1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LÝ THUYẾT THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ VÀ VẬN DỤNG VÀO THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH

26 463 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 274 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiệu quả về tổ chức hoạt động của thị trường Đối với thị trường chứng khoán thì tính hiệu quả trên phương diện tổ chức hoạt động thể hiện rõràng bởi khả năng làm cực đại hóa

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐỀ TÀI LÝ THUYẾT THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ

VÀ VẬN DỤNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH

GVHD: ThS Trương Minh Tuấn Nhóm làm đề tài (Nhóm 6):

Võ Trần Dấu Ái 3

Trương Thị Thanh Huyền 20

Phạm Hoàng Tô Lợi 21

Nguyễn Thị Thùy Na 25

Dương Thị Yến Nhi 33

Văn Minh Phương 43

Trần Thị Thanh Thảo 49

Phạm Minh Thông 55

Trần Thị Bích Thuyền 57

Lớp Marketing VB2 K16

Tháng 11, năm 2013

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 3

1 TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ (EMH) 4

1.1 Các phương diện hiệu quả của thị trường 4

1.1.1 Hiệu quả về mặt phân phối 4

1.1.2 Hiệu quả về tổ chức hoạt động của thị trường 4

1.1.3 Hiệu quả về mặt thông tin 4

1.2 Sự phát triển của EMH 5

1.3 Các cấp độ hiệu quả của thị trường 6

1.3.1 Thị trường hiệu quả dạng yếu 6

1.3.2 Thị trường hiệu quả dạng trung bình 6

1.3.3 Thị trường hiệu quả dạng mạnh 7

1.4 Tầm quan trọng của một thị trường hiệu quả và ý nghĩa của nghiên cứu EMH 8

1.5 Các lý thuyết cơ sở của EMH 8

1.5.1 Mô hình lợi suất kỳ vọng hay “Trò chơi công bằng” 8

1.5.2 Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên (Random walk hypothesis) 9

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả của thị trường 9

1.7 Một số lý thuyết tài chính khác phát triển bên cạnh EMH 10

1.7.1 Phân tích kỹ thuật 10

1.7.2 Phân tích cơ bản 11

1.7.3 Lý thuyết hành vi 12

1.7.4 Lý thuyết thị trường thích nghi (AMH) 12

2 VẬN DỤNG EMH TRONG THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 13

2.1 Thị trường tài chính (TTTC) là gì? 13

2.1.1 Khái niệm 13

2.1.2 Phân loại 13

2.1.3 Vai trò 14

2.2.Ứng dụng EMH vào thị trường tài chính 14

2.2.1.Đối với nhà hoạch định chính sách 14

2.2.2.Đối với nhà đầu tư 16

Trang 3

2.2.3.Đối với các trung gian tài chính 16

3 VẬN DỤNG EMH VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 17

3.1 Kiểm định tính hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt Nam 17

3.2 Các giải pháp để nâng cao tính hiệu quả cho thị trường chứng khoán Việt Nam theo EMH 18

3.2.1.Tăng cường tính minh bạch của thông tin chứng khoán 18

3.2.2.Nâng cao kiến thức cho người đầu tư 22

3.2.3.Chuẩn hóa và chính xác hóa việc xác định giá trị cổ phiếu khi phát hành lần đầu 22

KẾT LUẬN 24

TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Trong quá trình theo đuổi mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, có nhiều nhân tốảnh hưởng quan trọng, trong đó phải kể đến thị trường tài chính Thị trường tài chính, nơi gặp

gỡ giữa cung và cầu vốn, nơi mang lại nguồn lực mạnh mẽ nhất cho đầu tư và phát triển Pháttriển thị trường tài chính, đồng nghĩa với phát triển nguồn lực quốc gia

Vậy như thế nào là một thị trường tài chính hiệu quả? Để đánh giá tính hiệu quả của thị trườngchúng ta đặt ra nhiều tiêu chí, trong khuôn khổ đề tài chúng tôi xin phân tích khía cạnh hiệu quảthông tin của thị trường

Để làm rõ mục tiêu, chúng tôi thông qua việc phân tích “Lý thuyết thị trường hiệu quả”, một lýthuyết đã được biết đến từ những năm 1960 Lý thuyết trình bày các nội dung như các cấp độhiệu quả của thị trường, ý nghĩa của một thị trường hiệu quả

Trong nội dung đề tài chúng tôi cố gắng giải quyết các nội dung sau:

- Một thị trường như thế nào được gọi là hiệu quả?

