1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa

131 1,1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số có vai trò trong việc thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm công bằng, xã hội 42 1.4.3.. Trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số là

Trang 1

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2012

Có thể tìm hiểu luận văn tại Trung tâm tư liệu - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội Trung tâm tư

liệu - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 2

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các bảng

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÖP PHÁP LÝ VÀ TRỢ GIÖP

PHÁP LÝ CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY

9

1.1 Quyền được trợ giúp pháp lý của công dân trong nhà nước

pháp quyền

9

1.2 Cơ sở lý luận về trợ giúp pháp lý 13

1.2.1 Khái niệm trợ giúp pháp lý 13 1.2.2 Chủ thể thực hiện và đối tượng trợ giúp pháp lý 16 1.2.3 Hình thức, lĩnh vực trợ giúp pháp lý 21 1.3 Cơ sở lý luận về dân tộc thiểu số và trợ giúp pháp lý cho đồng

bào dân tộc thiểu số

nâng cao ý thức pháp luật cho người dân tộc thiểu số

42

Trang 3

1.4.2 Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số có vai trò trong

việc thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm công bằng, xã hội

42

1.4.3 Trợ giúp pháp lý góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

cho đồng bào dân tộc thiểu số

43

1.4.4 Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số góp phần tăng

cường đoàn kết toàn dân, thực hiện chiến lược "xóa đói, giảm

nghèo" của Chính phủ

43

1.4.5 Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số góp phần cải cách

hành chính, thực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa

43

Chương 2: THỰC TRẠNG TRỢ GIÖP PHÁP LÝ CHO ĐỒNG BÀO

DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA

46

2.1 Một số đặc điểm kinh tế, xã hội ở tỉnh thanh hóa ảnh hưởng

đến trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số

2.2.1 Khái quát tình hình thực trạng trợ giúp pháp lý ở Thanh Hóa

trong thời gian qua

49

2.2.2 Đánh giá thực trạng công tác trợ giúp pháp lý cho đồng bào

dân tộc thiểu số ở Thanh Hóa thời gian qua

79

2.2.3 Nguyên nhân, bài học kinh nghiệm của công tác trợ giúp pháp

lý ở Thanh Hóa

83

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TRỢ GIÖP PHÁP LÝ CHO

ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY

87

3.1 Quan điểm chỉ đạo về trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc

thiểu số ở Thanh Hóa

87

Trang 4

3.2 Những yêu cầu khách quan đòi hỏi việc trợ giúp pháp lý cho

đồng bào thiểu số ở tỉnh Thanh Hóa

96

3.3 Các giải pháp bảo đảm trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc

thiểu số tỉnh Thanh Hóa

102

3.3.1 Nâng cao trình độ năng lực chuyên môn, bồi dưỡng phẩm chất

đạo đức nguồn nhân lực thực hiện trợ giúp pháp lý

102

3.3.2 Giáo dục kỹ năng sống cho người dân tộc thiểu số 104 3.3.3 Vận dụng phù hợp và linh hoạt các hình thức trợ giúp pháp lý 104 3.3.4 Tăng cường sự phối hợp giữa Nhà nước và các tổ chức chính

trị - xã hội trong việc trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số

105

3.3.5 Tăng cường nguồn tài chính phục vụ trợ giúp pháp lý 106 3.3.6 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc trợ giúp pháp lý 107 3.3.7 Tăng cường sự quản lý của Nhà nước đối với việc trợ giúp

Trang 5

năm gần đây

67

2.6 Dân số người Mường ở các huyện miền núi Thanh Hóa 68 2.7 Dân số người Thái ở các huyện miền núi Thanh Hóa 69 2.8 Dân số người Thổ ở miền núi Thanh Hóa 70 2.9 Bảng tổng hợp đối tượng được Trung tâm trợ giúp pháp

lý, Cục trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý từ năm

1997- 2007

71

2.10 Bảng tổng hợp hình thức trợ giúp pháp lý do Trung tâm

trợ giúp pháp lý, cục trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp

pháp lý từ năm 1997- 2007

73

2.11 Bảng tổng hợp đối tượng trợ giúp pháp lý do Trung tâm

trợ giúp pháp lý Thanh Hóa thực hiện từ năm 2007 đến 6

tháng đầu năm 2011

74

2.12 Bảng tổng hợp lĩnh vực trợ giúp pháp lý do Trung tâm trợ

giúp pháp lý Thanh Hóa thực hiện từ năm 2007- 6 tháng

đầu năm 2011

75

2.13 Bảng tổng hợp hình thức trợ giúp pháp lý do Trung tâm

trợ giúp pháp lý Thanh Hóa thực hiện từ năm 2007- 6

tháng đầu năm 2011

75

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, hơn hai mươi năm qua nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng trên mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội Nhà nước ta đang ngày một khẳng định mình trên con đường xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Một nhà nước mà quyền lợi con người luôn được bảo đảm, bảo vệ

và tất cả đều tuân theo pháp luật Để thiết lập một nền pháp chế thống nhất và vững chắc trên phạm vi cả nước; để thiết lập trật tự pháp luật, kỷ cương phép nước được nghiêm minh, dân chủ và công bằng, có rất nhiều con đường với nhiều giải pháp phong phú Trong đó, phải kể đến giải pháp trước mắt và lâu dài đảm bảo việc thực hiện pháp luật trở thành lối sống, thói quen của Nhà nước và nhân dân Tiến tới ai cũng hiểu và vận dụng pháp luật vào cuộc sống của mình, để từ đó tự bảo vệ mình hoặc thông qua những người hiểu biết pháp luật tư vấn, trợ giúp những vấn đề liên quan tới pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho họ

Bên cạnh đó, chủ trương phát triển kinh tế gắn liền với tiến bộ, công bằng xã hội, giảm chênh lệch giàu, nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, làm cơ sở hình thành tương đối đồng bộ các chính sách

xã hội với mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Ngày 14 tháng 01 năm 2011 Chính phủ ban hành Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc nhằm đảm bảo và thúc đẩy sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, tôn trọng và giữ gìn bản sắc văn hóa của các dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đây là giai đoạn Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm tới đồng bào các dân tộc trên cả nước nhất là dân tộc thiểu số sống trên các khu

Trang 7

vực có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn để tạo điều kiện cho đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển về mọi mặt, bảo đảm và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ

Trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số là biện pháp pháp lý trong việc thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, của dân, do dân, vì dân, đòi hỏi tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật; theo nguyên tắc Hiến định:

"Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật"

Ở nước ta, có rất nhiều đối tượng cần được hưởng các dịch vụ tư vấn pháp luật, song họ ít hoặc không có tiền nên phải được ưu tiên bằng việc được trợ giúp pháp lý miễn phí, không phải trả tiền công Vì vậy, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ đạo: Mở rộng loại hình tư vấn pháp luật phổ thông, đáp ứng nhu cầu rộng rãi, đa dạng của các tầng lớp nhân dân nhằm góp phần nâng cao ý thức pháp luật và ứng xử pháp luật của công dân trong quan hệ đời sống hàng ngày cần nghiên cứu hệ thống dịch vụ tư vấn pháp luật không lấy tiền để hướng dẫn nhân dân sống và làm việc theo pháp luật

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII tiếp tục khẳng định cần: "tạo điều kiện cho người nghèo được hưởng dịch vụ tư vấn pháp luật miễn phí " [19]

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách Đặc biệt là, ngày 29/6/2006, Luật Trợ giúp pháp lý đã được

kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XI thông qua, theo đó ngày 12/01/2007 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 07/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một

số điều của Luật trợ giúp pháp lý Như vậy, ở Việt Nam pháp luật về trợ giúp

Trang 8

pháp lý đã được xây dựng và có thể coi là khá hoàn chỉnh Vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện pháp luật ấy trong đời sống xã hội

Đồng bào dân tộc thiểu số là những đối tượng được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm vì sự phát triển chung của cả dân tộc; nên để cho người dân tộc thiểu số được tiếp cận pháp luật, được cung cấp thông tin về pháp luật, qua đó họ sẽ tự bảo vệ mình và được các cơ quan của nhà nước bảo vệ đó là yêu cầu tất yếu Vì vậy, trợ giúp pháp lý cho họ là một nghiên cứu cần thiết

Trợ giúp pháp lý đã hỗ trợ một bộ phận không nhỏ dân cư là người nghèo, các đối tượng chính sách, đồng bào thiểu số sống ở những vùng điều kiện khó khăn biết cách bảo vệ mình hoặc biết vận dụng pháp luật vào cuộc sống Hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào các dân tộc thiểu số thời gian qua đã có những đóng góp quan trọng vào việc phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật miễn phí cho hàng triệu người Trợ giúp pháp lý tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực pháp luật như: Dân sự, hôn nhân - gia đình, đất đai, việc làm và các chế độ chính sách Nhiều vụ việc phức tạp, vượt cấp, kéo dài nhiều năm, đã được các tổ chức trợ giúp pháp lý hướng dẫn, giải quyết dứt điểm; trật tự an toàn xã hội, an ninh được giữ vững; thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Vì thế, tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa được khẳng định trong thực tế cuộc sống; niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước không ngừng được củng cố và nâng cao

