Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Thi hành án dân sự THADS là hoạt động của Nhà nước để đưa bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, của các cơ quan có thẩ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ TRUNG KIÊN
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
(QUA THỰC TIỄN TỈNH THANH HÓA)
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số : 60 38 01
tóm tắt luận văn thạc sĩ luật học
hà nội - 2012
Công trình được hoàn thành tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Đào Trí úc
Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2012
Có thể tìm hiểu luận văn tại Trung tâm tư liệu - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội Trung
tâm tư liệu - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 21.1 Nội dung và đặc điểm của lĩnh vực thi hành án dân sự 7
1.1.2.1 Thi hành án dân sự mang bản chất hành chính - tư pháp 10 1.1.2.2 Chủ thể bắt buộc trong quan hệ thi hành án dân sự là Cơ
quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên và đương sự (người
phải thi hành án, người được thi hành án)
12
1.1.2.3 Đảm bảo quyền yêu cầu, tự nguyện và thỏa thuận thi hành
án của các bên đương sự
13
1.1.2.4 Trình tự, thủ tục thi hành án dân sự theo quy định của pháp
luật về thi hành án dân sự
Trang 3HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở THANH HÓA HIỆN NAY
37
2.1 Thực trạng hoạt động thi hành án dân sự tại Thanh Hóa 37 2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa 37 2.1.2 Sơ lược quá trình tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự tại
2.1.3.5 Hoạt động phối hợp trong thi hành án dân sự và vai trò chỉ
đạo của Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự các cấp
51
2.2 Thực trạng vai trò của nhà nước và quản lý nhà nước đối với
lĩnh vực thi hành án dân sự tại Thanh Hóa
54
2.2.1 Thực trạng pháp luật về thi hành án dân sự tại Thanh Hóa
hiện nay
56
Trang 42.2.2 Thực trạng về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án
dân sự tại Thanh Hóa
62
2.2.2.1 Quản lý nhà nước về chuyên môn, nghiệp vụ 62 2.2.2.2 Quản lý nhà nước về tổ chức cán bộ 65 2.2.2.3 Quản lý nhà nước về cơ sở vật chất 67 2.2.2.4 Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự 68 2.2.2.5 Xử lý vi phạm và các hình thức trách nhiệm trong lĩnh vực
thi hành án dân sự
69
2.2.2.6 Quản lý nhà nước một số mặt công tác khác 70
CỦA NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI THANH HÓA
3.3 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, hoàn thiện chế độ chính
sách đãi ngộ cán bộ, công chức, người lao động trong ngành
88
3.4 Tăng cường quản lý nhà nước trong hoạt động thi hành án
dân sự và phương hướng, giải pháp tăng cường quản lý nhà
nước trong hoạt động thi hành án dân sự tại Thanh Hóa
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
THADS : Thi hành án dân sự
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thi hành án dân sự (THADS) là hoạt động của Nhà nước để đưa bản
án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, của các cơ quan có thẩm quyền khác được tôn trọng và thực hiện trên thực tế nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững kỷ cương, phép nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) Chính vì vậy, thi hành án nói chung, THADS nói riêng đã trở thành một nguyên tắc hiến định Điều 136 Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 ghi nhận: "Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn
vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành" [36] Điều 4 Luật THADS 2008 quy định
"Bản án, quyết định quy định tại Điều 2 của Luật này phải được cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án" [41]
Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng ta chính thức khởi xướng và lãnh đạo đổi mới đất nước Việc xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung bao cấp chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đã làm thay đổi sâu rộng mọi mặt đời sống xã hội, đưa nước ta sang một giai đoạn phát triển mới Các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu, các giao lưu kinh tế, dân sự trong nước và quốc tế phát triển đa dạng, phong phú Công cuộc đổi mới đất nước làm xuất hiện những yêu cầu khách quan, tất yếu phải cải cách và hoàn thiện bộ máy nhà nước để phù hợp với tình hình mới Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta chủ trương cải cách bộ máy Nhà nước nhằm hướng tới xây dựng một nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, quản lý xã hội
Trang 8bằng pháp luật, đề cao tính dân chủ và các giá trị nhân văn Trong bối cảnh chung đó, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản về việc cải cách tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và cơ quan THADS nói riêng như: Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về những nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; Chỉ thị số 20/2001/CT-TTg ngày 11/9/2001 về tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác THADS; Chỉ thị số 21/2008/CT-TTg ngày 01/7/2008 về tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác THADS do Thủ tướng Chính phủ ban hành; Luật THADS năm 2008…
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khóa IX ngày 06/10/1992, Pháp lệnh THADS năm 1993, Chỉ thị số 266/CT-TTg ngày 02/6/1993 của Thủ tướng Chính phủ, công tác THADS được Tòa án chuyển giao cho Bộ Tư pháp thống nhất quản lý từ trung ương đến địa phương Gần 20 năm qua, công tác THADS đã có chuyển biến tích cực, hệ thống văn bản pháp luật, tổ chức bộ máy từng bước được hoàn thiện, cơ sở vật chất được quan tâm đầu tư, kết quả thi hành án năm sau luôn cao hơn năm trước Theo thống kê của Bộ Tư pháp:
Kết quả thi hành án dân sự (về việc, về tiền và tỷ lệ việc chuyển sang năm sau/ tổng số việc có điều kiện thi hành) từ 2007 -
2010 như sau: Năm 2007: 69% về việc; 55% về tiền; chuyển sang năm sau: 25,5% Năm 2008: 70,96% về việc; 45,66% về tiền; chuyển sang năm sau: 29% Năm 2009: 81,05% về việc, 70,54% về tiền; chuyển sang năm sau: 18,95% Năm 2010: 86,35% về việc, 80,10% về tiền; chuyển sang năm sau: 13,64% [4, tr 8].
Xã hội hóa lĩnh vực THADS bước đầu thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh đã thu được kết quả tốt; hoạt động giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo đi vào nề nếp, nâng cao về chất lượng; từng bước khẳng định và củng cố được vị thế, uy tín của các cơ quan THADS, xứng đáng với sự tin cậy, quan tâm của Đảng, của Nhà nước Đạt được kết quả như trên nói lên sự cố gắng, nỗ lực của
Trang 9toàn ngành Tư pháp nói chung, của cán bộ, công chức lực lượng THADS nói riêng, bên cạnh đó là sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của các cấp ủy Đảng, các cấp chính quyền, sự phối hợp của các ngành, tổ chức hữu quan trong THADS
Tuy nhiên, công tác THADS hiện nay vẫn còn bộc lộ những tồn tại và hạn chế như: hệ thống văn bản pháp luật về THADS thiếu đồng bộ, một số quy định pháp luật còn mang tính hình thức, khó áp dụng trong thực tế thi hành án; việc kiện toàn tổ chức, bộ máy theo quy định còn chậm; cơ sở vật chất vẫn còn nhiều khó khăn; tình trạng khiếu nại, tố cáo có diễn biến phức tạp, kéo dài; hoạt động phối hợp trong THADS có lúc, có nơi chưa được quan tâm, chú trọng và thiếu hiệu quả; kết quả công tác THADS hàng năm tăng chậm, không bền vững, án tồn đọng chuyển sang năm sau còn nhiều; một số
tổ chức, cá nhân chưa nhận thức và coi trọng công tác THADS; vẫn còn số ít cấp ủy, chính quyền và đoàn thể ở địa phương chưa thực sự quan tâm, chú trọng đến công tác THADS Vì vậy, hiệu quả của công tác THADS chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ, chưa củng cố được lòng tin của quần chúng nhân và đảm bảo được tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng trên, đó là vai trò của Nhà nước đối với công tác THADS vẫn còn hạn chế, quản lý nhà nước về công tác THADS tỏ ra bất cập, chồng chéo
Xuất phát từ thực tiễn đó tác giả lựa chọn đề tài "Vai trò của Nhà
nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự (qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa)" là
đề tài luận văn cao học Luật của mình Đây là một vấn đề phức tạp liên quan đến nhiều khoa học chuyên ngành khác nhau như: Nhà nước và pháp luật; quản lý nhà nước, quản lý hành chính nhà nước… Tuy nhiên, với khả năng và phạm vi nghiên cứu của đề tài, vấn đề đặt ra chỉ tập trung trong những nội dung cơ bản về vai trò của nhà nước trong lĩnh vực THADS, đồng thời kiến nghị một số giải pháp góp phần nâng cao vai trò của Nhà nước, tạo động lực thúc đẩy hoạt động THADS nói riêng và hoạt động thi hành án nói chung phát
