Trong các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất, vốn cố định là một bộ phận quan trọng và chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng vốn kinh doanh, đặc điểm vận động của vốn cố địn
Trang 1liệu trong báo cáo thực tập tốt nghiệp được thực hiện tại Công ty cổ phần công nghệ
và dịch vụ Awas, không sao chép bất kỳ nguồn nào khác Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này
Hà Nội, tháng 05 năm 2013
Tác giả
Trang 2Định hướng phát triển 55
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU SƠ ĐỒ Triết lý kinh doanh 26
Triết lý kinh doanh 26
Định hướng phát triển 55
Định hướng phát triển 55
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Vốn là điều kiện tiên quyết đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc quản lý và sử dụng vốn trong doanh nghiệp có tác động rất lớn đến việc tăng hay giảm chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm, từ đó ảnh hưởng trực tiếp tới sự tăng hay giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Vì vậy vấn đề quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn kinh doanh đang là vấn đề bức xúc đặt ra cho tất cả các doanh nghiệp
Trước bối cảnh nền kinh tế không ngừng phát triển, hội nhập nền kinh tế thế giới, các doanh nghiệp để có thể tồn tại và phát triển trong sự cạnh tranh sôi động, bên cạnh các nhân tố như: công nghệ, nguồn nhân lực, môi trường kinh doanh…không thể không nhắc tới nhân tố quan trọng đó là vốn kinh doanh
Những năm vừa qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đó là sự ra đời của nhiều loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau và cạnh tranh với nhau một cách mạnh mẽ Có nhiều doanh nghiệp đạt được những bước tiến vượt bậc trong hoạt động kinh doanh Nhưng cũng có những doanh nghiệp lại kinh doanh kém hiệu quả, tình trạng thua lỗ liên tục, không bảo toàn được vốn dẫn đến phá sản Trên thực tế có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chủ yếu là do
sự yếu kém trong công tác quản lý và sử dụng vốn kinh doanh
Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề, sau thời gian thực tập tại công ty cổ
phần công nghệ và dịch vụ AWAS, em đã quyết định chọn đề tài: “Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần Công nghệ và dịch vụ AWAS” làm báo cáo tốt nghiệp cho mình.
Đề tài nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Chương II: Thực trạng vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
tại công ty cổ phần Công nghệ và dịch vụ Awas
Chương III: Một số giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn kinh doanh của công ty cổ phần Công nghệ và dịch vụ Awas
Trang 4Do trình độ lý luận và nhận thức còn hạn chế, thời gian thực tập có hạn, nên bài báo cáo không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp
ý kiến của thầy cô
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên Cao Thị Thùy Linh
Trang 5
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1 Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.1 Vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Vốn là một trong những điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới mọi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh Do vậy, để tiến hành bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào thì doanh nghiệp cũng cần phải có vốn Nhưng điều quan trọng hơn nữa đó là hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả thì điều trước tiên nhà quản trị phải hiểu rõ về vốn và đặc trưng của vốn
Do vậy, cần thiết phải đi sâu nghiên cứu những đặc trưng của vốn kinh doanh nói chung cũng như từng loại vốn kinh doanh nói riêng Đi sâu phân tích các chỉ tiêu tài chính đặc trưng nhằm đưa ra những đánh giá về việc hiệu quả sử dụng vốn, các nhân tố ảnh hưởng nhằm có phương hướng, giải pháp bảo toàn, cũng như phát triển vốn
Theo quan điểm của các nhà kinh tế cổ điển thì: “ Vốn là một trong những yếu tố đầu vào để sản xuất kinh doanh (đất đai, lao động, tiền,…) và là sản phẩm được sản xuất ra để phục vụ cho sản xuất (máy móc thiết bị, nguyên vật liệu,…)” Theo quan
điểm này vốn được xem xét dưới góc độ hiện vật là chủ yếu Xem xết dưới góc độ này, mặc dù đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với trình độ quản lý thấp nhưng lại chưa nói lên được đặc điểm vận động cũng như vai trò của vốn trong sản xuất kinh doanh
Còn các nhà kinh tế học nay hiện cho rằng: Vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp là một loại quỹ tiền tệ đặc biêt, nhưng tiền muốn được gọi là vốn thì phải thỏa mãn các điều kiện sau :
Thứ nhất, tiền phải đại diện cho một lượng hàng hóa nhất định Hay nói cách
khác, tiền phải đảm bảo bằng một lượng tài sản có thực
Thứ hai, tiền phải được tích tụ đến một lượng đủ lớn để có thể tiến hành hoạt
động sản xuất kinh doanh
Trang 6Thứ ba, tiền phải được vận động nhằm mục đích sinh lời.
Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách thường xuyên, liên tục, nên vốn kinh doanh của doanh nghiệp cũng không ngừng vận động, tạo ra sự tuần hoàn và chu chuyển vốn Do sự luân chuyển không ngừng của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nên cùng một lúc vốn kinh doanh thường tồn tại dưới các hình thức khác nhau ở tất cả các khâu của chu trình sản xuất kinh doanh (dự trữ,sản xuất và lưu thông) Ta có thể hình dung sự vận động của vốn sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp thể hiện qua sơ đồ sau :
Từ đó ta có thể đưa ra định nghĩa tổng quát của vốn kinh doanh như sau:
“Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản được đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”.
Đặc trưng của vốn kinh doanh trong doanh nghiệp.
