1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề án chính sách thương mại hoàn thiện chính sách phát triển logistics ở việt nam

71 405 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 504 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này yêu cầu các doanhnghiệp khi đáp ứng sản phẩm hoặc dịch vụ cho khách hàng cần phải quan tâmsâu sắc hơn đến dòng dịch chuyển nguyên vật liệu, cách thức thiết kế và đónggói sản phẩ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ

ĐỀ ÁN MÔN HỌC

ĐỀ TÀI: “ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

CHUỖI CUNG ỨNG SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP Ở

VIỆT NAM”.

GVHD : GS.TS Đặng Đình Đào Sinh viên thực hiện : Ngô Thị Thuỳ Liên.

Mã sinh viên : CQ532085 Lớp : QTKD thương mại 53B

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG SẢN PHẨM 4

I.Khái quát về chuỗi cung ứng sản phẩm 4

1.Bản chất chuỗi cung ứng sản phẩm 4

1.1.Khái niệm chuỗi cung ứng sản phẩm 4

1.2.Quản trị chuỗi cung ứng sản phẩm 6

2.Vai trò của chuỗi cung ứng sản phẩm 8

II.Nội dung của chuỗi cung ứng sản phẩm 9

1.Nội dung của chuỗi cung ứng sản phẩm 9

1.1.Cấu trúc và các thành viên của chuỗi cung ứng 9

1.2.Mối quan hệ giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng 12

1.3 Phân biệt chuỗi cung ứng và logictics 15

2.Xu hướng phát triển của quản trị chuỗi cung ứng 19

III.Các nhân tố tác động đến chuỗi cung ứng sản phẩm 20

1.Các nhân tố cơ bản 20

1.1.Nguồn vốn 20

1.2.Nguồn nhân lực 21

2.Các nhân tố tác động đến hiệu suất và hiệu quả chuỗi cung ứng sản phẩm 22

2.1.Sản xuất 22

2.2 Hàng tồn kho 22

2.3.Địa điểm (vị trí) 23

2.4.Vận tải 23

2.5.Thông tin 23

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ CHUỖI CUNG ỨNG GẠO XUẤT KHẨU Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 25

I.Đặc điểm của chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu 25

Trang 3

1 Đặc điểm 25

2 Điều kiện vận chuyển và tài trợ 27

II.Thực trạng của chuỗi cung ứng sản phẩm gạo ở nước ta hiện nay 28

1.Tình hình sản xuất chế biến và dự trữ lúa gạo của Việt Nam 28

2.Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam thời gian qua 31

2.1.Sản lượng gạo xuất khẩu 31

2.2.Thị trường xuất khẩu 32

3.Hình thức chuỗi cung ứng xuất khẩu gạo của Việt Nam 36

III.Kết luận đánh giá qua nghiên cứu thực trạng 39

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHUÔI CUNG ỨNG GẠO XUẤT KHẨU Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 42

I.Mục tiêu đinh hướng phát triển của ngành nông nghiệp 42

1.Mục tiêu chung 42

2.Mục tiêu cụ thể 43

II.Giải pháp nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng xuất khẩu gạo ở nước ta. .45

1.Cải tiến đồng bộ hóa dịch vụ logistics 45

3.Giảm vai trò của hàng sáo 48

4.Đơn giản hóa thủ tục hành chính 49

III.Tạo lập môi trường và điều kiện thực hiện các giải pháp nâng cao 50

1.Trong ngành xuất khẩu gạo 50

2.Dịch vụ hậu cần (Logistics) 52

3.Hỗ trợ của chính phủ 53

KẾT LUẬN 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO: 56

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1:Tình hình phát triển sản xuất lúa 1990 – 2013 29 Bảng2.2: Sản lượng lúa 2011 phân bố theo vùng (%) 30 Bảng 2.3: Sản xuất lúa tại Đồng bằng Sông Cửu Long 2011 phân theo thời vụ (%) 30 Bảng 2.4:Các nước nhập khẩu gạo Việt Nam năm2013 (1.000 tấn) 33 Bảng 2.5: Xuất khẩu gạo của Việt Nam mùa vụ 2011/2012 (tấn) 35 Bảng 2.6:Giá gạo xuất khẩu trung bình của Việt Nam và Thái Lan (USD/tấn)

35

Trang 5

DANH MỤC VIẾT TẮT

RFID : Radio Frequency Identification (Nhận dạng tần số sóng vôtuyến)

GĐLH : Gặt đập liên hợp

ĐBSCL : đồng bằng sông Cửu Long

NNPTNT : nông nghiệp phát triển nông thôn

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lý do và ý nghĩa nghiên cứu đề tài.

Năm 2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương

mại thế giới WTO.Điều này mở ra cơ hội mới cho nền kinh tế Việt Nam nóichung cũng như các doanh nghiệp nói riêng.Việc gia nhập WTO vừa tạo cơhội cũng như thách thức đối với các doanh nghiệp ở nước ta Đó là sự cạnhtranh vô cùng khốc liệt trong thị trường rộng lớn đó, để không bị thất bại và

có cơ hội vươn ra thị trường thế giới đòi hỏi các doanh nghiệp phải khôngngừng hoàn thiện, cải tiến hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao sức cạnhtranh của doanh nghiệp.Trước đây hàng hoá không ngừng được sản xuất ranhưng chỉ sản xuất những thứ doanh nghiệp có,việc sản xuất đúng nơi, đúnglúc, đúng nhu cầu không được quan tâm Bởi vậy gây ra chi phí sản xuất cao,cung lớn hơn cầu, giá trị sản phẩm không cao, không thoả mãn tối đa nhu cầucủa khách hàng…làm cho hiệu quả kinh doanh thấp

Việc ra đời của logistic và hình thành chuỗi cung ứng sản phẩm đã giúp chocác doanh nghiệp sử dụng nguồn lực một cách tối ưu Chính nhờ hoạt độnghậu cần mà giá trị sản phẩm được tăng lên, đồng thời nhờ sự kết hợp chặt chẽ

từ khâu nguyên liệu đầu vào tới khâu tiêu thụ sản phẩm đẩu ra đã giảm thiểuchi phí sản xuất kinh doanh tạo lợi thế cạnh tranh.Việc các doanh nghiệp xâydựng cho mình một chuỗi cung ứng hoàn chỉnh sẽ tạo nền tảng cho doanhnghiệp tiết kiệm chi phí không cần thiết, nâng cao giá trị cho sản phẩm, tăngsức cạnh tranh trên thị trường

Về ngành nông nghiệp ở nước ta, trong các sản phẩm của ngành nôngnghiệp thì lúa gạo là ngành sản xuất truyền thống của ta, xuất khẩu gạo chiếm

vị trí quan trọng trong nền Kinh tế quốc dân, là nguồn thu ngoại tệ quan trọngcủa đất nước vì kim ngạch xuất khẩu gạo hiện đang đứng đầu trong kimngạch xuất khẩu hàng nông sản Sản phẩm gạo của nước ta do hàng triệu hộnông dân sản xuất ra, là một mặt hàng có vị trí hết sức quan trọng bảo đảm anninh lương thực quốc gia Từ chỗ là nước nhập khẩu gạo, Việt Nam đã vươnlên sản xuất đủ ăn, có thừa để xuất khẩu Từ đầu thập niên 1990s đến nay,Việt Nam đã trở thành một trong ba quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới

Trang 7

Song, vị thế cạnh tranh của gạo Việt Nam trên thị trường thế giới vẫn thườngxuyên đứng sau Thái Lan với một khoảng cách khá xa Mặt khác, gạo cũng làmột trong 10 mặt hàng có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam,nhưng xét về hiệu quả đóng góp của ngành hàng này cho nền kinh tế thì vẫncòn nhiều hạn chế Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật; nhu cầu tiêudùng của thị trường thế giới và thị trường trong nước đòi hỏi ngày càng caohơn về chất lượng, tiện lợi trong tiêu dùng; sự cạnh tranh ngày càng gaygắt Việt Nam là nước nông nghiệp truyền thống- đây là thế mạnh, nhưngcũng là điểm yếu nếu ta tưởng rằng đã biết quá rõ về nông nghiệp và khôngthấy cần phải thay đổi.Cách cung ứng là cách truyền thống Việt Nam là nướcnông nghiệp, có hàng nghìn năm phát triển nông nghiệp đã tạo cho chúng tanhiều “lối mòn” trong tư duy sản xuất – cung ứng – tiêu thụ sản phẩm Chínhđiều này vô hình trung đang gây thiệt thòi cho cả nông dân và người tiêudùng Xét về vấn đề hình thành chuỗi cung ứng trên thế giới, với một số nướctiên tiến, do mở rộng theo chiều dọc của chuỗi giá trị nên các đại gia bán lẻ,siêu thị ngày càng tiến tới gần hơn, tiếp cận được nhiều hơn với việc sản xuất

- chế biến nông sản Họ từ người bán lẻ trở thành nhà sản xuất toàn cầu, tựmình đặt hàng, mua hàng và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong toàn bộchuỗi cung ứng Các nhà bán lẻ, siêu thị trở thành các “người giữ cửa”, địnhđoạt việc tham gia vào các thị trường khu vực và thế giới Họ thường làm việctrực tiếp với nông dân, nhà sản xuất nhỏ và chỉ sử dụng một số rất ít nhà cungứng cấp một quen thuộc, đáp ứng được các tiêu chuẩn cao và rất chuyên biệtcủa họ Họ luôn nâng cao khả năng kiểm soát đối với sản phẩm (ví dụ chấtlượng), đối với thông tin (ví dụ khả năng theo dõi sản phẩm trong suốt chuỗicung ứng) Qua đó, họ áp dụng các mô hình trong công nghiệp hiện đại vàonông nghiệp như hệ thống sản xuất theo thời gian thực và hệ thống quản lýchất lượng tổng thể Tính cạnh tranh thấp, sự đổ vỡ của chuỗi cung ứng nôngsản Việt, thua lỗ của công ty chế biến nông sản và nông dân, sự chiếm lĩnh thịtrường của các đại gia bán lẻ, siêu thị ngoại ở Việt Nam, nông dân bán nôngsản cho thương lái nước ngoài mà không cho nhà chế biến Việt Nam… khôngcòn là viễn cảnh, mà nó hiển hiện ngay trước mắt chúng ta Điều này cho thấyđây không phải lỗi của nhà sản xuất riêng lẻ, người nông dân mà chủ yếu làlỗi mang tính hệ thống, của quản lý, của nhà hoạch định

Trang 8

Tuy nhiên, khi thực sự mở cửa thị trường bán lẻ, khi hàng loạt các đại giabán lẻ, siêu thị nước ngoài “nhảy vào”, nếu không có chính sách quản lý tốt,chuỗi cung ứng nông sản cũng khó mà hoạt động một cách minh bạch, côngkhai Và khi đó, nông sản khó mà đến tay người dùng với giá tiệm cận giáthành sản xuất.