triển hơn
Trang 102 Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm gần đây trước những đòi hỏi khách quan, cấp thiết của công tác THADS đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực THADS như: Tìm hiểu pháp luật thi hành án dân sự của Nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 1999; Kỹ năng thi hành án dân sự năm 2010 của Học viện Tư pháp biên
soạn; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ "Những cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định Thừa phát lại", mã số 95-98-114/ĐT do Viện nghiên cứu Khoa học
pháp lý - Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh chủ trì thực hiện;
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ "Mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án",
mã số 96-98-027/ĐT do Cục THADS - Bộ Tư pháp thực hiện; Đề tài cấp Nhà
nước "Luận cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới" do Bộ Tư pháp chủ trì; Đề tài "Thi hành án dân sự, thực trạng và hướng hoàn thiện của Dự án VIE/98/001" do Bộ Tư pháp
chủ trì thực hiện Một số luận án và công trình nghiên cứu khác như: Luận văn
thạc sĩ Luật học "Quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự" của tác giả Hoàng Kim Chiến; Luận văn thạc sĩ Luật học: "Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện" của tác giả Nguyễn Công Long; Luận văn thạc sĩ luật học "Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự" của tác giả Nguyễn Thanh Thủy; Luận văn thạc sĩ luật học "Xã hội hóa thi hành
án dân sự ở Việt Nam" của tác giả Lê Xuân Hồng; Luận văn thạc sĩ luật học
"Đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam" của tác giả
Nguyễn Quang Thái; Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê Anh Tuấn về
"Đổi mới thủ tục thi hành án dân sự ở Việt Nam" Bên cạnh đó là Giáo trình
môn Luật Thi hành án dân sự của trường Đại học Luật Hà Nội và các trường Đại học có chuyên ngành Luật; một số bài viết đăng trên các tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật…Các công trình nêu trên đã nghiên cứu về lĩnh vực THADS ở những góc độ, khía cạnh và mức độ khác nhau, ít nhiều cũng đã có đề cập đến vấn đề vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực THADS Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên sâu về nội dung này
Trang 113 Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục đích trên, cần phải thực hiện tốt các nhiệm vụ cụ thể sau
- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực THADS trong điều kiện ở nước ta hiện nay
- Đánh giá đúng đắn, toàn diện thực trạng vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực THADS và nguyên nhân của thực trạng đó
- Kiến nghị những giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy công tác THADS nói riêng, hoạt động thi hành án nói chung đạt hiệu quả cao hơn
Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi thực tiễn công tác THADS của tỉnh Thanh Hóa Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, vấn đề đặt ra chỉ giới hạn trong những nội dung cơ bản về vai trò của Nhà nước đối với lĩnh vực THADS để tìm ra giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước, góp phần hoàn thiện, phát triển hoạt động thi hành án nói chung và THADS nói riêng trong điều kiện thực tế của nước ta hiện nay
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 12Tác giả luận văn dùng các phương pháp nghiên cứu: Phân tích, tổng hợp, lịch sử, luật học so sánh để tiếp cận, nghiên cứu những vấn đề thuộc nội dung của đề tài
5 Điểm mới của luận văn
Luận văn không tập trung phân tích sâu những vấn đề về chuyên môn nghiệp vụ trong công tác THADS mà nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, thực trạng, nguyên nhân và đưa ra các giải pháp nhằm góp phần nâng cao vai trò của Nhà nước cũng như hiệu quả công tác trong lĩnh vực thi hành án nói chung, THADS nói riêng
6 Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu
Hiện nay, hầu như chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực THADS Vì vậy, Luận văn nghiên cứu về vấn
đề này trong điều kiện hiện tại cũng đã có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với hoạt động THADS nói riêng và thi hành án nói chung
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu về vai trò của Nhà nước và quản lý nhà nước đối với hoạt động thi hành án; sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, học tập và đặc biệt là cho việc từng bước hoàn thiện pháp luật về thi hành án
trong bối cảnh hiện nay ở nước ta
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực thi
hành án dân sự
Chương 2: Vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự ở
Thanh Hóa hiện nay
Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước
trong lĩnh vực thi hành án dân sự tại Thanh Hóa
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÕ CỦA NHÀ NƯỚC
TRONG LĨNH VỰC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1 NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA LĨNH VỰC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1.1 Khái niệm thi hành án dân sự
Quan niệm về THADS là đề tài tranh luận chưa có hồi kết trên diễn đàn khoa học pháp lý Có nhiều quan điểm khác nhau dựa trên những lập luận
và cách tiếp cận khác nhau về THADS Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một quan niệm thống nhất về THADS Qua nghiên cứu tài liệu, qua tiếp thu ý kiến của các nhà khoa học pháp lý và những người làm công tác pháp luật hiện tại có một số quan điểm cơ bản sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, thi hành án là giai đoạn cuối cùng của
quá trình tố tụng Bởi vì, thi hành án là để thực hiện mục tiêu chung của toàn
bộ quá trình tố tụng Bản án, quyết định của Tòa án chỉ mới dừng lại ở việc làm rõ đúng hay sai, phải hay trái trên văn bản giấy tờ Nếu muốn chân lý được thực hiện trên thực tế cần phải chờ kết quả của công tác thi hành án Vì vậy, thi hành án là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử, ở giai đoạn này,
cơ quan thi hành án được áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật
để đưa bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, của các
cơ quan có thẩm quyền khác trở thành hiện thực trong đời sống thực tế Thi hành án là hoạt động bảo vệ pháp luật khác về bản chất với các hoạt động hành chính là tổ chức và quản lý
Quan điểm thứ hai khẳng định, thi hành án là hoạt động hành chính -
tư pháp Theo quan điểm này, quá trình tố tụng mà trọng tâm là việc xét xử của Tòa án chấm dứt khi Tòa án nhân danh Nhà nước ra phán quyết Thi hành
án không phải là giai đoạn tố tụng, bởi vì:
Trang 14Thi hành án có mục đích khác với mục đích tố tụng, tố tụng
là quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc đã diễn ra trên thực tế, trên cơ sở đó đưa ra phương án giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật, còn thi hành án là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật [42, tr 21]
Đặc thù trong các quan hệ thủ tục thi hành án (đây là một vấn đề dễ dẫn đến sự nhầm lẫn với quan hệ tố tụng) có thể bao gồm cả quan hệ mang tính chất tố tụng và quan hệ mang tính hành chính - tư pháp, nhưng các quan
hệ mang tính hành chính - tư pháp là chủ yếu hơn (đặc biệt là trong thi hành
án kinh tế, tuyên bố phá sản doanh nghiệp, lao động…) Thi hành án là hoạt động của cơ quan nhà nước Tuy nhiên, ở một số lĩnh vực, một số công việc, Nhà nước có thể ban hành các quy định để xã hội hóa hoạt động này Đây là điểm khác biệt cơ bản so với hoạt động tố tụng, hoạt động tố tụng mang tính quyền lực tư pháp, không thể xã hội hóa
Quan điểm thứ ba, xác định, thi hành án là hoạt động tư pháp Khái
niệm tư pháp hiểu theo nghĩa rộng là một hệ thống các thiết chế, các tổ chức bảo vệ pháp luật, trong đó hoạt động xét xử của Tòa án giữ vị trí trung tâm Thi hành án là hoạt động tiếp theo của quá trình xét xử, chịu sự chi phối của quá trình xét xử Bởi vì, gốc của hoạt động thi hành án là Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án và các quyết định được đưa ra thi hành theo quy định của pháp luật Cơ quan thi hành án phải thi hành đúng theo phán quyết của Tòa án không được suy diễn, làm trái Tuy chịu sự chi phối như trên, nhưng ở giai đoạn thi hành án, tính chất tố tụng đã chấm dứt Bởi lẽ, khi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, chân lý đã được làm sáng tỏ, có tội hay vô tội, đúng hay sai đã được phán quyết rõ ràng Việc tổ chức thi hành các phán quyết của Tòa án không thuộc chức năng của cơ quan xét xử, cũng không chịu sự điều chỉnh của pháp luật tố tụng mà chịu sự điều chỉnh của pháp luật thi hành án Thi hành án cũng không mang tính chất hành chính, bởi