Một là: Vốn phải đại diện cho một lượng giá trị tài sản nhất định Tức là vốn là
biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình và vô hình trong doanh nghiệp như: Nhà xưởng, vật kiến trúc, đất đai, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, quyền phát minh sáng chế,…Do đó để quản lý vốn kinh doanh phải quản lý chặt chẽ cả về mặt giá trị và mặt hiện vật là các tài sản trong doanh nghiệp, đặc biệt là trong giai đoạn nền kinh tế phát triển ngày nay, cùng với sự tăng lên của giá trị xã hội, nhất là sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì những tài sản vô hình ngày càng phong phú, đa dạng và có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 7 Hai là: Vốn phải được sinh lời Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể
thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là giá trị - là tiền, đồng tiền phải quay về nơi xuất phát với giá trị lớn hơn
Ba là: Vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng Vì vậy để đầu tư vào sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp
không chỉ khai thác các tiềm năng về vốn mà còn phải thu hút nguồn vốn như kêu gọi góp vốn, phát hành cổ phiếu, liên doanh
Bốn là: Vốn có giá trị về mặt thời gian (sức mua đồng tiền ở các thời điểm
khác nhau là sẽ khác nhau) Điều này rất có ý nghĩa khi bỏ vốn vào đầu tư và hiệu quả của nó mang lại, do đó khi quyết định đầu tư các doanh nghiệp cần phải xem xét đến giá trị thời gian của vốn
Năm là: Vốn phải được gắn với chủ sở hữu nhất định và phải được quản lý
sử dụng có hiệu quả Do đó để được quyền sử dụng một nguồn vốn doanh nghiệp
phải trả cho chủ sở hữu nguồn vốn đó một lượng giá trị nhất định gọi là chi phí sử dụng vốn, vốn gắn với chủ sở hữu khác nhau sẽ có chi phí sử dụng vốn khác nhau,
ưu nhược điểm khác nhau Trong quá trình sản xuất kinh doanh doanh nghiệp thường xây dựng cho mình một cơ cấu vốn tối ưu - là cơ cấu vốn có chi phí sử dụng vốn bình quân là thấp nhất
Sáu là: Vốn được quan niệm như một thứ hàng hóa và là hàng hóa đặc biệt
Vốn là hàng hóa vì nó có giá trị và giá trị sử dụng như mọi hàng hóa khác Giá trị
sử dụng của vốn là để sinh lời, khác với hàng hóa thông thường khác quyền sở hữu
và quyền sử dụng vốn có thể gắn với nhau nhưng có thể tách rời nhau, do đó chỉ có thể mua bán quyền sử dụng vốn trên thị trường
1.1.2 Phân loại vốn kinh doanh.
Để thuận tiện cho việc xử lý cũng như sử dụng vốn, người ta tiến hành phân loại vốn theo nhiều tiêu thức khác nhau Nếu căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn thì vốn kinh doanh được chia làm hai bộ phận là vốn cố định và vốn lưu động
Trang 8được coi là TSCĐ phải đồng thời thỏa mãn cả hai tiêu chuẩn cơ bản sau:
Một là: Thời gian sử dụng phải trên một năm.
Hai là: Phải đáp ứng được tiêu chuẩn về giá trị theo quy định hiện hành của
pháp luật
Ở Việt Nam QĐ206/2003 của bộ Tài Chính ban hành 12/12/2003 thì đối tượng lao động được coi là TSCĐ khi thỏa mãn 4 tiêu chuẩn sau:
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó
- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy
- Thời gian sử dụng ước tính trên một năm
- Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành (Theo quy định hiện hành mức giá trị tối thiểu để ghi nhận TSCĐ là 10 triệu VNĐ)
Trong điều kiện hiện nay hoạt động của các doanh nghiệp ngày càng phong phú và đa dạng ở nhiều lĩnh vực khác nhau nên đã làm nảy sinh các khoản đầu tư của doanh nghiệp có giá trị lớn và có tác dụng cho nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng không tạo nên tài sản có hình thái vật chất thì những khoản chi phí như vậy được gọi là TSCĐ vô hình của doanh nghiệp
Đặc điểm chung của các tài sản cố định trong doanh nghiệp là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh như hình thái vật chất và đặc tính ban đầu của tài sản cố định không thay đổi Song giá trị của nó lại được chuyển dịch dần từng phần vào giá trị sản phẩm sản xuất gây ra, bộ phần này cấu thành một yếu tố cần phải sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Để quản lý và sử dụng có hiệu quả TSCĐ thông thường người ta tiến hành phân loại theo bốn tiêu thức sau: Toàn
Theo tình hình
sử dụng
Theo mục đích
sử dụng
TSCĐ hữu hìnhTSCĐ vô hình
Nhà cửa, vật kiến trúcMáy móc, thiết bịPhương tiện vận tải, thiết bị dẫntruyềnThiết bị, dụng cụ quản lý
Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm
TSCĐ chưa cần dùng
Tài sản cố định phục vụ cho mục đích kinh doanh
TSCĐ đang dùng
TSCĐ phục vụ cho hoạt động phúc lợi,
an ninh quốc phòng
TSCĐ không cần dùngTSCĐ chờ thanh lý
Trang 9
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ phân loại TSCĐ của doanh nghiệp
Việc quản lý VCĐ và TSCĐ trên thực tế là công việc phức tạp bởi đặc điểm vận động về hiện vật và giá trị của TSCĐ đã quyết định đến đặc điểm chu chuyển của VCĐ như sau:
Một là: VCĐ tham gia nhiều chu kỳ sản xuất Có được điểm này là do TSCĐ
được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất quyết định
Hai là: VCĐ được lưu chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất
Khi tham gia vào quá trình sản xuất, một bộ phận VCĐ được luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (dưới hình thức chi phí khấu hao) tương ứng với phần giá trị hao mòn của TSCĐ
Ba là: Sau nhiều chu kỳ sản xuất VCĐ mới hoàn thành một vòng luân chuyển
Sau mỗi chu kỳ sản xuất phần vốn được luân chuyển và giá trị sản phẩm dần dần tăng lên, song phần vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ lại giảm xuống cho đến khi TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị của nó chuyển dịch hết vào giá trị sản phẩm đã sản xuất thì VCĐ mới hoàn thành một vòng luân chuyển
Trong các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất, vốn cố định là một bộ phận quan trọng và chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng vốn kinh doanh, đặc điểm vận động của vốn cố định tuân theo tính quy luật riêng nên quy mô vốn cố định, trình độ tổ chức quản lý sử dụng vốn cố định ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả vốn kinh doanh của doanh nghiệp Do đó đòi hỏi việc quản lý vốn cố định phải luôn gắn liền với quản lý hình thái hiện vật của nó là các TSCĐ của doanh nghiệp
Vốn lưu động:
VLĐ của doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư, mua sắm các TSLĐ của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được
Trang 10thường xuyên liên tục.
