với đối thủ cạnh tranh ngoài ngành Toàn bộ năng lực cạnh tranh này kết hợp với nhau xác định cường độ cạnh tranh và mức lợi nhuận của ngành, lực lượng mạnh nhất sẽ thống trị và trở thành trọng yếu theo quan điểm xây dựng chiến lược.Cường độ cạnh tranh phụ thuộc rất nhiều vào cơ cấu ngành: Số người bán và mức độ khác biệt của sản phẩm, những rào cản nhập và cơ động của ngành, những rào cản thấp và thu hẹp, cơ cấu chi phí, nhất thể hoá dọc và vươn ra toàn cầu

Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn

Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn

Cạnh tranh giữa các hãng trong ngành

Cạnh tranh giữa các hãng trong ngành

Cạnh tranh giữa các sản phẩm thay thế

Cạnh tranh giữa các sản phẩm thay thế

Trang 16

1.3.3 Môi trường doanh nghiệp.

1.3.3.1 Nhân tố giá cả hàng hóa, dịch vụ.

Giá cả của một sản phẩm trên thị trường được hình thành và thông qua quan hệ cung cầu Người bán hay người mua thoả thuận hay mặc cả với nhau

để tiến hành mức giá cuối cùng để đảm bảo về lợi ích của cả hai bên Giá cả đóng vai trò quan trọng trong quyết định mua hay không mua của khách hàng Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh của công cuộc cách mạng doanh nghiệp, khách hàng có quyền lựa chọn sản phẩm có giá thấp hơn, khi

đó sản lượng tiêu thụ của doanh nghiệp sẽ tăng lên

Giá cả được thể hiện như một vũ khí để giành chiến thắng trong cạnh tranh thông qua việc định giá: Định giá thấp, định giá ngang bằng hoặc định giá cao.Với mức giá ngang bằng với mức giá thị trường giúp cho doanh nghiệp giữ được khách hàng, nếu doanh nghiệp tìm ra được những biện pháp nhằm làm giảm giá thành thì lợi nhuận thu được sẽ lớn hơn và hiệu quả kinh tế sẽ cao Ngược lại, với mức giá thấp hơn mức giá thị trường thì sẽ thu hút nhiều khách hàng, làm tăng sản lượng tiêu thụ, doanh nghiệp có cơ hội thâm nhập

và chiếm lĩnh thị trường Tuy nhiên , với bài toán này, doanh nghiệp khó giải nguy cơ thâm hụt lợi nhuận Mức giá mà doanh nghiệp áp dụng cao hơn mức giá thị trường nói chung là không có lợi, nó chỉ sử dụng với các doanh nghiệp

có tính độc quyền hoặc với các loại hàng hoá đặc biệt Khi đó, doanh nghiệp

sẽ thu được lợi nhuận siêu ngạch

Tuỳ thuộc vào đặc điểm thị trường, mỗi doanh nghiệp có các chính sách giá thích hợp cho từng loại sản phẩm, từng giai đoạn cho từng thời kỳ kinh doanh sẽ tạo cho mình một năng lực cạnh tranh tốt và chiếm lĩnh ưu thế

1.3.3.2 Sản phẩm và cơ cấu sản phẩm.

Điều quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp trong cơ chế thị trường là phải trả lời những câu hỏi sau: sản xuất là cái gì? sản xuất như thế nào? Thông qua việc trả lời các câu hỏi này doanh nghiệp sẽ xây dựng cho mình

Trang 17

một cơ cấu sản phẩm hợp lý Ta có thể khẳng định tầm quan trọng của sản phẩm đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, là trung tâm của doanh nghiệp, bởi vì , không có sản phẩm thì sẽ không có hoạt động kinh doanh Các sản phẩm này có thể là sản phẩm vô hình hoặc sản phẩm hữu hình Tuy nhiên vấn

đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải làm ra và cung cấp sản phẩm phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng được thị trường chấp nhận, có khả năng tiêu thụ mạnh giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mình

Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt là phần lớn những doanh nghiệp đã thực hiện đa dạng hoá sản phẩm Sản phẩm của doanh nghiệp luôn được hoàn thiện không ngừng để có thể theo kịp nhu cầu thị trường bằng cách cải tiến các thông số chất lượng, mẫu mã, bao bì, đồng thời tiếp tục duy trì các loại sản phẩm hiện đang là thế mạnh của doanh nghiệp Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng luôn nghiên cứu các sản phẩm mới nhằm phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá Việc thực hiện đa dạng hoá sản phẩm của các doanh nghiệp không chỉ để đáp ứng nhu cầu thị trường, thu nhiều lợi nhuận

mà còn có thể phân tán được rủi ro trong kinh doanh

Tuy nhiên, đi đôi với việc đa dạng hoá sản phẩm, để đảm bảo đứng vững trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, doanh nghiệp phải thực hiện chiến lược trọng tâm hoá sản phẩm vào một loại sản phẩm có tính chiến lược nhằm cung cấp cho một tập khách hàng mục tiêu hoặc thị trường mục tiêu Trong phạm

vi này, doanh nghiệp có thể tập trung phục vụ khách hàng tốt hơn, nâng cao

uy tín trước đối thủ cạnh tranh Ngoài chiến lược này, doanh nghiệp cũng phải thực hiện chiến lược cá biệt hoá sản phẩm, tạo ra nét độc đáo riêng cho mình

để thu hút, tạo sự hấp dẫn cho khách hàng vào các sản phẩm của mình, nâng cao uy tín doanh nghiệp

Như vậy, việc xác định đúng đắn cơ cấu sản phẩm sẽ là chỉ tiêu quyết định để các doanh nghiệp có sức cạnh tranh tốt trên thị trường

Trang 18

1.3.3.3 Chất lượng hàng hóa dịch vụ.

Nếu trước kia giá cả sản phẩm là yếu tố khá quan trọng thì ngày nay nó phải nhường chỗ cho chỉ tiêu chất lượng sản phẩm Trên thực tế, cạnh tranh bằng giá cả là một trong những giải pháp mang tính hạ sách, nó làm giảm lợi nhuận thu về Ngược lại, với một sản phẩm có chất lượng vượt trội với mức giá ngang bằng hoặc nhiều hơn chút ít thì có khả năng sẽ thu hút khách hàng, tạo thêm năng lực mới cạnh tranh

Chất lượng sản phẩm là hệ thống nội tại của sản phẩm được xác định bằng các thông số có thể đo được hoặc so sánh được thoả mãn những tiêu chuẩn kỹ thuật hay những yêu cầu quyết định của người tiêu dùng Chất lượng sản phẩm được hình thành từ khâu thiết kế tới tổ chức sản xuất và ngay cả khi tiêu thụ hàng hoá và chịu tác động của nhiều yếu tố: công nghệ, dây truyền sản xuất, nguyên vật liệu, trình độ tay nghề lao động, trình độ quản lý

Chất lượng sản phẩm là vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp, đặc biệt trong nền sản xuất của Việt Nam còn trong tình trạng đang phát triển, phải đương đầu với quá nhiều đối thủ cạnh tranh nước ngoài có ưu thế hơn hẳn trong việc tạo ra hay cung cấp sản phẩm có chất lượng cao Một khi chất lượng sản phẩm không được đảm bảo đồng nghĩa với doanh nghiệp dần mất đi khách hàng, mất đi thị trường và nhanh chóng đứng bên bờ phá sản Hiện nay, khi nền kinh

tế ngày càng phát triển, một quan niệm mới về chất lượng sản phẩm đã xuất hiện, chất lượng sản phẩm là chất lượng được chi phối và quyết định bởi khách hàng chứ không phải là các nhà sản xuất hoặc người cung ứng Quản lý chất lượng sản phẩm là yếu tố chủ quan còn sự đánh giá của khách hàng lại mang tính khách quan Đây là một quan niệm mới xuất phát từ thực tế làm mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên quyết liệt hơn Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đánh giá qua chất lượng sản phẩm thể hiện ở chỗ:

- Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượng hàng hoá bán ra, kéo dài chu kỳ sống sản phẩm

Trang 19

- Sản phẩm có chất lượng cao sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp, kích thích khách hàng tìm đến doanh nghiệp, tạo thị phần lớn cho doanh nghiệp.

