1. Trang chủ
  2. » Ngoại Ngữ

THỰC TẬP TỐT NGHIỆP VĂN BẰNG 2 NGÀNH TIẾNG ANH The interesting words, phrasese and structures

21 438 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 61,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới thiệu 2.1 Việt Nam có một hệ thống tốt để theo dõi những thay đổi về tình hình nghèo đói dựa trên một hệ thống dài hạn các cuộc Khảo sát Mức sống Dân cư KSMSDC đại diện cho toàn quố

Trang 1

PH ẦN I: V ĂN B ẢN G ỐC V À Đ ÍCH

Chapter 2

Updating Vietnam’s Poverty Monitoring

System

Vietnam’s poverty monitoring system was

updated to reflect changing economic

conditions since the first Vietnam Living

Standards Survey was conducted in 1993

New, comprehensive consumption aggregates

were created using data from the 2010

Vietnam Household Living Standards Survey

(VHLSS) The GSO-WB poverty line was

updated using these aggregates: the new line

is 653,000 VND per person per month,

yielding a national poverty rate of 20.7

Trang 2

A Introduction

2.1 Vietnam has a robust system for

monitoring changes in poverty, based on a

long-running system of nationally

representative, comparable Vietnam

Household Living Standards Surveys

(VHLSS); consistent estimates of household

welfare; and a poverty line that has been kept

constant in real purchasing power since the

mid-1990s, when it was agreed between the

General Statistics Office (GSO), the World

Bank (WB), and other development

partners.10 Consistency in methodology and

comparability over time are two of the great

strengths of Vietnam’s poverty monitoring

system However, by 2009, it had become

clear that key aspects of Vietnam’s poverty

monitoring system were outdated The

methods used to measure household welfare

and construct the original GSO-WB poverty

line were based on economic conditions and

the consumption patterns of poor households

in the early 1990s

Conditions have changed: Vietnam today is

very different from Vietnam in the 1990s The

economy is more diversified and better

integrated in the global economy

Connectivity and access to markets have

improved, even for households living in more

remote rural areas In addition, the production

structure of households has changed:

households have access to a much wider array

of consumer goods, and they purchase more

food from the market rather than producing it

at home Incomes are more diversified, and

there has been a rapid shift out of agriculture

and into industry and services These changes

affect households across the income

distribution Especially important for

determining a poverty line, the consumption

patterns of poor households today are

substantially different from those of the

1990s

2.2 This chapter describes revisions and

updates to Vietnam’s poverty monitoring

system, including improvements to the 2010

VHLSS (and subsequent rounds), revisions to

the definition of household welfare to make it

a more comprehensive measure of well-being,

new indexes to adjust for spatial cost-of-living

differences, and an update to the original

A Giới thiệu

2.1 Việt Nam có một hệ thống tốt để theo dõi những thay đổi về tình hình nghèo đói dựa trên một hệ thống dài hạn các cuộc Khảo sát Mức sống Dân cư (KSMSDC) đại diện cho toàn quốc và đảm bảo khả năng so sánh; các ước lượng nhất quán về phúc lợi hộ gia đình,

và một chuẩn nghèo tính theo sức mua tương đương thực tế được giữ nguyên từ giữa thập

kỷ 1990, khi nó được TCTK, NHTG và các cơ quan phát triển khác nhất trí sử dụng.10 Tính nhất quán về phương pháp luận và khả năng

so sánh qua thời gian là hai điểm mạnh lớn nhất của hệ thống theo dõi nghèo của Việt Nam Tuy nhiên, đến năm 2009, có thể thấy rõ rằng những khía cạnh chính trong hệ thống theo dõi nghèo của Việt Nam đã trở nên lỗi thời Các phương pháp được sử dụng nhằm đo lường phúc lợi hộ gia đình và nhằm xây dựng chuẩn nghèo ban đầu của TCTK - NHTG được đưa ra trên cơ sở những điều kiện về kinh tế và mô hình tiêu dùng của các hộ nghèo vào đầu thập kỷ 1990 Những điều kiện đã thay đổi: Việt Nam của ngày hôm nay rất khác

so với Việt Nam của thập kỷ 1990 Nền kinh

tế trở nên đa dạng hơn và hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu Khả năng kết nối và tiếp cận thị trường đã được cải thiện ngay cả đối với các hộ sống ở các khu vực nông thôn vùng sâu vùng xa Cơ cấu sản xuất của các hộ gia đình đã thay đổi: hiện nay các hộ gia đình được tiếp cận với nhiều loại hàng hóa tiêu dùng hơn rất nhiều, và họ mua nhiều lương thực thực phẩm từ chợ hơn là tự sản xuất tại nhà Thu nhập đa dạng hơn và có sự chuyển dịch nhanh chóng từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ Sự thay đổi này ảnh hưởng đến các hộ thông qua sự phân bổ thu nhập Đặc biệt quan trọng trong xác định một chuẩn nghèo là mô hình tiêu dùng của các hộ nghèo ngày nay khác biệt về căn bản so với những năm 90

2.2 Chương này mô tả việc sửa đổi và cập nhật hệ thống theo dõi nghèo ở Việt Nam, bao gồm cả việc cải tiến khảo sát mức sống 2010 (và các vòng tiếp theo), xem lại định nghĩa về phúc lợi hộ gia đình để nó trở thành một thước

