1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp: Giải pháp pháp triển nguồn nhân lực quản lý đấu thầu ở Việt Nam giai đoạn 2009 đến 2015

84 419 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 842,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chưa lúc nào vấn đề phát triển con người và nguồn nhân lực trở thành vấn đề thời sự nóng bỏng ở nước ta như giai đoạn hiện nay. Đất nước đang bước vào một thời kỳ phát triển mới, những cơ hội và thách thức chưa từng có. Đảng đã khẳng định: “Con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta, coi việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa.”Tuy nhiên, từ ý tưởng trên đi tới đường lối, chính sách và tổ chức thực hiện là cả một cuộc trường chinh gian khổ. Đặc biệt vấn đề sử dụng nguồn nhân lực như thế nào trong quản lý đấu thầu để sử dụng hiệu quả nguồn vốn nhà nước trong khi vốn đầu tư Nhà nước giải ngân chậm được bàn luận khá nhiều thời gian này lại càng trở nên cấp thiết hơn. Trước tình hình đó, đề tài “ Giải pháp pháp triển nguồn nhân lực quản lý đấu thầu ở Việt Nam giai đoạn 20092015” được tác giả lựa chọn nghiên cứu.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Chưa lúc nào vấn đề phát triển con người và nguồn nhân lực trở thành vấn đềthời sự nóng bỏng ở nước ta như giai đoạn hiện nay. Đất nước đang bước vào mộtthời kỳ phát triển mới, những cơ hội và thách thức chưa từng có Đảng đã khẳng

định: “Con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta, coi việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa.”Tuy nhiên, từ ý tưởng trên đi tới đường lối, chính sách và

tổ chức thực hiện là cả một cuộc trường chinh gian khổ Đặc biệt vấn đề sử dụngnguồn nhân lực như thế nào trong quản lý đấu thầu để sử dụng hiệu quả nguồn vốnnhà nước trong khi vốn đầu tư Nhà nước giải ngân chậm được bàn luận khá nhiềuthời gian này lại càng trở nên cấp thiết hơn

Trước tình hình đó, đề tài “ Giải pháp pháp triển nguồn nhân lực quản lý đấu thầu ở Việt Nam giai đoạn 2009-2015” được tác giả lựa chọn nghiên cứu.

Nội dung đề tài chuyên đề gồm có 3 phần chính:

Chương I: Lý thuyết chung về đấu thầu và nguồn nhân lực quản lý đấu thầuChương II: Thực trạng nguồn nhân lực làm công tác quản lý đấu thầu ở ViệtNam từ năm 2003-2008

Chương III: Phương hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực đấu thầugiai đoạn 2009-2015

Mặc dù đã được sự dẫn dắt tận tình của thầy giáo PGS.TS Lê Huy Đứcnhưng đây là một đề tài mới mang nhiều yếu tố mới mẻ và thời gian thực tập cũngkhông phải là dài nên đề tài của em không thể không trnhas khỏi các sai sót Rấtmong được sự góp ý của thầy để đề tài được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội tháng 5 năm 2009

Sinh viên

Nguyễn Thị Kim Liên

Trang 2

CHƯƠNG I :

LÝ THUYẾT CHUNG VỀ ĐẤU THẦU VÀ NGUỒN NHÂN LỰC

QUẢN LÝ ĐẤU THẦU

I Đấu thầu và các hình thức đấu thầu

1 Khái niệm chung về đấu thầu

1.1 Theo từ điển tiếng việt( Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 1998)

Đấu thầu được giải thích là việc “ đọ công khai, ai nhận làm, nhận bán với điềukiện tốt nhất thì được giao cho làm hoặc được bán hàng( một phương thức giao làmcông trình hoặc mua hàng)”

Như vậy, bản chất của việc đấu thầu đã được xã hội thừa nhận như là một sựganh đua( cạnh tranh) để được thực hiện một công việc, một yêu cầu nào đó.Dùdưới dạng Quy chế hay Luật đấu thầu đều sử dụng một thuật ngữ có xuất xứ từ tiếngAnh là “ Procurement”( nghĩa là mua sắm) Tuy gọi là QCĐT, Luật Đấu thầu nhưngbản chất là Quy chế mua sắm( Procurement Regulation) hoặc Luật mua sắm( Low

on Procurement)

1.2 Theo luật đấu thầu Việt Nam

Từ khi đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, nền kinh tế mở cửa với thếgiới thì bắt đâù xuất hiện khái niệm “đấu thầu” Theo giải thích về thuật ngữ Đấuthầu trong Luật Đấu thầu của Việt Nam thì “ Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhàthầu đáp ứng yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu sử dụng vốn nhànước”

Kết quả của sự lựa chọn là có hợp đồng được ký kết với các điều khoản chi tiếtquy định trách nhiệm của cả hai bên Một bên là nhà thầu phải thực hiện các nhiệm

vụ như nêu trong HSMT( có thể là dịch vụ tư vấn, cung cấp hàng hóa hoặc xây lắpmột công trình…), một bên là chủ đầu tư( là cơ quan sử dụng vốn hoặc dùng vốnnhà nước để thực hiện dự án) có trách nhiệm giám sát, kiểm tra, nghiệm thu vàthanh toán tiền Như vậy, thực chất của quá trình đấu thầu ở Việt Nam đối với các

dự án sử dụng vốn nhà nước là một quá trình mua sắm- chi tiêu, sử dụng vốn củaNhà nước

Trang 3

1.3 Phân biệt khái niệm ‘ đấu thầu” và “ đấu giá”

Đấu thầu và đấu giá có những nét tương đồng nhau, nhưng có nhiều lúc bị hiểulẫn lộn như một khái niệm “ đấu thầu” Sau đây là một số điểm lưu ý giúpchúng ta phân biệt đấu thầu và đấu giá

2 Đặc điểm, mục tiêu của công tác đấu thầu

2.1 Đặc điểm của công tác đấu thầu

Bản chất của hoạt động đấu thầu là bỏ tiền để đạt được mục tiêu nhất định trongmột thời gian xác định Theo đó, hoạt động đấu thầu bằng tiền của nhà nước đượcgọi là “ Mua sắm công” hay “ Mua sắm chính phủ” Các quy định để thực hiện hành

vi mua sắm thông qua đấu thầu được chi phối, điều tiết bởi người sở hữu nguồn tiền

sử dụng cho việc mua sắm Tùy thuộc vào nguồn vốn được sử dụng mà việc muasắm có những đặc điểm khác nhau Với việc sử dụng vốn của Nhà nước, hoạt độngđấu thầu mua sắm có những đặc điểm riêng, khác với các nguồn vốn không phải củaNhà nước

Đấu thầu

- Đấu thầu là hoạt động mua, bên chủ

động tổ chức cuộc thầu đấu thầu nhằm

mua được hàng hóa, dịch vụ có chất

lượng tốt nhất, giá cả thấp nhất

- Đối tượng chào bán của nhà thầu là

chỉ có trên hồ sơ và BMT chỉ có được

sản phẩm định mua sau khi nhà thầu

thực hiện xong hợp đồng đã ký

- Đấu thầu cần thiết phải có sự khống

chế về giá( trừ trường hợp đặc biệt)

được gọi là giá gói thầu hay dự toán

Nhà thầu nào đáp ứng các yêu cầu của

bên mời thầu, mà có giá bán càng thấp(

tính trên môt mặt bằng chi phí) thì càng

có cơ hội chiến thắng

- Nhà thầu( người bán phải đặt cọc một

giá trịnh nhất định( được gọi là bảo

đảm dự thầu) để bảo đảm cho các đề

xuất của họ( kỹ thuật, tài chính) có hiệu

lực trong thời gian nhất định theo yêu

cầu của HSMT thì HSDT của họ mới

có giá trị để BMT xem xét

Đấu giá

- Đấu giá là hoạt động bán, bên chủ động

tổ chức phiên đấu giá nhằm bán đượchàng hóa, dịch vụ của mình với mức giácao nhất có thể

- Đối tượng bán là rõ ràng, người mua cóthể kiểm tra, đánh giá trước khi đưa ragiá mua

- Đấu giá cần thiết phải khống chế giáthấp nhất khi các bên tham gia đặt giáđược gọi là giá sàn Ai đưa ra giá cao hơn

sẽ là người chiến thắng trong phiên đấugiá

- Trong đấu giá, người mua phải đặt cọcthì mới được tham gia và đảm bảo chogiá cả của họ đưa ra là có tính khả thi

Trang 4

2.1.1 Mua sắm từ nguồn vốn tư nhân( không phải vốn nhà nuớc)

Trong trường hợp này việc mua sắm có thể được hiểu như việc “ đi chợ”hàng ngày, đi mua sắm đồ dùng, trang thiết bị, xây dựng nhà cửa cho nhu cầu củabản thân, gia đình Việc mua sắm này không tuân theo một quy định bắt buộc, tự cánhân có tiền tùy ý thích mua sắm miễn là bảo đảm không trái các quy định của phápluật và các khả năng tài chính của cá nhân

Một cách khái quát đây là cách mua sắm theo kiểu “ mặc cả hay thươngthảo” trực tiếp Theo đó, bên bán thường đưa ra giá bán có tính chất gợi ý để cùngngười mua thảo luận theo cách nâng lên, hạ xuống Khi đã có sự thống nhất thì việcmua bán được hoàn tất

Trong mua sắm theo hình thức này có nhiều nội dung được điều chỉnh tùytheo sự làm rõ giữa hai phía Nguồn vốn ở đây thương là các khoản tiền thuộc sởhữu của người mua vì vậy quyết định mua sắm thường nhanh gọn tùy thuộc vào chủquan của người mua Nếu người mua có đủ thông tin, có kinh nghiệm trong muasắm và có nghệ thuật trong thương thảo, nghĩa là đủ năng lực mua sắm thì sẽ dễdàng thành công và ngược lại

2.1.2 Mua sắm sử dụng nguồn vốn của nhà nước

Mua sắm sử dụng nguồn vốn của nhà nước được gọi là mua sắm công, vì nó

sử dụng nguồn vốn thuộc sở hữu Nhà nước- sở hữu toàn dân để mua sắm phục vụlợi ích cộng đồng Nói chung, nguồn vốn cuả Nhà nước được hiểu là nguồn vốnthuộc sở hữu toàn dân hoặc có nguồn gốc sở hữu toàn dân do đó việc chi dùng cầnđược nhà nước quản ký theo pháp luật

Đây chính là đặc điểm cơ bản để hình thành các quy định đấu thầu mua sắmcủa Nhà nước làm cho việc sử dụng, chi tiêu các nguồn tiền của Nhà nước đảm bảohiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí Các đối tượng mua sắm để đáp ứng các yêu cầutrực tiếp hoặc gián tiếp của Chính phủ cũng như của nhân dân được gọi là các nhucầu chung

Với việc sử dụng tiền của nhà nước để tiến hành mua sắm nên hoạt động này

có những đặc điểm:

Trang 5

2.1.2.1 Mục tiêu, nội dung mua sắm rõ ràng

Hoạt động đấu thầu mua sắm nhằm thực hiện nội dung công việc thuộc các dự

án được duyệt để đạt được các mục tiêu cơ bản về tăng trưởng kinh tế, phát triển cơcấu hạ tầng kinh tế xã hội, nâng cao mức sống của dân cư… theo các kế hoạch, quyhoạch phát triển kinh tế hàng năm, 5 năm hoặc dài hạn

Đối với từng gọi thầu cụ thể, mục tiêu thể hiện qua việc lựa chọn các nhàthầu đáp ứng về năng lực, kinh nghiệm, có giải pháp khả thi để thực hiện việc cungcấp hàng hóa,dịch vụ( bao gồm cả dịch vụ tư vấn), xây dựng các công trình, hạngmục công trình, đào tạo, chuyển giao công nghệ Việc phải mua sắm hàng hóa, xâydựng các công trình bảo đảm công năng, tính năng và hiệu năng sử dụng, cung cấpdịch vụ đều được thể hiện rõ trong quyết định đầu tư, kế hoạch đầu tư của dự án