- Mối quan hệ giữa lý thuyết thị trường hiệu quả và thị trường tài chính?

- Vận dụng lý thuyết này như thế nào?

Bên cạnh các câu hỏi trên, chúng tôi cũng xin mở rộng đề tài thông qua việc vận dụng nó vàothị trường chứng khoán Việt Nam Mặc dù mới hình thành vào tháng 07 năm 2000, nhưng rõràng vị thế và tầm quan trọng của nó luôn được đánh giá cao, nhờ có thị trường chứng khoánviệc thu hút đầu tư sẽ thuận lợi và dễ dàng hơn Nhìn lại gần 13 năm phát triển, bên cạnh thànhcông chúng ta vẫn đang mắc phải nhiều vấn đề khó khăn, thị trường vẫn chưa ổn định, các chỉ

số trên thị trường vẫn còn thấp…

Bám sát vào những gì đã đặt ra, chúng tôi đã tổng hợp thông tin và xây dựng nên đề tài này.Qua đây sẽ mang lại cái nhìn tổng quan về lý thuyết thị trường hiệu quả, và kiến nghị một sốbiện pháp khắc phục nhược điểm đang tồn tại ở thị trường chứng khoán Việt Nam Tiếp cận lýthuyết một cách tích cực, một biện pháp hữu hiệu để nhìn nhận lại thị trường, một bước trongrất nhiều bước để đi đến thành công

Trang 5

1 TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ (EMH)

I.1 Các phương diện hiệu quả của thị trường 1

Một thị trường được coi là hiệu quả khi nó hiệu quả về mặt phân phối, hiệu quả về tổ chức hoạtđộng của thị trường, hiệu quả về mặt thông tin…

I.1.1 Hiệu quả về mặt phân phối

Một thị trường được coi là hiệu quả về mặt phân phối khi thị trường đó có khả năng đưa đượccác nguồn lực khan hiếm đến người sử dụng, sao cho trên cơ sở nguồn lực có được, người ta sẽtạo ra kết quả đầu ra lớn nhất, người sử dụng tốt nhất cho nguồn lực huy động được là người cókhả năng trả giá cao nhất cho quyền được sử dụng nguồn lực đó

I.1.2 Hiệu quả về tổ chức hoạt động của thị trường

Đối với thị trường chứng khoán thì tính hiệu quả trên phương diện tổ chức hoạt động thể hiện rõràng bởi khả năng làm cực đại hóa quy mô giao dịch trên một thị trường chứng khoán cụ thể.Việc tổ chức hoạt động của thị trường chứng khoán với mục tiêu cực đại hóa quy mô giao dịchphải dựa trên các nguyên tắc căn bản như ở các thị trường khác là:

- Mở rộng khả năng lựa chọn ‘hàng hóa – các loại chứng khoán’ và lựa chọn ‘dịch vụ - các tổchức trung gian’ cho khách hàng

- Đảm bảo tính chính xác, kịp thời và trung thực trong việc cung cấp thông tin

- Tạo thuận lợi cho khách hàng trong việc tham gia vào thị trường với chi phí thấp

- Có các biện pháp hữu hiệu chống lại các hoạt động đầu cơ gây phương hại đến đa số kháchhàng

I.1.3 Hiệu quả về mặt thông tin

Một thị trường được coi là hiệu quả về mặt thông tin khi giá cả của loại hàng hóa giao dịch trênthị trường phản ánh đầy đủ và tức thời các thông tin có sẵn liên quan Những thông tin đó baogồm nhiều loại khác nhau như thông tin về môi trường kinh tế vĩ mô, thông tin về người có nhucầu sử dụng nguồn lực, thông tin về khan hiếm nguồn lực, v.v…