Vấn đề đặt ra là, có phải những bất cập trong cơ chế quản lý đã làm chongành lúa gạo Việt Nam chưa thực sự phát triển hướng vào xuất khẩu mộtcách đúng nghĩa? Dưới đây, chúng ta sẽ cùng điểm lại tình hình sản xuất, chếbiến, xuất khẩu gạo để có thể nhận diện rõ những hạn chế đó và tìm ra nhữngđiểm cần hoàn thiện, bổ sung để nâng cao tính cạnh tranh của mặt hàng nàytrên thị trường thế giới trong tương lai trên căn bản tham gia tích cực hơn vàochuỗi cung ứng gạo toàn cầu

2.Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liêu tham khảo, phụ lục đề ánđược trình bày thành 3 chương:

Chương I: Những lý luận cơ bản về chuỗi cung ứng sản phẩm

Chương II: Thực trạng về chuỗi cung ứng gạo ở nước ta hiện nay

Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu ởnước ta hiện nay

Trang 9

CHƯƠNG I NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG SẢN PHẨM I.Khái quát về chuỗi cung ứng sản phẩm

1.Bản chất chuỗi cung ứng sản phẩm.

1.1.Khái niệm chuỗi cung ứng sản phẩm.

Cạnh tranh một cách thành công trong bất kỳ môi trường kinh doanh nào

hiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp phải tham gia vào công việc kinh doanhcủa nhà cung cấp cũng như khách hàng của nó Điều này yêu cầu các doanhnghiệp khi đáp ứng sản phẩm hoặc dịch vụ cho khách hàng cần phải quan tâmsâu sắc hơn đến dòng dịch chuyển nguyên vật liệu, cách thức thiết kế và đónggói sản phẩm và dịch vụ của nhà cung cấp, cách thức vận chuyển và bảo quảnsản phẩm hoàn thành và những điều mà người tiêu dùng hoặc khách hàngcuối cùng thực sự yêu cầu (ví dụ như có nhiều doanh nghiệp có thể không biếtsản phẩm của họ được sử dụng như thế nào trọng việc tạo ra sản phẩm cuốicùng mà khách hàng sử dụng) Hơn nữa, trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt ởthị trường toàn cầu hiện nay, việc giới thiệu sản phẩm mới với chu kỳ sốngngày càng ngắn hơn, cùng với mức độ kỳ vọng ngày càng cao của khách hàng

đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải đầu tư, và tập trung nhiều vào chuỗi cungứng của nó Điều này, cùng với những tiến bộ liên tục trong công nghệ truyềnthông và vận tải (ví dụ, truyền thông di động, Internet và phân phối hàng quađêm), đã thúc đẩy sự phát triển không ngừng của chuỗi cung ứng và những kỹthuật để quản lý nó

Trong một chuỗi cung ứng điển hình, nguyên vật liệu được mua ở mộthoặc nhiều nhà cung cấp; các bộ phận được sản xuất ở một nhà máy hoặcnhiều hơn, sau đó được vận chuyển đến nhà kho để lưu trữ ở giai đoạn trunggian và cuối cùng đến nhà bán lẻ và khách hàng Vì vậy, để giảm thiểu chi phí

và cải tiến mức

phục vụ, các chiến lược chuỗi cung ứng hiệu quả phải xem xét đến sựtương tác ở các cấp độ khác nhau trong chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng,cũng được xem như mạng lưới hậu cần, bao gồm các nhà cung cấp, các trungtâm sản xuất, nhà kho, các trung tâm phân phối, và các cửa hàng bán lẻ, cũng

Trang 10

như nguyên vật liệu, tồn kho trong quá trình sản xuất và sản phẩm hoàn thànhdịch chuyển giữa các cơ sở.Vậy chuỗi cung ứng là gì?

"Chuỗi cung ứng là một chuỗi hay một tiến trình bắt đầu từ nguyên liệu thôcho tới khi sản phẩm làm ra hay dịch vụ tới tay người tiêu dùng cuối cùng.Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn về phân phối và các phươngtiện để thực hiện thu mua nguyên liệu, biến đổi các nguyên liệu này qua khâutrung gian để sản xuất ra sản phẩm, phân phối sản phẩm này tới tay người tiêudùng" (Introduction to supply Chain Management-Ganeshan&Harrison) "Chuỗi cung ứng là hệ thống các công cụ để chuyển hoá nguyên liệu thô từbán thành phẩm tới thành phẩm, chuyển tới người tiêu dùng thông qua hệthống phân phối" (The evolution of Supply Chain Management Model andPractice-Lee& Billington)

"Chuỗi cung cấp là một mạng lưới gồm các tổ chức có liên quan, thông quacác mối liên kết phía trên và phía dưới trong các quá trình và hoạt động khácnhau sản sinh ra giá trị dưới hình thức sản phẩm dịch vụ trong tay người tiêudùng cuối cùng" (bài giảng của GS.Souviron về quản trị chuỗi cung cấp) "Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các doanh nghiệp tham gia, một cách trựctiếp hay gián tiếp, trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng Chuỗi cung ứngkhông chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn công ty vận tải, nhàkho, nhà bán lẻ và khách hàng của nó Những chức năng này bao gồm, nhưngkhông bị hạn chế, phát triển sản phẩm mới, marketing, sản xuất, phân phối,tài chính và dịch vụ khách hàng"

Trong một chuỗi cung ứng điển hình, nguyên vật liệu được mua ở mộthoặc nhiều nhà cung cấp; các bộ phận được sản xuất ở một nhà máy hoặcnhiều hơn, sau đó được vận chuyển đến nhà kho để lưu trữ ở giai đoạn trunggian và cuối cùng đến nhà bán lẻ và khách hàng Vì vậy, để giảm thiểu chi phí

và cải tiến mức phục vụ, các chiến lược chuỗi cung ứng hiệu quả phải xemxét đến sự tương tác ở các cấp độ khác nhau trong chuỗi cung ứng Chuỗicung ứng cũng được xem như mạng lưới hậu cần, bao gồm các nhà cung cấp,các trung tâm sản xuất, nhà kho, các trung tâm phân phối và các cửa hàng bán

lẻ cũng như nguyên vật liệu, tồn kho trong quá trình sản xuất và sản phẩmhoàn thành dịch chuyển giữa các cơ sở

Trang 11

Cùng với sự phát triển của sản xuất, của công nghệ thông tin, thì dâychuyền cung ứng này càng phức tạp, vai trò của công nghệ thông tin trongquản trị dây chuyền cung ứng ngày càng lớn Tất cả các sản phẩm đến tayngười tiêu dùng thông qua một vài hình thức của chuỗi cung ứng, có một sốthì lớn hơn và một số thì phức tạp hơn rất nhiều Với ý tưởng chuỗi cung ứngnày, ta dễ dàng nhận thấy rằng chỉ có một nguồn tạo ra lợi nhuận duy nhấtcho toàn chuỗi đó là khách hàng cuối cùng Khi các doanh nghiệp riêng lẻtrong chuỗi cung ứng ra các quyết định kinh doanh mà không quan tâm đếncác thành viên khác trong chuỗi, điều này sẽ dẫn đến giá bán cho khách hàngcuối cùng là rất cao, mức phục vụ chuỗi cung ứng thấp và điều này làm chonhu cầu khách hàng tiêu dùng cuối cùng trở nên thấp.

Về mặt lý thuyết, chuỗi cung ứng hoạt động như một đơn vị cạnh tranhriêng biệt và cố hữu, thực hiện những việc mà nhiều doanh nghiệp lớn, cácdoanh nghiệp hội nhập dọc cố gắng đạt được và đã thất bại trong việc thựchiện mục tiêu này Điểm khác biệt chính là các doanh nghiệp trong chuỗicung ứng hoàn toàn tự do trong việc quyết định thâm nhập hoặc rời khỏi mốiquan hệ chuỗi nếu quan hệ này không đem lại lợi ích cho họ; đó chính là tổchức thị trường tự do nhằm giúp đỡ chuỗi cung ứng vận hành một cách hiệuquả hơn khối liên kết dọc

1.2.Quản trị chuỗi cung ứng sản phẩm.

Có rất nhiều định nghĩa về quản trị chuỗi cung ứng (Supply ChainManagement-SCM)

Theo Viện quản trị cung ứng mô tả quản trịchuỗi cung ứng là việc thiết kế

và quản lý các tiến trình xuyên suốt, tạo giá trịcho các tổchức để đáp ứng nhu cầu thực sựcủa khách hàng cuối cùng Sựphát triển và tích hợp nguồn lực con người và công nghệ là then chốt cho việc tích hợp chuỗi cung ứng thành công.

Theo Hội đồng chuỗi cung ứng thì quản trị chuỗi cung ứng là việc quản lý

cung và cầu, xác định nguồn nguyên vật liệu và chi tiết, sản xuất và lắp ráp, kiểm tra kho hàng và tồn kho, tiếp nhận đơn hàng và quản lý đơn hàng, phân phối qua các kênh và phân phối đến khách hàng cuối cùng.

Trang 12

Theo hội đồng quản trị hậu cần, một tổ chức phi lợi nhuận thì quản trị

chuỗi cung ứng là“…sự phối hợp chiến lược và hệ thống các chức năng kinh

doanh truyền thống và các sách lược xuyên suốt các chức năng này trong một công ty cụthểvà giữa các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng với mục đích cải thiện thành tích dài hạn của các công ty đơn lẻ và của cả chuỗi cung ứng”.

Theo TS Hau Lee và đồng tác giả Corey Billington trong bài báo nghiên

cứu thì quản trịchuỗi cung ứng như là việc tích hợp các hoạt động xảy ra ở

các cơ sở của mạng lưới nhằm tạo ra nguyên vật liệu, dịch chuyển chúng vào sản phẩm trung gian và sau đó đến sản phẩm hoàn thành cuối cùng, và phân phối sản phẩm đến khách hàng thông qua hệ thống phân phối.