- Chất lượng sản phẩm cao làm tăng khả năng sinh lời, cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp

1.3.3.4 Tổ chức hoạt động tiêu thụ hàng hóa dịch vụ.

Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, đây cũng là giai đoạn bù đắp chi phí và thu lợi nhuận Việc đầu tiên của quá trình tiêu thụ sản phẩm là phải lựa chọn các kênh phân phối hợp lý, có hiệu quả nhằm mục đích đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của khách hàng, nhanh chóng giải phóng nguồn hàng, bù đắp chi phí sản xuất thu hồi vốn Xây dựng một hệ thống mạng lưới tiêu thụ sản phẩm tốt cũng có nghĩa là xây dựng một nền móng vững chắc cho việc củng cố và phát triển nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp Bên cạnh việc tổ chức một mạng lưới bán hàng, doanh nghiệp đồng thời cũng cần mở rộng và đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ bán hàng như quảng cáo, khuyến mại và các dịch vụ sau bán Đây là một trong những chiến lược cạnh tranh phi giá cả gây ra sự chú ý và thu hút khách hàng một cách có hiệu quả Hoạt động tiêu thụ sản phẩm được tổ chức tốt sẽ làm tăng sản lượng bán hàng và từ đó tăng doanh thu, lợi nhuận dẫn tới tốc độ thu hồi vốn nhanh và kích thích sản xuất phát triển

Công tác tiêu thụ tốt là yếu tố quyết định tới uy tín với khách hàng, là chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Các hoạt động xúc tiến bán như tham gia hội chợ, tổ chức hội nghị khách hàng là những hình thức tốt nhất để giới thiệu sản phẩm và qua đó tìm được nhiều bạn hàng cũng như các doanh nghiệp khác nhằm kết hợp tạo ra sức cạnh tranh lớn mạnh hơn

1.3.3.5 Nhân tố thời gian.

Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ trong giai đoạn hiện nay làm thay đổi nhanh chóng nếp nghĩ, sở thích hay nhu cầu của con người

Trang 20

Điều này làm cho chu kỳ sống của sản phẩm nói chung có chiều hướng rút ngắn lại Đối với các doanh nghiệp, yếu tố quan trọng quyết định thành công trong kinh doanh ngày nay chính là thời gian và tốc độ chứ không phải là các yếu tố truyền thống như nguyên vật liệu, lao động Những thay đổi nhanh chóng của khoa học kỹ thuật đã giúp cho những doanh nghiệp biết nắm bắt thời cơ kịp thời sẽ vượt lên trên và là những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt Chính vì vậy, để chiến thắng trong cuộc chạy đua này, các doanh nghiệp phải tổ chức tốt hoạt động thu thập thông tin và xử lý thông tin, nắm bắt thời cơ, lựa chọn mặt hàng theo yêu cầu của thị trường, nhanh chóng tổ chức kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm và thu hồi vốn trước khi chu kỳ sống của sản phẩm kết thúc.

Hiện nay, ở nhiều nước phát triển, cạnh tranh mang tính chất quan trọng,

là mục tiêu của nhiều doanh nghiệp đang hướng tới Đi trước một bước trong cạnh tranh là đã giành một phần chiến thắng khá quan trọng trong việc thu hút khách hàng, mở rộng thị trường, tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp Do vậy, khi xây dựng một chiến lược kinh doanh, các doanh nghiệp thường đề cập tới vấn đề "tốc độ thị trường", "cạnh tranh dựa trên thời gian" và chú trọng tới vấn đề về chu kỳ sản phẩm, thời gian nắm bắt, thoả mãn nhu cầu thị trường, thời gian đầu tư, thời gian thu hồi vốn, tốc độ công việc giao dịch, giao hàng cũng như tốc độ của công tác nghiên cứu và triển khai sản phẩm mới

1.3.3.6 Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.

Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp hay còn gọi là những giải pháp mang tính dài hạn đối với mỗi doanh nghiệp Chiến lược kinh doanh là điều không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó chỉ ra phương hướng cho mỗi hoạt động Chiến lược kinh doanh thường được xây dựng trên cơ sở các mục tiêu kinh doanh, khả năng chủ quan của doanh nghiệp, sự tác động của môi trường kinh doanh Đối với mỗi doanh nghiệp, việc xây dựng một chiến lược kinh doanh đều có tính quyết định tới sự thành

Trang 21

công của doanh nghiệp Đối với công tác nâng cao năng lực cạnh tranh thì chiến lược cạnh tranh là một phần trong chiến lược kinh doanh nói chung, nó

sẽ giúp cho doanh nghiệp chiến thắng các đối thủ cạnh tranh hiện tại để vươn lên giành thị phần, chiếm lĩnh khách hàng, mang lại lợi nhuận cao hơn, Với mỗi chiến lược kinh doanh được xây dựng lên không phù hợp với đòi hỏi của doanh nghiệp và thị trường sẽ làm cho doanh nghiệp không tận dụng được cơ hội kinh doanh, năng lực cạnh tranh bị suy giảm dẫn đến sự thất bại trong kinh doanh Chính vì vậy, để năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đánh giá là tốt, không cách nào khác, doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh phù hợp, mang lại hiệu quả cao nhất

