Thực trạnghoạt động quản lý...72 Làm nhiệm vụ của cơ quan nhà nước quản lý trực tiếp đối với ODA vào giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm phối hợp với Bộ Kế hoạch Đầu
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC 4
1.1 Khái niệm và đặc điểm của nguồn vốn và dự án hỗ trợ phát triển chính thức 4
1.1.1 Khái niệm về ODA 4
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm dự án ODA 6
1.2.2.2 Những đặc điểm của dự án vốn ODA 6
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với vốn ODA và dự án vốn ODA 10
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về vốn ODA 10
1.2.2 Tầm quan trọng của quản lý nhà nước về ODA 10
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về vốn ODA 15
1.2.4 Các công cụ quản lý nhà nước về vốn ODA 18
1.3 Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới 20
1.3.1 Thực tiễn ở một số quốc gia 20
1.3.2 Bài học kinh nghiệm có thể vận dụng cho quản lý dự án ODA vào giáo dụcĐại học 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNGQUẢN LÝ DỰ ÁN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 24
2.1 Khái quát về nguồn vốn ODA vào ngành giáo dục ở Việt Nam 24
2.1.1 Vai trò của nguồn vốn ODA đối với ngành giáo dục ở Việt Nam 24
2.1.2 Khái quát về nguồn vốn ODA cho giáo dục ở Việt Nam thời gian qua 25
2.1.2.1 Tổng quan về nguồn vốn ODA giai đoạn 2002-2012 25
2.1.2.2 Mục tiêu của các dự án ODA trong ngành giáo dục 26
2.1.2.3 Các nhà tài trợ ODA trong ngành giáo dục 28
Các nhà tài trợ song phương 28
2.2 Thực trạng các dự án ODA vào giáo dục Đại học Việt Nam 30
2.2.1 Khái quát về ODA vào Giáo dục Đại học Việt Nam 2002-2012 30
2.2.2 Thực trạng dự án ODA vào giáo dục Đại học 2006 – 2012 33
Nói đến dự án ODA trong giáo dục Đại học giai đoạn 2006-2012, ta phải nhắc đến dự án tiêu biểu và gần như chiếm toàn bộ lượng vốn đầu tư vào lĩnh vực giáo dục Đại học trong giai đoạn này đó chính là dự án Giáo dục Đại học 2 (HEP 2) Như vậy, thực chất thực trạng triển khai dự án ODA vào Giáo dục Đại học gia đoạn 2006 – 2012 là thực trạng triển khai dự án Giáo dục Đại học 2 33
2.2.2.1 Mục tiêu và phạm vi của dự án Giáo dục Đại học 2006-2012 33
2.2.2.2 Tổ chức thực hiện 34
Ban Quản lý Dự án cấp Trung ương (PMU) 35
Trang 2Dự án đã được thực hiện từ tháng 6 năm 2007 và kết thúc vào tháng 6 năm
2012 Trong suốt quá trình thực hiện dự án đã đạt được những kết quả nhất
định 36
2.2.3 Các kết quả đạt được 36
2.2.3.1 Kết quả Tiểu thành phần 1.1 – Quản trị đại học 36
2.2.3.2 Kết quả Tiểu thành phần 1.2 - Chính sách tài chính GDĐH 37
- Tư vấn quốc tế và nhóm tư vấn trong nước thực hiện nghiên cứu đề xuất chính sách về phân bổ ngân sách nhà nước cho các trường ĐH Việt Nam 37
- Tư vấn quốc tế và nhóm tư vấn trong nước thực hiện nghiên cứu đề xuất chính sách xác định chi phí đào tạo một sinh viên đại học Việt Nam 37
- Đã hoàn thành nghiên cứu về hiện trạng quản lý tài chính trường đại học 37
2.2.3.3 Kết quả Tiểu thành phần 1.3 - Chính sách ðảm bảo chất lượng GDÐH 37
2.2.3.4 Kết quả Hỗ trợ kỹ thuật Chương trình chính sách phát triển GDĐH (HEDPP) 38
2.2.4 Đánh giá tác động đối với ngành và vùng 41
2.3 Thực trạng quản lý dự án ODA của Bộ Giáo dục trong lĩnh vực Giáo dục Đại học Giai đoạn 2006-2012 51
2.3.1 Hành lang pháp lý 51
2.3.1.1 Quy định về nguyên tắc vận động, tiếp nhận, quản lý và sử dụng nguồn ODA 51
2.3.1.2 Quy định về vận động, đàm phán, kỹ kết điều ước quốc tế khung về ODA 52 a) Vận động nguồn hỗ trợ nước ngoài 52
b) Xây dựng danh mục các chương trình, dự án yêu cầu tài trợ ODA 53
c) Đàm phán, ký kết điều ước quốc tế khung về ODA 55
2.3.1 Quy định về xây dựng văn kiện, thẩm định, phê duyệt, ký kết điều ước quốc tế cụ thể về ODA 55
c) Thẩm định chương trình, dự án ODA 55
d) Thẩm quyền phê duyệt chương trình, dự án ODA 57
e) Đàm phán, ký kết điều ước quốc tế cụ thể về ODA 57
2.3.1.4 Quy định về quản lý thực hiện chương trình, dự án ODA 57
b) Ban quản lý chương trình, dự án 58
c) Lập và thực hiện Kế hoạch hoạt động 59
d) Công tác mua sắm, đấu thầu 59
e) Quản lý tài chính, tài sản và giải ngân tại các chương trình, dự án ODA 60
Trang 3a) Kiểm tra, giám sát chương trình, dự án ODA 65
b) Đánh giá chương trình, dự án 65
c) Nghiệm thu, quyết toán, khai thác, sử dụng kết quả chương trình, dự án ODA 66
2.3.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức 67
Những năm qua, bộ máy quản lý ODA của Chính phủ Việt Nam nói chung và của Bộ Giáo dục và Đào tạo nói riêng đã và đang hoàn thiện, thay đổi phù hợp hơn theo hướng thống nhất quản lý nhà nước về ODA Đề thực hiện điều này bộ máy quản lý ODA của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có sự thay đổi cơ bản về tổ chức và mô hình hoạt động 67
2.3.2.1.Bộ máy quản lý nhà nước về ODA cấp Bộ 67
Mô hình tổ chức quản lý ODA vào Giáo dục Đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ năm 2002-2012 được tách thành hai giai đoạn là 2002-2005 và 2005-2012 (Hình 2.4 và Hình 2.5) 67
Trong giai đoạn 2002-2005 Bộ máy tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo được tổ chức theo hình thức Bộ làm đầu mối quản lý trực tiếp các ban quản lý dự án (Hình 2.4) Theo đó Bộ phân công 1 lãnh đạo bộ đứng ra quản lý một dự án thuộc Bộ Trong trường hợp dự án nhỏ do các Trường Đại học tự huy động thì Lãnh đạo trường có trách nhiệm quản lý và báo cáo lãnh đạo bộ kết quả thự hiện dự án 67
Giai đoạn 2007-2012, Bộ tổ chức lại bộ máy quản lý dự án ODA theo hướng thống nhất quản lý nhà nước và tăng cường quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với dự án ODA Bộ Giao trách nhiệm cho Vụ Tổ chức Cán bộ làm đầu mối quản lý các dự án ODA.Bộ thành lập Phòng ODA trực thuộc Vụ Kế hoạch Tài chính chuyên trách quản lý các hoạt động ODA của Bộ Giáo dục và Đào tạo Đối với dự án ODA vào Giáo dục Đại học, Bộ giao Vụ Giáo dục Đại học theo dõi và quản lý hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực này Bộ cũng áp dụng mô hình ban quản lý cấp Trung ương (PMU) và ban quản lý cấp Cơ sở ở Đây là cấp trường (TMU) Sau khi hình thành mô hình quản lý mới, Bộ tiếp tục rà soát các nội dung quản lý trong suốt giai đoạn 2005-2012 để hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách trong quản lý ODA vào Ngành Giáo dục nói chung và ODA vào Giáo dục đại học nói riêng 68
2.3.2.2 Bộ máy quản lý về ODA cấp Ban quản lý dự án 69
2.3.3 Thực trạnghoạt động quản lý 72
Làm nhiệm vụ của cơ quan nhà nước quản lý trực tiếp đối với ODA vào giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm phối hợp với Bộ Kế hoạch Đầu tư và các Bộ, Ngành, đơn vị liên quan trong việc kế hoạch và ban hành chính sách về ODA vào giáo dục Đại học Các hoạt động này chủ yếu tập trung trong các khâu Quy hoạch, Vận động và Thẩm định phê duyệt: 72
Trang 42.3.2.7 Kiểm tra, đánh giá dự án ODA 77
Hoạt động kiểm tra, đánh giá dự án ODA của Bộ Giáo dục và Đào tạo được tăng cường từ chưa giao trách nhiệm cụ thể trong việc kiểm tra, giám sát đến việc giao trách nhiệm cụ thể đến từng đơn vị thành viên trong Bộ Từ việc chỉ kiểm tra giám sát từ bên ngoài đến xây dựng bộ máy kiểm tra giám sát, hệ thống báo cáo bên trong ban quản lý dự án 77
Trước năm 2005, Hoạt động kiểm tra đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với các dự án ODA nói chung trong đó có dự án ODA trong Giáo dục Đại học về cơ bản là kém hiệu quả, nguyên nhân chủ yếu như đã nói trên là do chưa có đơn vị chuyên trách và văn bản hướng dẫn thực hiện hoạt động này, 77
2.4 Đánh giá chung về thực trạng tăng cường quản lý dự án ODA trong giáo dục Đại học 78
2.4.1 Những kết quả đạt được 78
2.4.1.1 Về hành làng pháp lý 78
Hành làng pháp lý cho hoạt động của các dự án ODA trong giáo dục Đại học về cơ bản đã quy định và quản lý đến tất cả các nội dung trong việc kế hoạch, thu hút và tổ chức thực hiện dự án ODA trong Giáo dục nói chung và Giáo dục Đại học nói riêng 78
Trong những năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo kết hợp với Bộ Kế hoạch Đầu tư và Bộ Tài chính đã điều chỉnh và ban hành nhiều văn bản quy định chi tiết các nội dung hoạt động của dự án ODA Thông qua việc hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật về quản lý dự án ODA Bộ Giáo dục và Đào tạo đã từng bước thực hiện được chủ trương thống nhất trong quản lý nhà nước về ODA do Chính phủ đề ra 78
2.4.1.2 Về bộ máy tổ chức 79
Việc tổ chức bộ máy ở cả cập Bộ và cấp Ban quản lý dự án đều đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo quan tâm, xây dựng và cải tiến Trong giai đoạn 2006-2012 Bộ đã xây dựng được bộ máy cơ hữu là Phòng ODA, trực thuộc Vụ Kế hoạch Tài chính giúp Bộ làm đầu mối quản lý hoạt động của các dự án ODA do Bộ quản lý 79
Đối với mô hình tổ chức ở cấp ban quản lý dự án, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã mạnh dạn áp dụng mô hình quản lý theo quan điểm trao quyền chủ động nhiều hơn cho các trường đại học Theo đó Ban quản lý dự án cấp nhà nước (PMU) đóng vài trò làm bộ máy đầu não xây dựng và kiểm soát hoạt động của các ban quản lý dự án tại các trường đại học 79
2.4.1.3 Về hoạt động quản lý 79
Về quy hoạch ODA 79
Về vận động ODA 79
Về thẩm định, phê duyệt chương trình, dự án ODA 80
Về kiểm tra, đánh giá dự án 80