Tuy nhiên, trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số là một lĩnh vực còn nhiều hạn chế, bất cập do nhiều nguyên nhân cả về khách quan và chủ quan Việc thành lập và quản lý các tổ chức trợ giúp pháp lý còn lỏng lẻo, thủ tục, trình tự được thụ hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý còn bất cập, nhận thức về pháp luật của người đồng bào dân tộc thiểu số còn thấp và không đồng đều Cách thức, biện pháp trợ giúp còn chưa hiệu quả, đối tượng trợ giúp và người cần trợ giúp chưa gắn kết với nhau

Trang 9

Thanh Hóa là một tỉnh đông dân, theo số liệu thống kê năm 2009, dân

số trên 3,7 triệu người Trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm một tỉ lệ đáng kể và do thiếu kiến thức pháp luật và thiếu hiểu biết nên họ không biết cách tự bảo vệ quyền lợi của mình cũng như gây ra những vụ án nghiêm trọng ảnh hưởng tới chính bản thân, gia đình và xã hội Vì vậy, giúp họ hiểu các kiến thức về pháp luật cũng như trợ giúp pháp lý cho đồng bào thiểu số được đặt ra cả về mặt lý luận và thực tiễn, cũng như việc đề xuất các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật trên lĩnh vực này

Với những lý do phân tích trên, tôi chọn đề tài: "Trợ giúp pháp lý cho

đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa " làm luận văn thạc

sĩ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Thực hiện pháp luật là một trong các lĩnh vực pháp lý cụ thể nói chung, trợ giúp pháp lý đã và đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều

cơ quan nghiên cứu khoa học, các nhà khoa học pháp lý

Qua tìm hiểu các công trình khoa học đã được công bố trong nước về trợ giúp pháp lý, trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội; có các công trình sau đây:

Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu về thực hiện pháp luật nói

chung Ở nhóm này, các tài liệu và giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật đều thống nhất về khái niệm, các hình thức thực hiện pháp luật Đặc biệt là hình thức áp dụng pháp luật, cụ thể là khái niệm, căn cứ, các bước, trình tự, thủ tục áp dụng pháp luật Tiêu biểu là:

- Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Khoa luật - Đại

học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2007

- Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Trường Đại học

Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2002

Trang 10

- Tài liệu học tập và nghiên cứu môn lý luận chung về nhà nước và

pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Khoa Nhà nước và pháp

luật, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004

- Tài liệu phục vụ học tập và nghiên cứu môn lý luận chung về nhà

nước và pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Nhà nước

và pháp luật, Hà Nội, 2005

Nhóm thứ hai: Bao gồm các công trình nghiên cứu về quản lý nhà

nước bằng pháp luật đối với hoạt động trợ giúp pháp lý Tiêu biểu là:

"Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động trợ giúp pháp lý

ở Việt Nam hiện nay", Luận án Tiến sĩ Luật học của Nguyễn Văn Tùng, Học

viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2007

Nhóm thứ ba: Bao gồm các công trình nghiên cứu thực hiện pháp luật

về trợ giúp pháp lý Tiêu biểu cho nhóm này là công trình sau đây:

- "Phương hướng xây dựng luật trợ giúp pháp lý" của TS Đinh Trung

Tụng, Tập san Trợ giúp pháp lý, 2006

- "Khái niệm trợ giúp pháp lý một số vấn đề cần bàn thêm" của Tạ

Minh Lý, Đặc san Trợ giúp pháp lý, 2006

- "Một số vấn đề về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng

chính sách" của TS Trần Huy Liệu, Thông tin Khoa học pháp lý, 2005

- "Hoàn thiện pháp luật về người thực hiện trợ giúp pháp lý ở Việt

Nam", Luận văn thạc sĩ Luật học của Vũ Hồng Tuyến, Trường Đại học Luật

Hà Nội, 2004

- "Báo cáo tổng kết 10 năm công tác trợ giúp pháp lý cho người nghèo

và đối tượng chính sách" Bộ Tư pháp, năm 2007, Báo cáo ngày 20/11/2007

- "Báo cáo tổng kết 10 năm hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo

và đối tượng chính sách ở tỉnh Thanh Hóa", Sở Tư pháp Thanh Hóa, 2007

Trang 11

- "Tìm kiếm mô hình phổ biến giáo dục pháp luật có hiệu quả trong một số dân tộc ít người", đề tài khoa học cấp Bộ của Viện Nghiên cứu Khoa

học pháp lý;

- "Xây dựng lối sống theo pháp luật và vấn đề giáo dục pháp luật

trong nhà trường", Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 11/2001, v.v

Các công trình trên đã nghiên cứu quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý; trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội ở tầm vĩ

mô, tức là ở phạm vi toàn quốc Cùng các công trình nghiên cứu khoa học của tập thể và cá nhân, các bài viết từ trước đến nay đã có những đóng góp quan trọng về lý luận và thực tiễn Trong giai đoạn hiện nay cần phải chú trọng đúng mức và cấp thiết của hoạt động trợ giúp pháp lý, đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng để góp phần vào việc ổn định tình hình và phát triển kinh tế - xã hội ở một tỉnh Thanh Hóa

Vì vậy, đây có thể được coi là đóng góp mới, nghiên cứu về lý luận và thực tiễn hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào thiểu số ở tỉnh Thanh Hóa Tuy nhiên, để nghiên cứu, thực hiện đề tài này, cần phải kế thừa, vận dụng những kết quả nghiên cứu của các công trình nêu trên

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Luận văn góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số trong tình hình mới Trên cơ sở đánh giá thực trạng việc trợ giúp pháp lý cho đồng bào thiểu số ở tỉnh Thanh Hóa trong thời gian gần đây; để xác định quan điểm, giải pháp bảo đảm nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý ở tỉnh Thanh Hóa

3.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau đây:

Trang 12

- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận, xác định khái niệm, nội dung pháp

luật về trợ giúp pháp lý Khái niệm về đối tượng được trợ giúp là đồng bào dân tộc thiểu số

- Làm rõ vai trò của việc trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số

- Khái quát tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh ảnh hưởng đến hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào thiểu số ở tỉnh Thanh Hóa

- Đánh giá thực trạng hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào thiểu số;

- Làm rõ nguyên nhân của những kết quả và những tồn tại, yếu kém trong hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số

- Đưa ra các kiến nghị, cũng như các giải pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Thanh Hóa

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu đối tượng cần được trợ giúp pháp lý là đồng bào thiểu số trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

- Nghiên cứu các dạng thức trợ giúp pháp lý có tính chất lý thuyết và vai trò của nó trong thực tiễn

- Tổng kết thực tiễn hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào thiểu số

ở tỉnh Thanh Hóa, nguyên nhân của kết quả và nguyên nhân của hạn chế, yếu kém Từ đó đề xuất một số giải pháp bảo đảm khắc phục sự yếu kém đó cũng như đưa ra một số giải pháp bảo đảm toàn diện, thiết thực và hiệu quả hơn cho hoạt động trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Vận dụng lý luận chung về hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào thiểu số

Trang 13

Vì vậy, luận văn chỉ đi sâu vào hoạt động trợ giúp pháp lý và luận chứng vai trò thực tiễn của hoạt động này đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Thanh Hóa trong thời gian gần đây

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và

tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và chính sách xã hội của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đề tài này được thực hiện trên nền tảng lý luận về Nhà nước và pháp luật nói chung; về trợ giúp pháp lý nói riêng Đồng thời căn cứ vào việc tổng kết có tính khoa học về thực tiễn thực hiện chính sách xã hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp luận của triết học mácxít cả về chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Đồng thời, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể của các ngành khoa học đó là các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp lịch sử cụ thể, phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, điều tra xã hội học

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Luận văn góp phần đánh giá, phân tích làm rõ hơn cơ sở lý luận về khái niệm, nội dung về hoạt động trợ giúp pháp lý; hình thức trợ giúp pháp lý; vai trò của trợ giúp pháp lý cho đồng bào thiểu số

- Luận văn tập trung phân tích đánh giá khách quan, khoa học về trợ giúp pháp lý cho đồng bào thiểu số Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra quan điểm

và giải pháp để trợ giúp pháp lý cho đồng bào thiểu số ở tỉnh Thanh Hóa ngày càng đạt kết quả cao

7 Kết cấu của luận văn

Trang 14

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 9 tiết

Trang 15

1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 Điều 50 Hiến pháp năm

1992 của nước ta khẳng định: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng và bảo đảm thực hiện" [48] Gần đây nhất, vấn đề nhân quyền đã được tiếp tục khẳng định trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng: "Chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người; tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia" [21]