đo toàn diện hơn về mức sống, sử dụng các chỉ số mới để điều chỉnh sự khác biệt về giá sinh hoạt theo vùng lãnh thổ và cập nhật chuẩn nghèo ban đầu của TCTK - NHTG Phương pháp luận dùng để xây dựng chuẩn

Trang 3

GSO-WB poverty line The methodology to

construct the new poverty line is consistent

with the original GSO-WB methodology, but

is based on new information from the 2010

VHLSS.11 The revisions described in this

chapter result in a higher estimate of poverty

for 2010 than the original GSO-WB poverty

line would have yielded, and, particularly for

rural areas and areas with high numbers of

ethnic minority households, higher poverty

estimates compared to official estimates

Reasons for these differences are also

discussed

2.3 The chapter also describes a new

methodology for estimating “subjective”

poverty lines, drawing on experimental

questions introduced in the 2010 VHLSS

Poverty estimates based on the subjective

poverty line are very similar to those using the

updated GSO-WB poverty line

2.4 The 2010 VHLSS can only give reliable

estimates of poverty at the national level, for

urban and rural areas and by region This is

due to sample size and design of the sample of

the VHLSS, which includes information on

both expenditures and incomes Chapter 3

describes a small-area estimation (poverty

mapping) methodology that can be used to

estimate poverty at lower levels of

disaggregation—in Vietnam’s case, for

provinces and districts—and presents new

district- and provincial-level poverty maps

based on the 2009 Population and Housing

Census and 2010 VHLSS

B Rethinking Poverty and Poverty

Measurement in Vietnam

2.5 Poverty is defined as unacceptable

deprivation in well-being But well-being can

encompass a multitude of dimensions, and

there are many different views about what

constitutes an acceptable (or unacceptable)

standard of living In many countries, setting

(or revising) the poverty line involves active

public debate and a careful balancing of

political and scientific considerations The

enormous public response, in India and

internationally, to the Indian Planning

Commission’s announcement of new poverty

estimates and revised urban and rural poverty

lines provides a recent example of the

challenges inherent in updating poverty lines,

with some interesting parallels to current

nghèo mới phù hợp với phương pháp luận ban đầu của TCTK - NHTG nhưng dựa trên các thông tin mới từ Khảo sát mức sống 2010.11 Những sửa đổi được mô tả trong chương này dẫn tới các ước lượng về nghèo đói của năm

2010 cao hơn so với các ước lượng nếu tính theo chuẩn nghèo ban đầu của TCTK - NHTG Đặc biệt, đối với các khu vực nông thôn và khu vực có nhiều hộ dân tộc thiểu số, các ước lượng về nghèo có mức cao hơn so với các ước lượng chính thức Những lý do gây nên những khác biệt này cũng được đề cập

2.3 Chương này cũng mô tả một phương pháp luận mới để ước lượng chuẩn nghèo

“chủ quan” dựa trên các câu hỏi thử nghiệm trong Khảo sát mức sống 2010 Các ước lượng về nghèo đói theochuẩn nghèo chủ quan rất giống với các ước lượng về nghèo đói theo chuẩn nghèo mới của TCTK - NHTG.2.4 Khảo sát mức sống 2010 chỉ có thể cung cấp các ước lượng đáng tin cậy về nghèo đói ở cấp quốc gia, khu vực thành thị và nông thôn và vùng Đó là do cỡ mẫu và thiết kế mẫu của Khảo sát mức sống, mà mẫu này bao gồm thông tin về cả chi tiêu và thu nhập Chương 3 mô tả phương pháp luận về ước lượng nhỏ (lập bản đồ nghèo) có thể dùng để ước lượng nghèo đói ở các mức phân tổ chi tiết hơn – trong trường hợp của Việt Nam là cấp tỉnh và cấp huyện – và đưa ra bản đồ nghèo mới của cấp tỉnh và cấp huyện dựa trên kết quả của Tổng điều tra Dân số và Nhà ở

Ở nhiều nước, việc thiết lập (hay sửa đổi) chuẩn nghèo thường kéo theo những tranh luận sôi nổi của công chúng và việc cân bằng

kỹ lưỡng giữa những cân nhắc về chính trị và khoa học Vô số ý kiến phản hồi của công chúng tại Ấn Độ và quốc tế đối với tuyên bố của Ủy ban Kế hoạch Ấn Độ về những ước lượng nghèo mới và các chuẩn nghèo thành thị và nông thôn sửa đổilà một ví dụ gần đây

về những thách thức cố hữu trong việc cập

Trang 4

discussions in Vietnam Many in India feel

that the new official poverty lines are far too

low (box 2.1)

Box 2.1 Do India’s New Official Poverty

Lines Measure Up?

What are Lessons for Vietnam?