Trang 5nhiên vẫn còn những điểm bất cập Đây chính là những cản trở cơ bản đối với
việc quản lý dự án ODA 80
Nội dung các chính sách, thể chế quản lý vốn ODA mới chỉ tập trung nhiều và nội dung thu hút và sử dụng vốn ODA mà chưa đi sâu vào nội dung vận hành dự án Đây mới là phần quyết định đến tính hiệu quả của dự án sử dụng vốn ODA 80
2.4.1.2 Về bộ máy tổ chức 80
Vấn đề phân cấp trong bộ máy quản lý nhà nước về ODA còn nhiều hạn chế về, cũng như chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước về ODA chưa rõ ràng Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo Cơ quan đầu mối quản lý về ODA của Bộ là Phòng ODA vẫn chưa có những chức năng, nhiệm vụ cụ thể nên phần nhiều vẫn chỉ quản lý chung chung về lượng vối và các hoạt động chứ chưa đi sâu được trong việc kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của các dự án ODA 80
2.4.1.3 Về hoạt động quản lý 81
Về quy hoạch ODA 81
Về vận động ODA 81
Về thẩm định, phê duyệt chương trình, dự án ODA 81
Về kiểm tra, đánh giá kết quả dự án 82
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 82
CHƯƠNG 3 83
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ DỰ ÁN HỖ TRỢ 83
PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 83
3.1 Tăng cường quản lý bằng cách tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý 83
3.1.1 Bổ sung, điều chỉnh hệ thống luật và các văn bản dướt luật cho đồng bộ, thống nhất và sát với thực tiễn 83
Đây chính là điểm trọng yếu trong khâu quản lý nhà nước về vốn ODA bở hệ thống quy phạm pháp luật là công cụ quan trọng nhất để thực hiện vai trò quản lý nhà nước của Bộ Cần đặc biệt chú trọng đến sự đồng bộ trong các quy định về ODA giữa các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành để tạo tính thống nhất và tường minh của hệ thống Tạo điều kiện cho các nhà tài trợ, cho các ban quản lý dự án hoạt động một cách chủ động trong hành lang pháp lý 83
3.1.2 Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế về tài chình trong quản lý vốn ODA 83
Hoàn thiện các cơ chế về tài chính bao gồm việc cải thiện thủ tục rút vốn vay ODA, rút vốn ODA không hoàn lại theo hướng đơn giản hóa, hài hòa giữa Việt Nam với các nhà tài trợ như vẫn phải đảm bảo quản lý nguồn vốn vay ODA Cải tiến chính sách thuế đối với các dự án ODA 83
Trang 6học đã tương đối đầy đủ tuy nhiên hệ thống các quy định về đánh giá, kiểm tra, giám sát trong quá trình thực hiện vẫn còn lỏng lẻo, chưa có cơ chế tự đánh giá, kiểm tra chéo giữa ban quản lý dự án và cơ quan quản lư nhà nước đối với dự án Việc bổ sung thêm hệ thống những quy định này là hết sức cần thiết 833.2 Tăng cường quản lý bằng cách tiếp tục hoàn thiện mô hình quản lý ODA của Bộ Giáo dục và Đào tạo 84Trong giai đoạn 2002 – 2012 Bộ máy quản lý ODA của Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã có những thay đổi tích cực để tăng cường quản lý của Bộ theo hướng thống nhất quản lý nhà nước đối với nguồn vốn ODA Trong đó Bộ đã thành lập được
cơ quan đầu mối của Bộ về ODA (Phòng ODA, Vụ Kế hoạch Tài chính) và Bộ đãxây dựng được sơ đồ ban quản lý dự án ODA về Giáo dục Đại học theo hướng thống nhất quản lý và phân tầng ban quản lý ở cấp Trung ương và cấp Địa
phương Tuy đã có những thay đổi đáng kể nhưng để tiếp tục tăng cường quản lý vẫn cần tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức 843.2.1 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức đơn vị đầu mối về quản lý ODA của Bộ Giáo dục
và Ðào tạo 84Hiện nay, phòng ODA đã được thành lập với nhiệm vụ đầu mối theo dõi hoạt động của các dự án ODA Tuy nhiên, Bộ máy của Phòng chưa được quy định cụ thể dẫn đến còn nhiều nội dung cần theo dõi nhưng chưa được thực hiện Để đảm bảo chức năng đầu mối tác giả kiến nghị hoàn thiện cơ cấu tổ chức của phòng theo các ý sau: 84Một là,cần thêm nhân lực bổ sung cho phòng ODA để tăng cường năng lực của phòng Hiện nay phòng ODA đang có 6 người hoạt động như vậy chưa đáp ứng được khối lượng công việc cần thực hiện 84Hai là,phân công theo dõi ODA theo lĩnh vực cụ thể Đặc biệt, cần phân công chuyên viên theo dõi riêng mảng giáo dục Đại học để tạo thuận lợi cho các công tác phối hợp trong việc theo dõi hoạt động của ODA Hiện nay, Phòng đang phân công chuyên viên theo dõi theo trừng chương trình, dự án 84
Ba là,bổ sung bộ phận theo dõi và tổng hợp thông tin về ODA vào nội
dung phòng ODA.Thông tin là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng ODA Thông tin đầy đủ và chính xác sẽ
là những căn cứ để cơ quan quản lý ra quyết định Thời gian qua ở VN
thông tin về ODA thường thiếu, không đầy đủ gây khó khăn rất nhiều cho các cơ quan chính phủ trong quản lý ODA Như đã nhận xét trong phần đánh giá Chương 2, hoạt động xây dựng cơ sở thông tin và chia sẻ để sử dụng trong quản lý dự án ODA của Bộ Giáo dục Đào tạo còn yếu Cần
khẩn trương thiết lập một hệ thống thông tin hữu hiệu của Bộ Giáo dục về ODA, những thông tin đó phải thể hiện rõ vấn đề sau: 843.2.2 Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý của Ban quản lý dự án 85
Trang 7cần tiếp tục củng cố và thực hiện nghiêm túc mô hình hiện nay trong quá trình quản lý và thực hiện dự án Giáo dục Đại học.Theo hướng thực hiện nghiêm túc việc phân cấp giữa ban quản lý cấp trung ương và ban quản lý cấp cơ sở Đặc biệttrong dự án ODA vào giáo dục Đại học thường có nhiều nội dung được thực hiện
ở cấp cơ sở là các Trường Đại học, việc phân quyền các ban quản lý cấp trường như thế nào để đảm bảo khả năng giám sát của Ban quản lý cấp trung ương đồng thời tạo điều kiên thuận lợi cho việc triển khai dự án của các trường là rất quan trọng và cần được chú ý quan tâm 853.3 Tăng cường quản lý thông qua tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ quản lý
dự án ODA trong giáo dục Đại học 863.3.1 Nâng cao nhận thức của cán bộ tham gia công tác quản lý ODA trong giáo dục Đại học về nguồn vốn ODA và quản lý dự án ODA trong giáo dục Đạihọc 86Căn cứ vào thình hình hội đàm quốc tế hiện nay thì các điều kiện đặt ra để giải ngân được vốn ODA đã gia tăng đáng kể Trong tình hình đó việc nắm được các điều ước quốc tế mới ký kết và các thông lệ quốc tế trong hợp tác phát triển và tăng cường khả năng vận dụng nhuần nhuyễn các hiểu biết này để ký kết các hiệpđịng vay vốn là cần thiết Mục tiêu của công tác này là tạo điều kiện cho VN có quyền làm chủ và để được chủ động đề xuất và sử dụng vốn ODA Cần phải thấyrằng ODA không phải là khoản cho không mà phải kèm theo nó là các điều kiện
về kinh tế - chính trị Mặt khác, chúng ta phải hoàn trả nợ cả gốc lẫn lãi Vì vậy nếu sử dụng không hiệu quả có thể rơi vào tình trạng khủng hoảng, nợ công Đặc biệt đối với nguồn vốn ODA vào Giáo dục Đại học càng cần thiết hơn phải cân nhắc trong thu hút và sử dụng Bên cạnh những địa chỉ, những nội dung thực sự cần đến nguồn vốn ODA, các nhà quản lý cần phải cân nhắc đến các nguồn vốn khác, có thể cân nhắc đến việc thu hút FDI vào trong giáo dục Đại học 863.3.2 Nâng cao năng lực chuyên môn về quản lý nhà nước và quản lý dự án trong lĩnh vực ODA 863.4 Tăng cường quản lý theocác nội dung quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo 883.4.1 Lựa chọn khâu kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện dự án ODA làm khâuđột phá để tăng cường quản lý dự án ODA trong giáo dục Đại học 883.4.2 Cải tiến khâu quản lý vốn trong công tác triển khai thực hiện của dự án ODA trong giáo dục Đại học 893.4.3 Tinh giảm thủ tục và các khâu ra quyết định trong tất cả các khâu quản lý
dự án ODA trong giáo dục Đại học 893.5 Một số vấn đề kiến nghị với Chính phủ 91KẾT LUẬN 93Tăng cường quản lý dựán ODA là một trong những nhân tố quan trọng góp phầnnâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA, một nguồn vốn đóng vai trò rất quan
Trang 8giữ một vai trò không thể thay thếđể tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng giáodục Các dựán ODA vào giáo dụcđại học hiện nay đang vào những lĩnh vực chính làhoàn thiện hệ thống chính sách và bộ máy quản lý nhà nước; Nâng cao chất lượnggiáo dục v.v Đây đều là những lĩnh vực phức tạp, rất khó kiểm soát nội dung vàchất lượng sử dụng đồng vốn ODA Mặt khác, thực tế cũng cho thấy hiệu quả sửdụng nguồn vốn ODA trong lĩnh vực này chưa cao, nhiều nội dung triển khai cònmang tính hình thức hoặc thiếu hiệu quả 93Trong những năm vừa qua, Chính phủ, Các Bộ/Ngành, Bộ Giáo dục vàĐào tạo đã
có nhiều biện pháp tăng cường quản lý dựán ODA trong lĩnh vực Giáo dụcĐại học.Trong đó phải kểđến việc xây dựng được mô hình tổ chức hoạt động mới chặt chẽvàđầyđủ hơn ở cả hệ thống quản lý cấp nhà nước và cấp ban quản lý dựán; tăngcường quản lý trên tất cả các khâu triển khai dựán ODA.Tuy đã có nhiều thay đổi
về cả nội dung và chất lượng sử dụng vốn ODA trong giáo dục Đại học tuy nhiênvãn còn nhiều yếuđiểm cần cải thịên.Tiếp tục tăng cường quản lý dựán ODA tronglĩnh vực Giáo dụcĐại học là cần thiết 93Căn cứ vào thực trạng tăng cường quản lý dựán ODA trong lĩnh vưc Giáo dục nóichung và Giáo dụcĐại học nói riêng, tác giảđã có những đề xuất với Bộ Giáo dụcvàĐào tạo để tiếp tục tăng cường quản lý dựán ODA trong lĩnh vực này Trong đó