Thị trường hiệu quả về mặt thông tin có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của thị trường.Cụ thể hơn, thị trường hiệu quả (trên phương diện thông tin) luôn cho rằng khi tham gia vàomột thị trường hiệu quả, nhà đầu tư sẽ ít có cơ hội vượt trội hơn so với những người khác, tức làmọi người đều có khả năng tiếp cận thông tin như nhau

Trang 6

I.2 Sự phát triển của EMH 1

Khái niệm thị trường hiệu quả lần đầu tiên xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 và dần được hoàn thiệnhơn:

- Năm 1900: nhà thống kê học người Pháp Loius Bachelier đã trình bày trong luận án tiến sĩ

của ông về thuyết đầu cơ Ông viết “Quá khứ, hiện tại, và thậm chí là những sự kiện diễn ratrong tương lai sẽ được phản ánh trong giá thị trường, nhưng thường không thấy có quan hệrõ ràng giữa các sự thay đổi về giá.”

Sau đó, một số tác giả khác đã tiếp tục theo đuổi lý thuyết này, trong đó phải kể đến Kendall(1953), Paul Samuelson (1965) Trong một bài báo, Samuelson đã trình bày quan điểm củamình “Giá cả cạnh tranh chắc chắn sẽ được trình bày trong các sự thay đổi giá, nó thể hiệnmột cách ngẫu nhiên và không thể dự báo được.”

- Năm 1960, các tác giả đương đại đã chỉ ra những bằng chứng liên quan đến EMH, chính là

giả thuyết về bước ngẫu nhiên (RWH – Random Walk Hypothesis) – giả thuyết về mối liênquan giữa giá cả trong quá khứ và giá cả trong tương lai của các tài sản (ngày nay nó thuộcEMH dạng yếu.)

- Sau những năm 1960, RWH tiếp tục được mở rộng sang EMH với sự xuất hiện của EMH

dạng trung bình và dạng mạnh Lý thuyết về thị trường hiệu quả chính thức được biết đến vàkhái niệm thị trường hiệu quả lần đầu tiên xuất hiện năm 1969 bởi tác giả Eugene Fama.Theo đó, ông cho rằng “Thị trường hiệu quả là thị trường được điều chỉnh rất nhanh chóngbởi các thông tin mới” Sau đó, ông này đã tổng kết một cách đầy đủ và chi tiết về EMH

“Một thị trường được cho là hiệu quả khi giá cả luôn được phản ánh đầy đủ bởi các thông tincó sẵn.” Tuy vậy, cùng với khái niệm thị trường hiệu quả thì cũng kèm theo một loạt các đòihỏi ngặt nghèo như nhà đầu tư phải có hành động hợp lý một cách tuyệt đối, chi phí giao dịchrất nhỏ gần như có thể bỏ qua, thông tin được lưu thông một cách hoàn hảo… và những điềunày thực tế khó có thể xảy ra Do đó, khái niệm về EMH này vẫn chưa làm hài lòng giớinghiên cứu

- Năm 1978, Jensen đã đưa ra một định nghĩa thực tế hơn về EMH như sau: “Một thị trường

hiệu quả là một thị trường mà trong đó thông tin được phản ánh trong mức giá cho đến khilợi ích biên của giao dịch khi có được thông tin đó (tức là lợi suất kì vọng) không vượt quáchi phí biên của việc khai thác thông tin.”

Trang 7

- Năm 1986, trong bài phát biểu của mình trước hiệp hội tài chính Mỹ, Black cho rằng:

“Chúng ta có thể định nghĩa thị trường hiệu quả mà ở đó, giá nằm trong biên độ 2 lần so vớigiá trị, tức là giá lớn hơn nửa giá trị và nhỏ hơn hai lần giá trị Nhân tử 2 ở đây là theo suynghĩ chủ quan của tôi, tuy nhiên từ quan điểm chủ quan của tôi thì nó khá hợp lý: với sự bấtđịnh về giá trị và áp lực từ các nhân tố luôn có xu hướng đẩy giá về giá trị Với định nghĩanày, tôi nghĩ rằng, khoảng 90% các thị trường đều hiệu quả” Định nghĩa của Black tập trungvào quy mô của sự chênh lệch giá tài sản với giá trị tài sản Thông tin của nhà đầu tư có thểbị nhiễu, và do vậy, giá có thể bị lệch khỏi giá trị nền tảng Tuy nhiên, thị trường vẫn hiệuquả trong điều kiện này, nếu sự lệch không quá lâu và quá lớn trước khi chúng được điềuchỉnh lại cho đúng

- Năm 1992, Makiel đã đưa ra một số khái niệm khá toàn diện về EMH như sau: Một thị

trường vốn được cho là hiệu quả nếu nó phản ánh đầy đủ và chính xác tất cả các thông tin cósẵn trong việc xác định giá chứng khoán Có nghĩa thị trường được cho là hiệu quả đối vớimột tập thông tin ™t nếu giá chứng khoán không bị ảnh hưởng do việc thông tin bị tiết lộ chotất cả các thành viên trong thị trường Hơn nữa, thị trường hiệu quả đối với tập thông tin ™thàm ý rằng người đầu tư không thể kiếm được những lợi nhuận bất thường trên cơ sở nhữngthông tin từ ™t

- Hiện nay EMH được phát triển không chỉ thông qua những khái niệm, lý thuyết mà nó được

áp dụng nhiều trong thực hành để kiểm định thực tế về tính hiệu quả của các thị trườngchứng khoán Từ đó có rất nhiều kết luận thiết thực được rút ra trong hoạt động của các thịtrường chứng khoán nói riêng và thị trường tài chính nói chung

I.3 Các cấp độ hiệu quả của thị trường 1

I.3.1 Thị trường hiệu quả dạng yếu

Giả thiết thị trường hiệu quả yếu phản ánh đầy đủ tất cả thông tin của thị trường chứng khoántrong quá khứ, bao gồm các chuyển dịch liên tục của giá, tỷ suất thu nhập, khối lượng giao dịchvà các thông tin chung khác như: mua bán lô lẻ, giao dịch lô lớn và các thương vụ của cácchuyên gia ngoại hối hay của các nhóm độc quyền khác Vì giả định rằng mức giá thị trườnghiện tại phản ánh tất cả các thu nhập trong quá khứ và mọi thông tin trên thị trường nên giảthuyết này có nghĩa: tỷ suất thu nhập trong quá khứ cũng như các thông tin khác không có mốiliên hệ với tỷ suất thu nhập trong tương lai (các tỷ suất thu nhập độc lập với nhau) Bởi vậy, nhàđầu tư có thể kiếm thêm chút thu nhập khi ra quyết định mua hoặc bán chứng khoán dựa trêncác thông tin về tỷ suất thu nhập hay các thông tin khác của thị trường trong quá khứ

Trang 8

I.3.2 Thị trường hiệu quả dạng trung bình

Giả thuyết thị trường bán hiệu quả (trung bình) cho rằng giá chứng khoán sẽ điều chỉnh nhanhchóng trước bất kỳ thông tin công khai nào, tức là, mức giá hiện tại phản ánh đầy đủ mọi thôngtin công khai Giả thuyết bán hiệu quả bao trùm lên giả thuyết hiệu quả yếu vì tất cả các thôngtin trên thị trường đều phải được xem xét công khai dựa trên giả thuyết hiệu quả yếu như giá cổphiếu, tỷ suất thu nhập, và khối lượng giao dịch Thông tin công khai cũng bao gồm tất cả cácthông tin phi thị trường như: các thông báo về thu nhập và cổ tức, P/E, D/P, chia cổ phần, cácthông tin về kinh tế cũng như chính trị-xã hội Giả thuyết này ngụ ý các nhà đầu tư khi ra quyếtđịnh dựa trên các thông tin mới được công bố sẽ không thu được lợi nhuận cao hơn mức trungbình bởi mức giá chứng khoán này đã phản ánh mọi thông tin công khai đó

