1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của Quốc hội trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế ở Việt Nam

116 623 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xét về thứ bậc, trật tự, hệ thống pháp luật về kinh tế bao gồm các loại văn bản quy phạm pháp luật với những tên gọi sau đây: - Hiến pháp, Luật, Nghị quyết do Quốc hội ban hành; - Pháp l

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM VĂN KHÁ

VAI TRÒ CỦA QUỐC HỘI TRONG VIỆC HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT

VỀ KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM VĂN KHÁ

VAI TRÒ CỦA QUỐC HỘI TRONG VIỆC HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT

VỀ KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: Tiến sỹ Lê Thanh Vân

Hà Nội - 2010

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

PHẠM VĂN KHÁ

Trang 4

Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA

QUỐC HỘI TRONG VIỆC HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ

KINH TẾ

1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của Quốc hội trong việc hoàn

thiện hệ thống pháp luật về kinh tế 10 1.1.1 Khái niệm hệ thống pháp luật về kinh tế 10 1.1.2 Cơ sở thực tiễn của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế 13 1.1.3 Vai trò của Quốc hội trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về

1.2 Thẩm quyền lập pháp của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế 21

1 2.1 Khái niệm thẩm quyền lập pháp của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế 21 1.2.2 Nội dung thẩm quyền lập pháp của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế 23 1.2.2.1 Thẩm quyền của Quốc hội quyết định chương trình xây dựng luật,

1.2.2.2 Thẩm quyền của Quốc hội trong quá trình soạn thảo, thông qua

dự án luật, pháp lệnh thuộc lĩnh vực kinh tế 25 1.2.3 Vai trò của Ủy ban thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc

Trang 5

hội trong hoạt động lập pháp đối với lĩnh vực kinh tế 31 1.2.3.1 Vai trò của Ủy ban thường vụ Quốc hội 31 1.2.3.2 Vai trò của Ủy ban Kinh tế 33 1.2.3.3 Vai trò của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội 37 1.3 Vai trò của Quốc hội đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh

tế trong bối cảnh hội nhập và sau tác động suy thoái kinh tế toàn cầu 38 1.3.1 Vai trò của Quốc hội đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về

1.3.2 Vai trò của Quốc hội đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về

kinh tế sau tác động suy thoái kinh tế toàn cầu 40

Chương 2 - THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP CỦA QUỐC HỘI

TRONG VIỆC HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ KINH TẾ

2.1 Thực trạng hoạt động lập pháp của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế 42 2.1.1 Giai đoạn trước thời kỳ đổi mới từ năm 1945 đến 1986 42

2.2.1 Về lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh 50

2.2.1.2 Những hạn chế và nguyên nhân 52 2.2.2 Về quy trình thẩm tra dự án luật, pháp lệnh 54

2.2.2.2.Những hạn chế và nguyên nhân 58 2.2.3 Về quy trình thông qua luật, pháp lệnh 61

Trang 6

2.2.3.1 Những kết quả đạt được 61 2.2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 64 2.3 Vai trò tổ chức hoạt động các cơ quan của Quốc hội trong việc hoàn

thiện hệ thống pháp luật về kinh tế 66 2.3.1 Vai trò tổ chức các hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội 66

2.3.1.2 Những hạn chế và nguyên nhân 68 2.3.2 Vai trò phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban

2.3.3 Vai trò tổ chức hoạt động của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội 70 2.3.4 Vai trò của Bộ máy giúp việc 76

Chương 3 - PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ

CỦA QUỐC HỘI TRONG VIỆC HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP

LUẬT VỀ KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1 Các quan điểm chỉ đạo và phương hướng hoàn thiện hệ thống pháp

luật về kinh tế ở Việt Nam hiện nay 80 3.1.1 Đối với lĩnh vực quản lý, tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp 82

3.1.3 Đối với hệ thống pháp luật giao dịch dân sự, kinh tế thương mại,

cạnh tranh chống độc quyền, giải quyết tranh chấp về kinh tế 85 3.1.4 Đối với lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai 87 3.1.5 Đối với lĩnh vực tài chính – tiền tệ 88 3.2 Các giải pháp tăng cường vai trò của Quốc hội trong việc hoàn thiện

hệ thống pháp luật về kinh tế ở Việt Nam hiện nay 89 3.2.1 Nâng cao chất lượng dự báo trong chương trình xây dựng pháp luật

3.2.2 Tiếp tục hoàn thiện quy trình lập pháp 91 3.2.3 Đảm bảo tính thống nhất của các văn bản luật, pháp lệnh về kinh tế 95 3.2.4 Đảm bảo tiến độ ban hành luật, pháp lệnh 96

Trang 7

3.2.5 Hoàn thiện về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội 98 3.2.5.1 Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, tăng cường đại biểu

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở nước ta trong những năm qua Trong các thành tựu đó, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, đã có những chuyển biến tích cực; đưa đất nước từ nền sản xuất tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường; tổng sản phẩm trong nước tăng trưởng với nhịp độ cao, đời sống nhân dân được cải thiện; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng bằng pháp luật đã đóng góp vai trò quan trọng đối với việc thúc đẩy các quan hệ kinh tế phát triển, tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, khẳng định vị thế nước ta đối với khu vực và trên thế giới

Tuy nhiên, quá trình phát triển nền kinh tế thị trường đã làm phát sinh nhiều vấn đề chưa được điều chỉnh kịp bằng pháp luật Quan hệ kinh tế đã và đang ngày một mở rộng về quy mô, phức tạp về tính chất; các hình thức kinh doanh ngày một

đa dạng với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế; các ngành nghề kinh doanh mới xuất hiện ngày càng nhiều và sự tham gia hội nhập với các nước khác trên thế giới ngày càng sâu đậm Do đó, việc tổng kết thực tiễn để hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế đang đặt ra ngày càng gay gắt hơn

Trước tình hình đó, đòi hỏi Quốc hội với tư cách là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải nâng cao hơn nữa hiệu lực trong hoạt động lập pháp, đặc biệt

là việc ban hành kịp thời các đạo luật về kinh tế hoặc sửa đổi, bổ sung các đạo luật

có liên quan đến kinh tế để theo kịp đà phát triển của xã hội, tạo môi trường pháp lý bình đẳng, thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế tồi tại và phát triển Đồng thời, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế hoàn chỉnh có vai trò to lớn đảm bảo phát triển bền vững nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Đây là vấn đề bức xúc, có tính thời sự hiện nay đối với nước ta trong quá trình đổi mới đất nước, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy, việc lựa chọn

đề tài “Vai trò của Quốc hội trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế ở

Việt Nam hiện nay” sẽ góp phần vào việc giải quyết nhiệm vụ đặt ra, có ý nghĩa

Trang 9

thiết thực cả về lý luận và thực tiễn trong việc đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội ở nước ta hiện nay

“Đổi mới và hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội và ban hành pháp lệnh của

Ủy ban thường vụ Quốc hội” năm 1999-2003, “Cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước” năm 2000-2002, “Cơ sở

lý luận và thực tiễn khắc phục tình trạng luật khung” năm 2004-2006 Vấn đề này

cũng đã được đề cập đến trong một số bài viết: “Bàn thêm về hoàn thiện pháp luật kinh

tế ở Việt Nam” của tác giả Lê Hồng Hạnh (Tạp chí nhà nước và pháp luật số 4 năm

2003) “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” tác giả Vũ Đình

Bách (Những vấn đề lý luận và thực tiễn mới đặt ra trong tình hình hiện nay, tập 1, Nhà

xuất bản chính trị quốc gia năm 2008) các bài viết được trình bày tại hội thảo “Tác

động hội nhập đối với nền kinh tế sau hai năm Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)” năm 2009 do Văn phòng Trung ương Đảng –Văn phòng Chính phủ -

Văn phòng Quốc hội – Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức tại thành phố Hà Nội Ngoài

ra, vấn đề vai trò Quốc hội trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng ít nhiều được

đề cập trong một số Luận án tiến sỹ, Luận văn thạc sỹ nghiên cứu về Quốc hội như:

"Cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam” (Luận án tiến sĩ luật học của Trần Tuyết Mai tại Khoa

Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội), “Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc

hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” (Luận án tiến

sĩ luật học của Trần Hồng Nguyên tại Học viện Chính trị Quốc gia), “Đổi mới tổ chức

bộ máy Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Luận văn thạc sỹ luật

học của Trần Thị Thanh Mai tại Học viện Chính trị Quốc gia), “Nâng cao hiệu quả

hoạt động và năng lực đại diện của đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay” (Luận văn

thạc sỹ luật học của Nguyễn Quang Hương tại Viện Nhà nước và Pháp luật)… Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu một cách toàn diện

Trang 10

và đầy đủ về vai trò của Quốc hội trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn

3 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn

- Nghiên cứu về cơ sở lý luận về vai trò của Quốc hội trong việc hoàn thiện

hệ thống pháp luật nói chung, hệ thống pháp luật kinh tế nói riêng

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động lập pháp của Quốc hội trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế

- Nghiên cứu những yếu tố liên quan đến hoạt động lập pháp của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế

- Ứng dụng kết quả nghiên cứu đề tài nhằm góp phần nâng cao hoạt động của Quốc hội trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế

4 Phạm vi nghiên cứu

Là một đề tài thuộc chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, Luận văn không đi sâu nghiên cứu các chế định cụ thể liên quan đến hoạt động của Quốc hội Trái lại, những vấn đề được nêu ra trong Luận văn được khái quát thông qua việc phân tích, tổng hợp những nội dung liên quan để từ đó, đưa ra những kiến giải mang tính lý luận và thực tiễn về vai trò của Quốc hội trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật kinh tế nói riêng Vì vậy, Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của Quốc hội trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế ở Việt Nam hiện nay

5 Đối tƣợng nghiên cứu

- Hệ thống pháp luật về kinh tế

- Những vấn đề lý luận về vai trò của Quốc hội trong hoạt động quản lý nhà nước, trong hoạt động lập pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật và pháp luật về kinh tế

- Hoạt động lập pháp của Quốc hội trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật

về kinh tế (những kết quả đạt được và những hạn chế)

- Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật

về kinh tế

- Tham khảo kinh nghiệm hoạt động lập pháp của Quốc hội, Nghị viện các nước

Trang 11

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp biện chứng, lịch sử

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp so sánh, thống kê

- Phương pháp khảo sát, điều tra xã hội học (điều tra, thăm dò ý kiến của các

vị đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội )

- Phương pháp mô hình hóa, hệ thống hóa

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của Quốc hội trong việc hoàn

thiện hệ thống pháp luật về kinh tế

Chương 2: Thực trạng hoạt động lập pháp của Quốc hội trong việc hoàn

thiện hệ thống pháp luật về kinh tế

Chương 3: Phương hướng, giải pháp tăng cường vai trò của Quốc hội trong

việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế ở Việt Nam hiện nay

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ VAI TRÒ CỦA QUỐC HỘI TRONG VIỆC HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ KINH TẾ

1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của Quốc hội trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế

1.1.1 Khái niệm hệ thống pháp luật về kinh tế

Theo cách hiểu chung nhất “hệ thống” là một tập hợp các yếu tố vật chất hay phi vật chất, được tổ chức và sắp xếp theo một trật tự logic nhất định để vận hành đồng bộ với mục tiêu đặt ra

Để tiến hành tổ chức và quản lý nền kinh tế quốc dân, nhà nước phải ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ kinh tế Pháp luật kinh tế thực chất là các chế độ chính sách kinh tế do nhà nước quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật; các chế độ chính sách này cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế trong từng thời kỳ

Có thể nhận thấy, với tư cách là công cụ quản lý kinh tế quan trọng của nhà nước, pháp luật có vai trò khác nhau trong quản lý kinh tế của nhà nước trong từng thời kỳ phát triển của đất nước

Trong nền kinh tế khép kín trước đây, nhà nước chỉ thừa nhận và cho tồn tại hai thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể là chủ yếu, nhà nước thực hiện việc tác động đến nền kinh tế thông qua các chỉ tiêu pháp lệnh, mang nặng tính bao cấp của nhà nước; ở đó nhà nước can thiệp trực tiếp vào các quan hệ kinh tế; do vậy, pháp luật trở thành công cụ quản lý trực tiếp của nền kinh tế

Bước sang thời kỳ đổi mới đất nước (được bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ

VI năm 1986), nhà nước chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường, có sự quản

lý của nhà nước với sự tồn tại và phát triển đa dạng các quan hệ kinh tế dựa trên sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân; nhà nước không can thiệp trực tiếp vào các quan hệ kinh tế mà chủ yếu đề ra các chính sách, tạo đòn bẩy cho sự phát triển của kinh tế Ở đó, pháp luật trở thành công cụ gián tiếp, nhưng không thể thiếu

Trang 13

trong quản lý nền kinh tế của nhà nước Thông qua pháp luật, nhà nước bảo hộ sự hình thành, phát triển các quan hệ kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Thông qua việc ban hành chính sách pháp luật, nhà nước tạo hành lang pháp

lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh Bằng chính các quy định của pháp luật, nhà nước thừa nhận và bảo hộ quyền, nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh, giảm bớt gánh nặng ngân sách nhà nước trong đầu tư và tài trợ chính cho nền kinh tế Đồng thời, với tư cách là chủ thể quản lý, nhà nước thông qua pháp luật – nơi thể hiện ý chí của nhà nước, sẽ định hướng cho sự vận động và phát triển của nền kinh tế vào quỹ đạo xây dựng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo sự ổn định chính trị, phát triển văn hóa, giáo dục và thực hiện định hướng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Mặt khác, thông qua pháp luật, nhà nước điều chỉnh các quan hệ kinh tế và hạn chế, khắc phục được những nhược điểm của kinh tế thị trường tác động đến các lĩnh vực khác của đời sống xã hội

Có thể nói, pháp luật là yếu tố điều chỉnh không thể thiếu trong bất kỳ một

xã hội có phân chia giai cấp, nhưng pháp luật không phải là công cụ duy nhất để nhà nước thực hiện chức năng quản lý xã hội nói chung và quản lý nền kinh tế nói riêng Vì vậy, không nên tuyệt đối hóa vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Vấn đề là ở chỗ phải đánh giá đúng vai trò của nó và biết kết hợp, sử dụng nó với các công cụ quản lý khác

Nhà nước sử dụng pháp luật trong việc quản lý nền kinh tế được thực hiện thông qua hệ thống pháp luật về kinh tế

Theo đó, hệ thống pháp luật về kinh tế là tổng thể các văn bản pháp luật có tính quy phạm điều chỉnh các quan hệ kinh tế

Xét về thứ bậc, trật tự, hệ thống pháp luật về kinh tế bao gồm các loại văn bản quy phạm pháp luật với những tên gọi sau đây:

- Hiến pháp, Luật, Nghị quyết do Quốc hội ban hành;

- Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban ban thường vụ Quốc hội.;

- Các văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ và các cơ quan nhà nước khác ban hành nhằm hướng dẫn, cụ thể những quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Trang 14

Xét về tính chất, phạm vi điều chỉnh hệ thống pháp luật về kinh tế bao gồm các nhóm sau đây:

- Nhóm các văn bản quy định về quản lý, tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp;

- Nhóm các văn bản quy định về đầu tư;

- Nhóm các văn bản quy định về giao dịch dân sự, kinh tế thương mại, cạnh tranh chống độc quyền, giải quyết tranh chấp về kinh tế;

- Nhóm các văn bản quy định về quản lý, sử dụng đất đai;

- Nhóm các văn bản quy định về tài chính, tiền tệ;

Tuy nhiên, hiện nay về mặt lý luận cũng như thực tế, vẫn thừa nhận hình thức lập quy của Chính phủ Đó là hình thức văn bản quy phạm pháp luật nhưng lại điều chỉnh những vấn đề chưa được điều chỉnh bằng luật của Quốc hội, pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy

định: “Những vấn đề cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc

pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội Việc ban hành nghị định này phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội”

[48, khoản 4, Điều 14] Về nguyên tắc hình thức văn bản này chỉ được áp dụng trong trường hợp, do yêu cầu bức xúc của quan hệ xã hội đòi hỏi phải được điều chỉnh bằng pháp luật, nhưng Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội chưa có đủ điều kiện ban hành luật, pháp lệnh Tuy nhiên, luật cũng quy định Chính phủ phải báo cáo và xin ý kiến Ủy ban thường vụ Quốc hội và sau một thời gian sẽ trình Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội nâng lên thành luật hay pháp lệnh

Trong hệ thống pháp luật về kinh tế, ngoài hiến pháp và các văn bản luật, pháp lệnh do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành, các nghị quyết về kinh tế - xã hội cũng được coi là một đạo luật, vì các nghị quyết về kinh tế - xã hội

do Quốc hội ban hành được thực hiện theo một quy trình, thủ tục như một đạo luật

và chiếm vị trí quan trọng, không thể thiếu trong quản lý kinh tế của nhà nước, buộc mọi cơ quan, tổ chức, công dân phải thi hành

Vị trí của các văn bản luật, nghị quyết và pháp lệnh có được quy định bởi chính cơ quan ban hành, bởi tính quy phạm và tính hiệu lực của văn bản luật

Trang 15

Xét về cơ quan ban hành, luật do Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nhân dân, cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp, do vậy, văn bản luật bao giờ cũng phải thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng Các văn bản dưới luật được xây dựng phải dựa trên các quy định của luật, không được trái với các quy định đó Như vậy có thể nói, trong lĩnh vực kinh tế, luật là cơ sở cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện quản lý kinh tế

Xét về tính quy phạm và hiệu lực của văn bản luật: xuất phát từ vị trí của luật trong hệ thống pháp luật, các văn bản luật được Quốc hội ban hành nhằm cụ thể hóa Hiến pháp, điều chỉnh các quan hệ xã hội, làm căn cứ để ban hành các văn bản pháp quy; do vậy, văn bản luật có phạm vi điều chỉnh rộng lớn, có hiệu lực thi hành đối với mọi cơ quan, tổ chức và công dân, các văn bản pháp quy không được trái với quy định của luật

Việc khẳng định vị trí của các đạo luật, chính là yêu cầu chung của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

1.1.2 Cơ sở thực tiễn của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế

Trên bình diện triết học, pháp luật là một hình thái ý thức thuộc kiến trúc thượng tầng, sự thay đổi các quan hệ kinh tế thuộc cơ sở hạ tầng sẽ tất yếu dẫn đến sự thay đổi về nội dung và phương pháp điều chỉnh của pháp luật về kinh tế - thuộc kiến

trúc thượng tầng Bởi vậy, như Mác đã viết:“Trong thời đại nào cũng thế, chính vua

chúa phải phục tùng những điều kiện kinh tế, chứ không bao giờ vua chúa lại ra lệnh cho những điều kiện kinh tế được Chẳng qua, chế độ pháp luật về chính trị, cũng như

về dân sự chỉ là cái việc nói lên sự ghi chép lại quyền lực của những quan hệ kinh tế”

[6, tr 130] Tuy nhiên, pháp luật kinh tế không những được xây dựng với mục đích điều chỉnh các quan hệ kinh tế mà còn có chức năng đón hướng trước sự vận động của các quan hệ kinh tế cần điều chỉnh, nhưng đến một giai đoạn nhất định nào đó, khi các quan hệ kinh tế vận động không còn phù hợp với sự điều chỉnh của pháp luật, thì pháp luật cũng phải được thay đổi cho phù hợp với các quan hệ kinh tế

Như vậy có thể thấy, với quy luật vận động, phát triển không ngừng của các quan hệ kinh tế, pháp luật dễ có nguy cơ lạc hậu hơn so với sự phát triển của các quan hệ kinh tế; do đó yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế cũng luôn luôn

Trang 16

được coi trọng và đó là một đòi hỏi tất yếu của bất kỳ giai đoạn phát triển kinh tế nào trong xã hội có nhà nước

“Việc xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh đối với nước ta là một quá trình lâu dài Vì thị trường luôn biến động nên hệ thống pháp luật kinh tế cũng phải được bổ sung hoàn chỉnh kịp thời cho phù hợp với tình hình thực tế” [5, tr 677]

