1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động tín dụng tai trợ xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch I- NHĐT&PT Việt nam

80 395 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Nhằm Mở Rộng Hoạt Động Tín Dụng Tài Trợ Xuất Nhập Khẩu Tại Sở Giao Dịch I - Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam
Trường học Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam
Chuyên ngành Tín dụng
Thể loại Chuyên đề thực tập
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 385,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động tín dụng tai trợ xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch I- NHĐT&PT Việt nam

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Công cuộc đổi mới nền kinh tế Việt Nam dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhànước những năm qua đã thu được những thành tựu đáng kể, tốc độ tăng trưởngkinh tế ở mức cao và ổn định, kiềm chế lạm phát ở mức một con số, thị trườngtrong nước và quốc tế ngày càng được mở rộng… Có được những kết quả này lànhờ một phần không nhỏ vào sự thành công trong hoạt động thương mại quốc tếcủa Việt Nam thông qua việc thực hiện tốt chính sách kinh tế mở và tiến hành cácbiện pháp cải cách kinh tế trên nhiều mặt theo xu hướng quốc tế hoá và toàn cầuhoá

Nhiều năm trước đây, hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam chưa pháttriển đúng với khả năng và phát huy tốt vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hạn chế này và một trong những nguyên nhân cơbản là chúng ta thiếu những nguồn tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu trong đóđặc biệt phải kể đến là nguồn tín dụng ngân hàng

Việc phát triển hình thức tín dụng hỗ trợ xuất nhập khẩu của ngân hàngkhông chỉ mang lại lợi ích cho hoạt động xuất nhập khẩu mà còn mang lại lợi íchcho toàn xã hội và ngay cả bản thân ngân hàng bởi tín dụng là hoạt động sinh lờichủ yếu của ngân hàng Nhận thức rõ vấn đề đó, từ năm 1997 Ngân hàng Đầu tư vàPhát triển Việt Nam với vai trò là một ngân hàng chủ lực trong lĩnh vực Đầu tư vàPhát triển đã bắt đầu triển khai hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu và bước đầu đã

có những thành công nhất định

Tuy nhiên, hoạt động tín dụng hỗ trợ xuất nhập khẩu của Ngân hàng Đầu tư

và Phát triển Việt Nam nói chung và của Sở giao dịch I nói riêng còn nhiều hạnchế, doanh số còn thấp, loại hình dịch vụ này chưa được quan tâm đúng mức Dovậy, việc thúc đẩy hoạt động tín dụng hỗ trợ xuất nhập khẩu trở thành một đòi hỏibức xúc đối với Sở giao dịch I - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam hiệnnay

Trang 2

Trước yêu cầu trên tôi chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt

động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch I - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.

Chuyên đề được kết cấu theo 3 chương:

Chương I: Một số vấn đề cơ bản về nghiệp vụ tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của Ngân hàng thương mại

Chương II: Thực trạng hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch I - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Chương III: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tín dụng hỗ trợ xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch I – Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam

2

Trang 3

CHƯƠNG IMỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG TÀI TRỢ XUẤT

NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

I KHÁI NIỆM TÍN DỤNG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU

1 Khái niệm về tín dụng

Danh từ tín dụng dùng để chỉ một số hành vi kinh tế rất phức tạp như:

Bán chịu hàng hoá, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, ký thác, phát hành giấybạc

Trong mỗi hành vi tín dụng vừa nói, chúng ta thấy hai bên cam kết như sau:

- Một bên thì trao ngay một số tài hoá hay tiền bạc còn bên kia cam kết sẽhoàn lại những đối khoản của số tài hoá đó trong một thời gian nhất định và theomột số điều kiện nhất định

Như vậy chúng ta có thể hiểu về tín dụng như sau:

- Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả lẫn nhau

- Theo các nhà kinh tế: tín dụng là phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ

sử dụng vốn lẫn nhau giữa các pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế hàng hoá

- Một định nghĩa khác về tín dụng: Đó là một giao dịch giữa hai bên, trong

đó một bên (trái chủ hay người cho vay) chu cấp tiền hoặc hàng hoá hoặc dịch vụdựa vào lời hứa thanh toán lại trong tương lai ở phía bên kia

Từ các định nghĩa trên ta thấy có yếu tố thời gian vì vậy sẽ có rủi ro, bất trắc

và cần có sự tín nhiệm của hai bên đương sự đối với nhau Hai bên dựa vào sự tínnhiệm, sử dụng tín nhiệm của nhau nên có danh từ tín dụng

2 Tín dụng Ngân hàng

Tín dụng ngân hàng (TDNH) là một khái niệm kinh tế hơn là pháp lý, cáchành vi TDNH có cùng một logic kinh tế: hứng chịu rủi ro cho một người mà ngân

Trang 4

hàng đã tin tưởng ứng vốn cho vay, nhưng nó không chỉ gồm một giao dịch vềpháp lý mà nhiều loại (cho vay, bảo lãnh, bảo chứng…) Luật ngân hàng các nướcđịnh nghĩa tín dụng như sau: “Cấu thành một nghệp vụ tín dụng bất cứ tác độngnào mà qua đó, một người đưa hoặc hứa đưa vốn cho một người khác dùng hoặccam kết bằng chữ ký cho một người này như bảo đảm, bảo chứng hay bảo lãnh mà

có thu tiền” Định nghĩa này nêu ra 3 trường hợp:

+ Cho vay tiền

+ Tín dụng dựa trên việc nhượng trái quyền

+ Tín dụng chữ ký

Có thể hiểu tổng quát: TDNH là hình thức tín dụng có sự tham gia của cácngân hàng trung gian, đóng vai trò là người trung gian trong hoạt động tín dụng nàycác ngân hàng sẽ thực hiện hoạt động huy động vốn (vốn này là vốn tiền tệ tạm thờinhàn rỗi trong nền kinh tế) sau đó sử dụng vốn huy động đó cho vay

Những hành vi tín dụng có thể do bất cứ ai thực hiện, chẳng hạn 2 ngườithường có thể cho nhau vay tiền Tuy nhiên, với thời gian chúng ta thấy một sựchuyên nghiệp đã xảy ra, và ngày nay khi nói đến tín dụng người ta nghĩ ngay tớicác ngân hàng Vì đơn giản đây là một tổ chức có những nghiệp vụ cụ thể, đượctrang bị hiện đại với sự đáp ứng nhu cầu nhanh nhất

3 Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu

nghiệp thực hiện việc sản xuất, kinh doanh, chế biến hàng xuất khẩu

Mục đích của tín dụng tài trợ xuất khẩu là đẩy mạnh sản xuất trong nước,khuyến khích xuất khẩu Đây còn là một kênh tái tạo ngoai tệ để phục vụ hoạt độngnhập khẩu của ngân hàng

trung, dài hạn) để giúp doanh nghiệp thực hiện việc nhập khẩu cần thiết phục vụsản xuất kinh doanh

4

Trang 5

Mục đích của tín dụng tài trợ nhập khẩu là cho vay để giúp các doanh nghiệpnhập nguyên liệu , vật tư, hàng hoá, máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất…

II SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÍN DỤNG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xuất nhập khẩu trở thành vấn đề quantrọng Thị trường thương mại thế giới mở rộng không ngừng, nhu cầu về thị trườngtiêu thụ hàng hoá, thị trường đầu tư trở thành nhu cầu cấp bách của các doanhnghiệp xuất nhập khẩu Do khả năng tài chính có hạn mà các doanh nghiệp khôngphải lúc nào cũng đủ vốn thu mua chế biến hàng xuất khẩu, từ đó nảy sinh ra quan

hệ vay mượn và sự giúp đỡ tài trợ của các ngân hàng

Quan hệ giao thương quốc tế đặt ra những vấn đề tế nhị, đôi khi phức tạp,nên những nghiệp vụ thương mại đòi hỏi sự tham gia của ngân hàng đem lại chocác nhà hoạt động ngoại thương sự hiểu biết kỹ thuật và chỗ dựa tài chính tronglĩnh vực quan trọng này

Có thể nói sự ra đời của tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu là một yêu cầu tấtyếu khách quan, gắn liền với các quan hệ mua bán ngoại thương giữa các nước vớinhau

Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại vàphát triển của ngoại thương cũng như sự phát triển kinh tế của đất nước Cùng với

sự phát triển của ngoại thương và hệ thống ngân hàng, hoạt động hỗ trợ xuất nhậpkhẩu của ngân hàng phát triển ngày càng đa dạng và phong phú:

- Hình thức đơn giản đầu tiên là ngân hàng cho vay trực tiếp đối với các đơn

vị nhập khẩu như cho vay để bổ sung vốn lưu động, thu mua chế biến sản xuấthàng xuất khẩu theo các hợp đồng đã được ký kết, cho vay để thanh toán cácnguyên liệu, hàng hoá, vật tư nhập từ nước ngoài

Trang 6

- Từ hình thức cho vay ngắn hạn là chủ yếu, ngân hàng đã mở rộng trung, dàihạn để hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Ngân hàng chovay để mua sắm máy móc thiết bị, cải tiến công nghệ, ứng dụng thành tựu khoa học

kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng lực cạnh tranh trên thị trườngthế giới

