1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và pháp luật

138 1,1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về đạo đức, đồng thời, Người cũng đã dồn hết mọi tâm lực, trí lực để xây dựng, củng cố và phát triển bộ máy nhà nước của dân, do

Trang 1

đại học quốc gia hà nội

Trang 2

đại học quốc gia hà nội

Trang 3

mục lục

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Hồ Chí Minh

25

1.2.1 T- t-ởng Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức cách mạng 25 1.2.2 Những chuẩn mực đạo đức cơ bản trong t- t-ởng Hồ Chí Minh 30 1.2.3 Những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới trong t- t-ởng Hồ

Trang 4

Ch-ơng 3: Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong

t- t-ởng Hồ Chí Minh

68

3.1 Hồ Chí Minh bàn về vai trò của đạo đức đối với pháp luật 68 3.1.1 Đạo đức là gốc, là cơ sở để xây dựng pháp luật tiến bộ 68 3.1.2 Đạo đức là động cơ của hành vi hợp pháp 69 3.1.3 Đạo đức là công cụ hỗ trợ pháp luật trong việc giữ gìn trật tự xã

hội, thuần phong mỹ tục dân tộc, rèn luyện t- cách, trách

nhiệm của công dân và cán bộ, đảng viên

71

3.2 T- t-ởng Hồ Chí Minh về vai trò của pháp luật đối với đạo đức 72 3.2.1 Pháp luật tiến bộ thể hiện đạo đức cách mạng 72 3.2.2 Tuân thủ pháp luật là ph-ơng thức thực hiện các hành vi hợp

chuẩn đạo đức

74

3.2.3 Pháp luật ghi nhận và bảo đảm về mặt pháp lý các chuẩn mực

đạo đức, là công cụ hữu hiệu, hỗ trợ cho Thiện đấu tranh thắng

ác, tạo điều kiện để các giá trị đạo đức đ-ợc phát triển bền vững

75

3.3 T- t-ởng Hồ Chí Minh về việc kết hợp giữa pháp luật với đạo

đức trong quản lý xã hội

lẫn nhau trong việc điều chỉnh hành vi, nhân cách của con

ng-ời, góp phần giữ gìn trật tự, ổn định xã hội

81

3.3.4 Là yêu cầu, tiêu chuẩn và điều kiện, quy luật để xây dựng nhà

n-ớc pháp quyền

83

Chí Minh về đạo đức và pháp luật trong quản lý xã

hội, xây dựng con ng-ời mới ở việt nam hiện nay

86

4.1 Bài học kinh nghiệm rút ra từ t- t-ởng Hồ Chí Minh về đạo đức 86

Trang 5

4.1.1 Bài học về lấy dân làm gốc 86 4.1.2 Bài học về đại đoàn kết dân tộc và công tác huấn luyện kiểm

4.2.5 Tăng c-ờng trách nhiệm làm g-ơng của các cấp lãnh đạo, cán

bộ, đảng viên trong việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, ý thức

tôn trọng pháp luật

115

4.2.6 Tăng c-ờng vai trò của gia đình, nhà tr-ờng và các tổ chức xã

hội trong việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, ý thức pháp luật

của thanh thiếu niên

118

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Chính những biến đổi của tình hình thế giới, những điều kiện mới của chế độ xã hội trong thời kỳ quá độ đã tác động sâu sắc đến tất cả các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng xã hội,

đòi hỏi mỗi cá nhân, xã hội, dân tộc đều phải có những cải biến căn bản để

cùng tồn tại và phát triển trong nhịp bước khẩn trương của thời đại

Đạo đức, pháp luật cùng với nhà nước là những yếu tố căn bản nhất thuộc kiến trúc thượng tầng trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội, có mối quan

hệ biện chứng và chịu sự tác động bởi cơ sở hạ tầng Do đó, đạo đức, pháp luật phải là những quy phạm, những thể lệ linh hoạt như sự sống của xã hội, của quần chúng Sự sống thay đổi thì những chuẩn mực, quy phạm ấy cũng phải thay đổi theo Nếu lùi lại hay tiến lên quá xa so với trình độ phát triển chung của xã hội, của quần chúng thì đạo đức và pháp luật chỉ là những quy phạm cứng nhắc, những thiết chế, thể lệ chết Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã dạy: "Cách mạng chuyển biến, đòi hỏi phải có một sự chuyển biến sâu sắc về

tư tưởng và nhận thức, đòi hỏi phải có những chính sách, những biện pháp về công tác tổ chức phù hợp với tình hình mới" [39, tr 108]

Đất nước đang chuyển mình để kịp thời hội nhập, cùng tồn tại và phát triển, cùng góp phần xây dựng thế giới hòa bình, nhân sinh và tiến bộ Chúng

ta muốn tồn tại, phát triển cùng thế giới, hơn lúc nào hết chúng ta phải khẩn trương chấn chỉnh nền tảng trọng yếu của kiến trúc thượng tầng xã hội - tức đạo đức, pháp luật, nhà nước - để mở đường cho cơ sở hạ tầng được phát triển thuận lợi, cộng sinh hiệu quả ngoại lực mà không ngừng hưng thịnh sánh cùng các quốc gia bè bạn

Trang 7

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về đạo đức, đồng thời, Người cũng đã dồn hết mọi tâm lực, trí lực để xây dựng, củng

cố và phát triển bộ máy nhà nước của dân, do dân, vì dân cùng với đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa hồng vừa chuyên và một hệ thống pháp luật mang bản chất dân chủ nhân dân sâu sắc trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những truyền thống đạo đức - văn hóa - chính trị - pháp lý của dân tộc, tinh hoa văn hóa - chính trị - pháp lý nhân loại, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam; nhờ đó, cùng với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lái con thuyền cách mạng Việt Nam cập bến bờ thắng lợi vinh quang Dân tộc Việt Nam đã sản sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh

và chính tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, nhân cách, hành động của Người đã làm rạng danh cho non sông Việt Nam ta, dân tộc Việt Nam ta Bởi vậy, Đảng ta

đã khẳng định: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam Sự khẳng định đó nói lên vai trò to lớn và cực kỳ quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng nước ta

Cùng nhìn lại, nghiên cứu và suy ngẫm một cách khoa học, khách quan về những tư tưởng đạo đức, pháp luật của Hồ Chủ tịch cũng như dẫn chiếu, chứng thực cách thức Hồ Chí Minh thực hành nhuần nhuyễn tuyệt hiệu

tư tưởng ấy trong suốt thời kỳ Người làm vị lãnh đạo cao nhất của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chúng ta mới thấy hết giá trị sâu sắc, thiết thực về một hệ thống tư tưởng đạo đức, pháp luật cũng như nhà nước của Hồ Chí Minh Giá trị ấy, tư tưởng ấy vẫn nguyên vẹn cho tới ngày nay, chắc chắn còn mang lại cho chúng ta nhiều bài học và giải pháp phù hợp, đương thời trong việc quản lý xã hội, xây dựng con người mới Vậy nên, để góp phần tìm hiểu,

kế thừa, hệ thống hơn và làm sâu sắc hơn nhận thức về tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là tư tưởng của Người về đạo đức và pháp luật - một vấn đề có vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đòi hỏi sự quan tâm thích đáng để vận dụng sáng tạo vào công cuộc đổi mới,

Trang 8

hội nhập ở nước ta hiện nay tác giả xin mạnh dạn chọn vấn đề: "Tư tưởng

Hồ Chí Minh về đạo đức và pháp luật", làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học

chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nhà tư tưởng trước hết là nhà triết học với hệ thống tư tưởng triết lý của

họ Ở nước ta, trong giới nghiên cứu và giới học thức nói chung, ai cũng thừa nhận Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng, nhà mác - xít sáng tạo lớn Song vẫn còn rất ít người đi sâu nghiên cứu tư tưởng - triết lý Hồ Chí Minh nói chung, triết lý đạo đức - pháp lý của Người nói riêng Đây là khu vực có lẽ "còn nhiều chỗ trống nhất trong nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh" [2, tr 48]

Các công trình nghiên cứu về tư tưởng - triết lý Hồ Chí Minh ở Việt Nam tính đến thời điểm này hầu như còn rất ít ỏi

Trong hai mươi năm trở lại đây, từ năm 1990 cho tới nay, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta đã được đẩy mạnh và đã đạt được những thành tựu bước đầu rất khả quan Có thể nói nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng tư tưởng của Người vào sự nghiệp đổi mới được chú trọng như một trong những lĩnh vực chủ yếu của nghiên cứu lý luận và khoa học xã hội - nhân văn ở nước ta

Mặc dù vậy, những công trình bề thế có quy mô lớn, có tầm vóc về tư tưởng, học thuật tương xứng với giá trị, ý nghĩa của sự nghiệp Hồ Chí Minh,

tư tưởng Hồ Chí Minh chưa nhiều Đặc biệt là những công trình khoa học trong

đó dựa trên cơ sở nghiên cứu triết lý - pháp lý Hồ Chí Minh về đạo đức và pháp luật để tìm ra các giải pháp nhằm vận dụng sáng tạo hiệu quả tư tưởng - triết lý pháp lý ấy vào việc phát huy vai trò, chức năng của đạo đức và pháp luật trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay vẫn còn rất khiêm tốn cả

về số lượng và chất lượng Tất nhiên, cũng đã có những công trình khoa học

đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, pháp luật cũng như nhà nước…

Trang 9

một cách khá tỷ mỷ công phu như các tác giả với các công trình khoa học sau đây:

- "Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật" do Nhà xuất bản Sự thật

ấn hành năm 1980; "Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật" do Nhà xuất bản Pháp lý ấn hành năm 1985; "Hồ Chí Minh và pháp chế" của Hội Luật gia

thành phố Hồ Chí Minh do Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 1995 Đây là những công trình đã trích lược những câu nói, bài viết, bài nói chuyện, ý kiến của Hồ Chủ tịch về vấn đề nhà nước và pháp luật, song chưa làm rõ được các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành tư tưởng pháp luật của Hồ Chí Minh, chưa phân tích nội dung tư tưởng cũng như giá trị và nét đặc sắc trong tư duy pháp lý của Người về vấn đề nhà nước, pháp luật và pháp chế Tuy nhiên, đây cũng chính là những tài liệu quý giá giúp độc giả có được cơ sở, tài liệu khoa học để nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật

Đặc biệt, công trình được đánh giá rất cao và có nhiều đóng góp to lớn trong những năm qua trên lĩnh vực nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh phải kể

đến là "Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh" của tác giả Vũ Đình Hòe do