Trong các doanh nghiệp TSLĐ sản xuất bao gồm các loại: Nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang… TSLĐ lưu thông ở khâu lưu thông bao gồm thành phẩm chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán, … Trong quá trình sản xuất kinh doanh các TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông luôn vận động thay thế và đổi chỗ cho nhau đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách liên tục và thuận lợi
TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông luôn vận động, thay thế và chuyển hóa lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục
Khác với TSCĐ, trong quá trình sản xuất TSLĐ chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được dịch chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm Đặc điểm này đã quyết định đến sự vận động chu chuyển của vốn lưu động, đó là :
Vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất
Trong quá trình tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, VLĐ thường xuyên vận động và chuyển hóa các hình thái biểu hiện qua các giai đoạn của các chu kỳ kinh doanh
Thông thường VLĐ được phân loại theo 3 phương thức khác nhau Mỗi cách phân loại đó có tác dụng khác nhau giúp cho doanh nghiệp quản lý và sử dụng có hiệu VLĐ
Theo vai trò vốn lưu động trong quá trình sxkdTheo mối quan hệ sở hữu về vốn
Vốn vật tư hàng hóaVốn bằng tiềnVLĐ trong khâu dự trữVLĐ trong khâu sản xuấtVLĐ trong khâu lưu thôngVốn chủ sở hữu
Các khoản nợ
Trang 11Sơ đồ 1.2: Sơ đồ phân loại vốn lưu động của doanh nghiệp
Bắt đầu một vòng tuần hoàn, VLĐ ở hình thái tiền tệ được sử dụng để mua sắm đối tượng lao động trong khâu dự trữ sản xuất như nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ,… Qua giai đoạn sản xuất, vật tư được đưa vào chế tạo thành bán thành phẩm và thành phẩm Kết thúc vòng tuần hoàn, sau khi sản phẩm được tiêu thụ, VLĐ trở lại hình thái ban đầu: hình thái tiền tệ Cứ như thế các chu kỳ sản xuất lặp
đi lặp lại VLĐ liên tục tuần hoàn và chu chuyển
1.1.3 Nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Vốn là yếu tố không thể thiếu để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Có vốn thì doanh nghiệp mới có được những tài sản cần thiết để hoạt động Vì vậy một trong những vai trò của Tài chính doanh nghiệp là tổ chức huy động và sử dụng vốn nhằm đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động của doanh nghiệp Vai trò này được thể hiện ở một số điểm cơ bản sau:
- Tổ chức nguồn vốn đảm bảo đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động của doanh nghiệp
- Lựa chọn phương pháp, hình thức huy động phù hợp với tình hình của doanh nghiệp
Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp được hình thành từ các nguồn khác nhau, mỗi nguồn đều có ưu nhược điểm riêng Để tạo điều kiện thuận lợi trong công tác huy động, khai thác và quản lý vốn ta cần phải tìm hiểu đặc trưng, bản chất của từng nguồn vốn hình thành nên vốn kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó với mỗi nguồn vốn khác nhau doanh nghiệp sẽ cân nhắc, lựa chọn để khai thác và sử dụng như thế nào để chi phí sử dụng vốn bình quân là nhỏ nhất mà đem lại kết quả là cao nhất
Tùy theo mục tiêu quản lý, người ta đã phân loại nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp theo các tiêu thức chủ yếu sau:
Căn cứ vào quan hệ sở hữu vốn thì nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia làm hai loại : Vốn chủ sở hữu và Nợ phải trả
+ Vốn chủ sở hữu: Là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu doanh nghiệp bao gồm: Vốn điều lệ do chủ sở hữu đầu tư, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận để
Trang 12lại và từ các quỹ của doanh nghiệp, vốn do Nhà nước tài trợ (nếu có) Vốn chủ sở hữu được xác định là phần vốn còn lại trong tài sản của doanh nghiệp sau khi trừ đi toàn bộ nợ phải trả, đây là nguồn vốn quan trọng có tính ổn định cao.
+ Nợ phải trả: Là khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà các doanh nghiệp phải có trách nhiệm thanh toán cho các tác nhân kinh tế như nợ vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng, tiền vay từ phát hành trái phiếu, các khoản phải trả cho Nhà nước, cho người bán và cho cán bộ công nhân viên,…
Ta có: Tổng tài sản của DN = Nguồn vốn chủ sở hữu + Nợ phải trả
Cách phân loại trên giúp cho doanh nghiệp thấy được một cách tổng quát mức
độ an toàn về mặt tài chính của mình từ đó đưa ra phương sách huy động và sử dụng vốn hợp lý, hiệu quả
Căn cứ vào quyền sở hữu, phân chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành nợ phải trả và vốn chủ sở hữu
+ Vốn chủ sở hữu: là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, bao gồm số vốn góp của chủ sở hữu, phần vốn tự bổ sung từ lợi nhuận để lại, các quỹ được hình thành từ lợi nhuận và nguồn kinh phí
Vốn chủ sở hữu = Tổng tài sản – Nợ phải trả
+ Nợ phải trả: là biểu hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà chủ doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán cho các thành phần kinh tế khác nhau bao gồm: nợ phải trả từ việc vay vốn, phải trả nhà cung cấp, các khoản phải nộp Nhà nước, các khoản phải thanh toán với người lao động trong doanh nghiệp…
Tùy thuộc vào đặc điểm của từng doanh nghiệp mà có sự phối kết hợp giữa nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả trên cơ sở xem xét đến hiệu quả kinh doanh cuối cùng và sự an toàn của doanh nghiệp
Căn cứ vào phạm vi huy động vốn, chia nguồn vốn thành hai loại: Nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp
+ Nguồn vốn bên trong: Là nguồn vốn được huy động từ chính hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm:
- Nguồn lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư
- Nguồn từ khấu hao TSCĐ chưa được sử dụng vào mục đích thay thế, đổi mới TSCĐ
Trang 13Nguồn vốn bên trong thể hiện khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp Khi nguồn vốn bên trong không đáp ứng đủ nhu cầu vốn cho đầu tư thì phải tìm kiếm nguồn vốn từ bên ngoài.
+ Nguồn vốn bên ngoài: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp phải đi huy động từ bên ngoài để phục vụ hoạt động kinh doanh
Doanh nghiệp có thể lựa chọn các hình thức huy động nguồn vốn từ bên ngoài:
- Vay ngân hàng và các tổ chức tài chính khác…
- Thuê tài chính
- Nhận vốn liên doanh liên kết
- Tín dụng thương mại
- Huy động vốn bằng phát hành chứng khoán,…
Việc phân loại này giúp người quản lý có kế hoạch khai thác và tận dụng tối
đa khả năng các nguồn vốn bên trong và sử dụng hợp lý nguồn vốn bên ngoài để đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp
Căn cứ vào thời gian huy động nguồn vốn, có thể chia nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp thành hai loại là nguồn vốn dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn
+ Nguồn vốn dài hạn (hay gọi là nguồn vốn thường xuyên): Là các nguồn vốn
có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng dài hạn (lớn hơn 1 năm) vào hoạt động kinh doanh Do tính chất ổn định trong thời gian dài nên nguồn vốn này thường được sử dụng để hình thành tài sản dài hạn và một bộ phận tài sản ngắn hạn thường xuyên của doanh nghiệp
Nguồn vốn dài hạn của doanh nghiệp tại một thời điểm được xác định:
Nguồn vốn dài hạn = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn
Nguồn vốn lưu động thường xuyên: Là nguồn vốn dài hạn được sử dụng để tài trợ cho tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
Nguồn vốn lưu động thường xuyên tại một thời điểm được xác định:
Trang 14vòng một năm , bao gồm các khoản vay ngắn hạn của ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác phát sinh trong quá trình kinh doanh như nợ người cung cấp, nợ tiền lương của người lao động trong doanh nghiệp…
Việc phân loại này giúp cho người quản lý xem xét để huy động các nguồn vốn phù hợp với tính chất và thời gian sử dụng của các yếu tố cần thiết cho quá trình kinh doanh
Như vậy, để đạt được hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp một mặt phải tăng cường quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn hiện có, mặt khác phải chủ động khai thác nguồn vốn qua các kênh huy động vốn nhằm đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
1.2.1 Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.