Nước ta đang trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thì việc bảo vệ quyền con người lại càng có ý nghĩa to lớn hơn bao giờ hết Người công dân trong mối quan hệ với Nhà nước pháp quyền là con người, mà các quyền cơ bản, thiêng liêng nhất như quyền được sống, quyền bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền sở hữu tài sản v.v…, được Nhà nước bảo vệ bằng pháp luật Nhà nước cam kết, tôn trọng trên thực tế và bằng pháp luật các quyền, lợi ích hợp pháp,

Trang 16

danh dự và nhân phẩm của công dân Con người được sống trong công lý và

lẽ phải Pháp luật là phương tiện để con người đạt tới tự do Trong Nhà nước pháp quyền, quyền con người, quyền công dân được xác lập về mặt pháp lý, tạo cơ sở cho việc xây dựng một xã hội bình đẳng và công bằng Các quyền

đó được mở rộng và nâng cao bao nhiêu thì quyền hạn Nhà nước bị giới hạn

và bị kiểm soát chặt chẽ bấy nhiêu Cá nhân được sở hữu tất cả những gì thuộc về mình Công dân là cái tối đa, Nhà nước là cái tối thiểu Nhà nước tối thiểu là Nhà nước của tự do - với nghĩa rộng khả năng tự trị, hưởng thụ cá nhân, tham dự vào quyền lực xã hội, không ai bị nô dịch và cũng không áp đặt

ý chí của mình cho người khác Con người được đặt vào vị trí công dân với các quyền, nghĩa vụ pháp lý, con người trở thành yếu tố cơ bản nhất của sự phát triển xã hội Vì vậy bảo vệ quyền con người, quyền công dân là nghĩa vụ của nhà nước và của chính cá nhân công dân Nếu quyền lợi của mọi người dân được bảo đảm và bảo vệ thì nhà nước đó mới chính là nhà nước mà chúng

ta hướng tới Đặc biệt là những nhóm người yếu thế trong xã hội thì càng phải được nhà nước, các tổ chức xã hội quan tâm và bảo vệ hơn nữa; đó là trẻ em, phụ nữ, người già neo đơn, người khuyết tật, người nghèo, người dân tộc thiểu số… Đây chính là nhóm người dễ bị tổn thương và quyền lợi hay bị xâm phạm nhất Do vậy khi xây dựng nhà nước pháp quyền xã hôi chủ nghĩa thì quyền được tiếp cận pháp luật, quyền được hưởng dịch vụ pháp luật của tất cả người dân phải được đáp ứng

Thực tiễn tư pháp và bảo đảm quyền con người trên thế giới đã cho thấy, hoạt động trợ giúp pháp lý có tầm quan trọng đặc biệt trong việc bảo đảm và hiện thực hóa các quyền con người ở Việt Nam, điều này càng cần thiết, nhất là trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà người nghèo, vùng sâu, vùng xa và đối tượng chính sách chiếm một tỷ lệ tương đối lớn

Quyền được trợ giúp pháp lý hay quyền tiếp cận trợ giúp pháp lý là một quyền cơ bản trong hệ thống quyền con người, là một quyền cụ thể của

Trang 17

quyền tiếp cận tư pháp (hay quyền tiếp cận công lý) Nội hàm của nó là những yêu sách chính đáng của cá nhân hoặc nhóm người nhất định về việc được tiếp cận hệ thống dịch vụ và tư vấn pháp lý miễn phí dựa trên quy định của pháp luật Quyền được trợ giúp pháp lý khác với hoạt động trợ giúp pháp lý ở chỗ, đó

là phạm trù dùng để chỉ khả năng và năng lực của chủ thể thụ hưởng sự trợ giúp pháp lý được pháp luật bảo đảm; trong khi đó, hoạt động trợ giúp pháp lý chỉ

hệ thống và cách thức cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý Chủ thể của quyền trợ giúp pháp lý là cá nhân Chủ thể của hoạt động trợ giúp pháp lý là nhà nước và xã hội Hoạt động trợ giúp pháp lý có hiệu quả hay không tùy thuộc vào cơ chế thực thi nó và việc xây dựng các kế hoạch, chương trình hành động dựa trên quyền và lợi ích của đối tượng thụ hưởng làm xuất phát điểm, đồng thời làm phương tiện và mục đích cho toàn bộ hoạt động trợ giúp pháp lý

Quyền tiếp cận tư pháp nói chung và tiếp cận trợ giúp pháp lý nói riêng được quy định tại một số công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn như: Công ước quốc tế về các quyền dân sự - chính trị năm 1966, Công ước về xóa

bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và Công ước quốc tế về quyền trẻ em

Quyền được trợ giúp pháp lý được ghi nhận đầy đủ trong hệ thống pháp luật Việt Nam Điều 50 của Hiến pháp năm 1992 khẳng định ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân

sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được tôn trọng và bảo đảm

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Chương IV về người tham gia tố tụng có những quy định về bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của công dân Chẳng hạn, Khoản 2, Điều 57 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định quyền được có người bào chữa; Điều 62 nhấn mạnh rằng cơ quan, người tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải thích và bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này Đặc biệt,

Bộ luật Tố tụng hình sự đã có quy định về việc các cơ quan tố tụng cần phải

Trang 18

bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý cho những đối tượng cụ thể, như người

bị khởi tố, xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật Hình sự, người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hay thể chất Chẳng hạn, Khoản 2, Điều 305 của Bộ luật khẳng định:

Trong trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc người đại diện hợp pháp của họ không lựa chọn được người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho

họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình [50]

Với sự ra đời của Luật trợ giúp pháp lý và Luật Luật sư năm 2006, quyền tiếp cận trợ giúp pháp lý được nêu trong các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên một lần nữa đã được nội luật hóa và được bảo đảm tương đối đầy đủ trong hệ thống pháp luật quốc gia

Thêm nữa, Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, theo tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị, đã đặc biệt nhấn mạnh đến việc tăng cường vai trò và chất lượng của hệ thống tư pháp trong việc bảo đảm quyền con người ở nước ta Chiến lược này cũng chú trọng vào việc tăng cường năng lực của cán bộ tư pháp, xây dựng nền tư pháp độc lập, vững mạnh và nâng cao vai trò của luật sư như là một điều kiện quan trọng cho việc bảo đảm tốt quyền tiếp cận công lý và trợ giúp pháp lý của người dân

Để có thể bảo vệ, bảo đảm quyền lợi của người dân đặc biệt là những nhóm người dễ bị tổn thương thì nhà nước cần phải có hệ thống pháp luật toàn diện và đầy đủ Pháp luật là hệ thống quy phạm pháp luật thể chế hoá toàng lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân lao động, được Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện trên cơ sở giáo dục, thuyết phục

Trang 19

nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đặc biệt là phải có những luật, văn bản dưới luật quy định cụ thể và hướng dẫn chi tiết về tất cả các lĩnh vực để giúp người dân có thể hiểu về quyền lợi và nghĩa

vụ qua đó có thể tự thực hiện nghĩa vụ và tự bảo vệ quyền lợi cho mình Nếu như người dân không thể tự bảo vệ mình thì có thể được trợ giúp pháp lý từ những người có kiến thức về pháp luật, có chuyên môn về luật; đó là những người thực hiện trợ giúp pháp lý

Trợ giúp pháp lý nhằm giúp đỡ các đối tượng hiểu rõ nội dung bản chất các quy phạm pháp luật để họ lựa chọn phương pháp xử sự đúng theo pháp luật và có lợi

Trợ giúp pháp lý nhằm cảnh báo họ để họ hiểu biết pháp luật mà không thực hiện các hành vi trái pháp luật, tránh được các vi phạm pháp luật

và các trách nhiệm pháp lý dẫn đến hậu quả bất lợi cho họ

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÖP PHÁP LÝ

1.2.1 Khái niệm trợ giúp pháp lý

Khái niệm trợ giúp pháp lý là vấn đề rất quan trọng trong thực hiện pháp luật Chính vì vậy, từ khái niệm trợ giúp pháp lý cho ta cơ sở để nghiên cứu những vấn đề về lý luận cũng như về thực tiễn thực hiện pháp luật trợ giúp pháp lý

Khái niệm trợ giúp pháp lý, diễn đạt và vận dụng vào từng lĩnh vực khác nhau, có cách giải thích khác nhau Theo Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, 2001, thì khái niệm "trợ giúp" được hiểu là "giúp đỡ" [62, tr.767], pháp lý tức là "nguyên lý về pháp luật " [62, tr 1045] Theo Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Lân, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2005 thì "trợ giúp " là giúp đỡ" như nông dân bị mất mùa do lũ lụt, Nhà nước cấp lúa giống, con giống cho nông dân để tiếp tục sản xuất không thu tiền [37, tr 1923], còn về "pháp lý" là "nguyên lý của pháp luật" [37, tr 1431] Theo Đại từ điển