The Indian Planning Commission released a

new set of poverty estimates and new poverty

lines in March 2012 Many observers believe

the new poverty lines are much too low—29

rupees per person per day for rural households

(just under US$1.25 2005 Purchasing Power

Parity [PPP]) and 32 rupees per person per

day for urban households (US$1.65 2005

PPP) The Planning Commission’s new

estimates showed a 7-percentage-point drop in

poverty, the largest drop since the official

poverty rate was first calculated in 1962 The

announcement caused a furor in the Indian

and international press: Indian poverty lines

have always been low by international

standards, and the new lines were seen as a

missed opportunity to rectify this

One important criticism is that the nutrition

standards embedded even in India’s new lines

continue to be based on the sparse diet that the

poor consumed in the 1973–74 National

Sample Survey (NSS) Like in Vietnam,

consumption patterns in India have changed

substantially since these standards were set

Another criticism is that India’s new poverty

lines do not “constitute an adequate definition

of poverty because they do not take into

account malnutrition, sanitation, drinking

water, housing and health needs” (Gill 2012)

Vietnam’s updated 2010 poverty lines take

full account of housing, durables, nutrition,

clean water and sanitation, and health needs

If India is using the same methodology it used

in the past, why the big controversy now?

Over time, the Indian poverty line has

increasingly been used as a cut-off to

determine eligibility for India’s social welfare

schemes and targeted poverty reduction

programs

People who fall below the poverty line are

eligible for a range of social benefits; states

receive funds for some poverty reduction

programs (for example, the Public

Distribution System, which distributes

nhật chuẩn nghèo, với một vài điểm tương đồng thú vị với các cuộc thảo luận gần đây ở Việt Nam Nhiều người ở Ấn Độ cho rằng các chuẩn nghèo chính thức mới là quá thấp (Hộp 2.1)

Hộp 2.1 Các Chuẩn nghèo mới của Ấn Độ có

đo lường tăng lên không?

Đâu là Bài học cho Việt Nam?

Ủy ban Kế hoạch Ấn Độ đã công bố một bộ các ước lượng mới về nghèo đói và chuẩn nghèo mới vào tháng 3 năm 2012 Nhiều nhà quan sát cho rằng chuẩn nghèo mới là quá thấp –29 rupi/người/ngày đối với các hộ gia đình nông thôn (dưới 1,25 USD theo Sức mua tương đương2005) và 32 rupi/người/ngày đối với các hộ gia đình thành thị (1,65 USD theo sức mua tương đương 2005) Số liệu ước tính mớicủaỦy ban Kế hoạch cho thấy tỉ lệ nghèo

đã giảm 7 điểm phần trăm, mức giảm lớn nhất

kể từ khi tỷ lệ nghèo chính thức lần đầu tiên được tính toán vào năm 1962 Việc công bố đã gây ra một cuộc tranh cãi sôi nổi trên báo chí

Ấn Độ và quốc tế: chuẩn nghèo của Ấn Độ luôn thấp so với tiêu chuẩn quốc tế, vàcác chuẩn nghèo mới được nhìn nhận như một cơ hội đã bị bỏ lỡ để khắc phục tình trạng này.Một chỉ trích quan trọng là các tiêu chuẩn dinh dưỡng được đưa vào ngay cả trong các chuẩn nghèo mới của Ấn Độ vẫn dựa trên chế

độ ăn uống nghèo nàn mà người nghèo tiêu thụ trong Khảo sát Mẫu Quốc gia 1973-1974 (NSS) Giống như Việt Nam, mô hình tiêu dùng ở Ấn Độ đã thay đổi đáng kể kể từ khi các tiêu chuẩn này được thiết lập Một chỉ trích khác là các chuẩn nghèo mới của Ấn Độ không “tạo nên một định nghĩa đầy đủ của nghèo đói, bởi vì chúng không tính đến các vấn đề suy dinh dưỡng, vệ sinh, nước uống, nhà ở và các nhu cầu sức khỏe” (Gill, 2012) Chuẩn nghèo cập nhật năm 2010 của Việt Nam đã tính đến đầy đủ các vấn đề về nhà ở,

đồ dùng lâu bền, dinh dưỡng, nước sạch, vệ sinh, và các nhu cầu sức khỏe

Nếu Ấn Độ đang sử dụng cùng một phương phápluận mà họ đã sử dụng trong quá khứ thì tại sao bây giờ lại có cuộc tranh luận lớn như vậy? Chuẩn nghèo của Ấn Độ ngày càng được

sử dụng như là ngưỡng để xác định điều kiện hưởng lợi áp dụng cho các chương trình phúc lợi xã hội của Ấn Độ và các chương trình mục tiêu giảm nghèo

Những người sống dưới chuẩn nghèo thì đủ

Trang 5

subsidized rice to poor households) according

to the number of residents who fall below the

official poverty line So where the poverty

line is set is not just a statistical artifact, but an

important policy decision that determines the

eligibility of millions of families for public

support The Government of India cannot

afford a poverty cut-off that is too high, and—

as the controversy continues—it appears that

the people of India will not accept a poverty

cut-off that is too low

In a recent article in the Hindustan Times,

Abhijit Banerjee, Ford Foundation

International Professor of Economics at MIT,

suggested that the way out of the current

muddle is to have “two different poverty lines:

an ethical poverty line to describe the standard

we should aspire to … and an administrative

poverty line which tells us how to best target

our limited resources As [India] gets richer,

perhaps the latter will be raised till it is

effectively the same as the former But right

now we don’t want to hurt the poorest [by

spreading resources too thinly] in the name of

being more aggressive about poverty”

(Banerjee 2011)