- Ngân hàng còn thực hiện cho vay gián tiếp, đứng ra bảo lãnh để vay vốnnước ngoài cho các đơn vị xuất nhập khẩu, nhờ đó các doanh nghiệp có thể vay vốn

mà không phải thế chấp hay cầm cố tài sản, bảo lãnh mở L/C thanh toán hàng nhậpkhẩu, bảo lãnh hối phiếu, bảo lãnh hợp đồng, v.v

- Nếu doanh nghiệp có hối phiếu trong tay có thể đưa đến ngân hàng chiếtkhấu cũng như các chứng từ có giá trị thanh toán khác Ngân hàng sẽ mua lại bộchứng từ và có quyền đòi tiền nhà nhập khẩu theo hối phiếu Trường hợp nhà nhàxuất khảu có những hợp đồng xuất liên tục và dài hạn theo định kỳ với điều kiệnthanh toán trả chậm, nhưng có nhu cầu vốn ngay, nhà xuất khẩu bán các khoảnthanh toán chưa đến hạn cho ngân hàng Khi đến hạn, ngân hàng sẽ thu tiền từ nhànhập khẩu, đây chính là hình thức tín dụng bao thanh toán

Như vậy, do trình độ kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán ngày càng phát triển, cácphương thức thanh toán quốc tế ngày càng đa dạng, nghiệp vụ tài trợ xuất nhậpkhẩu phát triển dưới nhiều hình thức ngày càng đa dạng, phục vụ tích cực và cóhiệu quả cho hoạt động xuất nhập khẩu

III VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU

1 Sự cần thiết khách quan của hoạt động xuất nhập khẩu trong nền kinh tế

Bất cứ quốc gia nào muốn phát triển kinh tế không chỉ dựa vào sản xuấttrong nước mà còn giao dịch quan hệ với các nước khác Do khác nhau về điềukiện tự nhiên như tài nguyên, khí hậu… nếu chỉ dựa vào sản xuất trong nước không

6

Trang 7

thể cung cấp đủ hàng hoá, dịch vụ đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu thụ của nềnkinh tế mà phải nhập những mặt hàng cần thiết như nguyên liệu, vật tư, máy mócthiết bị, hàng tiêu dùng thiết yếu mà trong nước không sản xuất được hoặc sản xuấtvới chi phí cao hơn Ngược lại, trên cơ sở khai thác tiềm năng và những lợi thếkinh tế vốn có, nền kinh tế ngoài việc phục vụ nhu cầu trong nước còn có thể tạonên thặng dư có thể xuất khẩu sang các nước khác, góp phần tăng ngoại tệ cho đấtnước để nhập khẩu các mặt hàng còn thiếu và để trả nợ.

Như vậy, do nhu cầu phát triển kinh tế mà phát sinh nhu cầu trao đổi, giaodịch hàng hoá giữa các nước với nhau hay nói cách khác hoạt động xuất nhập khẩu

là yêu cầu khách quan của nền kinh tế

2 Vai trò của tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu

Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại vàphát triển của ngoại thương cũng như sự phát triển kinh tế của đất nước

2.1 Đối với nền kinh tế đất nước

- Tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại tạo điều kiện cho hànghoá xuất nhập khẩu lưu thông trôi chảy Thông qua tài trợ của ngân hàng, hàng hoáXNK theo yêu cầu của thị trường được thực hiện thường xuyên, liên tục đảm bảo

sự ổn định của nền kinh tế

- Tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng tạo điều kiện cho doanh nghiệp pháttriển, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, làm động cơ thúc đẩy nền kinh tế Doanhnghiệp có sự giúp đỡ của ngân hàng có vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, hiệnđại hoá trang thiết bị làm tăng năng suất lao động Doanh nghiệp phát triển chính làkinh tế đất nước phát triển

2.2 Đối với doanh nghiệp

- Nhờ sự giúp đỡ của ngân hàng, đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp,giúp doanh nghiệp có thể tồn tại và đứng vững trong nền kinh tế thị trường, mở

Trang 8

rộng sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thấtnghiệp đồng thời hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước.

- Tài trợ xuất nhập khẩu làm tăng hiệu quả của doanh nghiệp trong quá trìnhthực hiện hợp đồng Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, vốn tài trợ giúp doanh nghiệpmua hàng đúng thời vụ, gia công chế biến và giao hàng đúng thời điểm Đối vớidoanh nghiệp nhập khẩu, vốn tài trợ giúp doanh nghiệp mua được những lô hànglớn, giá hạ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

- Tín dụng ngân hàng làm giảm rủi ro của hoạt động xuất nhập khẩu Hoạtđộng xuất nhập khẩu thường diễn ra ở hai nước khác nhau Do vậy, sự hiểu biếtgiữa người mua và người bán không được đầy đủ, chính xác Nhờ sử dụng tín dụngngân hàng, Nhà nhập khẩu và xuẩt khẩu sẽ yên tâm nhận đúng số tiền, hàng củamình thông qua các ngân hàng trung gian đứng ra bảo đảm

- Đặc biệt, nhờ tín dụng ngân hàng, doanh nghiệp thực hiện được nhữngthương vụ lớn Vốn tài tợ của ngân hàng kịp thời, đúng lúc giúp cho doanh nghiệpđảm bảo thực hiện theo hợp đồng từ đó làm cho uy tín của doanh nghiệp được nângcao trên thị trường thế giới Tín dụng xuất nhập khẩu tại các ngân hàng thương mạidựa vào 3 nguyên tắc cơ bản:

(1) Sử dụng vốn vay đúng mục đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng

(2) Phải hoàn trả nợ gốc và tiền lãi đúng hạn đã thoả thuận

(3) Tiền vay phải có tài sản tương đương bảo đảm

Cùng với sự phát triển của ngoại thương, nhu cầu tín dụng của các doanhnghiệp, các tổ chức kinh tế ngày càng gia tăng Nó đòi hỏi ngân hàng ngày càngphải hoàn thiện và phát triển các nghiệp vụ tín dụng đáp ứng nhu cầu của các nhàxuất nhập khẩu và sự biến động của nền kinh tế Ngân hàng cần nắm bắt được nhucầu tài trợ nảy sinh trong hoạt động xuất nhập khẩu để có thể đáp ứng được nhucầu của doanh nghiệp và mở rộng hoạt động của mình

3 Nhu cầu tài trợ cho xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp

8

Trang 9

3.1 Nhu cầu tài trợ cho xuất khẩu

Việc thực hiện xuất khẩu hàng hoá, máy móc thiết bị, công nghệ thường kéodài từ nhiều tháng cho tới vài năm, thông thường nhu cầu tài trợ thường nảy sinh ởnhiều giai đoạn khác nhau Cụ thể:

+ Giai đoạn phân tích nhu cầu, thiết kế, tìm kiếm khách hàng, đại diện tại cáchội chợ, đàm phán sơ bộ, lập kế hoạch: Đây là giai đoạn đầu tiên và có ý nghĩaquyết định đối với việc thực hiện các bước sau của cả hoạt động xuất khẩu Đểhoàn thành tốt giai đoạn này, các chuyên gia phải thực hiện các chuyến đi dài ngày

và tiến hành nhiều cuộc đàm phán, phải làm ra hàng mẫu và mô hình để trưng bày,giới thiệu Sau đó họ còn phải hoàn tất các tài liệu thiết kế và tính toán chính xáccho đàm phán hợp đồng Chi phí cho những hoạt động này không nhỏ, đặc biệt vớicác cơ sở kinh doanh tiềm lực tài chính còn hạn hẹp

+ Giai đoạn đưa ra đề nghị chào hàng: Các đề nghị chào hàng trong khuônkhổ đấu thầu quốc tế thường được để kèm theo bản bảo đảm đấu thầu của một ngânhàng có uy tínn trong giao dịch quốc tế Do vậy, các doanh nghiệp xuất khẩu cũngcần được sự giúp đỡ của ngân hàng

+ Giai đoạn ký kết hợp đồng: Trong trường hợp nhà xuất khẩu chưa có uy tíncao ở nước ngoài, đối tác có thể yêu cầu một bảo đảm giao hàng hoặc bảo đảmhoàn thành công trình Đảm bảo này sẽ có hiệu lực nếu việc giao hàng hoặc hoànthành công trình không đúng như thoả thuận

Trong trường hợp khác, nếu nhà xuất khẩu cần tiền đặt cọc mà nhà nhậpkhẩu là người nước ngoài đang gặp khó khăn và không có khả năng đặt cọc từnguồn vốn riêng của mình thì nhà xuất khẩu có thể đề nghị ngân hàng của mìnhmột tài trợ đặt cọc có lợi cho đối tác thương mại của mình Ngoài ra, khi ký kết hợpđồng thường đi kèm theo khoản thanh toán hoa hồng nhất định của nhà xuất khẩucho nhà nhập khẩu… do vậy nhà xuất khẩu cũng cần được tài trợ ở giai đoạn này

Trang 10

+ Giai đoạn chuẩn bị sản xuất: Sau khi đã ký hợp đồng, nhà xuất khẩu sẽ tiếnhành chuẩn bị sản xuất Nhất là việc xây dựng các công trình lớn như nhà máy, xínghiệp… Việc này thường thường đi kèm với chi phí lớn vượt quá mức đặt cọc.