Trang 20

Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý, Nxb Văn hóa - Thông tin, 1998, thì "trợ giúp" hiểu là "sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem lại cho ai cái gì, đang lúc khó khăn, đang lúc cần đến", thuật ngữ "pháp lý " được hiểu là lý lẽ,

lẽ phải theo pháp luật, nói một cách khái quát pháp lý là lí luận [63]; theo Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp - Nxb Từ điển Bách khoa, 2006, thì pháp lý:

"những khía cạnh, phương diện khác nhau của đời sống pháp luật của một quốc gia, "pháp lý" chỉ những lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật, giá trị pháp lý bắt buộc từ một sự việc, hiện tượng xã hội, những nguyên lý, phạm trù, khái niệm

lý luận về pháp luật" [55, tr 606] Do vậy, dù là "giúp đỡ", "bảo trợ" hay là

hỗ trợ cũng có thể được hiểu là "trợ giúp" Ở đây trợ giúp được hiểu là sự giúp đỡ cho ai đó đang gặp khó khăn, nhằm làm giảm bớt khó khăn về một vấn đề mà họ đang cần, cái họ đang cần ở đây là "pháp lý"

Nghiên cứu một số nước trên thế giới về khái niệm trợ giúp pháp lý như: Vương quốc Anh, Hà Lan, Thụy Điển, Trung Quốc xét thấy, các nhà khoa học pháp lý đều lấy lí luận về dân chủ, nhân quyền làm nền tảng, họ đánh giá trợ giúp pháp lý là một đảm bảo cho công dân có hoàn cảnh khó khăn, không

có điều kiện tiếp cận và sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của mình theo quy định của pháp luật Mặc dù hình thức diễn đạt khác nhau về khái niệm trợ giúp pháp lý, nhưng các khái niệm này đều thể hiện

rõ 4 nội dung trợ giúp cơ bản, đó là: pháp lý, kinh tế, xã hội và nhân đạo Về kinh tế, giúp đỡ tất cả hoặc một phần tài chính chi trả cho công dân có hoàn cảnh khó khăn khi tiếp cận với pháp luật và dịch vụ pháp lý thu phí của Luật sư; về pháp lý giúp đỡ công dân giải quyết các vụ liên quan đến pháp luật đụng chạm đến quyền, lợi ích thiết thực của họ; tạo ra sự công bằng khi công dân có hoàn cảnh khó khăn tiếp cận với pháp luật; về xã hội hoạt động trợ giúp pháp lý mang tính xã hội rộng rãi, thể hiện cụ thể là luôn có sự tham gia đông đảo của các lực lượng trong xã hội trong việc phổ biến pháp luật, tạo điều kiện cho người nghèo không ngừng nâng cao nhận thức về pháp luật; về nhân đạo trợ giúp pháp lý đã thể hiện đậm nét tính nhân đạo và nhân văn sâu sắc

Trang 21

Ở Việt Nam, thuật ngữ "Trợ giúp pháp lý" chính thức được quy định trong Quyết định 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách Theo đó thuật ngữ "Trợ giúp pháp lý" xuất hiện phổ biến trên các văn bản pháp luật, sách báo và tạp chí Trong quá trình xây dựng "Luật trợ giúp pháp lý" các nhà khoa học nghiên cứu về trợ giúp pháp lý trên cơ sở tham khảo khái niệm "trợ giúp pháp lý" của một số nước trên thế giới và các quan niệm

về "trợ giúp pháp lý" ở Việt Nam để đưa ra một số khái niệm về "trợ giúp pháp lý" Theo đó khái niệm "trợ giúp pháp lý" được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Theo nghĩa rộng, trợ giúp pháp lý được hiểu là việc thực hiện các dịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước và xã hội cho người nghèo, người được hưởng chính sách ưu đãi và một số đối tượng khác do pháp luật quy định Bằng các hoạt động tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, kiến nghị giải quyết vụ việc và tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân bình đẳng trong tiếp cận pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội

Theo nghĩa hẹp, trợ giúp pháp lý được hiểu là việc thực hiện các dịch

vụ pháp lý miễn phí của các tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước cho người nghèo và người được hưởng chính sách ưu đãi thông qua hình thức tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, kiến nghị giải quyết vụ việc và tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân bình đẳng trong tiếp cận pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội

Khái niệm "trợ giúp pháp lý" nêu trên đã chỉ rõ mục đích của hoạt động trợ giúp pháp lý là nhằm hướng tới bảo đảm thực hiện công bằng xã hội, phù hợp với điều kiện ngân sách Nhà nước phải chi trả cho hoạt động trợ giúp pháp lý Tại Điều 3 Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 quy định: Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người

Trang 22

được trợ giúp pháp lý theo quy định của luật này, giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa,

hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật

Từ phân tích trên, xác định nội dung trợ giúp pháp lý bao gồm:

Thứ nhất, thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý của Trung trâm Trợ

giúp pháp lý nhà nước; tổ chức hành nghề luật sư; tổ chức tư vấn pháp luật và

cá nhân

Thứ hai, thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý miễn phí, tức là

không thu tiền với các hình thức trợ giúp pháp lý như: Tư vấn pháp lý; làm văn bản như làm đơn khiếu nại, tố cáo, các văn bản pháp lý khác cho đối tượng được trợ giúp pháp lý; bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của đối tượng được trợ giúp pháp lý

Thứ ba, đối tượng được trợ giúp pháp lý là người nghèo và đối tượng

chính sách xã hội trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.2 Chủ thể thực hiện và đối tƣợng trợ giúp pháp lý

Trong hoạt động trợ giúp pháp lý những người (cá nhân, tổ chức) theo chức năng của mình tham gia vào việc hướng dẫn, tư vấn pháp luật, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của đối tượng được trợ giúp pháp lý… là chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý, những người được hưởng các dịch vụ tư vấn pháp luật, được bào chữa, được hướng dẫn làm các thủ tục, giấy tờ liên quan… gọi là (đối tượng)

1.2.2.1 Chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý

Theo Từ điển Tiếng Việt: Chủ thể nói chung được hiểu "là đối tượng gây ra hành động mang tính tác động trong quan hệ đối lập với đối tượng bị chi phối bởi hành động tác động, gọi là khách thể" [62, tr 130] Vận dụng vào trợ

Trang 23

giúp pháp lý, có thể hiểu chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý là những người hoạt động tư vấn pháp luật, bào chữa, giúp đỡ thực hiện các hoạt động liên quan tới pháp luật Hay nói khác đi thì chủ thể trợ giúp pháp lý được hiểu là tất cả những người, mà theo chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm xã hội đã tham gia góp phần vào việc thực hiện các hoạt động trợ giúp pháp lý Việc xác định chủ thể, đối tượng trợ giúp pháp lý có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn Trong mối quan

hệ và sự tác động qua lại giữa chủ thể và đối tượng trợ giúp pháp lý trong quá trình trợ giúp pháp lý, chủ thể khi tiến hành mọi hoạt động trợ giúp pháp lý thì sự tác động đó có ý thức, có mục đích, có kế hoạch đến đối tượng được trợ giúp Trên cơ sở đó, chủ thể xác định những nhu cầu, khả năng và điều kiện tiếp nhận pháp luật của đối tượng cũng như các yêu cầu đòi hỏi khách quan đối với các chủ thể trợ giúp pháp lý trong việc xác định nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp để trợ giúp pháp lý và tiến hành trợ giúp có hiệu quả cao nhất

Điều 13 Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 quy định các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý là Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước và các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý Trong đó các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý gồm có: Tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật, thuộc tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức chính trị, xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp thực hiện đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý

Theo quy định tại Điều 20, Luật trợ giúp pháp lý năm 2006, người thực hiện trợ giúp pháp lý trợ giúp viên pháp lý và người tham gia trợ giúp pháp lý là cộng tác viên của Trung tâm; Luật sư, tư vấn viên pháp luật làm việc trong các tổ chức tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức chính trị, xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp

Luật trợ giúp pháp lý đã xác định người thực hiện trợ giúp pháp lý phải đáp ứng đầy đủ những điều kiện, tiêu chuẩn nhất định Trợ giúp viên pháp lý theo Điều 21, Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 quy định: là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có đủ tiêu chuẩn sau đây: có năng lực hành

vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt; có bằng cử nhân luật; có Chứng

Trang 24

chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý; có thời gian làm công tác pháp luật

từ hai năm trở lên; có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao

Trợ giúp viên pháp lý là viên chức nhà nước, làm việc tại Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp thẻ Trợ giúp viên pháp lý theo đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp

Người tham gia trợ giúp pháp lý bao gồm: cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; luật sư; tư vấn viên pháp luật làm việc trong tổ chức tư vấn pháp luật Nhận thấy vai trò của người thực hiện trợ giúp pháp lý nên Luật trợ giúp pháp lý chú trọng xây dựng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và đội ngũ cộng tác viên, đồng thời huy động các luật sư, tư vấn viên pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý Đa dạng hóa người thực hiện trợ giúp pháp lý và phù hợp với nguồn lực hiện có của Việt Nam Luật Trợ giúp pháp lý đã pháp điển hóa các quy định pháp luật hiện hành về chế độ cộng tác viên theo hướng

mở rộng thêm những người có bằng đại học khác Điều 22 Luật Trợ giúp pháp lý đã quy định: công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, có đủ sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, tự nguyện tham gia trợ giúp pháp lý mà không thuộc các trường hợp cấm theo quy định tại Điều 20 Luật Trợ giúp pháp lý thì được Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, công nhận và cấp thẻ cộng tác viên Để phù hợp với trình độ chuyên môn, thực hiện việc phân công chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý căn cứ vào tính chất phức tạp của từng vụ việc, Luật Trợ giúp pháp lý quy định cộng tác viên không phải là luật sư chỉ tham gia trợ giúp pháp lý bằng hình thức tư vấn pháp luật

1.2.2.2 Đối tượng trợ giúp pháp lý

Vấn đề đối tượng của trợ giúp pháp lý có quan hệ chặt chẽ với chủ thể, bởi lẽ chủ thể khi tiến hành hoạt động trợ giúp pháp lý thì phải xác định đối tượng

là ai, cơ quan, tổ chức hay cá nhân, công dân nào, trình độ, tuổi tác, giới tính, nghề

Trang 25

nghiệp… Trên cơ sở xác định đúng đắn đối tượng cần trợ giúp pháp lý thì chủ thể mới lựa chọn hình thức và phương pháp thích hợp Chẳng hạn đối tượng là đồng bào các dân tộc ít người thì phải trợ giúp thế nào để có hiệu quả cao nhất, vừa đảm bảo quyền lợi cho họ, vừa giúp họ có những kiến thức pháp luật nhất định

Theo quy định tại Điều 10 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 và Điều 2 Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý thì người được trợ giúp pháp lý gồm:

1 Người nghèo

2 Người có công với cách mạng:

a) Người hoạt động cách mạng trước Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945; b) Bà mẹ Việt Nam anh hùng;

c) Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Anh hùng Lao động;

d) Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;

đ) Bệnh binh;

e) Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học;

g) Người hoạt động cách mạng; người hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tù đày;

h) Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc; bảo vệ Tổ quốc

và làm nghĩa vụ quốc tế;

i) Người có công giúp đỡ cách mạng;

k) Cha, mẹ, vợ, chồng của liệt sỹ; con của liệt sỹ chưa đủ 18 tuổi; người có công nuôi dưỡng liệt sỹ

3 Người già được trợ giúp pháp lý quy định tại khoản 3 Điều 10 Luật Trợ giúp pháp lý là người từ đủ 60 tuổi trở lên sống độc thân hoặc không có nơi nương tựa

Trang 26

4 Người tàn tật được trợ giúp pháp lý quy định tại khoản 3 Điều 10 Luật Trợ giúp pháp lý là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn hoặc là người bị nhiễm chất độc hóa học, bị nhiễm HIV hoặc bị các bệnh khác làm mất năng lực hành vi dân sự mà không có nơi nương tựa

5 Trẻ em được trợ giúp pháp lý quy định tại khoản 3 Điều 10 Luật Trợ giúp pháp lý là người dưới 16 tuổi không nơi nương tựa

6 Người dân tộc thiểu số được trợ giúp pháp lý theo khoản 4 Điều 10 Luật Trợ giúp pháp lý là người thường xuyên sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật

7 Các đối tượng khác được trợ giúp pháp lý theo quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

Đối tượng Luật trợ giúp pháp lý quy định là những người thuộc hộ nghèo được xác định theo chuẩn nghèo do Chính phủ quy định trong từng giai đoạn; những người có công với cách mạng, người già cô đơn không nơi nương tựa, người tàn tật không nơi nương tựa, trẻ em không nơi nương tựa, người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng mà điều kiện kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn, được hưởng các chính sách, chủ trương của Nhà nước, trong

đó họ được quyền hưởng trợ cấp pháp lý miễn phí của Nhà nước và các tổ chức xã hội

Người nghèo: là người thuộc hộ nghèo, được xác định theo chuẩn nghèo

do Thủ tướng Chính phủ quy định trong từng giai đoạn Hộ nghèo được cơ quan nhà nước có thẩm cấp giấy chứng nhận hộ nghèo, tức là sổ hộ nghèo, để

họ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước nói chung và hưởng chính sách trợ giúp pháp lý nói riêng

Đối tượng khác theo quy định tại Điều 10 Luật Trợ giúp pháp lý gồm: người có công với cách mạng, người già cô đơn không nơi nương tựa, người

Trang 27

tàn tật không nơi nương tựa, trẻ em không nơi nương tựa, người dân tộc thiểu

số thường trú ở vùng mà điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ phù hợp với từng giai đoạn Luật Trợ giúp pháp lý đã xác định phạm vi các đối tượng thuộc diện được hưởng lợi ích từ chính sách trợ giúp pháp lý So với các quy định của pháp luật hiện hành, Luật Trợ giúp pháp lý đã có những thay đổi phạm vi diện người được trợ giúp pháp lý Nếu như trước đây chỉ người nghèo, đối tượng chính sách và một số đối tượng khác mới được trợ giúp pháp lý thì Luật Trợ giúp pháp lý đã bổ sung thêm đối tượng là người già cô đơn, người tàn tật và một số đối tượng thuộc diện có công với cách mạng Quy định mới này, một mặt là cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về bảo đảm quyền cho một số đối tượng cần được Nhà nước và

xã hội quan tâm, giúp đỡ, mặt khác khẳng định sự nhất quán trong các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt là chính sách xóa đói, giảm nghèo, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, chính sách dân tộc, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

1.2.3 Hình thức, lĩnh vực trợ giúp pháp lý

Luật Trợ giúp pháp lý đã thể hiện rõ nội dung, quan điểm cơ bản của pháp luật về trợ giúp pháp lý trong điều kiện đổi mới và xây dựng Nhà nước pháp quyền Tại Điều 3 Luật Trợ giúp pháp lý đã xác định trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý Xuất phát từ nền tảng đó dịch vụ pháp lý ở đây được thực hiện miễn phí và người được trợ giúp pháp lý không phải chi trả bất cứ một khoản chi phí nào Điều quan trọng là cung ứng các dịch vụ pháp lý phải tuân theo các quy định chặt chẽ trong luật, như các vấn đề liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý, hình thức trợ giúp pháp lý, phạm vi, thủ tục trợ giúp pháp lý Luật trợ giúp pháp lý, phạm vi điều chỉnh bao gồm các vấn đề như: người được trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý, hoạt động trợ giúp pháp lý, quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý

Trang 28

* Hình thức trợ giúp pháp lý

Hoạt động trợ giúp pháp lý được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: Tư vấn pháp luật; tham gia tố tụng; đại diện ngoài tố tụng; các hình thức trợ giúp pháp lý khác

Tư vấn pháp luật: được xác định là việc hướng dẫn, giải đáp, đưa ra ý

kiến, cung cấp thông tin pháp luật, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý Tư vấn pháp luật có thể được thực hiện trực tiếp tại trụ sở; tư vấn theo yêu cầu qua điện thoại hoặc trả lời bằng văn bản; tư vấn thông qua trợ giúp pháp lý lưu động; tư vấn thông qua sinh hoạt của Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý

Tham gia tố tụng: được xác định là việc trợ giúp pháp lý, luật sư tham

gia tố tụng hoặc để bảo vệ quyền lợi của người được trợ giúp pháp lý là người

bị hại, nguyên đơn sự để bào chữa cho người được trợ giúp pháp lý là người

bị tạm giữ, bị can, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến

vụ án hình sự hoặc tham gia tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý trong vụ, việc dân

sự, vụ án hành chính

Đại diện ngoài tố tụng: Người thực hiện trợ giúp pháp lý đại diện

ngoài tố tụng cho người được trợ giúp pháp lý khi họ không thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Hòa giải: Người thực hiện trợ giúp pháp lý làm trung gian để phân

tích các tình tiết của vụ việc; giải thích quy định của pháp luật, hướng dẫn để các bên tự thương lượng, thống nhất hướng giải quyết vụ việc mà không phải đưa vụ việc ra Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền, tự nguyện rút đơn kiện, tự giải quyết các tranh chấp và tự nguyện chấp hành kết quả giải quyết vụ việc

Căn cứ Điều 42 Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý quy định các hình thức trợ giúp pháp lý khác

Trang 29

Hình thức trợ giúp pháp lý khác gồm:

- Trong trường hợp người được trợ giúp pháp lý không thể tự mình thực hiện được các công việc có liên quan đến thủ tục hành chính trong quá trình thực hiện các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, thì Trung tâm, Chi nhánh cử Trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư là cộng tác viên giúp đỡ họ thực hiện

- Để thực hiện việc giúp đỡ pháp luật cho người được trợ giúp pháp lý trong quá trình khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại, Trung tâm, Chi nhánh cử Trợ giúp viên pháp lý hoặc cộng tác viên là luật sư tham gia vào quá trình giải quyết khiếu nại