Bộ cần tiếp tục hòn thiện mô hình và cơ cấu tổ chức đồng thời đẩy mạnh quản lýhơn nữa ở những khâu quan trọng trong triển khai thực hiện dựán Lĩnh vực quản lýDựán ODA đặc biệt là ODA trong giáo dục là một lĩnh vực phức tạp, đề tài mới chỉdừng lại ở việc đưa ra các biện pháp tăng cường quản lý trên hai khia cạnh mô hình
và nội dung quản lý, để có thể nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu và có tính thực tếhơn nữa vẫn cần tiếp tục đầu tư thêm nhiêu thời gian và công sức để những kết quảnghiên cứu thực sự hoàn thịên và có giá trị cao trong thực tiễn 93DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục là một hoạt động xã hội đóng vai trò hết sức quan trọng đối với mộtquốc gia trong bất cứ thời kỳ nào Giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế thế giới đangdần trở thành nền kinh tế trí thức với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và côngnghệ thì vai trò của giáo dục càng trở nên quan trọng hơn đặc biệt là giáo dục đạihọc Đóng vai trò đặc thù trong hệ thống giáo dục, giáo dục đại học không đơnthuần là việc tăng cường tri thức cho người học.Đứng trên phương diện cá nhân,giáo dục đại học là môi trường để định hướng và phát triển nghề nghiệp, là bệphóng thành công của mỗi con người Đối với xã hội, giáo dục đại học mở ra cánhcửa cho sự hiểu biết của người học đối với các mức độ phức tạp của xã hội hiện đại,
và nó cho phép mỗi cá nhân đóng góp nhiều hơn vào sự giàu mạnh của cộng đồng
và dân tộc Bời vậy giáo dục nói chung vào giáo dục đại học nói riêng là lĩnh vựcrất cần được cả xã hội quan tâm và đầu tư một cách hợp lý
Đặc thù của giáo dục Việt Nam là hệ thống giáo dục Việt Nam phần lớn làcác trường công lập, học sinh và sinh viên học tại các trường công lập được nhànước tài trợ một phần Nói cách khác, các trường đại học ở Việt Nam hiện nay phầnlớn vẫn hoạt động dựa trên nguồn ngân sách nhà nước phân bổ và hoạt động của cáctrường công lập được coi là phi lợi nhuận Bơi vậy, các trường gần như không cókhả năng tự đầu tư, nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng và trang thiết bị trườnghọc.Nguồn vối cần cho giáo dục đại học hiện nay là rất lớn, tất yếu cần huy độngnguồn đầu tư từ bên ngoài trong đó nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
là một kênh đầu tư quan trọng.Những năm gần đây, Việt Nam đã kêu gọi được mộtlượng ODA nhất định từ nhiều tổ chức và quốc gia trên thế giới.Nhiều dự án ODA
đã được triển khai nhằm thúc đẩy hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam pháttriển.Quản lý, điều hành các dự án ODA để nguồn vốn ODA vào giáo dục Đại họcthực sự hiệu quả là thực sự cần thiết
Trang 11Lựa chọn đề tài “Tăng cường quản lý dự án hỗ trợ phát triển chính thức trong giáo dục đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo” tác giả mong muốn nghiên
cứu và tìm hiểu rõ thực trạng quản lý và điều hành các dự án sử dụng nguồn vốnODA vào giáo dục đại học ở Việt Nam, thông qua đó đưa ra được những kiến nghị
đề xuất nhằm tăng cường khả năng quản lý nguồn vốn này, góp phần thúc đẩy sựphát triển giáo dục Đại học ở Việt Nam
2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng quản lý các dự án sử dụngnguồn vối ODA trong giáo dục đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam
Thời gian:Thời gian phân tích đánh giá thực trạng trong giai đoạn
2002-2012 Giải pháp và kiến nghị được xây dựng trong giai đoạn 2013-2015 và tầm nhìnđến năm 2020
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung vào nghiên cứu những vấn đề sau:
- Hệ thống hóa lý luận về ODA và quản lý dự án ODA
- Phân tích và đánh tăng cường quản lý dự án ODA trong giáo dục đại học
ở Việt Nam giai đoạn 2002- 2012
- Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý dự án sử dụngnguồn vốn ODA vào giáo dục đại học ở Việt Nam cho giai đoạn 2013 – 2015, tầmnhìn 2020
Trang 124 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Trong nghiên cứu này, tác giả dự kiến sẽ thực hiệnmột số các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp;phương pháp nghiên cứu so sánh; phương pháp nghiên cứu điển hình (Case Study);phương pháp nghiên cứu tại bàn (Desk study) và nghiên cứu tại hiện trường (Fieldstudy) –phỏng vấn một số chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu
Nguồn số liệu: Nghiên cứu sử dụng chủ yếu nguồn số liệu sơ cấp theo thống
kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Kế hoạch Đầu tư
5 Bố cục của luận văn
Tương ứng với nội dung nghiên cứu, ngoài phần lời mở đầu, kết luận, tài liệutham khảo, mục lục, các từ viết tắt, luận văn được kết cấu như sau:
Chýõng 1: Những vấn đề chung về quản lý dự án hỗ trợ phát triển chính thức
Chương 2: Thực trạng tăng cường quản lý dự án hỗ trợ phát triển chính thức trong giáo dục Đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý dự án hỗ trợ phát triển chính thức trong giáo dục Đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN HỖ TRỢ
1944 tại BrettonWoods (Mỹ) với mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế và tăng trưởngphúc lợi của các nước và hoạt động như một tổ chức trung gian về tài chính, mộtngân hàng thực sự với hoạt động chủ yếu là đi vay theo các điều kiện thương mạibằng cách phát hành trái phiếu để cho vay tài trợ đầu tư tại các nước
Tiếp đó một sự kiện quan trọng đã diễn ra đó là tháng 12 năm 1960 tại Paricác nước đã ký thoả thuận thành lập tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD)
Tổ chức này bao gồm 20 thành viên ban đầu đã đóng góp phần quan trọng nhấttrong việc dung cấp ODA song phương cũng như đa phương Trong khuôn khổ hợptác phát triển, các nước OECD đã lập ra các uỷ ban chuyên môn trong đó có uỷ ban
hỗ trợ phát triển (DAC) nhằm giúp các nước đang phát triển phát triển kinh tế vànâng cao hiệu quả đầu tư
Đến nay, ODA đã trở thành một hình thức đầu tư phổ biến trên thế giới, vớirất nhiều hình thức tài trợ khác nhau và được coi là đòn bẩy để phát triển kinh tế củanhiều nước đang phát triển
1.1.1 Khái niệm về ODA
Cùng với sự hội nhập, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (hay ODA, viếttắt của cụm từ Official Development Assistance) đã trở nên quen thuộc đối với ViệtNam.Bàn về khái niệm ODA có rất nhiều cách hiểu cũng như khái niệm khác nhau
Trang 14Chia nhỏ để phân tích: Hỗ trợ phát triển chính thức, là một hình thức đầu
tư nước ngoài gồm ba khái niệm “hỗ trợ”, “phát triển” và “chính thức” Gọi là
hỗ trợ bởi các khoản đầu tư này thường là các khoản vay không lãi suất hoặc lãi
suất thấp với thời gian vay dài, trong nhiều trường hợp còn gọi là viện trợ.Gọi là
phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này thường là phát triển
kinh tế và nâng cao phúc lợi xã hội của nước đầu tư.Gọi là chính thức vì nó
thường là cho nhà nước vay
Đứng từ phía cơ quan quản lý nhà nước:Theo Quy chế quản lý và sử dụng
nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ban hành kèm theo Nghị định
131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính Phủ thì ODA được định nghĩa như sau: “Hỗ trợ pháttriển chính thức (gọi tắt là ODA) được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhànước hoặc Chính Phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Nhà tài trợ làChính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc giahoặc liên chính phủ”
Theo tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD): ODA là “một giao dịch
chính thức được thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xãhội của các nước đang phát triển Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất
ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%”(Nguồn http://www.oecd.org/dac/stats/)
Hiểu một cách chung nhất: ODAlà tất cả các khoản hỗ trợ không hoàn lại và
các khoản tín dụng ưu đãi (cho vay dài hạn và lãi suất thấp của các Chính phủ, các
tổ chức thuộc hệ thống Liệp hợp quốc, các tổ chức phi Chính phủ (NGO), các tổchức tài chính quốc tế (IMF, ADB, WB ) giành cho các nước nhận viện trợ ODAđược thực hiện thông qua việc cung cấp từ phía các nhà tài trợ các khoản viện trợkhông hoàn lại, vay ưu đãi về lãi suất và thời hạn thanh toán.Về thực chất, ODA là
sự chuyển giao một phần GNP từ bên ngoài vào một quốc gia, do vậy ODA được
coi là một nguồn lực từ bên ngoài.(Tài liệu Hội thảo đầu tư nước ngoài năm 2011 –
Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Trang 151.1.2 Khái niệm và đặc điểm dự án ODA
1.1.2.1 Khái niệm dự án ODA
“Dự án vốn ODA” gọi tắt là “dự án ODA”: là loại hình dự án sử dụng nguồn vối ODA, thuộc khuôn khổ hoạt động hợp tác giữa quốc gia tiếp nhận ODA
và các nhà tài trợ
Cũng như các dự án nói chung, dự án ODA cũng gồm hai loại : Dự án đầu tư
và dự án hỗ trợ kỹ thuật
Dự án đầu tư: là dự án tạo mới ,mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất
nhất định ,nhằm đạt mục tiêu về tăng trưởng số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nângcao về chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ trên một địa bàn nhất định trong mộtkhoảng thời gian nhất định
Dự án hỗ trợ kỹ thuật: là dự án có mục tiêu hỗ trợ phát triển năng lực và thể
chế hoặc cung cấp các yếu tố đầu vào kỹ thuật để chuẩn bị thực hiện các chươngtrình thực hiện dự án thông qua hoạt động cung cấp chuyên gia , đào tạo hỗ trợ thiết