Trong sự nghiệp đổi mới toàn bộ đất nước mà trọng tâm là đổi mới nền kinh

tế, thì việc chuyển đổi từ một nền kinh tế khép kín sang nền kinh tế thị trường và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, vấn đề cấp bách đặt ra là phải kịp thời ban hành các văn bản mà pháp luật chưa điều chỉnh; đồng thời cũng không ít các quan hệ kinh tế đã có từ trước, nhưng đến nay trong cơ chế thị trường tự bản thân các quan

hệ đó đã thay đổi trên thực tế mà vẫn được pháp luật thừa nhận và điều chỉnh trong điều kiện mới; ngược lại có những luật, pháp lệnh hiện hành không còn phù hợp với quan hệ kinh tế mà nó điều chỉnh, nhưng vẫn chưa được sửa đổi, bổ sung hay bãi bỏ kịp thời Có thể nói, trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường, có rất nhiều các quan hệ kinh tế, các lĩnh vực đòi hỏi được điều chỉnh bằng pháp luật

Với tính độc lập tương đối của pháp luật đối với hoạt động kinh tế, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế là một yêu cầu tất yếu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển bền vững theo định hướng, giữ vững ổn định chính trị, xã hội

Cơ sở để hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế đó chính là hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh, nội dung nhiều luật, pháp lệnh thiếu các quy định điều chỉnh các quan hệ mới phát sinh trên thực tế hoặc do phải loại bỏ các quy định không còn phù hợp với yêu cầu đặt ra của quá trình phát triển kinh tế; quá trình thực thi các văn bản thuộc hệ thống pháp luật kinh tế vừa thiếu, vừa không đầy đủ, cần phải có chiến lược chương trình xây dựng pháp luật chung để tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế Do đó, đặt ra vai trò của Quốc hội trọng việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế chính là tạo ra các văn bản gốc cho hệ thống pháp luật kinh tế

Yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế trước hết là việc hoàn thiện các văn bản luật, pháp lệnh điều chỉnh các quan hệ kinh tế là đòi hỏi cấp thiết trong quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay Đó là việc hợp pháp hóa các quan hệ kinh tế trong cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa lên thành các quy phạm pháp luật có tính chất bắt buộc chung đối với mọi chủ thể tham gia; hạn chế sự chồng chéo giữa các văn bản pháp luật Hoàn thiện hệ thống pháp

Trang 17

luật về kinh tế cũng chính là việc thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng thành pháp luật một cách thường xuyên Điều này thể hiện bản chất giai cấp của pháp luật

Hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế là cơ sở pháp lý cơ bản quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế; hệ thống pháp luật kinh tế càng hoàn thiện thì chức năng quản lý nhà nước càng chặt chẽ có hiệu quả cao Thông qua thực tiễn công tác quản lý nhà nước về kinh tế, nhà nước từng bước bổ sung, sửa đổi hệ thống pháp luật kinh tế ngày càng thực tế và thích hợp hơn

Hệ thống pháp luật về kinh tế trong quá trình hoàn thiện phải luôn bám sát chủ trương, đường lối của Đảng Chính việc hoàn thiện hệ thống pháp luật trong sự nghiệp phát triển đất nước góp phần hình thành một trật tự pháp lý, vừa mang tính khách quan, tính hệ thống và tính thống nhất của pháp luật về cả nội dung và định hướng điều chỉnh của pháp luật trong cơ chế thị trường

Hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế hiện nay cũng chính là yêu cầu nâng cao vai trò của các đạo luật trong lĩnh vực kinh tế, nâng cao vai trò lập pháp của Quốc hội trong việc điều chỉnh các quan hệ kinh tế bằng các đạo luật

Nội dung của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung cũng như trong lĩnh vực kinh tế nói riêng, nhất là đối với hoạt động xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, bao gồm:

- Bảo đảm chất lượng các văn bản luật, pháp lệnh: Các đạo luật, pháp lệnh phải được xây dựng dựa trên căn cứ khoa học và cơ sở thực tế, đáp ứng được mục tiêu đề ra Để đảm bảo chất lượng của các văn bản luật đòi hỏi các dự án luật phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, đảm bảo sự tham gia của các chuyên gia, của các chủ thể sẽ trở thành đối tượng áp dụng của văn bản pháp luật khi ban hành Các quy định của luật, pháp lệnh phải cụ thể, dễ hiểu để giảm bớt tình trạng có quá nhiều văn bản hướng dẫn thi hành, từ đó hạn chế tính kịp thời của luật, sự thiếu chính xác, sai lệch trong các văn bản hướng dẫn, kịp nâng lên các pháp lệnh, nghị định ủy quyền lên thành luật khi đã có đủ điều kiện

- Bảo đảm về số lượng văn bản luật, pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực kinh

tế, đáp ứng yêu cầu quản lý đất nước bằng pháp luật, nhất là các đạo luật trong lĩnh vực kinh tế; đồng thời bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật

Trang 18

1.1.3 Vai trò của Quốc hội trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế

1.1.3.1 Vai trò của Quốc hội trong việc quyết định kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội

Bất kỳ quốc gia nào, trong quản lý kinh tế cũng đều xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn nhất định Ở Việt Nam, với nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì việc quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội là một yêu cầu tất yếu, tạo cơ sở cho việc điều hành, quản lý nền kinh tế theo đúng quỹ đạo đã định Và chủ thể quyết định không ai khác là Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất

Tại khoản 3 Điều 84 Hiến pháp 1992 quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của

Quốc hội: “Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”

Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội được Quốc hội quyết định gồm kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm và hàng năm Cơ sở để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội được dựa trên sự vận động khách quan nền kinh tế và định hướng của nhà nước (đây là điểm khác so với những quyết định mang tính chỉ tiêu, pháp lệnh trước đây) Trong đó, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội được Quốc hội quyết định trên cơ sở các Nghị quyết của Đại hội Đảng về chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội và phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm

Trong đó kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm được xem như là việc lựa chọn có căn cứ khoa học các mục tiêu lâu dài và cơ bản của sự nghiệp phát triển kinh tế, gắn liền với việc lựa chọn các phương tiện, biện pháp chủ yếu để đạt được các mục tiêu đó Các nước dù có chế độ xã hội khác nhau đều phải vạch ra các mục tiêu kế hoạch cho nền kinh tế Mỗi địa phương và ngành đều phải có kế hoạch nục tiêu hoạt động của mình để hoạt động được chủ động hơn Ngoài cơ sở xuất phát từ nhu cầu xã hội và tiềm năng của đất nước, kế hoạch cần thiết phải dựa vào sức mạnh của sự hợp tác quốc tế Việc xây dựng các kế hoạch chiến lược phải gắn với

kế hoạch của các cấp, các ngành và kế hoạch ngắn hạn bảo đảm những cân đối chủ yếu của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong toàn quốc

Kế hoạch nhà nước luôn quán triệt 3 yêu cầu cơ bản sau:

- Tính mềm dẻo (chỉ xác định những mục tiêu, những cân đối lớn);

Trang 19

- Tính hướng dẫn, bảo đảm sự năng động sáng tạo của chủ thể thừa hành, đây không phải là mệnh lệnh cứng nhắc;

- Tính hiện thực và khả thi

Nội dung của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước 5 năm cũng

có những nội dung sau:

- Nhiệm vụ kế hoạch 5 năm: trong đó gồm việc xác định nhiệm vụ tổng quát các kế hoạch, đưa ra nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm cùng với những chương trình và lĩnh vực phát triển

- Các giải pháp lớn của kế hoạch 5 năm

Trên cơ sở kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, Quốc hội quyết định

kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội bao giờ cũng được Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp cuối năm Về nội dung các Nghị quyết này gồm những nội dung sau:

- Đánh giá tình hình, trong đó khái quát tình hình phát triển kinh tế - xã hội của năm qua (những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân);

- Mục tiêu tổng quát và chỉ tiêu chủ yếu của năm;

- Các nhiệm vụ và giải pháp chính;

- Tổ chức thực hiện

Tuy các văn bản do Quốc hội ban hành dưới dạng nghị quyết về kinh tế - xã hội không mang tên gọi như một đạo luật, nhưng quá trình soạn thảo, thẩm tra và thông qua các văn bản này đều tuân thủ theo quy trình lập pháp chặt chẽ Vì vậy, giá trị hiệu lực của các văn bản đó được coi như các đạo luật khác

1.1.3.2 Vai trò của Quốc hội trong hoạt động giám sát tối cao đối lĩnh vực kinh tế

Về thực hiện quyền giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước ở nhiều nước chỉ nhằm mục đích thực hiện chức năng lập pháp được tốt, chức năng giám sát được xuất phát từ chức năng lập pháp Đối với Quốc hội Việt Nam, theo Điều 1 của Luật

hoạt động giám sát:“Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt

động của nhà nước” nên việc thực hiện chức năng giám sát đối với toàn bộ hoạt

Trang 20

động của bộ máy nhà nước là một trong những chức năng quan trọng của Quốc hội thể hiện quyền lực nhà nước thống nhất không có sự mâu thuẫn, chồng chéo trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, giúp bộ máy nhà nước hoạt động đều đặn, có hiệu quả, bảo đảm cho các cơ quan hoàn thành nhiệm vụ, quyền hạn được giao, thực sự phục vụ nhân dân, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Tuy nhiên, chức năng giám sát của Quốc hội Việt Nam cũng không nằm ngoài ý nghĩa truyền thống của nó làm cơ sở, căn cứ giúp cho Quốc hội thực hiện tốt chức năng lập pháp

Chủ thể thực hiện quyền giám sát là đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội Thông qua hoạt động giám sát sẽ giúp Quốc hội trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước trong lĩnh vực kinh tế cũng như việc Quốc hội ban hành các văn bản luật điều chỉnh hoạt động kinh tế được đúng đắn, phù hợp với thực tế, có tính khả thi cao

Quốc hội thực hiện chức năng giám sát với nhiều hình thức và biện pháp khá

đa dạng Theo Điều 7 của Luật hoạt động giám sát, Quốc hội giám sát thông qua các

hoạt động sau đây: “Xem xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường

vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Xem xét báo cáo của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về tình hình thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; Xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; Xem xét việc trả lời chất vấn của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Thành lập Uỷ ban lâm thời để điều tra về một vấn đề nhất định và xem xét báo cáo kết quả điều tra của Uỷ ban” Có thể qua các nội dung giám sát trên, hoạt động

giám sát việc thi hành Hiến pháp, Luật của Quốc hội là cơ sở quan trọng không thể thiếu trong việc đề cao vai trò của Quốc hội đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của Quốc hội nói chung và hệ thống pháp luật kinh tế nói riêng