Trang 15hành chính là hoạt động chấp hành, điều hành, các quyết định hành chính đưa
ra trên cơ sở mệnh lệnh có tính bắt buộc thi hành của cấp trên đối với cấp dưới Trong khi đó, thi hành án là hoạt động thực hiện đúng phán quyết của Tòa án chứ không phải theo mệnh lệnh hành chính, thực chất hoạt động hành chính trong lĩnh vực thi hành án chỉ để đảm bảo phục vụ cho chức năng chính của cơ quan thi hành án là tổ chức thi hành án theo đúng quy định của pháp luật
Mỗi quan điểm trên đều có cơ sở khoa học và hạt nhân hợp lý riêng Tuy nhiên, theo chúng tôi, quan điểm thứ hai coi thi hành án là hoạt động hành chính - tư pháp là hợp lý hơn cả Bởi lẽ, thi hành án không chỉ đơn thuần
là hoạt động mang tính hành chính, hay tư pháp, không phải là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng Bản chất của hoạt động thi hành án thể hiện rõ cả hai đặc điểm đó là tính hành chính và tính tư pháp Vì vậy, nên coi thi hành án
án bao gồm bản án, quyết định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và một số loại bản án, quyết định có tính chất dân sự như: quyết định về tài sản trong vụ án hình sự, hành chính, quyết định giải quyết tranh chấp kinh tế hoặc thương mại của trọng tài được tiến hành theo trình tự, thủ tục riêng
Ý kiến thứ hai cho rằng, phải hiểu khái niệm "dân sự" ở đây theo nghĩa rộng, đó không chỉ bao gồm các bản án, quyết định về giải quyết tranh chấp đối với các loại hợp đồng dân sự, hôn nhân và gia đình và một số loại
Trang 16bản án, quyết định có tính chất dân sự của Tòa án, mà còn bao gồm các bản
án, quyết định khác do pháp luật quy định
Chúng tôi đồng ý với quan điểm thứ hai, bởi lẽ theo quy định của pháp luật hiện hành ở nước ta có nhiều vụ việc có tính chất khác nhau, được giải quyết theo các trình tự, thủ tục khác nhau (như tố tụng dân sự, kinh tế, hành chính, lao động…) nhưng đến giai đoạn thi hành án đều được áp dụng theo trình tự, thủ tục THADS Điều này cũng phù hợp với pháp luật của nhiều nước trên thế giới: việc tổ chức thi hành các bản án có nguồn gốc pháp luật về nội dung là luật tư (luật dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động) được thực hiện theo một thủ tục chung quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự Vì vậy, phạm vi THADS phải được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm bản án, quyết định dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình, phần dân sự trong bản án, quyết định hình sự (như hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự khác), phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định xử lý
vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại, bản
án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam (Điều 1 Luật THADS năm 2008)
Từ sự phân tích nêu trên, chúng tôi đưa ra khái niệm THADS như sau:
Thi hành án dân sự là hoạt động hành chính - tư pháp do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định để đưa bản án, quyết định của Tòa án hoặc các quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật được thực hiện trên thực tế
1.1.2 Đặc điểm của thi hành án dân sự
1.1.2.1 Thi hành án dân sự mang bản chất hành chính - tư pháp
Tính chất tư pháp trong hoạt động thi hành án được thể hiện như sau: Thi hành án là hoạt động tư pháp hiểu theo nghĩa rộng, trước hết đó là hoạt
Trang 17động nhằm thi hành bản án, quyết định của Tòa án, đồng thời bao gồm cả các hoạt động thuộc lĩnh vực bổ trợ tư pháp Điều này thể hiện rõ trong việc thi hành quyết định khẩn cấp tạm thời của Tòa án nhằm đảm bảo cho việc xét xử, cũng như đảm bảo cho việc thi hành án sau này, mặc dù chưa có kết quả xét xử của Tòa án Cơ sở của hoạt động THADS là các bản án, quyết định của Tòa án và của cơ quan có thẩm quyền theo quy định được đưa ra thi hành Mục đích của của hoạt động THADS là đảm bảo cho phán quyết của Tòa án và các quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật được thực hiện trong đời sống thực tế Hơn nữa, theo quy định của Hiến pháp 1992, sửa đổi,
bổ sung năm 2001 thì Viện kiểm sát nhân dân có hai chức năng chính là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp (Điều 137) Theo quy định của Luật THADS năm 2008 "Viện kiểm sát các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình kiểm sát việc tuân theo pháp luật về thi hành
án của cơ quan thi hành án dân sự…" [41] Nghĩa là, ngay trong các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất như Hiến pháp, Luật cũng đã khẳng định THADS là hoạt động tư pháp
Tính chất tư pháp của hoạt động thi hành án còn được thể hiện như sau: Trong quá trình thi hành án, người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận và tự định đoạt với nhau về cách thức thi hành
án, nhà nước khuyến khích các bên đương sự tự nguyện thi hành án Quan hệ
"tư" đó làm cho tính chất tư pháp của hoạt động THADS nổi bật, chỉ khi các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về phương thức thi hành án và người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thì mới
bị cưỡng chế thi hành án (gồm cả quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của trọng tài thương mại theo quy định của Luật THADS năm 2008) Trong quá trình tổ chức thi hành án, Chấp hành viên chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của mình, tức là có tính độc lập rất cao trong hoạt động nghiệp vụ
Trang 18Mặt khác, yếu tố hành chính của hoạt động thi hành án thể hiện ở chỗ, Chấp hành viên phải tuân theo sự chỉ đạo về mặt nghiệp vụ của cơ quan quản
lý THADS, cơ quan THADS và của thủ trưởng cơ quan THADS Trong quá trình tổ chức thi hành án, nếu như Chấp hành viên có vi phạm thủ tục thi hành
án dẫn tới khiếu nại của đương sự, thì việc giải quyết khiếu nại thực hiện thông qua thủ tục hành chính được quy định trong Luật THADS năm 2008,
mà không xem xét, giải quyết như trình tự tố tụng Khác với mối quan hệ của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử được quy định chặt chẽ trong luật tố tụng Quan hệ giữa cơ quan thi hành án với các cơ quan hữu quan khác theo quy định của Luật THADS năm 2008 và các văn bản hướng dẫn, đó là những quan hệ mang bản chất hành chính, có tính chấp hành và điều hành Trong quá trình THADS, để buộc người phải thi hành án chấp hành các bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án và của cơ quan có thẩm quyền theo quy định, hoạt động của Chấp hành viên phải có tính kế hoạch, tổ chức, đôn đốc, kiểm tra, xử phạt… là những tính chất của hoạt động quản lý hành chính
1.1.2.2 Chủ thể bắt buộc trong quan hệ thi hành án dân sự là Cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên và đương sự (người phải thi hành án, người được thi hành án)
Quan hệ THADS luôn tồn tại ba chủ thể bắt buộc là cơ quan THADS, Chấp hành viên và các bên đương sự (người phải thi hành án, người được thi hành án) hình thành trên cơ sở thi hành các bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
Cơ quan THADS và Chấp hành viên là chủ thể thực hiện quyền lực Nhà nước,
có quyền áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để buộc các bên đương sự trong THADS phải nghiêm chỉnh chấp hành các phán quyết của Tòa án và quyết định của cơ quan có thẩm quyền nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và trật tự pháp luật XHCN
Trong THADS, tính chủ động trong hoạt động tác nghiệp của Chấp hành viên luôn được đề cao Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình,
Trang 19Chấp hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án, được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín (Điều 20, Luật THADS năm 2008) Kể từ thời điểm được thủ trưởng cơ quan THADS phân công tổ chức thi hành vụ việc, hầu như Chấp hành viên có quyền chủ động rất lớn trong hoạt động nghiệp vụ để thi hành dứt điểm vụ việc Trừ một số việc thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan THADS như ra các quyết định ủy thác, trả đơn, đình chỉ, tạm đình chỉ, hoãn thi hành án, trả lại tiền, tài sản theo quyết định của Bản án, thành lập Hội đồng tiêu hủy vật chứng (theo sự đề xuất của Chấp hành viên)…còn lại Chấp hành viên được quyền chủ động trong việc thiết lập hồ sơ, thông báo, xác minh thi hành án, triệu tập đương sự, đôn đốc giải quyết việc thi hành án, đặc biệt là chủ động trong việc ra các quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế và biện pháp bảo đảm thi hành án, xử lý tài sản kê biên, trực tiếp ký kết hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá, với tổ chức bán đấu giá tài sản…Nói tóm lại, trong quy trình giải quyết vụ việc THADS, ngoài phần việc thuộc thẩm quyền của thủ trưởng cơ quan THADS như đã nêu, Chấp hành viên có quyền chủ động rất cao trong việc tổ chức thi hành dứt điểm Bản án, quyết định của Tòa án Về nguyên tắc, tính chủ động, độc lập của Chấp hành viên trong hoạt động nghiệp vụ luôn được tôn trọng, bảo vệ