Nền kinh tế thị trường buộc các doanh nghiệp phải hoạt động sản xuất kinh doanh tuân theo cơ chế thị trường Việc sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào không phải xuất phát từ ý muốn chủ quan của doanh nghiệp mà xuất phát từ nhu cầu đòi hỏi của thị trường theo phương châm “ Tất cả nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường một cách tốt nhất” Vì thế nó đã tạo ra tính chủ động, sáng tạo trong việc sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế, và cũng chính vì thế mà nó tạo ra một môi trường cạnh tranh quyết liệt giữa các doanh nghiệp
Doanh nghiệp nào cũng vậy, khi hoạt động trong nền kinh tế thị trường đều phải hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả Hiệu quả đó chính là thước đo cho mọi hoạt động của doanh nghiệp Hiệu quả lợi ích kinh tế đạt được từ việc sử dụng vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó hiệu quả là một chỉ tiêu chất lượng phản ánh mối quan hệ giữa kết quả thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Kết quả = Hiệu quảChi phíChỉ số hiệu quả này càng lớn hơn 1 càng tốt, nó phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh thu được biến chuyển theo chiều hướng tốt Ngược lại nếu nhỏ hơn 1
Trang 15phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng xấu đi.
Trong điều kiện hiện nay, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì yêu cầu đặt ra cho doanh nghiệp là phải sử dụng có hiệu quả lượng vốn đem vào đầu tư Tức là không những bảo toàn được vốn mà còn phải tăng được mức sinh lời của đồng vốn Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng có nghĩa là làm sao với một lượng chi phí bỏ ra thấp nhất mà thu được kết quả cao nhất
Như vậy, khi nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn ta cũng phần nào thấy được trình độ quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp vì qua chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn cũng đã chỉ ra được doanh nghiệp sử dụng chi phí có tiết kiệm hay không, hoặc với một đơn vị kết quả đạt được cần một lượng chi phí là bao nhiêu…
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Các doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh đều phải có một lượng vốn nhất định và nguồn tài trợ tương ứng Đồng vốn bỏ vào kinh doanh không được hao hụt lãng phí, mất mát mà phải luôn sinh sôi nảy nở Đồng vốn phải có khả năng sinh lời là vấn đề sống còn của doanh nghiệp Vì thế nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu khách quan của quá trình sản xuất kinh doanh để tăng thêm lợi nhuận cũng chính là để bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp Việc tăng cường tổ chức và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp xuất phát
từ những lý do chủ yếu sau
Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp
Với bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều hướng tới mục tiêu lợi nhuận Lợi nhuận là kết qủa tài chính cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh
tế các hoạt động của doanh nghiệp vì điều kiện hạch toán theo cơ chế thị trường doanh nghiệp tồn tại được hay không thể hiện ở lợi nhuận Do đó lợi nhuận được coi là một trong những đòn bẩy quan trọng, là điểm quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính doanh nghiệp vững chắc
Để đạt được lợi nhuận cao doanh nghiệp phải phối hợp đồng bộ, tổ chức thực hiện đồng bộ mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Trong đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh có ý nghĩa quan trọng Là nhà quản lý kinh doanh giỏi phải
Trang 16đảm bảo vốn cho sản xuất, đồng vốn được tận dụng triệt để và sinh lời với tỷ lệ cao nhất Điều đó phụ thuộc vào công tác tổ chức và sử dụng vốn kinh doanh có hợp lý
và hiệu quả hay không
Xuất phát từ vai trò của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh
Vốn là điều kiện tiên quyết của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Trong nền kinh tế hàng hóa tiền tệ để có được các yếu tố cần thiết cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tiền vốn nhất định Đó là
cơ sở đầu tiên cần thiết nhằm đảm bảo thực hiện được hoạt động kinh doanh theo mục tiêu đã định Ngoài ra vốn kinh doanh còn là điều kiện để sử dụng, khai thác tốt nhất mọi tiềm năng và lợi thế của doanh nghiệp phục vụ cho quá trình phát triển kinh doanh, tái sản xuất mở rộng Với vai trò quan trọng đó đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Đó là mục tiêu cần đạt tới của các nhà quản lý vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Xuất phát từ thực trạng về việc quản lý và sử dụng vốn của các doanh nghiệp hiện nay
Ở nước ta hiện nay, nhìn chung các doanh nghiệp vẫn còn đang trong tình trạng thiếu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh Song hiệu quả sử dụng vốn ở các doanh nghiệp này còn rất thấp, chủ yếu là do vốn thất thoát hay ứ đọng, tài sản
cũ kỹ, lạc hậu… Do đó để có thể phát triển và cạnh tranh được trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng vốn hợp lý và tiết kiệm đồng thời phải tăng cường công tác quản lý nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp của mình
Xuất phát từ sự tác động của cơ chế quản lý tài chính Nhà nước
Trong cơ chế bao cấp, mọi nhu cầu về vốn của doanh nghiệp đều được bao cấp qua nguồn cấp phát của Ngân sách Nhà nước và qua nguồn tín dụng với lãi suất
ưu đãi của Ngân hàng Vì thế vai trò khai thác thu hút đảm bảo vốn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trở nên thụ động và hiệu quả sử dụng vốn thấp Điều này đã thủ tiêu tính chủ động của các doanh nghiệp Nhà nước trong việc tổ chức đảm bảo vốn cho sản xuất kinh doanh
Trang 17Hiện nay các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại và cạnh tranh lẫn nhau.Trong điều kiên đó để tồn tại và cạnh tranh được doanh nghiệp cần phải năng động tìm kiếm thị trường, đầu tư đổi mới máy móc thiết bị Muốn làm được điều đó doanh nghiệp phải có vốn Trong điều kiện thị trường vốn hình thành đồng vốn có giá không chỉ dừng lại ở việc tìm nguồn vốn mà doanh nghiệp còn phải tổ chức nguồn vốn hợp lý đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh với chi phí thấp nhất.