Bởi lẽ, “nếu coi việc ban hành được một văn bản pháp luật là điểm cuối

cùng của công việc điều chỉnh pháp luật thì đó là “ảo tưởng về luật” Ảo tưởng

đó dẫn đến chỗ, sau khi ban hành xong luật, các cơ quan và những người có trách nhiệm không chú ý đến việc thi hành luật, không kiểm tra, giám sát quá

Trang 21

trình đó, không còn chú ý tạo điều kiện cho pháp luật đi vào cuộc sống và xem hiệu quả thực tế của nó” [79, tr 175] Như trong bài phát biểu của đồng chí

Tổng Bí thư Đỗ Mười tại phiên khai mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa IX có

viết: “Quốc hội ta không chỉ là cơ quan bàn và thông qua các quyết định mà còn

là cơ quan hành động, không chỉ thông qua luật mà còn giám sát việc thi hành các luật đó” [74, tr 40] Nhiệm vụ giám sát của Quốc hội nhằm làm cho những

quy định của Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội được thi hành triệt để và thống nhất

Qua hoạt động giám sát việc thực hiện Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế, Quốc hội dễ phát hiện thấy những bất cập, những khoảng trống hay sự lạc hậu của các văn bản pháp luật, pháp lệnh trong cuộc sống, để từ đó có cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế

Ví dụ: Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XII tổ chức Đoàn giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về đầu tư xây dựng

cơ bản sử dụng vốn nhà nước ở các Bộ, ngành, địa phương từ năm 2005 đến năm

2007 Qua kiến nghị cuộc giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội quyết định điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh để sửa đổi, bổ sung các luật

có liên quan đến lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản vừa được thông qua tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII để phù hợp với tình hình thực tế đặt ra

Ngoài ra, các Ủy ban của Quốc hội thực hiện quyền giám sát theo lĩnh vực mình phụ trách bằng việc tổ chức các Đoàn đi giám sát thực tế tại các đơn vị, cơ sở

về việc thực hiện Nghị quyết, Luật của Quốc hội; Nghị quyết, Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế

Trong số các chủ thể thực hiện quyền giám sát của Quốc hội, Ủy ban Kinh tế

là cơ quan chuyên môn giúp Quốc hội thực hiện chức năng theo dõi giám sát hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế

Kết quả của việc giám sát có thể dẫn tới việc bãi bỏ văn bản của Chính phủ

có nội dung trái Hiến pháp, Luật hoặc việc quy định trách nhiệm đối với người thực hiện hành vi sai trái, gây hậu quả hoặc hình thành kiến nghị, làm cơ sở cho việc ban hành, sửa đổi, bổ sung Luật, Nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, Nghị quyết của

Ủy ban thường vụ Quốc hội

Trang 22

1.1.3.3 Sự tác động giữa các mặt hoạt động của Quốc hội tới việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế

Có thể thấy, hoạt động lập pháp của Quốc hội chi phối đến mọi hoạt động khác Tại phiên khai mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XI, Tổng Bí thư Nông

Đức Mạnh đã phát biểu:“vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền phụ thuộc rất lớn

vào việc xây dựng pháp luật mà nội dung trung tâm là hoạt động làm luật của Quốc hội Quyền lực của Quốc hội được kết tinh trong các quy định của luật Do vậy, có thể nói, quyền lực thực tế của Quốc hội được đo bằng hiệu lực thực tế của các đạo luật trong thực tiễn” [26, tr 1]

Tuy nhiên, trong các hình thức và biện pháp Quốc hội sử dụng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình có quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, đó là:

- Cơ cấu tổ chức của Quốc hội ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động lập pháp trong lĩnh vực kinh tế đó là, trong điều kiện hiện nay, khi yêu cầu xây dựng các văn bản pháp luật ngày càng nhiều và việc thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội cần phải được tiến hành thường xuyên hơn, thì cần phải có những cơ quan đủ sức để giúp Quốc hội thực hiện có hiệu quả trên các phương diện đó; cơ cấu đại biểu Quốc hội tham gia Ủy ban Kinh tế chưa phù hợp, còn mang tính cơ cấu vùng miền không mang tính chuyên sâu trong lĩnh vực kinh tế và luật kinh tế

- Quy trình thủ tục làm việc của Quốc hội tại kỳ họp, phiên họp và trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội

- Mối quan hệ phối hợp giữa các chủ thể tham gia hoạt động lập pháp trong lĩnh vực kinh tế

- Kỹ năng hoạt động của đại biểu Quốc hội

- Hiệu quả hoạt động giám sát tác động trở lại với hoạt động xây dựng pháp luật như sửa đổi bổ sung hay ban hành mới luật theo đề nghị phát hiện từ thực trạng giám sát

Hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật kinh tế nói riêng là cơ sở tạo điều kiện môi trường cho các hoạt động kinh tế và cơ quan quản

lý nhà nước thi hành; là cơ sở pháp lý cho việc kiểm tra giám sát việc thực hiện và tuân thủ theo pháp luật; là cơ sở pháp lý cho việc xét xử các vụ án kinh tế

Trang 23

Bởi lẽ, chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, Ủy ban thường

vụ Quốc hội được xây dựng trên cơ sở ưu tiên những dự án luật, pháp lệnh có tính bức xúc gắn với việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trước mắt và trong từng giai đoạn Ngược lại, các luật, pháp lệnh điều chỉnh lĩnh vực kinh tế được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành có ý nghĩa rất lớn đến việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

1.2 Thẩm quyền lập pháp của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế

1 2.1 Khái niệm thẩm quyền lập pháp của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế

Vai trò của Quốc hội trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế chính là yêu cầu của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế trong giai đoạn hiện nay và hoạt động lập pháp của Quốc hội nói chung cũng như việc hoàn thiện

hệ thống pháp luật về kinh tế nói riêng đòi hỏi phải đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Thể chế hóa cương lĩnh, đường lối chủ trương của Đảng là một nhiệm vụ chính trị của Quốc hội thông qua việc ban hành các đạo luật, nghị quyết Quốc hội xây dựng luật, nghị quyết để điều chỉnh những vấn đề bức thiết trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, tiến tới hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, có chất lượng Quá trình chuẩn bị và thông qua các dự án luật, đảm bảo quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng Phát huy dân chủ trong công tác xây dựng pháp luật Tuy nhiên, cần phân định rõ chức năng lãnh đạo của Đảng với chức năng lập pháp của Quốc hội Các cơ quan Đảng không quyết định thay Quốc hội, mà chỉ đề ra chủ trương đường lối, nguyên tắc chỉ đạo để Quốc hội

tự quyết định về mặt nhà nước

Thẩm quyền lập pháp của Quốc hội nói chung và thẩm quyền lập pháp của

Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế nói riêng đã được ghi nhận trong Hiến pháp: “Quốc

hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp” [41, Điều 83] và Luật Tổ

chức của Quốc hội

Về tính chất: Thẩm quyền lập pháp của Quốc hội là thẩm quyền tối cao, bắt

nguồng từ vị trí tính chất của Quốc hội, chỉ có Quốc hội mới có thẩm quyền đó các

cơ quan khác không có

Về nội dung: Các văn bản do Quốc hội ban hành có giá trị và hiệu lực cao,

các văn bản do cơ quan khác ban hành là để chấp hành, thi hành các văn bản của Quốc hội

Trang 24

Yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực kinh tế là một hoạt động không bao giờ ngừng, nó luôn luôn là vấn đề bức xúc vì các quan hệ kinh tế - đối tượng điều chỉnh của pháp luật vận động không ngừng Do vậy, khi nói đến sự hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế là nói đến yêu cầu của việc xây dựng luật, pháp lệnh trong từng giai đoạn, căn cứ vào chiến lược, đường lối phát triển đất nước của Đảng và nhà nước

Thực chất mục đích của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế là nói đến sự đòi hỏi của pháp luật thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng về chính sách phát triển kinh tế được xác định trong từng giai đoạn Mục đích của việc hoàn

thiện hệ thống pháp luật về kinh tế hiện nay là: “Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp

luật về kinh tế thị trường, tạo lập đồng bộ và vận hành thông suốt các loại thị trường, để các giao dịch thị trường diễn ra phù hợp với các nguyên tắc của thị trường” [19, tr 240, 241]

Để đáp ứng đòi hỏi của việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, cũng như hệ thống pháp luật về kinh tế nói riêng trong bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay của nước ta, hoạt động lập pháp của Quốc hội phải tuân thủ và thực hiện theo các quy trình nhất định

Khác với các quy định các bản Hiến pháp trước đó, để đảm bảo cho hoạt động lập pháp được thực hiện một cách có hiệu quả, tập trung giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội cần điều chỉnh bằng pháp luật, Hiến pháp 1992 đã quy định về thẩm quyền của Quốc hội quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh Sở dĩ

có quy định này là hệ thống pháp luật của nước ta hiện nay đang thiếu nhiều, chưa đồng đều, chưa đáp ứng đủ yêu cầu điều chỉnh xã hội bằng pháp luật; đồng thời để khắc phục tình trạng cơ quan soạn thảo chỉ chuẩn bị những dự án luật dễ, bỏ lại những dự án luật bức xúc, phức tạp

Để đảm bảo cho hoạt động lập pháp của Quốc hội được tiến hành thuận lợi,

có hiệu quả, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 quy định rõ về trình tự, thủ tục thông qua dự án luật, mà ta quen gọi là trình tự lập pháp Trình tự lập pháp bao gồm các bước: Từ khâu soạn thảo đến trình dự án luật, thảo luận dự án luật, biểu quyết thông qua dự án luật và công bố luật đã được thông qua

Trang 25

1.2.2 Nội dung thẩm quyền lập pháp của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế 1.2.2.1 Thẩm quyền của Quốc hội trong việc quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

Theo Điều 72 Luật Tổ chức Quốc hội quy định:“Quốc hội quyết định

chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của cả nhiệm kỳ Quốc hội và chương trình hàng năm theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Các dự án luật trước khi trình ra Quốc hội phải được Hội đồng dân tộc hoặc Uỷ ban hữu quan của Quốc hội thẩm tra, Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến và được gửi đến đại biểu Quốc hội chậm nhất là hai mươi ngày trước ngày khai mạc kỳ họp; Đối với dự án luật do Uỷ ban thường vụ Quốc hội trình thì Quốc hội quyết định cơ quan thẩm tra hoặc thành lập Uỷ ban lâm thời để thẩm tra dự án luật đó.”