Source: Banerjee 2011; Gill 2012

2.6 Vietnam’s official poverty lines for the

2011–2015 Socio-economic Development

Plan are more akin to Banerjee’s concept of an

administrative poverty line: they are designed

to help target limited public resources to those

most in need, and should be judged by that

standard The updated GSO- WB poverty line

better captures what Banerjee refers to as an

ethical poverty line; it reflects what Vietnam

should aspire to achieve The good news is

that compared to the situation in the 1990s,

Vietnam’s administrative and monitoring

poverty lines are not very far apart Moreover,

the official poverty lines help to target poverty

reduction policies and programs to those most

in need, and thus help Vietnam achieve its

điều kiện được hưởng một loạt các phúc lợi xã hội; các bang nhận được kinh phí cho một số chương trình giảm nghèo (ví dụ Hệ thống Phân phối Công cộng phân phối gạo trợ cấp cho hộ nghèo) căn cứ theo số lượng dân cư sống dưới chuẩn nghèo chính thức Vì vậy, chuẩn nghèo được thiết lập ở đây không chỉ là một sản phẩm thống kê, mà còn là một quyết định chính sách quan trọng xác định điều kiện hợp lệ củahàng triệu gia đình để được hưởng

hỗ trợ của nhà nước Chính phủ Ấn Độ không

có đủ khả năng ngân sách để có thể áp dụng một chuẩn nghèo quá cao và - khi cuộc tranh cãi vẫn tiếp tục - thì xem ra người dân Ấn Độ

sẽ không chấp nhận một chuẩn nghèo quá thấp

Trong một bài báo gần đây trên Thời báo Hindustan, Abhijit Banerjee, Giáo sư kinh tế của chương trình Ford Foundation International ở MIT cho rằng cách thoát ra khỏi tình trạng lúng túng hiện nay là phải có

“hai chuẩn nghèo khác nhau: một chuẩn nghèo theo nguyên tắc đạo đức để mô tả tiêu chuẩn chúng ta mong muốn đạt được… và một chuẩn nghèo hành chính cho chúng ta biết cách tập trung nguồn lực vốn hạn chế của chúng ta một cách tối ưu nhất Khi Ấn Độ trở nên giàu có hơn, có lẽ chuẩn nghèo hành chính sẽ được nâng lên bằng chuẩn nghèo theo nguyên tắc đạo đức Nhưng hiện tại chúng tôi không muốn làm ảnh hưởng tới những người nghèo nhất [bằng việc phân bố nguồn lực quá mỏng] dưới danh nghĩa giải quyết vấn đề nghèo đói một cách triệt để hơn” (Banerjee,2012)

Nguồn: Banerjee 2011; Gill 2012

2.6 Chuẩn nghèo chính thức của Việt Nam cho giai đoạn Kế hoạch Phát triển KT-

XH 2011-2015 giống với khái niệm về ‘chuẩn nghèo hành chính’ của Banerjee hơn: đó là chuẩn nghèo được thiết kế nhằm tập trung nguồn lực công có hạn cho những người cần nhất, và phải được đánh giá theo chuẩn đó Chuẩn nghèo được cập nhật của TCTK - NHTG nắm bắt tốt hơn cái mà Banerjee gọi là chuẩn nghèo “mang tính đạo đức”: nó phản ánh những gì mà Việt Nam cần mong muốn đạt được Tin tốt lành ở đây là so với tình hình

ở thập kỷ 1990 thì chuẩn nghèo hành chính và chuẩn nghèo dùng để theo dõi của Việt Nam không quá cách xa nhau Hơn nữa, chuẩn nghèo chính thức giúp tập trung các chính

Trang 6

poverty reduction goals.

Capturing Multiple Dimensions of Poverty

2.7 Measuring poverty is a challenging and

complicated task, because poverty itself is

complex and has many dimensions This

chapter focuses primarily on conventional

approaches, based on absolute poverty lines

and consumption measures of welfare While

familiar to the public and policy makers in

Vietnam, the standard methodology may not

fully capture other important dimensions of

well-being For example, households living in

large, prosperous cities like Hanoi or Ho Chi

Minh City may have access to better-quality

schools and health facilities than households

in other regions But students attending

higher-quality schools do not necessarily face

higher school fees; in fact, households living

in areas with poor schools may have to pay

more, for instance, on extra tutoring to

compensate for quality differences Poor

households that live in areas with low-quality

schools but cannot afford to pay more may be

at an additional disadvantage not captured in

standard poverty analysis Similarly, two

households that look the same in terms of

schooling and skills endowments may not

earn the same income if one of the households

faces discrimination in hiring—due to

ethnicity or gender—that limits future

prospects

2.8 A variety of economic and social factors

—some subtle and difficult to capture in

standard poverty analysis—must be examined

to get a full picture of poverty Conventional

poverty measures provide an important

starting point for analyzing other dimensions

of poverty For example, the profile of poverty

presented in Chapter 3 looks explicitly at

other dimensions of poverty, for example,

deprivations in education and skills, poor

health status, and deprivations in access to

basic services such as clean water and

sanitation The aim of multitopic surveys of

living conditions (like the VHLSS) is to

facilitate the measurement and analysis of

poverty in multiple dimensions The Human

Development Index (HDI) described in

Chapter 1 is a composite measure of

well-sách và chương trình giảm nghèo cho các đối tượng thực sự cần nhất, vì vậy giúp Việt Nam đạt được các mục tiêu giảm nghèo