2.1.2.2 Có nhiều chủ thể tham gia vào đấu thầu mua sắm

Khi đấu thầu sử dụng tiền của nhà nước thì hoạt động này được thực hiện bởicác cơ quan của Nhà nước, các DNNN hoặc các đơn vị có sử dụng nguồn tiền củaNhà nước nên có nhiều chủ thể tham gia vào quá trình đấu thầu để bảo đảm đượccác mục tiêu của đấu thầu là cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế

Các đối tượng tham gia trực tiếp vào hoạt động đấu thầu: Bên mua chính làNhà nước mà đại diện là các cơ quan của Nhà nước theo từng lĩnh vực, từng nghànhkinh tế bao gồm: thứ nhất là ngươì có thẩm quyền, thứ hai là chủ đầu tư, thứ ba làbên mời thầu, thứ tư là tổ chuyên gia đấu thầu Bên bán: Nhà thầu( nhà cung cấp,nhà xây dựng và nhà tư vấn) tham gia các gói thầu phù hợp với điều kiện năng lực

và kinh nghiệm của mình để có được các hợp đồng trên cơ sở cạnh tranh hoặc thôngqua các hình thức lựa chọn khác theo quy định

Các đối tượng tham gia gián tiếp vào hoạt động đấu thầu: Cơ quan thanh trakiểm tra giám sát; Tổ chức công ty kiểm toán độc lập; Công luận các cơ quan báochí; Sự tham gia của cộng đồng với vai trò giám sát

2.2 Mục tiêu của công tác đấu thầu

2.2.1 Mục tiêu chung

2.2.1.1 Mục tiêu căn bản

Thứ nhất, công khai, minh bạch: Một hệ thống công khai mang lại một hệthống công bằng cho tất cả các nhà thầu hợp lệ trong việc cạnh tranh để cung cấp

Trang 6

hàng hóa, công trình và dịch vụ Một hệ thống minh bạch có các quy định và cơ chế

rõ ràng để đảm bảo tuân thủ đúng các quy đinh đó Các quy định về cạnh tranh đượcbiết trước và đưa ra một cách rõ ràng để tạo thuận lợi cho việc thanh tra của các nhàkiểm toán công và các cơ quan liên quan, như trong trường hợp một nhà thầu khôngtrúng thầu Sự minh bạch khuyến khích sự đóng thuế tự nguyện của các bên thamgia vào đấu thầu mau sắm công

Thứ hai, kinh tế: chỉ tiêu kinh tế được tập trung chủ yếu vào giá cả nhưngcũng bao gồm các chỉ tiêu khác mà mang đến các lợi ích kinh tế đối với các chủ thểtham gia vào hợp đồng

Thứ ba, hiệu quả: Hiệu quả của hoạt động đâú thầu mua sắm công với nghĩamột hệ thống được vận hành đúng cách, giảm thiểu thủ tục hành chính nhưng vẫnđạt được các yêu cầu cơ bản của một gói thầu là các hàng hóa, dịch vụ được muasắm và các công trình được xây dựng

2.2.1.2 Mục tiêu khác

Ngoài ra, hệ thống đấu thầu mua sắm công ở nhiều quốc gia thường được sửdụng để thực hiện các mục tiêu riêng của chính phủ các nước Các mục tiêu đó cóthể bao gồm: Thúc đẩy các nghành sản xuất trong nước phát triển và giải quyết việclàm; Bảo đảm cho các vấn đề an ninh quốc gia; Thực hiện các phúc lợi xã hội, chínhsách lương tối thiểu và loại trừ việc sử dụng lao động trẻ em

2.2.2 Các mục tiêu hệ thống pháp luật của Việt Nam

2.2.2.1 Thống nhất quản lý việc chi tiêu sử dụng vốn nhà nước

Việc mua sắm bằng nguồn vốn Nhà nước( mua sắm công cần phải được quản

lý thống nhất, tránh việc mỗi nơi lại theo những chỉ đạo hướng dẫn khác nhau thậmchí trái ngược nhau Nhìn chung việc tổ chức đấu thầu ở Việt Nam thời gian quađảm bảo thực hiện theo Luật pháp của Nhà nước Tuy nhiên, thực tế cho thấy việctuân thủ luật pháp còn mang nặng tính hình thức Điều đó có nghĩa là chúng ta đã cóquy định, người thực hiện tuân thủ một cách nghiêm túc nhưng thực tế nhiều hoạtđộng diễn ra không công khai( như thông đồng,dàn xếp, móc nối, quân xanh quânđỏ,…) để “lách luật” Do vậy, ngoài việc hiểu luật, tuân thủ Luật đấu thầu, điềuquan trọng là cần phải tăng cường kiểm tra các hoạt động đấu thầu và xử lý cáchành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu

Trang 7

2.2.2.2 Tăng cường cạnh tranh trong đấu thầu

Một trong nhữn yếu tố đạt được hiệu quả trong công tác đấu thầu là phải đảmbảo được quy luật cạnh tranh theo cơ chế thị trường Trong hoạt động đấu thầu nóichung và công tác đấu thầu ở Việt Nam nói riêng, mục tiêu cạnh tranh đang ngàycàng được tăng cường Có cạnh tranh thì mới có động lực để sáng tạo cải tiến, kíchthích người mua( BMT) đưa ra các yêu cầu phù hợp( thể hiện trong HSMT) vàngười bán( nhà thầu) cạnh tranh với nhau để giành được hợp đồng( bán được hàng)với giá cạnh tranh song vẫn đảm bảo được chất lượng của hàng hóa, công trình, dịch

vụ Một nguyên tắc cơ bản để đảm bảo được tính cạnh tranh trong đấu thầu đó làviệc tạo ra sự “mâu thuẫn lợi ích” hay “ xung đột lợi ích” Khi có sự xung đột lợi íchgiữa các bên sẽ xảy ra động lực cạnh tranh giữa CDT, BMT và các nhà thầu để đạtđược sự cân bằng về lợi ích thì cuộc đấu thầu sẽ diễn ra và hàng hóa được cung cấp

sẽ bảo đảm về chất lượng Bên cạnh đó, phía nhà thầu cũng phải cạnh tranh để giànhlấy hợp đồng và đó sẽ là điều kiện để kích thích các nhà thầu phát huy sáng tạo, cảitiến biện pháp thi công, cải tiến công nghệ…

2.2.2.3 Công khai, minh bạch trong đấu thầu

Công khai minh bạch trong đấu thầu vừa là một trong những mục tiêu, vừa làmột trong những yêu cầu cần quán triệt Công khai trong đấu thầu có thể hiểu là sựkhông che đậy, dấu giếm, không bí mật vì lợi ích của một cá nhân, tổ chức nào đó

mà cần thể hiện, bày tỏ các nội dung thông tin theo quy định cho mọi người liênquan hoặc có quan tâm được biết

Nội dung công khai cần thể hiện trên khía cạnh thông tin, bao gồm các yêucầu về các gói thầu được thể hiện trong HSMT bảo đảm thể hiện rõ ràng, dễ hiểu,tránh đa nghĩa Theo đó, tất cả những nội dung trong HSMT mới được coi là yêucầu, ngoài HSMT không thể được coi là yêu cầu và nhà thầu không bị bắt buộc thựchiện các nội dung công việc ngoài HSMT Kể cả TCDG( tổng hợp đến chi tiết) đềuphải được thể hiện rõ ràng, minh bạch trong HSMT, quá trình thêm bớt không đượcthêm bớt, bổ sung Các thông tin liên quan đến việc dự thầu, tổ chức các cuộc thầu,thông tin về dự án, thông tin về trao thầu…đều phải được công khai rộng rãi theoquy định

Trang 8

2.2.2.4 Đảm bảo công bằng trong đấu thầu

Đây là mục tiêu rất quan trọng trong đấu thầu Trong quá trình thực hiện đấuthầu, phải hết sức tôn trọng quyền lơi của các bên có liên quan Mọi thành viên từCDT đến các nhà thầu, các tổ chức tư vấn được thuê thực hiện một phần công việctrong đấu thầu đều bình đẳng với nhau trước pháp luật Mỗi bên có quyền và tráchnhiệm được quy định CDT không được phép cho rằng mình là người có quyền caonhất muốn làm gì thì làm, muốn cho ai trúng thầu thì cho Nhà thầu không được lợidụng quan hệ thân thiết, hoặc những tác động vật chất đối với các thành viên tổchuyên gia đấu thầu để làm sai lệch kết quả đấu thầu theo hướng có lợi cho mình.Tính công bằng trong đấu thầu thể hiện rằng chủ thể tham gia đấu thầu đều phảithực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu

2.2.2.5 Đảm bảo hiệu quả của công tác đấu thầu

Hiệu quả của công tác đấu thầu chính là việc sử dụng một cách có hiệu quả

nguồn vốn của Nhà Nước Việc sử dụng các nguồn vốn của Nhà Nước có thể manglại hiệu quả ngắn hạn cho dự án và hiệu quả dài hạn về kinh tế- xã hội Hiệu quảngắn hạn là các gói thầu đều được thực hiện đảm bảo chất lượng trong phạm vinguồng ngân sách dự kiến sẽ đảm bảo được tính khả thi của dự án Hiệu quả dài hạn

về mặt kinh tế có thể dễ dàng nhìn nhận và đánh giá thông qua chất lượng hàng hóa,công trình, dịch ứng với số tiền bỏ ra và chính các công trình nhà máy, dịch vụ,cácchính sách được tạo lập…sẽ có tác động tạo ra các nguồn thu mới,các giá trị thặng

dư cho đất nước

2.2.2.6 Phòng, chống tham nhũng trong đấu thầu

Mục tiêu tiếp theo của đấu thầu là phòng chống tham nhũng Đây là mục tiêuvừa có tính lâu dài, vừa có tính cấp bách vì Việt Nam đã ký vào công ước quốc tế vềchống tham nhũng Tham nhũng có thể xảy ra trong đấu thầu dưới nhiều hình thứckhác nhau, có thể kể đến các hành vi tham nhũng như: Lợi dụng quyền hạn, chức vụđược giao cố ý làm trái pháp luật dẫn đến có hành động sai trong việc quyết địnhtrúng thầu, ký hợp đồng để được bổng lộc từ nhà thầu; Nhũng nhiễu, đòi hỏi nhữngthứ có giá trị từ tổ chức, cá nhân có liên quan đến quá trình đấu thầu; Rút ruột côngtrình, sử dụng các vật tư, nguyên liệu không đúng với cam kết trong HSDT và tronghợp đồng đã ký kết làm giảm chất lượng, tuổi thọ của công trình…

Trang 9

3 Vai trò, tầm quan trọng của đấu thầu

Đấu thầu là một hoạt động của nền kinh tế thị trường, nó tuân theo các quyluật khách quan của thị trường Thông qua hoạt động đấu thầu, những ngườimua( BMT) có nhiều cơ hội để lựa chọn những người bán phù hợp với mình, manglại hiệu quả cao nhất xứng đáng với đông tiền mà người mua sẵn sàng bỏ ra Đôngthời, những người bán( NT) có nhiều cơ hội để cạnh tranh nhằm đạt được các hợpđồng, có thể cung cấp các hàng hóa sản xuất ra, cung cấp các kiến thức mà mình cóhoặc cung cấp các dịch vụ mà mình có nhằm tối đa hóa lợi nhuận

3.1 Vai trò của đấu thầu

Công tác đấu thầu đóng góp những thành tựu to lớn cho sự phát triển kinh tếthể hiện vai trò quan trọng trong các hoạt động của kinh tế thị trường, cụ thể vai tròcủa hoạt động đấu thầu thể hiện cơ bản qua các mặt sau:

- Là một công cụ quan trọng của kinh tế thị trường, giúp người mua( BMT)

và người bán( Nhà thầu gặp nhau thông qua cạnh tranh

- Phát triển các nghành theo hướng chuyên môn hóa sâu và hợp tác rộng đồngthời phát triển thị trường đấu thầu

- Là một công cụ quan trọng giúp chính phủ quản lý chi tiêu, sử dụng cácnguồn vốn nhà nước sao cho có hiệu quả và chống thất thoát, lãng phí

- Cùng với pháp luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí, pháp luật về phòngchống tham nhũng tạo thành công cụ hữu hiệu để chống lại các hành vi gian lận,tham nhũng và lãng phí trong việc chi tiêu các nguồn vốn của Nhà nước, góp phầnlàm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội nhờ thực hiện các hoạt động mua sắm côngtheo đúng quy định của pháp luật

- Thúc đẩy chuyển giao công nghệ, chia sẻ kiến thức kinh nghiệm giữa các tổchức, các quốc gia, các tổ chức phát triển với các quốc gia đang phát triển

- Tạo điều kiện để thúc đẩy tiến trình đổi mới nền kinh tế từ cơ chế tập trungquan liêu bao cấp sang cơ chế cạnh tranh

- Thực hiện dân chủ hóa nền kinh tế, khắc phục những nhược điểm của nhữngthủ tục hành chính nặng nề cản trở sự năng động,sáng tạo

Trang 10

3.2 Tầm quan trọng của đấu thầu trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Hiện nay Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tếthế giới Điều đó càng thể hiện vai trò và tầm quan trọng của đấu thầu theo quy địnhcủa pháp luật Trước đây, chúng ta bắt đầu xây dựng các chính sách đấu thầu từ cácquyết định và chỉ hạn định trong lĩnh vực xây lắp hoặc mua sắm hàng hóa mà chưa

có một hệ thống hoàn chỉnh, đến nay chúng ta đã xây dựng và ban hành được Luậtđấu thầu quy địn thống nhất cho cả 3 lĩnh vực đấu thầu dịch vụ tư vấn, mua sắmhàng hóa và xây lắp Những quy định đó được xây dựng trên cơ sở chắt lọc các kiếnthức, kinh nghiệm, các quy định về đấu thầu của các tổ chức kinh tế quốc tế, cácquốc gia nhằm đảm bảo cho quy định của pháp luật Việt Nam phù hợp với hoàncảnh, điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam Tuy vậy, trong quá trìnhphát triển, những quy định đó sẽ ngày càng được điểu chỉnh cho phù hợp với thông

lệ quốc tế song thích hợp với điều kiện trong nước Trong bối cảnh đó, hoạt độngđấu thầu có tầm quan trọng nhất định trong quá trình toàn cầu hóa Cụ thể:

Thứ nhất, bên cạnh Việt Nam là thành viên của Diễn đàn Hợp tác kinh tế

quốc tế khu vực Châu Á Thái Bình Dương( APEC) và cũng đã chính thức trở thànhthành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới( WTO) nên Luật Đấu Thầu của ViệtNam ra đời thay thế cho quy chế Đấu thầu trước đây cho phép công tác đấu thầu củaViệt Nam dễ dàng hơn khi họ tổ chức đấu thầu quốc tế Và do đó các nhà thầu ViệtNam cũng đỡ tốn công sức khi tham dự các gói thầu quốc tế do các thành viên củaAPEC, WTO tổ chức hợp tác kinh tế cũng như khi các nhà thầu quốc tế là thành viêncủa các tổ chức WTO, APEC tham dự các gói thầu quốc tế do Việt Nam mời thầu

Thứ hai, với các tổ chức quốc tế lớn như Ngân hàng Thế giới( WB), Ngân

hàng phát triển Châu Á( ADB), Ngân hàng hợp tác kinh tế quốc tế Nhật Bản( JBIC),việc thông qua Luật Đấu thầu của Việt Nam đảm bảo việc mua sắm công của nước

ta tiến sát hơn với các quy định của các tổ chức này Việc đấu thầu đáp ứng các mụctiêu của các tổ chức này càng làm tăng thêm uy tín và cang tạo niềm tin cho các tổchức kinh tế đó đối với Việt Nam Quá trình đấu thầu ngày càng được minh bạchhơn, công bằng hơn, hiệu quả hơn là cơ sở để thu hút ngày càng nhiều các khoản tíndụng ưu đãi và cả các nguồn tài trợ không hoàn lại cho công cuộc phát triển đấtnước của các tổ chức trên

Trang 11

II Nguồn nhân lực trong quản lý đấu thầu

1 Tổng quan chung về nguồn nhân lực trong đấu thầu

Khi đấu thầu sử dụng tiền của Nhà nước thì hoạt động này được thực hiện bởicác cơ quan của Nhà nước, các DNNN hoặc các đơn vị có sử dụng nguồn tiền củaNhà nước nên có nhiều chủ thể tham gia vào quá trình đấu thầu để đảm bảo đượccác mục tiêu của đấu thầu là cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.Các chủ thể tham gia vào hoạt động đấu thầu có thể bao gồm: Các đối tượng thamgia trực tiếp vào hoạt động đấu thầu và các đối tượng tham gia gián tiếp vào hoạtđộng đấu thầu

1.1 Các đối tượng tham gia trực tiếp vào hoạt động đấu thầu

1.1.1 Bên mua

Bên mua chính là Nhà nước mà đại diện là các cơ quan của Nhà nước theo từnglĩnh vực, từng nghành kinh tế, bao gồm:

Thứ nhất là Người có thẩm quyền quyết định việc đấu thầu mua sắm( Người

phê duyệt quyết định đầu tư)

Thứ hai là CĐT: Đó là cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ hoặc sử dụng tiền

của Nhà nước( DNNN, các tổ chức vay tiền của Nhà nước hoặc do Nhà nước bảolãnh cho khoản vay) thực hiện đầu tư, đấu thầu

Thứ ba là BMT: Đó là tổ chức được CĐT giao nhiệm vụ( trường hợp thuộc chủ

đầu tư) hoặc thuê( thông qua hợp đồng) tổ chức đấu thầu

Thứ tư là Tổ chuyên gia đấu thầu, bao gồm các cá nhân được chủ đầu tư tham

gia quyết định thành lập để thực hiện nhiệm vị đánh giá HSDT, lựa chịn nhà thầuphù hợp với yêu cầu căn cứ HSMT và TCDG

1.2 Các đối tượng tham gia gián tiếp vào hoạt động đấu thầu

Ngoài bên mua và bên bán là các đối tượng tham gia trực tiếp vào hoạt động đấuthầu còn có một bộ phận thứ ba gián tiếp tham gia vào hoạt động đấu thầu bao gồm:

Trang 12

- Cơ quan thanh tra, kiểm tra giám sát

- Tổ chức, công ty kiểm toán độc lập

- Công luận, các cơ quan báo chí

- Sự tham gia của cộng đồng với vai trò giám sát…

Như thế, nguồn nhân lực trong đấu thầu có thể được hiểu là tất cả các cá nhântham gia trực tiếp và gián tiếp vào hoạt động đấu thầu bao gồm đội ngũ nhân sựtrong các bộ máy Nhà nước có liên quan đến hoạt động quản lý, thực hiện đấu thầu

2 Nguồn nhân lực trong quản lý đấu thầu

Nguồn nhân lực trong quản lý đấu thầu được phân thành 2 bộ phận: Bộ phậnquản lý nhà nước về đấu thầu và bộ phận quản lý hoạt động đấu thầu

2.1 Cấp quản lý nhà nước về đấu thầu

2.1.1 Chính phủ và thủ tướng chính phủ

Chính phủ và thủ tướng chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về đấu thầutrong phạm vi cả nước Thủ tướng Chính phủ thực hiện trách nhiệm và quyền hạnsau:

a Chỉ đạo công tác thanh tra, giải quyết các kiến nghị trong đấu thầu theo quy địnhcủa Luật đấu thầu và quy định của pháp luật về thanh tra

b Quy đinh cơ quan tổ chức thẩm định giúp người quyết định đầu tư trong quá trìnhxem xét, phê duyệt các nội dung về đấu thầu

c Quyết định các nội dung về đấu thầu quy định tại điều 60 của Luật đấu thầu đốivới các dự án đầu tư theo Nghị quyết của Quốc hội, ví dụ Dự án thủy điện Sơn La

d Thực hiện trách nhiệm và quyền hạn khác theo quy định của Luật đấu thầu và quyđịnh của pháp luật có liên quan

2.1.2 Bộ kế hoạch và đầu tư

Bộ Kế hoạch và đầu tư thực hiện quản lý nhà nước về đấu thầu như sau:

a Chịu trách nhiệm trước chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động đấuthầu

b Thẩm định kế hoạch đấu thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu các gói thầu thuộc thẩmquyền quyết định của Thủ tướng chính phủ

c Xây dựng và quản lý tờ báo về đấu thầu, trang thông tin điện tử về đấu thầu và hệthống mạng đấu thầu quốc gia

Trang 13

d Làm đầu mối giúp chính phủ, thủ tướng chính phủ hợp tác quốc tế về đấu thầu.

đ Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác đấu thầu

e Tổng kết, đánh giá, báo cáo tình hình thực hiện hoạt động đấu thầu

g Giải quyết theo thẩm quyền các kiến nghị trong đấu thầu

h Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan trong việc kiểm tra, thanh tra về đấuthầu trong phạm vi cả nước

i Thực hiện các nhiệm vụ khác về đấu thầu được chính phủ giao

2.2 Cấp quản lý hoạt động đấu thầu( Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp)

Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý côngtác đầu thầu như sau:

a Thực hiện quản lý công tác đầu thầu

b Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác đấu thầu

c Thực hiện báo cáo hoạt động đấu thầu theo quy định của chính phủ

d Tổng kết, đánh giá, tình hình thực hiện hoạt động đấu thầu

đ Giải quyết theo thẩm quyền các kiến nghị trong đấu thầu

e Kiểm tra, thanh tra về đấu thầu

f Xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu đối với các tổ chức, các nhân có liên quanđến hoạt động đấu thầu

g Trường hợp thủ trưởng, bộ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch ủy ban nhân dâncác cấp là người quyết định đầu tư thì còn phải thực hiện trách nhiệm theo quy định

về trách nhiệm của chủ đầu tư

3 Sự cần thiết phải phát triển nguồn nhân lực trong quản lý đấu thầu

3.1 Thế nào là phát triển nguồn nhân lực trong đấu thầu

Phát triển nguồn nhân lực về thực chất là ngày càng phải làm tốt hơn việc giảiphóng con người Đòi hỏi này đặt ra hai yêu cầu cùng một lúc: Phải tập trung trí tuệ

và nguồn lực cho phát triển nguồn nhân lực, mặt khác phải đồng thời thường xuyêncải thiện và đổi mới môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, gìn giữ môitrường tự nhiên của quốc gia

Trang 14

Phát triển nguồn nhân lực trong đấu thầu được hiểu là hoạt động nhằm làm lớnlên mọi mặt về số lượng cũng như chất lượng đội ngũ nhân sự trong công tác đấuthầu để bảo vệ hiệu quả nguồn vốn đầu tư của nhà nước.

Về số lượng: Tăng cường thêm số lượng đội ngũ nhân sự làm công tác đấu thầu.