Căn cứ của việc lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; trình tự xem xét, thông qua dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội được thực hiện theo Điều 26, 27 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Việc thông qua chương trình xây dựng luật, pháp lệnh có ý nghĩa pháp lý và thực tiễn quan trọng Điều này đã giúp cho hoạt động lập pháp của Quốc hội được chủ động và mang tính khoa học; phân định xác định nhu cầu và thứ bậc ưu tiên các đạo luật, pháp lệnh cần ban hành, bảo đảm tính thống nhất, toàn diện, ổn định và khả thi của hệ thống pháp luật; đảm bảo tập trung vào xây dựng các dự án luật pháp lệnh điều chỉnh những vấn đề bức xúc, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Đồng thời, việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đòi hỏi

và là cơ sở lập chương trình lập quy của Chính phủ và các bộ, ngành

Việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cũng phải thông qua quy trình chặt chẽ báo gồm các bước: Đề xuất kiến nghị; lập dự kiến chương trình; thẩm tra chương trình; lập dự án chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; thông qua chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; triển khai thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

Trong việc xây dựng và thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, việc phân công đúng cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra là rất quan trọng, đảm bảo cho dự án luật đi đúng định hướng Các cơ quan soạn thảo phải chịu

Trang 26

trách nhiệm chính trong việc bảo đảm các luận cứ khoa học và thực tiễn của dự án luật, pháp lệnh

Trong giai đoạn hiện nay, hệ thống pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực kinh

tế còn thiếu nhiều, việc ưu tiên xây dựng các đạo luật cần thiết trước mắt là đòi hỏi chính đáng, vì vậy có thể thấy một trong những yêu cầu để hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế đó là việc xây dựng chương trình xây dựng pháp luật, cả chương trình ngắn hạn và dài hạn của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội

Luật Tổ chức Quốc hội không quy định cụ thể nội dung của chương trình xây dựng luật, pháp lệnh Tuy nhiên, theo Điều 22 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được thể hiện như sau:

“1 Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được xây dựng trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân

2 Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh bao gồm chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội và chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm

3 Quốc hội quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội tại kỳ họp thứ hai của mỗi khoá Quốc hội; quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm tại kỳ họp thứ nhất của năm trước.”

Thực tế hiện nay chương trình xây dựng luật, pháp lệnh phải ghi đầy đủ danh mục các văn bản luật, pháp lệnh dự kiến ban hành mới hoặc sửa đổi; cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm soạn thảo và trình Quốc hội; Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội chịu trách nhiệm thẩm tra, làm báo cáo trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; thời điểm ban hành văn bản,…

Ngoài ra khi xét thấy cần thiết, Quốc hội có thể quyết định điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo Điều 29 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Như vậy, mặc dù Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền làm luật, có điều chỉnh bất cứ quan hệ xã hội nào nên thành luật, nhưng phạm vi điều chỉnh pháp luật của Quốc hội cũng được giới hạn bởi chương trình xây dựng luật Có thể thấy, với việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội được coi là khâu quan

Trang 27

trọng không thể thiếu trong hoạt động lập pháp của Quốc hội, được quy định trong văn bản luật

Đối với việc ban hành các văn bản luật, pháp lệnh trong lĩnh vực kinh tế, mặc dù hệ thống pháp luật thuộc lĩnh vực kinh tế còn thiếu nhiều và chưa đồng bộ, nhưng việc thông qua văn bản luật hay giao cho Ủy ban thường vụ Quốc hội ra pháp lệnh cũng được Quốc hội xem xét, quyết định một cách nghiêm túc, trong đó

có tính đến việc ưu tiên những dự án luật, pháp lệnh có tính bức xúc, đáp ứng yêu cầu quản lý các quan hệ kinh tế bằng pháp luật trong từng giai đoạn

1.2.2.2 Thẩm quyền của Quốc hội trong quá trình soạn thảo, thông qua

dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết thuộc lĩnh vực kinh tế

Hoạt động lập pháp của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế luôn được coi trọng

và chiếm nhiều thời gian nghị sự của Quốc hội nhất; đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, nhiều qua hệ kinh tế đã, đang tồn tại nhưng vẫn chưa được pháp luật điều chỉnh

và có những quan hệ pháp luật kinh tế hiện hành không còn phù hợp với thực tế đòi hỏi phải được thay thế Cũng giống như các dự án luật khác, các dự án về pháp luật kinh tế cũng được Quốc hội xem xét thông qua theo trình tự luật định

Giai đoạn soạn thảo, trình dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết ra trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội

Về chủ thể có quyền trình dự án luật, theo Điều 87 Hiến pháp 1992 quy định:

“Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội

Đại biểu Quốc hội có quyền trình kiến nghị về luật và dự án luật ra trước Quốc hội

Thủ tục trình Quốc hội dự án luật, kiến nghị về luật do luật định”

Khác với các nước tư bản, chủ thể sáng quyền lập pháp rất hạn chế, có thể chỉ là đặc quyền của các nghị sĩ, hay chỉ quy định cho cơ quan nhà nước trong chế

độ phân quyền, việc mở rộng phạm vi chủ thể có quyền trình dự án luật theo Hiến pháp 1992 nhằm tăng cường công tác lập pháp của Quốc hội, giúp Quốc hội trong

Trang 28

việc điều chỉnh pháp luật được kịp thời, chính xác và đồng bộ chứ không phải là sự làm thay công việc của Quốc hội Mặt khác, theo pháp luật Việt Nam thì chủ thể có quyền trình dự án luật rất rộng thể hiện bản chất dân chủ của nhà nước Việt Nam Hoạt động của trình tự lập pháp có sự đổi mới và từng bước nâng cao so với các bản Hiến pháp trước đó Đó là, ngoài việc quy định đại biểu Quốc hội có quyền trình dự

án luật, đại biểu Quốc hội còn có quyền kiến nghị về luật

Quyền kiến nghị về luật của đại biểu Quốc hội theo Hiến pháp 1992 là phù hợp với thực tế khi trình độ đại biểu Quốc hội còn hạn chế, chưa thể tự mình soạn thảo dự án luật hoàn chỉnh để trình trước Quốc hội Kiến nghị về luật được hiểu là việc đề xuất một ý tưởng, sáng kiến mới về việc cần thiết ban hành văn bản pháp luật mới hay sửa đổi, bổ sung luật hiện hành cho phù hợp với thực tế để từ đó Quốc hội xem xét và quyết định có nên điều chỉnh bằng luật hay không và sau đó giao cho cơ quan soạn thảo chuẩn bị dự án trình Quốc hội

Việc tổ chức, nghiên cứu, soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết được tiến hành theo chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm và cả nhiệm kỳ được Quốc hội thông qua Trong quá trình soạn thảo, cơ quan soạn thảo phải căn cứ vào đường lối, chính sách của Đảng để tổ chức soạn thảo văn bản trên cơ sở tổng kết việc khảo sát thực tiễn; nghiên cứu, phân tích, biên soạn các văn bản tài liệu trong và ngoài nước

Để đảm bảo tính khả thi của dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết, trong quá trình soạn thảo, cơ quan chủ trì soạn thảo mời các cơ quan hữu quan tham gia; đồng thời tùy theo tính chất, mức độ phức tạp hay đơn giản của dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết mà cơ quan soạn thảo tổ chức lấy ý kiến ở các cấp, các ngành, đơn vị cơ

sở, chuyên gia Đối với các dự án quan trọng thì Ủy ban thường vụ Quốc hội sẽ tổ chức lấy ý kiến nhân dân

Giai đoạn thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan của Quốc hội

Để đảm bảo chất lượng và sự phù hợp Hiến pháp và hệ thống pháp luật, cũng như tính chặt chẽ về kỹ thuật lập pháp của dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định về trách nhiệm, nội dung và phương thức thẩm tra dự án luật của các cơ quan của Quốc hội tại các Điều 42, Điều 43 và Điều 44

Trang 29

Bất kỳ một dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết nào cũng đều được các cơ quan của Quốc hội tùy theo lĩnh vực phân công có trách nhiệm thẩm tra Đối với các dự

án luật, pháp lệnh, nghị quyết thuộc lĩnh vực kinh tế thì bao giờ Ủy ban Kinh tế cũng có trách nhiệm chủ trì thẩm tra

Thẩm tra dự án luật là khâu quan trọng và bắt buộc trong quy trình xây dựng luật, với mục đích giúp cho Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội có cơ sở lý luận và thực tiễn để thảo luận một cách toàn diện về dự án và quyết định việc thông qua

Ngoài ra, để hình thành lên báo cáo thẩm tra có tính thuyết phục, theo khoản

4, Điều 41 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật: “Cơ quan thẩm tra có quyền

yêu cầu cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo báo cáo về những vấn đề liên quan đến nội dung của dự án, dự thảo; tự mình hoặc cùng cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo tổ chức hội thảo, khảo sát thực tế về những vấn đề thuộc nội dung của dự án, dự thảo

Cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu và đáp ứng các yêu cầu khác của cơ quan thẩm tra”

Tại khoản 2, Điều 42 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng quy định rõ thời hạn cơ quan soạn thảo gửi dự án đến cơ quan có trách nhiệm thẩm tra

để tiến hành thẩm tra chậm nhất là hai mươi ngày, trước ngày bắt đầu phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội và ba mươi ngày, trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội

Việc gửi dự án luật, báo cáo thẩm tra đến đại biểu Quốc hội được quy định

rõ tại Điều 72 Luật Tổ chức Quốc hội: “Các dự án luật trước khi trình ra Quốc hội

phải được Hội đồng dân tộc hoặc Uỷ ban hữu quan của Quốc hội thẩm tra, Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến và được gửi đến đại biểu Quốc hội chậm nhất là hai mươi ngày trước ngày khai mạc kỳ họp.”