I.3.3 Thị trường hiệu quả dạng mạnh

Giả thuyết thị trường hiệu quả mạnh cho rằng giá chứng khoán phản ánh tất cả các thông tin từcông khai đến nội bộ, nghĩa là sẽ không có một nhóm đầu tư nào độc quyền tiếp cận được cácthông tin liên quan đến việc định giá Do đó, sẽ không ai thu được lợi nhuận vượt trội Giảthuyết thị trường hiệu quả mạnh là sự tổng hợp của cả giả thuyết hiệu quả yếu và giả thuyết bánhiệu quả Trong thị trường có hiệu quả hoàn hảo, tất cả các thông tin đều miễn phí và sẵn có đốivới mọi người ở cùng một thời điểm

DẠNG TRUNG BÌNH

Tập thông tin: giá,

lợi suất… (quá

khứ)

Đặc điểm: Nếu thị

trường là hiệu quả

thì thông tin quá

khứ không cho

phép người sử

dụng chúng thu

được thu nhập cao

hơn bình quân trên

thị trường

Tập thông tin: mọi

thông tin đã công bố (hiện tại và quá khứ)

Đặc điểm: Nếu thị

trường là hiệu quả thì mọi thông tin công bố không cho phép người

sử dụng chúng có được thu nhập bất thường

Tập thông tin: mọi

thông tin có thể

Đặc điểm: Nếu thị

trường là hiệu quả thì mọi thông tin có thể không cho phép người sử dụng chúng thu được lợi nhuận vượt trội

THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ

Trang 9

I.4 Tầm quan trọng của một thị trường hiệu quả và ý nghĩa của nghiên cứu EMH

Một thị trường hiệu quả có những ưu điểm nổi bật sau:

- Khuyến khích người đầu tư tin tưởng vào thị trường, vì vậy họ sẽ đầu tư vốn vào thị trườngmà không để lãng phí nguồn lực Nhà đầu tư luôn nghĩ rằng họ đang được lựa chọn cơ hộicho chính mình, không lo rằng vào bất kỳ thời điểm nào họ sẽ bị những rủi ro ngoài tầmkiểm soát

- Khuyến khích phân phối một cách hiệu quả Trong một thị trường hiệu quả, đồng vốn cũng

sẽ tự tìm đến được những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả kinh tế thực sự

- Cải thiện thông tin thị trường vì vậy tăng cơ hội, tăng sự cạnh tranh trong đầu tư Trong thịtrường hiệu quả dạng yếu, nhà đầu tư nào có được thông tin của thị trường hiện tại sẽ trởthành nhà đầu tư nổi trội Do đó, các nhà đầu tư sẽ tìm mọi cách để có được thông tin thịtrường Khi hầu hết các nhà đầu tư đều có các thông tin này, thị trường sẽ trở thành hiệu quảdạng trung bình Lúc này, điều các nhà đầu tư hướng đến để trở nên nổi trội chính là cácthông tin nội bộ Tuy nhiên, thông tin nội bộ tràn lan trên thị trường là điều không thể, do đóthị trường hiệu quả dạng mạnh chỉ tồn tại trong lý thuyết chứ không thể đạt được trong thựctế

I.5 Các lý thuyết cơ sở của EMH 1

EMH là một sự kế thừa, phát triển và là kết quả của việc sử dụng một số lý thuyết tài chính đãđược phổ biến trong lịch sử Trong khuôn khổ của tiểu luận, chúng tôi xin trình bày 2 lý thuyếtnền tảng của EMH

I.5.1 Mô hình lợi suất kỳ vọng hay “Trò chơi công bằng”

Lý thuyết lợi suất kỳ vọng (Eugene Fama 1970) được mô tả như sau:

E(p j,t+1׀Фt) = [1 + E (r j,t+1׀Фt)] pjt

Trong đó:

E là ký hiệu của kỳ vọng

Pjt là giá của chứng khoán j tại thời điểm t

Pj,t+1 là giá của chứng khoán j tại thời điểm t+1

rj,t+1 là lợi suất một thời kỳ (rj,t+1 = (pj,t+1 – pj,t)/pj,t)

Фt là một ký hiệu chung cho bất kỳ tập thông tin nào được giả định là được “phản ánh đầy đủ” ởtrong mức giá tại thời điểm t

Dấu ngã ~ ở trên biến số thể hiện đây là biến ngẫu nhiên tại thời điểm t

Trang 10

Từ biểu thức trên ta thấy giá kỳ vọng của chứng khoán j đã khai thác hết thông tin hiện có tạithời điểm t.