Nắm bắt Nghèo Đa chiều

2.7 Đo lường nghèo là một nhiệm vụ đầy thách thức và phức tạp bởi bản thân khái niệm nghèo đã rất phức tạp và có nhiều chiều cạnh Chương này tập trung trước hết vào cách tiếp cận truyền thống dựa trên các chuẩn nghèo tuyệt đối và thước đo tiêu dùng của phúc lợi Mặc dù phương pháp luận chuẩn đã trở nên quen thuộc với công chúng và các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam, phương pháp này

có thể không nắm bắt đầy đủ các khía cạnh quan trọng khác của phúc lợi Chẳng hạn, các

hộ sống ở những thành phố lớn và phồn vinh như Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh có thể được tiếp cận các trường học và cơ sở y tế với chất lượng tốt hơn những hộ ở những khu vực khác Nhưng không phải học sinh nào học trường tốt hơn cũng phải đóng học phí cao hơn Thực tế là, những hộ sống ở nơi có trường học kém hơn có thể lại phải chi trả nhiều hơn, ví dụ như học thêm để bù đắp cho chất lượng giáo dục ở trường Những hộ nghèo sống ở nơi có trường học chất lượng thấp nhưng không có tiền để chi trả thêm thì

có thể phải đối mặt với những bất lợi khác nữa

mà phân tích nghèo tiêu chuẩn không nắm bắt được Tương tự, hai hộ có thể giống nhau về trình độ học vấn và kĩ năng nhưng có thể thu nhập lại không giống nhau nếu một trong hai

hộ này bị đối xử phân biệt trong công việc -

do dân tộc hoặc giới tính - làm hạn chế triển vọng tương lai của họ

2.8 Rất nhiều các nhân tố kinh tế và xã hội - một số rất tinh tế và khó nắm bắt trong phân tích nghèo tiêu chuẩn - cần được xem xét nhằm có được bức tranh đầy đủ về nghèo đói Các thước đo nghèo truyền thống đưa ra điểm xuất phát quan trọng để phân tích khía cạnh khác của nghèo Ví dụ, bức tranh về nghèo đói được trình bày trong Chương 3 chủ yếu dựa trên các khía cạnh khác của đời sống, chẳng hạn như nghèo do không được học hành và không có trình độ/kĩ năng, sức khỏe kém, và thiếu tiếp cận các dịch vụ cơ bản như nước sạch và vệ sinh Mục đích của các cuộc khảo sát đa chủ đề vê điều kiện sống (như Khảo sát mức sống dân cư) là nhằm tạo thuận lợi cho việc đo lường và phân tích nghèo đói ở nhiều chiều cạnh Chỉ số Phát triển Con người

Trang 7

being, as is the new Child Poverty Index (used

in Chapter 3) and the broader

Multidimensional Poverty Index (MPI)

proposed by several UN organizations

2.9 Additional information on other

dimensions of deprivation experienced by the

poor can be identified by soliciting their

perceptions and insights through discussions

and open-ended interviews A number of

Participatory Poverty Assessments (PPAs)

have been carried out over the years in

Vietnam, including three new field studies

carried out in preparation for this report (see

Chapter1) Findings from qualitative studies

are included throughout the report These

studies let the poor themselves give voice and

context to the story that emerges from more

conventional statistical analyses—poor men

and women in Vietnam highlight concerns

about lack of skills and education, access to

land and job security They also speak about

poverty in terms of risks—linked to health

shocks, aging, and disability; job loss and

uncertain wages; and weather shocks that

destroy crops and affect rural incomes Many

of the poor are highly indebted, and risk can

undermine new economic initiatives The

importance of social identity is also evident;

in rural areas, minority status was often

equated with being poor

C Updating Methods for Measuring

Poverty

2.10 Two important decisions are required in

order to measure poverty: (a) how to measure

welfare—in income or expenditure terms, and

(b) what poverty threshold or line to use Both

issues have been the subject of debate in

Vietnam, among both local researchers and

policy makers and in the international

community (box 2.2)

2.11 The GSO-WB approach uses per capita

expenditures from the VHLSS as a measure of

household welfare The poverty line is

constructed using a standard Cost of Basic

Needs (CBN) approach, based on the

observed consumption behavior of the poor,

as reported in the VHLSS It includes an

(HDI) được nêu trong Chương 1 là một chỉ số phức hợp về phúc lợi; cũng như Chỉ số Nghèo Trẻ em (được sử dụng trong Chương 3) và bao quát rộng hơn là Chỉ số Nghèo đa chiều (MPI)

do một vài tổ chức Liên hợp quốc đề xuất.2.9 Có thể xác định những thông tin bổ sung về các khía cạnh khác của sự thiếu thốn