+ Giai đoạn sản xuất: mặc dù đã có những thoả thuận về việc thanh toán tiếptheo của người mua, trong thời gian này thường nảy sinh các nhu cầu tài chính cao

về vật tư và chi phí liên quan khác vượt quá các khoản thanh toán giữa chừng.Ngoài ra, với các mặt hàng lớn như máy móc công nghệ… thì nhiều khi nhà xuấtkhẩu còn cần được tài trợ cho các chi phí xây dựng kho bãi, chuẩn bị mặt bằng sảnxuất, đào tạo người sử dụng máy móc… ở nước nhập khẩu

+ Giai đoạn cung ứng: Ngay cả trong giai đoạn cung ứng cũng có thể nảysinh các chi phí cần được tài trợ như chi phí vận tải, bảo hiểm… tuỳ theo điều kiệncung ứng

+ Giai đoạn lắp ráp, chạy thử, bàn giao công trình: Sau khi hàng hoá đượcbàn giao đến địa điểm quy định, nhà xuất khẩu còn cần chi phí cho lắp ráp chạy thửcho tới khi được người mua thu nhận và chấp nhận thanh toán

+ Giai đoạn bảo hành: Trong giai đoạn này người mua có quyền yêu cầuđược bảo hành ở ngân hàng của nhà xuất khẩu trước khi thanh toán

3.2.Nhu cầu tài trợ nhập khẩu

Với hoạt động nhập khẩu, nếu như nhà xuất khẩu có nhu cầu tài trợ đẻ đẩymạnh hoạt động bán hàng thì các nhà nhập khẩu cũng nảy sinh nhu cầu tài trợ đểmua hàng khi khả năng tài chính không đáp ứng được Vì vậy, về phía nhà nhậpkhẩu cũng hình thành nhu cầu tài trợ trên nhiều mặt

+ Giai đoạn trước khi ký kết hợp đồng: ở giai đoạn này các nhà nhập khẩucần có những chi phí cho việc thuê các chuyên gia phân tích chính xác nhu cầu củamình để tiến hành đấu thầu một cách phù hợp

+ Giai đoạn sau khi ký kết hợp đồng: Sau khi ký kết được hợp đồng, các nhànhập khẩu cần được tài trợ để đặt cọc hoặc tạm ứng cho nhà xuất khẩu Ngoài ra,

10

Trang 11

nhiều khi nhà nhập khẩu còn phải nhờ ngân hàng đứng ra bảo đảm để tìm nguồn tàitrợ ở nước ngoài.

+ Giai đoạn sản xuất và hoàn thành công trình: Trong giai đoạn này nhà nhậpkhẩu có thể phải thực hiện những khoản thanh toán giữa chừng cho nhà xuất khẩuhay tài trợ cho các công việc ở địa phương để chuẩn bị cho đầu tư

+ Giai đoạn cung ứng và vận chuyển hàng hoá: Tuỳ theo điều kiện cung ứnghàng hoá có thể nảy sinh nhiều phí tổn về vận chuyển và bảo hiểm đối với các nhànhập khẩu

+ Nhận hàng hoá: Nếu tiến hành thanh toán cung ứng hàng hoá khi xuất trìnhchứng từ (có thư tín dụng kèm theo hoặc theo điều kiện D/P) thì thường nhà nhậpkhẩu chỉ có thể nhận được hàng khi giá trị trên hoá đơn đã ghi rõ hoặc có thể tài trợđược

+ Xử lý tiếp, bán tiếp, tài trợ tiêu thụ: Đối với hàng hoá chủ định bán tiếp thìnhà nhập khẩu còn có nhu cầu tài trợ giữa chừng cho khoảng thời gian nhập hàng

về tới khi hàng hoá được tiêu thụ

Nếu sản phẩm là những dây chuyền công nghệ để sản xuất thì nhà nhập khẩu

sẽ có nhu cầu được tài trợ cho giai đoạn từ khi sản xuất sản phẩm mới tới khi tiêuthụ được các sản phẩm làm ra và thu được tiền hàng

4 Mối quan hệ giữa hoạt động xuất nhập khẩu với hoạt động kinh doanh đối ngoại của Ngân hàng thương mại

Trong hoạt động xuất khẩu cũng diễn ra quá trình sản xuất, lưu thông hànghoá như các ngành kinh tế với mục đích cuối cùng là thực hiện giá trị hàng hoá Nóchỉ có điểm khác biệt là việc mua bán diễn ra giữa các đối tác có quốc tịc khá nhau,hàng hoá được vận chuyển từ nước này sang nước khác, đồng tiền thanh toán cóthể là ngoại tệ Chính vì vậy khâu cuối cùng của hoạt động xuất nhập khẩu là khâuthanh toán cũng có những điểm khác với thanh toán trong nước thực hiện trên cơ sởsau:

Trang 12

Người xuất khẩu và người nhập khẩu ký kết hợp đồng mua bán ngoại thươngtrong đó quy định các điều kiện về thanh toán quốc tế:

- Điều kiện về thời gian

- Điều kiện về địa điểm

- Điều kiện về phương thức thanh toán

Trên cơ sở đó, người xuất khẩun sẽ tiến hành giao hàng, sau đó sẽ ký pháthối phiếu, séc của người nhập khẩu gửi đến ngân hàng nước mình nhờ thu hộ tiềnghi trên các phương tiện thanh toán đó Các ngân hàng này chuyển các phương tiệnthanh toán đến các ngân hàng nước nhập khẩu để thu hộ

Như vậy, cơ sở để hình thành hoạt động kinh doanh đối ngoại của ngân hàngthương mại là hoạt động ngoại thương Nói đến ngoại thương là nói đến thanh toánquốc tế Nếu thanh toán quốc tế được thực hiện tốt thì giá trị hàng hoá xuất nhậpkhẩu mới được thực hiện tốt, thúc đẩy tài trợ ngoại thương góp phần không nhỏcho việc đưa ngoại thương phát triển và là yếu tố quan trọng để đánh giá quan hệkinh tế quốc tế đối với sự phát triển của một quốc gia

IV CÁC HÌNH THỨC VÀ QUY TRÌNH TÍN DỤNG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU TRÊN THẾ GIỚI

Để thu hút khách hàng mỗi ngân hàng bên cạnh việc thực hiện theo đúng quyđịnh của pháp luật đều cố gắng tạo ra sự khác biệt cho ngân hàng của mình Đốivới hoạt động tín dụng hỗ trợ xuất nhập khẩu cũng vậy, dựa vào tiềm lực của mìnhcùng với mục tiêu thu hút khách hàng, tối đa hoá lợi nhuận, phân tán rủi ro cácngân hàng cũng lựa chọn các hình thức tín dụng khác nhau đáp ứng kịp thời mọinhu cầu tài chính Ngân hàng đã trở thành một người bạn đồng hành không thểthiếu của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trong quá trình hội nhập vào nền kinh

tế thế giới

1 Các hình thức tín dụng tài trợ xuất khẩu

12

Trang 13

Ngân hàng thương mại cung cấp tín dụng cho các cơ sở xuất khẩu dưới cáchình thức sau:

1.1.Tín dụng ứng trước trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ

Sau khi lập xong bộ chứng từ hàng hoá, vận chuyển, bảo hiểm… nhà xuấtkhẩu sẽ nộp lên ngân hàng của mình nhờ thu hộ tiền Ngân hàng của nhà xuẩt khẩu

sẽ chuyển đến ngân hàng của nhà nhập khẩu (hoặc ngân hàng giao dịch) với chỉ thịgiao chứng từ khi đã thanh toán (điều kiện D/P) hoặc chấp nhận một hối phiếu đòi

nợ kèm theo (điều kiện D/A) Tuy vậy, thời gian để có tiền thanh toán do nhà nhậpkhẩu trả làm cho xuất khẩu có thể thiếu vốn tạm thời Nhà xuất khẩu lúc này có thểyêu cầu ngân hàng đáp ứng một phần giá trị bộ chứng từ nhờ thu làm đảm bảo

Tín dụng ứng trước trong phương thức nhờ thu gần giống với chiết khấuchứng từ nhưng có một số điểm cần phân biệt như sau:

- Ngân hàng không cho vay toàn bộ giá trị hối phiếu mà chỉ đáp ứng trướcmột phần

- Nhà xuất khẩu không phải chịu tỷ lệ chiết khấu 10% chi phí hối phiếu nhưchiết khấu vì nhà xuất khẩu chỉ cần một phần giá trị hối phiếu

- Tín dụng ứng trước trong phương thức nhờ thu có thể xem như chiết khấutừng phần, nhà xuất khẩu sử dụng hình thức này để tìm kiếm nguồn tài trợ ngắnhạn phục vụ nhu câu tiền mặt tạm thời

1.2 Tín dụng ứng trước trong phương thức tín dụng chứng từ

Trong hình thức thanh toán bằng thư tín dụng, nhà xuất khẩu là người đượchưởng lợi Khi có toàn bộ chứng từ thanh toán trong tay, nhà xuất khẩu có thể sửdụng L/C để thế chấp mở L/C khác cho người hưởng lợi khác (L/C giáp lưng) hoặcnhà xuất khẩu có thể đến các ngân hàng thanh toán để chiết khấu các hối phiếu của

bộ chứng từ thư tín dụng, ngoài ra với một L/C cho phép bán lại chứng từ đòi tiềnnhà nhập khẩu hoặc dưới dạng chuyển nhượng toàn bộ quyền sở hữu một thư tín

Trang 14

dụng trả chậm thì nhà xuất khẩu có thể nhận được một khoản tín dụng từ ngânhàng.