Việc gửi dự án luật, tờ trình và báo cáo thẩm tra đến đại biểu Quốc hội trước khi khai mạc kỳ họp nhằm giúp cho đại biểu Quốc hội có thời gian nghiên cứu kỹ các dự án luật, có thể tham khảo các ý kiến chuyên gia, cử tri về dự án luật, đảm bảo tính khoa học, thực tiễn của dự án luật khi thông qua

Giai đoạn thảo luận dự án luật, nghị quyết tại kỳ họp Quốc hội

Thảo luận dự án luật, nghị quyết là giai đoạn rất quan trọng trong quá trình xây dựng luật Tại đây, các vấn đề của dự án được đại biểu xem xét, thảo luận Việc

Trang 30

thảo luận các dự án luật, nghị quyết được quy định tại Điều 73 Luật Tổ chức Quốc hội, Điều 51, 52, 53 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Điều 19 của Nội quy kỳ họp Quốc hội

Tùy theo tính chất và nội dung của dự án luật, nghị quyết, Quốc hội có thể xem xét, thông qua dự án tại một hoặc hai kỳ họp Quốc hội

Đối với các dự án luật, nghị quyết được xem xét thông qua tại một kỳ họp Quốc hội, trình tự xem xét thông qua được quy định cụ thể tại Điều 52 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Đối với các dự án luật, nghị quyết được xem xét thông qua tại hai kỳ họp Quốc hội, trình tự xem xét thông qua được quy định cụ thể tại Điều 53 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Như vậy, quá trình thảo luận dự án luật, nghị quyết bao giờ cũng được bắt đầu bằng việc nghe cơ quan soạn thảo đọc tờ trình và dự án trước Quốc hội, sau đó

là cơ quan được giao nhiệm vụ thẩm tra đọc báo cáo thẩm tra dự án

Việc thảo luận bao giờ cũng được diễn ra ở các phiên họp toàn thể dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội hoặc Phó Chủ tịch Quốc hội Đó là nơi va chạm các quan điểm của quyền lợi cục bộ và toàn cục, kết quả cuối cùng là việc chọn ra phương án tối ưu nhất hợp với đa số

Ngoài ra, việc thảo luận dự án luật, nghị quyết cũng có thể diễn ra ở Tổ, Đoàn đại biểu Quốc hội, hay Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội Việc quyết định thảo luận ở hình thức nào phụ thuộc vào mức độ phức tạp của vấn đề Điều quan trọng nhất là phải làm sao tạo điều kiện cho đại biểu thể hiện được ý chí của mình

Thực tế cho thấy, hình thức thảo luận ở Tổ đại biểu Quốc hội gần đây được

áp dụng nhiều và hình thức thảo luận ở Đoàn dần được co hẹp Hình thức thảo luận

ở Tổ bao giờ cũng diễn ra trước khi thảo luận ở hội trường Việc thảo luận ở tổ đã rút bớt được thời gian tranh luận ở hội trường mà vẫn không ảnh hưởng đến chất lượng của việc thông qua dự án luật của Quốc hội Bởi lẽ, thảo luận ở Tổ sẽ có nhiều thời gian cho đại biểu phát biểu hơn, sau khi đại biểu Quốc hội thảo luận ở

Tổ, biên bản thảo luận sẽ được gửi đến Đoàn Thư ký kỳ họp và các cơ quan hữu quan để xử lý thích hợp trong việc điều hành kỳ họp và chuẩn bị tiếp thu chỉnh lý

Trang 31

hoặc báo cáo giải trình thêm những vấn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm hoặc cần giải thích Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo việc tiếp thu, giải trình và trình bày trước phiên họp toàn thể, trên cơ sở báo cáo tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội hoặc giải trình, Quốc hội tiến hành thảo luận tại hội trường

Giai đoạn biểu quyết, thông qua dự án luật, nghị quyết

Biểu quyết là hình thức thể hiện quan điểm của Quốc hội về dự án luật Đây

là hình thức kết thúc quá trình tranh luận tại hội trường Vấn đề cần biểu quyết, cách thức biểu quyết do Quốc hội quyết định Theo Điều 88 Hiến pháp 1992 quy định:

“Luật, nghị quyết của Quốc hội phải được quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, trừ các trường hợp Quốc hội bãi nhiệm đại biểu Quốc hội quy định tại Điều 7, rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của Quốc hội quy định tại Điều 85 và sửa đổi Hiến pháp quy định tại Điều 147, thì phải được ít nhất là hai phần ba tổng

số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.”

Điều 19 Luật Tổ chức Quốc hội quy định đối với dự án Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội phải được quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành

Theo xu hướng hiện nay, Quốc hội biểu quyết những vấn đề còn ý kiến khác nhau của dự thảo sau đó biểu quyết thông qua toàn bộ dự thảo, còn về kỹ thuật lập pháp, Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo các cơ quan hữu quan giúp Ủy ban thường vụ Quốc hội hoàn thiện văn bản luật, nghị quyết trước khi trình Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực Tuy nhiên việc chỉnh sửa câu chữ sau khi Quốc hội biểu quyết phải đảm bảo nguyên tắc không làm thay đổi nội dung đã được Quốc hội biểu quyết Với hình thức biểu quyết như trên, Quốc hội tiết kiệm được thời gian để tập trung thảo luận về nội dung dự án, không quá chú trọng đến câu chữ của dự thảo

Giai đoạn công bố luật

Để kết thúc quá trình lập pháp, văn bản pháp luật đã được Quốc hội thông qua muốn có hiệu lực pháp lý thì phải có bước công bố Luật do Chủ tịch nước thực

hiện theo quy định của pháp luật Theo Điều 88 Hiến pháp 1992 quy định:“Luật,

nghị quyết của Quốc hội phải được công bố chậm nhất là mười lăm ngày kể từ ngày được thông qua.” Chủ tịch nước thực hiện quyền công bố Hiến pháp, Luật bằng ký

lệnh công bố

Trang 32

Đối với Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, theo Điều 19

Luật Tổ chức Quốc hội quy định:“Pháp lệnh, nghị quyết phải được công bố chậm

nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày được thông qua, trừ trường hợp Chủ tịch nước trình Quốc hội xem xét lại”

Tại khoản 7, Điều 103 Hiến pháp 1992 có quy định về quyền hạn của Chủ

tịch nước trong việc công bố Pháp lệnh:“Đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem

xét lại pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về các vấn đề quy định tại điểm 8 và điểm 9, Điều 91 trong thời hạn mười ngày kể từ ngày pháp lệnh hoặc nghị quyết được thông qua; nếu pháp lệnh, nghị quyết đó vẫn được Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí, thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất”

Như vậy, trong lĩnh vực xây dựng luật, vai trò của Chủ tịch nước chỉ mang tính hình thức, thông lệ mà không có thực quyền, không có quyền can thiệp vào hoạt động lập pháp như ở các nước tổ chức nhà nước theo phân chia quyền lực (quyền phủ quyết dự án luật) Điều này thể hiện tính quyền lực tối cao của Quốc hội trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

Nhưng đối với hoạt động lập pháp của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước có quyền đề nghị xem xét lại Pháp lệnh, Nghị quyết đã được Ủy ban thường

vụ Quốc hội thông qua Quy định này nhằm giúp cho việc xem xét, thông qua pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội được kỹ càng, thận trọng; mặt khác, do tổ chức, hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội, với số thành viên hạn chế (số thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa X: 14 thành viên; khóa XI: 13 thành viên; khóa XII: 18 thành viên), trong khi đó lại có nhiệm vụ ban hành pháp lệnh (điều chỉnh quan hệ xã hội theo sự phân công của Quốc hội) có giá trị pháp lý cao; do vậy, việc Hiến pháp quy định thẩm quyền của Chủ tịch nước trong trường hợp này nhằm hạn chế, khắc phục những dự án pháp lệnh được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua khi chưa đủ điều kiện

Có thể nói, với trình tự, thủ tục xây dựng luật của Quốc hội, pháp lệnh của

Ủy ban thường vụ Quốc hội như trên đã trình bày, cho thấy được tính chặt chẽ, thận trọng trong quy trình làm luật của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Hiện nay

có không ít quan điểm cho rằng, Quốc hội chỉ là cơ quan thông qua luật chứ không

Trang 33

phải là cơ quan làm luật và như vậy thì quyền lập pháp của Quốc hội không được thực hiện đầy đủ theo như quy định của Hiếp pháp 1992

Về quan điểm này, xin được phân tích như sau: Đối với cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Quốc hội nước ta như hiện nay, chưa hoàn toàn chuyên trách thì

ý tưởng về việc Quốc hội tự mình làm ra luật từ khâu soạn thảo đến thông qua là rất khó Mặc dù trong quy trình này có sự tham gia của rất nhiều các chủ thể khác nhau, như cơ quan soạn thảo có thể là Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ hay cơ quan tư pháp theo quy định tại Điều 87 Hiến pháp 1992 Việc quy định về các chủ thể khác không phải là Quốc hội trình dự án luật để Quốc hội – cơ quan lập pháp xem xét, thông qua cũng được nhiều nước trên thế giới quy định Có thể vai trò của Quốc hội chỉ được thể hiện rõ nhất trong giai đoạn dự án luật được trình ra Quốc hội Tại đó đại biểu Quốc hội sẽ thảo luận, thông qua dự án luật, nhưng không vì thế mà làm giảm vai trò lập pháp của Quốc hội Điều quan trọng ở đây là trong khi xem xét, thảo luận dự án luật, cũng như trong quá trình tham gia trước đó của các cơ quan của Quốc hội được phân công thẩm tra, chính Quốc hội, các cơ quan thẩm tra của Quốc hội phải có đủ trình độ để phát hiện được những điểm phù hợp và chưa phù hợp của dự án luật đó

để có thể chỉnh sửa hoặc yêu cầu cơ quan soạn thảo tiếp thu, chỉnh lý theo ý kiến của Quốc hội Có thể nói, hoạt động lập pháp của Quốc hội phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, chất lượng của hoạt động của đại biểu Quốc hội

1.2.3 Vai trò của Ủy ban thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội trong hoạt động lập pháp đối với lĩnh vực kinh tế