mà người nghèo phải trải qua bằng cách khai thác nhận thức và cách nhìn nhận của họ thông qua các cuộc phỏng vấn mở Nhiều cuộc Đánh giá Nghèo có sự tham gia của người dân (PPAs) đã được thực hiện trong những năm qua tại Việt Nam, bao gồm 3 lĩnh vực nghiên cứu mới được thực hiện để làm đầu vào cho báo cáo này (xem Chương 1) Kết quả từ các nghiên cứu định tính cũng được đưa vào báo cáo Những nghiên cứu này cho phép người nghèo tự lên tiếng và nêu bối cảnh cho câu chuyện được đưa ra từ các phân phân tích thống kê truyền thống– phụ nữ và đàn ông nghèo ở Việt Nam đã nêu bật những quan ngại về việc thiếu kĩ năng và học vấn, không

có công việc tốt và việc làm ổn định, không có đất đai và an ninh việc làm Đồng thời họ cũng nói về nghèo đói xét từ khía cạnh rủi ro – đó là những rủi ro liên quan đến cú sốc về sức khỏe, tuổi tác và khuyết tật; mất việc làm

và lương không ổn định, thiên tai hủy hoại mùa màng và ảnh hưởng tới thu nhập ở nông thôn Nhiều hộ nghèo ngập trong nợ nần, và rủi ro có thể hủy hoại những sáng kiến kinh tế mới Tầm quan trọng của sự nhận dạng xã hội cũng được thể hiện rõ nét - ở nông thôn cứ nói đến đồng bào dân tộc thiểu số là người ta liên

hệ ngay đến nghèo đói

C Cập nhật phương pháp đo lường nghèo

2.10 Cần có hai quyết định quan trọng để

đo lường nghèo: (a) làm thế nào để đo lường mức phúc lợi – xét về thu nhập hoặc chi tiêu -

và (b) nên sử dụng ngưỡng hoặc chuẩn nghèo nào Cả hai vấn đề trên đã trở thành chủ đề gây tranh cãi ở Việt Nam giữa những nhà nghiên cứu trong nước và các nhà hoạch định chính sách cũng như trong cộng đồng quốc tế (Hộp 2.2)

2.11 Cách tiếp cận của Tổng cục Thống kê

- Ngân hàng Thế giới sử dụng chi tiêu bình quân đầu người từ Khảo sát mức sống Chuẩn nghèo được xây dựng theo cách tiếp cận Chi phí cho Các Nhu cầu Cơ bản (CBN), dựa trên hành vi tiêu dùng quan sát được của người nghèo, như đãkhai báo trong Khảo sát mức

Trang 8

allowance for food and nonfood spending

The food allowance (or food poverty line) is

based on a single reference food basket for

poor households, scaled up or down as needed

to meet caloric norms and priced using a

vector of national food prices An additional

allowance is added for essential nonfood

spending, for example, on fuel, housing,

schooling, health care, and clothing based on

nonfood spending of households whose food

spending is equal to the food poverty line

(World Bank 1999)

2.12 Vietnam carried out two Living

Standards Surveys in the 1990s—the 1992–93

VLSS and the

1997–98 VLSS—with extensive technical

support from international partners Vietnam

then carried out a series of

government-financed Vietnam Household Living

Standards Surveys (VHLSS) (in 2002, 2004,

2006, and 2008) using a similar approach to

the earlier VLSS The design of the core

expenditure and income modules of the

VHLSS questionnaires were kept broadly

consistent with similar modules of the VLSS

modules, with the specific and laudable aim of

maintaining comparability over time As

noted, comparability has been one of the great

strengths of Vietnam’s poverty data

2.13 But by 2010, strict comparability was

coming at too high a cost The 2010 VHLSS

and related welfare aggregates represent a

break with the 2002–2008 VHLSS series in

three important respects: (a) the 2010 VHLSS

was based on a new master sample based on

the 2009 Housing and Population Census,

including a new set of communes and

enumeration areas; (b) the VHLSS household

questionnaire was substantially revised

(including revisions to the core consumption

module) and reduced in length; and (c) an

updated methodology was used to construct a

more comprehensive consumption (welfare)

aggregate These improvements are

summarized here and described in greater

sống Chuẩn này bao gồm các khoản chi tiêu cho lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm Khoản chi tiêu cho lương thực, thực phẩm (hay chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm) được dựa trên một rổ lương thực, thực phẩm tham chiếu duy nhất đối với hộ nghèo, được tăng lên hoặc giảm xuống khi cần thiết

để đáp ứng định mức calo và được qui ra trị giá/chi phí dựa theo vec-tơ giá lương thực, thực phẩm quốc gia Một khoản bổ sung được phân bổ cho chi tiêu lương thực, thực phẩm,

ví dụ: nhiên liệu, nhà ở, học hành, chăm sóc sức khỏe và quần áo, dựa trên chi tiêu phi lương thực, thực phẩm của các hộ có mức chi tiêu cho lương thực, thực phẩm bằng với chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm (NHTG, 1999)

2.12 Việt Nam thực hiện hai cuộc Khảo sát mức sống trong những năm 90 – Khảo sát Mức sống 1992-

93 và 1997-98 - với sự hỗ trợ kỹ thuật to lớn

từ các đối tác quốc tế Sau đó Việt Nam thực hiện một loạt các cuộc Khảo sát Mức sống Hộ Gia đình Việt Nam (năm 2002, 2004, 2006 và 2008), sử dụng phương pháp tiếp cận tương tự như trong các cuộc Khảo sát mức sống trước