Nhà xuất bản Văn hóa thông tin ấn hành năm 2002 Công trình không chỉ là tâm huyết của một trí thức thức thời mà chính là một thuyết chứng về một con người vĩ đại Hồ Chí Minh với những tư tưởng về đạo lý, pháp lý đầy giá trị nhân văn Công trình đã giúp chúng ta hiểu thấu về bí quyết, nghệ thuật lãnh đạo cách mạng, cảm hóa nuôi dạy, rèn luyện cán bộ, giáo dục tổ chức nhân dân rất đỗi tài tình nhưng vô cùng giản dị của Hồ Chí Minh Nghệ thuật đó được chắt lọc ở chữ Tâm

- "Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền kiểu mới

ở Việt Nam" của các tác giả Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong do Nhà xuất bản Lao động ấn hành năm 2003; "Tư tưởng Hồ Chí Minh với việc giáo dục

đội ngũ cán bộ đảng viên hiện nay" của TS Hoàng Trang và TS Phạm Ngọc

Trang 10

Anh (đồng chủ biên) do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 2004;

"Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền" của các tác giả Nguyễn

Đăng Dung (chủ biên), Bùi Ngọc Sơn, Nguyễn Mạnh Tường do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội ấn hành năm 2007 Đây là những công trình nghiên cứu khá tỷ mỷ, công phu tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền, đưa ra điểm khác biệt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất của nhà nước, của pháp luật Việt Nam, về vị trí vai trò và tính cấp thiết của việc xây dựng giáo dục đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên tương xứng với nhà nước pháp quyền

- "Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức" của tác giả Đinh Xuân Dũng

(chủ biên), Phạm Viết Thực, Nghiêm Huyền Vũ (bổ sung) do Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương ấn hành năm 2005 Công trình đã tập hợp những bài nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và một số mẩu chuyện chân thật, sinh động, ngắn gọn về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh;

- "Văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh" của tác giả Hoàng Chí Bảo do Nhà

xuất bản Hà Nội ấn hành năm 2007; "Giá trị cơ bản về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh" của tác giả Trần Quang Nhiếm, Nguyễn Văn Sáu do Nhà xuất bản

Công an nhân dân ấn hành năm 2008; "Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo làm người" của các tác giả Phạm Quang Nghị, Vũ Ngọc Khánh, Hoàng Chí Bảo

do Nhà xuất bản Hà Nội ấn hành năm 2009 Trên cơ sở trích dẫn những bài nói, bài viết, lời phát biểu, minh chứng qua những hành động thiết thực về đạo làm người và học đạo làm người của Bác Hồ trong cuộc sống, những mẩu chuyện về Bác Hồ với nhân dân thủ đô, GS.TS Hoàng Chí Bảo cùng các tác giả trên đây đã minh thuyết một cách đầy đủ, rõ ràng sâu sắc về một kiểu mẫu văn hóa đạo đức, nhận thức về con người, sự nghiệp tư tưởng đạo đức cách mạng của Bác Hồ, về vị trí, vai trò những nguyên tắc, chuẩn mực của đạo đức cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tấm gương đạo đức cách mạng và tính thiết thực của học tập đạo đức Hồ Chí Minh trong điều kiện hiện nay;

Trang 11

Những công trình khoa học trên đây đã tập trung trình bày, phân tích, làm rõ những vấn đề về nguồn gốc, quá trình hình thành cũng như những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, pháp luật, nhà nước, về phát huy dân chủ và xây dựng đội ngũ cán bộ công chức vừa hồng vừa chuyên… cũng như việc vận dụng tư tưởng của Người trong điều kiện hiện nay nhằm quản lý xã hội, xây dựng con người mới, …góp phần phục vụ hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Cùng với các công trình nêu trên, trong thời gian qua cũng đã có nhiều luận án, luận văn, đề tài khoa học cùng các bài nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí

Minh về đạo đức và pháp luật Tiêu biểu như: "Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong tư tưởng Hồ Chí Minh" của tác giả Trần Nghị đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 8 năm 2004; "Một số nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật" của tác giả Hoàng Thị Kim Quế đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 5 (158) năm 2005; "Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành Tư pháp" - Kỷ yếu hội thảo của Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý do Nhà xuất bản Tư pháp ấn hành năm 2005; "Quan điểm và giải pháp tiếp tục quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật và pháp chế" của tác giả Nguyễn Văn Mạnh đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng số 6 năm 2006; "Tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật" - luận văn thạc sĩ luật học

của tác giả Phạm Đức Hòa năm 2008;

Ngoài ra, còn có rất nhiều các công trình khoa học khác khi nghiên cứu về lĩnh vực đạo đức, pháp luật cũng đã trực tiếp hoặc gián tiếp dẫn chiếu, phân tích đồng thời nghiên cứu, minh chứng giá trị đương đại của "tư tưởng

Hồ Chí Minh về đạo đức và pháp luật" cũng như dựa trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và pháp luật để triển khai và làm rõ hơn nội dung của đề

tài Có thể kể đến các công trình khoa học như: "Đạo đức và pháp luật trong triết lý phát triển ở Việt Nam" của các tác giả Vũ Khiêu, Thành Duy do Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành năm 2000; "Đạo đức người cán bộ lãnh đạo chính trị hiện nay - Thực trạng và giải pháp" của các tác giả Nguyễn Thế

Trang 12

Kiệt (chủ biên) do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 2005; "Mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức" - luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Văn Năm, năm 2003; "Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội"

của tác giả Nguyễn Minh Đoan do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành

năm 2009; "Bản chất đích thực của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức"

của tác giả Hoàng Thị Kim Quế đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1 năm 2010; Tất cả các công trình khoa học trên đây không chỉ thể hiện quan điểm khoa học của các tác giả khi nghiên cứu về bản chất, vai trò, mối quan

hệ giữa đạo đức và pháp luật, mà còn khẳng định sự đồng thuận và kế thừa những giá trị khoa học, cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và pháp luật

Đến nay, chưa có đề tài nào nghiên cứu đầy đủ, trọn vẹn những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và pháp luật tương xứng với giá trị tư tưởng triết lý - pháp lý của Người Song, tất cả các công trình nghiên cứu trên

đây chính là nguồn tư liệu quý giá giúp tôi có cái nhìn tổng thể vấn đề "Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và pháp luật" Dưới góc độ chuyên ngành

Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, luận văn tập trung khai thác khía cạnh tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và pháp luật

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích:

Mục đích của luận văn nhằm tìm hiểu, phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và pháp luật Trên cơ sở đó vận dụng tư tưởng của Người vào việc kết hợp đạo đức với pháp luật trong quản lý xã hội, xây dựng con

người mới ở nước ta hiện nay

- Nhiệm vụ:

Để đạt được những mục đích đã đề ra, luận văn giải quyết những nhiệm

vụ sau đây:

Trang 13

Thứ nhất: Tìm hiểu, phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức Thứ hai: Tìm hiểu, phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật Thứ ba: Tìm hiểu, phân tích mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật

trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Thứ tư: Trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm và giải pháp

nhằm vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và pháp luật trong quản lý

xã hội, xây dựng con người mới ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Tư tưởng Hồ Chí Minh bao quát rất nhiều bình diện với chiều sâu chưa được khai thác hết tầm cỡ của nó Để góp phần vào việc khai thác này, trong một phạm vi hạn chế, tác giả chỉ nghiên cứu một số nội dung cơ bản sau đây về đạo đức và pháp luật trong tư tưởng Hồ Chí Minh:

- Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức; những quan

điểm cơ bản về đạo đức cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh

- Khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật; những quan điểm cơ bản về pháp luật trong tư tưởng Hồ Chí Minh

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức đối với pháp luật; vai trò của pháp luật đối với đạo đức; về kết hợp pháp luật với đạo đức trong quản lý xã hội

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử mácxít cùng với các phương pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, so sánh; tiếp cận, nắm vững nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam Cụ thể, tác giả đã nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và pháp luật trên cơ sở nắm vững quan điểm, tư tưởng của

Trang 14

Người về các lĩnh vực có liên quan mật thiết như: tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước của dân do dân vì dân, cách mạng xã hội chủ nghĩa và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, vấn đề đại đoàn kết dân tộc, về nhân văn, văn hóa để làm rõ tính cách mạng, tính phổ biến, thực tiễn cao trong tư tưởng đạo đức và pháp luật Hồ Chí Minh; Đồng thời, dựa trên sự tổng hợp các dẫn chứng nguồn tư liệu phong phú minh chứng về tư tưởng cũng như thực tiễn hành động của Hồ Chí Minh tác giả đã tìm kiếm, phân tích và so sánh điểm khác biệt, đặc sắc, giá trị đương đại trong

tư tưởng của Người trên lĩnh vực đạo đức, pháp luật Bên cạnh đó, tác giả cũng đã cố gắng tìm kiếm các quan điểm, đánh giá về Hồ Chủ tịch của những chính khách nước ngoài; chủ động trực tiếp tiếp cận và lĩnh hội ý kiến, tri thức của một số nhà khoa học đầu ngành có nhiều công trình nghiên cứu sâu rộng về Hồ Chí Minh, tiêu biểu như GS TS Hoàng Chí Bảo, GS TS Lê Mậu Hãn Mặt khác, để hoàn thành đề tài, bảo đảm tính lôgíc, khoa học của các nội dung được triển khai tác giả đã chú trọng vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến để xem xét, nghiên cứu hai lĩnh vực nội dung có quan hệ mật thiết với nhau trong tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như trong đời sống xã hội đó là đạo đức và pháp luật

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn đã phân tích rõ hơn giá trị của những nội dung cơ bản trong

tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và pháp luật cũng như mối quan hệ giữa chúng Qua đó luận văn làm sáng tỏ phương thức, nghệ thuật kết hợp giáo dục đạo đức và sử dụng pháp luật trong quản lý xã hội, đào tạo, giáo dục, xây

dựng con người mới xã hội chủ nghĩa của Hồ Chí Minh

Trên cơ sở những đóng góp về mặt lý luận đó, luận văn đã rút ra những bài học, xây dựng, đề xuất những giải pháp căn bản, cụ thể về việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc kết hợp đạo đức và pháp luật trong việc quản lý xã hội, xây dựng con người mới ở nước ta hiện nay Qua đó, nhằm

Trang 15

tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật đồng thời kết hợp giáo dục nâng cao đạo đức

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 4 chương:

Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức

Chương 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật

Chương 3: Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong tư tưởng Hồ

Chí Minh

Chương 4: Bài học, giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo

đức và pháp luật trong quản lý xã hội, xây dựng con người mới ở Việt Nam hiện nay

Trang 16

Chương 1

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC

1.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC

1.1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

- Cơ sở tư tưởng

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là một hệ thuyết vừa đầy đủ, trọn vẹn nhất, vừa gần gũi, sâu sắc nhất trong toàn bộ hệ thống tư tưởng của Người Nó đầy đủ với mọi đối tượng, trọn vẹn ở mọi lĩnh vực phạm vi, gần gũi ở phong cách, phương thức thể hiện, sâu sắc ở triết lý, ý nghĩa Chính vì thế, đạo đức của Hồ Chí Minh đồng thời cũng là tư tưởng, nhân cách, triết lý sống, hành động cách mạng của Người Bởi lẽ, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức đã hoàn toàn thâm nhập, chứa đựng trong mọi lĩnh vực quan điểm của Hồ Chí Minh từ vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc, chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, về đại đoàn kết dân tộc và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, về Đảng Cộng sản Việt Nam và xây dựng Nhà nước của dân do dân vì dân, về nhân văn, văn hóa, chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau…Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh như một cây xanh lớn dậy từ đất mẹ Việt Nam, vươn cành hấp thụ tinh hoa túy khí Đông - Tây để rồi tỏa rợp bóng mát mãi về sau

Ngạn ngữ có câu: Bông hoa càng vươn cao về phía mặt trời thì rễ của

nó càng bám sâu vào lòng đất Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, suy ngẫm

về tư tưởng và ngưỡng mộ về nhân cách cao đẹp của Người, ta càng thấy tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vô cũng gần gũi, giản dị bởi nó được nuôi dưỡng

từ chính những truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam ta Truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, yêu thương con người, quý trọng hiền tài ngấm sâu vào trái tim, tâm hồn Hồ Chí Minh, soi rạng trí tuệ Người từ thuở Hồ Chí

Trang 17

Minh còn là cậu bé đầu để chỏm Lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước, chống thiên tai, thú giữ, chống loạn trong giặc ngoài của dân tộc Việt giúp Hồ Chí Minh hiểu được giá trị của cuộc sống, giá trị thiêng liêng của tự do, hòa bình Chính vì thế, Hồ Chí Minh trân trọng tự do dân tộc, hòa bình, hạnh phúc của nhân dân Từ thuở niên thiếu, Hồ Chí Minh đã sớm giác ngộ tự do, và khi trưởng thành, "Tự do" thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước Truyền thống yêu nước được hun đúc từ thời bà Trưng bà Triệu qua Đinh, Lý, Trần… thúc giục lý trí Nguyễn Tất Thành để rồi chính từ chủ nghĩa yêu nước, Nguyễn ái Quốc đã đến với chủ nghĩa cộng sản với mong muốn tìm ra con đường giải phóng dân tộc, mang lại tự do cho đồng bào ái Quốc, mang lại hạnh phúc cho nhân dân của Người Và cũng chính trong truyền thống yêu nước mà truyền thống nhân nghĩa, yêu thương con người, quý trọng hiền tài của dân tộc Việt Nam được nảy sinh, nuôi dưỡng Nhìn lại lịch sử dân tộc cả những lúc chói chang hưng thịnh lẫn khi suy yếu mới thấy được giá trị và sức mạnh của truyền thống nhân nghĩa, chủ nghĩa nhân văn Đây chính là yếu tố củng cố sức mạnh dân tộc, khơi dậy chủ nghĩa yêu nước, ý thức chủ quyền khi đất nước có ngoại xâm và huy động trí lực muôn dân khi hòa bình Nam quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo không chỉ là những bản tuyên ngôn độc lập của lịch sử dân tộc mà còn là một triết lý nhân sinh của dân tộc Việt Nam yêu chuộng hòa bình, coi trọng con người, tôn quý sinh mạng dù là sinh mạng của người Việt hay người Minh, dù là người Nam hay người Hán Và bên cạnh

đó, thời kỳ nào cũng có "Chiếu cầu hiền" của các vị anh quân là minh chứng thiết thực nhất, tiêu biểu nhất về truyền thống nhân nghĩa, yêu thương con người, quý trọng hiền tài của dân tộc Việt Nam ta Truyền thống nhân nghĩa, yêu thương con người, quý trọng hiền tài vừa được nuôi dưỡng bởi truyền thống yêu nước vừa bồi đắp, củng cố cho truyền thống yêu nước thêm vững bền rắn chắc

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình theo truyền thống nho giáo có người ông, người cha dốc lòng vì nước vì dân, có người mẹ, người chị hết

Trang 18

lòng vì chồng vì con, giữa cuộc sống nơi làng quê yên bình mộc mạc với những người nông dân hiền lành chân chất chăm lo lao động và một ngôi trường có những người thầy tận tụy mẫu mực như thầy Vương, Hồ Chí Minh

đã được hấp thụ trọn vẹn những phẩm chất, những truyền thống cao quý của người Việt Nam, nhờ đó phẩm chất và tư chất Hồ Chí Minh sớm hình thành góp phần làm nên đạo đức Hồ Chí Minh, nhân sinh quan Hồ Chí Minh định hướng cho hành động cách mạng của Người

Vốn thông minh, ham học hỏi, lại sớm được gặp gỡ, tiếp cận với những bậc chí sĩ có kiến thức sâu rộng về Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo vì thế ngay từ nhỏ, Hồ Chí Minh khi ấy là Nguyễn Sinh Cung đã nắm vững những luân lý Nho giáo, những lời răn dạy của Phật giáo Chính những nguyên tắc về tu thân dưỡng tính của nho giáo đã rèn dạy và định hướng nhân cách Sinh Cung, chính những lời khuyên thấm đẫm chất nhân bản của Phật giáo khơi dậy lòng trắc ẩn, vị tha, bao dung rộng lớn của Anh Đồng thời, những tư tưởng tinh thông về quy luật tự nhiên của vạn vật và xã hội được Hồ Chí Minh kế thừa trong Đạo giáo đã giúp Người có một triết lý sống, phong cách sống bình dị, trong sáng, thanh cao ung dung tự tại (như chính cuộc đời Người đã sống) - một cuộc sống giản dị, khiêm tốn, phảng phất sự vô vi, tiêu dao của Lão Tử nhưng lại chứa đựng tinh thần lạc quan yêu đời thiết tha, yêu thương con người đến vô ngần Với triết lý đó, Hồ Chí Minh đã sống và là tấm gương sáng cho mọi thế hệ người dân Việt Nam noi theo về một ý chí sắt

đá, lòng quyết tâm, nghị lực phi thường, một sự lạc quan cần thiết trong mọi hoàn cảnh Sự hội cộng của các hệ tư tưởng Nho, Phật, Đạo giáo không chỉ giúp Nguyễn Sinh Cung trở thành một chàng thanh niên có phẩm chất đạo đức tốt biết yêu nước, thương dân mà những hệ tư tưởng ấy đã khiến Anh bừng tỉnh về trách nhiệm của một người dân đất Việt

Càng thêm nhuần nhuyễn tư tưởng triết lý - đạo đức Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo phương Đông, Hồ Chí Minh càng sớm nhận ra sự hạn chế trói buộc của tư tưởng Nho giáo, sự an phận nhún nhường của Phật giáo, Đạo

Trang 19

giáo Cho nên, khi mới được tiếp xúc với những tư tưởng bình đẳng, tự do và dân chủ phương Tây ngay tại quê nhà, Hồ Chí Minh đã so sánh và khát khao đấu tranh, tìm kiếm giá trị đích thực của nền dân chủ phương Tây mong muốn người dân An Nam cũng được hưởng những giá trị cao đẹp ấy Nếu như chủ nghĩa yêu nước là cơ sở để Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa cộng sản thì những tư tưởng về tự do bình đẳng, dân chủ phương Tây là động lực thôi thúc

Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước Sau khi rời bến cảng nhà Rồng năm

1911, Hồ Chí Minh đã tìm đến Tây phương Tại đây, Người đã được tiếp cận với các luồng tư tưởng, các học thuyết dân chủ tư sản tiến bộ của Rútxô, Môngtécxkiơ… Các học thuyết ấy đã giúp Hồ Chí Minh định hướng rõ hơn những giá trị đơn giản nhất và cũng là thiêng liêng nhất mà cuộc sống con người phải đạt tới Người ý thức cụ thể hơn về tự do, đó là quyền tự quyết, là

sự bình đẳng giữa người với người, là quyền được sống, được mưu cầu hạnh phúc, được bảo vệ và bảo đảm các giá trị sống… Đồng thời, khi lăn lộn trong phong trào công nhân, đối chiếu với các học thuyết dân chủ tư sản Tây phương, Hồ Chí Minh nhận thấy những học thuyết ấy tuy có mục đích đẹp đẽ thật song không đủ sức mạnh để mang lại cho những người lao động trên khắp các nước mà Người đã đặt chân tới một cuộc sống của con người theo đúng nghĩa của nó khiến cho khẩu hiệu về nhân quyền trở lên xa vời ngay chính tại quê hương sản sinh ra nó

Hấp thụ truyền thống dân tộc, nền tảng văn hóa - đạo đức Đông phương để thêm chí khí, tiếp thu tư tưởng tiến bộ Tây phương để thêm tuệ khí, Hồ Chí Minh vẫn băn khoăn vì chưa tìm ra cách thức để cho những giá trị đạo đức Đông - Tây có điều kiện trở thành những giá trị đích thực và thiết thực mang lại hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam nói riêng, nhân loại nói chung Chỉ khi được tiếp cận với "Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa", tham gia rèn luyện, hoạt động cách mạng trong Quốc tế III, học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác- Lênin, lĩnh hội những tư tưởng về đạo đức cách mạng của người cộng sản, về tinh thần đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh

Trang 20

của giai cấp vô sản do Lê nin lãnh đạo, Hồ Chí Minh mới thực sự yên tâm tin tưởng vào giá trị của các chuẩn mực đạo đức cao đẹp Tây phương và Người càng thêm quyết tâm theo đuổi để sự hiện hữu của nó chắc chắn sẽ mang lại hạnh phúc cho cuộc sống của nhân dân Việt Nam Từ đây, tư tưởng đạo đức

Hồ Chí Minh chuyển hóa thành hành động cách mạng Hồ Chí Minh thông

qua "Bản yêu sách của nhân dân An Nam" Người gửi lên Hội nghị Vécxây ngày 18 tháng 6 năm 1919, "Bản án chế độ thực dân Pháp" Người viết năm