Tín dụng ứng trước trong phương thức tín dụng chứng từ khi sử dụng L/Cđiều khoản đỏ, nhà xuất khẩu sẽ có một khoản tiền ứng trước của nhà nhập khẩuvào thời điểm xác định trước khi xuất trình toàn bộ chứng từ hàng hoá, các điềukhoản ứng trước thường được quy định trong một điều kiện thuận lợi cho các bênthực hiện

Điều khoản này yêu cầu ngân hàng thông báo hay ngân hàng xác nhận cấpcho nhà xuất khẩu một khoản tín dụng trước khi giao hàng Nhà xuất khẩu chịu chiphí liên quan còn ngân hàng mở L/C chịu trách nhiệm về khoản ứng trước, vật bảođảm của nhà xuất khẩu khi nhận tiền ứng trước

Ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng xác nhận sẽ thu hồi số tiền ứng trướccùng với lãi sau khi ngân hàng mở L/C thanh toán (nếu có bộ chứng từ phù hợp).Nếu nhà xuất khẩu vì một lý do nào đó không xuất trình được chứng từ phù hợpvới điều kiện của L/C, các ngân hàng cũng có quyền đòi số tiền này ở ngân hàng

mở L/C

1.3.Tín dụng chiết khấu hối phiếu

Ở hình thức này ngân hàng mua lại hối phiếu trước khi đến hạn thanh toántức là mua lại các khoản nợ phải đòi

Lượng tín dụng mà ngân hàng cấp cho khách hàng là giá trị hối phiếu saukhi trừ đi chi phí chiết khấu và các khoản lệ phí…Chi phí chiết khấu được xác địnhtheo công thức:

36.000

14

Trang 15

Lck: lãi chiết khấu

Trong các yếu tố trên, người ta quan tâm nhất đến lãi suất chiết khấu, tỷ lệnày phụ thuộc vào khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu, thời hạn thanh toán,hình thức và giá trị hối phiếu

Những quy định của luật hối phiếu vẫn cho phép ngân hàng truy thu khoản

nợ từ người xuất trình hối phiếu (nó như một dạng tín dụng ứng trước cho ngườixuất khẩu)

Hình thức tín dụng này rất phổ biến ở các nước, đây là loại tín dụng thôngthường nhất trong hoạt động ngoại thương

Quy trình chiết khấu hối phiếu:

12 10b

3 4 7 8 10

10a10a

Ngân hàng

nhà XK

Ngân hàng Trung ương ở nước nhà

Trang 16

1 Nhà xuất khẩu sau khi giao hàng, chuyển chứng từ vận chuyển và hốiphiếu đòi nợ tới nhà nhập khẩu.

cho nhà xuất khẩu

phiếu

vào tài khoản của nhà xuất khẩu sau khi đã trừ đi chi phí chiết khấu và lệ phí nhờthu)

chiết khấu và thu hồi khoản tín dụng đã cấp cho nhà xuất khẩu

nhà nhập khẩu và đề nghị thanh toán

nghị thanh toán

vào tài khoản của mình

ương, chi phí hối phiếu sau khi đã trừ đi lệ phí nhờ thu và thông báo khoản thu đãđược thực hiện

khẩu chuyển hối phiếu cho ngân hàng của mình từ đó hối phiếu được chuyển đếnNgân hàng Trung ương

10a Ngân hàng Trung ương truy đòi ngân hàng nhà nhà xuất khẩu hoặc cóthể truy đòi trực tiếp nhà xuất khẩu

10b Mọi vấn đề nhà xuất khẩu phải tự giải quyết với nhà nhập khẩu

16

Trang 17

1.4.Chiết khấu bộ chứng từ hàng hoá

Ngân hàng cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu trên cơ sở chiết khấu bộ chứng từhàng hoá trước khi đến hạn thanh toán Với hình thức này ngân hàng tạo điều kiệncho nhà xuất khẩu có thể thu hồi được vốn nhanh tương tự chiết khấu hối phiếu.Lãi suất chiết khấu phụ thuộc vào phương thức chiết khấu

Có 2 loại:

- Chiết khấu có truy đòi: Ngân hàng sau khi thực hiện chiết khấu bộ chứng

từ, nếu không được bên nước ngoài thanh toán sẽ quay lại đòi nhà xuất khẩu -> lãisuất thấp

- Chiết khấu miễn truy đòi: ngân hàng sẽ phải gánh chịu mọi rủi ro nếu bênnước ngoài không thanh toán, ngân hàng sẽ không có quyền đòi lại tiền của kháchhàng

1.5.Cho vay thông thường

Cho vay thông thường là việc ngân hàng giao cho khách hàng một khoảntiền để họ sử dụng trong thời gian nhất định Khi hết hạn người vay phải trả đủ cảgốc và lãi

Cho vay thông thường là hình thức tín dụng cơ sở cho các hình thức tín dụngkhác ra đời và phát triển Ngân hàng sử dụng dưới hai hình thức: cho vay ngắnhạn(<12 tháng) và dài hạn Cho vay ngắn hạn thường áp dụng đối với những yêucầu về vốn tạm thời để trang trải những nhu cầu sinh hoạt còn cho vay dài hạn đểcung cấp tiền đầu tư vào máy móc thiết bị, cơ sở hạ tầng… Thông thường, các nhàXNK vay ngắn hạn để chi trả tiền lương, chi phí vận chuyển, thu mua hàng xuấtkhẩu, trả tiền hàng nhập khẩu Bên cạnh đó, các doanh nghiệp lại sử dụng tín dụngdài hạn để mua sắm trang thiết bị hiện đại, nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ cho quátrình sản xuất kinh doanh

Ưu điểm:

Trang 18

- Cho vay theo phương thức này được áp dụng trong mọi lĩnh vực, mọi đốitượng, mọi cá nhân trong nền kinh tế khi có nhu cầu đều có thể đến ngân hàng đểxin được cấp vốn Sau khi xem xét hồ sơ thấy khách hàng có đủ mọi yêu cầu trongnguyên tắc tín dụng ngân hàng đều có thể tiến hành cho vay.

- Cho vay theo phương thức này bao giờ cũng phải có tài sản để bảo đảm chomón vay Vì vậy nói chung khản vay khá an toàn

Nhược điểm:

Khó khăn trong việc định giá tài sản tài chính, đặc biệt là khi bán chúng vìgiá cả thị trường thường xuyên biến động, hàng hoá, tài sản có thể bị hỏng hóc, mấtmát

- Thanh toán “factoring” và “forfaithing”:

+ Factoring là một hình thức tài chính trong hoạt động xuất khẩu Đó là hoạtđộng mua bán những khoản thanh toán chưa đến hạn và ngắn hạn từ các hoạt độngxuất khẩu, cung ứng hàng hoá, dịch vụ Đặc điểm nổi bật của nghiệp vụ này là tínhmiễn truy đòi tương đối đối với nhà nhập khẩu hoặc người sở hữu trước đó nếu cácchứng từ là bằng chứng cho các khoản nợ không được thanh toán khi đến hạn.Khác với hoạt động mua lại chứng từ thanh toán, hoạt động factoring không sửdụng các tín dụng thư cũng như hối phiếu Để có thể chào khách hàng bằng cách tàitrợ này, gần như tất cả các ngân hàng tiến hành lập cơ sở đặc biệt, chuyên dụng vìfactoring không phải là nghiệp vụ ngân hàng Hoạt động factoring chỉ sử dụng chonhững hoạt động xuất khẩu thường xuyên theo định kỳ hợp đồng ngắn hạn và chonhiều nhà xuất khẩu khác nhau trong cùng một nước hoặc nhiều nước trong cùngmột thời điểm

- Chỉ có những khoản thanh toán đáp ứng được những điều kiện sau mớiđược phép mua bán:

Những khoản thanh toán phải tồn tại một cách hợp pháp

18

Trang 19

Hàng hoá đã được cung ứng đầy đủ và đảm bảo chất lượng cho những khoảnthanh toán này.

Thời hạn thanh toán này tối đa là 180 ngày

Những khoản thanh toán phải đủ tư cách pháp lý độc lập với quyền củangười thứ ba

Không có việc cấm chuyển nhượng các khoản thanh toán này của ngườinhập khẩu hoặc nước nhập khẩu

Forfaithing: kỹ thuật factoring được chuyên môn hoá cao gọi là forfaithing.