1.2.3.1 Vai trò của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Theo quy định tại Điều 90 Hiến pháp 1992 Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội, do Quốc hội bầu ra, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội quy định Thành phần Ủy ban thường vụ Quốc hội gồm có Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các Ủy viên làm nhiệm vụ theo chế độ chuyên trách

Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội được quy định cụ thể tại Điều 91 Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10

Trang 34

Như vậy, theo quy định của Hiến pháp, Ủy ban thường vụ Quốc hội vừa là cơ quan của Quốc hội có quyền giải quyết các công việc có liên quan đến hoạt động, điều hành và hành chính của Quốc hội, vừa là cơ quan có quyền thay mặt Quốc hội giải quyết các công việc thuộc nhiệm vụ của Quốc hội trong thời gian Quốc hội không họp và phải báo cáo với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất; đồng thời Ủy ban thường vụ Quốc hội có chức năng, nhiệm vụ riêng biệt của một cơ quan với tính độc lập

Trong các nhiệm vụ trên thì nhiệm vụ ban hành Pháp lệnh được coi là quan trọng nhất, mang tính đặc thù của Ủy ban thường vụ Quốc hội, vượt khỏi nhiệm vụ quyền hạn có tính chất bao quát của cơ quan thường trực của Quốc hội nhiều nước chỉ có chức năng điều khiển các phiên họp của Nghị viện

Ủy ban thường vụ Quốc hội được quyền ban hành Pháp lệnh, Nghị quyết; trong đó Pháp lệnh là văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý dưới luật nhưng lại cao hơn các văn bản pháp quy khác Pháp lệnh dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội đòi hỏi phải được điều chỉnh bằng quy phạm pháp luật nhưng chưa được nâng lên thành Luật

Cũng như hoạt động lập pháp của Quốc hội, Ủy ban thường vụ chỉ được ban hành Pháp lệnh theo chương trình xây dựng luật đã được Quốc hội thông qua

Trong lĩnh vực quản lý kinh tế, Ủy ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm

vụ, quyền hạn như: Ban hành Pháp lệnh điều chỉnh các quan hệ kinh tế được Quốc hội giao; Ban hành Nghị quyết điều chỉnh một số văn bản luật trong lĩnh vực kinh tế theo sự ủy quyền của Quốc hội; Giám sát việc thi hành văn bản luật, nghị quyết của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế

Tuy nhiên, điều cần đề cập đến ở đây là Nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật và được coi là lập pháp ủy quyền Do vậy, về nguyên tắc, Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ thực hiện thẩm quyền này trong trường hợp Quốc hội cho phép bằng cách quy định rõ thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngay chính trong các văn bản luật đó Vì tính cấp thiết trong việc điều chỉnh các vấn đề được Quốc hội ủy quyền nên Ủy ban thường vụ Quốc hội cũng phải báo cáo Quốc hội phê chuẩn Nghị quyết đó ở kỳ họp gần nhất Vậy sẽ có hai trường hợp có thể xảy ra đối với hiệu lực của Nghị quyết Một là, nếu ngay sau khi ban hành, thông thường Nghị quyết sẽ có hiệu lực thi hành ngay và trong trường hợp Quốc hội phê chuẩn thông qua Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì Nghị quyết vẫn tiếp tục được thi

Trang 35

hành.Ngược lại, nếu Quốc hội không phê chuẩn Nghị quyết thì Nghị quyết đó sẽ hết hiệu lực, chấm dứt việc thi hành trong thực tế

Một vấn đề khác đặt ra ở đây là, nếu công nhận đây là hình thức lập pháp ủy quyền, thì về mặt logic, sau khi Quốc hội phê chuẩn nó có được trở thành luật của Quốc hội hay không? Hay nó vẫn chỉ tồn tại dưới hình thức Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội? Bởi lẽ, quyền lập pháp ủy quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội cũng chỉ được thực hiện thay Quốc hội trong thời gian Quốc hội không họp

Ở một số nước cũng có hình thức lập pháp ủy quyền (như Pháp giao cho Tổng thống) và sau khi được Quốc hội phê chuẩn thì nó sẽ trở thành luật của Quốc hội Như vậy mới đúng nghĩa là “lập pháp ủy quyền”

Ngoài ra, để đảm bảo cho hoạt động của Quốc hội trong việc thông qua Luật, Nghị quyết trong lĩnh vực kinh tế, Ủy ban thường vụ Quốc hội có vai trò quan trọng Đó là tham gia của Ủy ban thường vụ Quốc hội trong các giai đoạn xây dựng Luật, Nghị quyết của Quốc hội trước khi trình Quốc hội

1.2.3.2 Vai trò của Ủy ban Kinh tế

Ủy ban Kinh tế là cơ quan chuyên môn của Quốc hội, do Quốc hội thành lập với cơ cầu gồm có Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm, Ủy viên thường trực làm việc theo chế độ chuyên trách và các thành viên khác hoạt động kiêm nhiệm Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban được quy định rõ tại khoản 4, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung

Luật Tổ chức Quốc hội số 83/2007/QH11 ngày 02/4/2007

“Điều 28

Uỷ ban kinh tế có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1 Thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh thuộc lĩnh vực quản lý kinh tế, tiền

tệ, ngân hàng, hoạt động kinh doanh và các dự án khác do Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao;

2 Chủ trì thẩm tra chương trình, dự án, kế hoạch nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội; báo cáo của Chính phủ về việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội;

3 Giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thuộc lĩnh vực quản lý kinh tế, tiền tệ, ngân

Trang 36

hàng, hoạt động kinh doanh; chủ trì giám sát hoạt động của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ trong việc thực hiện chương trình, dự án, kế hoạch nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội và việc thực hiện chính sách kinh tế, tiền tệ, ngân hàng;

4 Giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương hoặc giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội thuộc lĩnh vực Uỷ ban phụ trách;

5 Kiến nghị các vấn đề liên quan đến tổ chức, hoạt động của các cơ quan hữu quan và các vấn đề về quản lý kinh tế, tiền tệ, ngân hàng, hoạt động kinh doanh.”

Trong quá trình xây dựng luật, hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế, vai trò của Ủy ban Kinh tế được thể hiện thông qua các hoạt động: xây dựng báo cáo thẩm tra của Ủy ban các dự án luật, dự án pháp lệnh thuộc lĩnh vực quản lý kinh tế, tiền tệ, ngân hàng, hoạt động kinh doanh và các dự án khác do Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao; tham gia chỉnh lý dự án luật, pháp lệnh trong kỳ họp Quốc hội và hoạt động giám sát thi hành luật, pháp lệnh nói riêng và việc thực hiện Nghị quyết về nhiệm vụ kinh tế xã hội của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội

và của Ủy ban là cơ sở thực tế để Ủy ban hình thành báo cáo thẩm tra và kiến nghị với Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế

Vai trò của Ủy ban Kinh tế trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh

tế được thể hiện thông qua các hình thức hoạt động trong và ngoài kỳ họp Quốc hội

Vai trò của Ủy ban Kinh tế ngoài kỳ họp Quốc hội

Để giúp cho Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành luật, pháp lệnh có tính hiệu quả và khả thi, Ủy ban Kinh tế thường bám sát quá trình soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh thông qua các hình thức: cử thành viên Ủy ban tham gia vào quá trình soạn thảo dự án luật, mời các cơ quan hữu quan báo cáo tình hình tiến độ xây dựng luật và cho ý kiến đối với dự án luật, pháp lệnh trước khi trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội Đồng thời, Ủy ban Kinh tế có thể tự mình hoặc phối hợp cùng với cơ quan soạn thảo tổ chức khảo sát thực tế,

tổ chức hội thảo, hội nghị chuyên đề trong đó chú trọng đến các ý kiến các

Trang 37

chuyên gia, đối tượng dự kiến sẽ chịu sự điều chỉnh của dự án luật, pháp lệnh khi được thông qua

Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế phải tuân thủ theo quy định tại Mục 3, Chương III của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật; đảm bảo về mặt nội dung cũng như tính hợp hiến của văn bản luật, pháp lệnh

Việc trình báo cáo thẩm tra có chất lượng, có tính thuyết phục sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thảo luận và thông qua dự án luật, pháp lệnh tại kỳ họp Quốc hội, phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội Báo cáo thẩm tra sẽ giúp Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội có cơ sở lý luận và thực tiễn thảo luận một cách có hiệu quả về dự án luật, pháp lệnh Đồng thời qua nghiên cứu những lập luận của báo cáo thẩm tra nêu ra, đại biểu Quốc hội có thêm căn cứ để tỏ thái độ của mình đối với những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, giảm bớt thời gian tranh luận, như vậy

sẽ đảm bảo tiến độ xem xét, thông qua dự án luật, pháp lệnh

Tùy theo yêu cầu, mức độ phức tạp của dự án luật, pháp lệnh, Ủy ban Kinh

tế tổ chức các cuộc họp để cho ý kiến hoặc tiến hành thẩm tra sơ bộ, thẩm tra chính thức Thẩm tra sơ bộ được tiến hành đối với các dự án luật, pháp lệnh trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xin ý kiến Đối với dự án được chính thức đưa vào kỳ họp Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét thông qua thì Ủy ban phải tiến hành thẩm tra chính thức

Để hình thành lên báo cáo thẩm tra, Ủy ban Kinh tế phải tổ chức các cuộc họp Ủy ban Đối với báo cáo thẩm tra sơ bộ hoặc cho ý kiến bước đầu các dự án luật, pháp lệnh, Ủy ban có thể tổ chức họp thường trực họp mở rộng hoặc toàn thể

Ủy ban, tùy thuộc vào tính chất, tầm quan trọng của dự án Để thẩm tra chính thức

dự án luật, pháp lệnh, Ủy ban phải tiến hành họp toàn thể Ủy ban Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế về các dự án luật kinh tế được xây dựng trên cơ sở trí tuệ của tập thể Ủy ban, đảm bảo tính khoa học và thực tiễn

Với mục đích nhằm cung cấp những cơ sở lý luận, thực tiễn giúp Quốc hội xem xét, thảo luận, thông qua dự án luật, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua pháp lệnh; do vậy, có thể nói báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế đóng vai trò quan trọng để Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật, pháp lệnh; đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi số lượng đại biểu chuyên trách còn hạn