1925, "Đường Kách mệnh" năm 1927… cùng hàng loạt các hoạt động trong các tổ chức cách mạng Người đã tham gia và không ngừng gây dựng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc

- Cơ sở thực tiễn

Bên cạnh cơ sở tư tưởng vừa nêu trên thì thực tiễn hoàn cảnh xã hội, thực tiễn quá trình hoạt động cách mạng, đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân là cơ sở thực tiễn hình thành nên tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

Vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta cất tiếng khóc chào đời khi đất nước

đã trải qua hơn 20 năm trời xâm chiếm của thực dân Pháp Đất nước thêm xác

xơ nghèo nàn kể từ khi triều đình phong kiến nhà Nguyễn ký hiệp ước Patơnôt ngày 6/6/1884 đầu hàng thực dân Pháp đặt cơ sở lâu dài và chủ yếu cho quyền đô hộ của chúng ở Việt Nam Cộng thêm 21 năm Người được tận mắt chứng kiến cảnh lầm than cơ cực của nhân dân An Nam dưới chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp với cảnh nhà tù lập ra nhiều hơn trường học, cảnh bắt lính đi lao dịch tù đày triền miên, cảnh nạt nộ thuế khóa bòn vét của cải, đầu độc thuốc phiện, thực hiện chính sách ngu dân, chính sách chia

để trị… đời sống mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam trở nên túng quẫn, khổ đau Hàng ngàn cuộc đấu tranh của các sĩ phu, của nông dân khắp nơi nổ dậy

từ Nam chí Bắc nhưng tất cả đều bị nhấn chìm trong biển máu tang tóc Nước mất thì nhà tan, ngay chính bản thân gia đình Người cũng phải chịu cảnh ly

Trang 21

tán đói khổ Vậy nên, Hồ Chí Minh rất thấm thía nỗi đau mất nước, xót xa trước cảnh những người dân An Nam phải oằn mình dưới những làn roi sắt của bọn thực dân xâm lược, nát ruột nát gan khi hơn 50% nông dân Việt Nam

bị tước đoạt ruộng đất phải chịu cảnh cầu bất cầu bơ… Càng thương dân Việt bao nhiêu, Hồ Chí Minh càng ý thức rõ trách nhiệm phải cứu nước cứu nòi bấy nhiêu

Trong suốt thời gian bôn ba tìm đường cứu nước, sang đất Pháp, đất

Mỹ, Anh… rồi lại trở về đất Pháp, lăn lộn trong phong trào công nhân khắp các nước thuộc địa châu Á, châu Phi chứng kiến cảnh lưng trần đỏ lằn roi sắt,

đã nâng tầm nhận thức, tình cảm của Hồ Chí Minh - khi ấy là Văn Ba - và Anh thấy rõ rằng không chỉ có nhân dân Việt Nam, nhân dân Pháp mà ở bất

cứ thuộc địa nào người dân cũng sống khổ cực, bọn thực dân cũng tàn ác Những cảnh tượng mà Anh nhìn thấy đã gieo rắc trong lòng Anh những tình cảm khắc khoải, nảy sinh tinh thần đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân các nước trong sự nghiệp chống đế quốc Ý thức ấy lớn dần thành quan niệm vững chắc của Hồ Chí Minh về sự đoàn kết các dân tộc bị áp bức, thành sứ mệnh giải phóng dân tộc thiêng liêng, thành ý chí cách mạng kiên cường, khát vọng tột đỉnh cho độc lập tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân

Trước và cùng thời với Hồ Chí Minh có rất nhiều vị vua anh minh, chí

sĩ lỗi lạc yêu nước thương dân Nhưng không ai sánh kịp với Người không phải bởi cái đức của họ chưa thật sâu, cái đạo của họ chưa thật sắc mà vì nhân sinh quan, thế giới quan và thực tiễn dân sinh của họ chưa được bao quát, rộng khắp, sát thực như Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh không chỉ đồng cảm, chia sẻ, xót xa trước tình cảnh của tất thảy các giai tầng xã hội Việt Nam dưới ách đô hộ thực dân mà chính bản thân Người cũng đã tận trải cuộc sống ấy Không những thế, Người cũng đã sống cuộc sống cơ cực phải nạo tuyết, vét bùn, làm bồi bàn… với giai cấp cần lao khắp các nước châu Á, Âu, Phi, Mĩ nơi Người từng đặt chân tới Chính vì lẽ đó, nỗi đau mất nước, tấm lòng

Trang 22

thương dân của Hồ Chí Minh mới trở thành động lực cách mạng và chuyển hóa thành hành động cách mạng thúc giục Người ra đi tìm đường cứu nước, vượt qua mọi nỗi đau thể xác, tinh thần, mài sắc lý trí khiến Người không cảm thấy bế tắc như các vị vua cuối các triều đại phong kiến Việt Nam, cũng không chút ảo tưởng như các cụ Phan đương thời

- Nhân tố chủ quan

Trên cơ sở kế thừa, hấp thụ những truyền thống quý báu của dân tộc, nền tảng, giá trị văn hóa Đông - Tây, hòa cùng phong trào yêu nước, lăn lộn trong phong trào cách mạng vô sản thế giới đã giúp Hồ Chí Minh có được những phẩm chất đạo đức cao quý làm nền tảng cho hành động cách mạng của Người và sau này được tích triển hơn nữa trong những năm Người trực tiếp lãnh đạo đất nước giành độc lập, xây dựng Tổ quốc Việt Nam Dân chủ cộng hòa trở thành hệ thuyết đạo đức Hồ Chí Minh Song không chỉ có vậy, điều quan trọng hơn, chính những nhân tố chủ quan là cơ sở cốt lõi nhất góp phần hình thành nên tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

Vốn thông minh, lanh lẹ, ham học hỏi, lại được bồi dưỡng nhân cách bởi những giá trị truyền thống quý báu của gia đình và quê hương, Hồ Chí

Minh đã chủ động hấp thụ tiếp biến nhiều giá trị văn hóa (từ văn hóa làng xã

đến văn hóa thành thị, từ văn hóa phương Đông đến các nền văn hóa phương Tây của các nước khác nhau trên thế giới) để gạn lọc những giá trị ấy thành nhân cách sống, phẩm chất đạo đức thanh cao, trí tuệ mẫn tiệp Hồ Chí Minh

Bên cạnh đó, tư tưởng đạo đức Hồ chí Minh còn được hình thành bởi

lòng khoan dung bác ái, yêu thương con người, tôn trọng hiền tài của Hồ Chí Minh Khi đề cập đến con người, Hồ Chí Minh đề cập con người cụ thể,

không có con người chung chung, trừu tượng phi nguồn gốc lịch sử hay con người kiểu tôn giáo Phần lớn, người xem xét con người trong các mối quan

hệ xã hội, giai cấp, giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp; trong khối thống nhất của cộng đồng dân tộc và quan hệ quốc tế Cách tiếp cận về con người của Hồ Chí

Trang 23

Minh thống nhất với lập trường giai cấp và lập trường dân tộc Chính vì thế, lòng yêu thương quý trọng con người ở Hồ Chí Minh rất bao la rộng lớn nhưng lại gần giũ với số phận mỗi con người, hướng tới con người cụ thể - những con người đang sống thực trên trần gian Người chỉ rõ nguồn gốc đích thực của mọi sự đau khổ mà những con người nô lệ, mất nước, những người lao động làm thuê phải chịu - đó là chủ nghĩa đế quốc, thực dân, ách áp bức bóc lột giai cấp của tư sản, phong kiến đối với công nhân, nông dân,…Từ đó,

Hồ Chí Minh chỉ ra con đường cách mạng, con đường giải phóng dân tộc, giai cấp, con người, đồng thời Người không ngừng đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng đó để nhân dân ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành đến nơi đến chốn

Hồ Chí Minh coi sinh mạng con người là quý Cho nên, triết lý- đạo đức của Hồ Chí Minh về con người là triết lý nhân văn hành động: ở đời và làm người thì phải yêu nước thương dân, thương nhân loại bị đau khổ, áp bức

và đấu tranh nhằm đem lại hạnh phúc, tự do cho con người Tình yêu thương con người của Hồ Chí Minh còn được thể hiện trong mối quan hệ bạn bè, đồng chí hàng ngày Nó đòi hỏi phải chặt chẽ, nghiêm khắc với mình, khoan dung độ lượng với người khác; phải tôn trọng con người, biết cách nâng cao con người lên chứ không hạ thấp, càng không vùi dập con người Cho nên, tình thương

đó còn dành cho cả những người có sai lầm khuyết điểm nhưng đã nhận ra và sửa chữa, cả người lầm đường lạc lối biết hối cải, cả kẻ thù đã bị thương, bị bắt hoặc quy hàng Chính tình yêu thương đó đã đánh thức mọi điều tốt đẹp

mà Hồ Chí Minh tin rằng trong mỗi người đều có, tuy nhiều ít khác nhau

Chính yêu thương con người, khoan dung độ lượng với con người mà hơn ai hết, Hồ Chí Minh rất mực tôn trọng hiền tài Người luôn lắng nghe trân trọng ý kiến của các bậc hiền tài trí thức, động viên cổ vũ, giáo dục, cải hóa người lầm lạc, đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp trí thức, cư xử có lý có tình, độ

Trang 24

lượng, khoan dung, thông cảm, nâng đỡ họ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cả về vật chất và tinh thần để người hiền tài được phụng sự đất nước

Qua đó mới thấy hết được chính nhân tố chủ quan là yếu tố cơ bản nhất làm cho đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là tư tưởng mang tầm vóc triết

lý nhân sinh mà còn trở thành phương pháp hành động cách mạng - cải biến thực tiễn xã hội, giải phóng đất nước Vì thế, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không bó hẹp trong phạm vi lĩnh vực ý thức, tình cảm mà nó đã được Người chuyển hóa vào thực tiễn cách mạng, chỉ đạo hoạt động hàng ngày của bản thân Hồ Chủ tịch cũng như thức tỉnh, lôi cuốn "vật chất hóa" ý thức dân tộc thành sức mạnh dân tộc Phải là Người có tấm lòng bao dung rộng lớn, nhân cách cao thượng vô ngần, đồng thời với một tư duy mới mẻ tiến bộ về thế giới quan, nhân sinh quan Hồ Chí Minh mới có thể trở thành mẫu mực về tư tưởng

và tư cách đạo đức không chỉ của nhân dân Việt Nam, dân tộc việt Nam mà còn

là một mẫu mực đạo đức của thời đại được toàn thể thế giới công nhận và noi theo

1.1.2 Cuộc cách mạng trong lĩnh vực đạo đức của Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng, Người đã cách mạng trên lĩnh vực tư tưởng, gắn liền và chuyển hóa nó vào trong thực tiễn Chính vì Hồ Chí Minh cách mạng thực tiễn tư tưởng nên thực tiễn hoạt động của Người là thực tiễn cách mạng