1.1.2.3 Đảm bảo quyền yêu cầu, tự nguyện và thỏa thuận thi hành
án của các bên đương sự
Xuất phát từ nguyên tắc tự nguyện, tự thỏa thuận, bình đẳng, hòa giải trong quan hệ dân sự Đối với hoạt động THADS, cơ quan thi hành án phải chủ động ra quyết định thi hành án các khoản: hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí; trả lại tiền, tài sản cho đương sự; tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; thu hồi quyền sử dụng đất
và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (khoản 1, Điều 36 Luật THADS năm 2008), ngoài ra cơ quan thi hành án chỉ tổ chức thi hành án trên cơ sở yêu cầu của người phải thi
Trang 20hành án, người được thi hành án Mặt khác, cơ quan thi hành án và Chấp hành viên phải tôn trọng và đảm bảo cho các bên đương sự thực hiện quyền thỏa thuận và tự nguyện thi hành án Thỏa thuận về thi hành án của đương sự trong THADS không được vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức
xã hội, Chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến việc thỏa thuận thi hành
án Kết quả thi hành án theo thỏa thuận được công nhận Nói cách khác, cơ quan thi hành án và Chấp hành viên chỉ được tổ chức thi hành án trong phạm
vi yêu cầu hợp pháp của đương sự, đồng thời phải tôn trọng thỏa thuận hợp pháp của đương sự về phương thức thi hành án như: thời gian, địa điểm, tài sản thậm chí cả thỏa thuận hoãn thi hành án, thỏa thuận rút đơn từ bỏ quyền yêu cầu thi hành án…Đây là đặc điểm nói lên sự khác nhau cơ bản giữa THADS với thi hành án hình sự và thi hành án hành chính phi tài sản
1.1.2.4 Trình tự, thủ tục thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự
Với chức năng thi hành các bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định Trình tự, thủ tục THADS là một cơ chế chặt chẽ theo quy định của pháp luật THADS nhằm phục vụ cho chức năng thi hành án Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy, thủ tục THADS phải đảm bảo tính chính xác cao độ, bởi lẽ hoạt động thi hành án
là để hiện thực hóa quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ THADS, vì vậy, nếu cơ quan thi hành án, Chấp hành viên áp dụng pháp luật THADS không chính xác sẽ dẫn đến hậu quả thực tế rất khó khắc phục (khác với trình
tự tố tụng tại Tòa, còn có thủ tục xét lại Bản án, Quyết định) Việc cưỡng chế thi hành án được xem là biện pháp cuối cùng để thi hành dứt điểm vụ việc, Chấp hành viên có quyền sử dụng biện pháp cưỡng chế nhưng phải đảm bảo các thủ tục theo quy định, không được áp dụng biện pháp cưỡng chế tùy tiện Bên cạnh
đó, Nhà nước luôn khuyến khích đương sự tự nguyện thi hành án, kể cả khi đã bị
áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản nhưng "trước khi mở cuộc đấu giá
01 ngày người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ số tiền
Trang 21thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá" [41, khoản 5, Điều 101] Hiện nay, Thủ tục thi hành án không quy định thời hạn để giải quyết xong dứt điểm một vụ việc THADS cụ thể Vì vậy, các vụ việc THADS thường bị kéo dài,
án tồn đọng và dư luận xã hội bức xúc
1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LĨNH VỰC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.2.1 Sơ lược lịch sử quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự
Thời Pháp thuộc, hoạt động THADS ở nước ta được tổ chức theo hình thức Thừa phát lại - đây là những công lại làm nhiệm vụ chuyền phiếu, các việc về tư pháp, thi hành các bản án, công văn và mệnh lệnh khác của Tòa án Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh về việc "Giữ tạm thời các luật lệ hiện hành của chế độ cũ", theo đó hoạt động Thừa phát lại tiếp tục được duy trì Ngày 24/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh
ký Sắc lệnh số 13 quy định về tổ chức Tòa án, xác định Ban Tư pháp xã thuộc Tòa án có nhiệm vụ thực hiện các việc tư pháp, hòa giải tất cả các việc dân
sự, thương sự và thi hành mệnh lệnh của Thẩm phán Tòa án cấp trên Đến Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và tố tụng thì hoạt động THADS do Thẩm phán Tòa án cấp huyện đảm nhiệm dưới sự kiểm soát của Biện lý Ngày 24/10/1960, Quốc hội khóa I thông qua Luật Tổ chức Tòa
án nhân dân có quy định, tại Tòa án nhân dân địa phương có chức danh "nhân viên chấp hành án" làm nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định về dân sự, phần dân sự trong bản án, quyết định về hình sự Tuy nhiên, do điều kiện lịch
sử của nước ta, nên tại thời điểm này công việc thi hành án do Tòa án giao cho một Thẩm phán phụ trách thi hành án Thẩm phán làm cả nhiệm vụ xét
xử và tổ chức thi hành án Thực hiện Quyết định số 186/TC và Thông tư 187/TC ngày 13/10/1972 của Tòa án nhân dân tối cao lần đầu tiên quy định chức danh "Chấp hành viên" Các Chấp hành viên có nhiệm vụ thi hành
Trang 22những bản án, quyết định về dân sự, phần dân sự trong bản án, quyết định về hình sự và chịu sự quản lý của các Tòa án nhân dân địa phương Chấp hành viên của Tòa án cấp trên không có quyền chỉ đạo công tác của Chấp hành viên Tòa án cấp dưới mà chỉ giúp Chánh án theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, hướng dẫn công tác THADS của Tòa án cấp dưới Ngày 28/8/1989, Pháp lệnh THADS
do Hội đồng Nhà nước ban hành đã tạo ra những bước đổi mới đầu tiên về trình tự, thủ tục THADS Tuy nhiên, hoạt động THADS vẫn do Tòa án nhân dân quản lý, điều hành
Thực hiện Pháp lệnh THADS năm 1993, công tác THADS được Tòa
án chuyển giao cho Bộ Tư pháp thống nhất quản lý từ trung ương đến địa phương Ở Trung ương, Bộ Tư pháp thành lập Cục quản lý THADS để giúp
Bộ trưởng quản lý công tác THADS trên phạm vi toàn quốc Bộ Quốc phòng cũng thành lập Phòng quản lý thi hành án để giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
và Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý công tác THADS trong quân đội Ở địa phương, Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, UBND cấp huyện có trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác THADS trên địa bàn Các cơ quan tư pháp địa phương giúp UBND cùng cấp và cơ quan tư pháp cấp trên trong việc quản lý nhà nước đối với công tác THADS (Sở tư pháp quản lý phòng thi hành án, phòng Tư pháp quản lý đội thi hành án) trên địa bàn
Thực hiện Pháp lệnh THADS năm 2004, bộ máy cơ quan THADS bước đầu có sự độc lập tương đối với cơ quan Tư pháp địa phương, tại THADS cấp tỉnh đã được thành lập các phòng chuyên môn, công tác tổ chức, quản lý cán bộ được giao cho Trưởng THADS tỉnh tham mưu trực tiếp cho Giám đốc Sở Tư pháp, Hội đồng Thi đua, khen thưởng, Hội đồng sáng kiến
cơ sở của cơ quan THADS cũng được thành lập trong giai đoạn này
Thực hiện Luật THADS năm 2008 và các văn bản hướng dẫn, hệ thống tổ chức cơ quan THADS được quy định như sau: ở trung ương có Tổng cục THADS là cơ quan giúp Bộ Tư pháp quản lý công tác THADS trong toàn
Trang 23quốc, các cơ quan THADS địa phương gồm: Cục THADS cấp tỉnh là cơ quan trực thuộc Tổng cục THADS, Chi cục THADS cấp huyện là cơ quan trực thuộc Cục THADS tỉnh, đồng thời chịu sự quản lý, chỉ đạo của Chủ tịch UBND cùng cấp Hệ thống THADS trong quân đội, có Cục Thi hành án Bộ Quốc phòng là cơ quan quản lý thi hành án trực thuộc Bộ Quốc phòng Ở quân khu và tương đương có phòng thi hành án cấp quân khu là cơ quan thi hành án trực thuộc quân khu
1.2.2 Khái niệm chung về quản lý nhà nước
Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về quản lý nhưng quan niệm chung nhất về quản lý được sử dụng rộng rãi trong khoa học nghiên cứu
và trong thực tiễn là định nghĩa về quản lý của điều khiển học Theo quan niệm của điều khiển học thì quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng
để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục tiêu đã định trước Có quản lý kỹ thuật, quản lý xã hội và quản lý các đối tượng khác nhau Quản lý xã hội là sự tác động đến xã hội nhằm mục đích duy trì những đặc điểm về chất, điều chỉnh, hoàn thiện và phát triển những đặc điểm đó của xã hội Do tính chất xã hội trong hoạt động lao động của con người, quản lý tồn tại trong mọi xã hội ở bất kỳ lĩnh vực nào
và trong bất cứ giai đoạn phát triển nào Lao động của con người luôn là lao động tập thể, mỗi người có một vị trí nhất định trong tập thể nhưng có quan