Về chất lượng: Nâng cấp tính chuyên môn, hiểu biết, kỹ năng nghiệp vụ đội ngũ

nhân sự trong công tác đấu thầu

3.2 Tại sao phải phát triển nguồn nhân lực trong đấu thầu

3.2.1 Do yêu cầu nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế nói chung

Lao động hay nguồn nhân lực là yếu tố quyết định nhất cho sự phát triển kinh tế

xã hội Trình độ nghề nghiệp của người lao động thấp thì tài nguyên, vốn và côngnghệ cũng sẽ trở thành lãng phí, và tất yếu dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp Do đó,yêu cầu tập trung đào tạo nghề nghiệp cho người lao động chính là đầu tư cho pháttriển, một việc làm hết sức cần thiết trong lúc này và cho lâu dài về sau

Tình hình chung nguồn nhân lực của nước ta hiện nay là: Sau 30 năm côngnghiệp hóa, vẫn còn khoảng 70% lao động cả nước trong lĩnh vực nông nghiệp; tỷ lệhọc sinh trên triệu dân, tỷ lệ số trường các loại trên triệu dân, tỷ lệ số trường đại họctrên triệu dân; tỷ lệ tốt nghiệp đại học trên triệu dân, tỷ lệ có học vị tiến sỹ trên triệudân của nước ta đều cao hơn tất cả các nước có mức thu nhập bình quân theo đầungười tương đương như Thái Lan, nhưng chất lượng đang có nhiều vấn đề Điều tracủa Bộ giáo dục và đào tạo năm 2006 cho thấy cả nước có tới 63% số sinh viên ratrường không có việc làm, 37% số còn lại có việc làm thì hầu hết phải đào tạo lại và

có nhiều người không làm đúng nghề mình đã học, trong khi đó nhiều doanhnghiệp, kể cả những doanh nghiệp có FDI và nhiều dự án kinh tế quan trọng khácrất thiếu lực nguồn lực chuyên nghiệp Khoảng 2/3 số người có học vị tiến sỹ trong

cả nước không làm khoa học mà đang làm công tác quản lý; số bài báo khoa họcđược công bố hàng năm chỉ bằng khoảng ¼ của Thái Lan và bằng 0,00043% của thếgiới, mặc dù số tiến sỹ của ta hàng năm nhận bằng thường nhiều hơn của Thái Lan,

có năm cao gần gấp đôi…

Nguồn nhân lực nước ta đứng trước tình hình: trẻ (tính theo tuổi đời trung bình –một ưu thế lớn, tuy nguồn nhân lực đang có xu hướng bị già hóa), đông (một ưu thếlớn khác, nước có dân số đứng thứ 13 trên thế giới), nhưng tỷ lệ tính trên triệu dân

Trang 15

của số người có nghề và có trình độ chuyên môn rất thấp so với tất các nước trongnhóm ASEAN 6 và Trung Quốc; số cán bộ có trình độ quản lý cao rất ít so với dân

số cũng như so với quy mô nền kinh tế Theo điều tra của Diễn đàn kinh tế thế giớinăm 2005: Nguồn nhân lực Việt Nam về chất lượng được xếp hạng 53 trên 59 quốcgia được khảo sát, song mất cân đối nghiêm trọng Ở Việt Nam cứ 1 cán bộ tốtnghiệp đại học có 1,16 cán bộ tốt nghiệp trung cấp và 0,92 công nhân kỹ thuật,trong khi đó tỷ lệ này của thế giới là 4 và 10 Ở Việt Nam cứ 1 vạn dân có 181 sinhviên đại học, trong khi đó của thế giới là 100, của Trung Quốc là 140 mặc dù mứcthu nhập quốc dân tính theo đầu người của TQ khoảng gấp đôi của nước ta…

Kết quả chung là: Nhìn nhận theo góc độ đánh giá nguồn nhân lực, chất lượngcon người Việt Nam thấp về nhiều mặt so với các nước ASEAN6 và Trung Quốc,do

có nhiều ưu thế không được nuôi dưỡng và phát huy đúng hướng.Như thế, nguồnnhân lực của nước ta nói chung trong đó có nguồn nhân lực làm công tác đấu thầuchưa đáp ứng được yêu cầu và cần được cải thiện

3.2.2 Công tác đấu thầu còn mới mẻ

Đấu thầu là phạm trù kinh tế chỉ tồn tại trong nền kinh tế thị trường Việt Namđang trong quá trình tìm kiếm và hoàn thiện dần thể chế kinh tế thị trường, do vậy,

lý thyết về kinh tế thị trường đối với đa số cán bộ công chức còn khá mới mẻ đặcbiệt là khái niệm đấu thầu Công tác đấu thầu mới được áp dụng ở nước ta trongkhoảng thời gian 15 năm trở lại đây Lần đầu tiên QCĐT ra đời năm 1996, lần 2 rađời năm 1999 được bổ sung thêm vào năm 2003 đến ngày 01/4/2006 sau mười nămsau khi có các nghị định của Chính phủ về đấu thầu thì Luật đấu thầu mới có hiệulực thi hành

Về cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu là Cục quản lý đấu thầu cũng chỉ mớiđược thành lập Ngày 01/10/1994, Ủy Ban Kế hoạch Nhà nước (nay là Bộ Kế hoạch

và Đầu tư) đã có Quyết định số 114/UB-TCCB-ĐT thành lập Văn phòng xét thầuQuốc gia (nay là Vụ Quản lý Đấu thầu) thuộc ủy ban Kế hoạch Nhà nước để giúpChủ nhiệm ủy ban và Hội đồng xét thầu Quốc gia thực hiện chức năng theo dõi vàquản lý Nhà nước về đấu thầu Ngày 14/11/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định

số 116/2008/NĐ-CP Quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ

Trang 16

chức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Theo đó, Vụ Quản lý đấu thầu sẽ chuyển thànhCục Quản lý đấu thầu

Vì là một công việc mới nên việc phát triển đội ngũ nhân lưc làm công tác đấuthầu là không thể không làm

3.2.3 Do yêu cầu hợp tác quốc tế

Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thếgiới Điều đó càng khẳng định vai trò và tầm quan trọng của công tác đấu thầu nóichung và đấu thầu quốc tế nói riêng Trên cơ sở tiếp thu, chắt lọc các kiến thức kinhnghiệm về đấu thầu của các tổ chức quốc tế, các quốc gia, Việt Nam có thể điềuchỉnh các quy định cũng như Luật định cho phù hượp với hoàn cảnh, điều kiện pháttriển kinh tế- xã hội của Việt Nam Tuy vậy, trong quá trình phát triển, những quyđịnh đó ngày sẽ càng được điều chỉnh cho phù hợp với thông lệ quốc tế song thíchhợp với điều kiện trong nước Trong bối cảnh đó,hoạt động đấu thầu ngày càng trởnên quan trọng trong qua trình toàn cầu hóa Và đội ngũ nhân sự không chỉ hiểunghiệp vụ đấu thầu mà còn hiểu thông lệ quốc tế cũng như thông thạo ngoại ngữđáp ứng yêu cầu hợp tác quốc tế trong đấu thầu trở thành yêu cầu bức thiết

3.2.4 Đảm bảo mục tiêu của công tác đấu thầu

Tất cả các hệ hống đấu thầu mua sắm công trong một nền kinh tế hiện đạiđều nhằm đạt được tất cả hoặc hầu hết các mục tiêu: Công khai, minh bạch; côngbằng, hiệu quả kinh tế; phòng chống tham nhũng Để đảm bảo các mục tiêu này vàđặc biệt là mục tiêu phòng chống tham nhũng trong đấu thầu Đây là một mục tiêuvừa có tính lâu dài vừa có tính cấp bách vì Việt Nam đã ký vào công ước quốc tế vềchống tham nhũng Có thể nói rằng, tham nhũng là một trong những căn bệnh dễnảy sing trong quá trình mua sắm công vì công quỹ, tài sản là của Nhà nước,là củachung, thuộc sở hữu toàn dân, đặc biệt trong lĩnh vực xây lắp, xây dựng giao thông,lĩnh vực mua sắm công có lượng vốn đầu tư thường rất lớn Tham nhũng có thể xảy

ra trong đấu thầu dưới nhiều hình thức khác nhau như: Lợi dụng quyền hạn, chức vụđược giao, cố ý làm trái pháp luật dẫn đến có hành động sai trong việc quyết địnhtrúng thầu, ký hợp đồng để được bổng lộc từ nhà thầu; nhũng nhiễu đòi hỏi các thứ

có giá trị từ tổ chức,cá nhân có liên quan đến quá trình đấu thầu; Rút ruột côngtrình, sử dụng các vật tư, nguyên liệu không đúng với cam kết trong HSDT và trong

Trang 17

hợp đồng đã ký kết làm giảm chất lượng, tuổi thọ của công trình… Như vậy, đểthực hiện được các mục tiêu của công tác đấu thầu thì trọng tâm ở đây chính là yếu

tố con người, đội ngũ nhân lực làm công tác đấu thầu không chỉ có nghiệp vụ màcần có đạo đức nghề nghiệp

4 Kinh nghiệm của các nước trong việc phát triển nguồn nhân lực quản lý đấu thầu

Quy định về đấu thầu cũng như cách thức phát triển nguồn nhân lực quản lýđấu thầu ở mỗi nước, mỗi tổ chức quốc tế khá đa dạng Có những nội dung cũngđược đề cập tới song quy định chi tiết lại khác nhau Đồng thời, lại có những nộidung quy định riêng theo đặc thù của phạm vi áp dụng Có những Luật Đấu thầumẫu của WTO trong đó bỏ trống một số nội dung để từng nước tùy theo điều kiệncủa mình mà bổ sung cho phù hợp.Với tình hình như vậy, các bài học kinh nghiệm

là rất phong phú Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này chỉ xin nêu những nộidung cơ bản nhất, những bài học sâu sắc mà xét thấy là hữu ích cho mục tiêu nghiêncứu Các bài học rút ra chủ yếu thông qua quy định về đấu thầu của một số nước

4.1 Quy định về quản lý đấu thầu của Ba Lan

4.1.1 Ba Lan áp dụng một hình thức quản lý công tác đấu thầu khá chuẩn mực.

Cục mua sắm công (Public Procurement office-PPO) trực thuộc Thủ tướngChính phủ Cơ quan này đảm trách chức năng quản lý Nhà nước về đấu thầu vàchức năng này được quy định chi tiết trong luật Mua sắm công do Quốc hội thôngqua Ngoài việc nghiên cứu, soạn thảo các dự luật và các quy định pháp lý, PPO cóthẩm quyền xem xét, quyết định đối với các trường hợp ngoài quy định trong LuậtMua sắm công Ví dụ, PPO được quyền cho phép áp dụng hình thức lựa chọn nhàthầu thông qua đấu thầu rộng rãi đối với các gói thầu có giá trị > 200.000 EURO

PPO còn chịu trách nhiệm xuất bản tờ Bulletin chuyên đăng tải các thông tin

về đấu thầu Theo đó, các cuộc đấu thầu rộng rãi trong nước có giá trị trên 30.000

EU thì được đăng tải trên tờ Bulletin Trung bình hàng năm có tới 70.000 thông báomời thầu và kết quả trúng thầu được đăng tải trên tờ Bulletin với số lượng xuất bản

là 1000 bản Đây là một trong những hình thức tạo ra sự công khai trong hoạt độngđấu thầu của Ba Lan Qua đó, nhà thầu có cơ hội nắm bắt thông tin và mọi người cóthể giám sát các hoạt động đấu thầu trong toàn quốc.Ngoài ra, PPO còn có nhiệm vụ

Trang 18

tham gia vào quá trình xem xét, xử lý các Ngoài ra, PPO còn có nhiệm vụ tham giavào quá trình xem xét, xử lý các khiếu nại trong đấu thầu.