Ngoài ra, theo mô hình này thì thị trường hiệu quả, các cá nhân sẽ có các khoản chênh lệch thunhập bù trừ nhau, vì vậy thị trường “công bằng”

Nếu gọi chênh lệch giá chứng khoán j tại thời điểm t + 1 (giá quan sát) với mức kỳ vọng đượcxác lập tại thời điểm t + 1 trên cơ sở thông tin Фt là xj,t+1:

xj,t+1= pj,t+1 – E(p j,t+1׀Фt)

Do thị trường công bằng nên E(xj,t+1׀Фt) = 0

Chuỗi xjt (tức là chênh lệch giá chứng khoán) được xác định như “trò chơi công bằng” đối vớichuỗi thông tin Фt Từ đó ta có:

z j,t+1 = r j,t+1 – E(r j,t+1 ׀Фt)

và E(z j,t+1 ׀Фt)=0

Với z j,t+1 là chênh lệch lợi suất tại thời điểm t + 1 so với lợi suất kỳ vọng cân bằng xác lập tai

thời điểm t Và chuỗi zit cũng là một “trò chơi công bằng” đối với chuỗi thông tin Фt

Tương tự, nếu gọi αj(Фt) là lượng tiền tại thời điểm t mà có thể đầu tư vào một trong số n chứngkhoán hiện có Khi đó, tại thời điểm t + 1 sẽ tạo ra tổng giá trị thị trường trội lên như sau:

Cũng dựa trên đặc điểm của “trò chơi công bằng” ta sẽ có E(V t+1׀Фt)=0

I.5.2 Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên (Random walk hypothesis)

Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên được xem là nền tảng cho việc phát triển EMH Thuyết được trìnhbày lần đầu bởi Maurice Kendall (1953), nhưng cho đến năm 1973 khi Burton Malkiel xuất bảnquyển “A random walk down Wall Street” thì lý thuyết này mới bắt đầu trở nên phổ biến

Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên cho rằng giá chứng khoán tuân theo bước đi ngẫu nhiên và đó làbước đi không thể tiên đoán được Khả năng tăng hay giảm của giá chứng khoán trong tương lailà tương đương nhau Hay nói cách khác sự thay đổi giá của một chứng khoán riêng lẻ bất kỳhay chỉ số chứng khoán của cả thị trường trong quá khứ đều không thể dùng để dự báo cho sựthay đổi ở tương lai

Theo lý thuyết sự thay đổi giá ngẫu nhiên, nhưng sự ngẫu nhiên là kết quả của sự cạnh tranhquyết liệt giữa các nhà đầu tư khôn ngoan trong việc tìm kiếm lợi nhuận

I.6.Các yếu tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả của thị trường 1

- Trình độ phát triển của thị trường

~

~

~

~

Trang 11

Bao gồm: trình độ quản lý; cơ sở pháp lý; ý thức tuân thủ luật pháp của các đối tượng thamgia; mức độ can thiệp của bàn tay hữu hình;…

- Hành vi của người đầu tư

Để thị trường hiệu quả người đầu tư phải luôn có hành vi hợp lý, hành vi được xem là hợp lýkhi họ phân tích và xử lý “đúng” những thông tin mà họ có, từ đó đưa ra những kỳ vọngđúng về tương lai của cổ phiếu mà họ đầu tư vào

- Không được tồn tại hành vi bất hợp lý mang tính hệ thống

Khi hành vi không hợp lý mang tính hệ thống (nghĩa là một nhóm nhiều nhà đầu tư cùng làmmột hành vi không hợp lý) thì khi ấy việc định giá sai sẽ xuất hiện và có thể kéo dài

- Khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài chính

Nếu thị trường có dấu hiệu cho thấy khả năng kinh doanh chênh lệch giá bị giới hạn thì đócũng chính là biểu hiện của sự không hiệu quả Khi có định giá sai sẽ tồn tại cơ hội để kinhdoanh chênh lệch giá thu lợi nhuận, và chính hành vi này sẽ điều chỉnh giá thị trường về cânbằng

- Tính minh bạch của thông tin

I.7.Một số lý thuyết tài chính khác phát triển bên cạnh EMH

I.7.1 Phân tích kỹ thuật 3

Các phương pháp và công cụ phân tích kỹ thuật được phát triển và trở nên thịnh hành chỉ từ đầuthế kỷ trước với sự nổi bật của lý thuyết Dow (Charles Dow) với các ý tưởng phân tích đượcđăng tải lần đầu tiên trên tạp chí Wall Street Journal Lý thuyết Dow đến nay vẫn được coi lànền tảng cho phương pháp phân tích kỹ thuật với các chỉ báo quan trọng nhất

Đây là phương pháp dựa vào biểu đồ, đồ thị diễn biến giá cả và khối lượng giao dịch của cổphiếu nhằm phân tích các biến động cung cầu đối với cổ phiếu để chỉ ra cách ứng xử trước mắtđối với giá cả, tức là chỉ cho nhà phân tích thời điểm nên mua vào, bán ra hay giữ nguyên cổphiếu trên thị trường

Để thực hiện được phân tích kỹ thuật, cần có các giả định mấu chốt là:

- Hành vi của bất kỳ cổ phiếu nào, hoặc của cả thị trường cổ phiếu, đều có thể liên quan đến xuhướng diễn biến theo thời gian, trong đó xu hướng là phương hướng chính đi lên hay đixuống của cổ phiếu (hoặc cả thị trường cổ phiếu)

- Biến động giá không phải là ngẫu nhiên mà chúng xảy ra dưới các dạng thức có thể đượcphân tích để dự đoán biến động tương lai

- Biến động thị trường được phản ánh tất cả trong giá cổ phiếu

Trang 12

- Lịch sử được lặp lại do bản chất của con người (nhà đầu tư) là không đổi nên sẽ lặp lại nhữnghành vi giống nhau trước những tình huống tương tự, và điều đó dẫn đến các xu hướng giá cảlặp lại

Các nhà phân tích kỹ thuật vẫn luôn tìm kiếm và phát triển lý thuyết của mình, người ta tin rằngcái gì đã diễn ra trong quá khứ đều rất quan trọng và là cơ sở cho tương lai

Rõ ràng lý thuyết này tiếp cận khác với EMH Chỉ khi nào thị trường không hiệu quả thì phântích kỹ thuật mới có ý nghĩa đối với người sử dụng chúng, và lúc đó hiển nhiên rằng phân tíchkỹ thuật sẽ chiếm ưu thế Tuy vậy, thị trường không phải lúc nào cũng không hiệu quả, nó luôn

ở trạng thái tự điều chỉnh về mức hiệu quả, và do đó phân tích kỹ thuật sẽ là công cụ dành chomột số nhà đầu tư trong một số thời điểm

I.7.2 Phân tích cơ bản 3

Là phương pháp phân tích cổ phiếu dựa vào các nhân tố mang tính chất nền tảng có tác độnghoặc dẫn tới sự thay đổi giá cả của cổ phiếu nhằm chỉ ra giá trị nội tại (intrinsic value) của cổphiếu trên thị trường

Cụ thể, các nhân tố cần chú trọng trong phân tích cơ bản về cổ phiếu là:

- Hoạt động kinh doanh của công ty

- Mục tiêu và nhiệm vụ của công ty

- Khả năng lợi nhuận (hiện tại và ước đoán)