Quản trị chuỗi cung ứng là tập hợp những phương thức sử dụng một cáchtích hợp và hiệu quả nhà cung cấp, người sản xuất, hệ thống kho bãi và cáccửa hàng nhằm phân phối hàng hóa được sản xuất đến đúng địa điểm, đúnglúc với đúng yêu cầu về chất lượng, với mục đích giảm thiểu chi phí toàn hệthống trong khi vẫn thỏa mãn những yêu cầu về mức độ phục vụ Tính nhấtquán thể hiện trong các định nghĩa này đó chính là ý tưởng của sự phối hợp

và hợp nhất số lượng lớn các hoạt động liên quan đến sản phẩm trong số cácthành viên của chuỗi cung cấp nhằm cải thiện năng suất hoạt động, chấtlượng, và dịch vụ khách hàng nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững chotất cả các tổ chức liên quan đến việc cộng tác này Vì thế, để quản trị thànhcông chuỗi cung ứng, các doanh nghiệp phải làm việc với nhau bằng cáchchia sẻ thông những thay đổi về công suất; các chiến lược marketing mới; sựphát triển mới sản phẩm và dịch vụ; sự phát triển công nghệ mới; các kếhoạch thu mua; ngày giao hàng và bất kỳ điều gì tác động đến các kế hoạchphân phối, sản xuất và thu mua Ví dụ, khi một nguyên liệu hoặc sản phẩm cụthể có giá tăng trong cung ngắn hạn thì một doanh nghiệp có thể nhận thấy sẽ

có lợi nếu chọn lựa trong số nhà cung ứng một doanh nghiệp thích hợp nhằmđảm bảo nguồn cung liên tục chi tiết khan hiếm này Việc cân nhắc này có thể

có lợi cho cả đôi bên - thị trường mới cho nhà cung cấp, điều này dẫn đến cơhội kinh doanh sản phẩm mới trong tương lai; và việc cung ứng tiếp tục trongdài hạn với mức giá ổn định cho người mua Sau đó, khi đối thủ cạnh tranhmới bắt đầu sản xuất sảm phẩm khan hiếm hoặc khi nhu cầu sụt giảm, nhà

Trang 13

cung cấp có thể không được các hãng mua đánh giá cao; thay vào đó, doanhnghiệp có thể nhận thấy sẽ có lợi hơn trong việc thương lượng với người muatiềm năng khác và sau đó chấm dứt với người mua ban đầu Thông qua ví dụnày, chúng ta có thể nhận thấy rằng chuỗi cung cấp và động và linh hoạt và vìthế nảy sinh nhiều vấn đề trong việc quản lý chúng một cách hiệu quả.

Trong khi quản trị chuỗi cung cấp có thể cho phép các tổ chức nhận thức

rõ thuận lợi của việc tích hợp dọc trên cơ sở những điều kiện chính yếu choviệc quản trị hiệu quả việc này Có lẽ một yếu tố quan trọng nhất đó chính là

sự thay đổi về văn hóa tổ chức của tất cả thành viên tham gia trong chuỗicung ứng làm cho họ có lợi hơn và quản lý hiệu quả quản trị chuỗi cung ứng.Với các công ty có văn hóa tổ chức theo kiểu truyền thống, quan tâm đến lợiích ngắn hạn vì thế hành động theo định hướng thành tích theo nhiều cách cóthể tạo ra xung đột với mục tiêu của việc quản trị chuỗi cung ứng Quản trịchuỗi cung ứng nhấn mạnh đến việc định vị các tổ chức theo cách thức giúpcho tất cả các thành viên trong chuỗi đều được lợi Vì thế, quản trị chuỗi cungứng một cách hiệu quả lệ thuộc rất lớn vào mức độ tin tưởng, sự hợp tác, sựcộng tác và thông tin một cách trung thực và chính xác

Các nhà quản trị phụ trách thu mua, sản xuất, hậu cần và vận tải không chỉphải được trang bị những kiến thức cần thiết về các chúc năng chuỗi cung ứngquan trọng mà còn phải đánh giá và am hiểu mức độ tương tác và ảnh hưởngcủa các chức năng này đến toàn chuỗi cung ứng Rebecca Morgan, chủ tịchcủa Fulcrum Consulting Works, một công ty tư vấn về quản trị chuỗi cungứng có trụ sở ở bang Ohio, phát biểu rằng: "rất nhiều công ty đi đến các thỏathuận mà họ gọi là sự cộng tác, sau đó cố gắn kiểm soát mối quan hệ này từđầu đến cuối Nhiều công ty sản xuất xe hơi thực hiện điều này ở giai đoạnbắt đầu”, bà ta nói “Họ đưa ra nguyên tắc đơn phương: anh sẽ thực hiện điềunày cho tôi nếu anh muốn làm ăn với tôi, không cần biết nó có ý nghĩa gì vớianh hay không”

Ranh giới của các chuỗi cung ứng tích hợp cũng rất linh động Mọi ngườithường nói rằng ranh giới chuỗi cung ứng kéo dài từ “nhà cung cấp cho nhàcung cấp của doanh nghiệp đến khách hàng của khách hàng của họ”; ngàynay, hầu hết những nỗ lực phối hợp quản trị chuỗi cung ứng của doanh nghiệp

Trang 14

không vượt ra giới hạn này Thực ra, trong nhiều trường hợp, các doanh

nghiệp nhận thấy rằng thực sự khó khăn để gia tăng nỗ lực phối hợp ngoàinhững khách hàng và nhà cung cấp trực tiếp quan trọng nhất của doanhnghiệp (thực ra trong một nghiên cứu khảo sát các doanh nghiệp thì rất nhiềuđại diện của doanh nghiệp phát biểu rằng đa số các nỗ lực trong chuỗi cungứng chỉ đối với khách hàng và nhà cung cấp bên trong của doanh nghiệp màthôi) Tuy nhiên, theo thời gian và những kết quả thành công bước đầu, nhiều

doanh nghiệp đang mở rộng ranh giới chuỗi cung ứng của nó.

2.Vai trò của chuỗi cung ứng sản phẩm.

Trong doanh nghiệp, chuỗi cung ứng giữ một vai trò quan trọng Quản lýchuỗi cung ứng (SCM) gắn liền với hầu như tất cả các hoạt động của cácdoanh nghiệp sản xuất,từ việc hoạch định và quản lý quá trình tìm nguồnhàng, thu mua, sản xuất thành phẩm,…đến việc phối hợp với các đối tác, nhàcung ứng,các kênh trung gian, nhà cung cấp dịch vụ cho đến khách hàng

- SCM giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách có hiệuquả nhờ vào thay đổi các nguồn nguyên vật liêu đầu vào hoặc tối ưu hoá quátrình luân chuyển nguyên vật liệu, hàng hoá, dịch vụ (có thể tiết kiệm chi phí,tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp)

Có không ít doanh nghiệp đã gặt hái thành công lớn nhờ soạn thảo chiếnlược và giải pháp SCM thích hợp, ngược lại có nhiều doanh nghiệp gặp khókhăn thất bại do đưa ra quyết định sai lầm như chọn sai nguồn cung cấpnguyên vật liệu, chọn sai vị trí kho bãi, tính toán lượng dự trữ không phù hợp,

tổ chức vận chuyển chồng chéo

- SCM hỗ trợ đắc lực cho hoạt động tiếp thị đặc biệt là tiếp thị hỗn hợp.SCM đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phâmt đến đúng nơi cầnđến và vào đúng thời điểm thích hợp Mục tiêu lớn nhất của SCM là cung cấpsản phẩm,dịch vụ cho khách hàng với tổng chi phí nhỏ nhất

-Từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất của công ty và tạo điềukiện cho chiến lược thương mại điện tử phát triển

-Điều phối khả năng sản xuất có giới hạn và thực hiện lên kế hoạch sảnxuất nhằm làm cho kế hoạch sản xuất đạt hiệu quả cao nhất

Trang 15

-Cung cấp khả năng trực quan hoá đối với các dữ liệu liên quan đến sảnxuất và khép kín dây chuyền cung cấp tạo điều kiện cho việc tối ưu hoá sảnxuất đúng lúc bằng các hệ thống sắp xếp và lập kế hoạch.

-Phân tích dữ liệu thu thập được và lưu trữ hỗ sơ với chi phí thấp nhất.Hoạt động này nhằm phục vụ cho những mục đích liên quan đến hoạt độngsản xuất (dữ liệu thông tin về sản phẩm, dữ liệu về nhu cầu thị trường ) đểđáp ứng đòi hỏi của khách hàng

II.Nội dung của chuỗi cung ứng sản phẩm

1.Nội dung của chuỗi cung ứng sản phẩm

1.1.Cấu trúc và các thành viên của chuỗi cung ứng

* Cấu trúc chuỗi cung ứng

Một dây chuyền chuỗi cung ứng sản xuất bao gồm tối thiểu ba yếu tố: nhà

cung cấp, bản thân đơn vị sản xuất và khách hàng.

-Nhà cung cấp là các công ty bán sản phẩm dịch vụ là nguyên liệu đầu vào

cần thiết cho quá trình sản xuất, kinh doanh.Thông thường nhà cung cấp đượchiểu là đơn vị cung cấp nguyên liệu trực tiếp như vật liệu thô, các ch tiêt củasản phẩm, bán thành phẩm.Các công ty cung cấp dịch vụ cho sản xuất, kinhdoanh được gọi là nhà cung cấp dịch vụ

-Đơn vị sản xuất là nơi sửdụng nguyên liệu, dịch vụ đầu vào và áp dụng

các quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm cuối cùng Các nghiệp vụ về quản

lý sản xuất được sử dụng tối đa ở đây nhằm tăng hiệu quả, nâng cao chấtlượng sản phẩm tạo nên sự thông suốt của dây chuyền cung ứng;

-Khách hàng là người sử dụng sản phẩm của đơn vị sản xuất.

Như vậy, chuỗi cung ứng là một tổng thể giữa nhiều nhà cung ứng vàkhách hàng được kết nối với nhau; trong đó mỗi khách hàng đến lượt mình lại

là nhà cung ứng cho tổ chức tiếp theo cho đến khi thành phẩm tới được tayngười tiêu dùng Nói một cách khác có thể xem chuỗi cung ứng là một mạnglưới bao gồm những đơn vị, công đoạn có liên quan với nhau trong việc khaithác tài nguyên nhằm sản xuất ra sản phẩm phục vụ cho người tiêu dùng kể cảcông đoạn trung gian như vận tải, kho bãi, bán buôn, bán lẻ và bản thân khách

Trang 16

hàng Bản thân mỗi doanh nghiệp cũng là một chuỗi cung ứng thu nhỏ baogồm các bộ phận sản xuất, các bộ phận có chức năng liên quan đến thoả mãnnhu cầu khách hàng như tài chính,công nghệ thông tin, phát triển sản phẩmmới, tiếp thị, bán hàng, phân phối, dịch vụ khách hàng.