Việc khiếu nại về kết quả đấu thầu là hiện tượng thường xảy ra ở bất kỳ nướcnào Về vấn đề này, Ba Lan đã quy định các biện pháp ngay trong Luật Mua sắmcông và các biện pháp này được coi là tích cực, hữu hiệu và trở thành một mô hìnhcho nhiều nước học tập theo.Theo quy định của Ba Lan, việc xử lý khiếu nại củanhà thầu được thực hiện như sau:

+ Mỗi bên (nhà thầu khiếu nại, Bên mua và cơ quan quản lý Nhà nước về đấu thầu PPO) được quyền chỉ định 1 trọng tài đại diện cho mình Trọng tài được chỉ địnhphải thuộc danh sách gồm 640 trọng tài đã vượt qua kỳ thi tuyển và được Chính phủcấp chứng chỉ hành nghề trọng tài

-+ Người khiếu nại phải nộp một khoản tiền (khoảng 700 USD) để sử dụng cho hoạtđộng của tổ trọng tài gồm 3 thành viên nêu trên

+ Trong vòng không quá 2 tuần, tổ trọng tài sẽ quyết định phần thắng thuộc về ai.Nếu nhà thầu khiếu nại đúng thì bên mua phải đền bù chi phí mà nhà thầu đã bỏ ra.Trường hợp khiếu nại của nhà thầu là sai thì nhà thầu phải chịu mất số tiền đã nộptrước

Việc sử dụng trọng tài khi có sự việc như cách của Ba Lan là hết sức thuậntiện 640 trọng tài được phép tham gia giải quyết các khiếu nại Bình thường họ làcán bộ, công nhân viên, chỉ khi được chỉ định thì họ mới hoạt động theo chức năng

là trọng tài phân xử.Hình thức này tạo ra sự linh hoạt, giảm được các chi phí và thờigian không cần thiết so với giải quyết thông qua tòa án

4.1.2 Đào tạo cán bộ làm công tác đấu thầu.

Với nhận thức rằng con người đóng vai trò chủ đạo trong mọi hoạt động của

xã hội, bao gồm cả hoạt động đấu thầu, nên việc đào tạo cán bộ làm công tác đấuthầu được Ba Lan quan tâm thích đáng.Ngoài đào tạo của PPO, Ba Lan có một hệthống đào tạo về đấu thầu, đó là các trung tâm, các trường đào tạo về đấu thầu baogồm các cơ sở của khu vực tư nhân Với thời gian đào tạo khác nhau từ 2 tuần tớivài tháng, từ giáo viên trong nước đến các giáo viên nước ngoài, hầu hết các cán bộlàm công tác đấu thầu đều có kiến thức sâu sắc về lĩnh vực này Bên cạnh đó, kiếnthức về luật pháp thông qua học thêm bằng luật của cán bộ làm công tác dự án đã

Trang 19

giúp cho việc thực hiện Luật Mua sắm công ở Ba Lan đã đạt được những thành tựuđáng kể.

Tóm lại, qua các quy định về đấu thầu của Ba Lan, những nội dung chủ yếuđáng quan tâm là:

+ Quy định rõ ràng trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân trong quá trình thực hiện,không có sự can thiệp trực tiếp của các cơ quan quản lý nhà nước trong quá trìnhlựa chọn nhà thầu Mọi người có trách nhiệm thực hiện theo Luật Mua sắm công và

ai vi phạm sẽ bị xử lý theo các chế tài định sẵn Điều này làm cho các hoạt động đấuthầu đi vào nền nếp, nhanh gọn, xử lý các tình huống sẽ đơn giản

+ Đào tạo một đội ngũ đủ năng lực để thực thi các quy định trong luật mua sắmcông

4.2 Quy định về phân cấp quản lý đấu thầu của Trung Quốc

Trung quốc có các quy định về quản lý đấu thầu cũng như quản lý nhân sựđặc thù thể hiện ở sự phân cấp quản lý đấu thầu

Có thể do đặc thù là một nước rộng lớn, nên việc quản lý đấu thầu ở TrungQuốc được phân cấp như sau:

+ Uỷ ban Kế hoạch và Phát triển Nhà nước là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ quản

lý công tác đấu thầu trong lĩnh vực các công trình xây dựng bao gồm cả việc chủ trìsoạn thảo Luật Đấu thầu đang có hiệu lực Cơ quan này cũng có nhiệm vụ tham gia,phối hợp với với các cơ quan khác và cơ quan chức năng của Quốc hội trong việcxây dựng, biên soạn Luật Mua sắm Chính phủ Uỷ ban Kế hoạch và Phát triển cũng

là cơ quan chủ trì thẩm định kết quả đấu thầu các gói thầu lớn thuộc các dự án xâydựng do Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư

+ Bộ Tài chính là cơ quan chủ trì soạn thảo các văn bản hướng dẫn mua sắm thưòngxuyên đối với các cơ quan hành chính sự nghiệp (sử dụng nguồn ngân sách Nhànước) trong phạm vi toàn quốc Các Bộ, địa phương (tỉnh và huyện) hướng dẫn việcthực hiện trong tình hình cụ thể của mình, song không được trái luật và hướng dẫncủa Bộ Tài chính Bộ Tài chính cũng có trách nhiệm thẩm định kết quả đấu thầutheo phân cấp

+ Bộ Hợp tác kinh tế và ngoại thương chủ trì hoạch định chính sách và soạn thảocác văn bản hướng dẫn về đấu thầu mua sắm thiết bị điện và điện tử, quản lý xuất

Trang 20

nhập khẩu, thẩm định kết quả đấu thầu các gói thầu mua sắm thiết bị điện tử và thiết

bị điện theo phân cấp

+ Bộ Xây dựng chủ trì hoạch định chính sách và soạn thảo các văn bản hướng dẫnđấu thầu các công trình giao thông (tư vấn thiết kế và thi công xây lắp), thẩm địnhkết quả đấu thầu theo phân cấp

+ Uỷ ban Thương mại và Kinh tế Nhà nước chủ trì hoạch định các chính sách vàsoạn thảo các văn bản hướng dẫn về đấu thầu các dự án thuộc các doanh nghiệp Uỷban này có nhiệm vụ quản lý công tác đấu thầu đối với doanh nghiệp Nhà nước ởtầm vĩ mô nhằm tạo ra sự công bằng, giải quyết xử lý vi phạm, tăng cường thểchế,

+ Các địa phương căn cứ vào Luật Đấu thầu và văn bản hướng dẫn của các Bộchuyên ngành để hướng dẫn thực hiện công tác đấu thầu tại địa phương mình vớinguyên tắc không được trái với Luật và các Nghị định hướng dẫn

Như vậy, có thể thấy việc quản lý công tác đấu thầu ở Trung Quốc khôngtheo mô hình chỉ có một cơ quan duy nhất mà có sự tham gia của một số cơ quanvới nhiệm vụ riêng cho từng lĩnh vực mua sắm Đó cũng là một mô hình mang tínhđặc thù của Trung Quốc

4.3 Quy định về đội ngũ cán bộ đấu thầu của Hàn quốc

Chú trọng việc đào tạo và chỉ sử dụng đội ngũ cán bộ và chuyên gia cho côngtác quản lý đấu thầu đáp ứng các yêu cầu thực tế của công tác này Song song vớitiến trình cải cách bộ máy hành chính, họ mạnh dạn loại ra khỏi bộ máy quản lý nhànước về đấu thầu những cá nhân không đủ kiến thức chuyên môn hoặc không đạtyêu cầu về phẩm chất đạo đức Đây là sự táo bạo trong cách làm của Hàn Quốc màViệt Nam cần học tập

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC LÀM CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤU THẦU Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 2003-2007

I Thực trạng công tác đấu thầu từ năm 2003- 2007

1 Tình hình thực hiện công tác đấu thầu

Trang 21

1.1 Kết quả của việc thực hiện đấu thầu theo đánh giá chung

Đấu thầu là công việc mới được thực hiện trong lĩnh vực mua sắm công ởViệt Nam khoảng từ năm 1994 đến nay Nhìn chung, việc áp dụng các quy định vềđấu thầu để lựa chọn nhà thầu có xu hướng ban đầu tăng về số lượng sau đó có xuhướng ngày càng giảm dần Chứng tỏ mức độ xã hội hoá của công tác đấu thầungày càng cao và ý thức chấp hành chính sách của Nhà nước đối với mọi tầng lớpnhân dân là tương đối nghiêm chỉnh nhưng do sự biến động mạnh của giá cả vàcông tác dự toán ngày một tốt hơn Theo con số báo cáo của cơ quan quản lý Nhànước về đấu thầu ở các cấp, năm 2003 mới có 2.466 gói thầu được áp dụng các hìnhthức lựa chọn nhà thầu theo quy định của Quy chế Đấu thầu, thì năm 2004 con số

đó tăng lên là 47.672 gói và năm 2007 giảm xuống còn là 33.891 gói Dưới đây làmột số thông tin tình hình đấu thầu diễn biến theo thời gian trong những năm qua:

Bảng 1: Kết quả đấu thầu (Nguồn: Bộ KH&ĐT)

Đơn vị tính: Triệu USD

Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007

Tổng số gói thầu 2.466 45.672 40.721 38.876 33.891Tổng giá gói thầu 1.589 282.146,55 382.156,54 113.964,8 186.871,53

Theo số liệu thống kê của Bộ KH&ĐT về tình hình đấu thầu trên toàn quốcnăm 2007 (là năm có nhiều biến động lớn về giá cả nguyên vật liệu và là năm thống

kê thêm số gói thầu sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạtđộng thường xuyên của cơ quan nhà nước) nên tỷ lệ tiết kiệm giảm đáng kể nhưng

Trang 22

vẫn đạt được mức tiết kiệm nguồn vốn đầu tư 7.404.81(khoảng 462.8 triệu USD),mức tiết kiệm trung bình khoảng 3.96% Tuy nhiên, nếu ngành địa phương nào tuânthủ các quy định của Quy chế Đấu thầu tốt hơn sẽ cho kết quả tốt hơn Chẳng hạn,tỉnh Cà Mau thực hiện 55 gói thầu với tổng giá ước tính là 73,81 tỷ đồng, tổng giátrúng thầu là 51,31 tỷ đồng, tiết kiệm 22,5 tỷ đồng, là đơn vị có tỷ lệ tiết kiệm caonhất (30,48%) Ngoài ra còn một số đơn vị cũng có tỷ lệ tiết kiệm khá cao như:

Bảng 2: Mức tiết kiệm trong đấu thầu (Nguồn: Bộ KH&ĐT)

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Tên đơn vị

(1)

Tổng số gói thầu (2)

Tổng giá gói thầu (3)

Tổng giá trúng thầu (4)

Chênh lệch Tuyệt đối

1.2 Kết quả của việc thực hiện đấu thầu theo các gói thầu

1.2.1 Các gói thầu sử dụng vốn Nhà nước cho mục tiêu đầu tư phát triển

Theo thống kê chưa đầy đủ, trong năm 2007 đã có 30.554 gói thầu đượcthực hiện với tổng giá trúng thầu là 165.283,24 tỷ đồng, tỷ lệ tiết kiệm (chênhlệch giữa giá trúng thầu và giá gói thầu) đạt được là 3,65% (tương đương 6.030,23

tỷ đồng) Cụ thể như sau:

- Theo nhóm (quan trọng quốc gia, nhóm A, B, C)

Bảng 3 dưới đây cho thấy, tỷ lệ tiết kiệm đạt được ở các dự án giảm so vớinăm 2006 (năm 2006 tỷ lệ tiết kiệm đạt 5,24%), trừ đối với dự án quan trọng quốcgia (năm 2006 chỉ tiết kiệm được 0,22%, năm 2007 tăng lên là 2,75%) Tỷ lệ tiếtkiệm đạt được năm 2007 thấp hơn so với năm 2006 có thể do một số nguyên nhânsau: (i) công tác dự toán tốt hơn; (ii) sự biến động mạnh về giá nguyên, nhiên, vậtliệu và thiết bị dẫn đến giá trúng thầu đối với các gói thầu mua sắm hàng hóa và đặcbiệt là các gói thầu xây lắp thường sát với giá gói thầu