bị ,tư liệu và tài liệu , hội thảo tham quan khảo sát
1.2.2.2 Những đặc điểm của dự án vốn ODA
a) Dự án ODA có những đặc điểm chung của dự án đó là:
Có mục tiêu: dự án ODA là tổng hợp các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu
xác định Các mục tiêu của dự án cần được xác lập nhằm đảm bảo nguyên tắc cụthể, đo lường được, khả thi, cân đồi về nguồn lực, đảm bảo chất lượng
Tính tạm thời: Tính tạm thời có nghĩa là các dự án ODA có khởi điểm và kết
thúc xác định Dự án không phải là loại công việc hàng ngày, thường tiếp diễn, lặp
đi lặp lại theo quy trình có sẵn Dự án có thể thực hiện trong một thời gian ngắnhoặc có thể kéo dài trong nhiều năm.Về mặt nhân sự, dự án không có nhân công cốđịnh, họ chỉ gắn bó với dự án trong một khoảng thời gian nhất định (một phần hoặctoàn bộ thời gian thực hiện dự án).Khi dự án kết thúc, các cán bộ dự án có thể phảichuyển sang/tìm kiếm một công việc/hợp đồng mới
Trang 16Tính duy nhất: Mặc dù có thể có những mục đích tương tự, nhưng mỗi dự án
ODA phải đối mặt với những vấn đề về nguồn lực, môi trường và khó khăn khácnhau Hơn thế nữa, ở mức độ nhất định, mỗi dự án đem lại các sản phẩm, dịch vụ
“duy nhất”, không giống hoàn toàn với bất kỳ dự án nào khác Ví dụ như đều vớimục đích xây nhà nhưng các dự án có sự khác biệt về chủ đầu tư, thiết kế, địa điểm,
vv Khi sử dụng kinh nghiệm của trong việc lập kế hoạch các dự án tương tự nhau,cần phải hiểu rõ các đặc trưng riêng của mỗi dự án Hơn thế nữa, cần phải phân tíchthật kỹ lưỡng cũng như có kế hoạch chi tiết trước khi bắt đầu thực hiện
Tính phức tạp: Mỗi dự án bao gồm nhiều hoạt động liên quan, đan xen lẫn
nhau, bao gồm nhiều đối tượng khác nhau Do đó trong quá trình thực hiện có nhiềuthay đổi, nhiều rủi ro và dễ nảy sinh những xung đột, mâu thuẫn bên ngoài cũngnhư bên trong
Tính hệ thống: Dự án ODA là một tập hợp những hoạt động có liên quan đến
nhau Những hoạt động này có mối quan hệ theo một trật tự nhất định và hướng đếnmục tiêu xác định Dự án cũng sử dụng đầu vào là các nguồn lực để tạo ra đầu ra làsản phẩm hay dịch vụ
Tính giới hạn: Mỗi dự án ODA được thực hiện trong một khoảng thời gian,
nguồn lực và kinh phí nhất định Các nhà quản lý cần phải liên tục cân bằng về nhucầu, tài chính, nguồn lực và lịch trình để hoàn thành dự án, đảm bảo yêu cầu củanhà đầu tư và nhà tài trợ
Sự phát triển của dự án luôn luôn là sự chi tiết hoá:Đặc tính này đi kèm vớitính tạm thời và duy nhất của một dự án ODA Trong suốt quá trình thực hiện dự
án, ở mỗi bước thực hiện cần có sự phát triển và liên tục được cụ thể hoá với mức
độ cao hơn, kỹ lưỡng, công phu hơn
Ví dụ như: Mục đích ban đầu đặt ra của dự án ”Đảm bảo an ninh lương thực
và nước sạch cho những người nông dân nghèo ở tỉnh X” có thể được cụ thể hoá là
“Ưu tiên tập trung nâng cao năng suất, sản lượng lương thực và tiếp thị và tiếp đếncung cấp nguồn nước sạch cho người dân” khi nhóm thực hiện dự án phát triển các
Trang 17hiểu biết của mình về mục đích, phạm vi, sản phẩm của dự án Một dự án có mụcđích “xây dựng nhà máy chế biến thức ăn gia súc” sẽ được bắt đầu bằng xem xétquy trình kỹ thuật của việc biến thức ăn gia súc.
Đây là cơ sở của việc thiết kế các phân xưởng chế biến để xác định được cácđặc điểm phục phụ cho thiết kế kỹ thuật của mỗi phân xưởng Tiếp đó, các bản vẽchi tiết sẽ được tiến hành, thông qua, làm cơ sở cho việc thực hiện, kiểm soát quátrình xây dựng nhà máy Sản phẩm sẽ được thông qua trên cơ sở các bản thiết kế vànhững điều chỉnh khi vận hành thử
b) Bên cạnh những ðặc ðiểm chung, dự án ODA có những ðặc ðiểm riêng có:
Có nguồn vốn từ các tổ chức chính phủ: Toàn bộ hoặc một phần nguồn vốn
thực hiện dự án ODA là do các tổ chức/chính phủ nước ngoài, các tổ chức songphương tài trợ Cơ chế tài chính trong nước đối với việc sử dụng ODA là cấp phát,cho vay (toàn bộ/một phần) từ ngân sách Nhà nước.Các dự án ODA thường có vốnđối ứng là khoản đóng góp của phía Việt Nam bằng hiện vật và giá trị để chuẩn bị
và thực hiện các chương trình, dự án (có thể dưới dạng tiền đuợc cấp từ ngân sáchhoặc nhân lực, cơ sở vật chất) Nguồn vốn là điểm khác biệt lớn nhất giữa dự ánODA với với các dự án khác; kèm theo nó là các yêu cầu, quy định, cơ sở pháp lý vềquản lý và thực hiện của nhà đầu tư và nhà tài trợ
Có sự khác nhau giữa người cấp vốn và người sử dụng vốn: Vì vậy, việc
quản lý dự án ODA dễ nảy sinh những tiêu cực như tham nhũng, lãng phí, gây ảnhhưởng xấu đến hiệu quả dự án Do đó cần phải có một cơ chế quản lí minh bạch,đồng bộ, kiểm tra giám sát chặt chẽ đối với các dự án ODA để có thể sử dụng mộtcách hiệu quả nguồn vốn này
Thường ưu tiên cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội theo chính sách và
chiến lược vĩ mô của nhà nước, hoặc mục tiêu hoạt động của các nhà tài trợ, không
sử dụng trực tiếp cho lĩnh vực kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi Ở Việt Nam, các
Trang 18dự án ODA tập trung vào những lĩnh vực sau:
- Xóa đói giảm nghèo, trước hết tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa;
- Hỗ trợ một số lĩnh vự sản xuất nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội;
- Hỗ trợ cán cân thanh toán;
- Giáo dục, phát triển nguồn nhân lực;
- Các vấn đề xã hội (tạo việc làm, cấp nước sinh hoạt, phòng chống dịchbệnh, phòng chống các tệ nạn xã hội);
- Bảo vệ môi trường, bảo vệ và phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên;nghiên cứu khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai;
- Nghiên cứu chuẩn bị các chương trình, dự án phát triển (quy hoạch điềutra cơ bản);
- Cải cách hành chính, tư pháp, tăng cường năng lực của các cơ quan quản
lý Nhà nước ở Trung ương, địa phương và phát triển thể chế
Quá trình sử dụng dự án ODA phải tuân thủ luật pháp nước sở tại và những điều kiện đã thỏa thuận với nhà tài trợ Do vậy tìm hiểu các văn bản pháp luật của
nước sở tại và nhà tài trợ liên quan đến dự án ODA, nắm vững cơ sở pháp lý choviệc quản lý dự án ODA là công việc đặc biệt cần quan tâm tiến hành Như trên đãnói, nguồn hình thành ODA là từ ngân sách của tổ chức tài trợ và nguồn vốn đồiứng ngân sách nước nhận tài trợ nên việc giải ngân phải đem lại lợi ích cho nướcnhặn tài trợ và đảm bảo được mục tiêu của các nhà tài trợ Nhiều khi những mụctiêu này không phải là “cho không, biếu không” mà là những điều kiện có lợi choviệc phát triển thị trường, đảm bảo an ninh phát triển quân sự, các mục tiêu chính
Trang 19trị, kinh tế khác…của nhà tài trợ
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với vốn ODA và dự án vốn ODA
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về vốn ODA
Quản lý nhà nước về vốn ODA là sự tác động có tổ chức của Nhà nước đốivới toàn bộ nguồn vốn ODA bằng quyền lực của nhà nước thông qua cơ chế quản lývốn ODA nhằm thực hiện được các mục tiêu đặt ra đối với quá trình thu hút và sửdụng vốn ODA
Hoặc có thể hiểu: Quản lý nhà nước về vốn ODA là quá trình Nhà nước lập
kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra việc thu hút và sử dụng ODA nhằm đạt đượccác mục tiêu của nhà nước đặt ra với kết quả và hiệu quả cao trong điều kiện pháttriển của đất nước [46]
1.2.2 Tầm quan trọng của quản lý nhà nước về ODA
- Nhằm thống nhất ý chí, quan điểm, giữa các bên có liên quan trong quátrình thu hút và sử dụng vốn ODA Bao gồm: các cơ quan quản lý nhà nước về vốnODA, các nhà tài trợ (đa phương và song phương), các ban quản lý dự án Thực tế
đã chỉ rõ, khi nào đạt được sự thống nhất trong mối quan hệ đa dạng về vốn ODAthì mới thu được hiệu quả cao (kể cả tỷ lệ giải ngân các nguồn vốn cam kết) trong
sử dụng vốn ODA
- Định hướng thu hút và sử dụng vốn ODA trên cơ sở xác định mục tiêuchung, mục tiêu bộ phận và hướng mọi nỗ lực của các bên có liên quan vào thựchiện các mục tiêu đó
- Tổ chức, điều hòa, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các cơ quanquản lý nhà nước có liên quan, các nhà tài trợ, các ban quản lý dự án, làm giảm bớt
sự bất đồng và bất định trong quá trình sử dụng vốn ODA
Trang 20- Tạo ra động lực cho các bên có liên quan đến ODA bằng các kích thích, đánh giá, khen thưởng những nhân tố có thành tích, đồng thời điều chỉnh những lệch lạc, sai sót của các bên trong quá trình sử dụng vốn ODA
- Quản lý nhà nước về ODA nhằm nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA
Vốn ODA là một nguồn vốn có ý nghĩa quan trọng đối với các nước tiếpnhận trong giai đoạn hiện nay.Tuy nhiên, nguồn vốn này cũng dễ sử dụng khônghiệu quả gây gánh nặng nợ nần cho đất nước nếu như không có sự quản lý nhà nướcchặt chẽ Nguyên nhân do:
Thứ nhất, thực chất giá trị thực tế của vốn ODA thấp hơn giá trị danh nghĩa
của nó [49], [51]
Điều này có nghĩa tính ưu đãi của vốn ODA giảm, chi phí để có vốn này có tiến gần tới vốn thương mại trên thị trường tài chính nếu không có sự quản lý chặt trong thu hút thì chi phí này càng cao Thể hiện:
+ Chi phí thực tế mà nước tiếp nhận phải trả để sử dụng vốn ODA lớn hơntiền lãi phải trả cho nhà tài trợ.Vì chi phí thực tế mà nước tiếp nhận phải thanh toánbằng tiền lãi vay (theo tỷ lệ lãi suất) + phí thủ tục vay + chi phí liên quan đến khoảnODA (chi phí có ghi trong hợp đồng và chi phí tiềm Èn)