hệ và có giao tiếp với người khác, tập thể khác trong quá trình lao động Vì vậy, cần có sự quản lý để duy trì tính tổ chức, sự phân công lao động, các mối quan hệ giữa những người trong một tổ chức xã hội và giữa các tổ chức xã hội trong quá trình sản xuất vật chất, trong quá trình xã hội nhằm đạt mục tiêu nhất định Thực chất của hoạt động quản lý chính là hoạt động tổ chức, chỉ huy phối hợp trong quá trình xã hội hóa lao động, quản lý xuất hiện như một tất yếu khách quan của đời sống xã hội, ở đâu có hoạt động chung của nhiều người, ở đó cần có sự quản lý
Trang 24Tóm lại, quản lý là sự tác động lên một hệ thống nào đó với mục tiêu đưa hệ thống đó đến trạng thái cần đạt được Quản lý là một phạm trù xuất hiện trước khi có Nhà nước với tính chất là một loại lao động xã hội hay lao động chung được thực hiện ở quy mô lớn Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời với lao động và bản thân quản lý cũng là một loại hoạt động lao động Như vậy, quản lý xã hội không phải là sản phẩm của sự phân chia quyền lực, mà là sản phẩm của sự phân công lao động nhằm liên kết và phối hợp hoạt động chung của con người
Quản lý nhà nước được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, theo nghĩa rộng quản lý nhà nước là sự quản lý của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, theo nghĩa hẹp quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức; được thực hiện trên cơ sở và để thi hành pháp luật; được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước (hoặc một số tổ chức xã hội trong trường hợp được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước) Nói cách khác, "Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước Như vậy tất cả các cơ quan nhà nước đều thực hiện chức năng quản lý nhà nước" [45, tr 12]
Không thể có quản lý nhà nước khi chưa có nhà nước, quản lý nói chung và quản lý nhà nước nói riêng là hoạt động rất phức tạp và phụ thuộc nhiều yếu tố khác nhau như yếu tố con người, yếu tố chính trị, yếu tố tổ chức, yếu tố quyền lực, yếu tố văn hóa…là những yếu tố quan trọng có tác động đến nội dung, phương thức và công cụ để tiến hành quản lý, vì vậy cần phải chú ý khi thực hiện hoạt động quản lý Quản lý nhà nước ở mỗi đất nước khác nhau, mỗi chế độ chính trị khác nhau, mỗi thời kỳ khác nhau cũng khác nhau nhưng tựu chung lại là quản lý trên ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp để thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước
Như đã phân tích, công cụ chủ yếu được sử dụng để quản lý nhà nước
là pháp luật, nhất là trong bối cảnh chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp
Trang 25quyền XHCN Để quản lý nhà nước bằng pháp luật và tăng cường pháp chế XHCN trong điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay, yêu cầu Nhà nước phải hoàn thiện hệ thống pháp luật, các cơ quan bảo vệ pháp luật phải hoạt động có hiệu quả, mọi công dân trong ý thức, cũng như việc làm đều
"bình đẳng trước pháp luật" và tuyệt đối tôn trọng, chấp hành pháp luật
1.2.3 Nội dung cơ bản của quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự
Hiện nay, chưa có một khái niệm chính thống nào về quản lý nhà nước trong lĩnh vực THADS Tuy nhiên, quản lý nhà nước trong lĩnh vực THADS có thể được hiểu là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước trong lĩnh vực THADS nhằm tác động có tổ chức và điều chỉnh đối với hoạt động THADS do các cơ quan THADS tiến hành để hiện thực hóa những bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền theo quy định
và được bảo đảm bằng quyền lực Nhà nước
a Nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng
Ở nước ta, Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, là "lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội" [34, Điều 4], nhà nước có vai trò quản lý và nhân dân làm chủ Nói cách khác, Nhà nước là công cụ để nhân dân làm chủ
Trang 26xã hội, nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng có nhiệm vụ cụ thể hóa đường lối của Đảng để phục vụ nhân dân Cơ chế xã hội này là bản chất của chế độ ta, cũng là sự đảm bảo về mặt chính trị cho các thắng lợi lớn lao trong quá trình bảo vệ và xây dựng tổ quốc nhiều thập kỷ qua Vì vậy, quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước trong lĩnh vực THADS nói riêng không thể thoát ly sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, phải tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng
Trong lĩnh vực THADS, Đảng lãnh đạo bằng việc đề ra các nghị quyết, các chủ trương, đường lối, chính sách đối với công tác quản lý của nhà nước Qua các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-01-2002; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ chính trị, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ ba khóa VIII, đường lối cải cách công tác THADS được Đảng ta xác định như sau: Nâng cao chất lượng công tác xây dựng thể chế, hoàn thiện văn bản pháp luật; chuẩn bị điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để giao cho Bộ
Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý hoạt động thi hành án; Từng bước thực hiện xã hội hóa công tác THADS; đảm bảo thi hành đầy đủ, nhanh chóng các Bản án, Quyết định của Tòa án
b Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Đây là một nguyên tắc Hiến định được quy định tại Điều 12 Hiến pháp 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa" [36] Nguyên tắc này đòi hỏi tổ chức và hoạt động của cơ quan THADS phải dựa trên cơ sở pháp luật; các chủ thể quản lý nhà nước đối với công tác THADS phải tuân thủ triệt để các quy định của pháp luật về quản lý công tác THADS; mọi hành
vi vi phạm quy định của pháp luật về quản lý THADS đều bị xử lý nghiêm, không được phép cho bất kỳ chủ thể quản lý hoạt động THADS nào đứng trên, đứng ngoài pháp luật, phải tuyệt đối chấp hành pháp luật và trật tự, kỷ cương của nền pháp chế XHCN trong lĩnh vực THADS
Trang 27c Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành, với quản lý theo chức năng và lãnh thổ
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì quản lý theo chức năng là "Mô hình và cơ cấu tổ chức và quản lý trong đó cấp trên không chỉ có một người chỉ huy (thủ trưởng) mà còn có nhiều tổ chức chỉ huy cấp dưới theo chức năng được phân công" [46] Cũng theo tài liệu này thì quản lý theo lãnh thổ là
sự tác động có mục đích và định hướng của các cơ quan nhà nước đối với toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội trên một lãnh thổ nhất định bao gồm tất cả các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội thuộc các ngành nghề khác nhau Lại theo Đại từ điển Tiếng Việt thì "Ngành là một hệ thống cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương" [57], chẳng hạn khi nói đến ngành Tư pháp được hiểu là
hệ thống các cơ quan hoạt động trong lĩnh vực tư pháp từ trung ương đến địa phương Quản lý theo ngành, lĩnh vực và lãnh thổ là tất yếu khách quan của
xã hội, đây là một thể thống nhất không thể tách rời trong quản lý nhà nước, không có một cơ quan nào chỉ chịu sự quản lý của một ngành, lĩnh vực hoặc lãnh thổ
Trong lĩnh vực THADS nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành, chức năng và lãnh thổ được thể hiện như sau: Chính phủ có chức năng quản lý thống nhất công tác THADS trong toàn quốc, Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về THADS trong cả nước Bộ Quốc phòng chủ trì phối hợp với Bộ Tư pháp giúp Chính phủ quản lý công tác THADS trong quân đội UBND các cấp trực tiếp quản lý công tác THADS theo thẩm quyền trong phạm vi địa phương mình Cục THADS cấp tỉnh giúp
Bộ Tư pháp, Tổng cục THADS và UBND cùng cấp quản lý công tác THADS trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Đây chính là sự phối hợp giữa quản lý theo chiều dọc của Bộ và quản lý theo chiều ngang của chính quyền địa phương Sự kết hợp này trở thành một nguyên tắc cơ bản trong quản lý nhà nước nói chung cũng như trong lĩnh vực THADS nói riêng
Trang 28d Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của các cơ quan có thẩm quyền trong phạm vi toàn quốc
Bảo đảm hiệu lực của Bản án, quyết định của Tòa án là nguyên tắc được quy định tại Điều 4, Luật THADS năm 2008 Nội dung của nguyên tắc này yêu cầu các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân tuyệt đối tuân thủ và có trách nhiệm thi hành đầy đủ bản án, quyết định của Tòa án và quyết định của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định Dưới sự lãnh đạo của Bộ Tư pháp, Tổng cục THADS, cấp ủy, chính quyền cùng cấp, các cơ quan THADS địa phương đảm bảo cho Bản án, quyết định được đưa ra thi hành và phát sinh hiệu lực trên thực tế