Mặt khác, hiện nay các doanh nghiệp là đơn vị kinh tế tự chủ, tự tổ chức quá trình sản xuất kinh doanh, tự tìm hiểu thị trường, tự chủ trong việc tìm đầu vào, đầu
ra cho sản phẩm và tự chịu trách nhiệm trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình do đó để tồn tại và đứng vững chắc được thì nhất thiết sản xuất kinh doanh phải đạt hiệu quả cao đảm bảo không những duy trì bảo toàn vốn mà còn phải làm cho đồng vốn lớn lên trong quá trình sản xuất kinh doanh
Tóm lại nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, từ đó sẽ mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, góp phần tăng trưởng kinh tế của toàn xã hôi
1.2.3 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Để đánh giá tình hình tổ chức, quản lý và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp, người ta sử dụng một số chỉ tiêu cơ bản sau:
1.2.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn.
•Vòng quay toàn bộ vốn kinh doanh trong kỳ : là chỉ tiêu phản ánh vốn của doanh nghiệp trong một kỳ quay được bao nhiêu vòng
Doanh thu thuần
Vòng quay toàn bộ vốn trong kỳ =
Vốn kinh doanh bình quân trong kỳChỉ tiêu này phản ánh hiệu suất sử dụng vốn hay tài sản của doanh nghiệp trong kỳ, nó thể hiện rằng cứ một đồng vốn đem vào đầu tư trong kỳ sẽ mang lại
Trang 18mấy đồng doanh thu tiêu thụ sản phẩm Nói chung vòng quay toàn bộ vốn càng lớn thể hiện hiệu suất sử dụng vốn càng cao.
+ Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh (TSLN vốn KD): Phản ánh khả năng sinh lời của mỗi đồng vốn đầu tư vào hoạt động kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Lợi nhuận trước (sau) thuế
Tỷ suất lợi nhuận vốn =
Vốn kinh doanh bình quân
Chỉ tiêu này cho thấy trong kỳ cứ sử dụng một đồng vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì sẽ mang lại mấy đồng lợi nhuận
+ Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu(TSLN VCSH): Mục tiêu của các doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận ròng cho các doanh nghiệp đó Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ
sở hữu là chỉ tiêu đánh giá mức độ thực hiện của mục tiêu này
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu bình quân
1.2.3.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định.
•Hiệu suất sử dụng VCĐ: Là chỉ tiêu phản ánh bình quân cứ một đồng VCĐ được sử dụng sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần trong kỳ Doanh thu thuần
Doanh thu hoặc doanh thu thuần trong kỳ
•Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định: Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng VCĐ bỏ
Trang 19ra trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế.
Lợi nhuận trước (sau) thuế
Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định =
Nguyên giá TSCĐ ở thời điểm đánh giá
Hệ số này càng cao chứng tỏ TSCĐ đã cũ và cần được đầu tư đổi mới Ngược lại hệ số này càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp rất quan tâm tới đầu tư đổi mới máy móc thiết bị
•Hiệu suất sử dụng TSCĐ: Nó phản ánh cứ một đồng TSCĐ được sử dụng trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần trong kỳ
1.2.3.3 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Một trong những vấn đề quan trọng để nâng cao hiệu quả VKD của doanh nghiệp là phải thường xuyên nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ Do đó, để đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ trong doanh nghiệp có thể sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu sau:
•Tốc độ luân chuyển VLĐ: có thể đo bằng hai chỉ tiêu là số vòng quay vốn (số lần luân chuyển) và số ngày của một vòng quay vốn (kỳ luân chuyển vốn)
+ Số vòng quay VLĐ: phản ánh số vòng quay vốn được thực hiện trong một thời kỳ nhất định (thường tính trong 1 năm)
Doanh thu thuần trong kỳ
Trang 20•Mức tiết kiệm vốn lưu động: là chỉ tiêu phản ánh trong năm qua đơn vị đã tiết kiệm được hoặc lãng phí bao nhiêu đồng vốn lưu động.
Tổng mức luân chuyển VLĐ
Mức tiết kiệm (Mtk) = × (K1 - K0) 360
Trong đó: + K1 là số ngày một vòng quay vốn lưu động hiện tại
+ K0 là số ngày một vòng quay vốn lưu động năm trước
Mtk >0 là lãng phí, Mtk <0 là tiết kiệm Thông qua mức tiết kiệm, doanh nghiệp có thể nắm bắt được tình hình sử dụng vốn lưu động trong kỳ cần nghiên cứu bằng con số cụ thể, từ đó tạo điều kiện giúp doanh nghiệp khắc phục hoặc đẩy mạnh hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn lưu động
•Tỉ suất nhuận vốn lưu động: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VLĐ được sử dụng có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận (trước hoặc sau thuế thu nhập) Mức doanh lợi càng cào chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao và ngược lại
Lợi nhuận trước (sau thuế )
Tỷ suất lợi nhuận VLĐ =
VLĐ bình quân trong kỳ
Ngoài ra để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động người ta còn sử dụng một
số các chỉ tiêu khác như: Vòng quay hàng tồn kho, vòng quay các khoản phải thu,
kỳ thu tiền bình quân…
1.3 Một số phương hướng, biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng VKD của doanh nghiệp.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vốn sản xuất kinh doanh luôn vận động và không ngừng thay đổi từ hình thái này sang hình thái khác Trong quá trình vận động đó, vốn kinh doanh chịu ảnh hưởng của các nhân tố kể cả nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan Điều đó làm ảnh hưởng đến quá trình bảo
Trang 21toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Các nhân tố khách quan:
•Các chính sách vĩ mô của Nhà nước: Chính sách vĩ mô của nhà nước tác động không nhỏ đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Từ cơ chế giao vốn, đánh giá tài sản, phương pháp khấu hao, thuế lợi tức…đến chính sách cho vay bảo
hộ và khuyến khích nhập một số loại công nghệ nhất định đều có thể làm tăng hay giảm hiệu quả sử dụng TSCĐ Do đó chỉ một sự thay đổi trong chính sách kinh tế của Nhà nước cũng có thể gây ra những ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
•Biến động của thì trường đầu vào, đầu ra: Những biến động về số lượng, giá
cả, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, nhất là đối với trường hợp phải nhập ngoại, sẽ tác động rất lớn kế hoạch VCĐ, VLĐ của doanh nghiệp Bên cạnh đó không thể kể đến những biến động bất lợi của thị trường đầu ra như: khủng hoảng thừa, giảm đột ngột nhu cầu, sự mất uy tín của sản phẩm cùng loại
•Do sự phát triển mạnh mẽ của tiến bộ khoa học kỹ thuật cho ra đời hàng loạt các tài sản cùng loại với các tài sản hiện có trong các doanh nghiệp với tính năng cao hơn đã làm cho tài sản cố định của doanh nghiệp bị hao mòn vô hình dẫn đến tình trạng doanh nghiệp bị mất vốn
Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp như : Tác động của nền kinh tế có lạm phát, những rủi ro không thể lường trước được Bên cạnh những nhân tố khách quan trên, còn có các nhân tố chủ quan làm ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả sử dụng VKD của doanh nghiệp
Các nhân tố chủ quan:
Do cơ cấu đầu tư vốn bất hợp lý: Đây là nhân tố ảnh hưởng tương đối lớn đến hiệu quả sử dụng vốn bởi vì vốn đầu tư vào các tài sản không cần sử dụng chiếm tỷ trọng lớn thì không những nó phát huy được tác dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh mà còn bị hao hụt mất mát dần làm giảm hiệu quả sử dụng VKD của doanh nghiệp
- Do việc xác định nhu cầu vốn thiếu chính xác dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu vốn trong các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng
Trang 22không tốt đến hoạt động cũng như hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp thấp.