- Nhu cầu đối với sản phẩm và dịch vụ của công ty

- Sức ép cạnh tranh và chính sách giá cả

- Kết quả sản xuất kinh doanh theo thời gian

- Kết quả sản xuất kinh doanh so sánh với công ty tương tự và với thị trường

- Vị thế trong ngành

- Chất lượng quản lý

Ở góc độ tổng quát, phân tích cơ bản có thể được sử dụng theo phương pháp phân tích từ nhân

tố vĩ mô đến nhân tố vi mô có ảnh hưởng đến cổ phiếu (thường gọi là phương pháp top-down)gồm 5 cấp độ như sau:

- Phân tích các điều kiện kinh tế vĩ mô

- Phân tích thị trường tài chính - chứng khoán

- Phân tích ngành mà công ty đang hoạt động

- Phân tích công ty

- Phân tích cổ phiếu

Trang 13

So sánh với EMH, khi thị trường hiệu quả ở dạng trung bình thì rõ ràng trường phái phân tíchnày hoàn toàn không có ý nghĩa đối với người sử dụng bởi vì giá cả chứng khoán đã phản ánhhết những thông tin đã được công bố Trường phái này chỉ chiếm ưu thế đối với thị trườngkhông hiệu quả hoặc hiệu quả dạng yếu Tuy nhiên chính những nhà đầu tư khôn ngoan trên thịtrường khi sử dụng công cụ phân tích cơ bản, lại dần đưa thị trường trở nên hiệu quả hơn, giá cảchứng khoán phản ánh đúng giá trị nội tại của nó.

I.7.3 Lý thuyết hành vi 1

Lý thuyết hành vi với nền tảng cơ bản là “thị trường không luôn luôn đúng”, đã đặt ra một đốitrọng lớn đối với lý thuyết EMH Lý thuyết thị trường hiệu quả dựa trên niềm tin rằng luôn tồntại một cơ chế điều chỉnh thị trường về trạng thái hiệu quả, đó là cơ chế kinh doanh chênh lệchgiá Một khi tồn tại hiện tượng định giá sai trên thị trường, nghĩa là giá của các công cụ trên thịtrường tài chính không phản ánh một cách chính xác giá trị hợp lý (dựa trên những nhân tố cơbản), thì sẽ tồn tại cơ hội kinh doanh chênh lệch giá, và “những nhà đầu tư hợp lý” khi tận dụngnhững cơ hội này (mua tài sản bị định giá thấp, bán tài sản bị định giá quá cao), sẽ góp phầnđiều chỉnh thị trường về trạng thái hợp lý hay cân bằng

Lý thuyết hành vi chỉ ra rằng, cơ chế điều chỉnh đó không phải lúc nào cũng có thể xảy ra, nghĩalà sẽ có những trường hợp những nhà đầu tư hợp lý không thể chiến thắng những nhà đầu tư bấthợp lý và khi đó, thị trường sẽ không hiệu quả, hay “sai” (định giá quá cao hoặc quá thấp giá cổphiếu hay các loại sản phẩm tài chính khác)

Lý thuyết tài chính hành vi là sự phát triển kết hợp tâm lý học vào tài chính

Các mô hình được đề xuất bởi lý thuyết tài chính hành vi sẽ có thể đúng nếu trên thị trường tồntại một trong ba điều kiện cơ bản sau:

- Tồn tại hành vi không hợp lý

- Hành vi bất hợp lý mang tính hệ thống

- Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài chính

I.7.4 Lý thuyết thị trường thích nghi (AMH) 1

Lý thuyết thị trường hiệu quả đã được một số nhà nghiên cứu xem xét một cách thận trọng vànó được gọi với tên là lý thuyết thị trường thích nghi AMH (Adaptive Market Hypothesis) Nóđược giải thích là có tính thêm những hành động bất hợp lý của các chủ thể tham gia thị trường.AMH được chấp nhận trong ngắn hạn, giải thích nhiều sự kiện mà EMH không thể giải thíchđược AMH thì dường như chấp nhận những nghịch lý của EMH Sự nghịch lý này thể hiện ởchỗ nếu tất cả những người đầu tư tham gia thị trường tin rằng thị trường là hiệu quả thì lúc đó

Ngày đăng: 25/03/2015, 18:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w