- Cung cấp thông tin pháp luật, tờ gấp, sách bỏ túi, cẩm nang pháp luật, các ấn phẩm tài liệu pháp luật khác qua các đợt trợ giúp pháp lý lưu động, sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, sinh hoạt chuyên đề pháp luật; cung cấp bản sao các điều khoản của văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý, cung cấp địa chỉ làm việc của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà pháp luật quy định có thẩm quyền giải quyết vụ việc

* Lĩnh vực trợ giúp pháp lý

Căn cứ Điều 34 Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý Các lĩnh vực trợ giúp pháp lý bao gồm:

- Pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự

- Pháp luật dân sự, tố tụng dân sự và thi hành án dân sự

- Pháp luật hôn nhân gia đình và pháp luật về trẻ em

- Pháp luật hành chính, khiếu nại, tố cáo và tố tụng hành chính

- Pháp luật đất đai, nhà ở, môi trường và bảo vệ người tiêu dùng

- Pháp luật lao động, việc làm, bảo hiểm

Trang 30

- Pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng và pháp luật về chính sách ưu đãi xã hội khác

- Các lĩnh vực pháp luật khác liên quan đến chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo hoặc liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ

cơ bản của công dân

Như vậy trợ giúp pháp lý được thực hiện đối với tất cả các vụ việc có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý trong hầu hết các lĩnh vực pháp luật, trừ các vụ việc có liên quan đến lĩnh vực kinh doanh thương mại

1.3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ TRỢ GIÖP PHÁP LÝ CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.3.1 Khái niệm về dân tộc, dân tộc thiểu số

Để hiểu về đối tượng dân tộc thiểu số, trước tiên phải hiểu được những khái niệm liên quan, đó là khái niệm dân tộc và khái niệm chung về dân tộc thiểu số

- Khái niệm dân tộc

Dân tộc là cộng đồng người ở ổn định, hình thành trong lịch sử, tạo lập một quốc gia, trên cơ sở cộng đồng bền vững về: lãnh thổ quốc gia, kinh

tế, ngôn ngữ, truyền thống, văn hóa, đặc điểm tâm lý, ý thức về dân tộc và tên gọi của dân tộc Khái niệm này được hiểu:

+ Các thành viên cùng dân tộc sử dụng một ngôn ngữ chung (tiếng

mẹ đẻ) để giao tiếp nội bộ Các thành viên cùng chung những đặc điểm sinh hoạt văn hóa, vật chất, tinh thần, tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc

+ Dân tộc được hiểu theo nghĩa cộng đồng quốc gia dân tộc, là một cộng đồng chính trị - xã hội, được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ chung như: dân tộc Việt Nam, dân tộc Lào, dân tộc Trung Hoa…

Trang 31

- Khái niệm dân tộc thiểu số

Cụm từ "dân tộc thiểu số" hiện đang được sử dụng tương đối phổ biến trong các văn bản của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và trong đời sống xã hội Đây là khái niệm khoa học liên quan đến vấn đề chính trị - xã hội Tuy nhiên trong xã hội hiện nay, có lúc có nơi vẫn chưa có cách hiểu thống nhất về cách gọi cũng như nội hàm của nó

"Dân tộc thiểu số" là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít Trong một số trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa "dân tộc thiểu số" với "dân tộc lạc hậu", "dân tộc chậm tiến", "dân tộc kém phát triển", "dân tộc chậm phát triển"… Có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự chi phối bởi quan điểm chính trị của giai cấp thống trị trong mỗi quốc gia

Trên thực tế, khái niệm "dân tộc thiểu số" chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân số trong một quốc gia đa dân tộc Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì khái niệm "dân tộc thiểu số" không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc Địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở số dân nhiều hay ít, mà nó được chi phối bởi những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và lịch sử của mỗi dân tộc

Vận dụng quan điểm trên vào điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định quan niệm nhất quán của mình: Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc thành viên, với khoảng trên 80 triệu người Trong tổng số các dân tộc nói trên thì dân tộc Việt (Kinh) chiếm 86,2% dân số, được quan niệm là "dân tộc đa số", 53 dân tộc còn lại, chiếm 13,8% dân số được quan niệm là "dân tộc thiểu số" trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Khái niệm "dân tộc thiểu số", có lúc, có nơi, nhất là trong những năm trước đây còn được gọi là "dân tộc ít người" Mặc dù hiện

Trang 32

nay đã có qui định thống nhất gọi là "dân tộc thiểu số", nhưng cách gọi "dân tộc ít người" vẫn không bị hiểu khác đi về nội dung

Như vậy, khái niệm "dân tộc thiểu số" dùng để chỉ những dân tộc có

số dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia đa dân tộc Khái niệm "dân tộc thiểu số" cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới Một dân tộc có thể được quan niệm là "đa số" ở quốc gia này, nhưng đồng thời có thể là "thiểu số" ở quốc gia khác Chẳng hạn người Việt (Kinh) được coi là "dân tộc đa số" ở Việt Nam, nhưng lại được coi là

"dân tộc thiểu số" ở Trung Quốc (vì chỉ chiếm tỉ lệ 1/55 dân tộc thiểu số của Trung Quốc); ngược lại người Hoa (Hán), được coi là "dân tộc đa số" ở Trung Quốc, nhưng lại là dân tộc thiểu số ở Việt Nam (người Hoa chiếm tỉ lệ 1/53 dân tộc thiểu số của Việt Nam) Rõ ràng, quan niệm về "dân tộc thiểu số" và

"dân tộc đa số" cũng như nội hàm của chúng hiện nay còn có những vấn đề chưa thống nhất và nó cũng được vận dụng xem xét rất linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể, tùy theo quan niệm và mối quan hệ so sánh về dân số của mỗi quốc gia dân tộc Song, những nội dung được quan niệm như đã phân tích ở phần trên về cơ bản là tương đối thống nhất không chỉ ở nước ta mà trong cả giới nghiên cứu dân tộc học trên thế giới

Theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc của Chính phủ ngày 14 tháng 01 năm 2011 thì đã đưa ra khái niệm như sau:

"Dân tộc thiểu số" là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa

số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

"Dân tộc đa số" là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của

cả nước, theo điều tra dân số quốc gia

"Vùng dân tộc thiểu số" là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng

sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 33

"Dân tộc thiểu số rất ít người" là dân tộc có số dân dưới 10.000 người

"Dân tộc thiểu số có khó khăn đặc biệt" là những dân tộc có điều kiện

kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo ba tiêu chí sau: Một là, tỷ lệ hộ nghèo trong đơn vị thôn, bản chiếm trên 50% so với tỷ lệ hộ nghèo của cả nước; hai

là, các chỉ số phát triển về giáo dục đào tạo, sức khỏe cộng đồng và chất

lượng dân số đạt dưới 30% so với mức trung bình của cả nước; ba là, cơ sở hạ

tầng kỹ thuật thiết yếu chất lượng thấp, mới đáp ứng mức tối thiểu phục vụ đời sống dân cư

1.3.2 Đặc điểm các dân tộc ở Việt Nam và quan điểm chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta hiện nay

- Khái quát đặc điểm các dân tộc ở nước ta hiện nay

Việt Nam là một quốc gia dân tộc thống nhất gồm 54 dân tộc cùng sinh sống Các dân tộc Việt Nam có các đặc trưng sau:

Một là, các dân tộc ở Việt Nam có truyền thống đoàn kết, gắn bó xây

dựng quốc gia dân tộc thống nhất Đây là đặc điểm nổi bật trong quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam Các dân tộc Việt Nam đều có chung cội nguồn, chịu ảnh hưởng chung của điều kiện tự nhiên, xã hội, chung vận mệnh dân tộc, chung lợi ích cơ bản - quyền được tồn tại, phát triển Đoàn kết, thống nhất đã trở thành giá trị tinh thần truyền thống quí báu của dân tộc, là sức mạnh để dân tộc ta tiếp tục xây dựng và phát triển đất nước

Hai là, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cư trú phân tán và xen kẽ trên

địa bàn rộng lớn, chủ yếu là miền núi, biên giới, hải đảo Không có dân tộc thiểu số nào cư trú duy nhất trên một địa bàn mà không xen kẽ với một vài dân tộc khác Nhiều tỉnh miền núi các dân tộc thiểu số chiếm đa số dân như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu…Song nhìn chung các dân tộc nước ta sống xen kẽ nhau, không có lãnh thổ riêng biệt như một số nước trên thế giới Ðịa bàn cư trú của người Kinh chủ yếu ở đồng bằng, ven biển và trung du; còn các dân tộc ít người cư trú chủ yếu ở các vùng

Trang 34

miền núi và vùng cao, một số dân tộc như Khơ-me, Hoa, một số ít vùng Chăm sống ở đồng bằng Các dân tộc thiểu số có sự tập trung ở một số vùng, nhưng không cư trú thành những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các dân tộc khác trong phạm vi của tỉnh, huyện, xã và các bản mường