Về cơ bản nghiệp vụ này giống nghiệp vụ factoring ở những đặc điểm sau:

- Forfaithing chỉ bao gồm những khoản thanh toán cụ thể, riêng lẻ trong toàn

bộ quá trình xuất nhập dài hạn và cho từng đối tượng nhập khẩu nói riêng

- Thời hạn thanh toán của forfaithing là trung và dài hạn, áp dụng với loạitiền tệ có khả năng chuyển đổi mạnh USD, DEM…

- Factoring phục vụ XNK không sử dụng tới chứng từ còn forfaithing dựavào chúng và sự đảm bảo của ngân hàng

Quy trình nghiệp vụ phương thức tín dụng chứng từ:

(3) (5) (1) (8)

Trang 20

(2) (6)

(7)

cầu mở một L/C cho người xuất khẩu hưởng

qua ngân hàng đại lý của mình ở nước xuất khẩu thông báo việc mở L/C tới nhàxuất khẩu

nhà xuất khẩu toàn bộ nội dung về việc mở L/C và khi nhận được bản gốc L/C thìchuyển ngay cho nhà xuất khẩu

không thì đề nghị ngân hàng mở L/C sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với hợp đồng

và xuất trình thông qua ngân hàng thông báo cho ngân hàng mở L/C xin thanh toán

thanh toán cho nhà xuất khẩu

L/C thì tiến hành trả tiền cho nhà xuất khẩu, nếu thấy không phù hợp thì từ chốithanh toán và gửi trả lại bộ chứng từ cho nhà xuất khẩu

nhà nhập khẩu sau khi nhận tiền thanh toán

9 Ngày nhận nợ và tính lãi cho vay mở L/C là ngày nhà nhập khẩu phải

thanh toán cho nhà xuất khẩu (ngày đến hạn thanh toán L/C)

20

Trang 21

10 Đối với nhà nhập khẩu việc mở thư tín dụng đã thể hiện việc ngân hàng

cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu vì mọi thư tín dụng đều do ngân hàng mở theo đềnghị của nhà nhập khẩu Nhưng thực tế không phải lúc nào nhà nhập khẩu cũng có

đủ số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng Vì vậy ngân hàng mở L/Cphải gánh chịu mọi rủi ro khi nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán hoặckhông muốn thanh toán khi L/C đến hạn trả tiền

10a Khi ngân hàng mở L/C trả chậm cho nhà nhập khẩu, ngân hàng đã

gián tiếp cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu vì khi có sự chấp nhận bảo lãnh trả tiềncủa ngân hàng thì nhà xuất khẩu mới đồng ý cho nhà nhập khẩu mua chịu hànghoá Nếu nhà nhập khẩu sử dụng vốn tự có để mở L/C đến hạn thanh toán với bênnước ngoài mà nhà nhập khẩu không đủ khả năng thanh toán thì họ phải nhận nợvới ngân hàng và chịu lãi xuất phạt bằng 150% lãi suất cho vay Do vậy nhà nhậpkhẩu thường sử dụng việc vay để mở L/C trên cơ sở hợp đồng đã ký

10b Khi mở L/C cho nhà nhập khẩu, nếu ngân hàng khống chế số dư có trên

tài khoản của khách hàng thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng kinh doanh của họ dokhoảng cách giữa thời gian mở L/C và thời gian nhận hàng tương đối dài Vì vậy,

để hạn chế rủi ro ngân hàng thường cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu theo hạn mứctín dụng Bên cạnh đó, ngân hàng phải kiểm tra khả năng kinh doanh của nhà nhậpkhẩu, tình hình tài chính, đối tượng nhập khẩu… để có cơ sở vững chắc trước khi

mở L/C

2.2.Tín dụng chấp nhận hối phiếu

Đây là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng dành cho nhà nhập khẩu Ngânhàng cam kết chấp nhận các hối phiếu mà khách hàng của mình phải thanh toán.Như vậy, nhà xuất khẩu sẽ được đảm bảo thanh toán khi đến hạn

- Hình thức này thường được sử dụng khi người bán thiếu tin tưởng vào khảnăng thanh toán của người mua và họ đề nghị bên mua có một ngân hàng đứng rachấp nhạn trả tiền hối phiếu do họ ký phát

Trang 22

- Đây chỉ là một hình thức bảo đảm về mặt tài chính cho nhà nhập khẩu Nếuđến hạn thanh toán, người mua có đủ tiền thanh toán thì ngân hàng được nhận mộtkhoản phí chấp nhận, thật sự ngân hàng không phải ứng tiền ra Ngược lại, nếu đếnhạn thanh toán mà người mua không có khr năng thanh toán thì ngân hàng phảigánh chịu thiệt hại.

Tín dụng chấp nhận hối phiếu đem lại rất nhiều ưu điểm cho hoạt động xuấtnhập khẩu:

- Đối với nhà xuất khẩu, với sự chấp nhận của nhà nhập khẩu, họ có sự bảođảm chắc chắn về khả năng thanh toán của hối phiếu và họ có thể đem hối phiếu đichiết khấu lại tại bất kỳ ngân hàng nào Sự chấp nhận của ngân hàng đã tạo ra khảnăng lưu thông cho hối phiếu đồng thời cũng tạo điều kiện cho nhà xuất khẩu đượchưởng tỷ lệ chiết khấu ưu đãi

- Đối với nhà nhập khẩu, với hình thức này anh ta sẽ tạo được uy tín đối vớinhà xuất khẩu nếu nhà nhập khẩu có đủ khả năng thanh toán cho nhà xuất khẩu khiđến hạn Mặt khác, nhà nhập khẩu cũng có thể đem chiết khấu hối phiếu tại mộtngân hàng khác có tỷ lệ chiết khấu thấp hơn và từ khoản thu chiết khấu này nhànhập khẩu có được mức giá mua ưu đãi nếu thanh toán trước hạn

2.3 Tín dụng chiết khấu hối phiếu tự nhận nợ (kỳ phiếu)

Hối phiếu tự nhận nợ là dạng hối phiếu khống trong đó ngân hàng tự nhận nợđối với nhà nhập khẩu Thông qua hối phiếu này, ngân hàng cấp cho nhà nhập khẩumột khoản tín dụng đạ biệt gọi là tín dụng chiết khấu hối phiếu tự nhận nợ

Hình thức này giúp cho các nhà nhập khẩu hưởng một khoản ưu đãi do việcthanh toán nhanh trong giao dịch ngoại thương khi ngân hàng phục vụ họ không có

Ngân hàng nhà

xuất khẩu

Ngân hàng Trung ương

Trang 23

(2)

(2) (5) (6)

(3) (4)(8) (9) (10)

1 Nhà nhập khẩu ký hợp đồng với nhà xuất khẩu với điều kiện thanh toánkhi giao chứng từ Nhà nhập khẩu có thời gian 90 ngày để chi

2 Nhà nhập khẩu ký hợp đồng tín dụng với ngân hàng phục vụ mình trên

cơ sở hối phiếu tự nhận nợ

3 Để thực hiện hợp đồng tín dụng này, ngân hàng nhà nhập khẩu thôngbáo và đề nghị một ngân hàng nớc ngoài (phần lớn là ngân hàng chi nhánh của họ)phát hành một hối phiếu tự nhận nợ có thời hạn thanh toán là 90 ngày và được phépthanh toán tại ngân hàng nhà nhập khẩu và chuyển ngay hối phiếu cho nhà nhậpkhẩu

4 Ngân hàng chi nhánh thực hiện đề nghị trên (phát hành hối phiếu tựnhận nợ và chuyển cho nhà nhập khẩu)

Trang 24

5 Nhà nhập khẩu chuyển hối phiếu tự nhận nợ cho chính ngân hàng phục

vụ mình và đề nghị cung cấp hôí phiếu

6 Ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu chiết khấu hối phiếu tự nhận nợ vàghi có vào tài khoản cho nhà nhập khẩu

7 Nhà nhập khẩu thực hiện thanh toán theo đúng kỳ hạn cho nhà xuấtkhẩu

8 Ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu đem hối phiếu giao cho ngân hàngTrung ương

9 Đến thời hạn thanh toán, Ngân hàng Trung ương xuất trình hối phiếucho ngân hàng nước ngoài đề nghị thanh toán

10 Ngân hàng chi nhánh ở nước ngoài chấp nhận thanh toán trên cơ sởchuyển vốn từ ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu hoặc từ tiền mà nhà nhập khẩutrả

2.4.Tín dụng ứng trước cho nhà nhập khẩu

Với hình thức này, ngân hnàg sử dụng các chứng từ hàng hoá làm vật đảmbảo Nhà nhập khẩu được cung cấp tín dụng theo hình thức ứng trước khi họ cầnphải thanh toán tiền mặt cho nhà xuất khẩu hoặc khi nhà nhập khẩu cần thnah toán

bộ chứng từ hàng hoá chưa về đến cảng và doanh nghiệp chưa tiêu thụ được hàng

24

Trang 25

hoá để thu hồi vốn, hình thức này được ngân hàng áp dụng cho mục đích thanhtoán ngắn hạn của nhà nhập khẩu.