1.3.3.7 Các hoạt động chiêu thị.

Ngày nay, các hoạt động chiêu thị rất được chú ý trong các doanh nghiệp Hoạt động chiêu thị là tổng hợp các chương trình quảng cáo, khuyến mãi… xác định cả về chi phí, cách thức thực hiện, phương tiện thực hiện, nhân sự, thời gian, đối tượng doanh nghiệp hướng tới… Hoạt động chiêu thị nhằm khích thích người tiêu dùng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, góp phần giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, làm cho người tiêu dùng hiểu rõ hơn về sản phẩm…

1.4 Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty B.I.T.

1.4.1 Tổng quan về công ty.

1.4.1.1 Phương châm kinh doanh.

Công ty Cổ phần công nghệ và truyền thông B.I.T (B.I.T Corp) được sáng lập bởi những người có tâm huyết, có năng lực và kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh tế và công nghệ, mong muốn hình thành và phát triển một công

ty công nghệ và truyền thông hàng đầu tại Việt Nam Mũi nhọn của B.I.T là các giải pháp trực tuyến với các nhân viên có kinh nghiệm nhiều năm và hiểu biết rộng về lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật mới nhất, làm thỏa mãn những nhu cầu khó tính nhất của khách hàng Với phương châm “ Khách hàng là số 1 ”

Trang 22

khuyến khích nhân viên phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mình, chính vì vậy mỗi sản phẩm đều có những nét sáng tạo, độc đáo đem lại cho khách hàng những giá trị chỉ có ở B.I.T Corp Dù sản phẩm có giá trị lớn hay nhỏ,

sự uy tín và tính chuyên nghiệp với khách hàng đều được chúng tôi đặt lên hàng đầu Mọi sản phẩm đều được sự bảo trì, hỗ trợ tối đa từ phía B.I.T Corp

để đảm bảo và thúc đẩy công việc kinh doanh của khách hàng

Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 108889 cấp ngày 01/07/2001, sửa đổi lần thứ 2 ngày 05/11/2006, ngành nghề kinh doanh chính của Công ty bao gồm:

- Tư vấn dịch vụ và xây dựng các phần mềm máy tính điện t ử

- Tư vấn thiết kế c ác phần mềm quản lý…

1.4.1.2 Mục tiêu của công ty.

Không ngừng phát triển các hoạt động sản xuất, thương mại và dịch vụ trong các lĩnh vực hoạt động kinh doanh nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông, nâng cao giá trị Công ty và không ngừng cải thiện đời sống, điều kiện làm việc, thu nhập cho người lao động, đồng thời làm tròn nghĩa vụ nộp ngân sách cho Nhà nước Bên cạnh đó, B.I.T Corp mong muốn trở thành công ty công nghệ và truyền thông hàng đầu Việt Nam

1.4.1.3 Triết lý kinh doanh.

B.I.T Corp mong muốn trở thành công ty được khách hàng lựa chọn hàng đầu trong lĩnh vực của mình Vì thế chúng tôi tâm niệm rằng chất lượng

và sáng tạo là người bàn đồng hành của B.I.T Corp Công ty xem khách hàng

là trung tâm và cam kết đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng

1.4.1.4 Cam kết với khách hàng.

B.I.T Corp luôn mang đến cho bạn những sản phẩm có tính sáng tạo và chất lượng cao Bạn sẽ không phải lo lắng khi sử dụng sản phẩm của B.I.T Corp Mọi khách hàng khi sử dụng sản phẩm của công ty đều sẽ cảm thấy hài lòng

Trang 23

1.4.1.5 Chính sách chất lượng.

Luôn luôn thỏa mãn khách hàng bằng những sản phẩm đảm bảo chất lượng, ngày càng đa dạng và dịch vụ tốt nhất với giá cả cạnh tranh hợp lý