1.2.5 Hình thức, phương pháp quản lý nhà nước đối với lĩnh vực thi hành án dân sự
Hình thức quản lý là cách thức biểu hiện hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo thẩm quyền đối với các quan hệ xã hội Trong hoạt động quản lý nhà nước, mỗi hoạt động quản lý được thể hiện trong hình thức nhất định phù hợp với thẩm quyền của từng loại chủ thể quản lý nhằm hoàn thành những mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra cho nó Như đã nói, THADS là hoạt động hành chính - tư pháp, vì vậy lĩnh vực THADS cũng bao gồm tất cả những hình thức quản lý nhà nước nói chung như sau:
- Hình thức ban hành văn bản quản lý nhà nước
Để điều chỉnh một công việc hoặc một hành vi hoạt động của một hay nhiều đơn vị khác nhau theo mục đích quản lý thì các cơ quan nhà nước ban hành các quyết định, chỉ thị, thông tư… để các khách thể căn cứ vào văn bản
đó thực hiện Hình thức ban hành văn bản quản lý nhà nước được quy định nghiêm ngặt về thẩm quyền, đối tượng, phạm vi Trong lĩnh vực THADS, khi điều chỉnh vấn đề tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý THADS, Chính phủ đã ban hành Nghị định 74/2009/NĐ-CP về cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS và cán bộ, công chức làm công tác THADS để các
Trang 29chủ thể khi tham gia quan hệ quản lý THADS làm căn cứ thực hiện, đồng thời đây cũng là cơ sở pháp lý để xử lý vi phạm khi các chủ thể không thực hiện đúng quy định Vì vậy, hình thức ban hành văn bản quản lý nhà nước là quan trọng nhất của các chủ thể trong hoạt động quản lý
- Hình thức ban hành văn bản áp dụng pháp luật
Là một hình thức hoạt động thường xuyên, chủ yếu của các cơ quan nhà nước nói chung, cơ quan THADS nói riêng Nội dung của hình thức này
là áp dụng các quy phạm pháp luật trong những trường hợp cụ thể, điều kiện
cụ thể để giải quyết các công việc cụ thể Việc ban hành văn bản áp dụng pháp luật làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật nhất định Trong THADS, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm chấp hành viên, khen thưởng, kỷ luật, nâng lương, nâng ngạch…đối với cán bộ, công chức làm công tác THADS chính là biểu hiện cụ thể của hình thức này
- Hình thức áp dụng các hoạt động mang tính chất pháp lý khác
Đây cũng là một hình thức của hoạt động quản lý Nó được tiến hành khi phát sinh những điều kiện tương ứng được định trước trong quy phạm pháp luật nhưng không cần ban hành văn bản áp dụng pháp luật như: áp dụng các biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa vi phạm pháp luật, đăng ký những sự kiện nhất định, lập và cấp một số giấy tờ như biên bản vi phạm hành chính…Trong lĩnh vực THADS việc áp dụng các hoạt động mang tính pháp
lý khác có ý nghĩa rất quan trọng như: công chứng hợp đồng, đăng ký khai tử, lập di chúc, áp dụng các biện pháp bảo đảm như tạm giữ tài sản, phong tỏa tài khoản để tránh đương sự tẩu tán tài sản Chính việc làm trên là những căn cứ
để thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực THADS
1.2.6 Nội dung cụ thể và thủ tục quản lý nhà nước đối với lĩnh vực thi hành án dân sự
Mục đích chính của công tác THADS là đảm bảo cho các phán quyết của Tòa án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền được đưa ra thi hành trên
Trang 30thực tế Để thực hiện tốt mục đích đó, bên cạnh một bộ máy trực tiếp làm công tác THADS tốt còn phải có một cơ chế quản lý công tác THADS hiệu quả Các hoạt động quản lý THADS có tác động trực tiếp và hết sức quan trọng đối với công tác THADS Hiện nay, theo quy định của Luật THADS năm 2008 và các văn bản hướng dẫn hiện hành, nội dung và thủ tục quản lý THADS được quy định như sau:
a Quản lý về mặt tổ chức, cán bộ
Theo quy định của pháp luật, hiện nay cơ quan THADS được chia làm hai loại: Cơ quan quản lý THADS gồm Tổng cục THADS thuộc Bộ Tư pháp, Cục Thi hành án trực thuộc Bộ Quốc phòng; Cơ quan THADS gồm: Cục THADS cấp tỉnh trực thuộc Tổng cục THADS, Chi cục THADS cấp huyện trực thuộc Cục THADS cấp tỉnh và phòng Thi hành án quân khu và tương đương là cơ quan thi hành án trực thuộc quân khu Luật THADS năm 2008; Nghị định số 74/2009/NĐ - CP ngày 09/9/2009 của Chính phủ; Thông tư số 17/2010/TT-BTP ngày 11/10/2010 của Bộ Tư pháp quy định nội dung quản lý THADS về mặt tổ chức nhân sự như sau: Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thẩm quyền quy định cơ cấu công chức, công chức lãnh đạo của các cơ quan THADS; thành lập, giải thể cơ quan THADS địa phương, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cho từ chức, cách chức Phó Tổng cục trưởng Tổng cục THADS, Vụ trưởng, phó Vụ trưởng thuộc Tổng cục THADS, thủ trưởng, phó thủ trưởng
cơ quan THADS địa phương, Chấp hành viên…, giao chỉ tiêu biên chế đối với ngành THADS, quản lý công chức, công chức lãnh đạo như Tổng cục trưởng, phó Tổng cục trưởng, Vụ trưởng, phó Vụ trưởng và tương đương thuộc Tổng cục THADS; Cục trưởng, phó Cục trưởng Cục THADS; Chấp hành viên cao cấp, Thẩm tra viên cao cấp…Tổng cục trưởng Tổng cục THADS có quyền giao chỉ tiêu biên chế theo cơ cấu tổ chức cán bộ được Bộ trưởng Bộ Tư pháp phê duyệt với các đơn vị thuộc Tổng cục và các cơ quan THADS địa phương trên toàn quốc; bổ nhiệm Thẩm tra viên các cơ quan THADS địa phương; bổ nhiệm, miễn nhiệm, từ chức, cho thôi chức, cách
Trang 31chức, điều động, luân chuyển đối với các chức danh Kế toán trưởng, Trưởng phòng và tương đương thuộc Cục THADS tỉnh và Chi cục trưởng Chi cục THADS cấp huyện Cục trưởng Cục thi hành án tỉnh có quyền giao chỉ tiêu biên chế đối với các đơn vị trực thuộc Cục, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, điều động… đối với chức danh phó trưởng phòng, phó Chi cục trưởng trực thuộc và thực hiện quản lý cán bộ theo phân cấp… Với Nghị định số 74/2009/NĐ-CP ngày 09/9/2009 của Chính phủ; Thông tư số 17/2010/TT-BTP ngày 11/10/2010 của Bộ Tư pháp, lần đầu tiên văn bản hướng dẫn luật đã quy định cụ thể, chi tiết và đầy đủ trình tự, thủ tục quản lý về mặt tổ chức, cán bộ đối với ngành THADS, đây là cơ sở pháp lý hữu hiệu để kiện toàn bộ máy tổ chức và đội ngũ cán bộ ngành THADS trên toàn quốc nhằm đáp ứng được yêu cầu hiện nay
b Quản lý về cơ sở vật chất
Bộ Tư pháp, Tổng cục THADS và các cơ quan THADS địa phương theo thẩm quyền được phân cấp sẽ ban hành hoặc thực hiện các chế độ chính sách cụ thể, các văn bản hướng dẫn về công tác bảo đảm cơ sở vật chất cho Ngành THADS như kinh phí hoạt động, xây dựng và sử dụng trụ sở, mua sắm, quản lý và sử dụng hiệu quả các loại trang bị, phương tiện làm việc…
c Quản lý về chuyên môn, nghiệp vụ
Tổng cục THADS có nhiệm vụ quản lý về mặt chuyên môn, nghiệp vụ công tác THADS trong phạm vi toàn quốc theo quy định của pháp luật, Cục THADS tỉnh quản lý, chỉ đạo về nghiệp vụ THADS trên địa bàn Cục thi hành
án - Bộ Quốc phòng giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện chức năng quản
lý nghiệp vụ THADS trong quân đội Đối với UBND cấp tỉnh, cấp huyện, Tư lệnh quân khu và tương đương có trách nhiệm chỉ đạo việc tổ chức phối hợp giữa các cơ quan hữu quan trong THADS trên địa bàn, chỉ đạo việc cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan THADS Đối với UBND cấp xã theo quy định hiện nay, Chủ tịch UBND cấp
Trang 32xã có trách nhiệm phối hợp với Chấp hành viên trong việc thông báo, xác minh, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế THADS
d Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự
Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân, được ghi nhận tại Điều 74, Hiến pháp 1992, được quy định cụ thể tại Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, sửa đổi bổ sung năm 2005 Quyền khiếu nại, tố cáo là
cơ sở pháp lý để công dân thực hiện tốt quyền làm chủ và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước đồng thời phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế XHCN
THADS là hoạt động có ảnh hưởng quan trọng đến quyền và lợi ích của các bên đương sự, đặc biệt là quyền và nghĩa vụ về tài sản, đây là hoạt động thường dẫn đến những khiếu nại, tố cáo của công dân Để tăng cường quản lý nhà nước về công tác THADS thì việc hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo là một yêu cầu khách quan, tất yếu Vì vậy, tại mục 1, chương VI Luật THADS và Quy chế giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS ban hành kèm theo Quyết định số 1420/QĐ-KNTC ngày 01/6/2010 của Tổng cục trưởng Tổng cục THADS đã quy định rõ trình