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống yêu nước, ngay

từ nhỏ Hồ Chí Minh đã được tiếp thu những tư tưởng sâu sắc của Nho giáo về những chuẩn mực đạo đức của người trí thức, kẻ quân tử Nhưng với tư duy nhạy bén, mẫn cảm trước thời đại, Hồ Chí Minh đã có sự đánh giá rất đúng đắn về vai trò của Nho giáo trong lịch sử xã hội Đồng thời, Người thấy rõ những hạn chế, bất cập trong tư tưởng Nho giáo như: yếu tố duy tâm lạc hậu, coi khinh lao động chân tay, phân biệt đẳng cấp, coi khinh, trói buộc phụ

Trang 25

nữ… Vậy nên, Hồ Chí Minh không hoàn toàn chịu ảnh hưởng một cách rập khuôn những tư tưởng Nho học, mà trong tư tưởng và hành động, Người luôn phát huy những giá trị tích cực; đồng thời, hạn chế, khắc phục những nhược điểm của hệ tư tưởng này Hơn ai hết, Hồ Chí Minh ý thức rất rõ việc lưu giữ, phát huy, kế thừa một cách có chọn lọc, sáng tạo những yếu tố tiến bộ, nhân văn của hệ tư tưởng Nho giáo Người chỉ rõ, mặt tích cực của Nho giáo là đã

đề xướng triết học hành động cùng tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúp đời, lý

tưởng về một xã hội bình trị, một "thế giới đại đồng", triết lý nhân sinh về tu

thân dưỡng tính (chính tâm tu thân), từ Thiên tử cho đến thứ dân ai cũng phải

lấy tu thân làm gốc Ngoài ra, Nho giáo còn đề cao văn hóa, lễ giáo, tạo ra

truyền thống hiếu học khác hẳn với chủ trương "ngu dân" để "dễ trị" của các học thuyết cổ đại khác Chúng ta thấy, Hồ Chí Minh tiếp thu Nho giáo cũng giống như Mác tiếp thu phép biện chứng của Hêghen Bởi lẽ, trật tự các giá trị đạo đức Nho giáo là: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín Còn trật tự và chuẩn mực đạo đức của người cách mạng theo Hồ Chí Minh cần phải có là: Trí, Tín, Nhân, Dũng, Liêm Người cũng căn dặn: cơ sở, điều kiện để có thể thực hiện "tề gia trị quốc bình thiên hạ" như Nho giáo, trước hết phải là "tu thân": "Phải chính tâm tu thân thì mới có thể trị quốc bình thiên hạ" [44, tr 82] "Tu thân" - tự mình phải sửa mình, tự mình phải làm gương trước đã rồi mới có thể lãnh đạo được quần chúng - quan điểm này được Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý trong việc rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên cũng như giới trí thức

và các thế hệ trẻ Thêm vào đó, Hồ Chí Minh còn bổ sung vào đạo đức cách mạng yêu cầu mới đối với con người xã hội chủ nghĩa là phải có đức: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư Đây cũng là những chuẩn mực giá trị đạo đức có nội hàm pháp lý phù hợp với lẽ công bằng ở đời đòi hỏi bất kỳ ai trong chúng ta cũng cần phải có Như vậy, cuộc cách mạng trong quan niệm về đạo đức, về con người, về nhân cách của Hồ Chí Minh được thể hiện ở chỗ: Người đã gạt bỏ cái cốt lõi nhất trong đạo đức Nho giáo là lòng trung thành tuyệt đối với chế độ phong kiến theo kiểu "ngu trung" chỉ đề cao, ghi nhận vai

Trang 26

trò, đạo đức, trí tuệ của bậc thánh nhân, quân tử Sự kế thừa tư tưởng Nho giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh được Người khẳng định bằng một kết luận

có tính nhất quán: Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng, song những điều hay trong đó thì chúng

ta nên học Người dẫn lời của Lênin: Chỉ có những người cách mạng chân

chính mới thu hái được những điều hiểu biết quý báu của các đời trước để lại

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh còn là sự cách mạng hóa, thực tiễn hóa tư tưởng triết học - đạo đức Phật giáo Tư tưởng cơ bản của Phật giáo là giáo dục con người về lòng từ bi, vị tha, cứu khổ, cứu nạn Đây là một trong những tư tưởng nhân văn sâu sắc của Phật giáo Tư tưởng đó được Hồ Chí Minh tiếp thu có chọn lọc trong việc giáo dục cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân, mọi lực lượng xã hội Theo triết lý Phật giáo, vô minh là nguyên nhân của mọi nguyên nhân gây ra nỗi khổ cho con người Việc diệt khổ phải bằng con đường tu đạo - thực hiện bát chính đạo, giữ giới - ngũ giới, hoàn thiện đạo đức, xóa bỏ vô minh để tự giải thoát cho mình Nhưng với Hồ Chí Minh, do được tận mắt chứng kiến cảnh người bóc lột người… nên Hồ Chí Minh chỉ rõ nguyên nhân gây ra nỗi khổ của dân chúng cần lao và cách thức, con đường để giải phóng, giải thoát con người chính là đấu tranh xóa bỏ

áp bức bất công Đây là quan điểm hiện sinh, nhân văn hơn hẳn và khác hẳn với quan điểm của Phật giáo) Như vậy, nếu tư tưởng của Phật giáo hướng đến giải thoát con người khỏi nỗi khổ bằng sự tu luyện tinh thần, đạo đức thì

Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân lao động, giải phóng con người bằng con đường hoạt động thực tiễn, bằng đấu tranh cách mạng của bản thân mình cũng như của mọi lực lượng tiến bộ xã hội

Bên cạnh đó, ngay trong chính việc kế thừa những tư tưởng - triết lý đạo đức dân tộc, Hồ Chí Minh cũng có những khác biệt lớn lao Người đau xót, nhức nhối khi dân đói khổ, lầm than như nỗi đau của Nguyễn Trãi, Người

Trang 27

bao dung, khoan thư sức dân, quý trọng hiền tài cũng như bao bậc minh quân thời Lý, Trần… Song với các bậc vua hiền tướng giỏi Lý - Trần hay với cả một cuộc đời hết lòng vì nước vì dân, yêu dân, thương dân mẫu mực như Nguyễn Trãi dù biết rằng chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân nhưng vẫn chỉ coi dân là bề dưới "Thấy đói thì ta cho ăn, thấy rét thì ta cho mặc…" ("Đại cáo bình Ngô"- Nguyễn Trãi) chứ chưa ai coi dân là chủ, còn mình là công bộc là đầy tớ của dân, phải hết mình tận tâm tận tụy phục vụ dân

như Hồ Chí Minh Như vậy, trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh dân là dân

- là duy nhất, cao nhất, còn mình chỉ là một phần từ của dân, từ trong dân và

do đó phải vì dân, phục tùng dân

Điểm khác biệt lớn lao nhất, ý nghĩa nhất làm nên cuộc cách mạng trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh chính là ở chỗ tư tưởng đạo đức Hồ Chí

Minh là thực hành đạo đức, tức là đạo đức để thực hành Hồ Chí Minh là

người đầu tiên và thường xuyên trực tiếp thực hành tư tưởng đạo đức đó Tư tưởng đạo đức Hồ chí Minh không giống như đạo đức phong kiến rao giảng

để cho nhân dân thực hành hay như những khẩu hiệu đạo đức Tây phương đẹp mà không thực Ngược lại, những tư tưởng ấy đã chỉ đạo và chuyển hóa thành hành động cách mạng của Hồ chí Minh, đồng thời chính bản thân chúng được hình thành qua từng giây từng phút mà Người đã sống, chiến đấu vì Tổ quốc, vì nhân dân Điều đó được minh chứng qua tác phẩm "Nhật ký trong tù"

- đây không chỉ là một đại tác phẩm của nền văn học Việt Nam mà còn là minh chứng sống động ghi chép về sự rèn luyện đạo đức của Hồ Chí Minh

Tóm lại, Hồ Chí Minh đã kế thừa trên tinh thần sáng tạo hết sức sâu sắc thiết thực, cách mạng tư tưởng đạo đức nhân văn của Nho giáo, Phật giáo…cùng những tư tưởng đạo đức dân tộc trong việc rèn luyện bản thân, giải phóng con người, giáo dục con người, phát huy sử dụng con người

1.1.3 Giá trị và đặc điểm cơ bản của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

Trang 28

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh được cả thế giới biết đến và ca ngợi qua tấm gương thực hành đạo đức của Người Chính thực tiễn cuộc sống của Người là cả một sự khổ luyện bền bỉ kiên trì để có được một tấm gương đạo đức sáng ngời Do đó, giá trị tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trước hết và trên hết được thể hiện ở giá trị hành động, có tính cách mạng, tính thực tiễn cao, được hình thành và minh chứng suốt từ khi Người còn nhỏ, lớn lên tham gia các phong trào yêu nước của học sinh, sinh viên, khi trưởng thành, ra nước ngoài lăn lộn trong phong trào cách mạng vô sản thế giới, khi trở về hoạt động cách mạng trong nước cả khi công khai lẫn lúc bí mật, cả thời chiến lẫn thời bình Nhờ có tính thực tiễn và được minh chứng qua thực tiễn, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đã hấp dẫn, thức tỉnh, lôi cuốn muôn triệu trái tim yêu nước của người Việt dù họ ở đâu trong nước hay nước ngoài, dù họ là trí thức thời đại mới hay trí thức thủ cựu Hơn thế, còn biết bao những người bạn ngoại quốc yêu tự do, công lý, cũng ủng hộ Hồ Chí Minh đã sát cánh cùng Người, cùng nhân dân ta trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân, tiếp tục cùng chúng ta chung tay xây dựng một nước Việt Nam hòa bình ấm no

Cho đến nay, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đã trở thành nguyên tắc sống và làm việc của mỗi người dân trong xã hội ta Nghiên cứu, tìm hiểu, học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là con đường dẫn dắt chúng ta sống đúng với trách nhiệm, bổn phận, sống đẹp về nhân cách Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rời xa chúng ta hơn 40 năm, nhưng hình ảnh của Người vẫn còn in đậm trong tâm trí nhân dân Việt Nam, những tư tưởng

và tấm gương đạo đức của Người vẫn soi đường, chỉ lối cho chúng ta, vẫn vẹn nguyên giá trị trong tiến trình đi lên cùng đất nước