+ Nhà tài trợ ràng buộc điều kiện đối với vốn ODA khi nước tiếp nhận tiếpnhận là phải chấp nhận một phần giá trị khoản ODA là hàng hóa dịch vụ do nhà tàitrợ đó sản xuất (trung bình là ở mức 20% giá trị vốn ODA) Giá cả phải trả chohàng hóa, dịch vụ này thường cao hơn giá cả mà hàng hóa, dịch vụ đó bán trên thịtrường thế giới Hoặc trong các dự án hỗ trợ kỹ thuật, thì bên nhà tài trợ yêu cầu trảlương cho các chuyên gia, cố vấn dự án của họ ở nước quá cao so với chi phí thực tếcần thuê chuyên gia như vậy trên thị trường lao động thế giới
- Các nhà tài trợ có quyền chủ động nhất định trong quyết định cung cấpODA theo dự án, chương trình Do đó, các dự án, chương trình mà các nhà tài trợ
Trang 21này lựa chọn để cung cấp vốn ODA lại có thể không phải là dự án quan trọng và tối
ưu nhất đối với nước tiếp nhận Vì thế chi phí mua sắm thiết bị, công nghệ với giátrị rất lớn nhưng công suất sử dụng không cao hoặc phải bỏ ra chi phí cao về dịch
vụ đào tạo, chuyển giao công nghệ và chi phí phải trả do thất nghiệp xuất hiện
- Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lạităng lên hay gánh nặng nợ nước ngoài của nước tiếp nhận sẽ tăng lên
Giá trị các khoản ODA mà nước tiếp nhận chủ yếu lấy ngoại tệ mạnh làmđơn vị tính toán như: USD (đô la Mỹ), đồng Yên của Nhật, đồng Euro Tuy nhiên,trong thời gian dài của khoản vốn ODA, giá trị các đồng tiền này luôn biến độngnhư đồng yên của Nhật là một đồng tiền chuyển đổi tự do nhưng không phải làđồng tiền thực sự mạnh và ổn định nhưng các dự án hỗ trợ phát triển của JBIC(Nhật Bản) thì lấy đồng yên làm đơn vị tính toán Vì thế khoản vốn ODA luôn chứađựng rủi ro về ngoại hối Mặt khác, đồng tiền của nước tiếp nhận bị mất giá trongkhoảng thời gian sử dụng vốn do các yếu tố như: lạm phát ở nước tiếp nhận cao hơn
ở các nước phát triển và nước tài trợ (tính ổn định của nền kinh tế nước tiếp nhậnkém hơn) tình trạng thâm hụt cán cân thương mại luôn thường trực, không có sự cảithiện nhiều về tài khoản vốn nên nhu cầu về ngoại tệ mạnh lớn hơn cung về ngoại
tệ Vì thế, khoản vốn ODA phải hoàn trả theo đồng nội tệ ngày càng tăng lên
+ Những chi phí gián tiếp phải trả cho các khoản vốn ODA [36]
Nước tiếp nhận khi tiếp nhận vốn ODA Ýt nhiều phải chấp nhận các ràngbuộc về mặt kinh tế và chính trị
Về kinh tế, nước tiếp nhận phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quanbảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hóa củacác nước tài trợ, ví như Việt Nam mở cửa hơn đối với mặt hàng ô tô của NhậtBản và Mỹ vào năm 2006; thực hiện cam kết hiệp định thuế quan vào 2003 vớicác nước ASEAN
Trang 22Từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hóa mớicủa nhà tài trợ chiếm lĩnh thị trường nội địa, ảnh hưởng trực tiếp đến sức cạnh tranhcủa hàng hóa nước tiếp nhận ở thị trường nội địa.
Có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép
họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lợi cao, giá thuê mặt bằngsản xuất và các dịch vụ rẻ cũng như có được đơn đặt hàng của chính phủ Ví nhưViệt Nam cho phép các nhà đầu tư vào ngành viễn thông, thực hiện một loại giá trên
cả nước (không có sự phân biệt giá giữa người Việt Nam và người nước ngoài)
Chính những ràng buộc này đã làm ngân sách Nhà nước mất đi một khoảntiền thu từ thuế nhập khẩu, thuế đối với các doanh nghiệp trong nước do hàng hóacủa doanh nghiệp này bị mất chỗ đứng trên thị trường Thuế thu nhập cá nhân vànhững khoản lương của những công nhân bị thất nghiệp do tác động của việc phải
mở cửa thị trường
Như vậy, nếu không quản lý chặt việc thu hút, đàm phán với nhà tài trợ thì giátrị thực tế của vốn ODA thấp hơn nhiều so với giá trị danh nghĩa hay lãi suất vốn ODA
mà nước tiếp nhận phải trả tiền sát với lãi suất thị trường tài chính quốc tế
Thứ hai, nước tiếp nhận dễ bị rơi vào tình trạng sử dụng không hiệu quả
nguồn vốn ODA
+ Quan điểm nhìn nhận về vốn ODA của nước tiếp nhận còn nhiều hạn chế
Do giai đoạn đầu tiếp nhận vốn ODA chủ yếu là vốn hỗ trợ phát triển không hoànlại nên hình thành trong tiềm thức và suy nghĩ, thói quen của chính phủ nước tiếpnhận vốn ODA và những tổ chức sử dụng nguồn vốn này là cứ vốn ODA là chokhông và sử dụng không tính toán kỹ lưỡng nên dễ xuất hiện hiện tượng thamnhũng và lãng phí trong tổ chức sử dụng Ví như, ở Việt Nam, Dự án trồng rừng
327, dự án Nhà hát lớn Hà Nội hay hàng loạt các dự án đường bộ hoặc dễ dàng chấpnhận những dự án không đem lại hiệu quả
Trang 23- Trình độ và kinh nghiệm quản lý nguồn vốn ODA còn thấp thể hiện trongkhâu xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vựcchưa hợp lý, khả năng đàm phán thuyết phục các nhà tài trợ chưa cao; khả năngkhảo sát, xây dựng dự án khả thi và tiền khả thi còn kém nên xảy ra hiện tượng, tìnhtrạng theo hồ sơ, theo dự án thì đem lại hiệu quả cao nhưng khi đầu tư, sử dụng vốnthì rơi vào tình trạng thua lỗ.
Do vậy, nếu vốn ODA sử dụng và thu hút ở nước tiếp nhận không hiệu quảthì không những các nước này không khai thác được những ưu đãi, những mặt tíchcực của vốn ODA phục vụ cho kế hoạch tăng trưởng, phát triển kinh tế mà còn đẩy
họ vào tình trạng nợ nần tăng thêm khi đó lỗ hổng về tiết kiệm - đầu tư, thương mạikhông được cải thiện mà còn xuất hiện thêm lỗ hổng lớn trong tài khoản vốn donguồn thu ngoại tệ từ ODA không còn, trong khi đó phải xuất ngoại tệ trả nợ nướcngoài Vì thế, cán cân thanh toán quốc tế càng bị thâm hụt trầm trọng, sẽ gây rađồng tiền sự phá giá Nếu bị một cú xốc về dầu mỏ hoặc thị trường xuất khẩu bị tổnthương thì nền kinh tế sẽ bị rơi vào khủng hoảng kinh tế như Braxin, Achenchina,Thái Lan (1997) Kết cục là khủng hoảng tài chính - tiền tệ và xã hội sẽ xảy ra
Chính vì vậy, vấn đề quản lý nhà nước về vốn ODA được đặt ra mang tínhkhách quan và cần tổ chức thực hiện tốt nhằm nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụngvốn ODA phục vụ quá trình tăng trưởng và phát triển của nước tiếp nhận vốn ODA.Thực tế đã khẳng định, việc tiếp nhận vốn ODA là con giao hai lưỡi Nếu nước tiếpnhận vốn ODA tổ chức quản lý và sử dụng tốt nguồn vốn này, khai thác triệt đểnhững ưu điểm của nó và hạn chế những bất lợi có thể xảy ra thì vốn ODA là mộtnguồn ngoại lực quan trọng góp phần vào quá trình tăng trưởng nhanh của nền kinh
tế Ví dụ như trường hợp thành công của Nhật Bản vào giai đoạn 1950-1960, HànQuốc vào giai đoạn 1960-1970 cũng một phần đáng kể là nhờ vào việc sử dụng tốtnhững nguồn viện trợ phát triển dưới dạng ODA
Ngược lại, nếu quản lý và sử dụng không hiệu quả thì vốn ODA trở thànhgánh nặng nợ nần cho đất nước trong tương lai Tuy nhiên, xu thế trên thế giới hiện
Trang 24nay là các nước đang và chậm phát triÓn luôn muốn thu hút các khoản vốn ODA vàđồng thời nghiên cứu và đưa ra các phương pháp quản lý nhà nước có hiệu quả đểkhai thác thế mạnh của nguồn vốn này trong quá trình phát triển đất nước
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về vốn ODA
Nội dung quản lý nhà nước về vốn ODA được cụ thể hóa thành nội dung của các chức năng quản lý nhà nước về vốn ODA Trong đó:
Chức năng quản lý nhà nước về vốn ODA chính là tập hợp công việc, nhiệm vụ mang tính chất cùng loại mà các cơ quan quản lý nhà nước về ODA phải thực hiện trong quá trình thu hút, sử dụng vốn ODA nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra
Theo giai đoạn tác động thì nội dung quản lý nhà nước về thu hút và sửdụng vốn ODA bao gồm:
1.2.3.1 Định hướng thu hút, sử dụng vốn ODA
Định hướng thu hút, sử dụng vốn ODA là Nhà nước đi quyết định trướcnhữngnhiệm vụ, những mục tiêu và các giải pháp trong quá trình thu hút và sửdụng vốn ODAtrong khoảng thời gian dài thường là 5 năm, 10 năm hay lâu hơn
Định hướng thu hút và sử dụng vốn ODA được Nhà nước thực hiện thôngqua các hình thức chủ yếu sau:
- Xây dựng chiến lược thu hút và sử dụng vốn ODA.
Xây dựng chiến lược thu hút và sử dụng vốn ODA là Nhà nước xây dựngmột hệ thống các quan điểm cơ bản về thu hút và sử dụng vốn ODA, các mục tiêudài hạn cho thu hút và sử dụng vốn ODA và các giải pháp chủ yếu được lựa chọnmột cách có căn cứ khoa học cho thu hút và sử dụng vốn ODA nhằm đạt được cácmục tiêu đã đề ra
Trong đó:
Trang 25Hệ thống các quan điểm cơ bản về thu hút và sử dụng vốn ODA là những tưtưởng chỉ đạo, xuyên suốt chiến lược, từ việc xác định các mục tiêu, thứ tự ưu tiên đếnnhững nhiệm vụ cũng như chính sách thu hút và sử dụng vốn ODA.
Mục tiêu trong chiến lược thu hút và sử dụng vốn ODA là những kết quảmong đợi cần có và có thể có của đất nước khi kết thúc việc thực hiện chiến lượcthu hút và sử dụng vốn ODA đã đặt ra
Các giải pháp chủ yếu trong chiến lược thu hút và sử dụng vốn ODA làphương thức cơ bản để thực hiện những công việc đặt ra trong suốt thời kỳ chiếnlược nhằm thực hiện các mục tiêu thu hút và sử dụng vốn ODA
Thực chất của chiến lược thu hút và sử dụng vốn ODA được hiểu là mộtbản luận cứ có cơ sở khoa học xác định rõ các mục tiêu và phương hướng hànhđộng của đất nước trong thu hút và sử dụng vốn ODA trong khoảng thời gian 10năm hoặc lâu hơn, chủ yếu ở tầm quốc gia, liên quan tới tổng thể các ngành kinh tế
và các vùng kinh tế
- Xây dựng quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA.
Quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA là một hình thức định hướng thuhút và sử dụng vốn ODA Trong đó đi xác định rõ quy mô và giới hạn thu hút và sửdụng vốn ODA trong những khoảng thời gian nhất định Nó tạo ra khung cảnh vànhững đường nét trong thu hút và sử dụng vốn ODA Nó là cơ sở, là tiền đề để đixây dựng các kế hoạch, chương trình và dự án ODA có quy mô vùng và quốc gia
Về thực chất xây dựng quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA là xây dựngkhung vĩ mô về tổ chức không gian nhằm cung cấp những căn cứ khoa học cho các cấp
để chỉ đạo vĩ mô công tác thu hút và sử dụng vốn ODA thông qua các chương trình, dự
án ODA đảm bảo cho vốn ODA được sử dụng có hiệu quả
Trang 26Về bản chất xây dựng quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA là cụ thể hóachiến lược thu hút và sử dụng vốn ODA về không gian (theo vùng kinh tế và theongành kinh tế) và thời gian (theo từng giai đoạn nhất định).
- Xây dựng kế hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA.
- Xây dựng chính sách thu hút và sử dụng vốn ODA.
- Xây dựng các chương trình, dự án thu hút và sử dụng vốn ODA.
Chương trình thu hút và sử dụng vốn ODA là tổ hợp các mục tiêu, các thủtục, các nguyên tắc, các nhiệm vụ, các bước tiến hành, các yếu tố cần thiết khác đểthu hút và sử dụng vốn ODA có hiệu quả theo những mục tiêu đặt ra trong một thời
kỳ nhất định, thường từ 1 năm đến 5 năm
Chương trình thu hút và sử dụng vốn ODA là một bộ phận của kế hoạch haymột phương thức vận hành của kế hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA Chươngtrình đảm bảo phối hợp một cách đồng bộ các biện pháp thu hút và sử dụng vốnODA liên quan trong việc thực hiện mục tiêu (cho một ngành hay đa ngành, chomột vùng hay đa vùng) theo những tiến độ chặt chẽ và thống nhất
Dự án thu hút và sử dụng vốn ODA, về hình thức là một tập hồ sơ tài liệutrình bày một cách chi tiết và hệ thống các hoạt động trong thu hút và sử dụng vốnODA sẽ được thực hiện, với các nguồn lực và chi phí, được bố trí theo một kếhoạch chặt chẽ nhằm đạt được những kết quả cụ thể để thực hiện những mục tiêukinh tế - xã hội nhất định
Dự án thu hút và sử dụng vốn ODA, về nội dung là tổng thể các hoạt động
dự kiến trong thu hút và sử dụng vốn ODA với các nguồn lực và chi phí cần thiết,được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định đểtạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm thực hiện nhữngmục tiêu kinh tế - xã hội nhất định
1.2.3.2 Tổ chức thực hiện thu hút và sử dụng vốn ODA
Trang 27Tổ chức thực hiện thu hút và sử dụng vốn ODA của Nhà nước là tập hợpnhững nhiệm vụ mà Nhà nước phải thực hiện nhằm thiết lập hệ thống quản lý vàvận hành hệ thống này nhằm thu hút và sử dụng vốn ODA theo nội dung địnhhướng thu hút và sử dụng vốn ODA đặt ra.
Nội dung tổ chức thực hiện thu hút và sử dụng vốn ODA, bao gồm:
- Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về thu hút và sử dụng vốn ODA: thiếtlập cơ cấu tổ chức của bộ máy quản lý nhà nước về thu hút và sử dụng vốn ODA từcấp trung ương tới địa phương, xây dựng và hoàn thiện thể chế hoạt động của bộmáy này, Xây dựng đội ngũ nhân viên làm việc trong bộ máy theo những tiêu chuẩn
và yêu cầu thu hút và sử dụng vốn ODA đặt ra
- Vận hành bộ máy quản lý nhà nước về thu hút và sử dụng vốn ODA: Tạođộng lực cho bộ máy quản lý nhà nước về thu hút và sử dụng vốn ODA hoạt độngtheo những kế hoạch đặt ra, Phối hợp hoạt động giữa các bộ phận, đơn vị trong bộmáy quản lý nhà nước về thu hút và sử dụng vốn ODA, hướng dẫn, đôn đốc những
bộ phận, đơn vị trong bộ máy quản lý nhà nước về thu hút và sử dụng vốn ODAthực hiện theo kế hoạch đặt ra và tuân thủ quy định của pháp luật, xử lý nhữngvướng mắc, tồn tại, cản trở trong quá trình thu hút và sử dụng vốn ODA bảo đảm choviệc thực hiện kế hoạch đặt ra có hiệu quả nhất
1.2.3.3 Kiểm soát việc thu hút và sử dụng vốn ODA
Kiểm soát việc thu hút và sử dụng vốn ODA là tổng thế những hoạt độngcủa cơ quan quản lý nhà nước về ODA nhằm kịp thời phát hiện và xử lý những saisót, ách tắc, đổ vỡ, những khó khăn, vướng mắc cũng như những cơ hội trong thuhút và sử dụng vốn ODA để đạt được mục tiêu kế hoạch đặt ra
Về thực chất kiểm soát việc thu hút và sử dụng vốn ODA là đi đánh giá chínhxác những kết quả hoạt động trong thu hút và sử dụng vốn ODA (Việc đánh giá nàyđược tiến hành cả trong và sau khi kết thúc quá trình thu hút và sử dụng vốn ODA) để
có những can thiệp hợp lý của Nhà nước tới việc thu hút và sử dụng vốn ODA
Trang 281.2.4 Các công cụ quản lý nhà nước về vốn ODA
Để quản lý nhà nước có hiệu quả đối với vốn ODA thì Nhà nước hình thành
và sử dụng các công cụ cơ bản để truyền dẫn những tác động tới quá trình thu hút
và sử dụng vốn ODA Các công cụ gồm:
1.2.4.1 Công cụ pháp luật
Công cụ pháp luật về vốn ODA là tổng thể những văn bản pháp luật trực tiếpliên quan đến sự tồn tại, thu hút và sử dụng vốn ODA Đây chính là nội dung chínhhình thành nên cơ chế quản lý vốn ODA Bao gồm:
- Các Luật liên quan đến vốn ODA do quốc hội ban hành
- Các Nghị định, Nghị quyết liên quan đến vốn ODA do Chính phủ, Thủ tướngChính phủ ban hành
- Các Thông tư liên quan đến vốn ODA do các Bộ ban hành (trực tiếp điềuchỉnh hay gián tiếp)
- Các văn bản hành chính của các bộ, chính quyền các địa phương ban hànhliên quan đến vốn ODA
1.2.4.2 Cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước về vốn ODA
Cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước về vốn ODA là hệ thống tổ chức bao gồmnhiều người, nhiều cơ quan và nhiều bộ phận khác nhau, có mối quan hệ và quan hệphụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hóa và có những chức năng, trách nhiệm vàquyền hạn nhất định, được bố trí theo những cấp những khâu khác nhau nhằm đảmbảo tổ chức và quản lý có hiệu quả nguồn vốn phát triển chính thức (ODA) [17]
Cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước về vốn ODA thể hiện mối quan hệ dọc vàmối quan hệ ngang giữa các bộ phận quản lý nhà nước về ODA đảm bảo sự phốihợp đồng bộ trong thu hút và sử dụng vốn ODA Mặt khác cơ cấu còn là một hệthống thông tin bao gồm các trung tâm thu tin, xử lý thông tin và phát tin, đảmbảo cho hoạt động thu hút và sử dụng vốn ODA đúng kÕ hoạch Nếu cơ cấu bộmáy quản lý nhà nước về vốn ODA không gọn nhẹ, linh hoạt thì dễ gây ra tìnhtrạng ách tắc thông tin hoặc thông tin không chính xác cho quá trình quản lý nhànước về vốn ODA
Trang 291.2.4.3 Cán bộ, công chức quản lý nhà nước về vốn ODA
Cán bộ, công chức quản lý nhà nước về vốn ODA là những người đượctuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào các vị trí, bộ phận trong Cơ cấu bộ máy quản lý nhànước về vốn ODA nhằm thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ quản lý nguồn vốnphát triển chính thức (ODA)
Cán bé, công chức quản lý nhà nước về vốn ODA bao gồm các loại như: cáccán bộ quản lý nguồn vốn phát triển chính thức (ODA) ở các Bộ, ban, ngành, các banquản lý dự án, các chuyên gia và nhân viên thực hiện các kỹ thuật nghiệp vụ quản lýtrong Cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước về vốn ODA [17]
1.3 Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới
1.3.1 Thực tiễn ở một số quốc gia
Trung Quốc:
Trung Quốc là một trong những quốc gia thành công trong thu hút và sửdựng nguồn vốn ODA, tính đến năm 2005 tổng số vốn ODA mà Ngân hàng thế giới(WB) cam kết với Trung Quốc là 39 tỷ USD Nguồn vốn ODA đã trở thành mộtnguồn vốn quan trọng đóng vai trò rất tích cực trong việc thúc đầy cải cách và pháttriển ở Trung Quốc Trung Quốc cũng quan tâm thu hút nguồn vối ODA vào Giáodục Lượng vốn ODA vào Ngành Giáo Dục của Trung Quốc chiếm khoảng 13%
tổng số vốn ODA được tài trợ(Cục quản lý vốn ODA của Trung Quốc)
Về Bộ máy tổ chức: Đối với các dự án ODA nói chung và các dự án ODAvào Giáo dục Đại học nói riêng Trung Quốc đặc biệt đề cao vai trò của việc quản lý
và giám sát Hai cơ quan Trung ương quản lý ODA là Bộ Tài chính (MoF) và Ủyban cải cách và phát triển quốc gia (NDRC).MoF làm nhiệm vụ “đi xin tiền”, đồngthời là cơ quan giám sát việc sử dụng vốn MoF yêu cầu các Chủ dự án ODA (Bộ,Ngành, Địa phương) phải thành lập bộ phận giám sát tài chính về ODA và thực hiệnkiểm tra thường xuyên hoạt động của các dự án, hoạt động này phải được phối hợpvới các nhà đầu tư