Ba dòng luân chuyển được xem xét trong bất kì chuỗi cung ứng nào:

-Dòng vật liệu là dòng dịch chuyển từ nhà cung cấp đến nhà bán lẻ trong

đó nguyên vật liệu được chuyển đổi thành sản phẩm và sau đó chuyển đếnkhách hàng

-Dòng thông tin bao gồm dữ liệu được lưu trữ và truy xuất mỗi khi trạngthái hệ thống thay đổi

-Dòng tiền bao gồm chi phí sản xuất, chi phí tồn kho,

*Các hoạt động của chuỗi cung ứng

Hoạt động của chuỗi cung ứng là một vòng quay gồm 5 giai đoạn:

-Lập kế hoạch

Trong hoạt động của chuỗi cung ứng, lập kế hoạch là khâu quan trọng nhấtbao trùm lên các hoạt động khác.Việc lập kế hoạch ở đâu được thực hiện ởhai cấp độ: một là kế hoạch tổng thể cho toàn chuỗi mang tính trung hạn vàdài hạn, mặt khác kế hoạch cũng phải được thực hiện ở từng khâu của chuỗi.Sau khi lập kế hoạch, thông tin sẽ được truyền đến tất cả các khâu trong chuỗinhờ đó mọi hoạt động trong chuỗi được tổ chức thống nhất và có tính hệthống Ví dụ: kế hoạch tìm nguồn hàng, kế hoạch sản xuất nhằm đưa ra lượngnguyên vật liệu cần thiết, nguồn cung những nguyên vật liệu này, số lượnghàng cần sản xuất; kế hoạch giao hàng cung cấp những thông tin cần thiết đểđáp ứng nhu cầu khách hàng; kế hoạch hàng trả về (bao gồm trả về ở khâunguyên liệu và khâu thành phẩm) cung cấp thông tin về kế hoạch trả hàng để

có phương án đặt hàng mới….Để có được kế hoạch tốt chúng ta phải cónguồn thông tin tốt Nếu muốn xác định lượng hàng cần thiết cho thị trường taphải dựa vào các yếu tố như mức độ tiêu dùng, tồn kho, điều kiện kinh tế, thịtrường và những thông tin về đối thủ cạnh tranh…Muốn lập kế hoạch cungứng người lập phải hiểu được các nguồn lực cả bên trong và ngoài doanhnghiệp như lực lượng lao động, công suất, kho bãi, phương tiện vận

Trang 17

chuyển… Kế hoạch phải rõ ràng, cụ thể, tập trung được nguồn lực vào nhữnglĩnh vực cần ưu tiên và quan trọng là nó phải phù hợp với chiến lược kinhdoanh của doanh nghiệp, có khả năng hỗ trợ chiến lược chung của doanhnghiệp.

-Tìm nguồn hàng và mua hàng

Thực hiện quá trình mua hàng gồm đặt hàng, nhận hàng, kiểm tra, thanhtoán trên cơ sở kế hoạch về nguồn hàng đã được lập, ngoài ra nó còn liênquan đến việc tìm, lựa chọn và quản lý quan hệ với các nhà cung cấp Mụcđích của hoạt động này là tìm được nguồn hàng có chất lượng ổn định, phùhợp với những yêu cầu trong sản xuất của doanh nghiệp, tiết giảm chi phíthông qua lợi thế về quy mô, tăng khả năng linh hoạt trong sản xuất nhờ mốiquan hệ tốt với nhà cung cấp- hỗ trợ về điều kiện giao hàng, thanh toán…

-Sản xuất

Là công đoạn biến nguyên vật liệu thành thành phẩm theo quy cách, chấtlượng đã đề ra Ngày nay, để tăng khả năng linh hoạt của doanh nghiệp, giảmchi phí, ngày càng nhiều doanh nghiệp sử dụng các đối tác bên ngoài gia côngmột phần hoặc sản xuất hoàn thiện toàn bộ sản phẩm Trong hoạt động nàymục tiêu không chỉ là chi phí thấp mà còn là yêu cầu về tốc độ và mức độ linhhoạt Bên cạnh đó, một yêu cầu cũng không kém phần quan trọng là kiểm soátchất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn ngành nghề đăng kí hoặc do doanhnghiệp tự đề ra

-Giao hàng

Quá trình giao hàng được bắt đầu từ việc nhận đơn hàng bao gồm cảnhững hoạt động cần thiết để có được đơn hàng đó như chào giá cho đến thuđược tiền của khách hàng Giai đoạn này cần chú ý: mức độ dịch vụ phảitương xứng với chi phí Do đó những khách hàng có thế mang lại nhiều lợinhuận cho doanh nghiệp hơn những khách hàng khác.Vì vậy điều đầu tiên làphải phân khúc thị trường, sau đó đưa ra những mức độ dịch vụ cho các đốitượng khách hàng khác nhau Giảm thời gian và chi phí nhờ hệ thống trao đổithông tin, thiết lập hệ thống truy xuất về tình trạng hàng hoá tại những khâukhác nhau trong chuỗi

Trang 18

-Hàng trả về

Áp dụng cho những nguyên vật liệu nhập về do không đúng tiêu chuẩnhoặc những hàng hoá bán ra thi trường không đảm bảo chất lượng Để quản lýhoạt động này, điều đầu tiên là phải xác định những điều kiện nào thì hànghoá nguyên liệu sẽ được trả về Bên cạnh đó, thông tin hàng trả về phải đượcphổ biến đến tất cả các khâu trong chuỗi nhằm đưa ra các biện pháp phòngngừa và xử lý kịp thời

1.2.Mối quan hệ giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng.

Mọi người sử dụng những tên gọi khác nhau cho các chuỗi hoạt động và

tổ chức Khi con người nhấn mạnh đến họat động sản xuất, họ xem chúng như

là các quy trình sản xuất; khi họ nhấn mạnh đến khía cạnh marketing, họ gọichúng là kênh phân phối; khi họ nhìn ở góc độ tạo ra giá trị, họ gọi chúng làchuỗi giá trị, khi họ nhìn nhận về cách thức thỏa mãn nhu cầu của kháchhàng, họ gọi nó là chuỗi nhu cầu Ở đây chúng ta tập trung vào sự dịchchuyển nguyên vật liệu và thuật ngữ chung nhất là chuỗi cung cấp

Một câu hỏi thường đặt ra nhưng chưa có câu trả lời rõ ràng- liên quan đếnviệc phân biệt và làm rõ sự khác nhau giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung cấp.Micheal Porter- người đầu tiên phát biểu khái niệm chuỗi giá trị vào thập niên

1980, biện luận rằng chuỗi giá trị của một doanh nghiệp bao gồm các hoạtđộng chính và các hoạt động bổ trợ tạo nên lợi thế cạnh tranh khi được cấuhình một cách thích hợp Tuy nhiên khái niệm chuỗi giá trị cũng đã được pháttriển như là một công cụ để phân tích cạnh tranh và chiến lược Porter phânbiệt các hoạt động chính và hoạt động bổ trợ Các hoạt động chính là nhữnghoạt động hướng đến việc chuyển đổi về mặt vật lý và quản lý sản phẩm hoànthành để cung cấp cho khách hàng Hậu cần đến và hậu cần ra ngoài là cácthành tố quan trọng và then chốt của chuỗi giá trị, đây chính là yếu tố tạo ra

“giá trị” cho khách hàng của doanh nghiệp và mang lại lợi ích tài chính chocông ty Việc tích hợp một cách sâu rộng các chức năng sản xuất, bán hàng,marketing với hậu cần cũng là một tiêu thức quan trọng của chuỗi giá trị Cáchoạt động của Chuỗi giá trị chung

Trang 19

-Hình Porter phân biệt và nhóm gộp thành năm hoạt động chính:

1-• Hậu cần đến(inbound logistics): những hoạt động này liên quan đến việc

nhận, lưu trữ và dịch chuyển đầu vào vào sản phẩm, chẳng hạn như quản trịnguyên vật liệu, kho bãi, kiểm soát tồn kho, lên lịch trình xe cộ và trả lại sảnphẩm cho nhà cung cấp

• Sản xuất: các họat động tương ứng với việc chuyển đổi đầu vào thành

sản phẩm hoàn thành, chẳng hạn như gia công cơ khí, đóng gói, lắp ráp, bảotrì thiết bị, kiểm tra, in ấn và quản lý cơ sở vật chất

• Hậu cần ra ngoài(outbound logistics): đây là những hoạt động kết hợp

với việc thu thập, lưu trữ và phân phối hàng hóa vật chất sản phẩm đến ngườimua, chẳng hạn như quản lý kho bãi cho sản phẩm hoàn thành, quản trịnguyên vật liệu, quản lý phương tiện vận tải, xử lý đơn hàng và lên lịch trình-

kế hoạch

• Marketing và bán hàng những hoạt động này liên quan đến việc quảng

cáo, khuyến mãi, lựa chọn kênh phân phối, quản trị mối quan hệ giữa cácthành viên trong kênh và định giá

• Dịch vụ khách hàng các hoạt động liên quan đến việc cung câp dịch vụ

nhằm gia tăng hoặc duy trì giá trị của sản phẩm, chẳng hạn như cài đặt, sửachữa và bảo trì, đào tạo, cung cấp thiết bị thay thế và điều chỉnh sản phẩm

Trang 20

Các hoạt động bổ trợ được nhóm thành bốn loại:

• Thu mua: thu mua liên quan đến chức năng mua nguyên vật liệu đầu vào

được sử dụng trong chuỗi giá trị của công ty Việc này bao gồm nguyên vậtliệu, nhà cung cấp và các thiết bị khác như máy móc, thiết bị thí nghiệm, cácdụng cụ văn phòng và nhà xưởng Những ví dụ này minh họa rằng các đầuvào được mua có thể liên hệ với các họat động chính cũng như các hoạt động

bổ trợ Đây chính là lý do khiến Porter phân loại thu mua như một hoạt động

bổ trợ chứ không phải là họat động chính

• Phát triển công nghệ: “Công nghệ” có ý nghĩa rất rộng trong bối cảnh

này, vì theo quan điểm của Porter thì mọi họat động đều gắn liền với côngnghệ, có thể là bí quyết, các quy trình thủ tục hoặc công nghệ được sử dụngtrong tiến trình hoặc thiết kế sản phẩm Đa phần các họat động giá trị sử dụngmột công nghệ kết hợp một số lượng lớn các tiểu công nghệ khác nhau liênquan đến các lĩnh vực khoa học khác nhau

• Quản trị nguồn nhân lực: đây chính là những hoạt động liên quan đến

việc chiêu mộ, tuyển dụng, đào tạo, phát triển và quản trị thù lao cho toàn thểnhân viên trong tổ chức, có hiệu lực cho cả các họat động chính và hoạt động

bổ trợ

• Cơ sở hạ tầng công ty: công ty nhìn nhận ở góc độ tổng quát chính là

khách hàng của những hoạt động này Chúng không hổ trợ chỉ cho một hoặcnhiều các hoạt động chính-mà thay vào đó chúng hỗ trợ cho cả tổ chức Các

ví dụ của những hoạt động này chính là việc quản trị, lập kế hoạch, tài chính,

kế toán, tuân thủ quy định của luật pháp, quản trị chất lượng và quản trị cơ sởvật chất Trong các doanh nghiệp lớn, thường bao gồm nhiều đơn vị hoạtđộng, chúng ta có thể nhận thấy rằng các hoạt động này được phân chia giữatrụ sở chính và các công ty hoạt động Cơ sở hạ tầng chính là đề tài được bàncải nhiều nhất về lý do tại sao nó thay đổi quá thường xuyên đến vậy