Trước hết, Hồ Chí Minh là một nhà thực hành đạo đức Vì vậy, những

tư tưởng đạo đức của Người không nghiêng về tính học thuật triết biện mà

mang đậm tính thực hành phổ quát Nó gắn liền với yêu cầu thực tiễn xã

Trang 29

hội, thực tiễn cách mạng Việt Nam cả khi tiến hành đấu tranh giành độc lập lẫn khi xây dựng, phát triển đất nước Vì thế, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

chủ yếu là tư tưởng về thực hành đạo đức nên có sức sống mãnh liệt trong

đời sống xã hội, trở thành tiêu chuẩn của người cách mạng, chuẩn mực hành

vi của mọi người dân Việt Nam

Khác biệt với tư tưởng đạo đức phong kiến, tư tưởng đạo đức Hồ Chí

Minh mang tính thống nhất rõ ràng Đó là sự thống nhất giữa nội dung tư

tưởng và phương pháp thực hành - nghĩa là lời nói đi đôi với việc làm; thống nhất giữa các chuẩn mực đạo đức ngay trong cùng một chủ thể hành vi và giữa các chủ thể xã hội dù ở bất cứ địa vị nào Chẳng hạn: Cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính thống nhất với nhau, đồng thời chúng không chỉ là yêu cầu cần có của cán bộ công chức, đảng viên mà cũng là những phẩm chất đạo đức, lối sống, cách sống mà bất cứ người dân Việt Nam nào cũng cần phải thực hiện Chăm chỉ lao động, tiết kiệm thời gian, sức lực, của cải trong sản xuất, trung thực, có trách nhiệm với công việc chung, không mảy may tư tính, vượt qua những cám dỗ vật chất…đó là biểu hiện của cần, kiệm, liêm, chính của người nông dân, công nhân, các xã viên hợp tác Với đoàn viên thanh niên bốn đức tính ấy cũng được thể hiện qua học tập tốt, lao động tốt, đoàn kết tốt….với thiếu niên nhi đồng cũng vậy, các cháu phải biết: thi đua học và hành, tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình Do đó, các chuẩn mực

đạo đức, nguyên tắc đạo đức trong tư tưởng của Người có tính phổ biến chung, phù hợp, linh hoạt với mọi đối tượng Các chuẩn mực đạo đức ấy

giống như thân cây, còn đạo đức của mỗi giai tầng trong xã hội mới giống như cành cây Từ thân cây chia thành nhiều cành cây Dưỡng chất từ thân truyền lên cành, lá Càng bám chắc vào thân, cành càng vững chắc, xanh tốt, không hút dưỡng chất từ thân, cành lá không thể vươn tỏa bóng mát

Lịch sử thế giới cho chúng ta thấy khát vọng về tự do hạnh phúc là khát vọng chung của nhân loại, mong muốn cống hiến tài sản, sức lực, trí tuệ

Trang 30

cho sự nghiệp giải phóng con người là mục tiêu cao cả của biết bao người vĩ đại Ngay trên đất nước Anh, Pháp, Hà Lan… cũng đã xuất hiện các nhà tư tưởng - hành động như Xanhximông, Phuriê, Ôoen, Tômátmorơ… Khi phải chứng kiến cảnh "cừu ăn thịt người", họ đã dồn mọi nhiệt huyết đấu tranh cho

sự nghiệp giải phóng con người, bản thân họ cũng dốc lòng xây dựng những

mô hình cụ thể hết sức lý tưởng (- cụ thể hóa xã hội tươi đẹp của tác phẩm

"Thành phố mặt trời") trên quê hương mình Song, đáng tiếc những tư tưởng

vĩ đại, những mô hình xã hội nhân bản tươi đẹp ấy không thể tồn tại lâu dài được bởi nó không thu hút và cảm hóa được các nhà chức trách, cho nên, nó

bị chính sức mạnh của chính quyền đè bẹp trong chốc lát

Qua đó, chúng ta thấy độ sâu và độ sắc của tư tưởng đạo đức Hồ Chí

Minh chính là ở chỗ: tư tưởng ấy mang đậm triết lý hành động chung, nó

dẫn dắt hành vi của cả người lãnh đạo lẫn nhân dân lao động, hướng mục đích

về giải quyết thực tiễn công việc của từng con người cụ thể trong xã hội, từ đó thúc đẩy hiệu quả công việc chung, thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu chung của đất nước trong từng thời kỳ cách mạng Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là tư tưởng triết học - đạo đức bởi nó đã giải quyết đầy đủ các vấn đề của triết học

đã đặt ra từ thực tiễn cuộc sống và công việc của đời sống xã hội một cách hết sức cụ thể: Về thế giới quan - Ta là ai? (cán bộ, đảng viên, học sinh…), - coi con người là tinh hoa, chủ thể của vũ trụ, có sức cải biến vũ trụ, thế giới; Về nhân sinh quan - ta phải làm gì? (cần, kiệm, liêm, chính…), - tất cả vì con người; Về phương pháp luận - ta nên làm thế nào? (cần là siêng năng chăm chỉ, dẻo dai )

1.2 NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG TRONG

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức cách mạng

- Đạo đức là gốc của người cách mạng, động lực, động cơ của hành động cách mạng

Trang 31

Đạo đức là cơ sở ban đầu, cốt lõi, chủ yếu nhất để từ đó nảy sinh những lý tưởng cao đẹp, thúc giục, cổ vũ chúng ta đấu tranh vì nhân dân Đồng thời, đạo đức cũng chính là những tình cảm cụ thể khiến chúng ta tự ý thức được trách nhiệm phải cống hiến, phải phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân Hơn thế nữa, đạo đức còn là sức mạnh uy tín của người cách mạng, nó giúp người cách mạng vượt qua mọi khó khăn gian khổ, được quần chúng nhân dân ủng hộ và đi theo Hồ Chí Minh đã từng nói với cán bộ, đảng viên rằng muốn làm cho dân tin, dân yêu, dân phục thì không phải viết lên trán chữ cộng sản là được quần chúng yêu mến, quần chúng chỉ quý mến những người

có tư cách đạo đức Hồ Chí Minh so sánh đạo đức là gốc của người cách mạng giống như ngọn nguồn của sông suối, không có nguồn thì sông cạn Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân

Muốn làm cách mạng trước hết phải biết làm người Cho nên, học đạo làm người là yêu cầu trước tiên khi dấn thân vào con đường làm cách mạng Đạo làm người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải bó hẹp trong cái đạo của kẻ quân tử thời kỳ phong kiến Mà đạo làm người ở đây chính là cách ứng

xử với con người - với tất cả mọi con người không phân biệt sang hèn, nòi giống, sắc tộc… - tức là phải suy nghĩ đúng và hành động đúng vì con người, phải tránh đến mức tối đa những tổn thương cho con người Đạo đức giúp lý trí biết phân tích để có hành động chính xác Hồ Chí Minh không mảy may vui mừng khi sau trận chiến, bộ Tư lệnh báo cáo: quân ta thắng lớn, quân địch phải bỏ xác nhiều - đó là một trận đánh thất bại - Người kết luận Như vậy, làm cách mạng không phải chỉ đòi hỏi sự rèn luyện phẩm chất để trở thành người tốt, rèn luyện chí khí để trở thành người dũng cảm, nó không dừng lại ở

ý thức, tình cảm mà còn đòi hỏi đạt tới độ chín muồi về lý trí, sâu sắc về nhân sinh quan Vậy nên, muốn làm cách mạng phải có đạo đức, phải có nhân sinh quan tiến bộ để tất thảy mọi suy nghĩ, hành động đều vì con người và có lợi nhất cho con người

Trang 32

Cách mạng là một cuộc cải biến xã hội, xác lập và xây dựng một xã hội mới chất lượng hơn xã hội cũ Cuộc cách mạng tư sản là một bước tiến vượt bậc trong lịch sử nhân loại, nó đã xóa bỏ chế độ quân chủ, xác lập chế độ dân chủ, mang lại quyền sở hữu thiêng liêng, giải phóng sức sản xuất và tạo ra

sự phát triển vượt bậc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội so với tất cả các thời kỳ trước đó Đây là một cuộc cách mạng lớn lao của nhân loại nhưng chưa phải là cuộc cách mạng triệt để Bởi vì, dù nó tạo ra sự giàu có cho xã hội nói chung nhưng chưa tạo ra sự hạnh phúc, ấm no thực sự cho từng con người cụ thể trong xã hội nói riêng Trong khi đó, cách mạng - bản chất và mục tiêu cuối cùng là vì cuộc sống hạnh phúc của con người Cho nên, khi nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản, Hồ Chí Minh thấy muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội cần phải học tập chủ nghĩa tư bản ở lĩnh vực khoa học

kỹ thuật, quản lý, tổ chức, kỷ luật lao động, …nhưng cần phải có một lý

tưởng, động cơ cách mạng trong sáng, phải gắn và phải thấy lợi ích của mình trong lợi ích của tập thể, của đất nước Có như vậy, mỗi người mới đủ động lực để toàn tâm, toàn trí đấu tranh và xây dựng một đất nước hạnh phúc của đại

đa số nhân dân lao động khác hẳn với đất nước hạnh phúc của thiểu số giai cấp

tư sản

Như vậy, muốn làm cách mạng và là người cách mạng phải công tâm

và tận tâm bởi lẽ làm cách mạng không phải là công việc một sớm một chiều, không phải chỉ phấn đấu vì riêng lợi ích cá nhân Do đó, nếu chủ nghĩa yêu nước trong chúng ta không đủ mạnh, đức hy sinh của chúng ta không đủ lớn,

lý tưởng cộng sản tinh thần kỷ luật không đủ cao thì chúng ta không thể toàn tâm, toàn ý phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân, hoàn thành sự nghiệp cách mạng được

Do đó, theo Hồ Chí Minh muốn làm cách mạng và để làm cách mạng, trước tiên phải rèn luyện đạo đức vì đạo đức chính là gốc của người cách mạng, động lực, động cơ của hành động cách mạng