Trang 30Để tăng tính hiệu quả và trách nhiệm trong quản lý dự án ODA Trung Quốcđưa ra mấy quan điểm quản lý như sau:
Một là, cán bộ quản lý và điều hành dự án đều được bồi dưỡng đào tạo trước khi
được phân tham gia các gia án
Hai là, sau khi thực hiện quá trình lựa chọn và phê duyện các dự án theo một
trật tựthống nhất và hiệu quả ngay từ khâu xác định, chuẩn bị dự án, đánh giá dự án
Ba là, Việc trả vốn ODA ở Trung Quốc theo cách “ai hưởng lợi, người đó trả nợ” Bốn là, Trung Quốc đặc biệt đề cao vai trò của việc quản lý và giám sát Hai
cơ quan Trung ương quản lý ODA là Bộ tài chính và Ủy ban cải cách & phát triểnquốc gia
Ba Lan:
Ba Lan quan niệm để sử dụng vốn ODA đạt hiệu quả, trước hết phải tập trungđầu tư vào nguồn nhân lực và năng lực thể chế Chính phủ Ba Lan cho rằng, việc thựchiện dự án ODA mà giao cho các bộ phận hành chính không phải là thích hợp Đối vớiODA vào Giáo dục Bala chỉ giao một phần cho Bộ Giáo dục quản lý.Phần lớn các dự ánGiáo dục của Bala giao trực tiếp cho các đối tượng thụ hưởng quản lý Dướt sự theo dõi
và giám sát song song của Bộ Giáo dục và đặc biệt Balan phối hợp rất chặt chẽ đối vớicác nhà tài trợ để kiểm tra tình hình thực hiện và triển khai
Cơ sở luật pháp rõ ràng và chính xác trong toàn bộ quá trình là điều kiện đểkiểm soát và thực hiện thành công các dự án ODA Ba Lan đề cao hoạt động phốihợp với đối tác viện trợ
Ở Ba Lan, các nguồn hỗ trợ được coi là “quỹ tài chính công”, việc mua sắm tàisản công phải tuân theo Luật mua sắm công và theo những quy tắc kế toán chặt chẽ
Quá trình giải ngân khá phức tạp nhằm kiểm soát đồng tiền được sử dụngđúng mục đích.Trong đó, nhà tài trợ có thể yêu cầu nước nhận viện trợ thiết lậphoặc sửa đổi hệ thống thể chế và hệ thống luật pháp Cơ quan chịu trách nhiệm gồm
có các Bộ, một số cơ quan Chính phủ, trong đó Bộ Phát triển đóng vai trò chỉ đạo
Trang 31Ba Lan đặc biệt chú trọng công tác kiểm soát và kiểm toán Công tác kiểmtoán tập trung vào kiểm toán các hệ thống quản lý.Trong đó chịu trách nhiệm gồm
có kiểm toán nội bộ trong mỗi cơ quan, các công ty kiểm toán nước ngoài đượcthuê, và các dịch vụ kiểm toán của Ủy ban châu Âu.Khi công tác kiểm toán pháthiện có những sai sót, sẽ thông báo các điểm không hợp lệ cho tất cả các cơ quan
Công tác kiểm soát tập trung vào kiểm tra tình hình hợp pháp và tính hợpthức của các giao dịch, kiểm tra hàng năm và chứng nhận các khoản chi tiêu, kiểmtra cuối kỳ, kiểm tra bất thường
Chính phủ Ba Lan cho rằng, kiểm tra và kiểm toán thường xuyên không phải
để cản trở mà là để thúc đẩy quá trình dự án
Malaysia:
Ở Malaysia, vốn ODA được quản lý tập trung vào một đầu mối là Văn phòngKinh tế Kế hoạch.Trong văn phòng Kinh tế Kế hoạch, có một ban chuyên tráchquản lý ODA về lĩnh vực Giáo dục
Văn phòng Kinh tế Kế hoạch Malaysia là cơ quan lập kế hoạch ở cấp Trungương, chịu trách nhiệm phê duyệt chương trình dự án, và quyết định phân bổ ngânsách phục vụ mục tiêu phát triển quốc gia
Malaysia đánh giá cao hỗ trợ kỹ thuật từ các nhà tài trợ.Mục đích lớn nhấtcủa Malaysia là nhận hỗ trợ kỹ thuật để tăng cường năng lực con người thông quacác lớp đào tạo
Malaysia công nhận rằng họ chưa có phương pháp giám sát chuẩn mực Songchính vì vậy mà Chính phủ rất chú trọng vào công tác theo dõi đánh giá Kế hoạch theodõi và đánh giá được xây dựng từ lập kế hoạch dự án và trong lúc triển khai
Cũng tương tự như Ba Lan, Malaysia đặc biệt chú trọng đơn vị tài trợtrong hoạt động kiểm tra, giám sát Phương pháp đánh giá của đất nước này làkhuyến khích phối hợp đánh giá giữa nhà tài trợ và nước nhận viện trợ, bằngcách hài hòa hệ thống đánh giá của hai phía.Nội dung đánh giá tập trung vàohiệu quả của dự án so với chính sách và chiến lược, nâng cao công tác thực hiện
và chú trọng vào kết quả
Trang 32Hoạt động theo dõi đánh giá được tiến hành thường xuyên Malaysia cho rằngcông tác theo dõi đánh giá không hề làm cản trở dự án, trái lại sẽ giúp nâng cao tínhminh bạch, và đặc biệt là giảm lãng phí
Mỗi nước đều có những kinh nghiệp riêng có trong quản lý ODA, phụ thuộcvào nhiều yếu tố như lịch sử phát triển kinh tế, văn hóa, thể chế chính trị…v.v mà mỗinước có một quan điểm, phương pháp và mô hính quản lý ODA khác nhau Tuynhiên, mỗi kinh nghiệm của các quốc gia đều là bài học ý nghĩa đối với Việt Namtrong việc quản lý nguồn vố ODA
1.3.2 Bài học kinh nghiệm có thể vận dụng cho quản lý dự án ODA vào giáo dụcĐại học
Kinh nghiệm của thế giới cũng như thực tế quản lý dự án ODA của nước tatrong những năm qua đã cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm
Một là, nhà nước quản lý thống nhất về ODA là rất cần thiết trong hệ thống
quản lý ODA của một quốc gia Tính thống nhất trong quản lý nhà nước càng caothì hiệu quả sử dụng và quản lý của các dự án sử dụng nguồn vốn này càng cao.Nhànước cần có một cơ quan chuyên trách quản lý về ODA, được giao đầy đủ thẩmquyền, có đầy đủ năng lực để giúp nhà nước thống nhất quản lý
Hai là, kiểm tra, giám sát là hoạt động cần đặt lên hàng đầu trong các hoạt
động quản lý nguồn vốn ODA Phải hoàn thiện các quy định về báo cáo, đánh giátheo hướng minh bạch hóa, xây dựng và tổ chức hoạt động kiểm tra một cách toàndiện trên tất cả các lĩnh vực đặc biệt là khâu nội dung và tài chính
Ba là ,cần có cán bộ tốt để quản lý và triển khai thực hiện các dự án ODA.Yếu
tố con người luôn là yếu tố quan trọng trong mọi hoạt động tổ chức, quản lý
Bốn là, vốn ODA là quan trọng nhưng vốn trong nước là quyết định Đối với
các nước đang phát triển, vốn ODA là vô cùng quan trọng nhưng nó chỉ là chất xúctác cho các nước đang phát triển khai thác tiềm năng bên trong để phát triển VốnODA không thể thay thế cho nguồn vốn trong nước vì:
+ Vốn ODA chỉ được sử dụng trong khu vực hạ tầng kinh tế xã hội , tức làchỉ gián tiếp tác động đến phát triển sức mạnh của một quốc gia Điều này là tôn
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNGQUẢN LÝ DỰ ÁN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ
ĐÀO TẠO
2.1 Khái quát về nguồn vốn ODA vào ngành giáo dục ở Việt Nam
2.1.1 Vai trò của nguồn vốn ODA đối với ngành giáo dục ở Việt Nam
Nhận thức sâu sắc về vai trò của giáo dục - đào tạo với sự phát triển đấtnước, ngay trong những năm chiến tranh, bằng nhiều nguồn tài chính, Nhà nướcvẫn đảm bảo chi ngân sách tối thiểu để phát triển giáo dục, chủ động duy trì, củng
cố ổn định và phát triển giáo dục Tuy nhiên, do đất nước còn nghèo, kinh tế chưaphát triển, tổng ngân sách Nhà nước còn nhỏ nên chi ngân sách của Nhà nước chogiáo dục còn thấp so với yêu cầu của ngành giáo dục (hiện mới đáp ứng khoảng50% - 60% nhu cầu cần thiết) So với ngân sách giáo dục của một số nước, ngânsách của giáo dục Việt Nam vào loại thấp nhất trong khu vực (chỉ chiếm 15% tổngchi ngân sách) Trong khi đó tỉ lệ này hiện nay ở Trung Quốc là 16,6%; ở Nhật Bản
là 16,7%; Singapore 18,1%; Hàn Quốc 19,6%; Thái Lan và Malaysia đều trên 20%
(Nguồn: Tài liệu Hội thảo Đầu tư trong lĩnh vự Giáo dục năm 2012 – Bộ Giáo dục
và Đào tạo) Vì thế trong tình hình muốn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá
-hiện đại hoá đất nước như -hiện nay thì Việt Nam cần đẩy mạnh các chương trìnhhợp tác quốc tế trong giáo dục - đào tạo, tranh thủ mọi nguồn lực, đặc biệt là nguồnvốn ODA, qua đó có thể thấy rõ rằng nguồn vốn ODA đóng một vai trò rất quantrọng trong phát triển giáo dục ở Việt Nam
Ngay sau khi thống nhất đất nước, trong các nhà tài trợ ODA thì UNICEF làmột trong những tổ chức quốc tế đầu tiên đến giúp đỡ ngành giáo dục Sự hỗ trợ củagiai đoạn viện trợ khẩn cấp sau năm 1975 tập trung vào sự giúp đỡ về cơ sở vật chấtcho trường học như: giúp xây dựng 12 xưởng đóng bàn ghế, 78 trung tâm giáo dụclao động hướng nghiệp, xây dựng 3074 phòng học, trang thiết bị cho 38 trường cao
Trang 35đẳng sư phạm, 40 trường mẫu giáo, 41 trường trung học sư phạm, 41 trường thựchành Nhờ có sự giúp đỡ trong giai đoạn đầu này mà cơ sở vật chất ngành giáo dụcđược cải thiện đáng kể, làm tiền đề cho những sự phát triển của giáo dục sau
này(Nguồn: Tài liệu Hội thảo Đầu tư trong lĩnh vự Giáo dục năm 2012 – Bộ Giáo dục và Đào tạo).