Ta đã biết quản trị chuỗi cung ứng trở nên thịnh hành trong suốt thập niên

1990 và tiếp tục là tâm điểm giúp các tổ chức nâng cao khả năng cạnh tranhtrong thị trường toàn cầu Quản trị chuỗi cung ứng được xem như đường ốnghoặc dây dẫn điện nhằm quản trị một cách hữu hiệu và hiệu quả dòng sảnphẩm/nguyên liệu, dịch vụ, thông tin và tài chính từnhà cung cấp của nhà

Trang 21

cung cấp xuyên qua các tổ chức/ công ty trung gian nhằm đến với khách hàngcủa khách hàng hoặc một hệ thống mạng lưới hậu cần giữa nhà cung cấp đầutiên đến khách hàng cuối cùng Chuỗi cung ứng tổng quát:

Nhà cung cấp(nhà buôn) → Nguồn →Lưu trữ, vận chuyển đến →Sản xuất

→ lưu trữ, vận chuyển ra ngoài→ Phân phối tiêu dùng → Khách hàng

Cách thức nhằm xem xét sự khác biệt giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng

là khái niệm hóa chuỗi cung ứng như là tập hợp con của chuỗi giá trị Tất cảnhân viên bên trong một tổ chức là một phần của chuỗi giá trị Điều này lạikhông đúng đối với chuỗi cung ứng Các hoạt động chính đại diện cho bộphận hoạt động của chuỗi giá trị, và đây chính là những điều ám chỉ đến chuỗicung ứng Ở cấp độ tổ chức, chuỗi giá trị là rộng hơn chuỗi cung ứng vì nóbao gồm tất cả các hoạt động dưới hình thức của các hoạt động chính và hoạtđộng bổ trợ Hơn nữa, khái niệm chuỗi giá trị ban đầu tập trung chủ yếu vàocác hoạt động nội bộ, trong khi chuỗi cung ứng, theo định nghĩa, tập trungvào cả nội bộ và bên ngoài Để phản ánh ý kiến hiện tại, chúng ta phải mởrộng mô hình chuỗi giá trị ban đầu, tập trung chủ yếu vào các thành phần nội

bộ, bao gồm cả nhà cung cấp và khách hàng nằm ở vị trí ngược dòng và xuôidòng của chuỗi so với tổ chức trọng tâm Các cấp độ của nhà cung cấp vàkhách hàng hình thành cơ sở của chuỗi giá trị mở rộng hoặc khái niệm doanhnghiệp mở rộng, với tuyên bố rằng sự thành công chính là chức năng quản lýmột cách hiệu quả nhóm các doanh nghiệp liên kết với nhau qua khách hàng

và nhà cung cấp ở cấp độ đầu tiên (nghĩa rằng doanh nghiệp chỉ xem xét nhàcung cấp và khách hàng của mình mà thôi) Thực ra, các doanh nghiệp tiến bộthấu hiểu rằng quản lý chi phí, chất lượng và phân phối yêu cầu phải quan tâmđến nhà cung cấp ở cấp độ khá xa so với doanh nghiệp (nhà cung cấp cấp hai,ba )

Như vậy chúng ta có thể thấy được phần nào mối liên hệ giữa chuỗi cungứng và chuỗi giá trị của Porter

1.3 Phân biệt chuỗi cung ứng và logictics.

Thuật ngữ logistics cũng đã được sử dụng chính thức trong Luật thươngmại 2005, và được phiên âm theo tiếng Việt là “lô-gi-stíc” Điều 233 Luậtthương mại nói rằng:

Trang 22

“Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.”

Xét trên góc độ học thuật thì hiện có nhiều định nghĩa học thuật về thuậtngữ logistics Theo Hiệp hội các nhà chuyên nghiệp về quản trị chuỗi cungứng (Council of Supply Chain Management Professionals - CSCMP), thì

thuật ngữ này được định nghĩa khá đầy đủ như sau: “Quản trị logistics là một

phần của quản trị chuỗi cung ứng bao gồm việc hoạch định, thực hiện, kiểm soát việc vận chuyển và dự trữ hiệu quả hàng hóa, dịch vụ cũng như những thông tin liên quan từ nơi xuất phát đến nơi tiêu thụ để đáp ứng yêu cầu của khách hàng Hoạt động của quản trị logistics cơ bản bao gồm quản trị vận tải hàng hóa xuất và nhập, quản lý đội tàu, kho bãi, nguyên vật liệu, thực hiện đơn hàng, thiết kế mạng lưới logistics, quản trị tồn kho, hoạch định cung/cầu, quản trị nhà cung cấp dịch vụ thứ ba Ở một số mức độ khác nhau, các chức năng của logistics cũng bao gồm việc tìm nguồn đầu vào, hoạch định sản xuất, đóng gói, dịch vụ khách hàng Quản trị logistics là chức năng tổng hợp kết hợp và tối ưu hóa tất cả các hoạt động logistics cũng như phối hợp hoạt động logistics với các chức năng khác như marketing, kinh doanh, sản xuất, tài chính, công nghệ thông tin.”

Phân biệt với “Chuỗi cung ứng”

Nếu logistics là một phần của quản trị chuỗi cung ứng như định nghĩa trên,thì phần còn lại là gì? Phân biệt logistics và chuỗi cung ứng như thế nào? Haynói cách khác, logistics khác gì với chuỗi cung ứng?Để có căn cứ phân biệt, taquay trở lại với khái niệm "chuỗi cung ứng" cũng của Hiệp hội các nhà

chuyên nghiệp về quản trị chuỗi cung ứng.“Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm

hoạch định và quản lý tất cả các hoạt động liên quan đến tìm nguồn cung, mua hàng, sản xuất và tất cả các hoạt động quản trị logistics Ở mức độ quan trọng, quản trị chuỗi cung ứng bao gồm sự phối hợp và cộng tác của các đối tác trên cùng một kênh như nhà cung cấp, bên trung gian, các nhà cung cấp dịch vụ, khách hàng Về cơ bản, quản trị chuỗi cung ứng sẽ tích hợp vấn đề

Trang 23

quản trị cung cầu bên trong và giữa các công ty với nhau Quản trị chuỗi cung ứng là một chức năng tích hợp với vai trò đầu tiên là kết nối các chức năng kinh doanh và các qui trình kinh doanh chính yếu bên trong công ty và của các công ty với nhau thành một mô hình kinh doanh hiệu quả cao và kết dính Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm tất cả những hoạt động quản trị logistics đã nêu cũng như những hoạt động sản xuất và thúc đẩy sự phối hợp

về qui trình và hoạt động của các bộ phận marketing, kinh doanh, thiết kế sản phẩm, tài chính, công nghệ thông tin.”

Nếu so sánh hai định nghĩa trên, có thể thấy sự khác nhau cơ bản Kháiniệm chuỗi cung ứng rộng hơn và bao gồm cả logistics và quá trình sản xuất.Ngoài ra, chuỗi cung ứng chú trọng hơn đến hoạt động mua hàng(procurement) trong khi logistics giải quyết về chiến lược và phối hợp giữamarketing và sản xuất

Khi nói đến logistics, bạn có thể hay nghe các công ty dịch vụ nhận mình

là 3PL (Third Party Logistics provider), nghĩa là Công ty cung cấp dịch vụlogistics bên thứ 3 Câu hỏi đặt ra là: 3PL là gì nếu họ là bên thứ 3, vậy còncác bên thứ nhất (1PL), thứ hai (2PL), hay bên thứ tư (4PL) là gì?

1PL: là người cung cấp hàng hóa, thường là người gửi hàng (shipper),

hoặc là người nhận hàng (consignee) Các công ty tự thực hiện các hoạt độnglogistics của mình Công ty sở hữu các phương tiện vận tải, nhà xưởng, thiết

bị xếp dỡ và các nguồn lực khác bao gồm cả con người để thực hiện các hoạtđộng logistics Đây là những tập đoàn Logistics lớn trên thế giới với mạnglưới logistics toàn cầu, có phương cách hoạt động phù hợp với từng địaphương

2PL: là người vận chuyển thực tế, chẳng hạn như hãng tàu, hãng hàng

không, hãng xe tải

3PL: là người cung cấp giải pháp tổng thể cho dịch vụ logistics cho khách

hàng, họ thường đảm nhiệm một phần, hay toàn bộ các công đoạn của chuỗicung ứng

4PL: Thuật ngữ 4PL lần đầu tiên được công ty Accenture sử dụng, và

công ty này định nghĩa như sau: “A 4PL is an integrator that assembles the

Trang 24

resources, capabilities, and technology of its own organization and otherorganizations to design, build and run comprehensive supply chain solutions".Sau đây ta sẽ xét ví dụ cụ thể về logistics cho công ty May 10, trích đăng từ bài viết trên diễn đàn Vietship của thành viên có tên Dangerous Goods.Công

ty May 10 sản xuất và phân phối quần áo đi khắp nơi trong và ngoài nước, giao hàng đến tận nơi, đến tận giá bán hàng của các đại lý bán buôn, bán lẻ, thu hồi sản phẩm hư hỏng, lỗi, bán thanh lý hàng hết mốt, sale,

promotion v.v

Những việc cơ bản họ phải làm hàng ngày là làm hợp đồng, đặt mua vải,chỉ, cúc, khóa, đinh, dây.v.v ở trong, ngoài nước và sẽ ở nhiều nước khácnhau, nhiều thành phố khác nhau (vì không thể mua toàn bộ phụ kiện ở 1nước, 1 thành phố được vì giá cả, mẫu mã, chất lượng ở mỗi nơi sẽ có 1 ưuthế, mỗi 1 sản phẩm sẽ dùng 1 loại phụ kiện đặc biệt hoặc 1 loại vải theo đúngstyle của đơn hàng đó và sẽ phải mua nhiều loại ở nhiều thành phố khác nhau,rồi sợ chiến tranh, thiên tai, )Công việc vận hành hàng ngày, hàng tuần,hàng tháng sẽ có những đơn hàng theo lịch trình lập trước gửi cho các công tyvận tải (công ty logistics) đến giờ này, ngày này, tháng này công ty May 10 sẽcần bao nhiêu cont vải của Italy, bao nhiêu kg cúc của Hàn Quốc, bao nhiêuchỉ từ nhà máy trong Biên Hòa chuyển ra để làm đơn hàng A trong bao nhiêungày, Căn cứ theo Order của may 10, công ty vận tải lên kế hoạch và traođổi cùng May 10 để quyết định ngày nào thì nhập cái gì trước, bằng đườngnào, có thể kết hợp hay ghép hàng với đơn hàng khác hoặc của đơn vị kháchay không, v.v , mục đích nhằm tiết kiệm tiền vận chuyển tối đa cho May

10, kịp tiến độ sản xuất hàng ngày mà lại không mất nhiều chi phí lưu kho(việc này thì công ty May 10 không thể có điều kiện ghép hàng, không có hệthống đại lý toàn cầu và có phương án làm tốt bằng đơn vị vận tải được) Nếumọi việc đều xuôn xẻ, công nhân không ai ốm, điện không bị mất, khôngmưa, không bão, không động đất, không thay đổi đơn hàng, kiểu dáng, khôngthừa thiếu, không thay đổi giá cả, không có sự cạnh tranh, đổi nhà cung cấp

vv và vv thì công ty vận tải cứ thế mà làm và thu tiền.Nhưng, lúc nào cũng

sẽ có chữ “nhưng”, sẽ có lúc 1 trong những nguyên nhân khách quan đemđến, May 10 buộc phải nhập nguyên phụ liệu gấp để kịp về sản xuất, đây làlúc các anh chị vận tải sẽ phải đưa ra phương án tối ưu cho khách hàng, đi

Trang 25

bằng gì Sea (LCL; FCL), Truck, Rail, Sea-Air hay Air Vậy là các công tygiao nhận vận tải (công ty logistics) phải tham gia sâu hơn vào công việc sảnxuất kinh doanh của May 10.