2.5.Tín dụng theo hiệp định khung

Đây là một hình thức tín dụng dành cho nhà nhập khẩu nước ngoài nhằm hỗtrợ cho việc thanh toán tiền hàng nhập khẩu và thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm của cácnước xuất khẩu

Tín dụng theo hiệp định khung là một hình thức tín dụng có điều kiện, cácngân hàng nước xuất khẩu ký kết một hiệp định khung với các ngân hàng nướcngoài cho phép các ngân hàng này sử dụng những khoản tín dụng riêng rẽ nhằm tàitrợ cho việc nhập khẩu hàng hoá, máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ từ nước

họ (ít nhất 60% giá trị hàng hoá mua bán được sản xuất hoặc có xuất sứ từ nước tàitrợ)

Hình thức này được các nước phát triển sử dụng để cung cấp tín dụng chocác nước đang phát triển Đây là một hình thức có nhiều ưu điểm:

- Đối với nhà xuất khẩu:

Họ có điều kiện cạnh tranh với đối thủ nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợicho nhà nhập khẩu, hàng hoá của họ sẽ được ưa chuộng hơn

Hạn chế được những rủi ro kinh tế, chính trị ở nước ngoài, đặc biệt họ giữđược khả năng tài chính của mình

Trang 26

Ổn định cán cân thanh toán.

- Đối với nhà nhập khẩu:

Họ có nhiều thuận lợi, có thể thanh toán từng phần công trình, máy móc thiết

bị đã nhập khẩu, đặc biệt có thể sử dụng phần lợi nhuận từ việc tiêu thụ sản phẩm

do các máy móc thiết bị nhập khẩu sản xuất ra để thanh toán

Ưu điểm là hình thức tín dụng này thường có thời gian dài, nhà nhập khẩu sẽ

dễ dàng thu xếp được khả năng tài chính để thanh toán

Đặc điểm của lãi suất cho vay là có thể sử dụng lãi suất thả nổi hoặc lãi suất

cố định Ngoài ra còn có một khoản phí suất tín dụng bao gồm:

+ Phí bảo hiểm: Được tính một lần trên giá trị khoản vay Nếu do người nhậpkhẩu trả thì có thể được ngân hàng nước nhập khẩu xem xét cho vay thanh toánmột lần trước khi giải ngân hoặc trả dần suốt thời gian vay

+ Phí cam kết: Được tính theo tỷ lệ % trên doanh số vốn vay còn lại chưađược giải ngân

+ Phí quản lý: Tính theo tỷ lệ % trên giá trị hợp đồng vay vốn và phải đượcthanh toán trước khi giải ngân

Nếu chọn lãi suất cố định thì chỉ phải trả hai loại phí bảo hiểm và phí camkết, nếu sử dụng lãi suất thả nổi thì phải trả cả ba loại phí trên

2.6.Tín dụng theo phương thức chi trả trực tiếp

26

Trang 27

Nhà nhập khẩu sau khi ký hợp đồng mua bán với nhà xuất khẩu nếu họkhông có đủ tiền thì có thể xin vay ngân hàng theo phương thức đề nghị ngân hàngchuyển trả tiền cho nhà xuất khẩu thông qua ngân hàng đại lý ở nước ngoài.

Trong trường hợp nhà nhập khẩu đủ khả năng thanh toán, họ sử dụng hìnhthức chuyển tiền thì ngân hàng chỉ thực hiện hình thức dịch vụ thông thường và thuphí

Quy trình tín dụng theo phương thức chi trả trực tiếp:

(3)

(5)

(1)

Ngân hàng nhập khẩu

Nhà nhập khẩu

Nhà xuất khẩuNgân hàng đại lý

Trang 28

Thông thường sau khi nhận hàng hoá ngân hàng đại lý mới chuyển tiền đểtránh bị nhà xuất khẩu chiếm dụng vốn.

Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, ngành ngânhàng trên thế giới đã áp dụng công nghệ tiên tiến vào hoạt động của mình Chính vìvậy mà có nhiều hình thức tín dụng còn rất xa lạ đối với chúng ta Tuy nhiên hyvọng rằng trong tương lai không xa, chúng ta sẽ áp dụng tất cả những nghiệp vụdụng những công nghệ hiện đại trong hệ thống ngân hàng góp phần đáp ứng nhucầu tài chính nhanh chóng, kịp thời, chính xác nhất

2.6.Bảo lãnh

Trong thương mại quốc tế, rủi ro là một yếu tố luôn luôn xuất hiện trong cácthương vụ khác nhau (rủi ro thanh toán, rủi ro không thực hiện hợp đồng ) Từ đónảy sinh nhu cầu bảo lãnh để hạn chế rủi ro

Trong ngoại thương, đôi khi nhà xuất khẩu không nắm rõ khả năng tài chính

để thanh toán và mức độ tín nhiệm của nhà nhập khẩu, do vậy nhà xuất khẩu sẽ yêucầu nhà nhập khẩu phải có một tổ chức thường là ngân hàng đứng ra baỏ lãnh thanhtoán Ngược lại, do không biết rõ hoặc không tin tưởng nhau, nhà nhập khẩu có thểyêu cầu nhà xuất khẩu có ngân hàng đứng ra bảo lãnh giao hàng hoặc bảo lãnh thựchiện hợp đồng,

28

Trang 29

Ngân hàng bảo lãnh theo yêu cầu của khách hàng, dùng để vay vốn nướcngoài dưới hình thức tín dụng thương mại hoặc tín dụng chứng từ… Trách nhiệmcủa ngân hàng bảo lãnh là thi hành đúng cam kết với nước ngoài trong trường hợpngười xin bảo lãnh không thực hiện đầy đủ một nghiệp vụ nào đó với bên nướcngoài.

Bảo lãnh có nhiều hình thức khác nhau:

Phát hành thư bảo lãnh với nước ngoài

Mở L/C trả chậm

Ký bảo lãnh hay ký chấp nhận hối phiếu

Lập giấy cam kết trả nợ nước ngoài

V v

Đối với tái bảo lãnh thì phát hành thư bảo lãnh với nước ngoài

Các lợi thế của các bên trong nghiệp vụ này:

- Đối với nhà nhập khẩu: được hưởng một khoản vốn từ nhà xuất khẩukhông phải trả lãi (thực chất có thể giá bán đã tính vào lãi rồi) Chỉ phải trả mộtkhoản phí cho người bảo lãnh

- Đối với nhà xuất khẩu: hoàn toàn yên tâm đến hạn sẽ được thanh toán nợ.Nếu cần tiền, nhà xuất khẩu có thể đem bộ chứng từ chiết khấu tại ngân hàng khác

Trang 30

- Đối với ngân hàng bảo lãnh: với bất cứ ngân hàng nào khi tiến hành nghiệp

vụ bảo lãnh có nghĩa là có được sự tín nhiệm về uy tín của bên nhập khẩu và bênxuất khẩu Khi bảo lãnh cho khách hàng, ngân hàng chi cho vay trừu tượng, nghĩa

là ngân hàng không phải bỏ ra một khoản vốn nào cả mà chi lấy uy tín, danh dự củangân hàng làm cơ sở cho vay

- Thủ tục bảo lãnh theo phưng thức cho vay thông thường, nghĩa là khi bảolãnh cho khách hàng thì khách hàng phải có mục đích xin bảo lãnh, nếu nhà nhậpkhẩu không có khả năng thanh toán thì phải làm thủ tục vay tại ngân hàng, khoảntín dụng này là tín dụng bắt buộc

V CÁC HÌNH THỨC TÍN DỤNG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

1.Tài trợ xuất khẩu

Hiện nay để tài trợ xuất khẩu các ngân hàng thương mại thường cho vaybằng đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ để thu mua hàng xuất khẩu Tài trợ xuất khẩuhiện nay được áp dụng cụ thể dưới các hình thức sau:

1.1.Tài trợ vốn lưu động để thu mua, chế biến, sản xuất hàng xuất khẩu theo đúng L/C quy định, hợp đồng ngoại thương đã ký kết, đơn đặt hàng.

Hình thức này được tiến hành trước khi giao hàng thông thường được ápdụng trong trường hợp Ngân hàng tài trợ vừa là Ngân hàng thanh toán cho L/C

30

Trang 31

xuất, nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ và được thanh toán tại ngân hàng Đểgiám sát và kiểm soát chặt chẽ tình hình sử dụng vốn vay đúng mục đích, thôngthường Ngân hàng thực hiện tài trợ như sau:

- Khi vay ngân hàng yêu cầu nhà nhà xuất khẩu phải có một số vốn nhất địnhcộng thêm với số tiền vay ngân hàng để thu mua hàng hoá, chế biến, sản xuất hàngxuất khẩu Hàng hoá sẽ làm tài san đảm bảo để tiếp tục vay và được nhập tại khongân hàng hoặc nhập kho mà trước đó ngân hàng và nhà xuất khẩu thoả thuận vàđồng ý, dưới sự giám sát của ngân hàng, muốn xuất hàng ra khỏi kho phải có sựđồng ý của ngân hàng Ngân hàng tiếp tục cho vay, khách hàng sẽ dùng số tiềnNgân hàng tài trợ để đi mua hàng, chế biến sản xuất hàng hoá tiếp tục cứ như vậycho đến khi bằng 100% giấ trị hàng xuất Thông thường ngân hàng chỉ tài trợkhoảng 70% giá trị lô hàng xuất khẩu

- Sau khi giao hàng xong, nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ phù hợp với nhữngđiều kiện quy định trong L/C nộp vào ngân hàng để xin thanh toán tiền Trên hốiphiếu đòi nợ thì ngân hàng sẽ là người hưởng lợi trực tiếp trên hối phiếu Ngânhàng kiểm tra bộ chứng từ hợp lý chuyển ra nước ngoài đòi nợ ngân hàng mở L/C.Khi nhận được điện chuyển tiền từ phía ngân hàng mở L/C, ngân hàng thông báoL/C ghi Có trên tài khoản cho vay để thu nợ Trường hợp giữa ngân hàng mở vàngân hàng thông báo L/C là đại lý có mở tài khoản tiền gửi cho nhau, việc thực

Trang 32

hiện thanh toán bộ chứng từ để thu nợ được tiến hành nhanh chóng, thuận tiện, dễdàng nên ngân hàng có thể tài trợ mức lãi suất ưu đãi thấp hơn mức lãi suất bìnhthường.