Trang 33

- Đạo đức là thước đo lòng cao thượng của con người

Theo Hồ Chí Minh, vai trò của đạo đức còn được thể hiện ở chỗ nó là thước đo lòng cao thượng của con người Phàm đã là con người, ai cũng có những nhu cầu cả về vật chất lẫn tinh thần, khi có điều kiện và cơ hội, mong muốn được đáp ứng nhu cầu của bản thân càng lớn Song chỉ những con người có đạo đức cao cả, trong sáng mới có thể dũng cảm đặt sự đáp ứng nhu cầu của bản thân xuống sau nhu cầu, lợi ích của tập thể, của đất nước, của nhân dân trong những lúc cần thiết Như vậy, đạo đức một mặt giúp con người có động lực để hoàn thành nhiệm vụ góp phần cải tạo thực tiễn, phấn đấu mang tới một thực tiễn tốt đẹp hơn, mặt khác nó giúp con người vượt qua được thực tại vật chất để vươn tới một sự trọn vẹn về tinh thần, về nhân cách Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, mỗi người đều có công việc, tài năng, vị trí khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ nhưng ai giữ được đạo đức cách mạng đều là người cao thượng Tấm lòng bác ái, bao dung không phải chỉ có ở nơi đức Phật từ bi mà nó hiện hữu trong chính những con người

cụ thể qua việc họ dốc lòng vì dân vì nước, tận tụy, tận tâm với công việc, biết lắng nghe và sẵn sàng chia sẻ, gánh vác trách nhiệm trước quần chúng nhân dân, trước tập thể lao động sản xuất, dám kiểm điểm những sai sót của bản thân để mau chóng tiến bộ, khắc phục điều kiện khó khăn trong công việc

và cuộc sống để không ngừng sáng tạo, đổi mới… - đó là đức hy sinh cao cả,

là sự cao thượng đáng trân trọng mà bất cứ ai cũng có thể làm được Theo Hồ Chí Minh, yêu nước thương dân là phẩm chất đạo đức đáng quý của mỗi người nói chung, của người cách mạng nói riêng Nhưng chỉ có lòng yêu nước, tình cảm thương dân thôi chưa đủ, điều quan trọng là phải nhận thức được bổn phận và gắng sức làm tròn bổn phận để thiết thực giúp dân giúp nước Dù trong thời chiến hay thời bình, dù ở hậu phương hay nơi tiền tuyến,

dù làm cán bộ hay dân thường, dù là trí thức hay nông dân, thợ thủ công… hễ

ai ý thức đầy đủ được bổn phận, trách nhiệm để đạt tới nhu cầu cống hiến

Trang 34

cho sự độc tập của dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân, giàu có của xã hội… đều là người cao thượng Trong những bài phát biểu, nói chuyện với cán bộ, học sinh, sinh viên các trường đào tạo cán bộ, an ninh, cảnh sát, sư phạm… cũng như tất cả những lần Hồ chí Minh xuống các cơ sở, xí nghiệp sản xuất tại Hà Nội, Hà Tây, Thái Bình, Hải Phòng… Người đều phân tích, cụ thể hóa các biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng phù hợp với từng đối tượng gắn liền với công việc của họ Hồ Chí Minh là hiện thân của đức Phật sống, cho nên Người đã nhìn thấy cả sự cao thượng trong từng con người, ngay cả với các em nhỏ Sự cao thượng của các em bộc

lộ qua sự dũng cảm dám nhận lỗi trước Bác, trước tập thể như bé Tộ Chính vì thế, hơn ai hết, Hồ Chí Minh rất tôn trọng con người, nâng niu, dìu dắt và không ngừng rèn luyện, cảm hóa con người, không gạt bỏ bất cứ ai Chính sự cao thượng nhân ái của Người đã nhen nhóm và thổi bùng lên đức hy sinh, chủ nghĩa yêu nước trong mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam

- Đạo đức thúc đẩy con người vươn tới tài năng, cống hiến tài năng

Theo Hồ Chí Minh, việc rèn luyện đạo đức đồng thời cũng là biện pháp, cơ hội để tài năng, trí tuệ của mỗi người được vươn cao, tỏa sáng cống hiến và phục vụ cho đất nước Tài và đức là hai điều quan trọng nhất cần thiết nhất của mỗi người cách mạng Nó không thể tách rời nhau, mà phải gắn liền

với nhau; có vậy mới mang lại giá trị và nâng tầm giá trị cho người cách

mạng Trong mối quan hệ ấy đạo đức là cái gốc, rất quan trọng, còn tài năng

là cái không thể thiếu Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng Ngược lại, có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội mà còn có hại cho xã hội nữa Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không có lợi gì cho loài người

Chính Hồ Chí Minh là người rất khéo léo trong việc khơi dậy những phẩm chất đạo đức tốt đẹp trong mỗi con người, nhất là đội ngũ trí thức để họ

Trang 35

cống hiến tài năng trí tuệ cho cách mạng, cho đất nước Chúng ta thấy, cứ sau mỗi lần từ nước ngoài trở về, Hồ Chí Minh lại đưa về cho đất nước một nhân tài - họ không chỉ là người Việt Nam chung một dòng máu con Lạc cháu Rồng mà còn là những người có quốc tịch nước ngoài, họ đến Việt Nam giúp

đỡ chúng ta trên nhiều lĩnh vực quan trọng, đặc biệt là về khoa học kỹ thuật, giáo dục, y tế, quốc phòng an ninh Đôi khi, chỉ một câu nói giản dị của Bác thôi đã tác động mạnh mẽ vào ý thức của chúng ta, khiến chúng ta nảy sinh bao sáng kiến, vượt qua mọi khó khăn trong chiến đấu cũng như trong học tập, lao động, sản xuất Giáo sư Hồ Đắc Di đã kể lại rằng khi giáo sư trình bày với Hồ Chủ tịch những nỗi lo lắng, băn khoăn về công việc của mình và đề nghị Chính phủ giúp đỡ, Bác đã chăm chú nghe và ân cần nói: Tuy Chính phủ

sẽ cố gắng giúp đỡ nhưng nước nhà đang kháng chiến, gặp nhiều khó khăn Cho nên chúng ta phải tự lực cánh sinh là chính, cùng nhau bàn bạc, tự tìm cách giải quyết "Tự lực cánh sinh" - Một phương châm hành động được Hồ Chủ tịch thâu tóm vào bốn chữ qua lời nói giản dị của Người đã vạch ra một hướng đi cho cả một lớp trí thức cách mạng và thực sự trở thành một chân lý

vô cùng giản dị Chân lý đó giúp họ nảy sinh nhiều sáng kiến trong mọi hành động, mọi hoàn cảnh khó khăn của đất nước suốt cả thời kỳ kháng chiến: không có sách các thầy các cô của trường Đại học Y khoa đã viết ra sách để giảng dạy cho sinh viên; không có trường sở dạy, họ đã lập bệnh viện vừa chữa bệnh cho dân địa phương vừa hướng dẫn sinh viên học tập Trường sở, nhà ở đều nhờ vào sức dân, thầy trò chung lưng đấu cật dựng lên những ngôi nhà giữa núi rừng vừa làm vừa dạy Những bác sĩ đầu tiên đã tốt nghiệp tỏa ra khắp nẻo đất nước, khắp các chiến trường, phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến Chính Hồ Chủ tịch là người cha đỡ đầu về tinh thần cho trường Y kháng chiến

1.2.2 Những chuẩn mực đạo đức cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh

- Thang giá trị đạo đức trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 36

+ Đối với Tổ quốc, đối với đồng bào: Trung với nước, hiếu với dân

Nội dung chủ yếu của "trung với nước" được thể hiện qua mối quan hệ giữa

cá nhân với cộng đồng và xã hội phải biết đặt lợi ích của Đảng, Tổ quốc, cách mạng lên trên hết; quyết tâm phấn đấu thực hiện mục tiêu cách mạng; thực hiện tốt mọi chủ trương chính sách của Đảng, của Nhà nước Còn "hiếu với dân" được thể hiện ở chỗ thấy rõ và khẳng định vai trò, sức mạnh thực sự của nhân dân; tin dân, học dân, lắng nghe ý kiến của dân, gắn bó mật thiết với dân, tổ chức, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương chính sách đường lối của Đảng và Nhà nước; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân

+ Đối với công việc và bản thân: Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô

tư Trong đó cần là siêng năng chăm chỉ, cố gắng, dẻo dai Kiệm là tiết kiệm vật tư, tiền bạc, của cải, thời gian, không xa xỉ, không hoang phí Liêm là trong sạch, không tham lam tiền của, địa vị, danh tiếng Chính là không tà, thẳng thắn, đứng đắn Còn chí công vô tư là không nghĩ đến mình trước, chỉ biết vì Đảng, Tổ quốc, đồng bào Thực hành chí công vô tư có nghĩa là phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng

+ Đối với con người: Nhân, nghĩa, trí, dũng, tín, yêu thương tin tưởng

con người Trong khi giáo dục đạo đức mới Hồ Chí Minh luôn gắn liền với giáo dục kế thừa đạo đức truyền thống: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng của Nho giáo và phát triển một cách sinh động, tinh tế cho phù hợp với giai đoạn mới của cách mạng, hoàn cảnh mới của đất nước Làm như vậy giúp cho cái tâm của con người mới thật sáng thật trong Bởi vì, cái "tâm" có sáng, đức có rạng thì cái tài mới được phát huy, phát triển trở nên cái có ích đối với xã hội

Suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng, mục đích cuối cùng của Hồ Chí Minh cũng là vì con người Cho nên, Hồ Chí Minh rất yêu thương con người, tin cẩn con người, luôn dành sự quan tâm ủng hộ tới các tổ chức của mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là trí thức, thanh niên, tạo môi trường tốt nhất

Trang 37

để họ được nghiên cứu, học tập, tự do lao động sáng tạo; đồng thời, Người không ngừng động viên giác ngộ, thức tỉnh hướng họ hòa nhịp với trào lưu cách mạng dân tộc Bản thân Người cũng luôn kính trọng các bậc nhân sĩ trí thức lão thành coi họ là những người cố vấn giàu kinh nghiệm Với sự chân thành giản dị, tự nhiên trong sáng đến vô ngần Hồ Chí Minh đã siết chặt được tinh thần đoàn kết, tổ chức, tập hợp tất cả những trí thức tiền triều cùng đông đảo trí thức trong và ngoài nước (trong đó thậm chí có cả những trí thức là phần tử thân Nhật, phần tử có khuynh hướng thân Nhật) không màng địa vị danh lợi giàu sang vinh hoa phú quý chung tài trí với sự nghiệp giải phóng dân tộc, chấn hưng giáo dục, xây dựng nền học vấn quốc gia Ngày 25-8-

1945, Hồ Chí Minh từ Tân Trào trở về Hà Nội Ngay sau khi về Hà Nội, Người bắt tay vào cải tổ một cách rộng lớn thành phần của Chính phủ cách mạng lâm thời Trong danh sách Nội các lâm thời được công bố ngày 28 tháng 8 năm 1945, gồm 16 chức vụ với 15 người (Hồ Chí Minh đồng thời giữ chức Chủ tịch Chính phủ và Bộ trưởng Ngoại giao), điều đáng chú ý là trong

số 11 người mới được bổ sung vào danh sách thì chỉ có 3 người là đảng viên Đảng Cộng sản 8 người còn lại đều là các nhân sĩ trí thức ngoài đảng đồng thời đều là những nhà trí thức nổi tiếng ở các đô thị thời kỳ đó Trong số 15 thành viên mới của Chính phủ được thành lập sau khi Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chỉ có 6 người là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam Số còn lại 9 người đều thuộc tầng lớp mà Đảng Cộng sản gọi là: "những trí thức tiểu tư sản" - Đó chính là

"sự thật của lịch sử", mà chắc chắn không ít người mãi đến nay còn nghi ngờ!