Hàng sản xuất ra sẽ cần đến 1 hãng tàu, 1 công ty Logistics hay 1 ctyFWD nào đó cho 1 vài anh chị khéo miệng đến nói dăm ba câu phải trái, hạgiá, nâng hoa hồng để giành việc vận chuyển nhưng, lại có 1 chữ “nhưng”,cạnh tranh thế thì khó lắm, công ty đang làm vận tải cho may 10 họ phải dántem mã, đánh số từng sản phẩm, từng thùng hàng, từng đơn hàng, từng lôhàng, còn 1 số động tác nữa xin được bỏ qua, họ phải quét mã để có số liệuhàng hóa để đưa lên mạng của công ty vận tải và để cùng quản lý lượng hàng,phụ liệu vào/ ra với May 10 nữa Hàng chuẩn bị ra lò rồi thì kế hoạch phânphối đi nội địa bao nhiêu, nước ngoài bao nhiêu, cửa hàng này bao nhiêu sảnphẩm, cửa hàng kia bao nhiêu sản phẩm thì các anh vận tải cũng có rồi, lúcnày thì công ty vận tải sẽ lên kế hoạch đóng đơn nào, đi đâu trước, có thể cóhàng lẻ, hàng cont, hàng bộ, hàng Air nhưng các anh hàng không hoặc cácanh hãng tàu hay các anh bảo là có Contract giá tốt đợi đấy mà vào cạnh tranhđược (các anh có thể làm sub-contract thôi thì được) vì công ty vận tải người

ta đã làm bao nhiêu công đoạn có lãi rồi, nếu cần cạnh tranh bằng giá, họ sẵnsàng cạnh tranh giá thấp hơn và sẽ sử dụng dịch vụ của hãng vận tải giá cao/dịch vụ tốt hơn ông giá rẻ/ dịch vụ kém và hơn nữa họ có 1 loạt công cụ màhãng vận tải trực tiếp không bao giờ cạnh tranh được thì chắc chắn May 10 sẽkhông bỏ công ty vận tải trọn gói kia được và lúc đó hãng vận tải trực tiếp chỉ

đi săn đón các ông làm vận tải trọn gói cho các nhà máy như May 10.Hàngchuyển đến cảng đích rồi việc của công ty logistics lại tiếp tục làm thủ tục hảiquan, chuyển hàng đến kho phân phối hoặc chuyển trực tiếp đến từng cửahàng đặt sản phẩm hoặc đại lý bán hàng cho May 10 v.v Công ty logisitcs

có thể thu tiền, ghi lại báo cáo lượng hàng tiêu thụ, hàng tồn, hàng đổi, bảohành, yêu cầu chuyển thêm hàng vào ngày mai, v.v cho may 10 từ đó May

10 có kế hoạch sản xuất, phân phối, thu đổi, bảo hành, khiếu nại nhà cung cấpvật liệu, và báo cho công ty vận tải kế hoạch vận chuyển, thị trường nàyđang cần hàng này, không cần hàng kia, thị trường này bán ế move qua thịtrường khác để clear hàng Đơn nào còn đang nằm trong kho, đơn nào đã rathị trường và nằm tại shop nào, ngày tháng nào thì Sale, promotion đơn nào,

Trang 26

loại gì Tất cả, tất cả những sản phẩm của May 10 đang nằm tại đâu, đất nướcnào, thành phố nào, kho hàng nào đều được công ty vận tải quản lý và cậpnhật thay đổi hàng ngày với May 10 Thậm chí các công việc tìm kiếm mởrộng thị trường phân phối tại các nước, các yêu cầu, phản hồi từ các đại lý bánhàng, từ công tác thị trường, từ khách hàng công ty vận tải có thể giúp May

10 luôn vì công ty vận tải họ có hệ thống toàn cầu, biết về các công ty bản địanên thuận lợi hơn trong việc cầu nối thương mại

2.Xu hướng phát triển của quản trị chuỗi cung ứng

* Xuất hiện mô hình chuỗi cung ứng mới

Với sự phát triển của quản trị chuỗi cung ứng như hiện nay, nhiều mô hìnhquản trị chuỗi cung ứng sẽ ra đời và được ứng dụng rộng rãi trong thực tế.Các doanh nghiệp sẽ có nhiều mô hình để lựa chọn sao cho phù hợp với tìnhhình hoạt động và tài chính của doanh nghiệp mình

*Hợp nhất các chuỗi cung ứng

Sự hợp nhất các chuỗi cung ứng cũng là hiện tượng nổi trội, ba yếu tốchính sẽ tác động trực tiếp tới sự thay đổi cấu trúc để làm sao các doanhnghiệp duy trì hoạt động của chuỗi cung ứng đó:

-Các doanh nghiệp sẽ liên kết chuỗi cung ứng nội bộ với các chuỗi cung ứngcủa đối tác và hợp nhất hoạt động với nhau

-Công nghệ và internet là chìa khoá để cải thiện chiến lược quản trị chuỗicung ứng

-Tái cơ cấu hoạt động chuỗi cung ứng để đạt được mục tiêu cua doanhnghiệp

*Công nghệ RFID sẽ phát triển nổi trội

Công nghệ RFID sẽ phát triển và được ứng dụng rộng rãi trong quản trị chuỗicung ứng, đặc biệt trong ngành hàng tiêu dùng Công nghệ này giúp địnhdạng sản phẩm, vận chuyển và kiểm soát hàng tồn kho, tránh hàng hoá trongkho không đủ để phục vụ nhu cầu của thị trường đồng thời giảm thời gianhàng hoá, nguyên vật liệu bị lưu kho chờ sản xuất hay xuất xưởng đưa ra phânphối trên thị trường

Trang 27

III.Các nhân tố tác động đến chuỗi cung ứng sản phẩm.

1.Các nhân tố cơ bản

1.1.Nguồn vốn.

Tiết kiệm nguồn vốn, tận dụng tài nguyên

Hiện nay, khi các công cụ Internet gần như đã vươn đến mọi ngóc ngáchtrên trái đất với mức chi phí vô cùng thấp, thì chúng ta hoàn toàn có thể kếtnối dây chuyền cung ứng của bạn với dây chuyền cung ứng của các nhà cungcấp, kể cả các khách hàng trong một mạng lưới rộng khắp nhằm tối ưu hoáchi phí và cơ hội cho tất cả các thành phần có liên quan.Dây chuyền cung ứngtại phần lớn các ngành công nghiệp được xem như một ván bài lớn Ngườichơi không muốn phơi bày các quân bài của họ, bởi vì họ không tin tưởng bất

kỳ ai Nhưng trên thực tế, nếu họ lật ngửa quân bài của mình, thì tất cả đều cóthể được hưởng lợi Các nhà cung cấp sẽ không phải dự đoán xem có baonhiêu nguyên liệu thô sẽ được đặt hàng, các nhà cung cấp sẽ không phải thumua quá số lượng họ cần dự phòng trong trường hợp nhu cầu về sản phẩm độtngột tăng cao, các nhà bán lẻ sẽ không phải để trống các kệ hàng nếu họ chia

sẻ với nhà sản xuất các thông tin họ có về tình hình buôn bán sản phẩm củanhà sản xuất…Internet đã giúp cho việc trao đổi thông tin này trở nên dễdàng, nhưng hàng thế kỷ việc không tin cậy và thiếu hợp tác giữa các bên đãkhiến công việc này gặp nhiều khó khăn

Những năm gần đây, không ít công ty đã rơi vào tình thế “tiến thoái lưỡngnam” tức là họ bị buộc phải tham gia vào việc chia sẻ thông tin về dây chuyềncung ứng với một hoặc một vài công ty lớn trong ngành

Ưu điểm của việc chia sẻ thông tin day chuyền cung ứng kịp thời, chínhxác là khả năng sản xuất hay vận chuyển một số lượng nhất định sản phẩmphù hợp với nhu cầu thị trường Đó là công việc vẫn được biết đến với cái tên

“sản xuất kịp thời” và nó cho phép các công ty có thể giảm thiểu lượng hàngtồn kho Đồng thời, các công ty thực chất sẽ cắt giảm được chi phí kể từ khi

họ không còn phải mất tiền để sản xuất và lưu kho các sản phẩm dư thừa nữa.Công tác dây chuyền cung ứng: Hãy xem xét các sản phẩm tiêu dùng nhưmột ví dụ của sự cộng tác Nhiều năm qua, có 2 công ty đã phối kết hợp chặt