đó Thiết kế mô-đun chính về chi tiêu và thu nhập trong bảng câu hỏi điều tra trong Khảo sát Mức sống Hộ Gia đình Việt Nam nói chung được đảm bảo nhất quán với các mô-đun tương tự trong Khảo sát mức sống, với mục tiêu rất cụ thể và được hoan nghênh là duy trì khả năng so sánh theo thời gian Như

đã lưu ý, khả năng so sánh được coi là một trong những điểm mạnh lớn của dữ liệu nghèo

ở Việt Nam

2.13 Tuy nhiên đến năm 2010, việc đảm bảo khả năng so sánh một cách chặt chẽ lại đòi hỏi chi phí quá cao Khảo sát Mức sống

Hộ Gia đình Việt Nam 2010 và các số liệu tổng hợp về phúc lợi có liên quan cho thấy có

sự đứt gãy so với loạt Khảo sát Mức sống Hộ Gia đình Việt Nam 2002-2008 ở ba khía cạnh quan trọng: (a) Khảo sát Mức sống Hộ Gia đình Việt Nam 2010 được dựa trên một mẫu chủ mới trên cơ sở Tổng Điều tra Nhà ở và Dân số năm 2009), bao gồm một tập hợp các

xã và địa bàn điều tra mới;(b) Bảng câu hỏi điều tra trong Khảo sát Mức sống Hộ Gia đình Việt Nam được sửa đổi đáng kể (kể cả mô- đun chính về chi tiêu) và được rút ngắn về độ dài; và (c) đã sử dụng một phương pháp luận

Trang 9

detail in Kozel, Hinsdale, and Nguyen (2013).

The VHLSS was Improved and Shortened in

2010

2.14 Sampling The 2002–08 rounds of the

VHLSS used a master sample of

communes/urban wards drawn from the 1999

Housing and Population Census In each

round of the VHLSS, half of the enumeration

areas (villages) and households within the

communes were kept and half replaced, with

the aim of ensuring stability in poverty

measurement While good for measurement

stability, the 2002–08 master sample was

substantially outdated by the end of the

period For example, between 2002 and 2008,

there was substantial residential development

in erstwhile empty areas (for example, “New

City” on the outskirts of Hanoi), and

residential growth in provincial cities and

towns, but these new developments were not

included in the master sample used for 2002–

08 rounds of the VHLSS

2.15 A new master sample of communes and

wards was developed for the 2010 and

subsequent VHLSSs based on the 15 percent

sample of the 2009 Housing and Population

Census Analysis suggests that the new

sample provides better coverage of smaller

households in urban areas, and somewhat

better coverage of migrant households, many

of whom come to work in urban areas for

extended periods Previous rounds of the

VHLSS have been criticized for poor

coverage of urban migrants, who are often

assumed to belong to rural sending

households (Pincus and Sender 2008) A

recent study of poverty in Hanoi and Ho Chi

Minh City (Haughton et al 2010) indicates

that many unregistered short-term urban

migrants—who are likely to be undersampled

in the VHLSS—may be vulnerable and have

lower living standards than longer-term

residents These issues will be explored more

systematically in the future; the 2012 VHLSS

includes a special module on migrants,

focusing in particular on long- and short-term

migration for work purposes

được cập nhật để xây dựng các số liệu tổng hợp về tiêu dùng (phúc lợi) toàn diện hơn Những cải tiến này được tóm tắt dưới đây và

mô tả chi tiết hơn trong báo cáo của Kozel, Hinsdale và Nguyễn (2013)

Khảo sát mức sống dân cư đã được cải tiến và rút ngắn trong năm 2010

2.14 Chọn mẫu Các vòng Khảo sát mức sống dân cư (KSMSDC) 2002-2008 sử dụng một mẫu chủ gồm các xã/phường được rút ra

từ Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở 1999 Tại mỗi vòng Khảo sát mức sống, một nửa số địa bàn điều tra (địa bàn TĐTDS 1999) và hộ gia đình trong các xã được giữ nguyên và một nửa được thay thế nhằm mục đích đảm bảo tính ổn định trong đánh giá nghèo đói Trong khi tốt cho tính ổn định trong đo lường, mẫu chủ cho giai đoạn 2002-2008 lại trở nên rất lỗi thời vào cuối thời kỳ này Ví dụ, trong giai đoạn từ

2002 đến 2008 có sự phát triển nhà ở đáng kể

ở những khu vực trước đây không có ai ở (ví

dụ, ‘Khu đô thị mới’ ở ngoại thành Hà Nội) và

sự tăng trưởng nhà ở ở các thành phố và thị tứ của các tỉnh, song những sự phát triển này không được đưa vào trong mẫu chủ sử dụng cho các vòng Khảo sát mức sống 2002 - 2008.2.15 Một mẫu chủ mới gồm các xã phường

đã được xây dựng cho Khảo sát mức sống

2010 và các vòng tiếp theo, dựa trên mẫu 15% của Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở 2009 Phân tích cho thấy mẫu mới có độ bao phủ tốt hơn đối với các hộ nhỏ ở khu vực thành thị, và

độ bao phủ tốt hơn một chút đối với các hộ di

cư, trong đó gồm nhiều hộ đến làm việc ở khu vực thành thị trong một khoảng thời gian Các vòng Khảo sát mức sống trước đó bị phê phán

là chưa đảm bảo độ bao phủ tốt đối với người

di cư vào thành thị- là những người vẫn được coi là thành viên trong hộ gia đình gốc của họ