- Do ảnh hưởng của chu kỳ sản xuất: Đây là một đặc điểm quan trọng gắp trực tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn.Nếu chu kỳ ngắn, doanh nghiệp sẽ thu hồi vốn nhanh nhằm tái đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh Ngược lại nếu chu kỳ dài, doanh nghiệp sẽ có một gánh nặng là ứ đọng vốn và lãi trả các khoản vay hay các khoản phải trả
- Do trình độ quản lý của doanh nghiệp còn nhiều yếu kém, hoạt động sản xuất kinh doanh thua lỗ kéo dài làm cho vốn bị thâm hụt dần sau mỗi chu kỳ sản xuất, làm hiệu quả sử dụng VKD giảm
- Do việc sử dụng lãng phí vốn nhất là VLĐ trong quá trình sản xuất, trong quá trình mua sắm, dự trữ: như mua các loại vật tư không phù hợp với quy trình sản xuất, không đúng tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng quy đinh, không tận dụng được hết các loại phế liệu, phế phẩm cũng tác động không nhỏ đến hiệu quả sử dụng VKD của doanh nghiệp
- Do lựa chọn phương án đầu tư và kế hoạch kinh doanh: Đây là một nhân tố
cơ bản ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp đầu tư sản xuất ra các sản phẩm, lao vụ dịch vụ chất lượng tốt, mẫu mã đẹp giá thành hạ, được thị trường chấp nhận thì hiệu quả kinh tế thu được sẽ lớn Ngược lại sản phẩm hàng hóa doanh nghiệp sản xuất ra kém chất lượng, không phù hợp với nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng dẫn đến tình trạng không tiêu thụ được Đây chính
là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng ứ đọng vốn, hiệu quả vốn thấp
Từ việc tìm hiểu các nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan trên, để tìm ra phương hướng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, các nhà quản lý cần nghiên cứu, xem xét và phải có những biện phát hữu hiệu nhằm hạn chế những tác động tiêu cực, phát huy những ảnh hưởng tích cực của nhân tố
1.3.2 Một số biện pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
1.3.2.1 Các biện pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ.
- Cần phải có những phương án, kế hoạch sản xuất kinh doanh nhằm khai
Trang 23thác hiệu quả công suất máy móc thiết bị góp phần làm giảm chi phí khấu hao TSCĐ trên một đơn vị sản phẩm , hàng hóa kinh doanh, nhờ đó làm tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm bằng việc giảm giá bán, không ngừng nâng cao cường độ máy móc thiết bị, đưa thời gian sử dụng của máy móc thiết bị vào sản xuất là lớn nhất nhằm từng bước nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ theo chiều sâu và chiều rộng, tiết kiệm tới mức tối đa VCĐ, tăng nhanh vòng quay của vốn.
- Hiện nay, sự tiến bộ khoa học công nghệ rất là nhanh chóng nên cần chú trọng hơn trong công tác đổi mới, cải tạo máy móc thiết bị, sử dụng đi đôi với bảo dưỡng, sửa chữa lớn định kỳ TSCĐ kéo dài tuổi thọ của TSCĐ, có biện pháp nghiên cứu áp dụng khoa học kỹ thuật, dây chuyền công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất, đồng thời phải nâng cao trình độ sử dụng TSCĐ để nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng TSCĐ cũng như VCĐ và tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp
- Xây dựng một cách hợp lý: giá trị TSCĐ dùng trong sản xuất phải lớn hơn giá trị TSCĐ ngoài sản xuất và chờ thanh lý; giá trị TSCĐ dùng trực tiếp vào hoạt động sản xuất phải lớn hơn giá trị TSCĐ phục vụ gián tiếp cho hoạt động sản xuất
- Thực hiện tốt việc khấu hao và sử dụng quỹ khấu hao một cách hợp lý Lựa chọn phương pháp khấu hao phù hợp với từng loại TSCĐ nhằm bảo toàn được VKD đảm bảo cho quá trình tái sản xuất giản đơn và mở rộng Đồng thời doanh nghiệp cần phải có biện pháp sử dụng quỹ khấu hao đúng mục đích và linh hoạt trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh khi chưa có nhu cầu đầu tư, tái tạo TSCĐ
1.3.2.2 Một số biện pháp nâng cao sử dụng VLĐ
- Xác định chính xác nhu cầu VLĐ thường xuyên và cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh Việc xác định chính xác nhu cầu VLĐ trong từng thời kỳ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành liện tục Tránh tình trạng thiếu vốn, sản xuất bị đình trệ hoặc thừa vốn gây lãng phí Vốn lưu chuyển chậm và phát sinh nhiều chi phí không đáng có đẩy giá của sản phẩm tăng lên làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
- Tăng tốc độ luân chuyển VLĐ trong khâu sản xuất, lưu thông, tiêu thụ hàng hóa:
Trang 24+ Tăng tốc độ luân chuyển VLĐ ở khâu sản xuất bằng cách rút ngắn chu kỳ sản xuất Để làm được điều này doanh nghiệp cần đầu tư máy móc thiết bị, bố trí lao động sản xuất cân đối nhịp nhàng, dự trữ hợp lý các chi tiết phụ tùng thay thế, tránh sự chờ đợi của các khâu trong quá trình sản xuất, không để đồng vốn bị ứ đọng lãng phí trong quá trình sản xuất kinh doanh, khuyến khích phát huy sang kiến cải tiến kỹ thuật.