Trang 28

chẽ với nhau trong dây chuyền cung ứng là Wal-Mart và Procter & Gamble(P&G) Trước khi hai công ty này bắt đầu cộng tác vào thập niên 80, các nhàbán lẻ trên thị trường hầu như rất ít khi chia sẻ thông tin với nhà sản xuất.Nhưng sau đó hai công ty lớn này đã xây dựng một hệ thống phần mềm liênkết giữa P&G với các trung tâm phân phối của Wal-Mart Khi sản phẩm củaP&G sắp tiêu thụ hết tại những trung tâm phân phối này, hệ thống sẽ tự độnggửi thư nhắc nhở để P&G vận chuyển thêm sản phẩm Trong một số trườnghợp, hệ thống còn được áp dụng cho các cửa hàng nhượng quyền của Wal-Mart và cho phép P&G giám sát các giá hàng sản phẩm thông qua tín hiệu vệtinh ghép nối thời gian thực, sau đó gửi thông báo tới các nhà máy sản xuấtmỗi khi danh mục hàng hoá được máy scan trong hệ thống tự động quétqua.Với kiểu thông tin này, P&G biết rõ khi nào cần sản xuất, vận chuyển vàtrưng bày thêm sản phẩm tại các cửa hàng của Wal-Mart Việc xuất hoá đơn

và thanh toán cũng được thực hiện tự động Hệ thống sẽ giúp P&G tiết kiệmđáng kể thời gian, giảm thiểu hàng tồn kho và các chi phí xử lý đơn đặt hàng.Dây chuyền cung ứng mở rộng (extebded supply chain): là tập hợp tất cảnhững ai tham gia vào quy trình sản xuất để cho ra một sản phẩm Ví dụ nếubạn sản xuất sổ tay, dây chuyền cung ứng mở rộng của bạn sẽ bao gồm cácnhà máy nơi nhà cung cấp có cổ phần và nhiều đơn vị khác có liên quan Điềuquan trọng là bạn cần theo dõi chặt chẽ tất cả những gì diễn ra trong dâychuyền cung ứng của bạn Bởi vì chỉ một sự kiện nào đó xảy ra với một nhàcung cấp hay nhà cung cấp của nhà cung cấp trong dây chuyền cung ứng Nếubạn biết rõ những gì đang diễn ra trong dây chuyền cung ứng mở rộng củamình thì bạn sẽ có thể chủ động xử lý các trường hợp bất ngờ xảy ra, đảm bảocho quá trình hoạt động sản xuất được diến ra bình thường

Công ty nào cũng luôn tìm mọi cách để tạo một kênh liên lạc thông suốtgiữa nhà cung ứng và khách hàng của họ, xoá bỏ những nhân tố cản trở khảnăng sinh lời, giảm chi phí, tăng thị phần…Vì vậy quản trị chuỗi cung ứngđược xem như một giải pháp tốt để nâng cao hiệu quả kinh doanh

1.2.Nguồn nhân lực

Ở bất kì tổ chức hay doanh nghiệp nào, nguồn nhân lực là nguồn lực cơbản trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nó có tác động tới hoạt

Trang 29

động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Trong chuỗi cung ứng sảnphẩm nguồn nhân lực cũng có tác động đến, cụ thể là:

Các doanh nghiệp phải thiết lập các văn bản về các yêu cầu pháp luật vàluật lệ đối với nguồn lao động của doanh nghiệp phù hợp với pháp luật củanước sở tại, nước nhập khẩu, nước có liên quan đến hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp cũng như văn hoá kinh doanh của doanh nghiệp

*Yêu cầu đối về trách nhiệm xã hội

Người lao động tuổi làm việc tối thiểu là 14 tuổi hoặc lớn hơn tuỳ thuộcvào quốc gia, khu vực mà doanh nghiệp đang cư trú Thời gian làm việc, tiềncông, tiền lương tuân thủ theo yêu cầu của quốc gia, khu vực Ngoài ra, doanhnghiệp còn phải lập các văn bản liên quan đến các thông tin cá nhân của nhânviên và tuân thủ các quy định, luật lệ của quốc gia, khu vực liên quan đếnquyền tự do hộ họp, các biện pháp kỷ luật

*Yêu cầu về an toàn sức khoẻ

Doanh nghiệp phải phổ biến cho nhân viên biết được các luật lệ về an toànsức khoẻ của quốc gia, khu vực, đặc biệt là những công việc có tính chất nguyhiểm Trang bị kiến thức, trang thiết bị bảo hộ lao động cho nhân viên

Các chuyên viên quản lý chuỗi cung ứng phải la người có kiến thức, am hiểu

về quản lý chuỗi cung ứng không ngừng nâng cao kiến thức, kỹ năng, trình độhọc vấn về quản lý phục vụ hiệu quả choa hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp

2.Các nhân tố tác động đến hiệu suất và hiệu quả chuỗi cung ứng sản phẩm

2.1.Sản xuất

Sản xuất là khả năng của dây chuyền cung ứng tạo ra và lưu trữ sảnphẩm.Phân xưởng, nhà kho là cơ sở vật chất.Trong quá trình sản xuất, các nhàquản trị thường xuyên phải đối mặt với vấn đề cân bằng giữa khả năng đápứng nhu cầu của khách hàng và hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp.Thịtrường cần những sản phẩm gì? Sẽ có bao nhiêu sản phẩm được sản xuất vàkhi nào được sản xuất Khi đó sản xuất là nói đến năng lực của chuỗi cungứng để sản xuất và tồn trữ sản phẩm Hoạt động này bao gồm việc lập kế

Trang 30

hoạch sản xuất chính theo công suất nhà máy, cân đối công việc, quản lý chấtlượng và bảo trì thiết bị.

2.2 Hàng tồn kho

Hàng tồn kho có mặt trong suốt chuỗi cung ứng và bao gồm từ nguyên liệu,bán thành phẩm đến thành phẩm mà được các nhà sản xuất, nhà phân phối vànhà bán lẻ trong chuỗi cung ứng lắm giữ Tồn kho là việc hàng hoá sản xuất

ra được tiêu thụ như thế nào? Chính yếu tố tồn kho sẽ quyết định doanh thu

và lợi nhuận của doanh nghiệp Nếu tồn kho ít tức sản phẩm của doanhnghiệp được sản xuất ra bao nhiêu sẽ tiêu thụ bấy nhiêu từ đó cho thấy hiệuquả sản xuất của doanh nghiệp cao và thu được lợi nhuận tối đa và ngượclại.Vậy những thành phần nào nên lưu kho ở mỗi giai đoạn của chuỗi cungứng, lượng tồn kho về nguyên vật liệu, bán thành phẩm hay sản phẩm ở mứcnào thì hợp lý Mục tiêu chính của hàng tồn kho là đóng vai trò hàng đợi dựtrữ trong những trường hợp xảy ra bất ngờ, không thường xuyên Tuy nhiênviệc lưu trữ hàng tồn kho có thể dẫn tới chi phí cao vì vậy cần tối ưu hoálượng hàng tồn kho để giảm thiểu chi phí

2.3.Địa điểm (vị trí).

Là việc lựa chọn địa điểm về mặt địa lý của các phương tiện trong chuỗicung ứng Tìm kiếm nguồn nguyên liệu sản xuất ở đâu, nơi nào là địa điểmtiêu thụ tốt nhất, những địa điểm nào nên đặt phương tiện cho sản xuất và khobãi, địa điểm nào hiệu quả nhất về mặt chi phí để sản xuất và đặt kho bãi Cónên dùng chung phương tiện hay xây dựng mới Khi trả lời được các câu trênthì sẽ xác định được con đường tốt nhất để sản phẩm có thể vận chuyển tớinơi tiêu thụ một cách nhanh chóng và hiệu quả Xác đinh được đúng vị trí sẽgiúp cho việc sản xuất, vận chuyển sản phẩm nhanh chóng tiết kiệm thời gian,chi phí từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh

2.4.Vận tải.

Là việc di chuyển mọi thứ từ nguyên liệu cho đến thành phẩm giữa các điêùkiện khác nhau trong chuỗi cung ứng.Ở đây, sự cân bằng giữa khả năng đápứng của nhu cầu khách hàng và hiệu quả công việc được biểu thị trong việc

Trang 31

lựa chọn phương thức vận chuyển Thông thường có 6 phương thức vậnchuyển cơ bản:

-Đường biển:giá thành rẻ, thời gian vận chuyển trung bình, bịo giới hạn vềđịa điểm giao nhận

-Đường sắt: giá thành rẻ,thời gian vận chuyển trung bình, bịo giới hạn về địađiểm giao nhận

-Đường bộ: nhanh, thuận tiện

-Đường điện thoại: giá thành rẻ, nhanh, bị giới hạn về laọi hàng hoá vậnchuyển (âm thanh, hình ảnh,…)

Hàng tồn kho sẽ được vận chuyển như thế nào từ một địa điểm trong chuỗicung ứng tới một địa điểm trong chuỗi cung ứng khác.Lựa chọn hình thức vậnchuyển nào cho hợp lý cả về chi phí, thời gian, an toàn và hiệu quả

Trang 32

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ CHUỖI CUNG ỨNG GẠO XUẤT KHẨU Ở NƯỚC

TA HIỆN NAY.

I.Đặc điểm của chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu.

1 Đặc điểm

- Khách hàng nhập khẩu: gạo Việt Nam chưa tiếp cận trực tiếp với

người tiêu dùng tại thị trường nhập khẩu, doanh nghiệp Việt Nam phần lớnbán gạo qua nhà kinh doanh quốc tế (Olam, Luis Dreyfus, Swiss Agri,Novel…) cho thị trường Châu Phi, hay qua nhà buôn sỉ (trading company) đốivới các thị trường Hongkong, Úc, EU… Theo kết quả khảo sát thì cơ cấukhách hàng của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam như sau: Hợpđồng chính phủ G2G: 40 – 60%; hợp đồng với nhà nhập khẩu nước ngoài:

20 – 55%; hợp đồng với nhà kinh doanh quốc tế: 20 – 40% Do đó, gạo Việtnam cũng chưa xác lập được kênh phân phối tại thị trường nhập khẩu

-Thời gian thực hiện đơn hàng: khảo sát tại các doanh nghiệp xuất khẩu

gạo cho thấy thời gian trung bình từ khi nhận đơn hàng đến khi giao hàngphổ biến là 20 – 40 ngày, có trường hợp đến 70 ngày Thời gian nhận tiềnthanh toán của nhà nhập khẩu kể từ ngày giao hàng lên tàu thông thường là

21 ngày theo L/C at sight Đối với những đơn hàng gạo thơm qui mô nhỏ (20– 30 container 20’) đi thị trường gạo cao cấp thường áp dụng hình thức T/T

và được ứng trước 30% giá trị đơn hàng Các doanh nghiệp trong đối tượngkhảo sát chỉ sử dụng phần mềm ERP software và quản lý kho (warehousemanagement software) để quản lý thông tin và dự trữ hàng hóa, chưa sửdụng các phần mềm quản lý toàn bộ để kiểm soát chất lượng sản phẩm, giámsát hàng vận chuyển, dự trữ, giao hàng… một cách chính xác

-Dự trữ sản phẩm: mức dự trữ gạo tại các doanh nghiệp phổ biến từ 5.000

– 30.000 tấn tùy vào mùa vụ thu hoạch lúa trong năm Tuy nhiên, do thiếuvốn lưu động và giá gạo biến động mạnh thời gian qua nên các doanh nghiệpxuất khẩu thường không dự trữ nhiều Thời gian dự trữ trung bình 1– 3tháng, và chỉ dự trữ ở mức cao đối với vụ Đông Xuân vì chất lượng gạotốt Thực tế trên thị trường có 3 trường hợp sau đây:

Trang 33

-Trường hợp 1: Doanh nghiệp có gạo dự trữ trong kho mới ký hợp đồng

xuất khẩu (đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lớn có nhà máy chế biến)

-Trường hợp 2: Doanh nghiệp ký hợp đồng xuất khẩu khi đã có 50% chân

hàng, sau đó tiến hành mua thêm để đủ cho 1 chuyến hàng.