Ba là, các dân tộc ở nước ta có qui mô dân số và trình độ phát triển

không đồng đều Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, dân số giữa các dân tộc rất không đều nhau, có dân tộc có số dân trên một triệu người như Tày, Thái nhưng cũng có dân tộc chỉ có vài trăm người như PuPéo, Rơ-măm, Brâu Trong đó, dân tộc Kinh là dân tộc đa số, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong dân cư nước ta, có trình độ phát triển cao hơn, là lực lượng đoàn kết, đóng vai trò chủ lực và đi đầu trong quá trình đấu tranh lâu dài dựng nước và giữ nước, góp phần to lớn vào việc hình thành, củng cố và phát triển cộng đồng dân tộc Việt Nam Trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các dân tộc không đều nhau Có dân tộc đã đạt đến trình độ phát triển cao, đời sống đã tương đối khá như dân tộc Kinh, Hoa, Tày, Mường, Thái…, nhưng cũng có những dân tộc trình độ phát triển còn thấp, đời sống còn gặp nhiều khó khăn như một số dân tộc ở Tây Bắc, Trường Sơn, Tây Nguyên…

Bốn là, mỗi dân tộc ở Việt Nam đều có sắc thái văn hóa riêng, góp

phần làm nên sự đa dạng, phong phú, thống nhất của văn hóa Việt Nam Các dân tộc đều có sắc thái văn hóa về nhà cửa, ăn mặc, ngôn ngữ, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo và ý thức dân tộc riêng Đồng thời các dân tộc cũng có điểm chung thống nhất về văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, ý thức quốc gia dân tộc Sự thống nhất trong đa dạng là đặc trưng của văn hóa các dân tộc ở Việt Nam

- Quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta hiện nay: Trong các giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn có quan điểm nhất quán:

Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Trang 35

Công tác dân tộc ở nước ta hiện nay, Đảng và Nhà nước ta tập trung khắc phục sự cách biệt về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các dân tộc; nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, kì thị, chia

rẽ dân tộc, lợi dụng vấn đề dân tộc gây mất ổn định chính trị - xã hội, chống phá cách mạng; thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp đỡ nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm cho tất

cả các dân tộc ở Việt Nam đều phát triển, ấm no, hạnh phúc

+ Văn kiện Đại hội X chỉ rõ quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta hiện nay là:

Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

xã hội chủ nghĩa Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ địa cách mạng; làm tốt công tác định canh định cư và xây dựng vùng kinh tế mới Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Thực hiện ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là người dân tộc thiểu số Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận Chống các biểu hiện kì thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc [24]

Trang 36

1.3.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đồng bào dân tộc thiểu số

- Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định vấn đề

dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết dân tộc có một vị trí chiến lược quan trọng Từ khi Đảng ta ra đời, trong Nghị quyết về các dân tộc thiểu số của Đại hội Đảng lần thứ nhất 3/1935 đã khẳng định: "Đảng cộng sản thừa nhận cho các dân tộc được quyền tự do hoàn toàn Đảng chống chế độ thuộc địa, chống các hình thức trực tiếp đem dân tộc này vào đàn áp, bóc lột dân tộc khác" Khẩu hiệu của Đảng là "Xứ Đông Dương hoàn toàn độc lập, thừa nhận quyền dân tộc tự quyết" Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng (năm 1951) đã viết: "Các dân tộc ở Việt Nam đều được bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, phải đoàn kết giúp đỡ nhau để kháng chiến và kiến quốc"

- Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đảng xác định nguyên tắc: Làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, các dân tộc thiểu số tiến kịp các dân tộc đa số, giúp các dân tộc phát huy tinh thần cách mạng và khả năng to lớn của mình, trong cán bộ cũng như nhân dân cần khắc phục tư tưởng dân tộc lớn và tư tưởng dân tộc hẹp hòi, đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên xã hội chủ nghĩa Qua các kỳ đại hội, đặc biệt Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đại hội lần thứ X của Đảng đều xác định nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc là "Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển" Bởi vì chỉ có bình đẳng thì mới thực hiện được đoàn kết dân tộc; có đoàn kết, giúp nhau cùng phát triển thì mới thực hiện được bình đẳng dân tộc Trong cách mạng dân tộc dân chủ, đó là mục tiêu độc lập dân tộc và người cày có ruộng Ngày nay trong công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"

Trong kháng chiến chống Pháp, Đảng ta đã đề ra những chính sách cụ thể giải quyết vấn đề dân tộc Tháng 8/1952 Bộ Chính trị Trung ương Đảng

Trang 37

Lao động Việt Nam đã đề ra nghị quyết về vấn đề dân tộc Ngày 22/6/1953 Chính phủ đã ban hành chính sách dân tộc của Nhà nước Việt Nam, quy định các mặt công tác chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tinh thần cơ bản của chính sách đó là: Đoàn kết các dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, tương trợ để kháng chiến, kiến quốc, giúp nhau tiến bộ về mọi mặt Chính nhờ chính sách đoàn kết dân tộc đúng đắn mà các dân tộc thiểu số ở vùng núi đã tích cực tham gia kháng chiến chống Pháp, cùng cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi Sau ngày miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, việc giải quyết vấn đề dân tộc gắn liền với việc tiến hành cuộc cách mạng dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa: Cải cách dân chủ, cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp, định canh định cư; ở Miền Nam, chính quyền cách mạng đã giải quyết vấn đề dân tộc gắn liền với

sự nghiệp đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai Việc giải quyết vấn đề dân tộc trong cả nước đã góp phần làm nên một đại thắng mùa xuân 1975, giải phóng Miền Nam, thống nhất Tổ quốc

Đặc biệt là sau ngày thực hiện công cuộc đổi mới (1986) đến nay, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh

tế - xã hội; củng cố an ninh quốc phòng ở miền núi và vùng có đồng bào dân tộc thiểu số Mở đầu thực hiện công cuộc đổi mới, Bộ Chính trị khóa VI đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 27/11/1989 về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế xã hội miền núi, tinh thần của Nghị quyết đã nhấn mạnh quan điểm của Đảng là: Phát triển kinh tế - xã hội miền núi là một

bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển kinh tế quốc dân, là sự nghiệp chung của nhân dân cả nước, đồng thời phát triển miền núi toàn diện cả về kinh tế,

xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, trong đó trọng tâm là phát triển kinh tế -

xã hội gắn với thực hiện chính sách dân tộc của Đảng

Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Đảng đã xác định:

Trang 38

Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta Có chính sách phát triển kinh tế hàng hóa

ở các vùng dân tộc thiểu số phải phù hợp với điều kiện và đặc điểm từng vùng, từng dân tộc; bảo đảm cho đồng bào các dân tộc khai thác được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Tôn trọng tiếng nói và chữ viết của các dân tộc [17]

Các Nghị quyết đại hội VIII, IX và X tiếp tục khẳng định các quan điểm của Nghị quyết Đại hội lần thứ VII và có phát triển, bổ sung một số quan điểm cho phù hợp với từng thời kỳ Thực hiện các Nghị quyết đại hội Đảng các khóa nói trên, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành nhiều Nghị quyết, Thông tư, Chỉ thị để chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc mang lại hiệu quả tích cực, trong đó Ban Chấp hành Trung ương khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ ngày 12/3/2003

về công tác dân tộc Những chính sách dân tộc của Đảng đã được quy định trong Hiến pháp năm 1992 và các văn bản pháp luật trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, các vấn đề xã hội, vấn đề đào tạo và sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số như: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Quốc tịch, Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật ngân sách nhà nước, Luật công nghệ thông tin, Luật Xuất bản, Luật giáo dục, Luật thanh niên, Luật phổ cập giáo dục tiểu học, Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em, Luật bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, Luật dạy nghề, Luật bình đẳng giới, Luật tương trợ Tư pháp, Luật hôn nhân và gia đình…

Trong các chương trình mục tiêu quốc gia, Đảng và Nhà nước luôn

ưu tiên cho vùng đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi, như: Chương trình xóa đói giảm nghèo, Chương trình nước sạch cho nông thôn miền núi, Chương trình 135 hỗ trợ phát triển cho các xã miền núi đặc biệt khó khăn

Trang 39

Để nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả thực hiện các chương trình, chính sách, đề án của Ủy ban Dân tộc tham mưu cho Chính phủ trong giai đoạn tới nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng về công tác dân tộc: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp

đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Các chính sách phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số Ngày 14/3/2011, Đảng bộ cơ quan Ủy ban Dân tộc đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/ĐU về xây dựng và triển khai chương trình, chính sách, đề án dân tộc (giai đoạn 2011-2015) với những nhiệm vụ và giải pháp cơ bản sau: Xây dựng và nghiên cứu các đề tài khoa học làm cơ sở phục vụ cho việc xây dựng các chương trình, chính sách, dự án phát triển kinh tế-xã hội cho vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2011-2015 và đến 2020 Xây dựng bộ cơ sở dữ liệu về các dân tộc thiểu số Việt Nam: cập nhật thông tin thường xuyên về tình hình nghiên cứu khoa học gắn với hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc ở trong nước, có tham khảo nước ngoài, bộ

dữ liệu đảm bảo tính chính xác và toàn diện phục vụ việc hoạch định và tổ chức thực hiện chương trình, chính sách, dự án đạt kết quả cao Tiếp tục rà soát hệ thống chương trình, chính sách, đề án dân tộc thực hiện trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số trong giai đoạn 2006-2010 (bao gồm những chính sách

do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành và những chính sách do các

Bộ, ngành Trung ương ban hành) để đánh giá những chương trình, chính sách, đề án có nội dung đầu tư chồng chéo, trùng lắp trên cùng một địa bàn với nhiều đầu mối quản lý, từ đó tham mưu cho Chính phủ khắc phục những hạn chế trên

Xây dựng bộ tiêu chí phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển giai đoạn 2011-2015 để phân định các xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là xã) vùng dân tộc thiểu số và miền núi thành các

Trang 40

khu vực theo trình độ phát triển một cách khoa học, hợp lý và công bằng Từ

đó áp dụng các chủ trương, chính sách và có kế hoạch đầu tư phát triển sát hợp với điều kiện cụ thể của từng khu vực, đồng thời có kế hoạch chỉ đạo, động viên, hướng dẫn nhân dân địa phương đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh

tế -xã hội, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền trong cả nước

Xây dựng chương trình, chính sách, dự án phát triển kinh tế-xã hội cho vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2011-2015 Trong đó, tập trung xây dựng chương trình phát triển kinh tế-xã hội các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn giai đoạn 2011-2015 (Chương trình 135 giai đoạn III); Các chính sách đặc thù đối với vùng dân tộc và miền núi khó khăn; Huy động các nguồn lực tài chính trong nước, huy động các nguồn ODA, FDI và hỗ trợ kỹ thuật từ các quốc gia, các tổ chức quốc tế để phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc thiểu số; Chính sách thu hút các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế đầu tư vào vùng dân tộc thiểu số và miền núi Xây dựng đề án xin chủ trương thành lập Học viện Dân tộc gắn với đào tạo nguồn nhân lực cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi; Dự án định canh, định cư hỗ trợ người dân ở vùng núi đá, lũ quét gặp khó khăn; Các dự án bảo tồn một số dân tộc ít người khó khăn

Xây dựng chương trình kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chính sách dân tộc một cách khoa học và tổ chức nghiên cứu tổng kết lý luận và thực tiễn, hoạch định, tổ chức thực hiện chính sách dân tộc, nhằm đánh giá hiệu quả các chủ trương, chính sách, chương trình, đề án dân tộc

Nghị quyết yêu cầu, các chi bộ trực thuộc Đảng bộ cơ quan tổ chức nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết đến từng cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; Xây dựng chương trình hành động và kế hoạch cụ thể của từng nhiệm vụ liên quan đến đơn vị mình để triển khai thực hiện Nghị quyết có hiệu quả Phát huy vai trò lãnh đạo của chi bộ, tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên, chi bộ phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cán bộ, đảng viên thực hiện chương trình hành động và kế hoạch thực hiện nghị quyết Thường

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương Đảng (2006), Chuyên đề nghiên cứu Nghị quyết Đại hội X của Đảng (dùng cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề nghiên cứu Nghị quyết Đại hội X của Đảng (dùng cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên)
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương Đảng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2001), Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2001
3. Bộ Tư pháp (2001), Báo cáo tổng thể về đánh giá nhu cầu phát triển toàn diện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng thể về đánh giá nhu cầu phát triển toàn diện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2001
4. Bộ Tư pháp (2005), Báo cáo tổng kết 8 năm thực hiện Quyết định số 734/ TTg ngày 6/9/1997 của thủ tướng Chính phủ về thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo và đối tượng chính sách, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 8 năm thực hiện Quyết định số 734/ TTg ngày 6/9/1997 của thủ tướng Chính phủ về thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo và đối tượng chính sách
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
5. Bộ Tư pháp (2005), Tài liệu tham khảo các quy định về trợ giúp pháp lý một số nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo các quy định về trợ giúp pháp lý một số nước
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
6. Bộ Tư pháp (2007), Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2007
7. Chính phủ (1998), Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg ngày 7/01 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường phổ biến giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg ngày 7/01 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường phổ biến giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1998
8. Chính phủ (2001), Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 (ban hành kèm theo Quyết định số 136/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2001
9. Chính phủ (2003), Nghị định số 62/2003/NĐ-CP ngày 06/6 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 62/2003/NĐ-CP ngày 06/6 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ tư pháp
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2003
10. Chính phủ (2003), Nghị định số 65/2003/NĐ-CP ngày 11/6 về tổ chức hoạt động tư vấn pháp luật của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 65/2003/NĐ-CP ngày 11/6 về tổ chức hoạt động tư vấn pháp luật của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
11. Chính phủ (2007), Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
12. Cục Trợ giúp pháp lý - Bộ Tư pháp (2005), Các văn bản pháp luật hiện hành về trợ giúp pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản pháp luật hiện hành về trợ giúp pháp lý
Tác giả: Cục Trợ giúp pháp lý - Bộ Tư pháp
Năm: 2005
13. Cục Trợ giúp pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Tài liệu tập huấn về quản lý và thực hiện dự án hỗ trợ để hệ thống trợ giúp pháp lý ở Việt Nam 2005- 2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn về quản lý và thực hiện dự án hỗ trợ để hệ thống trợ giúp pháp lý ở Việt Nam 2005- 2009
Tác giả: Cục Trợ giúp pháp lý - Bộ Tư pháp
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
14. Cục Trợ giúp pháp lý - Bộ Tư pháp (2007), Báo cáo công tác trợ giúp pháp lý năm 2006 và kế hoạch công tác trợ giúp pháp lý năm 2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác trợ giúp pháp lý năm 2006 và kế hoạch công tác trợ giúp pháp lý năm 2007
Tác giả: Cục Trợ giúp pháp lý - Bộ Tư pháp
Năm: 2007
15. Cục Trợ giúp pháp lý - Bộ Tư pháp (2007), Báo cáo 10 năm công tác trợ giúp pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo 10 năm công tác trợ giúp pháp lý
Tác giả: Cục Trợ giúp pháp lý - Bộ Tư pháp
Năm: 2007
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương (Khóa VIII) về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương (Khóa VIII) về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Dân số người Dao ở Thanh Hóa - Trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.1 Dân số người Dao ở Thanh Hóa (Trang 69)
Bảng 2.3: Phân bố dân tộc Khơ Mú ở Việt Nam - Trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.3 Phân bố dân tộc Khơ Mú ở Việt Nam (Trang 71)
Bảng 2.4: Dân số người Khơ Mú ở Thanh Hóa - Trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.4 Dân số người Khơ Mú ở Thanh Hóa (Trang 72)
Bảng 2.6: Dân số người Mường ở các huyện miền núi Thanh Hóa - Trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.6 Dân số người Mường ở các huyện miền núi Thanh Hóa (Trang 74)
Bảng 2.7: Dân số người Thái ở các huyện miền núi Thanh Hóa - Trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.7 Dân số người Thái ở các huyện miền núi Thanh Hóa (Trang 75)
Bảng 2.9: Bảng tổng hợp đối tượng được Trung tâm trợ giúp pháp lý,   Cục trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý từ năm 1997- 2007 - Trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.9 Bảng tổng hợp đối tượng được Trung tâm trợ giúp pháp lý, Cục trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý từ năm 1997- 2007 (Trang 78)
Bảng 2.10: Bảng tổng hợp hình thức trợ giúp pháp lý - Trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.10 Bảng tổng hợp hình thức trợ giúp pháp lý (Trang 79)
Bảng 2.11: Bảng tổng hợp đối tượng trợ giúp pháp lý do Trung tâm trợ  giúp pháp lý Thanh Hóa thực hiện từ năm 2007 đến 6 tháng đầu năm 2011 - Trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.11 Bảng tổng hợp đối tượng trợ giúp pháp lý do Trung tâm trợ giúp pháp lý Thanh Hóa thực hiện từ năm 2007 đến 6 tháng đầu năm 2011 (Trang 80)
Bảng 2.12: Bảng tổng hợp lĩnh vực trợ giúp pháp lý do Trung tâm trợ giúp  pháp lý Thanh Hóa thực hiện từ năm 2007- 6 tháng đầu năm 2011 - Trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.12 Bảng tổng hợp lĩnh vực trợ giúp pháp lý do Trung tâm trợ giúp pháp lý Thanh Hóa thực hiện từ năm 2007- 6 tháng đầu năm 2011 (Trang 81)
Hình thức  Địa điểm - Trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa
Hình th ức Địa điểm (Trang 126)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w