+ Tăng tốc độ luân chuyển VLĐ trong khâu lưu thông, để làm tốt việc này các doanh nghiệp cần phải làm tốt các hợp đồng mua nguyên vật liệu và hợp đồng tiêu thụ sản phẩm đảm bảo cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ăn khớp và liên tục, tránh ứ đọng vốn thành phẩm, tăng tốc độ luân chuyển VLĐ giảm được chi phí
+ Để thực hiện tốt công tác tiêu thụ doanh nghiệp phải chú trọng công tác
Marketing, tìm hiểu thị trường và nhu cầu hàng hóa trên thị trường, từ đó cải tiến kỹ thuật công nghệ, nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm, cải tiến mẫu mã sản phẩm… nhằm chiếm lĩnh thì trường tiêu thụ
+ Làm tốt công tác thanh toán công nợ, chủ động phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh, hạn chế tình trạng hàng bán không thu được tiền, vốn bị chiếm dụng làm phát sinh nhu cầu vốn cho tái sản xuất dẫn đến doanh nghiệp phải đi vay vốn Doanh nghiệp cần phải phòng ngừa rủi ro như: bảo hiểm, lập quỹ dự phòng tài chính
+ Tăng cường công tác kiểm tra tài chính đối với việc sử dụng tiền vốn trong tất cả các khâu dự trữ, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm Sử dụng vốn nhàn rỗi một cách linh hoạt hợp lý góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp
Trang 25CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
CÔNG NGHỆ VÀ DỊCH VỤ AWAS
2.1 Tổng quan về tổ chức hoạt động kinh doanh của công ty.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển.
- Tên doanh nghiệp: Công ty cổ phần Công nghệ và dịch vụ AWAS
- Tên giao dịch quốc tế: Awas Service and Technology Joint Stock Company
- Tên viết tắt: Awas,.Jsc
- Trụ sở chính: Số 22, ngõ 294, phố Đội Cấn, phường Cống Vị, quận Ba Đình,
• Với đội ngũ kỹ sư lành nghề, giàu kinh nghiệm đã từng trải qua các dự án lớn trên môi trường website, Công ty cổ phần Công nghệ và dịch vụ
đã đúc kết và xây dựng nên hệ thống VSP với nhiều chức năng hữu dụng cho các đơn vị, tập thể, cơ quan tổ chức lớn
• VerySmart Portal Solution đã được thử nghiệm qua các dự án:
- http://www.sanotc.com
Trang 26Mặc dù có một số vần đề còn tồn tại, nhưng những thành tựu mà công ty đã đạt được trong những năm qua chính là những tiền đề tích cực để công ty tiếp tục phát triển.
2.1.2 Tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Đặc điểm tổ chức quản lý: (Sơ đồ bộ máy quản lý của công ty cổ phần
Công nghệ và dịch vụ AWAS trang bên)
•Ban giám đốc: Gồm 1 giám đốc và 3 phó giám đốc
- Giám đốc là người đứng đầu chịu trách nhiệm trước Nhà nước, trước Công
ty về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và trực tiếp chỉ đạo mọi hoạt động của công ty
- Bên cạnh giám đốc là 3 phó giám đốc, được giám đốc ủy quyền phụ trách các lĩnh vực: kinh doanh, công nghệ và văn phòng
•Khối kinh doanh có nhiệm vụ:
-Xây dựng kế hoạch chiến lược kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ
-Quản lý, theo dõi, đánh giá hiệu quả của các sản phẩm và dịch vụ
-Tổng hợp cân đối và xây dựng quy hoạch, kế hoạch dài hạn, trung hạn và kế hoạch hàng năm
-Xây dựng và phân bổ các loại chỉ tiêu kế hoạch hàng năm về phát triển sản lượng, doanh thu, chi phí của từng sản phẩm, dịch vụ
Trang 27Sơ đồ 2.1: Sơ đồ bộ máy quản lý của công ty cổ phần Công nghệ và dịch vụ
-Điều hành, xử lý sự cố thông tin đồng thời quản lý công tác khoa học kỹ thuật, công tác biên soạn các quy chế khai thác bảo dưỡng thiết bị trong phạm vi công ty
•Khối văn phòng:
-Giúp giám đốc quản lý tài chính, vật tư, tài sản Tổ chức công tác kế toán thống kê về sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ bản theo điều lệ tổ chức kế toán của Nhà nước và chế độ kế toán của ngành
-Xây dựng và trình duyệt Giám đốc ký ban hành các quy định về công tác tài chính kế toán thống kê nội bộ của công ty
-Có trách nhiệm giúp Giám đốc nghiên cứu,tổ chức thực hiện các chế độ chính sách của Đảng, Nhà nước, của ngành về công tác tổ chức nhân sự, công tác tổ chức cán bộ, đào tạo, bảo hộ lao động, tiền lương trong toàn công ty
2.1.3 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Quy trình thiết kế và xây dựng website của công ty bao gồm các bước sau:
Bước 1: Tìm hiểu yêu cầu
Công ty sẽ trực tiếp thảo luận để xác định chính xác các yêu cầu của khách
Trang 28hàng Các chuyên viên của công ty sẽ giúp khách hàng xác định những chức năng của website.
Bước 2: Thiết kế
Bộ phận đồ họa của Công ty sẽ thiết kế những mẫu giao diện phù hợp với yêu cầu khách hàng Sau đó, khách hàng sẽ được lựa chọn, đánh giá giao diện nào là tốt nhất cho website của mình
Bước 3: Xây dựng
Xây dựng website dựa trên những yêu cầu khách hàng và giao diện đã được lựa chọn Hoặc cùng hợp tác với khách hàng để xây dựng giao diện website, xây dựng chức năng phần mềm
Bước 4: Chỉnh sửa & tùy biến chức năng
Trước khi bàn giao cho khách hàng, công ty mong nhận được ý kiến đóng góp của khách hàng để có thể chỉnh sửa sản phẩm sao cho phù hợp với công việc kinh doanh của khách hàng nhất Đảm bảo phần mềm công ty xây dựng có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng
Bước 5: Bàn giao và dịch vụ
Bàn giao website cho khách hàng và đưa vào vận hành Công ty có chế độ bảo hành miễn phí cho khách hàng trong một thời gian nhất định (thông thường là 1 năm), đảm bảo cho hệ thống được vận hành ổn định Trong thời gian này mọi yêu cầu của khách hàng đều đáp ứng ở mức ngay lập tức Các lỗi phần mềm luôn đảm bảo được khắc phục không quá 3h Thời gian hỗ trợ là 24/24
Lĩnh vực hoạt động chính:
•Cổng thông tin Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh Sở, Ban ngành
•Thiết kế website doanh nghiệp
•Quản lý công văn
•Hệ thống Quản lý thông tin thư viện
•Phần mềm Quản lý đào tạo (Đại học, Cao Đẳng, PTHH)
•Hệ thống thi trắc nghiệm trực tuyến…
•Cổng thông tin thương mại điện tử
•Gia công phần mềm (Out Source)
•Giải pháp phần mềm
Triết lý kinh doanh.