Kể từ năm 1993 đến nay, nguồn vốn ODA tài trợ cho giáo dục tăng lên nhờ
sự tài trợ của các tổ chức viện trợ đa phương cũng như các nước viện trợ songphương Nhờ có nguồn vốn ODA mà không những quy mô giáo dục không ngừngtăng lên mà chất lượng giáo dục giáo dục cũng đã có nhiều chuyển biến tích cực,giúp thực hiện vấn đề xã hội hoá giáo dục cũng như công bằng xã hội trong giáodục Nhờ thế mà vị thế của giáo dục Việt Nam dần được nâng cao trên thế giới Nhưvậy, có thể nói nguồn vốn ODA đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết cáckhó khăn về vốn đầu tư cho giáo dục trong giai đoạn vừa qua cũng như trong giaiđoạn sắp tới Vì thế chúng ta phải biết sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này để nóphát huy tác dụng tốt hơn nữa những vai trò tích cực của nó đối với ngành giáo dụccũng như đối với toàn thể nền kinh tế nước ta
2.1.2 Khái quát về nguồn vốn ODA cho giáo dục ở Việt Nam thời gian qua
2.1.2.1 Tổng quan về nguồn vốn ODA giai đoạn 2002-2012
Nguồn vốn ODA đã được sử dụng một cách tương đối hiệu quả trong ngànhgiáo dục Theo thống kê của Bộ GD&ĐT, ngành đã tiếp nhận 196 dự án ODA vớitổng số vốn ODA sử dụng trong giai đoạn 2002-2012 là 1.820 triệu USD Nếu như80-90% ngân sách nhà nước dành cho giáo dục dùng để chi trả lương, học bổng vàxây dựng cơ bản thì phần lớn tiền từ các dự án ODA lại có thể dùng để mua sắmtrang thiết bị hiện đại, cải tiến chương trình, giáo trình, đào tạo cán bộ khoa học kỹthuật v.v Trong giai đoạn 2002 – 2012 số vốn ODA vào ngành giáo dục ở ViệtNam chiếm khoảng 5% tổng số vốn ODA vào Việt Nam, tuy số lượng còn khiêmtốn so với nhiều ngành, lĩnh vự khác tuy nhiên ODA và giáo dục đã đóng vai tròquan trọng đối với sự phát triển của ngành trong thời gian vừa qua
Trang 36Nguồn: Tổng hợ Bộ Kế hoạch Đầu tư
Hình2.1: Cơ cấu vốn ODA vào Việt Nam theo ngành 2002-2012
Nguồn vốn ODA vào ngành giáo dục cũng hết sức đa dạng, tính đa dạng đóđược thể hiện ở nhiều khía cạnh: Đa dạng từ phía các nhà tài trợ, nhà tài trợ có thể
là các quốc gia, các tổ chức quốc tế, tổ chức NGOs; Đa dạng về mục tiêu tài trợ và
đa dạng về kích cỡ dự án
2.1.2.2 Mục tiêu của các dự án ODA trong ngành giáo dục
Lượng vốn ODA hỗ trợ cho các cấp học chiếm tỷ lệ cao nhất trong các mụctiêu đầu tư, chứng tỏ sự quan tâm rất lớn của các nhà tài trợ tới việc nâng cao chấtlượng của các cấp học (40%) Sử dụng các nguồn vốn ODA theo các mục tiêu đầu
tư như trên đã góp phần nghiên cứu tổng thể và phát triển nguồn nhân lực nhằmhoạch định chiến lược giáo dục và đào tạo Việt Nam góp phần tăng cường cơ sởvật, chất trang thiết bị cho các cơ sở cũng như góp phần nâng cao chất lượng giáodục đào tạo bằng nhiều hình thức như nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộgiáo dục và nghiên cứu khoa học, cán bộ quản lý, nâng cao chất lượng đào tạo ở các
Trang 37cấp học khác nhau từ mầm non, tiểu học (TH), THCS, THPT, trung học dạy nghề(THDN), đại học và sau đại học (ĐH & SĐH), và cả lĩnh vực giáo dục phi chínhquy (GDPCQ)
Nguồn: Trung tâm Thông tin quản lý giáo dục, văn phòng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Hình 2.2: Mục tiêu đầu tư cho giáo dục giai đoạn 2002-2012
Các dự án này được dàn trải trên hầu hết đất nước, với từng vùng có từngloại dự án riêng biệt : 7 tỉnh miền Trung (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên –Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định) và một số tỉnh thuộc miền núiphía Bắc và đồng bằng sông Cửu Long (Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Sơn
La, Kon Tum, Bạc Liêu, Cần Thơ, Cà Mau) được dự án phát triển giáo dục THCScủa ADB hỗ trợ, đã xây dựng xong và đưa vào sử dụng 205 trường học với 1324phòng học; các tỉnh vùng bão đã được dự án ODA Nhật Bản hỗ trợ xây dựng 40trường TH với 500 phòng học, đồng thời đang khởi công xây dựng trường TH chomột số tỉnh miền núi; 35 tỉnh, thành phố thuộc đồng bằng sông Cửu Long, duyênhải miền Trung, miền núi phía Bắc và 5 thành phố lớn nhờ vào dự án TH của WB
mà đã đưa được 1623 phòng học vào sử dụng
Trang 382.1.2.3 Các nhà tài trợ ODA trong ngành giáo dục
Các nhà tài trợ song phương.
Các nhà tài trợ song phương tài trợ cho tất cả các cấp học.Mức giải ngân chogiáo dục của các nhà tài trợ song phương rất khác nhau Newzealand và Lucxembua
là 2 nước có mức giải ngân cao nhất, nhưng nước có lượng vốn ODA giải ngân lớnnhất thì phải kể đến Nhật Bản Bên cạnh đó cũng có những nước mà mức giải ngâncho giáo dục nhỏ hơn 1% như Đan Mạch Nhìn chung, mức giải ngân giai đoạn2000-2012 của các nước đều tăng so với giai đoạn 1993-1999 (trừ Hàn Quốc giảm10% và Australia giảm 7%) Một só nước có mức giải ngân tăng lên rất mạnh nhưVương quốc Anh (tăng gấp 10 lần từ 2% lên 21%), Cộng hòa Séc (từ 15% lên50,4%) chứng tỏ các nhà tài trợ song phương tập trung đầu tư nhiều hơn cho lĩnh
vực giáo dục của Việt Nam(Báo cáo về ODA năm 2012 – Vụ Kinh tế Đối ngoại, Bộ
Kế hoạch Đầu tư).
Trong số các nhà tài trợ song phương thì Nhật Bản là nhà tài trợ lớn nhất.Trong vòng 10 năm qua Nhật Bản đã giải ngân cho ngành giáo dục Việt Nam367,66 triệu USD chiếm khoảng 35,9% tổng số ODA mà ngành giáo dục Việt Nam
được tài trợ thông qua một số dự án chủ yếu như(Báo cáo về ODA năm 2012 – Vụ Kinh tế Đối ngoại, Bộ Kế hoạch Đầu tư).
- Dự án xúc tiến giáo dục xoá mù chữ cho người lớn vì sự phát triển cộngđồng bền vững tại vùng núi phía bắc thông qua JICA và hiệp hội UNESCO NhậtBản: trong giai đoạn 2005 – 2007 đã xây dựng 40 trung tâm giáo dục cộng đồng ở
40 xã của hai huyện Phong Thổ và Tủa Chùa thuộc tỉnh Lai Châu, nâng cao chấtlượng giáo viên xoá mù chữ và giáo viên TH thông qua đào tạo tại chức tại trungtâm giáo dục cộng đồng, đồng thời tổ chức giáo dục xoá mù và giáo dục thườngxuyên, xúc tiến các chương trình nâng cao chất lượng cuộc sống
- Dự án nâng cấp khoa nông nghiệp trường ĐH Cần Thơ với tổng số vốnviện trợ không hoàn lại là 23 triệu USD ( hình thức chìa khoá trao tay) Nhờ thế màtrường ĐH Cần Thơ đã trở thành trường có cơ sở vật chất và trang thiết bị giáo dục
Trang 39hiện đại nhất trong số các trường ĐH ở Việt Nam, năng lực đào tạo và nghiên cứukhoa học cũng đã được tăng cường giúp trường có thể hợp tác với nưóc ngoài như
Bỉ, Hà Lan
- Ngoài ra còn rất nhiều dự án khác, với các chương trình viện trợ học bổng
và tài trợ của các công ty cho ngành giáo dục ở Việt Nam.Đặc biệt có thể kể đến cácchương trình học bổng như chương trình học bổng Monbusho để nâng cao trình độchuyên môn và tay nghề của người Việt Nam Số lượng những người Việt Namđược hưởng học bổng này ngày càng tăng
Các nhà tài trợ đa phương:
Các nhà tài trợ đa phương là các tổ chức như WB, UNICEF, ADB,UNESCO… Các tổ chức này cũng đã hỗ trợ cho ngành giáo dục ở Việt Nam mộtlượng vốn không nhỏ, tăng dần lên theo các năm để xây dựng cơ sở vật chất cũngnhư đào tạo đội ngũ giáo viên Trong số đó, WB và ADB được coi là nhà tài trợ lớnnhất (chiếm khoảng 30% lượng giải ngân) Nhìn chung, mức giải ngân cho giáo dụccủa các nhà tài trợ đa phương thay đổi không đáng kể trong cả giai đoạn 2001-2012
Nguồn hỗ trợ của WB (xấp xỉ 700 triệu USD), chiếm khoảng 16,06% hỗ trợODA chung cho ngành giáo dục với một số dự án chủ yếu như: dự án giáo dục ĐHđược thực hiện trên toàn bộ hệ thống giáo dục ĐH Việt Nam với số vốn 80 triệuUSD để tăng cường tính thống nhất, độ linh hoạt, khả năng thích ứng của giáo dục
ĐH đối với nhu cầu dang thay đổi của xã hội và nền kinh tế thị trường; nâng caohiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trong giáo dục ĐH và chất lượng giảng dạy, họctập và nghiên cứu
Trang 40Bảng 2.1 Danh mục các dự án do WB tài trợ cho giáo dục Việt Nam 2004-2012
Đơn vị: Triệu USD
STT Tên dự án Nhà tài trợ Thời gian thực hiện
Tổn g kinh phí
Nguồn vốn
Việntrợ Vay Đốiứng
2 Dự án Giáo dục Đại học II WB, JICA 2007-2011 70.5 4.8 59.4 6.3
3 Chương trình hỗ trợ ngân
sách theo mục tiêu (TBS)
WB, DFID,CIDA, Bỉ, EC,New Zealand
5 Chương trình phát triển chính sách GD đại học WB 2009-2013 50.0 50.0
6 Dự án Nâng cao năng lực xây dựng kế hoạch cấp tỉnh WB 2006-2009 2.6 2.4 0.2
Nguồn: Vụ Kế hoạch tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo
Ngoài ra, ADB cũng là một nhà tài trợ lớn ( chủ yếu cho cấp THCS), nhưngcác quy định của ADB rất chặt chẽ, gây nhiều khó khăn trong quá trình sử dụngnguồn vốn ODA UNICEF, UNESCO… cũng là những nhà tài trợ quan trọng vớinhiều dự án có tổng vốn đầu tư lớn như dự án nâng cấp khoa Sinh, trường ĐH Sưphạm Hà Nội (500.000 USD), dự án nghiên cứu tổng thể ngành giáo dục (500.000USD)…v.v
2.2 Thực trạng các dự án ODA vào giáo dục Đại học Việt Nam
2.2.1 Khái quát về ODA vào Giáo dục Đại học Việt Nam 2002-2012
Trong những năm vừa qua nguồn vốn ODA đầu tư vào giáo dục cơ bản tănglên mạnh mẽ trong khi đó vốn ODA cho giáo dục Đại học có xu hướng giảm đi