Trang 38

chế, đại biểu Quốc hội chủ yếu hoạt động kiêm nhiệm, thời gian để đại biểu Quốc hội nghiên cứu, tổ chức lấy ý kiến của các ngành, các cấp không nhiều

Vai trò của Ủy ban Kinh tế trong kỳ họp Quốc hội

Trong kỳ họp Quốc hội, dự án luật được Quốc hội thảo luận xem xét dưới các hình thức khác nhau: thảo luận ở Đoàn đại biểu, thảo luận ở Tổ đại biểu, thảo luận tại phiên họp toàn thể tại hội trường hoặc xin ý kiến đại biểu Quốc hội qua phiếu xin ý kiến Như vậy, qua mỗi hình thức trên, Ủy ban Kinh tế với tư cách là cơ quan thẩm tra phối hợp với Đoàn Thư ký kỳ họp và Ban soạn thảo chỉnh lý dự án trên cơ sở tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội hoặc chuẩn bị ý kiến giải trình về những vấn đề chưa rõ trong dự án luật Thông thường giai đoạn này chủ yếu là sự tham gia của Thường trực Ủy ban

Vai trò của Ủy ban Kinh tế trong hoạt động giám sát việc thi hành các văn bản pháp luật về kinh tế do Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành

Hoạt động giám sát việc thi hành luật, pháp lệnh trong lĩnh vực kinh tế nói riêng và về việc thực hiện Nghị quyết về nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Quốc hội,

Ủy ban thường vụ Quốc hội của Ủy ban Kinh tế là cơ sở thực tế để Ủy ban thực hiện tốt vai trò của mình trong hoạt động lập pháp của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội được thực hiện qua các chức năng sau:

Giám sát trên cơ sở các văn bản, báo cáo của Chính phủ, các bộ ngành trung ương về việc thực hiện Nghị quyết về nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Quốc hội, về tình hình thực hiện luật, pháp lệnh của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội

Tổ chức đoàn công tác đi giám sát thực tế tại các bộ, ngành trung ương và địa phương về thực hiện luật, pháp lệnh trong lĩnh vực kinh tế

Giám sát dựa trên cơ sở ý kiến cử tri, tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế -

xã hội để thấy được những thiếu sót, phát hiện những vấn đề cần điều chỉnh bằng luật, pháp lệnh, từ đó kiến nghị với Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh chương trình xây dựng luật pháp lệnh, ưu tiên những dự án luật, pháp lệnh mang tính cấp thiết

Có thể nói, hoạt động giám sát của Ủy ban Kinh tế gắn bó mật thiết với vai trò của Ủy ban trong hoạt động lập pháp của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Trang 39

Thứ nhất, trong các nội dung giám sát trên, hoạt động giám sát việc thực

hiện luật, pháp lệnh được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua là căn

cứ quan trọng giúp cho Ủy ban Kinh tế thực hiện tốt nhiệm vụ của mình trong việc kiến nghị chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội

Thông qua hoạt động giám sát việc thực hiện luật, pháp lệnh trong lĩnh vực kinh tế, Ủy ban Kinh tế có thể phát hiện những khoảng trống của pháp luật hoặc sự không phù hợp, chồng chéo của pháp luật so với thực tế cuộc sống, hay cũng có thể

đó là việc phát hiện những văn bản hướng dẫn của Chính phủ không phù hợp với quy định của Hiến pháp, Luật của Quốc hội, Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội Qua đó, Ủy ban kinh tế có kiến nghị với Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc kiến nghị với Chính phủ sửa đổi, bãi bỏ văn bản không phù hợp để đảm bảo hệ thống pháp luật kinh tế phù hợp với cuộc sống, đôn đốc các bộ, ngành kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành để sớm đưa luật vào thi hành, góp phần vào quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế

Thứ hai, qua hoạt động giám sát là căn cứ thực tiễn quan trọng để hình thành

lên báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế với những dự án luật, pháp lệnh trong lĩnh vực kinh tế

1.2.3.3 Vai trò của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội

Hội đồng dân tộc và các Ủy ban khác của Quốc hội đều là cơ quan của Quốc hội, được Quốc hội bầu ra nhằm đảm bảo cho hoạt động của Quốc hội thường xuyên, có hiệu quả Để các quyết định có hiệu lực pháp lý trên thực tế, công việc chuẩn bị xem xét, nghiên cứu và khởi thảo trước các dự án có ý nghĩa rất quan trọng Đồng thời nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội không thể giải quyết bằng cách tập trung tất cả các đại biểu Quốc hội Do vậy, Quốc hội phải lập ra các cơ quan chuyên môn, các cơ quan này đóng vai trò to lớn trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội Hoạt động của Quốc hội Việt Nam cũng giống như Quốc hội các nước không thể thiếu sự tồn tại của các Ủy ban

Vai trò của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế được thể hiện thông qua các mặt sau:

Phối hợp với Ủy ban Kinh tế thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh và các dự án về kinh tế khác liên quan đến lĩnh vực được giao phụ trách

Trang 40

Giám sát việc thực hiện luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế theo nội dung phụ trách

Kiến nghị với Quốc hội những vấn đề kinh tế thuộc phạm vi hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội

Các kiến nghị của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội không có giá trị bắt buộc thi hành ngay mà chỉ mang tính chất kiến nghị, tham khảo Phạm vi kiến nghị của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội rất rộng, để đảm bảo cho hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội hoạt động có hiệu

quả, theo Điều 40 Luật Tổ chức Quốc hội đã quy định:“…Người nhận được kiến

nghị có trách nhiệm xem xét và trả lời trong thời hạn chậm nhất là mười lăm ngày,

kể từ ngày nhận được kiến nghị”

1.3 Vai trò của Quốc hội đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế trong bối cảnh hội nhập và sau tác động suy thoái kinh tế toàn cầu

1.3.1 Vai trò của Quốc hội đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế trong bối cảnh hội nhập

Tiếp tục đường lối đổi mới đất nước, Đại hội Đảng lần thứ IX đã đề ra chiến

lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010:“Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém

phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại.” [18, tr 159]

Trên cơ sở nhận thức toàn cầu hóa kinh tế là xu thế khách quan, Đảng ta xác định trong những nội dung để thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế-xã hội là phải gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; chủ động hội nhập, tranh thủ mọi thời cơ để phát triển trên nguyên tắc giữ vững độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ quyền quốc gia và bản sắc văn hóa dân tộc; bình đẳng cùng có lợi, vừa hợp tác, vừa đấu tranh và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng giao lưu, hợp tác trên nhiều lĩnh vực cũng gây áp lực đối với quá trình lập pháp của nước ta Đòi hỏi các cam kết quốc tế phải được thực hiện với đảm bảo về mặt pháp lý Như khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) tháng 11/2006 Các nguyên tắc của Tổ

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An (2003), “Bài phát biểu: Đổi mới các công đoạn làm luật và đưa luật vào cuộc sống”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (6), tr.2-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Bài phát biểu: Đổi mới các công đoạn làm luật và đưa luật vào cuộc sống”", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An
Năm: 2003
2. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An (2004), “ Bài phát biểu khai mạc Hội nghị đại biểu chuyên trách lần thứ 4” Tài liệu lưu Văn phòng Quốc hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài phát biểu khai mạc Hội nghị đại biểu chuyên trách lần thứ 4”
Tác giả: Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An
Năm: 2004
3. AnnSeidman, Robert B, Seidman, Nalin Abeyeseker (2003), Soạn thảo Luật pháp vì tiến bộ xã hội dân chủ (Sổ tay cho nhà soạn thảo), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Soạn thảo Luật pháp vì tiến bộ xã hội dân chủ (Sổ tay cho nhà soạn thảo)
Tác giả: AnnSeidman, Robert B, Seidman, Nalin Abeyeseker
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1999), Giáo trình kinh tế chính trị học Mác-Lênin, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế chính trị học Mác-Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1999
6. C.Mác - Ph.Ăng-ghen (1993), C.Mác - Ph.Ăng-ghen toàn tập, Tập 6 , NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác - Ph.Ăng-ghen toàn tập
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăng-ghen
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1993
7. TS. Ngô Huy Cương (2006), Góp phần bàn về cải cách pháp luật ở Việt Nam hiện nay, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần bàn về cải cách pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: TS. Ngô Huy Cương
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2006
8. PGS.TS. Nguyễn Đăng Dung (2001), “Nhà nước pháp quyền – Một hình thức tổ chức nhà nước”, Nghiên cứu lập pháp (6), tr. 32-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước pháp quyền – Một hình thức tổ chức nhà nước”, "Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dung
Năm: 2001
9. PGS.TS. Nguyễn Đăng Dung (2004), “Tăng sự cẩn trọng trong hoạt động lập pháp”, Nghiên cứu lập pháp (2), tr. 21-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng sự cẩn trọng trong hoạt động lập pháp”, "Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dung
Năm: 2004
10. TS. Nguyễn Sĩ Dũng (2003), “Bàn về triết lý của Lập pháp”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (6) tr. 7-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về triết lý của Lập pháp"”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp
Tác giả: TS. Nguyễn Sĩ Dũng
Năm: 2003
11. TS. Nguyễn Sĩ Dũng (2003), “Đôi điều về lý thuyết lập pháp”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (9), tr. 2-3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều về lý thuyết lập pháp”", Tạp chí nghiên cứu lập pháp
Tác giả: TS. Nguyễn Sĩ Dũng
Năm: 2003
12. Đại học Quốc gia Hà Nội – Khoa luật (2005), Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội – Khoa luật
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
13. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1987
14. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1991
16. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1996
17. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
18. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
19. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 36 – 1975, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 36 – 1975
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
21. PGS.TS. Trần Ngọc Đường (2003), “Về việc nâng cao chất lượng của các dự án luật”, Nhà nước và pháp luật, (3), tr. 3-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc nâng cao chất lượng của các dự án luật”", Nhà nước và pháp luật
Tác giả: PGS.TS. Trần Ngọc Đường
Năm: 2003
22. PGS.TS. Lê Hồng Hạnh (2003), “Bàn thêm về hoàn thiện pháp luật kinh tế ở Việt Nam”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, (4), tr. 30-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về hoàn thiện pháp luật kinh tế ở Việt Nam”", Tạp chí nhà nước và pháp luật
Tác giả: PGS.TS. Lê Hồng Hạnh
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w