Trang 29•Nhiệt tình và tận tụy hướng tới đạt các giá trị/vị trí có đẳng cấp cao, giàu tiềm năng và thách thức, công ty cam kết đem lại cho khách hàng những sản phẩm
có chất lượng cao nhất
•Hành động hợp tác, hiệp đồng nhằm tới những lợi ích thiết thực, sự thân thiện giữa các bên, khẳng định uy tín lâu dài Chính nhờ đó các bên cùng phát triển, cùng sánh vai nhau bền vững và vươn tới sự thành công đẳng cấp
•Mục tiêu của công ty là không ngừng phát triển công nghệ mới và hoàn thiện dịch vụ, tăng cường chất lượng sản phẩm, tiến đến thỏa mãn chất lượng mong đợi của khách hàng
•Chấp nhận tất cả và ý thức được một điều: Chỉ có thời gian và hành động mới giúp được khách hàng truyền thống cũng như khách hàng tiềm năng hiểu được con đường công ty đang đi, những việc công ty đang làm và sẽ làm không phải chỉ cho riêng công ty, chỉ dành riêng cho khách hàng mà là một phần đóng góp rất lớn vào cộng đồng mạng internet Việt Nam
•Áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong quy trình quản lý và phát triển phần mềm để có thể đem lại những ưu thế vượt trội
Chiến lược phát triển.
•Đầu tư thích đáng cho nghiên cứu và phát triển (Research & Development), nắm vững toàn diện những công nghệ mới nhất
•Trở thành đối tác của các hãng phần mềm hàng đầu trong nước và thế giới (Microsoft + ORACLE + SUN)
•Xây dựng mạng lưới khách hàng sâu rộng và bền vững, từ trung ương tới địa phương
•Đẩy mạnh công tác đào tạo, chuyển giao công nghệ với các hãng đối tác
•Xây dựng chiến lược nhân sự ổn định dựa trên triết lý chia sẻ lợi nhuận, chia sẻ quyền lợi đồng đều, đẩy mạnh phát huy tối đa khả năng của các cá nhân trong tập thể
2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh trong những năm qua.
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu chủ yếu về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần Công nghệ và dịch vụ Awas 3 năm vừa qua.
Đơn vị: VNĐ
1.Doanh thu thuần 2.513.100.000 1.618.589.410 5.690.625.700
Trang 302.Tổng LN trước
3.LN sau thuế 1.175.977.736 361.442.604 -1.407.0514.TSLN vốn kinh
( Nguồn số liệu: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh – Phòng Tài chính kế toán
công ty cổ phần công nghệ và dịch vụ Awas )
Qua bảng số liệu trên ta thấy rằng, doanh thu của Công ty năm 2011 giảm so với năm 2010 cụ thể là 894.510.590 VNĐ, tương ứng với tỷ lệ giảm 35,59% Năm
2012 doanh thu tăng 4.072.036.290 VNĐ so với năm 2011, tương ứng với 251,58% Tuy nhiên, xét thấy rằng doanh thu năm 2012 tăng mạnh so với năm 2011 nhưng lợi nhuận năm 2012 lại giảm so với năm 2011 Cụ thể lợi nhuận năm 2012 giảm 362.849.655 VNĐ, tương ứng với tỷ lệ giảm là 100,39%
Doanh thu hoạt động tài chính tăng nhẹ so với năm 2011, bên cạnh đó giá vốn hàng bán 2012 tăng mạnh do chi phí đầu vào tăng Các khoản chi phí khác cũng tăng làm cho lợi nhuận khác giảm Đây là nguyên nhân làm cho tổng lợi nhuận kế toán trước thuế giảm đi so với năm 2011 Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh, tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu cũng giảm Cụ thể tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh năm 2010 là 11,99%, năm 2011 là 3,53% và năm 2012 là 0,01% Còn tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu năm 2010 là 11,99%, năm 2011 là 3,53% và năm
2012 là 0,01% Điều này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của công ty đã giảm dần từ năm 2010 đến 2012
Từ việc xem xét kết quả hoạt động kinh doanh của công ty 3 năm vừa qua cho thấy rằng mặc dù doanh thu giảm năm 2011 nhưng tăng mạnh năm 2012 Cho thấy
nỗ lực cố gắng của công ty trong việc khai thác thị trường, kịp thời nắm bắt thời cơ kinh doanh nhằm tăng doanh thu cho công ty Tuy nhiên lợi nhuận lại giảm đi, như vậy kết quả hoạt động kinh doanh của công ty có xu hướng giảm
2.2 Thực trạng về tổ chức và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty
cổ phần Công nghệ và dịch vụ Awas.
Trang 312.1.1 Những thuận lợi và khó khăn của công ty.
Thuận lợi:
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang hội nhập và phát triển đã tạo điều kiện cho công ty áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật để đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường Trình độ đội ngũ cán bộ công nhân viên ngày càng cao có điều kiện thích ứng nhanh với công nghệ hiện đại và nền kinh tế thị trường đã góp phần nâng cao hiệu quả trong công việc, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty
•Công tác quảng cáo tiếp thị bán hàng trong nước chưa mang tính chuyên nghiệp, còn chắp vá, công tác chăm sóc khách hàng còn gặp nhiều khó khăn do sự phối hợp chưa đồng bộ nhất quán
2.2.2 Tình hình tổ chức vốn kinh doanh của công ty cổ phần Công nghệ và dịch vụ Awas.
Qua xem xét bảng 2.2 ta thấy như sau:
Về vốn kinh doanh:
Tính đến ngày 31/12/2011, tổng giá trị tài sản của công ty là 10.230.066.013 VNĐ, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2010 Giá trị tài sản ngắn hạn là 10.230.066.013 VNĐ, chiếm 100% giá trị tổng tài sản Như vậy giá trị tài sản của công ty tăng là do tài sản ngắn hạn tăng
Tính đến ngày 31/12/2012, tổng giá trị tài sản của công ty là 10.423.031.159 VNĐ, tăng 1,89% so với cùng kỳ năm 2011 Trong đó giá trị tài sản ngắn hạn là 10.067.527.863 VNĐ, chiếm tỷ trọng khá lớn là 96,59% tổng giá trị tài sản Còn tài sản dài hạn là 355.503.296 VNĐ, chiếm tỷ trọng nhỏ là 3,41% Qua xem xét ta thấy
Trang 32rằng quy mô vốn tăng, do vậy cơ cấu vốn cũng có sự thay đổi Cụ thể tỷ trọng tài sản ngắn hạn giảm nhẹ từ 100% xuống 96,59%, còn tỷ trọng tài sản dài hạn tuy có tăng nhưng không đáng kể, cụ thể năm 2011 là 0%, năm 2012 tăng lên là 3,41%.