- Khi ngân hàng tài trợ không phải là ngân hàng thông báo cũng không phải

là ngân hàng thanh toán, rủi ro có thể xảy ra nếu như sau khi được tài trợ doanhnghiệp không xuất được hàng hoặc xuất được hàng nhưng lại gặp rủi ro trong giaonhận hay thanh toán, hoặc khách hàng không dùng số tiền trên vào mục đích xuấthàng như đã cam kết vay với ngân hàng

1.2.Tài trợ vốn trong thanh toán hàng xuất khẩu

Từ lúc giao hàng, nộp bộ chứng từ vào ngân hàng thông báo L/C cho đến khiđược ghi Có trên tài khoản phải trải qua một khoảng thời gian nhất định để xử lý vàluân chuyển chứng từ Nhà xuất khẩu cần tiền có thể thương lượng bộ chứng từ đểchiết khấu hoặc ứng trước tiền tại ngân hàng đã được chỉ định rõ trong L/C hoặc ởbất kỳ ngân hàng nào Hình thức tài trợ này được tiến hành sau khi giao hàng Đểđảm bảo cho khoản tín dụng thu hồi nợ dễ dàng nhanh chóng, ngân hàng thươngmại thường yêu cầu các L/C xuất của khách hàng phải được thông báo qua ngânhàng, ngân hàng tài trợ vừa là ngân hàng thông báo hoặc vừa là ngân hàng thanhtoán L/C, được thể hiện qua các hình thức sau:

- Chiết khấu chứng từ hàng xuất khẩu:

32

Trang 33

+ Khi chiết khấu bộ chứng từ phải hoàn hảo và xuất trình đúng thời gian quyđịnh Ngân hàng mở L/C phải có uy tín trên thị trường quốc tế và có quan hệ giaodịch thường xuyên với ngân hàng chiết khấu Tình hình sản xuất kinh doanh và tìnhhình tài chính của doanh nghiệp ổn định và đảm bảo khả năng thanh toán, có uy tínvới ngân hàng Số tiền chiết khấu phải nằm trong hạn mức tín dụng.

+ Sau khi tiếp nhận hồ sơ từ phía khách hàng, ngân hàng thẩm định về mụcđích vay, tình hình tài chính, khả năng thanh toán… Ngân hàng kiểm tra bộ chứng

từ một cách cẩn thận và hợp lý bởi vì nếu bộ chứng từ không hợp lý có thể bị từchối thanh toán, ngân hàng khó thu hồi nợ Ngân hàng kiểm tra sự phù hợp trên bềmặt chứng từ so với các điều kiện, điều khoản đã ghi trong L/C Ngân hàng xemxét quyết định tỷ lệ chiết khấu hiện nay vào khoảng 90% giá trị L/C xuất Tuynhiên trên thực tế tuỳ từng ngân hàng, từng trường hợp cụ thể sẽ quyết định một tỷ

lệ chiết khấu Có hai hình thức chiết khấu:

- Chiết khấu truy đòi là hình thức chiết khấu mà ngân hàng sau khi thanhtoán tiền cho nhà xuất khẩu có quyền đòi tiền nếu bộ chứng từ không được thanhtoán

- Chiết khấu miễn truy đòi là hình thức chiết khấu mà ngân hàng sau khithanh toán cho nhà xuất khẩu không có quyền truy đòi tiền nếu bộ chứng từ khôngđược thanh toán

Trang 34

Hiện nay đa số ngân hàng thực hiện chiết khấu truy đòi.

- Ứng trước tiền thanh toán tiền hàng xuất khẩu:

Trường hợp bộ chứng từ không hội đủ điều kiện chiết khấu, có những sai sótngân hàng không đồng ý chiết khấu thì nhà xuất khẩu có thể yêu cầu ngân hàngứng trước tiền hàng Thông thường tỷ lệ ứng trước khoảng 50 – 60% giá trị hàngxuất

Ngân hàng thực hiện thu nợ bằng cách gửi bộ chứng từ ra nước ngoài để đòi

nợ, trong vòng 60 ngày kể từ ngày gửi chứng từ đòi tiền mà không nhận được báo

Có của ngân hàng nước ngoài, ngân hàng tự động ghi Nợ tài khoản tiền gửi củakhách hàng Nếu trên tài khoản của khách hàng không đủ tiền trong vòng 7 ngàylàm việc ngân hàng sẽ chuyển số tiền chiết khấu hoặc ứng trước sang nợ quá hạn.Khi được thanh toán từ phía ngân hàng nước ngoài sẽ thực hiện khấu trừ trực tiếpkhoản tiền vay cùng các chi phí có liên quan

2 Tài trợ nhập khẩu

Thông thường ngân hàng cho vay bằng ngoại tệ để nhập nguyên vật liệu, vật

tư, hàng hoá máy móc thiết bị, công nghệ… hoặc cho vay bằng VND, trường hợpnày rất hiếm vì khi vay VND đổi sang ngoại tệ để thanh toán hàng nhập khẩu,khách hàng phải mất một khoản tiền do chênh lệch tỷ giá mua, bán của ngân hàng.Ngân hàng thực hiện với những hình thức sau:

34

Trang 35

2.1 Hình thức mở L/C thanh toán hàng nhập khẩu

Đây là hình thức thể hiện sự tài trợ của ngân hàng dành cho các nhà nhậpkhẩu

- Điều kiện để mở L/C tại các ngân hàng thương mại:

+ Phải có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu, đối với các đơn vị nhập uỷthác phải có hợp đồng uỷ thác nhập khẩu

+ Đối với những mặt hàng nằm trong danh mục quản lý hàng nhập của Nhànước, đơn vị phải xuất trình giấy phép nhập khẩu do Bộ thương mại cấp

+ Đơn vị phải có tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính ổn định

và có tín nhiệm trong quan hệ tín dụng

+ L/C hàng nhập phải có giá hợp lý, đồng thời chứng minh việc nhập lô hàngtrên là hợp lý, phù hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh, đảm bảo khả năng thanhtoán lô hàng

+ Đơn vị phải có tài sản thế chấp đảm bảo cho giá trị của L/C hoặc được bảolãnh thanh toán bởi một tổ chức đáng tin cậy

+ Đối với L/C trả chậm, dư nợ bảo lãnh phải nằm trong hạn mức vay vốnnước ngoài được ngân hàng nhà nước duyệt

- Thẩm định hồ sơ mở L/C:

Trang 36

Trên cơ sở thẩm định, ngân hàng quyết định mức ký quỹ L/C Ký quỹ L/Cđược coi là một hình thức bắt buộc tại ngân hàng thương mại Ký quỹ nhằm bảođảm khách hàng nhận hàng và thanh toán L/C Thông thường mức ký quỹ cao haythấp phụ thuộc vào các yếu tố sau:

+ Khả năng thanh toán của khách hàng: khả năng thanh toán của khách hàngcàng cao mức ký quỹ càng thấp và ngược lại

+ Đối tượng khách hàng: khách hàng có uy tín đối với ngân hàng thì mức kýquỹ thấp và ngược lại

+ Loại L/C: L/C trả chậm thì mức ký quỹ thường thấp hơn L/C trả ngay, vìmục đích L/C trả chậm là để vay vốn nước ngoài, thời gian khá dài, mức ký quỹcao sẽ làm ứ đọng vốn của khách hàng

+ Loại hàng hoá nhập, khả năng tiêu thụ hàng và tình hình biến động giá cảhàng hoá trên thị trường Những mặt hàng dễ tiêu thụ, thị trường ổn định, giá cả ítbiến động thì mức ký quỹ có thể thấp

Trên cơ sở kết hợp các yếu tố trên, các định mức ký quỹ L/C ngân hàng sẽquyết định mức ký quỹ cụ thể Ký quỹ được thực hiện bằng cách trích tài khoảnngoại tệ của khách hàng để chuyển vào tài khoản thanh toán L/C, theo quy địnhhiện nay thì số tiền ký quỹ được hưởng lãi bằng với lãi tiền gửi thanh toán Nếukhông đủ số dư trên tài khoản ngoại tệ hoặc đối với các đơn vị nhập uỷ thác có thể

36

Trang 37

kèm đơn xin mua ngoại tệ để ký quỹ hoặc có thể làm đơn xin vay ngoại tệ ký quỹL/C, hiện nay ở nước ta cho vay ký quỹ L/C rất hạn chế.