ở nông thôn (Pincus và Sender, 2008) Một nghiên cứu gần đây về nghèo đói ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (Haughton và các tác giả khác, 2010) đã cho thấy rằng nhiều người

di cư thành thị trong ngắn hạn không có đăng

ký hộ khẩu -là những người có thể được chọn thiếu vào mẫu của Khảo sát Mức sống Dân cư Việt Nam - có thể dễ bị tổn thương và có mức sống thấp hơn những người cư trú dài hạn Những vấn đề này sẽ được tìm hiểu một cách

hệ thống hơn trong tương lai; Khảo sát Mức sống Dân cư Việt Nam 2012 bao gồm một mô-đun đặc biệt về người di cư, tập trung đặc

Trang 10

2.16 The sample of households for the 2012

VHLSS will be drawn from the same

communes as the

2010 VHLSS, similar to the design of the

2002–08 sample For 2014 and subsequent

years, GSO is strongly advised to (a) update

the master sample through careful relisting of

enumeration areas on a regular basis, and (b)

add new communes to the VHLSS master

sample over time, with particular attention to

good coverage in peri-urban areas where new

population growth is occurring GSO is also

encouraged to explore alternative approaches

to improve coverage of urban migrants,

through either a more comprehensive

sampling methodology or in-depth surveys of

migrant populations

2.17 Questionnaire Design The VHLSS has

been criticized by some researchers for taking

too long to administer in the field, with related

concerns about data quality and accuracy In

response to these criticisms, many sections of

the 2010 questionnaire were shortened The

consumption modules were redesigned to

collect information on food and frequent

nonfood spending using a fixed reference

period (30 days) rather than a “typical month”

(used in 2002–2008), and a decision was

made to administer the VHLSS in four rounds

during each survey year Questions designed

to collect information on labor earnings also

used a fixed reference period (prior month)

rather than being based on “typical” work

activities Additional questions were added to

capture Vietnam’s expanding array of social

insurance and social assistance programs, and

were better measures of remittances and

transfers Improvements were also made to the

module on access to poverty programs,

including targeting and coverage of benefits

from targeted poverty reduction programs

such as the National Target Program for

Sustainable Poverty Reduction

New, more Comprehensive Consumption

biệt vào những người di cư dài hạn và ngắn hạn vì mục đích làm việc

2.16 Mẫu các hộ gia đình của Khảo sát mức sống 2012 được lấy từ các xã như trong Khảo sát mức sống 2010, với 50% các hộ đã tham gia Khảo sát mức sống 2010 và 50% hộ chọn mới Đối với năm 2014 và các năm sau

đó Tổng cục Thống kê cần (a) cập nhật mẫu chủ thông qua việc lập lại danh sách địa bàn điều tra một cách định kỳ và (b) bổ sung các

xã mới vào mẫu chủ của Khảo sát mức sống qua thời gian, trong đó đặc biệt chú trọng tới việc đảm bảo độ bao phủ tốt ở các vùng ven

đô nơi diễn ra quá trình tăng trưởng dân số Chúng tôi cũng khuyến khích Tổng cục Thống

kê nghiên cứu những cách tiếp cận thay thế nhằm cải thiện độ bao phủ đối với nhóm dân

di cư ở thành thị, thông qua một phương pháp luận chọn mẫu toàn diện hơn hoặc điều tra sâu

về các nhóm dân số di cư

2.17 Thiết kế Bảng câu hỏi điều tra Khảo sát mức sống bị nhiều nhà nghiên cứu phê phán là mất quá nhiều thời gian để thực hiện trên thực địa với những quan ngại về chất lượng và tính chính xác của số liệu Để đáp lại, nhiều mục trong bảng câu hỏi điều tra năm

2010 đã được cắt ngắn Mô-đun tiêu dùng được thiết kế lại để thu thập thông tin về chi tiêu cho lương thực, thực phẩm và các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm tiêu dùng thường xuyên với khoảng thời gian tham chiếu cố định (30 ngày) thay vì một ‘tháng điển hình’ (như sử dụng trong giai đoạn từ

2002 - 2008), và đã có quyết định thực hiện Khảo sát mức sống bốn kỳ trong mỗi năm điều tra.12 Các câu hỏi được thiết kế để thu thập thông tin về thu nhập từ lao động cũng sử dụng thời kỳ tham chiếu cố định (tháng trước đó) thay vì dựa trên các hoạt động công việc

‘điển hình’ Các câu hỏi được bổ sung thêm

để phản ánh một loạt các chương trình bảo hiểm xã hội và trợ giúp xã hội của Việt Nam cũng như phản ánh tốt hơn thước đo về tiền chuyển về gia đình và tiền trợ cấp Mô-đun về tiếp cận các chương trình giảm nghèo cũng được cải tiến, bao gồm cả nội dung về xác định đối tượng mục tiêu và độ bao phủ của những khoản phúc lợi do các chương trình mục tiêu giảm nghèo mang lại, ví dụ như Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững

Các số liệu tổng hợp mới về tiêu dùng mang

Ngày đăng: 25/03/2015, 21:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w