tự, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực THADS Về mặt tổ chức, tại Tổng cục THADS đã thành lập Vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo; ở cấp tỉnh đã thành lập phòng kiểm tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc Cục THADS tỉnh Do đó, mặc dù vụ việc khiếu nại, tố cáo trong những năm qua phát sinh nhiều hơn, phức tạp hơn nhưng nhìn chung công tác giải quyết, khiếu nại, tố cáo của Ngành đã đi vào nề nếp, hoạt động có hiệu quả hơn, đang từng bước hoàn thành tốt các yêu cầu, nhiệm vụ được giao
e Xử lý vi phạm và các hình thức trách nhiệm trong lĩnh vực thi hành án dân sự
Hoạt động THADS chủ yếu là hoạt động xử lý tài sản, trong đó có nhiều tài sản rất lớn, do đó nguy cơ dẫn đến vi phạm trong hoạt động nghiệp
Trang 33vụ cũng như các mặt công tác khác của cán bộ, Chấp hành viên trong ngành
là tương đối cao Thực tiễn công tác THADS trong phạm vi toàn quốc thời gian qua phát sinh không ít các vụ việc vi phạm, đây là vấn đề gây nhiều quan ngại đối với ngành chủ quản, các cấp ủy, cấp chính quyền địa phương và dư luận xã hội Để nâng cao vai trò của Nhà nước đối với lĩnh vực THADS, bên cạnh các yếu tố khác, Nhà nước cần phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát… có cơ chế nhạy bén để sớm phát hiện sai phạm và kịp thời xử
lý nghiêm các sai phạm, đồng thời áp dụng các hình thức trách nhiệm, các chế tài pháp lý thích đáng đối với các vi phạm đó
1.2.7 Chủ thể quản lý
Bản chất của chế độ ta nói lên rằng nhân dân mới là người chủ thực sự của đất nước, xét đến cùng thì chủ thể quản lý nhà nước là nhân dân Tuy nhiên, nhân dân không trực tiếp tiến hành các hoạt động quản lý mà ủy quyền cho những người đại diện cho mình thực hiện các công việc quản lý và thông qua cơ chế giám sát để kiểm tra việc thực hiện hoạt động quản lý nhà nước đã trao cho những người đại diện của mình Đây chính là cơ sở để hình thành chủ thể trực tiếp quản lý ở mỗi lĩnh vực, công việc khác nhau được pháp luật quy định cụ thể, còn được gọi là Chủ thể pháp lý Trong lĩnh vực THADS, kể
từ ngày 01/7/1993 công tác THADS được chuyển giao từ hệ thống Tòa án sang các cơ quan thuộc Chính phủ và thực hiện theo cơ chế quản lý mới Theo quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xác định chủ thể quản lý trong lĩnh vực THADS theo lãnh thổ và theo ngành gồm:
- Chủ thể quản lý theo lãnh thổ: Chính phủ thống nhất quản lý công tác THADS trong phạm vi toàn quốc; UBND các cấp theo quy định quản lý công tác THADS trên phạm vi địa bàn
- Chủ thể quản lý theo ngành: Bộ trưởng Bộ Tư pháp giúp Chính phủ quản lý nhà nước về công tác THADS trong toàn quốc, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ Tư pháp giúp Chính phủ quản lý nhà nước về THADS
Trang 34trong quân đội theo quy định của Chính phủ Tổng cục THADS có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về công tác THADS trong phạm vi cả nước; quản lý theo chuyên ngành về THADS theo quy định của pháp luật Cục Thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quản lý nhà nước về công tác THADS trong quân đội Cục THADS tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là cơ quan quản lý, chỉ đạo về THADS trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
1.3 KHUNG PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HIỆN NAY Ở NƯỚC TA
Điều 136 Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 ghi nhận "Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành" Cụ thể Hiến pháp 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001, Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 tại phần thứ VII, từ Điều
375 đến Điều 383 quy định về thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án Nhưng phải đến, Luật THADS năm 2008 gồm 9 chương, 183 Điều, được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14 tháng 11 năm 2008, lần đầu tiên khung pháp luật về THADS ở Việt Nam mới được hoàn thiện cơ bản
Chương I của Luật THADS năm 2008 gồm những quy định chung như: phạm vi điều chỉnh của Luật; Bản án, quyết định được thi hành; bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định; giải thích từ ngữ, thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện và cưỡng chế thi hành án, trách nhiệm phối hợp của
cơ quan tổ chức, cá nhân với cơ quan THADS; Chấp hành viên; giám sát và kiểm sát việc thi hành án… Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS
về thủ tục THADS (Sau đây gọi tắt là Nghị định số 58/2009/NĐ-CP) có duy nhất Điều 3 hướng dẫn nội dung chương I của Luật THADS năm 2008 về quyền
Trang 35thỏa thuận thi hành án như sau: Việc thỏa thuận thi hành án của đương sự phải lập thành văn bản có ghi rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận có chữ ký của đương sự và xác nhận của UBND cấp xã nơi thực hiện việc thỏa thuận; cho phép đương sự thỏa thuận thi hành án khác với nội dung bản án, quyết định đã tuyên nhưng không được vi phạm pháp luật và trái đạo đức xã hội; Chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến việc thỏa thuận thi hành án và ký tên vào văn bản thỏa thuận hợp pháp kể cả thỏa thuận từ bỏ quyền yêu cầu thi hành án
Chương II của Luật THADS năm 2008 quy định về hệ thống tổ chức THADS, nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan THADS cấp tỉnh, của cơ quan thi hành án cấp quân khu, của cơ quan THADS cấp huyện Quy định về bổ nhiệm, miễn nhiệm Chấp hành viên; nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên
và những việc Chấp hành viên không được làm Quy định về chức danh Thủ trưởng, phó thủ trưởng, nhiệm vụ, quyền hạn của thủ trưởng, phó thủ trưởng
cơ quan THADS; về biên chế, kinh phí, cơ sở vật chất của cơ quan THADS Hướng dẫn chương II của Luật THADS năm 2008, Nghị định số 74/2009/NĐ-CP ngày 09/9/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS về cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS và công chức làm công tác THADS (sau đây gọi tắt là Nghị định số 74/2009/NĐ-CP) Theo quy định tại Nghị định số 74/2009/NĐ-CP, lần đầu tiên hệ thống cơ quan THADS trong toàn quốc được tổ chức như sau:
Ở trung ương có Tổng Cục THADS là cơ quan quản lý THADS trực thuộc Bộ
Tư pháp, ở cấp tỉnh có Cục THADS là cơ quan trực thuộc Tổng Cục THADS,
ở cấp huyện có Chi cục THADS là cơ quan trực thuộc Cục THADS Trong quân đội có Cục thi hành án Bộ Quốc phòng là cơ quan quản lý thi hành án trực thuộc Bộ Quốc phòng, ở quân khu và tương đương có phòng thi hành án quân khu và tương đương là cơ quan trực thuộc quân khu Về ngạch Chấp hành viên gồm có Chấp hành viên sơ cấp, trung cấp và cao cấp Đối với ngạch Thẩm tra viên cũng có ngạch Thẩm tra viên thi hành án, Thẩm tra viên chính thi hành án và Thẩm tra viên cao cấp thi hành án Nghị định số 74/2009/NĐ-CP
Trang 36cũng quy định cụ thể về trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, điều động, biệt phái, luân chuyển các chức danh Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thủ trưởng, phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án; quy định về công cụ
hỗ trợ, trang phục, phù hiệu và chế độ lương, phụ cấp đối với cán bộ, công chức THADS Tiếp tục hướng dẫn chi tiết Luật và Nghị định, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 17/2010/TT-BTP ngày 11/10/2010 quy định phân cấp quản
lý công chức, công chức lãnh đạo cơ quan quản lý THADS và cơ quan THADS Thông tư đã phân cấp rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Tổng cục trưởng Tổng cục THADS và Cục trưởng Cục THADS cấp tỉnh trong việc quản lý cán bộ, công chức ngành THADS phạm vi cả nước
Theo chúng tôi, về trình tự, thủ tục THADS được quy định trong Luật THADS từ chương III đến chương V gồm 113 Điều, được quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành trong Nghị định 58/2009/NĐ-CP và trong Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 của Bộ
Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (sau đây gọi tắt là TTLT số 14/2010 TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC) có thể tóm tắt thành những nhóm vấn đề cơ bản sau:
+ Vấn đề thụ lý THADS Cơ sở để các cơ quan THADS thụ lý
THADS là Bản án, quyết định của Tòa án và đơn yêu cầu thi hành án Cơ quan THADS căn cứ vào thẩm quyền thi hành án để xem xét nội dung, hình thức của Đơn yêu cầu thi hành án và các tài liệu kèm theo để quyết định nhận hoặc từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án Điểm mới của pháp luật THADS hiện hành, đó là quy định người được thi hành án có nghĩa vụ cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án và quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm
+ Vấn đề ra quyết định thi hành án: Theo quy định của pháp luật