2.2 Cho vay thanh toán bộ chứng từ hàng nhập

- Ngân hàng mở L/C tiếp nhận bộ chứng từ từ ngân hàng thông báo L/C, cóthời gian là 7 ngày để kiểm tra xử lý chứng từ đưa ra ý kiến thanh toán hoặc từ chốithanh toán Trong nghiệp vụ này ngân hàng thanh toán dựa vào chứng từ chứ khôndựa vào hàng hoá, nên ngân hàng mở L/C phải kiểm tra chứng từ cẩn thận, chứng

từ phù hợp ngân hàng sẽ thanh toán tiền (L/C trả ngay hoặc chấp nhận thanh toánhối phiếu- L/C trả chậm)

- Đối với nhà nhập khẩu, hàng vừa cập bến phải nộp tiền cho ngân hàng đểthanh toán cho nhà xuất khẩu thì mới nhận được chứng từ để nhận hàng, bán hàng

và thu hồi vốn Đó là khoảng thời gian khá dài, do đó nhà nhập khẩu cần có khoảntài trợ từ ngân hàng, vay ngân hàng để thanh toán hàng nhập khẩu Ngân hàng sẽtiến hành thẩm định tính hiệu quả sử dụng vốn vay và khả năng tài chính, khả năngtrả nợ, thế chấp tài sản để quyết định Tuy nhiên trên thực tế đối với những doanhnghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định, có uy tín với ngân hàng thì không

ký quỹ mở L/C, không cần tài sản thế chấp vẫn được vay vốn ngân hàng, hàng hoánhận về đem thẳng đến kho của doanh nghiệp nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 38

2.3 Nghiệp vụ bảo lãnh, tái bảo lãnh

- Cơ sở pháp lý của nghiệp vụ bảo lãnh và tái bảo lãnh được thực hiện trêntinh thần nghị định 58/CP – ngày 30/3/1993 của Thủ tướng chính phủ về Quy chếvay và trả nợ nước ngoài; Quyết định 23/ QĐ - NH14 ngày 21/02/1994 của Thốngđốc Ngân hàng Nhà nước về quy chế bảo lãnh và tái bảo lãnh

- Hiện nay các nân hàng thực hiện bảo lãnh cho các doanh nghiệp, thực hiệntái bảo lãnh cho các ngân hàng khác Các doanh nghiệp muốn vay vốn nước ngoàiphải lập kế hoạch vay vốn nước ngoài đã có sự đồng ý của cơ quan chủ quản vànằm trong hạn mức vay vốn nước ngoài được cơ quan nhà nước duyệt

- Hiện nay có nhiều hình thức bảo lãnh: bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh tham giađấu thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đặt cọc… nhưng thực tế bảo lãnhthực hiện hợp đồng, đấu thầu rất ít sử dụng Bảo lãnh vay vốn là hình thức chủ yếutại các ngân hàng, tái bảo lãnh ít được thực hiện Bảo lãnh ở nước ta chủ yếu để tàitrợ cho các doanh nghiệp nhập khẩu vay vốn, được thực hiện dưới các hình thứcsau:

+ Phát hành thư bảo lãnh

+ Mở L/C trả chậm

+ Ký bảo lãnh trên hối phiếu (Bill of exchange) nhận nợ nước ngoài

+ Ký bảo lãnh lệnh phiếu (Promissory Note) nhận nợ nước ngoài

38

Trang 39

+ Ký xác nhận bảo lãnh ngay trên giấy nhận nợ do khách hàng (vay nợ) lậpnhận nợ nước ngoài.

- Sau đây xin giới thiệu hai hình thức bảo lãnh được áp dụng phổ biến ởnước ta hiện nay:

+ Bảo lãnh vay vốn bằng cách phát hành thư bảo lãnh.

Hiện nay đa số các ngân hàng nước ngoài, các doanh nghiệp nước ngoài chocác doanh nghiệp Việt Nam vay để nhập hàng hoá, máy móc thiết bị do nước đósản xuất Nhà xuất khẩu trước khi giao hàng thường yêu cầu phía các doanh nghiệpViệt Nam phải có ngân hàng đứng ra bảo lãnh Ngân hàng bảo lãnh sẽ phát hànhthư bảo lãnh cam kết thanh toán cho nước ngoài nếu doanh nghiệp Việt Nam khôngthanh toán tiền khi đến hạn Trên cơ sở bảo lãnh của ngân hàng Việt Nam, nhà xuấtkhẩu nước ngoài có thể giao dịch với ngân hàng phục vụ của họ để vay vốn thaycho các doanh nghiệp Việt Nam Nếu chấp nhận những điều kiện vay vốn của ngânhàng nước ngoài, doanh nghiệp phải trả nợ trực tiếp cho ngân hàng nước ngoài

+ Bảo lãnh bằng phát hành L/C trả chậm:

Đây là hình thức được áp dụng phổ biến nhất ở nước ta trong thời gian vừaqua, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong dư nợ bảo lãnh tại các ngân hàng thương mại.Đối với các doanh nghiệp Việt Nam đây là hình thứcc vay vốn, tranh thủ vốn nước

Trang 40

ngoài đơn giản và đễ được chấp thuận bằng cách mua chịu hàng hoá, phù hợp tronghoàn cảnh hiện nay doanh nghiệp đang thiếu vốn.

Theo quy chế mở thư tín dụng nhập hàng trả chậm ban hành kèm theo quyếtđịnh số 207- NH7 ngày 01/07/1997 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, quy định:

+ Việc mở L/C trả chậm nhập khẩu, hàng hoá phải phù hợp với chính sáchxuất nhập khẩu hàng năm của Nhà nước, các quy định hiện hành của Nhà nước liênquan đến việc vay, trả nợ nước ngoài

+ Số dư L/C trả chậm ngắn hạn (1 năm trở xuống) phải nằm trong hạn mứcvay ngắn hạn theo quy định của Công văn 515/CV NH7 về hạn mức vay ngắn hạncủa ngân hàng và mức ký quỹ tối thiểu mở L/C trả chậm Ngân hàng phải duy trì tỷ

lệ tối đa là 3 lần giữa số dư vay và bảo lãnh vay ngắn hạn nước ngoài (gồm số dưL/C trả chậm ngắn hạn, số tiền đang bảo lãnh vay ngắn hạn nước ngoài và số dưvay ngắn hạn nước ngoài) trên vốn tự có của ngân hàng Ngân hàng không có nợquá hạn phát sinh từ nghiệp vụ mở L/C trả chậm

+ Trích lập quỹ bảo lãnh theo quy định hiện hành về bảo lãnh và tái bảo lãnhtheo quy định:

Quỹ bảo lãnh = 5% Giá trị thực tế bảo lãnhGiá trị thực tế bảo lãnh = Giá trị ngân hàng bảo lãnh – Giá trị mà bên xin bảolãnh ký quỹ tại ngân hàng

40

Ngày đăng: 02/04/2013, 15:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức tín dụng này rất phổ biến ở các nước, đây là loại tín dụng thông  thường nhất trong hoạt động ngoại thương. - Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động tín dụng tai trợ xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch I- NHĐT&PT Việt nam
Hình th ức tín dụng này rất phổ biến ở các nước, đây là loại tín dụng thông thường nhất trong hoạt động ngoại thương (Trang 15)
Hình thức này giúp cho các nhà nhập khẩu hưởng một khoản ưu đãi do việc  thanh toán nhanh trong giao dịch ngoại thương khi ngân hàng phục vụ họ không có  đủ vốn. - Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động tín dụng tai trợ xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch I- NHĐT&PT Việt nam
Hình th ức này giúp cho các nhà nhập khẩu hưởng một khoản ưu đãi do việc thanh toán nhanh trong giao dịch ngoại thương khi ngân hàng phục vụ họ không có đủ vốn (Trang 23)
Bảng 1:Tổng tài sản của Sở giao dịch - Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động tín dụng tai trợ xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch I- NHĐT&PT Việt nam
Bảng 1 Tổng tài sản của Sở giao dịch (Trang 53)
Bảng 3: Vốn cho vay - Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động tín dụng tai trợ xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch I- NHĐT&PT Việt nam
Bảng 3 Vốn cho vay (Trang 54)
Bảng 5: Thanh toán quốc tế - Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động tín dụng tai trợ xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch I- NHĐT&PT Việt nam
Bảng 5 Thanh toán quốc tế (Trang 55)
Bảng 4: Cơ cấu tín dụng - Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động tín dụng tai trợ xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch I- NHĐT&PT Việt nam
Bảng 4 Cơ cấu tín dụng (Trang 55)
Bảng 7: Cơ cấu cho vay tài trợ xuất nhập khẩu - Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động tín dụng tai trợ xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch I- NHĐT&PT Việt nam
Bảng 7 Cơ cấu cho vay tài trợ xuất nhập khẩu (Trang 71)
Bảng 8: Dư nợ cho vay tài trợ xuất nhập khẩu - Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động tín dụng tai trợ xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch I- NHĐT&PT Việt nam
Bảng 8 Dư nợ cho vay tài trợ xuất nhập khẩu (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w