1.4.1.6 Sản phẩm và dịch vụ chủ yếu.

Dịch vụ chủ yếu của Công ty thiết kế, xây dựng các phần mềm quản lý

Một số các dịch vụ chủ yếu Công ty đang thực hiện

Thiết kế & phát triển website

o Website cá nhân

o Website doanh nghiệp

o Website thương mại điện tử

o Website tin tức, thông tin

o Giải pháp cổng giao dịch thương mại điện tử

o Thanh toán trực tuyến

Tiếp thị & quảng cáo trực tuyến

o Tối ưu hóa tìm kiếm (SEO)

o Tiếp thị & quảng cáo trực tuyến

Tên miền & lưu trữ web

o Đăng ký tên miền quốc tế (.com, net, org)

o Đăng ký tên miền việt nam (.vn, com.vn)

o Giải pháp lưu trữ web & email

Trang 24

Thiết kế & phát triển multimedia

o Thiết kế flash, movie (2D, 3D…)

o Thiết kế CD Presentation

o Thiết kế eCatalog, eBrochure

Phát triển phần mềm ứng dụng cho doanh nghiệp

o Phát triển các ứng dụng theo nghiệp vụ đặc thù của doanh nghiệp như HR, CRM, ACCOUTING,…

1.4.2 Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty.

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn tới sự tồn tại

và phát triển của doanh nghiệp Hiện nay, các doanh nghiệp đều tìm mọi cách

để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình

Các biện pháp dịch vụ mà doanh nghiệp tiến hành để nâng cao khả năng cạnh tranh như cải tiến dịch vụ giúp tiết kiệm chi phí… Một dịch vụ hoàn hảo

sẽ giúp cho doanh nghiệp có được các sản phẩm dịch vụ mang tính cạnh tranh cao hơn nhờ chất lượng dịch vụ được bảo đảm và uy tin

Vậy nâng cao khả năng cạnh tranh là việc tăng cường các hoạt động từ dịch vụ, kinh tế, khả năng ra quyết định… nhằm giúp cho doanh nghiệp đứng vững và phát triển trong nền kinh tế

1.4.2.1 Sự cần thiết nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nói chung.

Nền kinh tế ngày càng phát triển, mở ra cho doanh nghiệp nhiều cơ hội nhưng cũng làm tăng thêm nhiều đối thủ cạnh tranh Trước những cơ hội và thách thức như vậy mỗi doanh nghiệp phải tìm các vượt qua nếu không nguy

cơ phá sản là rất lớn Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh là một quy luật tất yếu khách quan Các doanh nghiệp tham gia thị trường đều phải chấp nhận cạnh tranh Cạnh tranh, chấp nhận cạnh tranh và cạnh tranh bằng tất cả khả năng của mình mới có thể giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển Chính

Trang 25

vì vậy, tăng khả năng cạnh tranh là một điều tất yếu của mỗi một doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường.

1.4.2.2 Sự cần thiết nâng cao khả năng cạnh tranh trong kinh doanh của công ty công nghệ và truyền thông B.I.T.

Công ty cổ phần công nghệ và truyền thông B.I.T là doanh nghiệp chuyên sản xuất các sản phẩm công nghệ cao Khi mới thành lập B.I.T Corp gặp không

ít khó khăn Thị phần của công ty không đáng kể, công ty phải chịu một sự cạnh tranh rất gay gắt Trước tình hình đó, để tồn tại và phát triển công ty cần phải nâng cao khả năng cạnh tranh của mình để có thể tiếp tục tồn tại và phát triển

Rất nhiều các khách hàng, đặc biệt là các doanh nghiệp đã và đang rất quan tâm đến những sản phẩm về công nghệ có tính năng bảo mật và thuận tiện cho sản xuất kinh doanh của họ Hiện nay có rất nhiều công ty công nghệ

và truyền thông trên thị trường Việt Nam đang ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vị trí của mình Vì vậy, để nâng cao danh tiếng của doanh nghiệp, đảm bảo cho công ty có thể tồn tại phát triển thì B.I.T Corp cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh của mình

Trang 26

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY

CÔNG NGHỆ VÀ TRUYỀN THÔNG B.I.T

1 TÓM TẮT TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÔNG TY.

1.1 Cơ cấu tổ chức.

Công ty Cổ phần Công nghệ và truyền thông B.I.T có cơ cấu tổ chức như sau:

1.2 Tổng số lao động tại thời điểm cổ phần hóa.

Lao động có đến thời điểm lập phương án cổ phần hoá (30/11/2006) là:

106 người

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

BAN GIÁM ĐỐC

PHÒNG KẾ TOÁN HÀNH CHÍNH TỔNG HỢP

PHÒNG KẾ TOÁN HÀNH CHÍNH TỔNG HỢP

PHÒNG SẢN XUẤT

PHÒNG KẾ HOẠCH KINH DOANH

PHÒNG KẾ HOẠCH KINH DOANH

PHÒNG MARKETINGPHÒNG MARKETING

Trang 27

Bảng 1: Cơ cấu lao động Công ty tại thời điểm lập phương án cổ phần hóa

Lao động không thuộc diện ký hợp đồng lao động 5 4,73%Lao động hợp đồng không xác định thời hạn 78 73,64%

1.3 Giá trị doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hóa.

Căn cứ Quyết định số 3840/QĐ-BCN ngày 24/12/2006 của Bộ Công nghiệp về việc xác định giá trị doanh nghiệp của Công ty cổ phần và công nghệ B.I.T để cổ phần hoá, giá trị doanh nghiệp để cổ phần hoá của Công ty

Tư vấn Xây dựng Điện 1 tại thời điểm ngày 01/01/2006 như sau:

- Giá trị thực tế của Công ty tại thời điểm ngày 01 tháng 01 năm 2006

2.1 Tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

2.1.1 Thuận lợi, khó khăn trước cổ phần hóa.

Thuận lợi

- Công ty có kinh nghiệm nhất định trong lĩnh vực công nghệ và truyền thông

- Lực lượng lao động dồi dào, đáp ứng làm công trình lớn

- Trong những năm qua, chính sách, pháp luật Nhà nước ngày càng chặt chẽ, đầy đủ, tạo cơ hội rất thuận lợi cho doanh nghiệp phát huy tính chủ động, linh hoạt trong kinh doanh

Khó khăn

- Khó khăn lớn nhất đối với Công ty là mất cân đối về việc làm so với

Trang 28

năng lực và thiếu vốn kinh doanh do tình trạng nợ đọng kéo dài

- Giá cả thị trường biến động, giá tư vấn thấp (đặc biệt là tư vấn giám sát

và thiết kế) không đáp ứng đủ các chi phí đào tạo, cập nhật kiến thức và đổi mới công nghệ

- Cạnh tranh và giảm giá sẽ diễn ra quyết liệt, đòi hỏi nỗ lực đổi mới quản lý Công ty

- Công tác mang tính chuyên nghiệp sâu, khó chuyển đổi ngành nghề.Chế độ chính sách, đặc biệt là chính sách quản lý xây đổi mới nhanh, Công ty gặp nhiều khó khăn để kịp thích ứng

2.1.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.

Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong 04 năm (từ 2003 đến 31/12/2006) như sau:

Trang 29

Bảng: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty giai đoạn 2003 -

3.175.500 2.708.783 0

5.385.419 3.390.689 0

7.289.122 5.236.972 0

Trong đó: +Nợ quá hạn

1.468 0

3.403.735 0

25.859.731 0

0 0

116

97 19

121

97 24

159

106 53

29.294.237

16.177044 13.507.201

34.270.246

20.730.719 14.173.962

56.031.370

39.303.479 17.727.891

2.2 Phân tích một số chỉ tiêu tác động tới năng lực cạnh tranh.

2.2.1 Thị trường và đối thủ cạnh tranh.

Thị trường

Nhu cầu sử dung công nghệ thông tin trong lĩnh vực kinh doanh và đời

1

Trang 30

sống ngày càng cao Giai đoạn tới, Công ty sẽ phải nghiên cứu phát triển những ứng dụng mới, thị trường mới như phần mềm quản lý, sản xuất module…

Đối thủ cạnh tranh

Trong bối cảnh thị trường thu hẹp dần, áp lực cạnh tranh sẽ rất quyết liệt, đặc biệt là cạnh tranh với các Công ty công nghệ nước ngoài, những Công ty luôn vượt trội về kinh nghiệm thị trường và có tiềm lực