Trang 23

Bảng 3

Tổng sốgói thầu

(gói thầu)

Tổng giá gói thầu

(tỷ đồng)

Tổng giátrúng thầu

(tỷ đồng)

Chênh lệchGiá trị

(tỷ đồng)

Tổng giátrúng thầu

(tỷ đồng)

Chênh lệchGiá trị

- Theo hình thức lựa chọn nhà thầu

Trang 24

Bảng 5

Tổng sốgói thầu

(gói thầu)

Tổng giágói thầu

(tỷ đồng)

Tổng giátrúng thầu

(tỷ đồng)

Chênh lệchGiá trị

Trang 25

Số gói thầu áp dụng hình thức đấu thầu hạn chế đã giảm đáng kể, chỉ chiếm 4,16%tổng số gói thầu (năm 2006 là 8,6%, năm 2005 là 13%) Số gói thầu áp dụng hìnhthức đấu thầu rộng rãi đã tăng hơn các năm trước, chiếm 31% tính trên tổng số góithầu, tỷ lệ tiết kiệm đạt được thông qua áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi đạt ởmức cao nhất là 6,09%, tuy nhiên tỷ lệ tiết kiệm so với tổng mức tiết kiệm giảm sovới năm 2006, cụ thể mức tiết kiệm đạt được là 3.776,61 tỷ đồng, chiếm 62,63%trên tổng mức tiết kiệm (năm 2006 mức tiết kiệm đạt được là 4.187,6 tỷ đồng, tươngđương 72,6% trên tổng mức tiết kiệm)

Trong năm 2007, có tổng số 335 gói thầu được tổ chức đấu thầu quốc tế, giảm nhiều

so với năm 2006 (năm 2006 có 621 gói thầu), với tổng giá gói thầu là 71.759,54 tỷđồng, tổng giá trúng thầu là 70.573,94 tỷ đồng, mức tiết kiệm đạt được là 1.185,6 tỷđồng tương đương 1,65%, thấp hơn so với năm 2006 (năm 2006 tỷ lệ tiết kiệm đạt6,96%)

1.2.2 Các gói thầu sử dụng vốn liên doanh, cổ phần, hợp đồng hợp tác kinh doanh ( vốn nhà nước từ 30% trở lên)

Theo thống kê từ các báo cáo gửi đến Bộ KH&ĐT, trong năm 2007 có 1.857gói thầu sử dụng nguồn vốn liên doanh, cổ phần, hợp đồng hợp tác kinh doanh đượcthực hiện với tổng giá gói thầu 19.167,10 tỷ đồng, tổng giá trúng thầu là 18.005,05 tỷđồng, mức tiết kiệm đạt được là 1.162,05 tỷ đồng, tương ứng với tỷ lệ tiết kiệm là6,06%

Trang 26

Bảng 6

Lĩnh vực

Tổng số góithầu (gói thầu)

Tỷ lệ tiết kiệm (%) = (Giá gói thầu – Giá trúng thầu)/Giá gói thầu

- Theo lĩnh vực đấu thầu

Bảng 7

Tổng sốgói thầu

(gói thầu)

Tổng giágói thầu

(tỷ đồng)

Tổng giátrúng thầu

(tỷ đồng)

Chênh lệchGiá trị

Trang 27

- Theo hình thức lựa chọn nhà thầu

Bảng 8

Tổng sốgói thầu

(gói thầu)

Tổng giágói thầu

(tỷ đồng)

Tổng giátrúng thầu

(tỷ đồng)

Chênh lệchGiá trị

(tỷ đồng) Tỷ lệ(%)

Đấu thầu rộng rãi 277 1.410,47 1.275,83 134,63 9,54%

Trong đó: Trong nước 276 1.348,49 1.214,09 134,40 9,97%

lệ tiết kiệm đạt cao (13,11%).

2 Kết quả đánh giá BLI 2006-2008 về hệ thống đấu thầu quốc gia

Theo sáng kiến của Hội nghị bàn tròn về Đấu thầu của Ngân hàng Thế giới và Uỷ

ban hỗ trợ phát triển (DAC) thuộc Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD), các nướcđang phát triển và các nhà tài trợ song phương và đa phương đã cùng nhau xây dựng một

hệ thống chỉ số và mức chuẩn nhằm đưa ra những chỉ dẫn để hoàn thiện hệ thống đấu thầu

và các kết quả đạt được Theo “Tuyên bố Johannesburg” tháng 12/2004, dưới sự điều phối

Trang 28

của Nhóm Công tác về Hiệu quả Viện trợ của OECD/DAC, Nhóm Chuyên đề về đấu thầu(JV) được thành lập năm 2005 nhằm thúc đẩy và điều phối các cam kết về đấu thầu củaTuyên bố Pa-ri(Tuyên bố Pa-ri về Hiệu quả viện trợ là một nỗ lực toàn cầu nhằmthay đổi cách thức cung cấp và quản lý viện trợ Các nước ký kết Tuyên bố Pa-ri(trong đó có Việt Nam) cùng với các đối tác phát triển đã cam kết cùng nhau nângcao hiệu quả viện trợ thông qua 12 chỉ số và các cam kết tăng cường sử dụng hệthống quốc gia của nước nhận viện trợ Đấu thầu là một trong những lĩnh vực trọngtâm của Tuyên bố Pa-ri và đã được thể hiện trong 2 chỉ số: Chỉ số 5b “Sử dụng hệthống đấu thầu quốc gia” và Chỉ số 2b “Chất lượng và hiệu quả của hệ thống đấu thầuquốc gia”) và hỗ trợ tăng cường hệ thống đấu thầu quốc gia, xây dựng năng lực quốcgia về đấu thầu và tăng cường sử dụng hệ thống đấu thầu quốc gia JV đã tiếp tục

hoàn thiện phương pháp luận đánh giá hệ thống đấu thầu quốc gia như là công cụ để

các nước đang phát triển và các nhà tài trợ đánh giá chất lượng và hiệu quả của hệthống đấu thầu mua sắm công quốc gia Ngày 17/7/2006, OECD/DAC đã ban hànhHướng dẫn sử dụng (Phiên bản 4.0) nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụngđồng nhất các chỉ số này Hướng dẫn sử dụng này đề cập đến hai loại chỉ số:

+ Bộ chỉ số tiêu chuẩn (BLIs) cung cấp một bức tranh hiện tại về sự so sánhgiữa những đặc điểm cấu trúc và chức năng của hệ thống đấu thầu thực của 1 quốcgia so với các mức chuẩn quốc tế Các BLIs này được chia làm 4 trụ cột: a) Khungpháp lý hiện tại của hệ thống đấu thầu quốc gia; b) Cơ cấu tổ chức của hệ thống; c)Hoạt động của hệ thống và khả năng cạnh tranh của thị trường đấu thầu quốc gia; vàd) Tính trung thực của hệ thống đấu thầu Mỗi trụ cột bao gồm nhiều chỉ số chính vàchỉ số phụ cần được đánh giá

+ Bộ chỉ số tuân thủ và hiệu quả hoạt động đấu thầu (CPIs) đánh giá cách thức hoạtđộng của hệ thống đấu thầu trong thực tế dựa trên việc giám sát các dữ liệu hiệu quảhoạt động nhằm đánh giá mức độ tuân thủ với hệ thống đấu thầu quốc gia Các chỉ

số này có liên quan mật thiết đến việc áp dụng các qui định pháp luật và thực tiễnđấu thầu đang diễn ra ở quốc gia đó

Mức xếp hạng Tổng điểm số Điểm phần trăm (so với 162)

Trang 29

Chú thích:

NA – Chưa đạt ( Đạt dưới 20% mức chuẩn mong muốn)

PA – Mới đạt một phần ( Đạt từ 20% đến 70% mức chuẩn mong muốn)

SA – Đạt phần lớn ( Đạt từ 70% đến 90% mức chuẩn mong muốn)

FA – Đạt hoàn toàn ( Đạt từ 90% đén 100% mức chuẩn mong muốn)

2.1 Đánh giá chung về hệ thống đầu thầu Việt Nam

Thành viên Tổ công tác và các chuyên gia tham gia đánh giá: Để triển khai công tác đánh giá theo bộ chỉ số BLI 2008, Vụ QLĐT đã thành lập Tổ công tác, bao gồm:

1 Ông Đặng Huy Đông – Vụ trưởng Vụ QLĐT

2 Ông Ngô Ngọc Qúy – Phó Vụ trưởng Vụ QLĐT

3 Bà Nguyễn Thị Diệu Phương – Chuyên viên Vụ QLĐT và điều phối viên

hỗ trợ kỹ thuật TA 6317 (REG)

4 Ông Trần Hùng - Chuyên gia tư vấn trong nước về đấu thầu

Công tác đánh giá BLI 2008 được thực hiện ở cấp quốc gia, triển khai mởrộng kết hợp diện đánh giá đối với các bên liên quan theo hướng dẫn cập nhật củaOECD-DAC Tổ công tác đã nhận được sự hỗ trợ từ các Chuyên viên của VụQLĐT, Bộ KH&ĐT và các cơ quan ban ngành liên quan phía CPVN và một số nhàtài trợ (Nhóm 6 Ngân hàng Phát triển, Thụy Điển, Đan Mạch và Phần Lan)

2.1.1 Đánh giá theo Chỉ số 2b “Chất lượng và hiệu quả của hệ thống đấu thầu quốc gia” của Tuyên bố Pa-ri

Trang 30

Thể chế và năng lực quản lý

Hoạt động đấu thầu

nghi m BLI 2006 ệ

Khung pháp lý

Trang 31

(Trụ cột I đạt 74%) và đạt một phần đối với 4 lĩnh vực còn lại (Trụ cột II đạt 64%,Trụ cột III đạt 65% và Trụ cột IV đạt 68%) Hình 1 cho thấy hệ thống đấu thầu củaViệt Nam đã có tiến bộ trong tất cả 4 lĩnh vực, trong đó mức tiến bộ đáng kể nhất làtrong lĩnh vực “Hoạt động đấu thầu và Thông lệ thị trường” (Trụ cột III – từ 40%vào năm 2006 tăng lên 65% vào năm 2008).