-Trường hợp 3: Khi ký hợp đồng xong doanh nghiệp mới thu mua gạo chế

biến để xuất khẩu

Trước thời điểm Chính Phủ đưa ra Nghị định số 109/2010/NĐ-CP Về kinhdoanh xuất khẩu gạo thì tại Việt Nam có 262 doanh nghiệp tham gia xuấtkhẩu Phần lớn trong số này là những công ty thương mại thuần túy không có

cơ sở chế biến, không có kho dự trữ gạo nguyên liệu… nên thường áp dụngtrường hợp 3 để thực hiện đơn hàng Đây là một trong những yếu tố chính tạonên sự bất ổn giá gạo nguyên liệu trong thời gian qua Vì vậy, Chính phủ đãban hành Nghị định 109 để chuẩn hóa doanh nghiệp tham gia xuất khẩu gạo.Năm 2013 đã có 99 DN đã được cấp phép xuất khẩu gạo và 36 DN đang tronggiai đoạn “xem xét” Câu chuyện “chạy đua” giành giấy phép XK gạo khôngphải là vấn đề mới kể từ khi NĐ 109 ra đời Bởi theo Bộ Công Thương, trongtổng số 280 DN tham gia XK gạo trước đây đã giảm dần và chỉ còn 150 DNđầu mối có khả năng đáp ứng yêu cầu nên được cấp phép sau một năm triểnkhai thực hiện NĐ 109 Cung ứng nguyên liệu: Hoạt động cung ứng gạonguyên liệu chịu ảnh hưởng bởi mùa vụ thu hoạch Đơn hàng trung bìnhmua của hàng sáo từ 100 – 500 tấn, có trường hợp giao hàng nhiều lần Thờigian giao hàng trung bình từ 1 – 5 ngày Một đơn hàng xuất khẩu trung bình

từ 1.000 – 5.000 tấn đối với hàng xá (bulk) và 200 – 500 tấn đối vớicontainer Đồng thời, cũng có những đơn hàng lớn 30.000 tấn đi Châu Phi.Mùa cao điểm giao hàng trong năm từ tháng 3 đến tháng 5 với tần suất vàkhối lượng cao hơn 50% so với những tháng còn lại trong năm Đơn giáxuất khẩu trung bình 500 USD/tấn và giá trị kim ngạch trung bình 1 – 2 triệuUSD/đơn hàng Chi phí cho một tấn nguyên liệu mua vào khoảng 440USD/tấn (đối với gạo xô) và 330 USD/tấn (đối với lúa) Giá lúa được xácđịnh theo giá thị trường ở thời điểm mua vào Gạo nguyên liệu chào muađược thương lượng trực tiếp theo từng chuyến hàng Phương thức thanh toánbằng tiền mặt hoặc chuyển khoản, nhưng phổ biến là thanh toán bằng tiền

Trang 34

mặt Xay xát – chế biến gạo xuất khẩu: Hiện nay, qui trình chế biến gạo củaViệt Nam phổ biến là xay xát qua 2 bước (the two-step milling process).Trong đó, giai đoạn đầu tiên được thực hiện bởi các nhà máy nhỏ, với côngnghệ lạc hậu, do vậy chất lượng gạo không cao.

2 Điều kiện vận chuyển và tài trợ.

Vận chuyển sản phẩm

Chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu liên quan đến các dòng chu chuyển sau:

- Đối với gạo chế biến và đóng bao tại Đồng bằng Sông Cửu Long (CầnThơ, An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp…) được vận chuyển lên cảng SàiGòn bằng xà lan mất 24 – 36 giờ Đối với gạo chế biến và đóng containertại các nhà máy của doanh nghiệp (ở Long An, Tiền Giang…)được vậnchuyển bằng xe container đến cảng Sài gòn/Cát Lái trong vòng 4 – 5 giờcho quãng đường trên dưới 70km

- Cước phí vận chuyển gạo từ Đồng bằng Sông Cửu Long về Cảng SàiGòn đã giảm mạnh trong mấy năm vừa qua và hiện có tính cạnh tranh rất cao

Cụ thể, tại thời điểm khảo sát vào tháng 8/2012, cước phí vận chuyển bằng xàlan ở mức trên 80.000 VNĐ/tấn, qui ra từ 6 – 7 USD/tấn; cước phí vậnchuyển bằng container theo đường bộ trên dưới 160.000VNĐ/tấn, cao hơn từ

50 –70% so với vận chuyển bằng xà lan

- Dịch vụ vận chuyển nội địa chủ yếu thuê ngoài và thường không có côngnghệ cung cấp dịch vụ theo dõi trong quá trình vận chuyển Còn vận chuyểnquốc tế phần lớn do các hãng tàu nước ngoài đảm nhiệm theo chỉ định củanhà nhập khẩu theo điều kiện FOB Thời gian vận chuyển đường biển quốc

tế trung bình 2 – 3 ngày đối với các thị trường Hong Kong, Philippines,nhưng sẽ mất 45 ngày đối với điểm đến Senegal, Châu Phi trong trường hợpkhông có chuyển tải

- Thời gian thực hiện hoàn tất một đơn hàng từ lúc nhận đơn đặt hàngcho đến khi nhận thanh toán cuối cùng mất từ 4 – 12 tuần lễ Chi phí bảohiểm từ 0,1 – 0,4% giá trị chuyến hàng

- Các chứng từ cần thiết kèm theo khi giao hàng, như: C/O (certificate oforigin); chứng chỉ kiểm dịch, phun trùng và vệ sinh thực phẩm (the

Trang 35

certificates related to inspection, fumigation and phytosanitary) thường đượccấp trong vòng 1 – 2 ngày; nhưng giấy chứng nhận an toàn sức khỏe(health certification) phải cần tới 7 – 10 ngày.

Ngoài ra, có một số biến động trở thành nguyên nhân chính làm chochuỗi cung ứng xuất khẩu gạo của Việt Nam thiếu tính ổn định, đó là: thờigian xác nhận đơn hàng (the time to confirm orders); biến động giá gạonguyên liệu (the availability of inputs); và thời hạn giao hàng lên tàu Tỷ lệxảy ra chậm trễ giao hàng thường chiếm 5% số chuyến hàng Tuy nhiên, dođặc điểm phức tạp trong công tác giao nhận của mặt hàng gạo nên các doanhnghiệp Việt Nam không bị phạt khi chậm trễ giao hàng Riêng vấn đề khắcphục tình trạng biến động giá để đảm bảo cung ứng nguyên liệu ổn địnhphục vụ xuất khẩu gạo cho thấy cần thiết xây dựng trung tâm lúa gạo lớn(large central markets) như Thái Lan và tiến hành giao dịch quyền chọn chomặt hàng này (commodity-trading options)

Tài trợ

Thời gian nhận tiền thanh toán cho hàng xuất khẩu là khá chậm, nên doanhnghiệp thường gặp khó khăn về dòng tiền và bị phụ thuộc rất lớn vào ngânhàng thương mại Trong thực tế, mức vốn vay (tín dụng ngắn hạn) thườngchiếm đến 90% tổng mức vốn lưu động của các doanh nghiệp xuất khẩugạo Cơ chế vay vốn khá linh hoạt, thời hạn vay từ 3 tháng đến 1 năm với lãisuất thị trường, cho phép doanh nghiệp xuất khẩu có thể thực hiện đượcnhững đơn hàng lớn đến 30.000 tấn gạo Đặc biệt, các công ty thành viên củaVinafood nếu được công ty mẹ bảo lãnh thì có thể vay không hạn chế hạnmức tín dụng để mua gạo tạm trữ phục vụ chương trình bình ổn giá Tuynhiên, có một sự hạn chế lớn là khi hợp đồng xuất khẩu gạo đã được ký vànhà nhập khẩu đã mở tín dụng thư rồi thì doanh nghiệp vay vốn mới đượcgiải ngân Khi đó, thường xảy ra hiện tượng tranh mua nguyên liệu giữa cácnhà xuất khẩu khiến cho giá gạo nguyên liệu bị biến động mạnh, nhất là khicác doanh nghiệp nhận nhiều đơn hàng lớn trong mùa cao điểm xuất khẩugạo Ngoài ra, do sự hạn chế của thị trường tài chính phái sinh tại Việt Nam

mà các doanh nghiệp xuất khẩu gạo không thực hiện bất kỳ chiến lược bảo hộgiá nào (hedging strategies) trong quá trình kinh doanh

Ngày đăng: 25/03/2015, 18:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5.Báo cáo thường niên lúa gạo.http://www.isgmard.org.vn/Jobs/2008/IPSARD/Demo%20Vietnam%27s%20Rice%20Yearbook-v.pdf Link
7. Agrifood consulting International, Northeast Thailand Rice Value Chain Study. February 2005.http://www.mmw4p.org/dyn/bds/docs/553/Agrifood%20Consulting%20Rice%20VC%20Thailand%202005.pdf Link
1.GS.TS Đoàn Thị Hồng Vân- Quản trị chuỗi cung ứng- Những trải nghiệm tuyệt vời Khác
2.GS.TS Đoàn Thị Hông Vân- Logistics những vấn đề cơ bản Khác
3.Micheal Hugos- Tinh hoa quản trị chuỗi cung ứng Khác
4.TS. Nguyễn Văn Sơn, Khoa Kinh tế & Luật, Trường Đại học Mở Tp.Hồ Chí Minh-Tham luận tại hội thảo và triển lãm quốc tế về: "Hậu cần vận tải hàng hải Việt Nam 2013&#34 Khác
6.Tạp chí Phát triển và hội nhập, tháng 3-4/2013 Khác
8.IDFC, study of the domestic Rice Value Chains in the Niger Basin of Mali, Niger and Nigeria,West Africa, Sept. 2008 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1:Tình hình phát triển sản xuất lúa 1990 – 2013 - Đề án chính sách thương mại hoàn thiện chính sách phát triển logistics ở việt nam
Bảng 2.1 Tình hình phát triển sản xuất lúa 1990 – 2013 (Trang 34)
Bảng 2.3: Sản xuất lúa tại Đồng bằng Sông Cửu Long 2011  phân theo thời vụ (%) - Đề án chính sách thương mại hoàn thiện chính sách phát triển logistics ở việt nam
Bảng 2.3 Sản xuất lúa tại Đồng bằng Sông Cửu Long 2011 phân theo thời vụ (%) (Trang 36)
Bảng 2.6:Giá gạo xuất khẩu trung bình của Việt Nam và Thái Lan (USD/tấn) - Đề án chính sách thương mại hoàn thiện chính sách phát triển logistics ở việt nam
Bảng 2.6 Giá gạo xuất khẩu trung bình của Việt Nam và Thái Lan (USD/tấn) (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w