THADS hiện hành, việc ra quyết định thi hành án gồm hai trường hợp: Chủ động và theo đơn yêu cầu thi hành án Về nguyên tắc, Thủ trưởng cơ quan THADS chỉ ra một quyết định thi hành án chung cho khoản thuộc diện chủ
Trang 37động thi hành án trong một Bản án, ra một quyết định thi hành án cho mỗi đơn yêu cầu thi hành án và ra một quyết định thi hành án chung cho những người có quyền, nghĩa vụ liên đới Đối với Bản án, quyết định của Tòa hành chính, Thủ trưởng cơ quan THADS chỉ ra quyết định thi hành án đối với phần nghĩa vụ về tài sản như án phí, bồi thường thiệt hại, giao đất, trả tài sản…Về vấn đề ra quyết định thi hành án, Luật THADS năm 2008 có thêm Điều 37 hoàn toàn mới so với Pháp lệnh THADS năm 2004 quy định: người có thẩm quyền ra quyết định về thi hành án thì có quyền ra quyết định thu hồi, sửa đổi,
bổ sung, hủy quyết định về thi hành án Như vậy, ngoài Thủ trưởng cơ quan thi hành án có quyền ra các loại quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án thì Chấp hành viên cũng có quyền ra quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy các loại quyết định về thi hành án thuộc thẩm quyền ban hành của Chấp hành viên như: quyết định cưỡng chế, quyết định
áp dụng biện pháp bảo đảm THA…
+ Vấn đề thông báo thi hành án: Theo quy định của pháp luật THADS
hiện nay gồm thông báo trực tiếp, niêm yết công khai và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng Thông báo trực tiếp được thực hiện như sau: Chấp hành viên, công chức thi hành án trực tiếp giao thông báo cho người được thông báo, hoặc do bưu tá chuyển thư bảo đảm, do người được cơ quan THADS ủy quyền hợp pháp giao thông báo Luật cũng cho phép cơ quan THADS tiến hành thông báo bằng điện tín, Fax, email theo yêu cầu của người được nhận thông báo Thời hạn thông báo cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra các loại văn bản như quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập…
+ Vấn đề xác minh điều kiện Thi hành án: Chấp hành viên phải tiến
hành xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án trong trường hợp chủ động ra quyết định thi hành án Trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu thì người được thi hành án có nghĩa vụ xác minh điều kiện thi hành án, nếu đã xác minh theo quy định nhưng không có kết quả thì người được thi
Trang 38hành án có quyền yêu cầu Chấp hành viên xác minh nhưng phải chịu chi phí; đối với các tài sản đăng ký quyền sở hữu, sử dụng, đăng ký giao dịch bảo đảm thì phải xác minh tại cơ quan đăng ký Biên bản xác minh phải có xác nhận của tổ trưởng tổ dân phố, UBND, công an cấp xã hoặc cơ quan tổ chức nơi tiến hành xác minh Thời hạn xác minh đối với các việc thi hành án chủ động,
ít nhất 06 tháng một lần trong trường hợp người phải thi hành án không có điều kiện, xác minh ít nhất 01 năm một lần đối với trường hợp người phải thi hành án không có điều kiện đang chấp hành hình phạt tù, hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú
+ Vấn đề đôn đốc giải quyết THADS: Pháp luật THADS hiện hành
quy định thời hạn tự nguyện thi hành án là 15 ngày trừ trường hợp phải áp dụng ngay các biện pháp ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán tài sản, trốn tránh việc thi hành án Hết thời hạn quy định trên, sau khi Chấp hành viên tiến hành các biện pháp đôn đốc, thuyết phục, xác minh, thông báo thi hành án người phải thi hành án vẫn không chấp hành án thì tùy từng trường hợp Chấp hành viên sẽ áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án như: phong tỏa tài khoản, tạm giữ tài sản, giấy tờ, tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản; hoặc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án như: khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền giấy tờ có giá; trừ vào thu nhập; kê biên xử lý tài sản; khai thác tài sản của người phải thi hành án; buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ; buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định; hoặc ra các quyết định như Ủy thác thi hành án; hoãn thi hành án; tạm đình chỉ thi hành án; đình chỉ thi hành án; trả đơn yêu cầu thi hành án Việc thi hành án chỉ kết thúc khi đương sự đã thực hiện xong quyền, nghĩa vụ của mình, hoặc có quyết định đình chỉ thi hành án, hoặc có quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án (đây là quy định mới so với Pháp lệnh THADS năm 2004) Quá trình thi hành án, đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác nhận kết quả thi hành án trong 05 ngày làm việc kể từ khi có đơn yêu cầu
Trang 39+ Vấn đề miễn, giảm thi hành án được quy định tại từ Điều 61 đến
Điều 64 Luật THADS, được quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành tại chương III, Điều 26 Nghị định 58/2009/NĐ-CP, tại Thông tư liên tịch số 10/2010/TTLT-BTP-BTC-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 25/5/2010 của liên ngành Tư pháp, Công an, Tài chính, Tòa án, Viện kiểm sát (sau đây gọi tắt
là Thông tư số 10/2010/TTLT…) Hướng dẫn thủ tục miễn thi hành án đối với các khoản thu cho ngân sách nhà nước có giá trị không quá 500.000đ được quy định tại Thông tư liên tịch số 07/2010/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 25/3/2010
+ Vấn đề Phí THADS được quy định tại Điều 60 Luật THADS năm
2008, được quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành tại các Điều 33, 34 Nghị định 58/2009/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 144/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 22/9/2010 hướng dẫn về chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí THADS
+ Vấn đề bảo đảm tài chính để thi hành án được quy định tại Điều 62
Luật THADS năm 2008, được quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành tại các Điều 27,28,29,30 Nghị định 58/2009/NĐ-CP và Thông tư số 04/2009/TTLT-BTC-BTP ngày 15/10/2009 hướng dẫn bảo đảm tài chính trừ ngân sách Nhà nước để thi hành án
+ Vấn đề Bảo quản tài sản trong THADS được quy định tại Điều 58
Luật THADS năm 2008 Việc xử lý vật chứng, tài sản được tuyên trong Bản
án, Quyết định của Tòa án được quy định từ Điều 122 đến Điều 129 Luật THADS năm 2008 và mục II, Thông tư số 06/2007/TT-BTP ngày 05/7/2007 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số thủ tục hành chính trong hoạt động THADS Cũng cần phải lưu ý việc xử lý tài sản trong các trường hợp áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản như: bảo quản tài sản kê biên, định giá, bán đấu giá tài sản kê biên, giao tài sản để đối trừ nghĩa vụ thi hành án, chuộc lại tài sản kê biên…
Trình tự, thủ tục thi hành án đối với một số trường hợp cụ thể như: Thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; quyết định giám đốc thẩm,
Trang 40tái thẩm; quyết định về phá sản được quy định tại các Mục 2, 3, 4, chương V, Luật THADS năm 2008 Khi thi hành án đối với các trường hợp cụ thể nêu trên, chúng ta còn phải căn cứ các quy định của Luật Tố tụng dân sự, Luật phá sản
Về Khiếu nại, tố cáo trong THADS được quy định tại mục 1, mục 2, chương VI Luật THADS năm 2008, được quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành tại Điều 25 Nghị định 58/2009/NĐ-CP và Quy chế giải quyết khiếu nại,
tố cáo trong THADS ban hành kèm theo quyết định số 1420/QĐ-TCTHA của Tổng cục trưởng Tổng cục THADS
Công tác phối hợp trong THADS theo quy định của pháp luật THADS hiện hành đã có những đổi mới Luật THADS năm 2008 xác định rõ nhiệm
vụ, quyền hạn của các cấp, các ngành hữu quan từ Chính phủ, UBND các cấp đến Tư pháp, Quốc phòng, Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án, Kho bạc, Ngân hàng và tổ chức tín dụng khác trong THADS Riêng công tác phối hợp giữa các ngành Tư pháp, Tòa án, Viện Kiểm sát được hướng dẫn thực hiện trong chương II Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC
Có được khung pháp luật tương đối hoàn thiện như trên, công tác THADS thời gian qua đã có những chuyển biến hiệu quả, tích cực đã và đang đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trước mắt, tiến tới hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta
1.4 XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ VAI TRÕ
HỖ TRỢ CỦA NHÀ NƯỚC
Chủ trương xã hội hóa hoạt động THADS đã được đề cập đến trong nhiều văn kiện, nghị quyết của Đảng như Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/1/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã xác định: "Nghiên cứu việc xã hội hóa một số hoạt động
bổ trợ tư pháp" [19] Tiếp theo, Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ rõ: "Từng bước thực hiện việc xã hội hóa