2.1.2 Phân loại đánh giá theo từng lĩnh vực đấu thầu

 Chỉ số 2: Có các quy định và tài liệu hướng dẫn thực hiện hoạt động đấu thầu (I)

 Chỉ số 3: Hệ thống đấu thầu được chuẩn hóa và được lồng ghép vào hệ thốngđiều hành khu vực công (II)

 Chỉ số 4: Chính phủ có cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu đúng chứcnăng (II)

 Chỉ số 5: Chính phủ có năng lực xây dựng thể chế (II)

Trang 32

 Chỉ số 7: Chức năng của thị trường đấu thầu (III)

 Chỉ số 8: Có các quy định về quản lý hợp đồng và giải quyết tranh chấp (III)

 Chỉ số 6: Tính hiệu quả trong thực tiễn hoạt động đấu thầu (III)

 Chỉ số 9: Có hệ thống kiểm soát và kiểm toán hiệu quả (IV)

 Chỉ số 10: Tính hiệu quả của cơ chế giải quyết kiến nghị (IV)

 Chỉ số 11: Khả năng truy cập thông tin (IV)

 Chỉ số 12: Quốc gia có quy định về yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp và cácbiện pháp chống tham nhũng (IV)

Hình 2 So sánh sự tiến bộ theo 12 chỉ số của hệ thống đấu thầu Việt

Nam theo kết quả đánh giá BLI 2006 & 2008

Chi tiết hơn theo từng chỉ số, hệ thống đấu thầu Việt Nam cũng thể hiệnnhiều tiến bộ (Hình 2) khi so sánh kết quả đánh giá BLI vào năm 2006 và 2008 Tuynhiên, chỉ số 4, chỉ số 11 và chỉ số 12 lại có chiều hướng đi xuống Điều này đồngnghĩa với việc: Chính phủ chưa có cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu đúng chứcnăng; Khả năng truy cập thông tin Quốc gia còn kém;Quy định về yêu cầu đạo đứcnghề nghiệp và các biện pháp chống tham nhũng chưa đạt yêu cầu

2.2 Ý kiến đánh giá của các chuyên gia

Dưới đây là các phát hiện đánh giá chi tiết theo các Trụ cột:

Trang 33

2.2.1 Trụ cột I – Khung pháp lý

Hệ thống đấu thầu của Việt Nam đang có những điểm mạnh đáng kể vềKhung pháp lý đấu thầu (Trụ cột I đạt 74% - đạt phần lớn) – đó là do việc ban hànhLuật Đấu thầu và Nghị định hướng dẫn thực hiện (2006) với những điều khoản tiến

bộ như qui định đấu thầu rộng rãi là phương thức đấu thầu ưu tiên Khía cạnh tíchcực khác của khung pháp lý là Luật Đấu thầu có qui định đấu thầu cạnh tranh quốc

tế và có các quy trình thủ tục hợp lý về sơ tuyển nhà thầu đối với các dự án cóchuyên môn hóa và mang tính kỹ thuật cao Tháng 12/2007, Bản tin đấu thầu do VụQLĐT/Bộ KH&ĐT ban hành đã được nâng cấp thành Báo đấu thầu phát hành toànquốc có mặt ở tất cả các tỉnh thành và dễ tiếp cận tới công chúng hơn từ các nguồnthông tin ngoài chính phủ Cùng với trang thông tin điện tử về đấu thầu đang hoạtđộng, Báo Đấu thầu là nguồn thông tin quan trọng về các văn bản pháp luật, các quiđịnh trong đấu thầu cũng như các cơ hội đấu thầu và những thông tin liên quan khác

và như vậy đây là một tiến bộ đáng kể (so với năm 2006 - thòi điểm đánh giá BLIlần trước) tăng cường tính minh bạch được quy định trong Luật Đấu thầu

Sau 2 năm thực hiện, việc triển khai thực hiện Luật Đấu thầu đã có đượcnhững tiến bộ và công tác xây dựng văn bản hướng dẫn đang được Vụ QLĐT, BộKH&ĐT tập trung xây dựng Những tiến bộ này là một bước đi đúng hướng củaChính phủ Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại (hoặc khác biệt giữa các quy định đấuthầu của Việt Nam và phía nhà tài trợ - theo ý kiến của nhóm 6 Ngân hàng Pháttriển) cần có thêm nỗ lực từ cả 2 phía Chính phủ và nhà tài trợ để có thể phát huyđầy đủ trong các hoạt động triển khai thực tế công tác đấu thầu Một số lĩnh vực cầnđược tiếp tục cải thiện được tóm tắt trong Bảng 1 dưới đây:

Bảng 9: Những tồn tại và khuyến nghị cho Trụ cột I

No Những tồn tại cần khắc phục Khuyến nghị

1 Ngưỡng giá trị gói thầu tương đối cao

so với những quy định tương tự từ

Rà soát ngưỡng giá trị gói thầuđối với chỉ định thầu và chào

Trang 34

phía các nhà tài trợ đối với chỉ định

thầu (<1 tỷ đồng đối với gói thầu mua

sắm hàng hoá, xây lắp và <500 triệu

đồng đối với dịch vụ tư vấn), và chào

hàng cạnh tranh (<2 tỷ đồng)

hàng cạnh tranh nhằm tăng hiệuquả của việc thể chế hoá phươngthức đấu thầu rộng rãi ưu tiên.Đưa những quy định về ngưỡnggiá trị trong các tài liệu hướngdẫn cập nhật để phù hợp với tìnhhình trượt giá

2 Chưa có phiên bản tiếng Anh đối với

thông tin về cơ hội và kết quả đấu

thầu, kế hoạch đấu thầu, danh mục

đen các công ty bị cấm đấu thầu, các

qui định và các văn bản chính thức về

đấu thầu mua sắm công (Báo Đấu

thầu và Trang thông tin điện tử về đấu

thầu)

Nỗ lực để sớm phát hành phiênbản tiếng Anh nhằm mở rộnghoạt động đấu thầu một cách cóhiệu quả cho các nhà thầu quốc tếtiềm năng

3 Chưa có Sổ tay hướng dẫn đấu thầu

chung

Xây dựng Sổ tay hướng dẫn đấuthầu chung và tập huấn sử dụngcho các chủ đầu tư / bên mờithầu

4 Còn một vài hồ sơ mời thầu chuẩn,

mẫu hướng dẫn, mẫu hợp đồng

chuẩn… chưa được ban hành hoặc

nội dung quy định chưa được đầy đủ

Tiếp tục nỗ lực xây dựng các mẫutài liệu đấu thầu chuẩn và tranhthủ ý kiến đóng góp của các bênmời thầu, nhà tài trợ, các tổ chứcnghề nghiệp và công chúng

5 Trong Luật Đấu thầu vẫn chưa bắt

buộc chỉ sử dụng tiêu chí đạt/không

đạt để đánh giá HSDT, có thể tạo cơ

hội cho việc lạm dụng tính tự quyết

của các bên mời thầu trong lĩnh vực

mua sắm hàng hóa và đấu thầu xây

lắp

Rà soát việc tùy tiện sử dụngphương pháp đánh giá theo “hệthống chấm điểm” và xây dựnghướng dẫn cụ thể hơn, ví dụ bắtbuộc sử dụng phương pháp đánhgiá “đạt/không đạt” đối với cácgói thầu mua sắm hàng hóa và

Trang 35

xây lắp.

6 Một số điều khoản trong Luật Đấu

thầu và Nghị định hướng dẫn còn có

khoảng cách đối với các quy định đấu

thầu tương ứng của nhà tài trợ (Xem

Phụ lục B)

Tăng cường trao đổi và cùng vớiNhóm 6 Ngân hàng Phát triển xâydựng mẫu hợp đồng và các mẫu

hồ sơ mời thầu chuẩn hài hòa thủtục đấu thầu giữa 2 bên

2.2.2 Trụ cột II – Khuôn khổ thể chế và năng lực quản lý

Điểm mạnh đáng chú ý nhất ở Trụ cột này là Việt Nam có cơ quan quản lýnhà nước về đấu thầu – Vụ QLĐT/Bộ KH&ĐT – có chức năng xây dựng khungpháp lý về đấu thầu, đặt tại cấp trung ương, và được tách rời ra khỏi các hoạt độngđấu thầu trực tiếp, và có một hệ thống thông tin trung ương Hệ thống thông tin nàyhiện không lưu trữ toàn bộ số liệu cần thiết cũng như chưa thực hiện được tất cả cácchức năng của một hệ thống mạng lưới mang tính tác nghiệp hoàn toàn, nhưng hệthống này có thể là hạt nhân quan trọng để xây dựng hệ thống thông tin tác nghiệpnhư vậy Đặc biệt, hệ thống này – do Vụ QLĐT/Bộ KH&ĐT chịu trách nhiệm –đang thu thập các báo cáo hàng năm về tình hình hoạt động đấu thầu từ các chủ đầu

tư trên toàn quốc, các thông tin về dự án và gói thầu gồm kế hoạch đấu thầu, thôngbáo mời sơ tuyển, mời quan tâm, thông báo mời thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu vàcác qui định về đấu thầu Tuy nhiên, hiện hệ thống này còn phụ thuộc vào thông tincung cấp từ các cơ quan ban ngành các cấp chứ chưa được hỗ trợ bởi một hệ thốngthông tin khác (qua mạng hoặc các phương tiện tin học) để có thể tham khảo giáhoặc để liên kết hợp lý việc phân bổ ngân sách với chi tiêu và các vấn đề khác.Điểm mạnh khác trong Trụ cột này là kế hoạch đấu thầu dự án được thẩm định vàphê duyệt bởi cơ quan quản lý cấp cao hơn và có sử dụng hệ thống kiểm tra và cânđối ngân sách trong quá trình đấu thầu thông qua thẩm định trước trong toàn bộ quitrình đấu thầu Công tác lập kế hoạch thường xuyên được thực thi đúng luật và doluật qui định, bắt đầu với công tác chuẩn bị kế hoạch 5 năm cho các cơ quan banngành Chính phủ và sau đó xây dựng kế hoạch hàng năm cùng với lập ngân sáchhàng năm Như vậy công tác chuẩn bị và phân bổ ngân sách dựa trên những yêu cầu

Trang 36

ngân sách của ngành/cơ quan theo kế hoạch tổng thể 5 năm Chỉ có kế hoạch đấuthầu hàng năm là còn thiếu

Một trong những điểm tiến bộ nổi bật trong năm 2007 là Bộ KH&ĐT trongnăm 2007 đã nỗ lực xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn hoạt động đấuthầu như: Mẫu hồ sơ mời thầu mua sắm hàng hóa (QĐ 521/2007/QĐ-BKH ngày22/5/2007), mẫu đánh giá hồ sơ dự thầu đối với gói thầu mua sắm hàng hóa và xâylắp (QĐ 1102/2007/QĐ-BKH ngày 18/9/2007), mẫu hồ sơ mời sơ tuyển gói thầuxây lắp (QĐ 1591/2007/QĐ-BKH ngày 24/12/2007) và mẫu hồ sơ mời thầu dịch vụ

tư vấn (QĐ 1583/2007/QĐ-BKH ngày 24/12/2007) Năng lực quản lý hoạt độngđấu thầu cũng đã được tăng cường đáng kể thông qua các hoạt động thanh tra, kiểmtra về đấu thầu được tiến hành trên toàn quốc (Vụ QLĐT tiến hành 6 cuộc kiểm trađịnh kỳ và 2 cuộc kiểm tra đột xuất, ngoài ra các Bộ ngành, địa phương đã tiến hànhtrên 70 cuộc thanh tra và kiểm tra) Hơn nữa, chương trình nâng cao năng lực về đấuthầu đã và đang được nỗ lực triển khai thường xuyên thông qua các khóa đào tạo,tập huấn hướng dẫn các quy định và nghiệp vụ đấu thầu trên toàn quốc Điều nàythể hiện qua việc tăng đáng kể về điểm đánh giá xếp hạng cho Chỉ số 5 “Chính phủ

có năng lực xây dựng thể chế” từ 35% năm 2006 lên 61% năm 2008

Những nỗ lực của CPVN trong Trụ cột này là đáng được ghi nhận, tuy nhiêntheo ý kiến của các nhà tài trợ cũng như các cơ quan ban ngành của Chính phủ, cầntiếp tục tăng cường đẩy mạnh hơn nữa những khía cạnh sau:

Trang 37

Bảng 10 Những tồn tại và khuyến nghị cho Trụ cột II

No Những tồn tại cần khắc phục Khuyến nghị

1 Một số cơ quan tổ chức thực hiện đấu

thầu trước khi thực hiện đấu thầu chưa bố

trí được nguồn vốn cho gói thầu

Tăng cường phối hợp giữa hệthống đấu thầu và hệ thốngquản lý tài chính công

2 Thanh toán chậm là thường xuyên, thực

tế có thể lên tới 30 ngày đến 60 ngày

Xây dựng kế hoạch đấu thầuhàng năm hợp lý

Phối hợp chặt chẽ với cải cách

hệ thống quản lý tài chínhcông

4 Hệ thống thông tin trung ương về đấu

thầu hiện đang thực hiện thủ công và còn

phụ thuộc nhiều vào thông tin cung cấp

từ các cơ quan thực hiện

Hồ sơ đấu thầu thường được lưu giữ tùy

tiện, phụ thuộc vào cách thức riêng của

từng cán bộ lưu trữ thông tin

Xây dựng cơ chế, hướng dẫn

cụ thể về cung cấp thông tin,quản lý lưu trữ hồ sơ đấuthầu

Tăng cường công tác báo cáođấu thầu thường xuyên từ bênmời thầu, bộ ngành, địaphương và DNNN