2.2.2 Phương án dầu tư và chiến lược phát triển của doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa.

a Mục tiêu

Phấn đấu đáp ứng nhu cầu thị trường , xây dựng Công ty phát triển ổn định, đảm bảo nhu cầu thị trường, đảm bảo lợi ích khách hàng, cổ đông và người lao động trong Công ty

b Chiến lược đầu tư sau cổ phần hóa

Năm đầu tiên sau cổ phần hoá là năm Công ty tập trung ổn định mô hình

và cơ cấu sản xuất kinh doanh theo cơ chế hoạt động của Công ty cổ phần Từ năm thứ 2, Công ty phải xem xét cơ cấu lại nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản, đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh và tăng cường đầu tư đào tạo nguồn nhân lực, liên doanh liên kết, phát triển ngành nghề, mở rộng sản xuất kinh doanh

- Đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết bị

- Đầu tư cho chiến lược đào tạo và phát triển nhân lực

- Để duy trì hệ thống quản lý chất lượng ISO

- Đầu tư hạ tầng cơ sở

Ngoài ra, để mở rộng sản xuất, Công ty sẽ nghiên cứu các dự án đầu tư

mở rộng ngành nghề bằng nguồn vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu của các Công ty Cổ phần do Công ty tham gia sang lập

c Đặc điểm doanh nghiệp sau cổ phần hóa

Trang 31

Nhu cầu sử dụng công nghệ cao đã, đang và sẽ còn duy trì ở mức độ tăng cao Tuy nhiên, những ứng dung của sản phẩm lớn còn ít Ngoài ra, cạnh tranh gay gắt, quyết liệt sẽ có ảnh hưởng lớn đến bình ổn hoạt động của Công

ty Do đó, dựa trên tiềm lực lao động kỹ thuật vốn có, Công ty sẽ phát triển các dịch vụ kỹ thuật kinh tế khác khi có điều kiện

Sau cổ phần hoá, cơ chế giao việc không còn, phải đấu thầu đây vừa là

cơ hội vừa là thách thức lớn đối với Công ty Về tổ chức các khối sản xuất, ngoài các chi nhánh hiện có, Công ty phải nghiên cứu phát triển một số văn phòng đại diện hoặc chi nhánh trong và ngoài nước Tại các khối, các đơn vị sản xuất được thành lập theo nguyên tắc cạnh tranh, giảm thiểu độc quyền với

cơ chế quản lý lấy hiệu quả công việc là mục tiêu chính để phấn đấu

Khó khăn

- Mặc dù nhu cầu về điện năng của đất nước vẫn tiếp tục tăng cao trong nhiều năm tới nhưng phương thức đầu tư, yêu cầu công nghệ của các công trình nguồn và lưới điện, sẽ có nhiều đổi khác Khi Việt Nam tham gia Tổ chức thương mại thế giới WTO, cạnh tranh trên thị trường tư vấn xây dựng sẽ rất gay gắt Công ty phải đối mặt với những tập đoàn tư vấn xây dựng đa quốc gia, giàu kinh nghiệm, có các nguồn lực kinh tế, chất xám dồi dào Những Công ty tư vấn xây dựng tư nhân nhỏ gọn, năng động trong nước cũng là một lực lượng sẵn sàng chia sẻ thị trường mà Công ty đã và đang có được trong cơ chế còn có phần bao cấp, chỉ định công việc như hiện nay

- Những lợi thế của Công ty hiện có như lực lượng lao động dồi dào, những

Ngày đăng: 26/03/2015, 06:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Đề tài: "Cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách cạnh tranh ở Việt Nam", Ban Chính sách Kinh tế vĩ mô, Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung Ương, tháng 6/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách cạnh tranh ở Việt Nam
4. Nghị định số 44/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29 tháng 6 năm 1998 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty Cổ phần Khác
5. Báo cáo về các sản phẩm và dịch vụ có khả năng cạnh tranh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tháng 7/2000 Khác
7. PTS. Bùi Hà, các hình thức và biện pháp khuyến khích cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong nền kinh tế thị trường, Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung Ương, tháng 6/1998 Khác
8. Một số bài nghiên cứu của Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung Ương Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Cơ cấu lao động Công ty tại thời điểm lập phương án cổ phần hóa - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty công nghệ và truyền thông B.I.T
Bảng 1 Cơ cấu lao động Công ty tại thời điểm lập phương án cổ phần hóa (Trang 27)
Bảng : Tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu qua các năm - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty công nghệ và truyền thông B.I.T
ng Tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu qua các năm (Trang 33)
Bảng : Cơ cấu nguồn vốn của Công ty - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty công nghệ và truyền thông B.I.T
ng Cơ cấu nguồn vốn của Công ty (Trang 35)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w