- ông Vũ Đình Hòe đã khẳng định với giáo sư Furuta Motoo như vậy Qua đó,

có thể nói, nhân sĩ, trí thức trong và ngoài nước đi theo cách mạng vì Hồ Chí Minh đồng thời vì Hồ Chí Minh mà nhân sĩ trí thức đã đi theo cách mạng

Quả thật, với vai trò "dẫn đường", Hồ Chí Minh là vị lãnh đạo gương mẫu, chuẩn mực, linh hoạt và khoan dung nhân ái biết yêu thương, tin cẩn tôn trọng

Trang 38

con người nhất, nên Hồ Chí Minh đã rất thành công trong việc: đem tài dân, sức dân, của dân mà làm lợi cho dân

+ Đối với bạn bè quốc tế: có tinh thần quốc tế trong sáng, đoàn kết và

giúp đỡ

Hồ Chí Minh là một nhà chính trị lỗi lạc, là bậc thầy về tổ chức lực lượng cách mạng Người đã thấy một sức mạnh lớn lao của việc đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế Do vậy, trong quan hệ đối ngoại, Hồ Chí Minh luôn cố gắng xây dựng, mở rộng mối quan hệ hữu nghị với bạn bè quốc tế trên tinh thần quốc tế trong sáng, cùng nhau đoàn kết và giúp đỡ Tư tưởng về tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung của Hồ Chí Minh có nội dung rộng lớn, sâu sắc Đó là sự tôn trọng và thương yêu tất cả các dân tộc, nhân dân các nước, chống sự hằn thù, bất bình đẳng dân tộc Người chủ trương theo đuổi khẩu hiệu "bốn phương vô sản đều là anh em" trong quan hệ quốc tế Với tinh thần giúp bạn là giúp mình, thắng lợi của mình cũng là thắng lợi của nhân dân thế giới Hồ Chí Minh đã có công lao to lớn trong việc xây đắp tình đoàn kết quốc tế trong sáng, tạo ra một kiểu quan hệ quốc tế mới lấy đối thoại thay cho đối đầu, kiến tạo một nền văn hóa hòa bình trên thế giới Chính vì thế Hồ Chí Minh đã được thế giới biết đến và ca ngợi, tôn vinh với danh hiệu danh nhân văn hóa thế giới

- Triết lý nhân sinh trong thang giá trị đạo đức của Hồ Chí Minh

Trung với nước, hiếu với dân là một triết lý hiện sinh, nhân văn, tiến

bộ (khác với quan niệm về trung - hiếu trong thời phong kiến) Đây là chuẩn mực đạo đức có ý nghĩa quan trọng hàng đầu, đồng thời cũng là một cuộc cách mạng trong quan niệm về đạo đức của Hồ Chí Minh Trên cơ sở khái niệm đạo đức về "trung" và "hiếu" của nho giáo - trung với vua là bổn phận của dân đối với vua, hiếu với cha mẹ là bổn phận của con cái đối với cha mẹ -

Hồ Chí Minh đã lật ngược và xây dựng quan niệm đạo đức mới, phù hợp với thời đại, bổn phận, trách nhiệm của con người mới Quan niệm đạo đức này

Trang 39

của Hồ Chí Minh mới thật sự phù hợp, phản ánh đúng tư tưởng lấy dân làm gốc - dân là chủ của nước vì vậy phải lấy lợi ích, cuộc sống hạnh phúc của nhân dân làm gốc Nó khác biệt hoàn toàn với tư tưởng trong các triều đại phong kiến - lấy dân làm gốc chỉ là lấy sức dân làm gốc, lấy sức dân phụng sự cho lợi ích, hạnh phúc, ngai vàng của vua chúa

Cần, kiệm, liêm, chính - bốn đức tính, yêu cầu cụ thể khi giải quyết công việc đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau như một cây phải có đầy đủ gốc rễ, cành lá, hoa quả mới hoàn chỉnh Cần mà không kiệm giống như một chiếc thùng không đáy Kiệm mà không cần thì lấy gì mà kiệm Cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính Người cán bộ không giữ được cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân Cần kiệm, liêm, chính còn

là thước đo sự giàu có về vật chất, vững mạnh về tinh thần, văn minh tiến bộ của một dân tộc, nền tảng đời sống mới, của thi đua yêu nước

Qua đó, chúng ta thấy các cặp phạm trù trong thang giá trị đạo đức của Hồ Chí Minh được sắp xếp theo cặp, song hành, bổ sung, nảy sinh, chứa đựng cho nhau, không thể thiếu nhau như quy luật của trời đất vậy- Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông; đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc; người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính; thiếu một mùa không thành trời, thiếu một phương không thành đất, thiếu một đức không thành người "Cần, kiệm, liêm, chính chí công vô tư là biểu hiện cụ thể sinh động của phẩm chất

"trung với nước, hiếu với dân" Hồ Chí Minh chỉ rõ: không rèn luyện đạo đức mới, chúng ta không thể tiến bộ và hòa chung cùng trào lưu cách mạng được

Hồ Chí Minh phân tích: đạo đức cách mạng so với đạo đức phong kiến hoàn toàn khác nhau Người ví: Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngẩng lên trời Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi của chúng Ngày nay, ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ

Trang 40

thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước cho dân Hồ Chí Minh còn giải thích cặn kẽ thêm: cần là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai… dù khó khăn đến mấy cũng làm được Do đó, người siêng năng thì tiến

bộ, cả nhà siêng năng chắc ấm no, cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh, cả nước siêng năng thì nước giàu mạnh Nhưng "cần" chỉ được phát huy sức mạnh khi biết tính toán, sắp đặt, bố trí công việc có kế hoạch mới không tốn thời gian, sức lực, tiền của Trong đó, việc gì gấp gáp làm trước, việc gì hoãn được làm sau, người có năng lực gì thì làm việc ấy Cho nên, cần và chuyên phải đi đôi với nhau Chuyên nghĩa là dẻo dai, bền bỉ Nếu không hiểu đúng nghĩa của chữ cần dẫn đến làm ráng, làm cố sinh bệnh bỏ việc không phải là cần Vì thế, cần là luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ cả năm cả đời nhưng không làm quá trớn; phải biết nuôi dưỡng tinh thần, sức lực của mình, để làm việc cho lâu dài Những lời nhẹ nhàng giản dị mà sâu sắc đó của Người không thuần túy chỉ là lời dạy bảo mà còn như một kế sách giữ gìn lực lượng, sức lực, trí tuệ cho chính mỗi người Nó làm ta nhớ đến kế sách "khoan thư sức dân" đầy tính nhân nghĩa của Nguyễn Trãi Kế sách ấy là bảo bối cần được Đảng, Nhà nước cũng như các cấp lãnh đạo vận dụng thật hợp tình hợp lý Có như vậy mới không lãng phí nhân tài, mới thu hút và quy tụ được hiền tài cho quốc gia dân tộc như Hồ Chí Minh đã từng làm

1.2.3 Những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh

- Nguyên tắc tự giáo dục

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức mới - đạo đức cách mạng khác với đạo đức cũ ở chỗ nó gắn liền với cuộc sống sinh động của đời sống xã hội, tiến trình cách mạng, thiết thực phục vụ cách mạng phục vụ nhân dân Vì thế, việc

tu dưỡng, rèn luyện đạo đức trước hết phải xuất phát từ sự chủ động tích cực của bản thân mỗi người Nghĩa là phải xuất phát từ nhu cầu tự hoàn thiện mình của chúng ta Muốn vậy, không có cách nào khác hơn là phải tự mình

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2003
2. Hoàng Chí Bảo (2005), Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2005
3. Hoàng Chí Bảo (2007), Văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2007
4. Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý (2005), Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành Tư pháp, Kỷ yếu hội thảo, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành Tư pháp
Tác giả: Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2005
5. Nguyễn Đăng Dung (Chủ biên), Bùi Ngọc Sơn, Nguyễn Mạnh Tường (2007), Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung (Chủ biên), Bùi Ngọc Sơn, Nguyễn Mạnh Tường
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
6. Đinh Xuân Dũng (Chủ biên), Phạm Viết Thực, Nghiêm Huyền Vũ (bổ sung) (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh Xuân Dũng (Chủ biên), Phạm Viết Thực, Nghiêm Huyền Vũ (bổ sung) (2005), "Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
Tác giả: Đinh Xuân Dũng (Chủ biên), Phạm Viết Thực, Nghiêm Huyền Vũ (bổ sung)
Năm: 2005
7. Đại Việt sử ký toàn thư (1993), tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Đại Việt sử ký toàn thư
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1993
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành trung ương lần thứ 8 khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành trung ương lần thứ 8 khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 3, khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 3, khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 5 khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 5 khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
16. Nguyễn Đức Đạt (2005), Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Đức Đạt
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
17. Nguyễn Minh Đoan (2009), Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội
Tác giả: Nguyễn Minh Đoan
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
18. Giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên theo đạo đức cách mạng, phong cách tư duy khoa học Hồ Chí Minh (2005), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên theo đạo đức cách mạng, phong cách tư duy khoa học Hồ Chí Minh
Tác giả: Giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên theo đạo đức cách mạng, phong cách tư duy khoa học Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2005
19. Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980 và 1992) (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980 và 1992)
Tác giả: Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980 và 1992)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
20. Phạm Đức Hòa (2008), Tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật
Tác giả: Phạm Đức Hòa
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w