Xây dựng hệ thống thông tinđấu thầu quốc gia

5 Năng lực và nghiệp vụ đấu thầu của cán

bộ làm công tác đấu thầu tại các cơ quan

thực hiện còn nhiều hạn chế

Chưa có đủ thông tin về nhu cầu, xu

hướng và các vấn đề cần phát triển năng

lực (bao gồm cả các cán bộ kiểm toán và

khu vực tư nhân) để có những hoạt động

cần thiết

Xây dựng cơ chế và hướngdẫn đánh giá hiệu quả hoạtđộng của mỗi cán bộ đấu thầu.Tiếp tục tăng cường năng lực

về đấu thầu kết hợp với xâydựng mạng lưới chuyên giađấu thầu chuyên nghiệp

Trang 38

2.2.3 Trụ cột III – Hoạt động đấu thầu và thông lệ thị trường

Kết quả đánh giá BLI 2006 cho thấy Việt Nam đã cơ bản cải cách về khungpháp lý và khuôn khổ thể chế về đấu thầu Bước tiếp theo là trong 2 năm qua cùngvới việc tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý thích hợp, Việt Nam đã và đang tiếp tụctập trung xây dựng năng lực thực hiện và đẩy mạnh cải cách ở tất cả các vùng miền– một nhiệm vụ không kém phần quan trọng và cam go nếu so với công tác soạnthảo các văn bản quy phạm pháp luật Kết quả đánh giá BLI 2008 cho thấy ViệtNam đã có những tiến bộ rất đáng kể trong thực tế “Hoạt động đấu thầu và thông lệthị trường” Chính phủ đang tận dụng điểm mạnh trong Chỉ số 4 (Chính phủ có cơquan quản lý nhà nước về đấu thầu đúng chức năng – Vụ QLĐT) để triển khai cácbiện pháp cụ thể nhằm khuyến khích việc vận dụng thi hành các văn bản qui phạmpháp luật vào hoạt động đấu thầu thực tế Với các văn bản hướng dẫn hoạt động đấuthầu, các mẫu tài liệu đấu thầu (như mô tả ở phần 3.2.2) được ban hành gần đây kếthợp với đào tạo hướng dẫn, thanh tra và kiểm tra thường xuyên, các hoạt động đấuthầu đã dần dần đi vào nề nếp Các ý kiến chuyên gia cho rằng công chúng dần dễtiếp cận với thị trường đấu thầu hơn và khả năng cạnh tranh của khu vực tư nhânngày càng cao Tuy nhiên, cần nhiều nỗ lực hơn nữa để duy trì và tăng cường nhữngtiến bộ đã đạt được, cụ thể Chính phủ nên tập trung vào các khía cạnh sau:

Bảng 11 Những tồn tại và khuyến nghị cho Trụ cột III

No Những tồn tại cần khắc phục Khuyến nghị

1 Hầu hết các cán bộ được giao để đảm

nhận công tác đấu thầu phục vụ dự án

hoặc một gói thầu cụ thể chưa được đào

tạo về đấu thầu một cách có hệ thống

Thể chế hóa các kỹ năng cầnthiết cho cán bộ đấu thầu

Đẩy mạnh hơn nữa chương trìnhnâng cao năng lực đấu thầu muasắm công và đào tạo giảng viênmột cách toàn diện, gồm:

- quy trình thủ tục đấu thầu;

- công tác lập kế hoạch đấuthầu;

- lập dự toán chi phí, lập ngânsách,;

- lưu trữ hồ sơ;

Trang 39

- các tiêu chuẩn về hiệu quảhoạt động; và

- cách ứng xử nghề nghiệp vàtính chuyên nghiệp

2 Luật Đấu thầu chưa có điều khoản

khuyến khích hợp tác và tranh thủ

những ý kiến và đóng góp của khu vực

tư nhân vào công cuộc cải cách chính

sách và hoạt động đấu thầu Chính phủ

chưa thường xuyên gặp mặt với cộng

đồng doanh nghiệp

Cùng với thực hiện Luật Cạnhtranh, Chính phủ cần mở cửađối thoại thường xuyên với khuvực tư nhân nhằm cải thiện môitrường cạnh tranh trong cáccuộc đấu thầu sử dụng vốn nhànước

Giảm bao cấp của Chính phủđối với các doanh nghiệp nhànước

Mở rộng chương trình đào tạocho khu vực tư nhân

3 Đã có các điều luật quy định lập báo

cáo, bảo mật tài liệu trong đấu thầu

mua sắm công Tuy nhiên, vẫn chưa có

điều khoản cụ thể qui định rõ tài liệu

đấu thầu liên quan nào cần lưu trữ và

cơ quan nào chịu trách nhiệm lưu trữ,

lưu trữ trong thời gian bao lâu

Xây dựng hướng dẫn quản lýcác thông tin (hồ sơ) được lưutrữ một cách có hệ thống

Tiếp tục nỗ lực nâng cấp trangthông tin điện tử về đấu thầucủa Bộ KH&ĐT

4 Quá trình để phê duyệt các hợp đồng

lớn quá phức tạp và kéo dài do cơ chế

thẩm định và đánh giá trước Chẳng

hạn như Điều 31 của Luật Đấu thầu qui

định thời gian thẩm định tối đa là 20

ngày đối với từng nội dung KHĐT,

HSMT, KQĐT (đối với các gói thầu

thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ

tướng thì thời gian thẩm định là 30

ngày), như vậy trong thực tế quá trình

đó tổng cộng có thể kéo dài đến 60

ngày đối với một hoạt động đấu thầu

đơn lẻ (90 ngày đối với gói thầu thuộc

Đẩy mạnh phân cấp quyền hạn

và trách nhiệm giải trình thíchhợp thông qua các văn bảnhướng dẫn cụ thể

Cải thiện cơ chế thẩm định,đánh giá trước và phê duyệt,tăng cường công tác hậu kiểm.Kết hợp với công tác cải cáchhành chính công

Trang 40

thẩm quyền của Thủ tướng) – chưa tính

thời gian thực hiện đấu thầu

Đẩy mạnh công tác thanh tra vàkiểm tra hoạt động đấu thầu

6 Có rất ít các điều khoản về giải quyết

tranh chấp trong các hợp đồng trong

nước, và không được xây dựng rõ ràng

với qui định quyền hạn và trách nhiệm

của mỗi bên Hơn nữa, tòa án vẫn được

xem là cơ chế xét xử cuối cùng và như

vậy bên thắng sẽ rất khó khăn để thực

thi được hợp đồng theo quyết định của

tòa án Do vậy các nhà cung cấp và các

nhà thầu trong nước thường ít có khả

năng đưa ra kiến nghị đối với tranh

chấp lớn

Hướng dẫn đưa các điều khoản

về giải quyết tranh chấp mộtcách đầy đủ vào các hợp đồng.Xây dựng quy trình hòa giải và

xử lý hành chính

Xây dựng luật trọng tài kinh tếhợp lý và qui định biện phápgiải quyết tranh chấp khác(ADR) đưa vào các mẫu hợpđồng chuẩn

7 Các thủ tục thực hiện đấu thầu chưa

được hướng dẫn cụ thể cho các cán bộ

đấu thầu

Xây dựng và ban hành một cuốn

Sổ tay hướng dẫn đấu thầuchung

2.2.4 Trụ cột IV – Tính trung thực và minh bạch của hệ thống đấu thầu

Gần đây, Việt Nam đã rất nỗ lực cải thiện tính minh bạch và triển khai cácbiện pháp chống tham nhũng Điều này có ảnh hưởng tích cực tới môi trường đầu tưnói chung và tới đấu thầu mua sắm công nói riêng Một số điểm mạnh đáng chú ý làtính minh bạch trong đấu thầu mua sắm công đã được nâng cao thông qua qui địnhtrong Luật Đấu thầu và trên thực tế là tất cả thông tin đấu thầu liên quan đã đượcđăng tải trên Báo Đấu thầu hoặc trang thông tin điện tử về đấu thầu do VụQLĐT/Bộ KH&ĐT quản lý Luật Đấu thầu có các điều khoản rõ ràng về đảm bảo

Ngày đăng: 26/03/2015, 06:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạp chí quản lý kinh tế số 18- 2008_ Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương_ Bộ Kế hoạch đầu tư Khác
2. Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ đấu thầu_ Cục quản lý đấu thầu_ Bộ Kế hoạch đầu tư, ra vào tháng 4- 200 Khác
16. Trần Hùng (Báo cáo tư vấn), 2007. Báo cáo tổng hợp kết quả đánh giá BLI (BIS) năm 2006 Khác
17. OECD, 2008. Compendium of Country Examples and Lessons Learned from Applying the Methodology for Assessment of National Procurement Systems (Volume I – Sharing Experiences) Khác
18. OECD-DAC Working Party on Aid Effectiveness – Joint Venture on Procurement, 2008. The Arusha Declaration on Procurement Khác
21. Trần Hùng, 2008. Kế hoạch triển khai công tác đánh giá BLI 2008 (Sản phẩm tư vấn) Khác
22. Vụ QLĐT/Bộ KH&amp;ĐT, 2007. Báo cáo kết quả đánh giá quá trình thực hiện Luật đấu thầu và các đề xuất năm 2007 Khác
23. Six Banks. Major Differences between Good Public Procurement Practice and the Vietnam Law on Procurement / Decree 111/ND-CP/2006.TỪ NGỮ VIẾT TẮT Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Kết quả đấu thầu (Nguồn: Bộ KH&amp;ĐT) - Chuyên đề thực tập tốt nghiệp: Giải pháp pháp triển nguồn nhân lực quản lý đấu thầu ở Việt Nam giai đoạn 2009 đến 2015
Bảng 1 Kết quả đấu thầu (Nguồn: Bộ KH&amp;ĐT) (Trang 21)
Bảng 2: Mức tiết kiệm trong đấu thầu (Nguồn: Bộ KH&amp;ĐT) - Chuyên đề thực tập tốt nghiệp: Giải pháp pháp triển nguồn nhân lực quản lý đấu thầu ở Việt Nam giai đoạn 2009 đến 2015
Bảng 2 Mức tiết kiệm trong đấu thầu (Nguồn: Bộ KH&amp;ĐT) (Trang 22)
Hình 1. Chất lượng và hiệu quả hệ thống đấu thầu Việt Nam theo kết quả đánh - Chuyên đề thực tập tốt nghiệp: Giải pháp pháp triển nguồn nhân lực quản lý đấu thầu ở Việt Nam giai đoạn 2009 đến 2015
Hình 1. Chất lượng và hiệu quả hệ thống đấu thầu Việt Nam theo kết quả đánh (Trang 30)
Bảng 10 Những tồn tại và khuyến nghị cho Trụ cột II - Chuyên đề thực tập tốt nghiệp: Giải pháp pháp triển nguồn nhân lực quản lý đấu thầu ở Việt Nam giai đoạn 2009 đến 2015
Bảng 10 Những tồn tại và khuyến nghị cho Trụ cột II (Trang 37)
Sơ đồ 1: Hệ thống cơ quan quản lý  về đấu thầu - Chuyên đề thực tập tốt nghiệp: Giải pháp pháp triển nguồn nhân lực quản lý đấu thầu ở Việt Nam giai đoạn 2009 đến 2015
Sơ đồ 1 Hệ thống cơ quan quản lý về đấu thầu (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w